MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Friday, November 8, 2013

OUTLINE OF AMERICAN HISTORY LƯỢC SỬ NƯỚC MỸ - P5

OUTLINE OF AMERICAN HISTORY
LƯỢC SỬ NƯỚC MỸ - P5



5 WESTWARD EXPANSION AND REGIONAL DIFFERENCES
CHƯƠNG 5: MỞ RỘNG SANG PHÍA TÂY VÀ KHÁC BIỆT VÙNG MIỀN


Horse-drawn combine harvesting wheat in the Midwest, 19th century. (© Bettmann/CORBIS)

Máy gặt do ngựa kéo thu hoạch lúa mì ở miền Trung Tây, thế kỷ 19. (© Bettmann / Corbis)
BUILDING UNITY

GÂY DỰNG TÌNH ĐOÀN KẾT

“Go West, young man, and grow up with the country.”
- Newspaper editor Horace Greeley, 1851.
“Hãy tiến về phía tây, hỡi chàng trai, và hãy lớn lên cùng tổ quốc"
Biên tập viên Horace Greeley, 1851




John Marshall, chief justice of the U.S. Supreme Court from 1801 to 1835, in a portrait by Alonzo Chappel. In a series of landmark cases, Marshall established the principle of judicial review -- the right of the courts to determine if any act of Congress or the executive branch is constitutional, and therefore valid and legal.
(AP/WWP)

John Marshall, Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ 1801-1835, trong một bức chân dung do Alonzo Chappel vẽ. Trong nhiều vụ việc mang tính bước ngoặt, Marshall đã thiết lập các nguyên tắc giám sát tư pháp - quyền của các tòa án về xác định bất kỳ hành động nào của Quốc hội hoặc cơ quan hành pháp là hợp hiến hay không, và do đó có giá trị và hợp pháp hay không.
(AP / WWP)

The War of 1812 was, in a sense, a second war of independence that confirmed once and for all the American break with England. With its conclusion, many of the serious difficulties that the young republic had faced since the Revolution disappeared. National union under the Constitution brought a balance between liberty and order. With a low national debt and a continent awaiting exploration, the prospect of peace, prosperity, and social progress opened before the nation.

Cuộc Chiến tranh 1812, xét từ góc độ nào đó, là cuộc chiến lần thứ hai giành độc lập và khẳng định sự đoạn tuyệt vĩnh viễn của nước Mỹ với nước Anh. Khi chiến tranh khép lại, nhiều khó khăn trầm trọng đặt ra với nền cộng hòa non trẻ kể từ thời cách mạng giờ đã biến mất. Nhà nước liên bang theo Hiến pháp đã đem lại sự cân bằng giữa tự do và trật tự. Cùng với khoản nợ công rất nhỏ và một lục địa đang ngóng chờ được khám phá, cánh cửa hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ xã hội đã mở ra trước dân tộc Mỹ.

Commerce cemented national unity. The privations of war convinced many of the importance of protecting the manufacturers of America until they could stand alone against foreign competition. Economic independence, many argued, was as essential as political independence. To foster self-sufficiency, congressional leaders Henry Clay of Kentucky and John C. Calhoun of South Carolina urged a policy of protectionism imposition of restrictions on imported goods to foster the development of American industry.

Hoạt động thương mại càng làm cho tình đoàn kết dân tộc thêm vững chắc. Những mất mát trong chiến tranh đã giúp nhiều người nhận thấy tầm quan trọng phải bảo vệ các nhà sản xuất Mỹ cho đến khi họ có thể một mình chống chọi được với sự cạnh tranh của nước ngoài. Nhiều người lập luận rằng độc lập về kinh tế cũng quan trọng không kém độc lập về chính trị. Để cổ súy tinh thần tự lực cánh sinh, các nhà lãnh đạo Quốc hội như Henry Clay thuộc tiểu bang Kentucky và John C. Calhoun thuộc tiểu bang Nam Carolina đã kêu gọi thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch, hạn chế hàng nhập khẩu nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp Mỹ phát triển.

The time was propitious for raising the customs tariff. The shepherds of Vermont and Ohio wanted protection against an influx of English wool. In Kentucky, a new industry of weaving local hemp into cotton bagging was threatened by the Scottish bagging industry. Pittsburgh, Pennsylvania, already a flourishing center of iron smelting, was eager to challenge British and Swedish iron suppliers. The tariff enacted in 1816 imposed duties high enough to give manufacturers real protection.

Đây là thời điểm thuận lợi để tăng thuế quan. Các linh mục ở Vermont và Ohio muốn bảo hộ chống lại sự tràn ngập của len nước Anh. Ở bang Kentucky, ngành dệt cây gai dầu địa phương thành vải sợi may bao và túi mới ra đời đã bị ngành công nghiệp dệt vải may túi bao Scotland đe doạ. Pittsburgh ở bang Pennsylvania vốn đã là một trung tâm cán thép rất phát triển, nay sốt sắng thách thức các nhà cung cấp thép Anh và Thụy Điển. Biểu thuế ban hành năm 1816 đã đủ mạnh để bảo hộ thực sự các nhà sản xuất.

In addition, Westerners advocated a national system of roads and canals to link them with Eastern cities and ports, and to open frontier lands for settlement. However, they were unsuccessful in pressing their demands for a federal role in internal improvement because of opposition from New England and the South. Roads and canals remained the province of the states until the passage of the Federal Aid Road Act of 1916.

Ngoài ra, dân miền Tây còn ủng hộ một hệ thống đường sá và kênh đào quốc gia để nối kết họ với các thành phố và hải cảng miền Đông, và để mở mang những vùng đất miền biên giới cho việc định cư. Tuy nhiên, họ đã không thành công trong việc kêu gọi chính quyền liên bang tham gia phát triển nội bộ bang do có sự phản đối từ bang New England và miền Nam. Những con đường và những con kênh còn lại là mối quan tâm của các bang cho đến khi Đạo luật Hỗ trợ Đường bộ Liên bang năm 1916 được thông qua.

The position of the federal government at this time was greatly strengthened by several Supreme Court decisions. A committed Federalist, John Marshall of Virginia, became chief justice in 1801 and held office until his death in 1835. The court -- weak before his administration -- was transformed into a powerful tribunal, occupying a position co-equal to the Congress and the president. In a succession of historic decisions, Marshall established the power of the Supreme Court and strengthened the national government.

Vị thế của Chính phủ Liên bang vào thời gian này đã được củng cố mạnh mẽ nhờ có một số quyết định của Tòa án Tối cao. Một người đại điện ủng hộ chủ nghĩa liên bang, John Marshall, người bang Virginia, đã trở thành Chánh án Tòa án Tối cao năm 1801 và giữ chức vụ này cho tới khi ông qua đời năm 1835. Tòa án vốn yếu ớt trước khi ông nhậm chức thì giờ đây đã trở thành một tòa án mạnh, có vị trí ngang hàng với Quốc hội và tổng thống. Theo các quyết định mang tính lịch sử sau đó, Marshall đã xây dựng quyền của Tòa án Tối cao và củng cố chính quyền liên bang.

Marshall was the first in a long line of Supreme Court justices whose decisions have molded the meaning and application of the Constitution. When he finished his long service, the court had decided nearly 50 cases clearly involving constitutional issues. In one of Marshall's most famous opinions -- Marbury v. Madison (1803) -- he decisively established the right of the Supreme Court to review the constitutionality of any law of Congress or of a state legislature. In McCulloch v. Maryland (1819), he boldly upheld the Hamiltonian theory that the Constitution by implication gives the government powers beyond those expressly stated.

Marshall là người đầu tiên trong hàng ngũ đông đảo các vị thẩm phán Tòa án Tối cao mà những quyết định của họ đã tạo nên ý nghĩa và áp dụng cho Hiến pháp. Khi ông kết thúc sự nghiệp phục vụ của mình thì Tòa án Tối cao đã giải quyết chừng 50 vụ án liên quan tới các vấn đề hiến pháp. Một trong những phán quyết nổi tiếng nhất của Marshall - vụ Marbury kiện Madison (1803) - ông đã kiên quyết khẳng định quyền của Tòa án Tối cao được xem xét tính hợp hiến của tất cả các bộ luật của Quốc hội Liên bang hay của cơ quan lập pháp của tiểu bang. Trong vụ Mc Culloch kiện Maryland (1819) ông đã khẳng khái nêu cao lý thuyết của Hamilton cho rằng, suy rộng ra, Hiến pháp ban cho chính phủ những quyền hạn vượt ra ngoài phạm vi những quyền đã được quy định rõ ràng trong văn kiện này.

EXTENSION OF SLAVERY

Slavery, which up to now had received little public attention, began to assume much greater importance as a national issue. In the early years of the republic, when the Northern states were providing for immediate or gradual emancipation of the slaves, many leaders had supposed that slavery would die out. In 1786 George Washington wrote that he devoutly wished some plan might be adopted "by which slavery may be abolished by slow, sure, and imperceptible degrees." Virginians Jefferson, Madison, and Monroe and other leading Southern statesmen made similar statements.

MỞ RỘNG CHẾ ĐỘ NÔ LỆ

Chế độ nô lệ mặc dù cho đến lúc này còn ít thu hút sự chú ý của công chúng song đã bắt đầu có được tầm quan trọng hơn nhiều với tư cách là một vấn đề quốc gia đại sự. Vào những năm đầu tiên của nền cộng hòa, khi các bang miền Bắc đang tiến hành giải phóng nô lệ, nhiều nhà lãnh đạo đã cho rằng chế độ nô lệ sẽ bị thủ tiêu. Năm 1786, George Washington đã viết rằng, ông chân thành cầu chúc cho một kế hoạch nào đó có thể được thông qua theo đó chế độ nô lệ có thể được bãi bỏ một cách từ từ, chắc chắn và tinh tế. Jefferson, Madison và Monroe từ Virginia và các chính khách miền Nam hàng đầu khác đều có những lời phát biểu tương tự.

The Northwest Ordinance of 1787 had banned slavery in the Northwest Territory. As late as 1808, when the international slave trade was abolished, there were many Southerners who thought that slavery would soon end. The expectation proved false, for during the next generation, the South became solidly united behind the institution of slavery as new economic factors made slavery far more profitable than it had been before 1790.

Sắc lệnh Tây Bắc ban hành năm 1787 đã cấm chế độ nô lệ ở lãnh thổ miền Tây bắc. Cho tới năm 1808, khi việc buôn bán nô lệ quốc tế bị bãi bỏ thì có nhiều người miền Nam nghĩ rằng chế độ chiếm hữu nô lệ sẽ mau chóng chấm dứt. Song mọi sự mong đợi như vậy đã không được thành hiện thực bởi vì trong thế hệ sau đó, dân miền Nam liên kết chặt chẽ với nhau biến việc tổ chức chiếm hữu nô lệ thành những nhân tố kinh tế, khiến cho chế độ này càng đem lại lợi nhuận nhiều hơn so với trước năm 1790.

Chief among these was the rise of a great cotton-growing industry in the South, stimulated by the introduction of new types of cotton and by Eli Whitney's invention in 1793 of the cotton gin, which separated the seeds from cotton. At the same time, the Industrial Revolution, which made textile manufacturing a large-scale operation, vastly increased the demand for raw cotton. And the opening of new lands in the West after 1812 greatly extended the area available for cotton cultivation. Cotton culture moved rapidly from the Tidewater states on the East Coast through much of the lower South to the delta region of the Mississippi and eventually to Texas.

Nguyên nhân chính là do sự phát triển nghề trồng bông quy mô lớn ở miền Nam nhờ việc áp dụng canh tác các giống bông mới và phát minh máy tỉa hạt bông của Eli Whitney vào năm 1793 giúp tách được các hạt ra khỏi bông. Đồng thời, cuộc Cách mạng Công nghiệp đã thúc đẩy ngành công nghiệp dệt hoạt động với quy mô lớn, làm gia tăng nhu cầu về bông nguyên liệu. Việc triển khai các vùng đất mới ở miền Tây sau năm 1812 đã mở rộng rất lớn khu vực có thể trồng bông. Nghề trồng bông đã dịch chuyển nhanh chóng từ các bang thuộc khu vực Tidewater ở duyên hải miền Đông qua miền Nam trũng thấp hơn tới vùng đồng bằng châu thổ sông Mississippi và cuối cùng là tới bang Texas.

Sugar cane, another labor-intensive crop, also contributed to slavery's extension in the South. The rich, hot lands of southeastern Louisiana proved ideal for growing sugar cane profitably. By 1830 the state was supplying the nation with about half its sugar supply. Finally, tobacco growers moved westward, taking slavery with them.

Mía, một loại cây trồng khác sử dụng nhiều lao động, cũng góp phần mở rộng chế độ nô lệ ở miền Nam. Những vùng đất ấm, màu mỡ ở Đông Nam Louisiana rất lý tưởng cho việc trồng mía đem lại lợi nhuận cao. Tới năm 1830, bang Louisiana đã cung cấp cho cả nước khoảng một nửa lượng đường. Cuối cùng, những người trồng thuốc lá đã chuyển sang miền Tây và mang theo họ chế độ nô lệ.

As the free society of the North and the slave society of the South spread westward, it seemed politically expedient to maintain a rough equality among the new states carved out of western territories. In 1818, when Illinois was admitted to the Union, 10 states permitted slavery and 11 states prohibited it; but balance was restored after Alabama was admitted as a slave state. Population was growing faster in the North, which permitted Northern states to have a clear majority in the House of Representatives. However, equality between the North and the South was maintained in the Senate.

Vì xã hội tự do của miền Bắc và xã hội chiếm hữu nô lệ của miền Nam đều bành trướng sang phía Tây nên có lẽ sẽ có lợi về chính trị nếu duy trì được sự bình đẳng vững chắc giữa các bang mới đang tiến về những vùng lãnh thổ miền Tây. Năm 1818, khi Illinois được chấp nhận vào liên minh, 10 bang đã được phép có chế độ nô lệ, 11 bang cấm chế độ này; nhưng sự cân bằng đã được phục hồi sau khi bang Alabama được thừa nhận theo chế độ nô lệ. Dân số ở miền Bắc tăng nhanh hơn, cho phép các bang miền Bắc chiếm đa số ghế trong Hạ viện. Tuy nhiên, sự bình đẳng giữa miền Bắc và miền Nam vẫn được duy trì ở Thượng viện.

In 1819 Missouri, which had 10,000 slaves, applied to enter the Union. Northerners rallied to oppose Missouri's entry except as a free state, and a storm of protest swept the country. For a time Congress was deadlocked, but Henry Clay arranged the so-called Missouri Compromise: Missouri was admitted as a slave state at the same time Maine came in as a free state. In addition, Congress banned slavery from the territory acquired by the Louisiana Purchase north of Missouri's southern boundary. At the time, this provision appeared to be a victory for the Southern states because it was thought unlikely that this "Great American Desert" would ever be settled. The controversy was temporarily resolved, but Thomas Jefferson wrote to a friend that "this momentous question, like a fire bell in the night, awakened and filled me with terror. I considered it at once as the knell of the Union."

Vào năm 1819, bang Missouri có 10.000 nô lệ đã xin gia nhập liên bang. Dân miền Bắc tập hợp lại để phản đối việc gia nhập của Missouri trừ phi đó là một bang tự do, và làn sóng phản đối đã lan khắp cả nước. Có một thời gian Quốc hội đã lâm vào tình trạng bế tắc, nhưng Henry Clay đã đạt được một thỏa thuận mang tên Thỏa hiệp Missouri: Missouri được gia nhập với tư cách là một bang có chế độ nô lệ cùng lúc với bang Maine gia nhập với tư cách là một bang tự do. Ngoài ra, Quốc hội đã cấm chế độ nô lệ ở lãnh thổ Louisiana vốn được mua lại từ nước Pháp ở khu vực phía bắc biên giới phía Nam của bang Missouri. Đồng thời quy định này dường như đã trở thành một thắng lợi đối với các bang miền Nam vì người ta không ngờ rằng vùng sa mạc Mỹ bao la này lại có người đến sinh sống. Cuộc tranh luận đã tạm thời được giải quyết ổn thỏa, nhưng Thomas Jefferson đã viết cho một người bạn rằng "vấn đề trọng yếu này tựa hồ tiếng chuông báo cháy đã khiến tôi tỉnh giấc với nỗi sợ khủng khiếp. Ngay lập tức tôi cho rằng đó là hồi chuông khai tử Liên bang".

LATIN AMERICA AND THE MONROE DOCTRINE

During the opening decades of the 19th century, Central and South America turned to revolution. The idea of liberty had stirred the people of Latin America from the time the English colonies gained their freedom. Napoleon's conquest of Spain and Portugal in 1808 provided the signal for Latin Americans to rise in revolt. By 1822, ably led by Simón Bolívar, Francisco Miranda, José de San Martín and Miguel de Hidalgo, most of Hispanic America -- from Argentina and Chile in the south to Mexico in the north -- had won independence.

CHÂU MỸ LA-TINH VÀ HỌC THUYẾT MONROE

Vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, miền Trung và Nam Mỹ đã hướng về Cách mạng. Tư tưởng tự do đã khuấy động nhân dân châu Mỹ La-tinh từ thời các thuộc địa Anh chiến đấu giành tự do. Cuộc chinh phục Tây Ban Nha của Napoleon năm 1808 đã báo hiệu người Mỹ La-tinh sẽ vùng lên khởi nghĩa. Cho tới năm 1822, dưới sự lãnh đạo tài tình của Simon Bolivar, Francisco Miranda, José de San Martin và Miguel Hidalgo, tất cả khu vực nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở châu Mỹ - từ Argentina và Chile ở miền Nam tới Mexico ở miền Bắc - đều đã giành được độc lập.


The people of the United States took a deep interest in what seemed a repetition of their own experience in breaking away from European rule. The Latin American independence movements confirmed their own belief in self-government. In 1822 President James Monroe, under powerful public pressure, received authority to recognize the new countries of Latin America and soon exchanged ministers with them. He thereby confirmed their status as genuinely independent countries, entirely separated from their former European connections.

Nhân dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã quan tâm sâu sắc đến việc củng cố lại những kinh nghiệm của chính họ trong việc đoạn tuyệt với chế độ cai trị của châu Âu. Những phong trào đòi độc lập ở châu Mỹ La-tinh đã khẳng định niềm tin nơi họ về quyền tự trị. Năm 1822, Tổng thống James Monroe, trước áp lực ngày càng lớn của dư luận, đã cho phép công nhận các quốc gia mới ở Mỹ La-tinh và đã nhanh chóng trao đổi công sứ với các quốc gia này. Tổng thống đã công nhận họ là các quốc gia độc lập thực sự, hoàn toàn tách khỏi những mối ràng buộc trước kia với châu Âu.

At just this point, Russia, Prussia, and Austria formed an association called the Holy Alliance to protect themselves against revolution. By intervening in countries where popular movements threatened monarchies, the alliance -- joined by post-Napoleonic France -- hoped to prevent the spread of revolution. This policy was the antithesis of the American principle of self-determination.

Chính lúc đó, Nga, Phổ và áo đã thiết lập Liên minh Thần thánh để bảo vệ họ trước các cuộc cách mạng. Bằng việc can thiệp vào những nước nơi phong trào của quần chúng đang đe dọa chế độ quân chủ, liên minh này - có sự tham gia của Pháp thời hậu Napoleon - đã hy vọng có thể ngăn chặn cách mạng lan rộng. Chính sách này đi ngược lại với nguyên tắc tự quyết của nước Mỹ.

As long as the Holy Alliance confined its activities to the Old World, it aroused no anxiety in the United States. But when the alliance announced its intention of restoring to Spain its former colonies, Americans became very concerned. Britain, to which Latin American trade had become of great importance, resolved to block any such action. London urged joint Anglo-American guarantees to Latin America, but Secretary of State John Quincy Adams convinced Monroe to act unilaterally: "It would be more candid, as well as more dignified, to avow our principles explicitly to Russia and France, than to come in as a cock-boat in the wake of the British man-of-war."


Chừng nào mà Liên minh Thần thánh giới hạn những hoạt động của họ trong phạm vi cựu thế giới thì điều đó không gây lo lắng cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhưng khi Liên minh tuyên bố ý định muốn phục hồi các thuộc địa cũ của Tây Ban Nha thì người Mỹ bắt đầu lo âu. Do Mỹ La-tinh có ý nghĩa rất quan trọng với lợi ích thương mại của Anh nên nước Anh đã quyết định ngăn chặn hành động này. Luân Đôn hối thúc mở rộng các bảo đảm của Anh - Mỹ đối với châu Mỹ La-tinh, nhưng Ngoại trưởng John Quincy Adams lại thuyết phục Monroe hành động đơn phương: “Có thể sẽ ngay thẳng, chân thật hơn, cũng như đường hoàng hơn nếu ta tuyên bố những nguyên tắc của mình một cách rõ ràng với Nga và Pháp so với việc leo lên một con thuyền nhỏ đuổi theo tàu chiến của Anh.

In December 1823, with the knowledge that the British navy would defend Latin America from the Holy Alliance and France, President Monroe took the occasion of his annual message to Congress to pronounce what would become known as the Monroe Doctrine -- the refusal to tolerate any further extension of European domination in the Americas:

Tháng 12/1823, khi biết hải quân Anh sẽ bảo vệ châu Mỹ La-tinh chống lại Liên minh Thần thánh và Pháp, Tổng thống Monroe đã nhân dịp gửi thông điệp hàng năm tới Quốc hội công bố những điều mà sau này người ta gọi là Học thuyết Monroe - chối từ chấp nhận bất cứ một sự mở rộng thống trị tiếp theo của châu Âu ở các nước châu Mỹ:

The American continents ... are henceforth not to be considered as subjects for future colonization by any European powers.
Các lục địa châu Mỹ... từ nay trở đi không thể được coi là đối tượng của thực dân hóa trong tương lai do bất cứ một cường quốc châu Âu nào tiến hành.

We should consider any attempt on their part to extend their [political] system to any portion of this hemisphere, as dangerous to our peace and safety.
Chúng ta phải coi bất kỳ toan tính nào về phần họ nhằm mở rộng hệ thống [chính trị] của họ tới bất cứ bộ phận nào của bán cầu này đều là nguy hiểm đối với hòa bình và an ninh của chúng ta.

With the existing colonies or dependencies of any European power we have not interfered, and shall not interfere. But with the governments who have declared their independence, and maintained it, and whose independence we have ... acknowledged, we could not view any interposition for the purpose of oppressing them, or controlling, in any other manner, their destiny, by any European power in any other light than as the manifestation of an unfriendly disposition towards the United States.

Chúng ta đã không can thiệp và sẽ không can thiệp vào những thuộc địa hay các xứ phụ thuộc nào của bất cứ cường quốc châu Âu nào. Nhưng với những chính phủ đã tuyên bố nền độc lập của mình và bảo vệ nền độc lập ấy và được chúng ta thừa nhận thì chúng ta phải coi bất kỳ một sự can thiệp nào nhằm mục đích áp chế họ hay kiểm soát số phận của họ bằng bất kỳ phương thức nào do bất cứ cường quốc châu Âu nào thực hiện đều thể hiện khuynh hướng thù nghịch đối với nước Mỹ.

The Monroe Doctrine expressed a spirit of solidarity with the newly independent republics of Latin America. These nations in turn recognized their political affinity with the United States by basing their new constitutions, in many instances, on the North American model.


Học thuyết Monroe đã thể hiện tinh thần đoàn kết với các nền cộng hòa mới giành độc lập ở châu Mỹ La-tinh. Những dân tộc này đã công nhận tầm quan trọng của quan hệ chính trị với Hoa Kỳ bằng việc thiết lập các hiến pháp mới của mình theo mô hình của Bắc Mỹ xét trên nhiều phương diện.

FACTIONALISM AND POLITICAL PARTIES

CHỦ NGHĨA BÈ PHÁI VÀ CÁC CHÍNH ĐẢNG



Andrew Jackson, president from 1829 to 1837. Charismatic, forceful, and passionate, Jackson forged an effective political coalition within the Democratic Party with Westerners, farmers, and working people.
(Library of Congress)

Andrew Jackson, tổng thống nhiệm kỳ 1829-1837. Lôi cuốn, mạnh mẽ và đam mê, Jackson củng cố một liên minh chính trị hiệu quả trong nội bộ Đảng Dân chủ với người miền Tây, nông dân và người lao động.
(Thư viện Quốc hội)
Domestically, the presidency of Monroe (1817-1825) was termed the "era of good feelings." The phrase acknowledged the political triumph of the Republican Party over the Federalist Party, which had collapsed as a national force. All the same, this was a period of vigorous factional and regional conflict.

Ở trong nước, nhiệm kỳ tổng thống của Monroe (1817-1825) được mệnh danh là thời đại của những tình cảm tốt lành. Cụm từ này đã thừa nhận chiến thắng về chính trị của Đảng Cộng hòa trước Đảng ủng hộ chủ nghĩa liên bang bị thất bại với tư cách một lực lượng dân tộc. Đồng thời, đây cũng là thời kỳ có xung đột bè phái và cát cứ.

The end of the Federalists led to a brief period of factional politics and brought disarray to the practice of choosing presidential nominees by congressional party caucuses. For a time, state legislatures nominated candidates. In 1824 Tennessee and Pennsylvania chose Andrew Jackson, with South Carolina Senator John C. Calhoun as his running mate. Kentucky selected Speaker of the House Henry Clay; Massachusetts, Secretary of State John Quincy Adams, son of the second president, John Adams. A congressional caucus, widely derided as undemocratic, picked Secretary of the Treasury William Crawford.

Kết cục của những người theo phái ủng hộ chủ nghĩa liên bang đã dẫn tới sự chia rẽ thành bè phái trong chính trị và gây rối loạn cho hệ thống đề cử tổng thống của các chính đảng trong Quốc hội. Khi đó, các cơ quan lập pháp bang có thể chỉ định các ứng cử viên. Vào năm 1824, các bang Tennessee và Pennsylvania chọn Andrew Jackson cùng với Thượng nghị sỹ bang Nam Carolina là John C. Calhoun tham gia liên danh. Bang Kentucky chọn Chủ tịch Hạ viện là Henry Clay; bang Massachusetts chọn Ngoại trưởng John Quincy Adams, con trai của vị tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ là John Adams; ủy ban thường trực của Quốc hội - cơ quan bị chế nhạo là phi dân chủ - thì chọn Bộ trưởng Tài chính William Crawford.

Personality and sectional allegiance played important roles in determining the outcome of the election. Adams won the electoral votes from New England and most of New York; Clay won Kentucky, Ohio, and Missouri; Jackson won the Southeast, Illinois, Indiana, the Carolinas, Pennsylvania, Maryland, and New Jersey; and Crawford won Virginia, Georgia, and Delaware. No candidate gained a majority in the Electoral College, so, according to the provisions of the Constitution, the election was thrown into the House of Representatives, where Clay was the most influential figure. He supported Adams, who gained the presidency.

Nhân cách và tư tưởng cục bộ địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả bầu cử. Adams đã thắng cử trong các cuộc bỏ phiếu của đại cử tri từ bang New England và phần lớn bang New York; Clay thắng cử ở các bang Kentucky, Ohio và Missouri; Jackson thắng cử ở miền Đông Nam, các bang Illinois, Indiana, Bắc và Nam Carolina, Pennsylvania, Maryland và New Jersey; còn Crawford thắng ở các bang Virginia, Georgia và Delaware. Không có ứng cử viên nào đạt đa số phiếu đại cử tri, vì vậy theo các điều khoản của Hiến pháp thì cuộc bầu cử được chuyển sang Hạ viện giải quyết. Tại đây Clay là một nhân vật có ảnh hưởng nhất. Ông ủng hộ Adams, và Adams đã giành được chức tổng thống.

During Adams's administration, new party alignments appeared. Adams's followers, some of whom were former Federalists, took the name of "National Republicans" as emblematic of their support of a federal government that would take a strong role in developing an expanding nation. Though he governed honestly and efficiently, Adams was not a popular president. He failed in his effort to institute a national system of roads and canals. His coldly intellectual temperament did not win friends. Jackson, by contrast, had enormous popular appeal and a strong political organization. His followers coalesced to establish the Democratic Party, claimed direct lineage from the Democratic-Republican Party of Jefferson, and in general advocated the principles of small, decentralized government. Mounting a strong anti-Adams campaign, they accused the president of a "corrupt bargain" for naming Clay secretary of state. In the election of 1828, Jackson defeated Adams by an overwhelming electoral majority.

Trong nhiệm kỳ này của Adams, những liên minh đảng mới đã xuất hiện. Những người ủng hộ Adams đã lấy tên Những người theo phái Cộng hòa quốc gia để thể hiện sự ủng hộ của họ đối với Chính phủ Liên bang ngày càng đảm đương vai trò lớn hơn trong công cuộc phát triển đất nước. Tuy Adams lãnh đạo đất nước trung thực và có hiệu quả, nhưng ông không phải là một tổng thống được người ta ưa. Adams đã không thiết lập được một hệ thống đường sá và kênh đào quốc gia. Đức tính bộc trực lạnh lùng nhưng giàu chất trí tuệ của ông đã không được lòng bạn bè. Ngược lại, Jackson có sức lôi cuốn quần chúng mạnh mẽ và có bộ máy chính trị hùng mạnh. Những người ủng hộ ông đã hợp lại để thành lập Đảng Dân chủ. Họ cho rằng Đảng này trực tiếp xuất thân từ Đảng Cộng hoà - Dân chủ của Jefferson. Trên thực thế, Đảng Dân chủ cổ súy nguyên tắc chính phủ phân cấp nhưng nhỏ gọn. Tập hợp lực lượng chống Adams, họ đã quy kết tổng thống tham nhũng khi bổ nhiệm Clay làm ngoại trưởng. Trong cuộc bầu cử năm 1828, Jackson đã đánh bại Adams bằng một chiến thắng áp đảo.

Jackson -- Tennessee politician, fighter in wars against Native Americans on the Southern frontier, and hero of the Battle of New Orleans during the War of 1812 -- drew his support from the "common people." He came to the presidency on a rising tide of enthusiasm for popular democracy. The election of 1828 was a significant benchmark in the trend toward broader voter participation. By then most states had either enacted universal white male suffrage or minimized property requirements. In 1824 members of the Electoral College in six states were still selected by the state legislatures. By 1828 presidential electors were chosen by popular vote in every state but Delaware and South Carolina. These developments were the products of a widespread sense that the people should rule and that government by traditional elites had come to an end.

Jackson vốn là chính khách ở bang Tennessee, một chiến binh chống lại người da đỏ và là người hùng trong trận chiến New Orleans trong chiến tranh năm 1812. Ông đã giành được sự ủng hộ từ quần chúng. Ông lên nắm giữ chức tổng thống nhờ phong trào dân chủ dân túy đang dâng cao. Cuộc bầu cử năm 1828 là dấu mốc quan trọng trong xu thế thể hiện sự tham gia của cử tri ngày càng rộng lớn hơn. Vào thời điểm đó, hầu hết các tiểu bang hoặc đã thông qua quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới da trắng, hoặc đã giảm thiểu yêu cầu về tài sản. Năm 1824, các thành viên của cử tri đoàn ở sáu tiểu bang vẫn được cơ quan lập pháp của bang lựa chọn. Đến năm 1828, các thành viên của cử tri đoàn đã được lựa chọn qua phổ thông đầu phiếu ở tất cả các bang ngoại trừ hai bang Delaware và Nam Carolina. Những diễn biến này là sản phẩm của một quan điểm rộng rãi cho rằng người dân nên cai trị và chính phủ của tầng lớp tinh túy truyền thống đã đi đến dấu chấm hết.

NULLIFICATION CRISIS

Toward the end of his first term in office, Jackson was forced to confront the state of South Carolina, the most important of the emerging Deep South cotton states, on the issue of the protective tariff. Business and farming interests in the state had hoped that the president would use his power to modify the 1828 act that they called the Tariff of Abominations. In their view, all its benefits of protection went to Northern manufacturers, leaving agricultural South Carolina poorer. In 1828, the state's leading politician -- and Jackson's vice president until his resignation in 1832 -- John C. Calhoun had declared in his South Carolina Exposition and Protest that states had the right to nullify oppressive national legislation.

CUỘC KHỦNG HOẢNG VÔ HIỆU HÓA

Vào cuối nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình, Jackson đã buộc phải đối đầu với bang Nam Carolina - tiểu bang quan trọng nhất trong tất cả các bang trồng bông đang nổi lên ở viễn Nam - về vấn đề biểu thuế bảo hộ. Những giới doanh thương và nông nghiệp ở bang này vẫn hy vọng Jackson sẽ sử dụng quyền lực tổng thống của mình để sửa đổi các luật thuế ban hành năm 1828 mà họ gọi là Đạo luật Ghê tởm. Theo quan điểm của họ thì tất cả các lợi ích của việc bảo hộ đều rơi vào túi các nhà sản xuất miền Bắc và trong khi cả nước giàu lên thì riêng bang Nam Carolina lại nghèo đi. Năm 1828, chính trị gia hàng đầu của tiểu bang - đồng thời cũng là Phó Tổng thống của Jackson cho đến khi ông từ chức vào năm 1832 - John C. Calhoun đã tuyên bố tại cuộc đấu xảo và biểu tình ở Nam Carolina rằng các bang có quyền vô hiệu hóa đạo luật mang tính đàn áp của chính quyền liên bang.

In 1832, Congress passed and Jackson signed a bill that revised the 1828 tariff downward, but it was not enough to satisfy most South Carolinians. The state adopted an Ordinance of Nullification, which declared both the tariffs of 1828 and 1832 null and void within state borders. Its legislature also passed laws to enforce the ordinance, including authorization for raising a military force and appropriations for arms. Nullification was a long-established theme of protest against perceived excesses by the federal government. Jefferson and Madison had proposed it in the Kentucky and Virginia Resolutions of 1798, to protest the Alien and Sedition Acts. The Hartford Convention of 1814 had invoked it to protest the War of 1812. Never before, however, had a state actually attempted nullification. The young nation faced its most dangerous crisis yet.

Năm 1832, Quốc hội đã thông qua và Jackson ký dự luật giảm mức thuế ban hành năm 1832, nhưng điều đó cũng không đủ để xoa dịu đa số người dân Nam Carolina. Bang này đã thông qua Sắc lệnh Vô hiệu hóa, tuyên bố cả mức thuế quan ban hành năm 1828 và 1832 đều vô hiệu trong phạm vi biên giới của họ. Cơ quan lập pháp của bang cũng thông qua các đạo luật để thực thi sắc lệnh này, bao gồm cho phép xây dựng quân đội và chuẩn chi mua vũ khí. Vô hiệu hóa là chủ đề phản đối vốn đã có từ lâu nhằm chống lại những hành động bị cho là thái quá của chính quyền liên bang. Jefferson và Madison đã đề xuất khái niệm vô hiệu hóa trong các nghị quyết của bang Kentucky và Virginia năm 1798 nhằm phản đối các Đạo luật Ngoại kiều và Nổi loạn. Hội nghị Hartford năm 1814 đã viện dẫn khái niệm này để phản đối cuộc chiến năm 1812. Tuy nhiên trước đây chưa từng bao giờ có một tiểu bang thực sự cố gắng áp dụng vô hiệu hóa. Quốc gia non trẻ giờ đây lại phải đối mặt với cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất của chính mình.

In response to South Carolina's threat, Jackson sent seven small naval vessels and a man of war to Charleston in November 1832. On December 10, he issued a resounding proclamation against the nullifiers. South Carolina, the president declared, stood on "the brink of insurrection and treason," and he appealed to the people of the state to reassert their allegiance to the Union. He also let it be known that, if necessary, he personally would lead the U.S. Army to enforce the law.


Để chống lại mối đe dọa của bang Nam Carolina, Jackson đã phái bảy tàu hải quân nhỏ và một tàu chiến tới Charleston vào tháng 12/1832. Ngày 10/12 ông đã ra một tuyên bố đanh thép chống lại những kẻ ủng hộ việc vô hiệu hóa. Tổng thống tuyên bố rằng, bang Nam Carolina đã đứng trên bờ vực của phản loạn và phản bội và ông đã kêu gọi nhân dân của bang này khẳng định lại lòng trung thành của họ với liên bang. Ông cũng nêu rõ rằng, nếu cần thiết, cá nhân ông sẽ lãnh đạo quân đội Hợp chủng quốc thực thi pháp luật.

When the question of tariff duties again came before Congress, Jackson's political rival, Senator Henry Clay, a great advocate of protection but also a devoted Unionist, sponsored a compromise measure. Clay's tariff bill, quickly passed in 1833, specified that all duties in excess of 20 percent of the value of the goods imported were to be reduced year by year, so that by 1842 the duties on all articles would reach the level of the moderate tariff of 1816. At the same time, Congress passed a Force Act, authorizing the president to use military power to enforce the laws.

Khi vấn đề về các biểu thuế quan lại được trình ra trước Quốc hội, thì đối thủ chính trị của Jackson, Thượng nghị sỹ Henry Clay, một người ủng hộ rất mạnh cho việc bảo hộ mậu dịch, đã ủng hộ một biện pháp thỏa hiệp. Dự luật thuế quan của Clay - một dự luật nhanh chóng được thông qua năm 1833 - đã xác định rõ rằng toàn bộ các mức thuế vượt quá 20% giá trị các hàng hóa nhập khẩu sẽ được giảm xuống hàng năm để đến năm 1842, các khoản thuế đánh vào tất cả các mặt hàng sẽ đạt mức biểu thuế vừa phải của năm 1816. Đồng thời, Quốc hội thông qua Đạo luật Quân sự, cho phép tổng thống sử dụng sức mạnh quân sự để thực thi pháp luật.

South Carolina had expected the support of other Southern states, but instead found itself isolated. (Its most likely ally, the state government of Georgia, wanted, and got, U.S. military force to remove Native-American tribes from the state.) Eventually, South Carolina rescinded its action. Both sides, nevertheless, claimed victory. Jackson had strongly defended the Union. But South Carolina, by its show of resistance, had obtained many of its demands and had demonstrated that a single state could force its will on Congress.


Bang Nam Carolina đã hy vọng giành được sự ủng hộ của các bang miền Nam khác, nhưng họ phát hiện thấy họ đã tự cô lập chính mình (Đồng minh tin cậy nhất của họ là bang Georgia đã muốn và đã có được quân lực Hoa Kỳ để loại bỏ các bộ lạc da đỏ ra khỏi lãnh thổ của họ). Cuối cùng, Nam Carolina đã bãi bỏ quyết định của mình. Tuy nhiên, cả hai phía đều tuyên bố chiến thắng. Jackson đã bảo vệ vững chắc liên bang. Nhưng bằng việc thể hiện sự chống đối của mình, tiểu bang Nam Carolina đã đạt được nhiều yêu cầu của họ và đã minh chứng rằng một bang đơn lẻ vẫn có thể ép Quốc hội chấp nhận ý chí của mình.

THE BANK FIGHT

Although the nullification crisis possessed the seeds of civil war, it was not as critical a political issue as a bitter struggle over the continued existence of the nation's central bank, the second Bank of the United States. The first bank, established in 1791 under Alexander Hamilton's guidance, had been chartered for a 20-year period. Though the government held some of its stock, the bank, like the Bank of England and other central banks of the time, was a private corporation with profits passing to its stockholders. Its public functions were to act as a depository for government receipts, to make short-term loans to the government, and above all to establish a sound currency by refusing to accept at face value notes (paper money) issued by state-chartered banks in excess of their ability to redeem.

TRẬN CHIẾN CỦA NGÂN HÀNG

Mặc dù những tranh cãi về vấn đề vô hiệu hoá một đạo luật của Quốc hội trên lãnh thổ bang là mầm mống của cuộc Nội chiến, song nó không phải là một vấn đề chính trị nghiêm trọng bằng cuộc đấu tranh đầy cam go để đảm bảo sự tồn tại của ngân hàng trung ương của liên bang - Ngân hàng thứ hai của Hợp chủng quốc. Ngân hàng thứ nhất đã được thành lập năm 1791 dưới sự lãnh đạo của Alexander Hamilton và đã được trao đặc quyền trong một giai đoạn là 20 năm. Tuy chính phủ có nắm giữ một số vốn cổ phần của ngân hàng này, nhưng ngân hàng này - tương tự Ngân hàng Trung ương của Anh và các ngân hàng trung ương khác cùng thời - lại là công ty tư nhân, trong đó lợi nhuận được chuyển cho những cổ đông của nó. Chức năng phục vụ nhà nước của ngân hàng này là nơi lưu trữ các khoản thu của chính phủ, cho chính phủ vay ngắn hạn, và trên hết là đảm bảo một đồng tiền vững mạnh bằng cách không chấp nhận giá trị danh nghĩa của tiền (tiền giấy) do các ngân hàng nhà nước cho phép phát hành quá khả năng bù đắp của chính phủ.

To the Northeastern financial and commercial establishment, the central bank was a needed enforcer of prudent monetary policy, but from the beginning it was resented by Southerners and Westerners who believed their prosperity and regional development depended upon ample money and credit. The Republican Party of Jefferson and Madison doubted its constitutionality. When its charter expired in 1811, it was not renewed.


Đối với giới tài chính và kinh doanh miền Bắc, ngân hàng trung ương là công cụ cần thiết để đảm bảo chính sách tiền tệ thận trọng. Nhưng ngay từ đầu, ngân hàng này đã bị dân miền Nam và miền Tây phản đối vì họ tin rằng sự thịnh vượng và phát triển trong khu vực của họ dựa vào lượng tiền và tín dụng dư dật. Đảng Cộng hòa của Jefferson và Madison đã nghi ngờ tính hợp hiến của ngân hàng này. Khi điều lệ của ngân hàng này hết hạn vào năm 1811 thì nó đã không được gia hạn.

For the next few years, the banking business was in the hands of state-chartered banks, which issued currency in excessive amounts, creating great confusion and fueling inflation. It became increasingly clear that state banks could not provide the country with a reliable currency. In 1816 a second Bank of the United States, similar to the first, was again chartered for 20 years. From its inception, the second bank was unpopular in the newer states and territories, especially with state and local bankers who resented its virtual monopoly over the country's credit and currency, but also with less prosperous people everywhere, who believed that it represented the interests of the wealthy few.

Trong vài năm tiếp theo, hoạt động ngân hàng nằm trong tay các ngân hàng được nhà nước cấp độc quyền mà đã phát hành những lượng tiền nhiều quá mức. Điều này đã gây ra sự hỗn độn và làm gia tăng lạm phát. Một điều đã trở nên ngày càng rõ ràng là ngân hàng của các tiểu bang không thể cung cấp cho đất nước một đồng tiền đáng tin cậy, và do vậy vào năm 1816, Ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ - tương tự ngân hàng đầu tiên - đã được cấp đặc quyền trong 20 năm. Ngay từ khi bắt đầu, Ngân hàng thứ hai đã không được phổ biến ở các bang mới và các vùng lãnh thổ mới, và số người thịnh đạt biết tới ngân hàng này cũng ít hơn. Các đối thủ cho rằng ngân hàng đã nắm độc quyền thực sự với khoản tín dụng và tiền tệ của quốc gia, và họ khẳng định rõ ngân hàng này đại diện cho quyền lợi của một số rất ít người giàu có.

On the whole, the bank was well managed and rendered a valuable service; but Jackson long had shared the Republican distrust of the financial establishment. Elected as a tribune of the people, he sensed that the bank's aristocratic manager, Nicholas Biddle, was an easy target. When the bank's supporters in Congress pushed through an early renewal of its charter, Jackson responded with a stinging veto that denounced monopoly and special privilege. The effort to override the veto failed.

Xét tổng thể thì ngân hàng này đã được quản lý tốt và cung cấp được dịch vụ có giá trị; nhưng Jackson là người từ lâu đã có cùng quan điểm với phe Cộng hòa là không tin tưởng vào định chế tài chính này. Được bầu lên với tư cách một người được lòng dân, ông biết rằng người lãnh đạo mang dòng máu quý tộc của ngân hàng này, Nicolas Biddle, là một người dễ bị đánh bại. Khi phe ủng hộ ngân hàng trong Quốc hội thúc ép việc gia hạn sớm điều lệ của ngân hàng, Jackson đáp lại bằng hành động phủ quyết và lên án độc quyền đặc lợi. Nỗ lực xóa bỏ hiệu lực của việc phủ quyết này đã không thành công.

In the presidential campaign that followed, the bank question revealed a fundamental division. Established merchant, manufacturing, and financial interests favored sound money. Regional bankers and entrepreneurs on the make wanted an increased money supply and lower interest rates. Other debtor classes, especially farmers, shared those sentiments. Jackson and his supporters called the central bank a "monster" and coasted to an easy election victory over Henry Clay.

Trong chiến dịch bầu cử tổng thống tiếp theo, vấn đề ngân hàng đã gây ra sự chia rẽ lớn. Các thương nhân lớn, giới sản xuất và tài chính ủng hộ một đồng tiền mạnh. Các nhà băng và doanh nhân ở các khu vực ủng hộ việc cung cấp tiền nhiều hơn và tỷ lệ lãi thấp hơn. Những người đi vay nợ, đặc biệt là nông dân, cũng nhất trí với quan điểm này. Jackson và những người ủng hộ ông đã gọi ngân hàng trung ương là con ác quỷ và nhanh chóng giành được thắng lợi dễ dàng trong cuộc tranh cử với Henry Clay.

The president interpreted his triumph as a popular mandate to crush the central bank irrevocably. In September 1833 he ordered an end to deposits of government money in the bank, and gradual withdrawals of the money already in its custody. The government deposited its funds in selected state banks, characterized as "pet banks" by the opposition.

Jackson đã thấy sự tái cử của mình năm 1832 là bằng chứng sự ủy nhiệm của nhân dân nhằm đánh bại ngân hàng khiến nó không thể nào có thể vực dậy được. Tháng 9/1833 ông ra lệnh cấm không cho một khoản tiền nào của chính quyền được gửi vào ngân hàng, kể cả việc rút dần số tiền đang gửi tại đây. Chính phủ đã gửi tiền của mình ở các ngân hàng của các tiểu bang đã được lựa chọn - hay phe đối lập còn gọi là ngân hàng được ưu ái.


For the next generation the United States would get by on a relatively unregulated state banking system, which helped fuel westward expansion through cheap credit but kept the nation vulnerable to periodic panics. During the Civil War, the United States initiated a system of national charters for local and regional banks, but the nation returned to a central bank only with the establishment of the Federal Reserve system in 1913.

Trong thời gian của thế hệ kế tiếp, nước Mỹ xoay xở được nhờ một hệ thống ngân hàng tiểu bang khá lộn xộn không được quản lý, việc này đã giúp cho việc kích thích sự mở rộng về phía Tây nhờ khoản tín dụng rẻ nhưng đã khiến cho cả quốc gia dễ bị tổn thương trước cú sốc định kỳ. Trong thời kỳ Nội chiến, Hoa Kỳ đã khởi xướng hệ thống đặc quyền dành cho các ngân hàng địa phương và khu vực. Nhưng cuối cùng, vào năm 1913, nước Mỹ đã quay lại sử dụng một ngân hàng trung ương duy nhất với sự ra đời của hệ thống Cục Dự trữ Liên bang.

WHIGS, DEMOCRATS AND "KNOW-NOTHINGS"

Jackson's political opponents, united by little more than a common opposition to him, eventually coalesced into a common party called the Whigs, a British term signifying opposition to Jackson's "monarchial rule." Although they organized soon after the election campaign of 1832, it was more than a decade before they reconciled their differences and were able to draw up a platform. Largely through the magnetism of Henry Clay and Daniel Webster, the Whigs' most brilliant statesmen, the party solidified its membership. But in the 1836 election, the Whigs were still too divided to unite behind a single man. New York's Martin Van Buren, Jackson's vice president, won the contest.

CÁC ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG HÒA, ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ PHÁI BẤT KHẢ TRI

Những đối thủ chính trị của Jackson đã không có hy vọng thành công là vì trong số họ còn có ý định trái nhau. Do vậy họ đã câu kết tất cả những thành phần bất mãn lại với nhau, nhập vào một chính đảng chung có tên gọi là Đảng Whig. Tuy họ tổ chức ngay sau khi chiến dịch bầu cử năm 1832 nhưng phải mất hơn một thập niên trước khi họ có thể giải quyết được những điểm khác biệt và có thể tạo nên một cương lĩnh chính thống. Phần lớn nhờ sức hấp dẫn của Henry Clay và Daniel Webster - những chính khách mẫn tuệ bậc nhất của Đảng Whig - họ đã củng cố được lực lượng đảng viên của mình. Nhưng vào cuộc bầu cử năm 1836, Đảng Whigs vẫn còn bị chia rẽ nên không thể đoàn kết được dưới sự dẫn dắt của một nhà lãnh đạo duy nhất hay dựa trên một lập trường chung. Martin Van Buren ở New York, Phó Tổng thống của Jackson, đã thắng trong cuộc đua này.

An economic depression and the larger-than-life personality of his predecessor obscured Van Buren's merits. His public acts aroused no enthusiasm, for he lacked the compelling qualities of leadership and the dramatic flair that had attended Jackson's every move. The election of 1840 found the country afflicted with hard times and low wages -- and the Democrats on the defensive.


Tình trạng trì trệ kéo dài của kinh tế và nhân cách được phóng đại của người tiền nhiệm đã làm lu mờ những công lao của Van Buren. Những hoạt động công khai của ông không làm dấy lên được lòng nhiệt tình say mê vì ông thiếu những phẩm chất có sức hấp dẫn mạnh mẽ của phong cách lãnh đạo và tài nhạy cảm gây ấn tượng sâu sắc vốn thể hiện trong mọi động thái của Jackson. Cuộc bầu cử năm 1840 đã xảy ra vào lúc đất nước đang đau đớn vật vã với thời kỳ gian khổ và đồng lương thấp, và đặc biệt là các đảng viên Đảng Dân chủ đang trong thế phòng ngự.

The Whig candidate for president was William Henry Harrison of Ohio, vastly popular as a hero of conflicts with Native Americans and the War of 1812. He was promoted, like Jackson, as a representative of the democratic West. His vice presidential candidate was John Tyler -- a Virginian whose views on states' rights and a low tariff were popular in the South. Harrison won a sweeping victory.

Ứng cử viên tổng thống của Đảng Whig là William Henry Harrison của bang Ohio. Ông nổi tiếng với tư cách là một người hùng trong các trận xung đột với người da đỏ cũng như chiến tranh năm 1812. Cũng như Jackson, ông được coi là đại diện cho miền Tây dân chủ. ứng cử viên phó tổng thống là John Tyler người Virginia. Ông có những quan điểm ủng hộ các quyền của các bang và các biểu thuế thấp rất nổi tiếng ở miền Nam. Harrison đã giành được chiến thắng áp đảo.

Within a month of his inauguration, however, the 68-year-old Harrison died, and Tyler became president. Tyler's beliefs differed sharply from those of Clay and Webster, still the most influential men in Congress. The result was an open break between the new president and the party that had elected him. The Tyler presidency would accomplish little other than to establish definitively that, if a president died, the vice president would assume the office with full powers for the balance of his term.

Tuy nhiên ngay trong tháng tổ chức lễ nhậm chức, Harrison đã qua đời ở tuổi 68, và Tyler trở thành tổng thống. Những niềm tin của Tyler rất khác với niềm tin của Clay và Webster, nhưng ông vẫn là người có ảnh hưởng lớn nhất trong Quốc hội. Kết quả là đã có sự đoạn tuyệt công khai giữa tân tổng thống và đảng đã bầu ông. Nhiệm kỳ tổng thống của Tyler không đạt được điều gì khác rõ ràng hơn ngoài quy định, nếu một tổng thống qua đời thì phó tổng thống sẽ kế nhiệm với đầy đủ quyền lực trong suốt nhiệm kỳ của mình.

Americans found themselves divided in other, more complex ways. The large number of Catholic immigrants in the first half of the 19th century, primarily Irish and German, triggered a backlash among native-born Protestant Americans. Immigrants brought strange new customs and religious practices to American shores. They competed with the native-born for jobs in cities along the Eastern seaboard. The coming of universal white male suffrage in the 1820s and 1830s increased their political clout. Displaced patrician politicians blamed the immigrants for their fall from power. The Catholic Church's failure to support the temperance movement gave rise to charges that Rome was trying to subvert the United States through alcohol.

Tuy vậy người Mỹ thấy mình bị chia rẽ ở những phương diện phức tạp hơn nhiều. Đông đảo những người nhập cư theo công giáo La-mã vào nửa đầu thế kỷ XIX, chủ yếu là người Ai-len và người Đức đã châm ngòi gây nên những phản ứng cực đoan trong những người Mỹ bản địa theo Tin Lành giáo. Dân nhập cư đã mang tới bờ biển nước Mỹ những phong tục và hành đạo mới thật kỳ lạ. Họ đã đua tranh với dân bản địa để giành giật việc làm ở các thành phố dọc vùng bờ biển miền Đông. Hơn nữa, những thay đổi về chính trị của những năm 1820 và 1830 đã làm gia tăng khả năng hoạt động chính trị của những người nhập cư. Những chính trị gia dòng dõi quý tộc bị thất thế đã đổ lỗi cho người nhập cư vì đã làm họ mất đi quyền lực. Sự thất bại của Cơ đốc giáo nhằm ủng hộ phong trào giảm uống rượu mạnh đã làm dấy lên những lời buộc tội rằng La-mã đang cố gắng lật đổ nước Hoa Kỳ bằng rượu.

The most important of the nativist organizations that sprang up in this period was a secret society, the Order of the Star Spangled Banner, founded in 1849. When its members refused to identify themselves, they were swiftly labeled the "Know-Nothings." In a few years, they became a national organization with considerable political power.


Quan trọng nhất trong các tổ chức theo thuyết bẩm sinh vốn đã xuất hiện trong giai đoạn này là một hội kín, đó là Dòng tu của Lá cờ điểm sao, thành lập năm 1849. Khi các thành viên của hội này từ chối nhận diện mình, họ mau chóng được đặt tên là Những người bất khả tri. Trong một số năm, họ đã tổ chức được bộ máy khắp cả nước và có quyền lực chính trị tương đối.


The Know-Nothings advocated an extension in the period required for naturalized citizenship from five to 21 years. They sought to exclude the foreign-born and Catholics from public office. In 1855 they won control of legislatures in New York and Massachusetts; by then, about 90 U.S. congressmen were linked to the party. That was its high point. Soon after, the gathering crisis between North and South over the extension of slavery fatally divided the party, consuming it along with the old debates between Whigs and Democrats that had dominated American politics in the second quarter of the 19th century.

Những người bất khả tri cổ xúy việc mở rộng về thời gian đòi hỏi cho việc nhập quốc tịch từ 5 năm lên tới 21 năm, và loại trừ người nhập cư và các tín đồ công giáo La-mã khỏi các chức vụ nhà nước. Năm 1855, tổ chức này đã giành được quyền kiểm soát các cơ quan lập pháp ở bang New York và Massachusetts. Đến lúc đó, chừng 90 nghị sỹ Mỹ đã có liên hệ với đảng này. Sau đó, cuộc khủng hoảng giữa Bắc và Nam về vấn đề mở rộng chế độ nô lệ đã gây chia rẽ sâu sắc trong đảng, gợi lại các cuộc tranh luận giữa Đảng Whig và Dân chủ vốn đã áp đảo nền chính trị Mỹ trong 25 năm cuối cùng của nửa đầu thế kỷ XIX.

STIRRINGS OF REFORM

NHỮNG KHUẤY ĐỘNG CỦA CẢI CÁCH



Although practically unknown during her lifetime, Emily Dickinson (1830-1886) is now seen as one of the most brilliant and original poets America has ever produced.
(By permission of the Trustees of Amherst College)

Mặc dù, trên thực tế, vô danh trong suốt cuộc đời, nhưng Emily Dickinson (1830-1886) ngày nay được coi là một trong những nhà thơ xuất sắc và sáng chói nhất mà nước Mỹ đã từng sản sinh ra.
(Theo sự cho phép của Ủy Viên Amherst College)
The democratic upheaval in politics exemplified by Jackson's election was merely one phase of the long American quest for greater rights and opportunities for all citizens. Another was the beginning of labor organization, primarily among skilled and semiskilled workers. In 1835 labor forces in Philadelphia, Pennsylvania, succeeded in reducing the old "dark-to-dark" workday to a 10-hour day. By 1860, the new work day had become law in several of the states and was a generally accepted standard.

Sự biến động đột ngột của tinh thần dân chủ trong vấn đề chính trị mà được minh chứng bằng cuộc bầu cử Jackson chỉ là một giai đọan trong cuộc tìm kiếm dài lâu của nước Mỹ vì những quyền và những cơ hội lớn hơn cho tất cả các công dân. Một cuộc biến động khác là sự bắt đầu của tổ chức người lao động. Năm 1835, các lực lượng lao động ở Philadelphia, bang Pennsylvania đã thành công trong việc giảm thời gian làm việc trong ngày trước đây từ sáng sớm đến tối mịt xuống còn 10 tiếng một ngày. Đến 1860, quy định ngày làm việc mới đã được ban hành trong luật ở một số tiểu bang, và nhìn chung được chấp nhận là chuẩn mực.

The spread of suffrage had already led to a new concept of education. Clear-sighted statesmen everywhere understood that universal suffrage required a tutored, literate electorate. Workingmen's organizations demanded free, tax-supported schools open to all children. Gradually, in one state after another, legislation was enacted to provide for such free instruction. The leadership of Horace Mann in Massachusetts was especially effective. The public school system became common throughout the North. In other parts of the country, however, the battle for public education continued for years.

Sự lan truyền của phong trào đòi quyền bầu cử đã dẫn tới quan điểm mới về giáo dục, vì các chính khách nhìn xa trông rộng ở khắp nơi hiểu rằng phổ thông đầu phiếu đòi hỏi cử tri phải biết chữ và có kiến thức. Các tổ chức của công nhân đã đòi hỏi phải có trường học miễn phí, được hỗ trợ thuế dành cho tất cả trẻ em. Dần dần, hết bang này đến bang khác, các đạo luật đã được ban hành để cung cấp giáo dục miễn phí cho trẻ em. Sự lãnh đạo của Horace Mann ở bang Massachusetts lúc này đặc biệt hiệu quả. Hệ thống trường công đã trở thành phổ biến ở khắp khu vực miền Bắc nước Mỹ. Tuy nhiên, ở các khu vực khác của đất nước, cuộc đấu tranh vì nền giáo dục công lập vẫn tiếp tục xảy ra trong nhiều năm.

Another influential social movement that emerged during this period was the opposition to the sale and use of alcohol, or the temperance movement. It stemmed from a variety of concerns and motives: religious beliefs, the effect of alcohol on the work force, the violence and suffering women and children experienced at the hands of heavy drinkers. In 1826 Boston ministers organized the Society for the Promotion of Temperance. Seven years later, in Philadelphia, the society convened a national convention, which formed the American Temperance Union. The union called for the prohibition of all alcoholic beverages, and pressed state legislatures to ban their production and sale. Thirteen states had done so by 1855, although the laws were subsequently challenged in court. They survived only in northern New England, but between 1830 and 1860 the temperance movement reduced Americans' per capita consumption of alcohol.

Một phong trào xã hội có ảnh hưởng lớn khác xuất hiện trong giai đoạn này là sự chống lại việc bán và sử dụng rượu, tức là phong trào vận động hạn chế rượu. Phong trào này bắt nguồn từ những mối quan tâm lo ngại về hệ quả của nó như: các niềm tin tôn giáo, hậu quả của rượu đối với sức khỏe của người lao động, nạn bạo lực và nạn ngược đãi phụ nữ và trẻ em. Vào năm 1826 các mục sư ở Boston đã tổ chức hội khuyếch trương phong trào hạn chế rượu. Bảy năm sau ở Philadelphia, Hội này đã tổ chức một hội nghị quốc gia và thành lập Liên hiệp hạn chế rượu Mỹ. Liên hiệp này đã kêu gọi từ bỏ tất cả các loại đồ uống có cồn và gây áp lực với các cơ quan lập pháp bang cấm việc bán và sản xuất rượu. Cho tới năm 1855, 13 bang đã thực hiện như vậy, tuy nhiên các bộ luật sau đó đã bị thách thức tại tòa án. Các bộ luật này chỉ tồn tại ở miền Bắc New England, nhưng dù sao thì vào những năm, từ 1830 đến 1860, phong trào hạn chế rượu cũng đã làm giảm sản lượng rượu tiêu thụ theo đầu người.

Other reformers addressed the problems of prisons and care for the insane. Efforts were made to turn prisons, which stressed punishment, into penitentiaries where the guilty would undergo rehabilitation. In Massachusetts, Dorothea Dix led a struggle to improve conditions for insane persons, who were kept confined in wretched almshouses and prisons. After winning improvements in Massachusetts, she took her campaign to the South, where nine states established hospitals for the insane between 1845 and 1852.

Những nhà cải cách khác đã hướng tới các vấn đề nhà tù và chăm sóc những người bị bệnh tâm thần. Những nỗ lực đã được thực thi để biến các nhà tù vốn nhấn mạnh việc trừng phạt trở thành các trại cải huấn, tại đây, các phạm nhân sẽ được phục hồi, cải tạo. Ở bang Massachusetts, Dorothea Dix đã lãnh đạo cuộc tranh đấu nhằm cải thiện các điều kiện cho những người mắc chứng tâm thần, những người đã bị giam giữ trong những trại tế bần thảm hại, khốn khổ và các nhà tù. Sau khi giành được sự cải thiện ở Massachusetts, bà đã đưa chiến dịch của mình hướng tới miền Nam nơi có chín bang đã lập các bệnh viện cho người mắc chứng tâm thần vào những năm 1845 và 1852.

WOMEN'S RIGHTS

QUYỀN CỦA PHỤ NỮ



The great champions of women's rights in the 19th century: Elizabeth Cady Stanton (seated) and Susan B. Anthony. Stanton helped organize the first women's rights convention in 1848 in Seneca Falls, New York. In later years, she joined Anthony in founding the National Woman Suffrage Association. "I forged the thunderbolts," Stanton said of their partnership, "and she fired them."
(Library of Congress)

Các nhà vô địch vĩ đại của phong trào nữ quyền thế kỷ 19: Elizabeth Cady Stanton (ngồi) và Susan B. Anthony. Stanton đã giúp tổ chức hội nghị quyền phụ nữ đầu tiên năm 1848 tại Seneca Falls, New York. Trong những năm sau đó, bà cùng Anthony thành lập Hiệp hội quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ. "Tôi rèn lưỡi tầm sét," Stanton nói về quan hệ đối tác của họ "và bà ấy vung tay khai hỏa."
(Thư viện Quốc hội)
Such social reforms brought many women to a realization of their own unequal position in society. From colonial times, unmarried women had enjoyed many of the same legal rights as men, although custom required that they marry early. With matrimony, women virtually lost their separate identities in the eyes of the law. Women were not permitted to vote. Their education in the 17th and 18th centuries was limited largely to reading, writing, music, dancing, and needlework.


Những cuộc cải cách như vậy đã khiến nhiều người phụ nữ nhận thức được vị trí bất bình đẳng của họ trong xã hội. Từ thời thuộc địa, những phụ nữ chưa chồng đã được hưởng nhiều quyền hợp pháp như nam giới, tuy nhiên phong tục buộc họ phải lấy chồng sớm. Khi đã kết hôn thì phụ nữ đã thực sự mất đi những quyền của họ trước luật pháp. Phụ nữ không được phép đi bầu cử và việc học hành của họ vào các thế kỷ XVII và XVIII chủ yếu chỉ ở mức biết đọc, biết viết, âm nhạc, khiêu vũ và may vá.

The awakening of women began with the visit to America of Frances Wright, a Scottish lecturer and journalist, who publicly promoted women's rights throughout the United States during the 1820s. At a time when women were often forbidden to speak in public places, Wright not only spoke out, but shocked audiences by her views advocating the rights of women to seek information on birth control and divorce. By the 1840s an American women's rights movement emerged. Its foremost leader was Elizabeth Cady Stanton.

Sự thức tỉnh của phụ nữ bắt đầu với cuộc đi thăm Mỹ của Frances Wright, một giảng viên và nhà báo Scotland, người đã công khai khuyếch trương các quyền của phụ nữ ở khắp nước Mỹ vào những năm 1820. Vào thời gian này phụ nữ bị cấm phát biểu ở những nơi công cộng, thì Wright không chỉ lớn tiếng phát biểu mà còn khiến chủ tọa kinh ngạc bởi những quan điểm của bà bênh vực quyền của phụ nữ tìm kiếm thông tin về việc kiểm soát sinh đẻ và ly dị. Đến những năm 1840, một phong trào vì quyền phụ nữ Mỹ đã nổi lên. Lãnh đạo đầu tiên của phong trào này là Elizabeth Cady Stanton.

In 1848 Cady Stanton and her colleague Lucretia Mott organized a women's rights convention -- the first in the history of the world -- at Seneca Falls, New York. Delegates drew up a "Declaration of Sentiments," demanding equality with men before the law, the right to vote, and equal opportunities in education and employment. The resolutions passed unanimously with the exception of the one for women's suffrage, which won a majority only after an impassioned speech in favor by Frederick Douglass, the black abolitionist.

Vào năm 1848, Cady Stanton và đồng nghiệp là Lucretia Mott đã tổ chức một hội nghị quyền phụ nữ - hội nghị phụ nữ đầu tiên trong lịch sử thế giới tại Seneca Falls bang New York. Các đại biểu đã soạn thảo một Tuyên ngôn Tình cảm yêu cầu quyền bình đẳng với đàn ông trước pháp luật, quyền bầu cử, cơ hội công bằng trong giáo dục và việc làm. Các nghị quyết được nhất trí thông qua trừ nghị quyết về quyền đi bầu cử. Nghị quyết này sau đó đã giành được đa số phiếu chỉ sau khi Frederick Douglas, một người da đen theo chủ nghĩa bãi nô, phát biểu một bài gây xúc động mạnh ủng hộ nghị quyết này.


At Seneca Falls, Cady Stanton gained national prominence as an eloquent writer and speaker for women's rights. She had realized early on that without the right to vote, women would never be equal with men. Taking the abolitionist William Lloyd Garrison as her model, she saw that the key to success lay in changing public opinion, and not in party action. Seneca Falls became the catalyst for future change. Soon other women's rights conventions were held, and other women would come to the forefront of the movement for their political and social equality.

Tại Seneca Falls, Cady Stanton đã trở nên nổi tiếng với tư cách vừa là nhà văn vừa là người lớn tiếng ủng hộ quyền phụ nữ. Bà đã nhận thấy từ rất sớm rằng nếu không có quyền bỏ phiếu, phụ nữ không bao giờ có thể bình đẳng với nam giới. Noi gương William Lloyd Garrison, một người ủng hộ bãi nô, bà phát hiện thấy rằng mấu chốt để đi tới thành công nằm ở chỗ thay đổi quan điểm của công chúng, chứ không phải là hành động của Đảng. Seneca Falls đã trở thành chất xúc tác cho sự thay đổi trong tương lai. Chẳng bao lâu sau, các hội nghị khác về quyền khác của phụ nữ đã được tổ chức. Những người phụ nữ khác tiên phong bước lên tuyến đầu của phong trào đấu tranh bình đẳng chính trị và xã hội của họ.

In 1848 also, Ernestine Rose, a Polish immigrant, was instrumental in getting a law passed in the state of New York that allowed married women to keep their property in their own name. Among the first laws in the nation of this kind, the Married Women's Property Act encouraged other state legislatures to enact similar laws.

Cũng vào năm 1848, Ernestine Rose, một người nhập cư Ba Lan đã đấu tranh để một đạo luật được thông qua tại bang New York. Đạo luật này cho phép phụ nữ đã kết hôn được giữ phần tài sản của mình theo tên của mình. Trong số những luật lệ đầu tiên loại này ở Mỹ thì Đạo luật về tài sản phụ nữ đã kết hôn đã khuyến khích các cơ quan lập pháp bang khác ban hành các luật tương tự.

In 1869 Elizabeth Cady Stanton and another leading women's rights activist, Susan B. Anthony, founded the National Woman Suffrage Association (NWSA), to promote a constitutional amendment for women's right to the vote. These two would become the women's movement's most outspoken advocates. Describing their partnership, Cady Stanton would say, "I forged the thunderbolts and she fired them."

Vào năm 1869, Elizabeth Cady Stanton và một nhà đấu tranh tích cực chủ đạo khác cho nữ quyền, Susan B. Anthony, thành lập Hiệp hội quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ (NWSA), hiệp hội này ủng hộ một Điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp về quyền phụ nữ được đi bầu cử. Hai người này sẽ trở thành những người bênh vực ủng hộ thẳng thắn nhất của phong trào phụ nữ. Khi mô tả sự hợp tác hoạt động của họ, Cady Stanton nói "Tôi đã tạo nên các tiếng sét còn chị ấy bắn những tiếng sét ấy".

WESTWARD

The frontier did much to shape American life. Conditions along the entire Atlantic seaboard stimulated migration to the newer regions. From New England, where the soil was incapable of producing high yields of grain, came a steady stream of men and women who left their coastal farms and villages to take advantage of the rich interior land of the continent. In the backcountry settlements of the Carolinas and Virginia, people handicapped by the lack of roads and canals giving access to coastal markets and resentful of the political dominance of the Tidewater planters also moved westward. By 1800 the Mississippi and Ohio River valleys were becoming a great frontier region. "Hi-o, away we go, floating down the river on the O-hi-o," became the song of thousands of migrants.

TÂY TIẾN

Miền biên giới đã làm được nhiều điều để tạo dựng nên cuộc sống của nước Mỹ. Những điều kiện ở dọc toàn bộ vùng bờ biển Đại Tây Dương đã kích thích di dân tới những khu vực mới mẻ hơn. Từ New England nơi đất đai đã không thể đem lại những năng suất ngũ cốc cao, đã xuất phát cả một dòng người đều đặn gồm những người đàn ông và đàn bà rời các trang trại và làng mạc vùng ven bờ biển của họ tới vùng đất nội địa màu mỡ của lục địa. Ở các khu định cư miền xa xôi của các bang Nam và Bắc Carolina và Virginia, dân chúng bị bất lợi vì thiếu những con đường và những con kênh cho phép tiếp cận những thị trường ven biển, và họ cũng chịu khốn khổ vì sự thống trị về chính trị của các chủ đồn điền vùng thủy triều vốn cũng phải di chuyển về miền Tây. Cho đến năm 1800, các thung lũng sông Mississippi và Ohio đang trở thành vùng biên giới rộng lớn. "Chào nhé, chúng tôi ra đi, trôi xuôi dòng trên xứ Ohio", lời hát này đã trở thành bài ca của hàng ngàn dân di cư.

The westward flow of population in the early 19th century led to the division of old territories and the drawing of new boundaries. As new states were admitted, the political map stabilized east of the Mississippi River. From 1816 to 1821, six states were created -- Indiana, Illinois, and Maine (which were free states), and Mississippi, Alabama, and Missouri (slave states). The first frontier had been tied closely to Europe, the second to the coastal settlements, but the Mississippi Valley was independent and its people looked west rather than east.

Dòng dân cư tiến về miền Tây vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn tới sự phân chia những vùng lãnh thổ cũ, và xác lập những đường biên giới mới. Vì có các bang mới được kết nạp nên tấm bản đồ chính trị đã ổn định hóa vùng phía đông của Mississippi. Từ năm 1816 đến năm 1821, 6 bang đã được thành lập: Indiana, Illinois và Maine (đây là 3 bang tự do) và Mississippi, Alabama và Missouri (các bang nô lệ). Miền biên giới đầu tiên đã gắn bó chặt chẽ với châu Âu, miền biên giới thứ hai có quan hệ chặt chẽ với các vùng định cư ven bờ biển, nhưng thung lũng sông Mississippi là độc lập và dân cư vùng này chăm chú nhìn sang miền Tây hơn là sang miền Đông.


Frontier settlers were a varied group. One English traveler described them as "a daring, hardy race of men, who live in miserable cabins. ... They are unpolished but hospitable, kind to strangers, honest, and trustworthy. They raise a little Indian corn, pumpkins, hogs, and sometimes have a cow or two. ... But the rifle is their principal means of support." Dexterous with the ax, snare, and fishing line, these men blazed the trails, built the first log cabins, and confronted Native-American tribes, whose land they occupied.

Cư dân miền biên giới là một nhóm cư dân khác. Một du khách Anh đã mô tả họ như là một sắc dân táo bạo, liều lĩnh và chịu được gian khổ đang sống trong những căn lều tồi tàn... Họ là những người thô lỗ nhưng hiếu khách, dễ thương đối với người ngoại quốc, họ trung thực và cả tin. Họ gieo trồng ít ngô của người da đỏ, bí ngô, nuôi heo và nhiều khi họ có một hay hai con bò... Khẩu súng trường là phương tiện chống đỡ chính yếu của họ. Vốn rất khéo léo, lành nghề với cây rìu, cái bẫy và chiếc cần câu, những người này đốt dọn những con đường đi, dựng những căn lều đầu tiên bằng gỗ súc và đối chọi với những bộ lạc da đỏ bản địa có đất đai bị họ chiếm.

As more and more settlers penetrated the wilderness, many became farmers as well as hunters. A comfortable log house with glass windows, a chimney, and partitioned rooms replaced the cabin; the well replaced the spring. Industrious settlers would rapidly clear their land of timber, burning the wood for potash and letting the stumps decay. They grew their own grain, vegetables, and fruit; ranged the woods for deer, wild turkeys, and honey; fished the nearby streams; looked after cattle and hogs. Land speculators bought large tracts of the cheap land and, if land values rose, sold their holdings and moved still farther west, making way for others.

Khi ngày càng có nhiều cư dân nhập cư lọt sâu vào vùng đất hoang dã thì nhiều người đã trở thành các chủ trại cũng như thợ săn. Một căn nhà tiện nghi bằng gỗ súc với các cửa sổ lắp kính, một ống khói và các phòng riêng biệt đã thay thế cho chiếc lều gỗ, giếng nước đã thay thế cho dòng suối. Những người định cư siêng năng cần cù sẽ nhanh chóng dọn quang những vùng đất mọc đầy cây to bằng việc đốt gỗ lấy tro làm phân bón và để lại các gốc cây đã đốn mục nát. Họ trồng ngũ cốc, rau và quả; sắp xếp các cánh rừng để nuôi hươu, gà tây rừng và lấy mật; họ đánh cá ở những con suối gần nhà; chăm sóc đàn gia súc và heo. Những người đầu cơ đất đai mua những khoảnh đất rộng, rẻ, và nếu giá đất tăng họ bán những ruộng đất của họ đi và họ tiếp tục đi xa hơn nữa về miền Tây, mở đường cho những người khác.

Doctors, lawyers, storekeepers, editors, preachers, mechanics, and politicians soon followed the farmers. The farmers were the sturdy base, however. Where they settled, they intended to stay and hoped their children would remain after them. They built large barns and brick or frame houses. They brought improved livestock, plowed the land skillfully, and sowed productive seed. Some erected flour mills, sawmills, and distilleries. They laid out good highways, and built churches and schools. Incredible transformations were accomplished in a few years. In 1830, for example, Chicago, Illinois, was merely an unpromising trading village with a fort; but long before some of its original settlers had died, it had become one of the largest and richest cities in the nation.

Các thầy thuốc, luật sư, chủ cửa hàng, biên tập viên, nhà truyền giáo, thợ cơ khí và các nhà chính trị chẳng bao lâu sau đã đi theo các chủ trại. Tuy nhiên, các chủ trại là một cơ sở vững chắc. Ở những nơi họ định cư, họ có ý định ở lại và hy vọng con cái họ sẽ ở đó sau khi họ qua đời. Họ xây dựng những kho lúa lớn và những ngôi nhà gạch hay nhà khung. Họ mua gia súc giống đã cải tạo, cày cấy đất đai và gieo những loại hạt có năng suất cao. Một số người dựng những xưởng xay bột, xưởng cưa và lò cất rượu. Họ tạo nên những con đường chính rất bền tốt, họ xây những ngôi nhà thờ và trường học. Những biến đổi khó có thể tin được đã hoàn tất chỉ sau vài năm. Vào năm 1830 chẳng hạn, Chicago ở bang Illinois chỉ là một khu làng buôn bán với một pháo đài không có triển vọng gì; nhưng ngay một thời gian dài trước khi một số người định cư đầu tiên qua đời thì khu làng đó đã trở thành một trong số những thành phố rộng lớn nhất và giàu có nhất nước Mỹ.

Farms were easy to acquire. Government land after 1820 could be bought for $1.25 for about half a hectare, and after the 1862 Homestead Act, could be claimed by merely occupying and improving it. In addition, tools for working the land were easily available. It was a time when, in a phrase coined by Indiana newspaperman John Soule and popularized by New York Tribune editor Horace Greeley, young men could "go west and grow with the country."


Thật dễ dàng có thể sở hữu những trang trại. Sau năm 1820, đất của nhà nước có thể mua được với giá 1,25 đô-la cho một nửa héc -ta và sau Đạo luật Trang trại ban hành năm 1862 thì đất đó có thể có được chỉ cần bằng chiếm cứ và cải tạo thôi. Hơn nữa, những công cụ để canh tác đất đai cũng dễ kiếm. Đó là cái thời khi mà, theo câu nói của John Soule viết ra và được nhà báo Horace Greeley phổ biến, những người trẻ tuổi có thể tiến về miền Tây và lớn lên cùng đất nước.

Except for a migration into Mexican-owned Texas, the westward march of the agricultural frontier did not pass Missouri into the vast Western territory acquired in the Louisiana Purchase until after 1840. In 1819, in return for assuming the claims of American citizens to the amount of $5 million, the United States obtained from Spain both Florida and Spain's rights to the Oregon country in the Far West. In the meantime, the Far West had become a field of great activity in the fur trade, which was to have significance far beyond the value of the skins. As in the first days of French exploration in the Mississippi Valley, the trader was a pathfinder for the settlers beyond the Mississippi. The French and Scots-Irish trappers, exploring the great rivers and their tributaries and discovering the passes through the Rocky and Sierra Mountains, made possible the overland migration of the 1840s and the later occupation of the interior of the nation.

Ngoại trừ việc di cư tới vùng Texas do Mexico sở hữu thì biên giới vùng nông nghiệp phát triển sang phía tây chỉ mãi tới năm 1840 mới qua miền Missouri. Vào năm 1819, để trả công cho việc đoạt được những quyền khai khẩn của công dân Mỹ với trị giá 5 triệu đô la, nước Mỹ đã đoạt từ tay Tây ban Nha cả vùng Florida lẫn quyền của Tây Ban Nha sở hữu khu vực Oregon ở miền Viễn Tây. Đồng thời, miền Viễn Tây đã trở thành khu vực hoạt động rộng lớn của việc buôn bán lông thú mà vốn dĩ có giá trị hơn nhiều so với da thú. Cũng như những ngày đầu tiên của cuộc thám hiểm của người Pháp ở thung lũng Mississippi, lái buôn là người mở đường cho dân định cư vượt qua sông Mississippi. Những thợ bẫy thú lấy da là người Pháp và người Xcotlen - Ai-len khi khảo sát những con sông lớn và các nhánh sông đã phát hiện ra những đoạn đèo trên các dãy núi Rocky và Sierra, từ đó dẫn tới việc di dân bằng đường bộ vào thập niên 1840 và sau này, mở ra khả năng khai khẩn vùng nội địa nước Mỹ.

Overall, the growth of the nation was enormous: Population grew from 7.25 million to more than 23 million from 1812 to 1852, and the land available for settlement increased by almost the size of Western Europe -- from 4.4 million to 7.8 million square kilometers. Still unresolved, however, were the basic conflicts rooted in sectional differences that, by the decade of the 1860s, would explode into civil war. Inevitably, too, this westward expansion brought settlers into conflict with the original inhabitants of the land: the Native Americans.


Xét một cách toàn diện thì sự tăng trưởng của đất nước thật to lớn: dân số tăng từ 7, 25 triệu lên hơn 23 triệu từ năm 1812 đến năm 1852, đất đai sẵn có cho việc định cư tăng gần bằng diện tích châu Âu - từ 4, 4 triệu lên tới 7, 8 triệu km2. Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa được giải quyết đó là những cuộc xung đột căn bản giữa các địa phương mà cho đến những năm 1860 bùng nổ thành nội chiến. Một điều cũng không thể tránh khỏi là cuộc mở rộng sang miền Tây đã khiến dân nhập cư xung đột với dân bản địa của miền đất này là người da đỏ.

In the first part of the 19th century, the most prominent figure associated with these conflicts was Andrew Jackson, the first "Westerner" to occupy the White House. In the midst of the War of 1812, Jackson, then in charge of the Tennessee militia, was sent into southern Alabama, where he ruthlessly put down an uprising of Creek Indians. The Creeks soon ceded two-thirds of their land to the United States. Jackson later routed bands of Seminoles from their sanctuaries in Spanish-owned Florida.

Vào đầu thế kỷ XIX, nhân vật kiệt xuất nhất gắn bó với những xung đột đó là Andrew Jackson, người miền Tây đầu tiên chiếm lĩnh Nhà Trắng. Vào giữa cuộc chiến tranh năm 1812, Jackson khi đó phụ trách lực lượng dân quân Tennesse đã được phái tới phía nam Alabama, tại đây ông đã đàn áp không thương xót cuộc khởi nghĩa của dân da đỏ Creek. Sau đó, người Creek đã nhượng hai phần ba đất đai của họ cho Hoa Kỳ. Sau này Jackson đã đánh tan những băng nhóm người da đỏ Seminole, khiến họ phải chạy khỏi những vùng trú ẩn của họ ở Florida do người Tây Ban Nha sở hữu.

In the 1820s, President Monroe's secretary of war, John C. Calhoun, pursued a policy of removing the remaining tribes from the old Southwest and resettling them beyond the Mississippi. Jackson continued this policy as president. In 1830 Congress passed the Indian Removal Act, providing funds to transport the eastern tribes beyond the Mississippi. In 1834 a special Native-American territory was set up in what is now Oklahoma. In all, the tribes signed 94 treaties during Jackson's two terms, ceding millions of hectares to the federal government and removing dozens of tribes from their ancestral homelands.

Vào những năm 1820, Bộ trưởng Chiến tranh của Tổng thống Monroe, ông John C. Calhoun, đã theo đuổi chính sách lùa những bộ lạc còn lại ra khỏi miền Tây Nam cổ kính và tái định cư họ ở bên kia sông Mississippi. Jackson đã tiếp tục chính sách này với tư cách là tổng thống. Vào năm 1830, Quốc hội đã thông qua Đạo luật di chuyển người da đỏ, cung cấp tài chính để đưa các bộ lạc miền Đông qua sông Mississippi. Vào năm 1834, một vùng lãnh thổ đặc biệt của người da đỏ đã được thiết lập ở khu vực mà bây giờ là bang Oklahoma. Tính tổng cộng thì các bộ lạc đã ký 94 hợp đồng trong thời gian hai nhiệm kỳ của Jackson để nhượng quyền sở hữu hàng triệu hécta đất cho Chính phủ Liên bang và di dời hàng chục bộ lạc ra khỏi vùng đất chôn nhau cắt rốn của tổ tiên họ.

The most terrible chapter in this unhappy history concerned the Cherokees, whose lands in western North Carolina and Georgia had been guaranteed by treaty since 1791. Among the most progressive of the eastern tribes, the Cherokees nevertheless were sure to be displaced when gold was discovered on their land in 1829. Forced to make a long and cruel trek to Oklahoma in 1838, the tribe lost many of its numbers from disease and privation on what became known as the "Trail of Tears."

Có lẽ chương bi hùng nhất trong cuốn sử bất hạnh này liên can tới người da đỏ Cherokees mà đất đai của họ ở vùng phía tây bang Nam Carolina và bang Georgia đã được bảo đảm bằng hiệp ước từ năm 1791. Vốn là một trong những bộ lạc tiến bộ nhất trong các bộ lạc miền Đông, số phận người Cherokees đã được quyết định khi vàng được phát hiện trên đất đai của họ vào năm 1829. Người Cherokees đã bị bắt buộc phải tiến hành cuộc di chuyển lâu dài và hiểm nghèo tới Oklahoma vào năm 1835. Nhiều người đã chết vì bệnh tật và tình trạng vất vả, thiếu thốn trên con đường nổi tiếng mang tên Đoạn trường nước mắt.


THE FRONTIER, THE "WEST" AND THE AMERICAN EXPERIENCE

The frontier -- the point at which settled territory met unoccupied land -- began at Jamestown and Plymouth Rock. It moved in a westward direction for nearly 300 years through densely forested wilderness and barren plains until the decennial census of 1890 revealed that at last the United States no longer possessed a discernible line of settlement.

MIỀN BIÊN ẢI, MIỀN TÂY VÀ TRẢI NGHIỆM CỦA NƯỚC MỸ

Biên giới - ranh giới giữa lãnh thổ đã có người định cư với vùng đất chưa có người ở - bắt đầu từ Jamestown và Plymouth Rock. Biên giới dịch chuyển về phía Tây suốt chiều dài gần 300 năm, băng qua những vùng đất hoang sơ, rợp bóng rừng và những đồng bằng trống trải cho đến khi cuộc điều tra dân số cứ mười năm một lần tiến hành năm 1890 cho thấy chí ít, Hợp chủng quốc không còn nhận thấy ranh giới phân chia định cư một cách rõ ràng nữa.

At the time it seemed to many that a long period had come to an end -- one in which the country had grown from a few struggling outposts of English civilization to a huge independent nation with an identity of its own. It was easy to believe that the experience of settlement and post-settlement development, constantly repeated as a people conquered a continent, had been the defining factor in the nation's development.

Vào thời đó, đối với nhiều người, một chương lịch sử dài đã khép lại - một chương sử mà ở đó đất nước đã vươn lên từ vài thương điếm nhỏ mang dấu ấn văn minh của người Anh tới vị thế của một quốc gia độc lập có bản sắc riêng. Người ta dễ dàng có thể tin rằng quá trình khai hoang và hậu khai hoang, cứ thế liên tục diễn ra khi người ta đi chinh phục một lục địa mới, chính là nhân tố quyết định tới sự phát triển của quốc gia non trẻ này.

In 1893, the historian Frederick Jackson Turner, expressing a widely held sentiment, declared that the frontier had made the United States more than an extension of Europe. It had created a nation with a culture that was perhaps coarser than Europe's, but also more pragmatic, energetic, individualistic, and democratic. The existence of large areas of "free land" had created a nation of property holders and had provided a "safety valve" for discontent in cities and more settled areas. His analysis implied that an America without a frontier would trend ominously toward what were seen as the European ills of stratified social systems, class conflict, and diminished opportunity.

Năm 1893, nhà sử học Frederick Jackson Turner, khi thể hiện một cảm xúc thường thấy ở nhiều người như ông hồi đó, đã tuyên bố chính miền biên giới đã khiến cho nước Mỹ không phải là một khúc thừa của châu Âu. Miền biên cương đã giúp tạo nên một dân tộc có văn hóa có lẽ thô ráp hơn của châu Âu nhưng giàu thực tế, nhiệt huyết, cá tính và dân chủ hơn. Sự tồn tại của những khu vực đất tự do rộng lớn đã giúp tạo nên một dân tộc có nhiều chủ sở hữu và là van an toàn cho những tâm tư uẩn khúc ở các thành phố và những nơi định cư quá đông. Những phân tích của ông hàm ý một nước Mỹ không có miền biên ải hẳn sẽ rất giống như một châu Âu rệu rã, với những chế độ xã hội bị phân tầng, xung đột giai cấp và hiếm có cơ hội tốt.

After more than a hundred years scholars still debate the significance of the frontier in American history. Few believe it was quite as all-important as Turner suggested; its absence does not appear to have led to dire consequences. Some have gone farther, rejecting the Turner argument as a romantic glorification of a bloody, brutal process -- marked by a war of conquest against Mexico, near-genocidal treatment of Native-American tribes, and environmental despoliation. The common experience of the frontier, they argue, was one of hardship and failure.

Sau hơn một trăm năm, các học giả vẫn còn tranh luận về tầm quan trọng của miền biên ải trong lịch sử Hoa Kỳ. Rất ít người cho rằng miền biên ải giờ đây vẫn còn mang ý nghĩa quan trọng quyết định như Turner đã nêu. Một số người thậm chí còn đi xa hơn bằng cách bác bỏ lập luận của Turner. Họ cho rằng ông đã lãng mạn hóa cả một quá trình lịch sử đẫm máu và nước mắt - với những dấu ấn như cuộc chiến chinh phục Mexico, cách thức đối xử gần như diệt chủng với các bộ lạc da đỏ và tàn phá môi trường. Họ cho rằng những hình ảnh thường thấy ở miền biên giới là chỉ là khổ ải và thất bại.

Yet it remains hard to believe that three centuries of westward movement had no impact on the national character and suggestive that intelligent foreign observers, such as the French intellectual, Alexis de Tocqueville, were fascinated by the American West. Indeed, the last area of frontier settlement, the vast area stretching north from Texas to the Canadian border, which Americans today commonly call "the West," still seems characterized by ideals of individualism, democracy, and opportunity that are more palpable than in the rest of the nation. It is perhaps also revealing that many people in other lands, when hearing the word "American," so often identify it with a symbol of that final frontier -- the "cowboy."

Dẫu vậy, thật khó có thể tin rằng ba thế kỷ dài trong phong trào Tây tiến lại không có tác động nào tới bản sắc dân tộc. Chúng ta hãy nhớ lại, những nhà quan sát đầy tinh tế người nước ngoài như học giả người Pháp Alexis de Tocqueville lại mê mẩn trước miền Tây Hoa Kỳ. Thực vậy, khu vực định cư cuối cùng ở biên giới - một vùng đất rộng thênh thang, trải dài từ Texas lên phía Bắc cho tới tận biên giới Canada mà ngày nay người Mỹ gọi chung là miền Tây - dường như vẫn mang những lý tưởng đặc trưng nhất về chủ nghĩa cá nhân, dân chủ và cơ hội hiện hữu rõ ràng hơn nhiều so với phần còn lại của nước Mỹ. Có lẽ chúng ta cũng có thể phát hiện thấy rằng nhiều người ở nhiều vùng đất khác, khi nghe thấy hai tiếng người Mỹ cũng đều liên tưởng ngay tới biểu tượng của vùng biên giới cuối cùng đó - "cao bồi".

P1    P2      P3    P4        P6    P7    P8    P9    P10    P11    P12    P13    P14    P15

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn