MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Thursday, November 7, 2013

OUTLINE OF AMERICAN HISTORY LƯỢC SỬ NƯỚC MỸ - P4

OUTLINE OF AMERICAN HISTORY
LƯỢC SỬ NƯỚC MỸ - P4



THE FORMATION OF A NATIONAL GOVERNMENT
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG MỘT CHÍNH PHỦ QUỐC GIA



George Washington addressing the Constitutional Convention in Philadelphia, 1787. (Virginia Museum of Fine Arts, Richmond. Gift of Edgar William and Bernice Chrysler Garbisch.)
George Washington đọc diễn từ tại Hội nghị Lập hiến ở Philadelphia năm 1787. (Bảo tàng Mỹ thuật, Virginia, Richmond. quà tặng của Edgar William và Bernice Chrysler Garbisch.)

STATE CONSTITUTIONS

HIẾN PHÁP CỦA CÁC TIỂU BANG

"Every man and every body of men on Earth,
possess the right of self-government."
-- drafter of the Declaration of Independence
Thomas Jefferson, 1790

“Mỗi người dân thường, và tất cả mọi người trên trái đất này, đều có quyền tự trị".
Thomas Jefferson, 1790 -  Người soạn thảo Bản Tuyên ngôn Độc lập

The success of the Revolution gave Americans the opportunity to give legal form to their ideals as expressed in the Declaration of Independence, and to remedy some of their grievances through state constitutions. As early as May 10, 1776, Congress had passed a resolution advising the colonies to form new governments "such as shall best conduce to the happiness and safety of their constituents." Some of them had already done so, and within a year after the Declaration of Independence, all but three had drawn up constitutions.

Thành công của cuộc cách mạng đã đem lại cho người Mỹ cơ hội xây dựng khung pháp lý cho những lý tưởng của họ như đã được trình bày trong bản Tuyên ngôn Độc lập, đồng thời khắc phục mọi nỗi oan Đức thông qua các bản hiến pháp của tiểu bang. Ngày 10/5/1776, Đại hội Lục địa đã thông qua một nghị quyết kêu gọi các thuộc địa thành lập các chính phủ mới đảm bảo tốt nhất việc mưu cầu hạnh phúc và an toàn cho tất cả mọi cử tri. Một số chính phủ đã làm được như vậy, và trong vòng một năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập ra đời, tất cả ngoại trừ ba tiểu bang, đã soạn thảo xong hiến pháp.



The new constitutions showed the impact of democratic ideas. None made any drastic break with the past, since all were built on the solid foundation of colonial experience and English practice. But each was also animated by the spirit of republicanism, an ideal that had long been praised by Enlightenment philosophers.

Các bản hiến pháp mới đã thể hiện ảnh hưởng của các tư tưởng dân chủ. Không có bản hiến pháp nào đoạn tuyệt thô bạo với quá khứ cả vì tất cả các bản hiến pháp đó đều được xây dựng trên một nền tảng vững chắc của những trải nghiệm qua thời kỳ thuộc địa và thực tiễn cuộc sống ở nước Anh. Nhưng mỗi bản hiến pháp đều được thổi thêm luồng sinh khí mới của tinh thần chủ nghĩa cộng hòa - một lý tưởng vốn từ lâu đã được các triết gia thời kỳ Khai sáng ca ngợi.

Naturally, the first objective of the framers of the state constitutions was to secure those "unalienable rights" whose violation had caused the former colonies to repudiate their connection with Britain. Thus, each constitution began with a declaration or bill of rights. Virginia's, which served as a model for all the others, included a declaration of principles: popular sovereignty, rotation in office, freedom of elections, and an enumeration of fundamental liberties: moderate bail and humane punishment, speedy trial by jury, freedom of the press and of conscience, and the right of the majority to reform or alter the government.

Theo lẽ tự nhiên, mục tiêu đầu tiên của những người khởi thảo những bản hiến pháp bang là bảo vệ những quyền tất yếu bởi việc vi phạm những quyền đó là nguyên nhân khiến các thuộc địa cũ đoạt tuyệt với nước Anh. Như vậy, mỗi bản hiến pháp đều bắt đầu bằng một tuyên ngôn về quyền. Bản hiến pháp của bang Virginia vốn được coi là mẫu mực cho tất cả các bang khác bao gồm bản tuyên ngôn về các nguyên tắc như chủ quyền nhân dân, giữ chức luân phiên, tự do bầu cử và xác định những quyền tự do căn bản: bảo lãnh có mức độ và trừng phạt mang tính nhân đạo, xử án nhanh thông qua bồi thẩm đoàn, tự do báo chí và tự do tín ngưỡng, và quyền của đa số được cải cách hay thay đổi chính phủ.


Other states enlarged the list of liberties to freedom of speech, of assembly, and of petition. Their constitutions frequently included such provisions as the right to bear arms, to a writ of habeas corpus, to inviolability of domicile, and to equal protection under the law. Moreover, all prescribed a three-branch structure of government -- executive, legislative, and judiciary -- each checked and balanced by the others.

Các bang khác đã mở rộng danh mục các quyền tự do để bổ sung thêm quyền tự do ngôn luận, hội họp và thỉnh nguyện. Các bản hiến pháp của họ thường có những quy định như quyền được mang vũ khí, quyền bảo hộ nhân thân, quyền bất khả xâm phạm nơi cư trú và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, tất cả các bản hiến pháp đều bày tỏ sự trung thành với mô hình tam quyền phân lập - hành pháp, lập pháp và tư pháp - mỗi cơ quan đều được hai cơ quan còn lại kiểm soát và cân bằng.


Pennsylvania's constitution was the most radical. In that state, Philadelphia artisans, Scots-Irish frontiersmen, and German-speaking farmers had taken control. The provincial congress adopted a constitution that permitted every male taxpayer and his sons to vote, required rotation in office (no one could serve as a representative more than four years out of every seven), and set up a single chamber legislature.

Hiến pháp bang Pennsylvania là cấp tiến nhất. Ở tiểu bang này, các nghệ nhân Philadelphia, tín đồ Tin Lành đến từ Bắc Ai-len sinh sống ở biên giới và các chủ trang trại nói tiếng Đức đã nắm vai trò kiểm soát. Hội đồng lập pháp địa phương thông qua hiến pháp cho phép mọi người đóng thuế là nam giới và các con trai của mình có quyền bầu cử; yêu cầu các chức vụ phải được đảm nhiệm theo chế độ luân phiên (không ai có thể được làm đại diện quá bốn năm trong mỗi nhiệm kỳ bảy năm) và xây dựng cơ quan lập pháp đơn nhất.


The state constitutions had some glaring limitations, particularly by more recent standards. Constitutions established to guarantee people their natural rights did not secure for everyone the most fundamental natural right -- equality. The colonies south of Pennsylvania excluded their slave populations from their inalienable rights as human beings. Women had no political rights. No state went so far as to permit universal male suffrage, and even in those states that permitted all taxpayers to vote (Delaware, North Carolina, and Georgia, in addition to Pennsylvania), office-holders were required to own a certain amount of property.

Các bản hiến pháp bang có một số hạn chế rõ ràng, đặc biệt nếu xét theo tiêu chí hiện nay. Các hiến pháp được khởi thảo để đảm bảo cho mọi người những quyền tự nhiên của họ nhưng lại không bảo vệ được cho tất cả mọi người quyền tự nhiên căn bản nhất - bình đẳng. Các thuộc địa ở phía nam bang Pennsylvania đã tước đi của những người dân nô lệ các quyền tất yếu với tư cách là những con người. Phụ nữ không có các quyền chính trị. Không bang nào đi xa tới mức cho phép quyền phổ thông đầu phiếu cho tất cả nam giới. Thậm chí ngay cả ở những bang cho phép tất cả những người đóng thuế được đi bầu cử (ngoài bang Pennsylvania còn có các bang Delaware, Bắc Carolina và Georgia), thì những người giữ chức vụ trong chính quyền bắt buộc phải có một lượng tài sản nhất định.

ARTICLES OF CONFEDERATION

The struggle with England had done much to change colonial attitudes. Local assemblies had rejected the Albany Plan of Union in 1754, refusing to surrender even the smallest part of their autonomy to any other body, even one they themselves had elected. But in the course of the Revolution, mutual aid had proved effective, and the fear of relinquishing individual authority had lessened to a large degree.

CÁC ĐIỀU KHOẢN CÚA LIÊN BANG

Trận chiến với nước Anh đã làm được nhiều điều khiến thái độ của thuộc địa thay đổi. Các hội đồng lập pháp địa phương đã bác bỏ Kế hoạch Liên minh Albany vào năm 1754, kiên quyết không trao quyền tự trị, dù là nhỏ nhất, cho bất cứ ai khác, kể cả những người mà chính họ đã bầu ra. Nhưng trong suốt quá trình diễn ra cách mạng, sự tương trợ lẫn nhau đã chứng minh có hiệu quả, đồng thời nỗi lo sợ về việc loại bỏ quyền lực cá nhân đã giảm đi rất nhiều.

John Dickinson produced the "Articles of Confederation and Perpetual Union" in 1776. The Continental Congress adopted them in November 1777, and they went into effect in 1781, having been ratified by all the states. Reflecting the fragility of a nascent sense of nationhood, the Articles provided only for a very loose union. The national government lacked the authority to set up tariffs, to regulate commerce, and to levy taxes. It possessed scant control of international relations: A number of states had begun their own negotiations with foreign countries. Nine states had their own armies, several their own navies. In the absence of a sound common currency, the new nation conducted its commerce with a curious hodgepodge of coins and a bewildering variety of state and national paper bills, all fast depreciating in value.

Năm 1776, John Dickinson đã soạn thảo Những điều khoản của Liên bang và Liên minh vĩnh cửu. ại hội Lục địa đã thông qua các điều khoản này vào tháng 11/1777. Ngay sau khi được tất cả các bang phê chuẩn, các điều khoản trên đã có hiệu lực vào năm 1781. Do thể hiện tính chất rất mong manh của tư tưởng lập quốc mới còn chập chững, các điều khoản này đã quy định thành lập một liên minh rất lỏng lẻo. Chính phủ quốc gia không có quyền áp thuế quan, điều tiết thương mại và đánh thuế. Đồng thời, chính quyền liên bang kiểm soát rất ít về quan hệ quốc tế: một số các bang đã bắt đầu đàm phán với nước ngoài. Chín bang đã tổ chức quân đội riêng, và một số đã có hải quân riêng. Do thiếu một đồng tiền chung thống nhất nên trong lĩnh vực thương mại, quốc gia mới phải sử dụng kết hợp đủ loại tiền xu và tiền giấy phức tạp do chính họ và các tiểu bang phát hành. Tuy vậy, tất cả các đồng tiền đều nhanh chóng mất giá.

Economic difficulties after the war prompted calls for change. The end of the war had a severe effect on merchants who supplied the armies of both sides and who had lost the advantages deriving from participation in the British mercantile system. The states gave preference to American goods in their tariff policies, but these were inconsistent, leading to the demand for a stronger central government to implement a uniform policy.

Những khó khăn kinh tế sau chiến tranh đã gióng lên những hồi chuông đòi thay đổi. Cuộc chiến kết thúc đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với các lái buôn trước đây đã tham gia cung cấp cho quân đội ở cả hai phe và giờ đây, họ đã mất đi những lợi thế có được từ việc tham gia vào hệ thống mậu dịch nước Anh. Các tiểu bang ưu tiên cho hàng hóa Mỹ trong các chính sách thuế quan, nhưng các biểu thuế quan lại không nhất quán. Chính điều đó đã thôi thúc cần phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn để thực thi một chính sách thống nhất.

Farmers probably suffered the most from economic difficulties following the Revolution. The supply of farm produce exceeded demand; unrest centered chiefly among farmer-debtors who wanted strong remedies to avoid foreclosure on their property and imprisonment for debt. Courts were clogged with suits for payment filed by their creditors. All through the summer of 1786, popular conventions and informal gatherings in several states demanded reform in the state administrations.

Có lẽ các chủ trại bị thiệt thòi nhiều nhất do những khó khăn kinh tế sau cuộc cách mạng. Nguồn cung cấp nông sản đã vượt cầu. Tình trạng bất ổn tập trung chủ yếu ở những chủ trại đang mắc nợ. Họ mong muốn có những biện pháp mạnh để tránh việc tịch thu tài sản hoặc tống giam vì mắc nợ. Các tòa án nhận được quá nhiều đơn kiện đòi nợ. Suốt mùa hè năm 1786, các hội nghị của tòa thị chính và các cuộc họp không chính thức ở một số bang đã yêu cầu cải cách trong các cơ quan hành chính bang.


That autumn, mobs of farmers in Massachusetts under the leadership of a former army captain, Daniel Shays, began forcibly to prevent the county courts from sitting and passing further judgments for debt, pending the next state election. In January 1787 a ragtag army of 1,200 farmers moved toward the federal arsenal at Springfield. The rebels, armed chiefly with staves and pitchforks, were repulsed by a small state militia force; General Benjamin Lincoln then arrived with reinforcements from Boston and routed the remaining Shaysites, whose leader escaped to Vermont. The government captured 14 rebels and sentenced them to death, but ultimately pardoned some and let the others off with short prison terms. After the defeat of the rebellion, a newly elected legislature, whose majority sympathized with the rebels, met some of their demands for debt relief.

Mùa thu năm đó, những đám đông lộn xộn gồm các chủ trại ở bang Massachusetts dưới sự lãnh đạo của cựu đại úy Daniel Shays đã bắt đầu dùng vũ lực ngăn cản không cho các tòa án giải quyết các vụ kiện về nợ do chủ nợ khởi xướng, đồng thời trì hoãn cuộc bầu cử ở tiểu bang sắp đến. Tháng 1/1787, một đội quân rách rưới gồm 1.200 chủ trại đã tiến về kho vũ khí của Liên bang ở Springfield. Quân nổi dậy được trang bị bằng phần lớn các thanh gỗ đóng thùng rượu và cây xỉa rơm đã bị một lực lượng nhỏ dân quân bang đẩy lui. Tướng Benjamin Lincoln sau đó đã đến cùng lực lượng tăng viện từ Boston và đánh tan tác những người còn lại đi theo Shays, chính ông cựu đại úy này đã chạy thoát về Vermont. Chính phủ đã bắt 14 người nổi loạn và xử tử hình, nhưng cuối cùng đã tha bổng cho một số và thả những người khác sau một thời hạn tù ngắn ngủi. Sau khi đánh bại quân nổi loạn, một cơ quan lập pháp mới được bầu mà phần lớn số người ủng hộ những người nổi loạn và đã chấp nhận một số yêu cầu giảm nhẹ nợ cho họ.

THE PROBLEM OF EXPANSION

With the end of the Revolution, the United States again had to face the old unsolved Western question, the problem of expansion, with its complications of land, fur trade, Indians, settlement, and local government. Lured by the richest land yet found in the country, pioneers poured over the Appalachian Mountains and beyond. By 1775 the far-flung outposts scattered along the waterways had tens of thousands of settlers. Separated by mountain ranges and hundreds of kilometers from the centers of political authority in the East, the inhabitants established their own governments. Settlers from all the Tidewater states pressed on into the fertile river valleys, hardwood forests, and rolling prairies of the interior. By 1790 the population of the trans-Appalachian region numbered well over 120,000.

VẤN ĐỀ MỞ RỘNG LÃNH THỔ

Cùng với sự kết thúc của cuộc cách mạng, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ lại phải đối mặt với vấn đề miền Tây vẫn chưa được giải quyết - vấn đề mở rộng lãnh thổ với những mặt phức tạp về đất đai, buôn bán lông thú, người da đỏ, khu định cư và chính quyền địa phương. Bị quyến rũ bởi đất đai vô cùng màu mỡ mới được phát hiện, những người tiên phong đã vượt qua dãy núi Appalachian và tiến tới xa hơn nữa. Cho đến năm 1775, những triền đồi xa xôi nằm rải rác dọc theo những tuyến đường sông có đến hàng chục nghìn người định cư. Bị chia cách bởi những dãy núi và hàng trăm cây số xa những trung tâm quyền lực chính trị ở miền Đông, cư dân ở đó đã thành lập các chính quyền của riêng mình. Cư dân từ tất cả các bang vùng Tidewater đã dồn về các thung lũng sông màu mỡ có những thảo nguyên bao la nằm sâu trong lục địa. Tới năm 1790, dân số của vùng Appalachian đã lên tới hơn 120.000 người

Before the war, several colonies had laid extensive and often overlapping claims to land beyond the Appalachians. To those without such claims this rich territorial prize seemed unfairly apportioned. Maryland, speaking for the latter group, introduced a resolution that the western lands be considered common property to be parceled by the Congress into free and independent governments. This idea was not received enthusiastically. Nonetheless, in 1780 New York led the way by ceding its claims. In 1784 Virginia, which held the grandest claims, relinquished all land north of the Ohio River. Other states ceded their claims, and it became apparent that Congress would come into possession of all the lands north of the Ohio River and west of the Allegheny Mountains. This common possession of millions of hectares was the most tangible evidence yet of nationality and unity, and gave a certain substance to the idea of national sovereignty. At the same time, these vast territories were a problem that required solution.


Trước chiến tranh, một số thuộc địa đã đưa ra những tuyên bố khẳng định phần đất sở hữu của họ thật lớn và nhiều khi chồng chéo vượt khỏi dãy Appalachian. Đối với những người không có những yêu sách như thế thì chiến lợi phẩm về lãnh thổ giàu có này dường như được chia phần không công bằng. Đứng về phía những người đó, bang Maryland đã đưa ra một quyết nghị khẳng định các vùng đất miền Tây phải được coi là tài sản chung do Đại hội Lục địa phân chia thành những chính quyền tự do và độc lập. ý tưởng này không được đón nhận một cách hồ hởi. Tuy vậy, vào năm 1780 bang New York đã tiên phong bằng cách nhường lại tất cả phần đất mà họ khẳng định thuộc quyền sở hữu. Năm 1784 bang Virginia vốn nắm giữ những quyền sở hữu lớn nhất đã từ bỏ toàn bộ đất đai ở phía bắc sông Ohio. Các bang khác cũng đã nhượng lại những vùng đất họ khẳng định thuộc quyền sở hữu. Đại hội có thể sẽ thừa hưởng quyền sở hữu tất cả mọi đất đai ở phía bắc sông Ohio và phía Tây dãy núi Allegheny. Việc sở hữu chung hàng triệu héc - ta đất chung như vậy là một bằng chứng hiển nhiên nhất về tính chất quốc gia và tính thống nhất, và điều đó đã đem lại nội dung nhất định cho tư tưởng thống nhất và hợp nhất thành quốc gia, đồng thời những phần lãnh thổ rộng lớn này cũng là một khó khăn đòi hỏi phải được giải quyết.

The Confederation Congress established a system of limited self-government for this new national Northwest Territory. The Northwest Ordinance of 1787 provided for its organization, initially as a single district, ruled by a governor and judges appointed by the Congress. When this territory had 5,000 free male inhabitants of voting age, it was to be entitled to a legislature of two chambers, itself electing the lower house. In addition, it could at that time send a nonvoting delegate to Congress. Three to five states would be formed as the territory was settled. Whenever any one of them had 60,000 free inhabitants, it was to be admitted to the Union "on an equal footing with the original states in all respects." The ordinance guaranteed civil rights and liberties, encouraged education, and prohibited slavery or other forms of involuntary servitude.

Đại hội Liên bang đã xây dựng một hệ thống tự trị hạn chế cho vùng lãnh thổ Tây Bắc mới đó. Sắc lệnh Tây Bắc năm 1787 đã quy định về bộ máy tổ chức mới này. Lúc đầu, đây được coi là một quận với người đứng đầu là thống sứ cùng các thẩm phán do Đại hội bổ nhiệm. Khi lãnh thổ này có đến 5.000 cư dân nam giới tự do nằm trong độ tuổi bầu cử thì sẽ được có quyền lập Quốc hội lưỡng viện, và chính khu vực này sẽ tự bầu ra Hạ viện. Ngoài ra, khu vực này còn được cử một đại biểu không có quyền bỏ phiếu tới Đại hội. Cứ khi nào một trong số các bang có tới 60.000 cư dân tự do thì sẽ được gia nhập Liên bang có vị thế bình đẳng với các bang sáng lập trên mọi phương diện. Sắc lệnh cũng đảm bảo các quyền dân sự và các quyền tự do, khuyến khích giáo dục và nghiêm cấm chế độ nô lệ hay các thức nô lệ cưỡng bức khác.

The new policy repudiated the time-honored concept that colonies existed for the benefit of the mother country, were politically subordinate, and peopled by social inferiors. Instead, it established the principle that colonies ("territories") were an extension of the nation and entitled, not as a privilege but as a right, to all the benefits of equality.


Chính sách mới đã bác bỏ quan niệm vốn có từ lâu đời cho rằng các thuộc địa tồn tại vì lợi ích của mẫu quốc và lệ thuộc về chính trị, có địa vị thấp kém về xã hội. Trái lại, chính sách mới đề ra nguyên tắc các thuộc địa (lãnh thổ) là phần mở rộng của quốc gia và được phép - không phải là đặc quyền và chỉ là quyền - được hưởng tất cả mọi lợi ích của bình đẳng.

CONSTITUTIONAL CONVENTION

HỘI NGHỊ LẬP HIẾN



James Madison, fourth president of the United States, is often regarded as the "Father of the Constitution." His essays in the debate over ratification of the Constitution were collected with those of Alexander Hamilton and John Jay as The Federalist Papers. Today, they are regarded as a classic defense of republican government, in which the executive, legislative, and judicial branches check and balance each other to protect the rights and freedoms of the people.
(The American History Slide Collection,© Instructional Resources Corporation (IRC))

James Madison, tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, thường được coi là "cha đẻ của Hiến pháp."Bài viết của ông trong cuộc tranh luận về phê chuẩn Hiến pháp đã được thu thập với tiểu luận của Alexander Hamilton và John Jay thành Luận thuyết liên bang. Ngày nay, họ được coi là những người bênh vực kinh điển cho thể chế cộng hòa, trong đó các ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp kiểm tra và cân bằng lẫn nhau để bảo vệ các quyền và tự do của người dân.
(Bộ sưu tập các hình chiếu Lịch sử Mỹ, © Instructional Resources Corporation (IRC))
By the time the Northwest Ordinance was enacted, American leaders were in the midst of drafting a new and stronger constitution to replace the Articles of Confederation. Their presiding officer, George Washington, had written accurately that the states were united only by a "rope of sand." Disputes between Maryland and Virginia over navigation on the Potomac River led to a conference of representatives of five states at Annapolis, Maryland, in 1786. One of the delegates, Alexander Hamilton of New York, convinced his colleagues that commerce was bound up with large political and economic questions. What was required was a fundamental rethinking of the Confederation.

Đến thời điểm Sắc lệnh Tây Bắc được ban hành, các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn đang trong quá trình soạn thảo bản hiến pháp mới, mạnh mẽ hơn để thay thế cho các điều khoản Liên bang. George Washington, tổng công trình sư trong quá trình đó, đã mô tả rất chính xác rằng các tiểu bang hợp lại với nhau chỉ bằng sợi dây cát. Những tranh chấp giữa bang Maryland và bang Virginia về tuyến đường thủy trên sông Potomac đã dẫn tới việc tổ chức hội nghị đại biểu của năm tiểu bang tại Annapolis, bang Maryland năm 1786. Một trong số các đại biểu là Alexander Hamilton đã thuyết phục các đồng nghiệp của ông rằng thương mại có quan hệ mật thiết với các vấn đề kinh tế và chính trị. Do vậy, điều cần làm là phải có một tư duy mới căn bản về Liên bang.

The Annapolis conference issued a call for all the states to appoint representatives to a convention to be held the following spring in Philadelphia. The Continental Congress was at first indignant over this bold step, but it acquiesced after Washington gave the project his backing and was elected a delegate. During the next fall and winter, elections were held in all states but Rhode Island.

Hội nghị Annapolis đã ra lời kêu gọi tất cả các tiểu bang cử đại diện tới dự Đại hội sẽ được tổ chức vào mùa xuân năm sau tại Philadelphia. ại hội Lục địa lúc đầu phẫn nộ trước bước đi táo bạo này, nhưng sau đó đã chấp thuận khi George Washington ủng hộ phương án này và được cử làm đại biểu. Trong suốt mùa thu và mùa đông năm sau, các cuộc bầu cử đã được tổ chức ở tất cả các bang, trừ bang Rhode Island.

A remarkable gathering of notables assembled at the Federal Convention in May 1787. The state legislatures sent leaders with experience in colonial and state governments, in Congress, on the bench, and in the army. Washington, regarded as the country's first citizen because of his integrity and his military leadership during the Revolution, was chosen as presiding officer.

Tháng 5/1787 đã diễn ra một cuộc họp quan trọng của những người xuất chúng tại Đại hội Liên bang. Các cơ quan lập pháp bang đã cử các nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm từ chính quyền thuộc địa và bang, Đại hội Lục địa, quân đội và tôn giáo. George Washington vốn được coi là công dân xuất sắc của đất nước vì tính liêm chính và tài thao lược của ông trong thời cách mạng đã được chọn làm chủ tịch.

Prominent among the more active members were two Pennsylvanians: Gouverneur Morris, who clearly saw the need for national government, and James Wilson, who labored indefatigably for the national idea. Also elected by Pennsylvania was Benjamin Franklin, nearing the end of an extraordinary career of public service and scientific achievement. From Virginia came James Madison, a practical young statesman, a thorough student of politics and history, and, according to a colleague, "from a spirit of industry and application ... the best informed man on any point in debate." He would be recognized as the "Father of the Constitution."

Trong số các thành viên tích cực nhất có hai người đến từ bang Pennsylvania: Gouverneur Morris - người đã thấy cần phải có một chính quyền liên bang, và James Wilson - người đã lao động không mệt mỏi vì tư tưởng quốc gia. Bang Pennsylvania cũng đã bầu Benjamin Franklin khi ông sắp kết thúc sự nghiệp phi thường phụng sự nhân dân và đạt những thành tựu khoa học rực rỡ. Từ bang Virginia còn có James Madison, một chính khách trẻ tuổi có suy nghĩ thực tế, một người am tường chính trị và lịch sử. Theo lời của một người đồng sự thì xét từ góc độ siêng năng và đầu óc thực tế thì... đây là một người am hiểu tường tận nhất về bất kỳ một điểm tranh luận nào. Madison được công nhận là cha đẻ của Hiến pháp.

Massachusetts sent Rufus King and Elbridge Gerry, young men of ability and experience. Roger Sherman, shoemaker turned judge, was one of the representatives from Connecticut. From New York came Alexander Hamilton, who had proposed the meeting. Absent from the Convention were Thomas Jefferson, who was serving as minister representing the United States in France, and John Adams, serving in the same capacity in Great Britain. Youth predominated among the 55 delegates -- the average age was 42.


Bang Masachusetts cử hai đại diện tới là Rufus King và Elbridge Gerry, những thanh niên đầy năng lực và kinh nghiệm. Roger Sherman, từ anh thợ đóng giày trở thành thẩm phán, là một trong số các đại biểu của bang Connecticut. Đại diện cho bang New York có Alexander Hamilton, người đã đề xuất tổ chức hội nghị. Vắng mặt tại hội nghị có Thomas Jefferson - khi đó ông là công sứ đại diện cho Hoa Kỳ tại Pháp, và John Adams - đang nắm giữ chức vụ như Jefferson ở nước Anh. Trong số 55 đại biểu thì thanh niên chiếm đa số với độ tuổi trung bình là 42.

Congress had authorized the Convention merely to draft amendments to the Articles of Confederation but, as Madison later wrote, the delegates, "with a manly confidence in their country," simply threw the Articles aside and went ahead with the building of a wholly new form of government.

Đại hội Lục địa đã ủy quyền cho Hội nghị thảo các điều sửa đổi những Điều khoản Liên bang, nhưng, như Madison đã viết sau này, các đại biểu với niềm tin mạnh mẽ vào đất nước của họ đã gác các điều khoản sang một bên và tập trung xây dựng một hình thức chính quyền hoàn toàn mới.

They recognized that the paramount need was to reconcile two different powers -- the power of local control, which was already being exercised by the 13 semi-independent states, and the power of a central government. They adopted the principle that the functions and powers of the national government -- being new, general, and inclusive -- had to be carefully defined and stated, while all other functions and powers were to be understood as belonging to the states. But realizing that the central government had to have real power, the delegates also generally accepted the fact that the government should be authorized, among other things, to coin money, to regulate commerce, to declare war, and to make peace.

Họ đã nhận thấy điều vô cùng cần thiết là hài hòa hai cấp chính quyền khác nhau - chính quyền địa phương hiện có của 13 bang bán độc lập, và chính quyền trung ương. Họ đã thông qua nguyên tắc khẳng định tất cả mọi chức năng và quyền lực của chính phủ thống nhất - hoàn toàn mới và mang tính cởi mở - phải được xác định và công khai cẩn thận trong khi tất cả những chức năng và các quyền lực khác cần phải được hiểu là thuộc về các bang. Nhưng do hiểu rõ chính phủ trung ương cần phải có quyền lực thực tế nên các đại biểu cũng nhất trí là chính phủ đó phải được trao quyền - đúc tiền, quản lý thương mại, tuyên bố chiến tranh và thiết lập hòa bình cùng những quyền khác.

DEBATE AND COMPROMISE

TRANH LUẬN VÀ THỎA HIỆP



Alexander Hamilton, secretary of the treasury in the administration of President George Washington. Hamilton advocated a strong federal government and the encouragement of industry. He was opposed by Thomas Jefferson, a believer in decentralized government, states' rights, and the virtues of the independent farmers and land owners.
(National Portrait Gallery, Smithsonian Institution)


Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ của Tổng thống George Washington. Hamilton ủng hộ một chính phủ liên bang mạnh và khuyến khích các ngành công nghiệp. Ông bị phản đối bởi Thomas Jefferson, một người tin vào chính phủ phân cấp, quyền của các tiểu bang, và đức hạnh của những người nông dân độc lập và chủ sở hữu đất đai.
(National Portrait Gallery, Viện Smithsonian)
The 18th-century statesmen who met in Philadelphia were adherents of Montesquieu's concept of the balance of power in politics. This principle was supported by colonial experience and strengthened by the writings of John Locke, with which most of the delegates were familiar. These influences led to the conviction that three equal and coordinate branches of government should be established. Legislative, executive, and judicial powers were to be so harmoniously balanced that no one could ever gain control. The delegates agreed that the legislative branch, like the colonial legislatures and the British Parliament, should consist of two houses.

Các chính khách nhìn xa trông rộng của thế kỷ XVIII từng nhóm họp ở Philadelphia là những người trung thành với khái niệm cân bằng quyền lực trong chính trị của Montesquieu. Nguyên tắc này đã được củng cố thêm nhờ thực tiễn diễn ra ở thời kỳ thuộc địa và qua những tác phẩm của John Locke đã trở nên quen thuộc đối với hầu hết các đại biểu dự hội nghị. Những ảnh hưởng như vậy đã củng cố niềm tin vững chắc rằng cần phải thiết lập ba nhánh chính quyền ngang bằng và tương hỗ lẫn nhau. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được cân bằng một cách hài hòa sao cho không một cơ quan nào lại có thể giành được thế áp đảo. Các đại biểu cũng nhất trí cơ quan lập pháp, tương tự như các cơ quan lập pháp thuộc địa và Nghị viện Anh, phải là lưỡng viện.

On these points there was unanimity within the assembly. But sharp differences also arose. Representatives of the small states -- New Jersey, for instance -- objected to changes that would reduce their influence in the national government by basing representation upon population rather than upon statehood, as was the case under the Articles of Confederation.

Trong hội nghị đã có sự nhất trí cao về những điểm này. Nhưng cũng có những ý kiến khác nhau nảy sinh. Các đại biểu của các bang nhỏ, như New Jersey chẳng hạn, đã phản đối những điều thay đổi có thể sẽ làm giảm ảnh hưởng của họ trong chính phủ trung ương nếu dựa theo quy mô dân số chứ không dựa vào vị thế bình đẳng của tiểu bang như đã được quy định trong các điều khoản của Liên bang.

On the other hand, representatives of large states, like Virginia, argued for proportionate representation. This debate threatened to go on endlessly until Roger Sherman came forward with arguments for representation in proportion to the population of the states in one house of Congress, the House of Representatives, and equal representation in the other, the Senate.

Mặt khác, đại diện của những bang lớn như Virginia lại lập luận ủng hộ cho quyền đại diện theo tỷ lệ. Các cuộc tranh cãi này có nguy cơ kéo dài bất tận cho đến khi Roger Sherman đưa ra các luận cứ ủng hộ quyền đại diện theo tỷ lệ dân số của các bang trong một viện của Quốc hội - Hạ viện - và quyền đại diện bằng nhau ở viện kia - Thượng viện.

The alignment of large against small states then dissolved. But almost every succeeding question raised new divisions, to be resolved only by new compromises. Northerners wanted slaves counted when determining each state's tax share, but not in determining the number of seats a state would have in the House of Representatives. According to a compromise reached with little dissent, tax levies and House membership would be apportioned according to the number of free inhabitants plus three-fifths of the slaves.

Việc tập hợp những bang lớn áp đảo bang nhỏ sau đó đã tan rã. Nhưng hầu như bất kỳ vấn đề kế tiếp nào cũng đều làm nảy sinh những chia rẽ mới, chỉ có thể được giải quyết thông qua thỏa hiệp. Đại diện miền Bắc muốn số nô lệ được thống kê để tính mức thuế đóng góp của mỗi bang, nhưng con số này không quyết định số ghế một tiểu bang sẽ có trong Hạ viện. Theo một thỏa hiệp đạt được mà hầu như không có bất đồng quan điểm thì số thành viên trong Hạ nghị viện sẽ được phân chia theo số dân tự do cộng với ba phần năm số nô lệ.

Certain members, such as Sherman and Elbridge Gerry, still smarting from Shays's Rebellion, feared that the mass of people lacked sufficient wisdom to govern themselves and thus wished no branch of the federal government to be elected directly by the people. Others thought the national government should be given as broad a popular base as possible. Some delegates wished to exclude the growing West from the opportunity of statehood; others championed the equality principle established in the Northwest Ordinance of 1787.

Một số thành viên như Sherman và Elbridge Gerry vẫn còn khốn khổ vì cuộc nổi loạn của Shays. Họ lo sợ quảng đại quần chúng thiếu sự khôn ngoan cần thiết để tự trị, vì vậy họ không muốn bất cứ nhánh nào trong chính quyền liên bang được nhân dân bầu trực tiếp. Những người khác lại cho rằng chính quyền liên bang cần phải dựa vào quần chúng càng rộng rãi càng tốt. Một số đại biểu mong muốn loại trừ vùng miền Tây đang ngày càng lớn mạnh không được trở thành tiểu bang; những vị khác thì bảo vệ nguyên tắc bình đẳng được xác lập trong Sắc lệnh Tây Bắc năm 1787.

There was no serious difference on such national economic questions as paper money, laws concerning contract obligations, or the role of women, who were excluded from politics. But there was a need for balancing sectional economic interests; for settling arguments as to the powers, term, and selection of the chief executive; and for solving problems involving the tenure of judges and the kind of courts to be established.

Không có sự khác biệt nghiêm trọng về những vấn đề kinh tế quốc gia như tiền giấy, các đạo luật liên quan tới những nghĩa vụ hợp đồng, hoặc vai trò của phụ nữ vốn bị loại trừ ra ngoài chính trị. Nhưng đã xuất hiện nhu cầu cân bằng những lợi ích kinh tế của các tầng lớp; giải quyết những cuộc tranh luận về quyền hạn, nhiệm kỳ và lựa chọn người đứng đầu cơ quan hành pháp; và giải quyết những vấn đề liên quan tới nhiệm kỳ của thẩm phán và các loại hình tòa án cần được thành lập.


Laboring through a hot Philadelphia summer, the convention finally achieved a draft incorporating in a brief document the organization of the most complex government yet devised -- one that would be supreme within a clearly defined and limited sphere. It would have full power to levy taxes, borrow money, establish uniform duties and excise taxes, coin money, regulate interstate commerce, fix weights and measures, grant patents and copyrights, set up post offices, and build post roads. It also was authorized to raise and maintain an army and navy, manage Native-American affairs, conduct foreign policy, and wage war. It could pass laws for naturalizing foreigners and controlling public lands; it could admit new states on a basis of absolute equality with the old. The power to pass all necessary and proper laws for executing these clearly defined powers rendered the federal government able to meet the needs of later generations and of a greatly expanded body politic.

Làm việc suốt trong mùa hè nóng bức ở Philadelphia, cuối cùng Hội nghị đã đạt được dự thảo trình bày ngắn gọn việc tổ chức một chính phủ tinh vi nhất từ trước tới nay - một chính phủ có quyền tuyệt đối trong phạm vi đã được xác định và hạn chế rõ ràng. Chính phủ liên bang có toàn quyền đánh thuế, vay tiền, lập các sắc thuế thống nhất và thuế gián thu, đúc tiền, xác định các đơn vị trọng lượng và đo lường, cấp bằng sáng chế phát minh và chứng nhận bản quyền, thiết lập các bưu điện và xây dựng các đường bưu điện. Chính phủ liên bang cũng có quyền tuyển mộ và duy trì quân đội và hải quân, quản lý các công việc liên quan tới người da đỏ, thực hiện chính sách đối ngoại và tiến hành chiến tranh. Chính phủ liên bang sẽ thông qua các đạo luật nhập tịch cho người nước ngoài và quản lý đất công, và cho phép các tiểu bang mới gia nhập trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối với các tiểu bang cũ. Quyền thông qua toàn bộ đạo luật thích hợp và cần thiết để thực thi những quyền lực đã được xác định rõ ràng được trao cho Chính phủ Liên bang để có thể đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của các thế hệ mai sau và của một chính thể đã được mở rộng đáng kể.

The principle of separation of powers had already been given a fair trial in most state constitutions and had proved sound. Accordingly, the convention set up a governmental system with separate legislative, executive, and judiciary branches -- each checked by the others. Thus congressional enactments were not to become law until approved by the president. And the president was to submit the most important of his appointments and all his treaties to the Senate for confirmation. The president, in turn, could be impeached and removed by Congress. The judiciary was to hear all cases arising under federal laws and the Constitution; in effect, the courts were empowered to interpret both the fundamental and the statute law. But members of the judiciary, appointed by the president and confirmed by the Senate, could also be impeached by Congress.


Nguyên tắc tam quyền phân lập đã được thí điểm ở hầu hết hiến pháp của các tiểu bang và đã chứng tỏ có hiệu quả. Vì lẽ đó, Hội nghị đã lập ra hệ thống chính quyền với ba nhánh riêng biệt - lập pháp, hành pháp và tư pháp - mỗi nhánh đều được hai nhánh còn lại kiểm soát. Chính vì vậy các dự luật của Quốc hội sẽ không trở thành luật cho đến khi được tổng thống phê chuẩn. Tổng thống cũng phải trình tất cả những đề cử vào vị trí quan trọng và tất cả những hiệp ước do ông ký kết để Thượng viện thông qua. Đến lượt mình, tổng thống có thể bị buộc tội hay bãi chức theo quyết định của Quốc hội. Cơ quan tư pháp phải xét xử tất cả mọi trường hợp nảy sinh theo quy định của luật pháp và Hiến pháp liên bang. Trên thực tế các tòa án được trao quyền diễn giải cả luật cơ sở và luật thành văn. Nhưng các thành viên của cơ quan tư pháp do tổng thống đề cử và được Thượng viện công nhận cũng có thể bị Quốc hội phế truất.

To protect the Constitution from hasty alteration, Article V stipulated that amendments to the Constitution be proposed either by two-thirds of both houses of Congress or by two-thirds of the states, meeting in convention. The proposals were to be ratified by one of two methods: either by the legislatures of three-fourths of the states, or by convention in three-fourths of the states, with the Congress proposing the method to be used.

Để bảo vệ cho hiến pháp tránh bị thay đổi vội vã, điều V đã quy định những Điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp phải được đề nghị hoặc bởi hai phần ba ở cả hai viện của Quốc hội, hoặc bởi hai phần ba số bang tham dự hội nghị. Các đề xuất phải được phê chuẩn bởi một trong hai phương pháp: hoặc do các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang hoặc do hội nghị ở ba phần tư các bang và Quốc hội đề nghị cách thức được áp dụng.

Finally, the convention faced the most important problem of all: How should the powers given to the new government be enforced? Under the Articles of Confederation, the national government had possessed -- on paper -- significant powers, which, in practice, had come to naught, for the states paid no attention to them. What was to save the new government from the same fate?


Cuối cùng hội nghị đã phải đứng trước một vấn đề quan trọng nhất: các quyền lực được trao cho chính phủ mới phải được thi hành như thế nào? Theo các điều khoản liên bang trước đây, trên lý thuyết, chính quyền liên bang đã nắm những quyền lực quan trọng, song trên thực tế những quyền lực này đã vô giá trị vì các bang không hề quan tâm đến những quyền lực ấy. Vậy phải làm gì để cứu vãn chính phủ mới tránh khỏi số phận như thế?

At the outset, most delegates furnished a single answer -- the use of force. But it was quickly seen that the application of force upon the states would destroy the Union. The decision was that the government should not act upon the states but upon the people within the states, and should legislate for and upon all the individual residents of the country. As the keystone of the Constitution, the convention adopted two brief but highly significant statements:

Ngay từ lúc đầu, hầu hết các đại biểu đã nhất trí với câu trả lời duy nhất - sử dụng vũ lực. Nhưng họ đã mau chóng nhận thấy rằng việc sử dụng vũ lực đối với các bang sẽ phá hoại liên minh. Người ta đã quyết định chính phủ không chỉ đạo các bang mà chỉ định hướng cho dân chúng ở các bang, và nên ban hành luật để quản lý toàn bộ các công dân của đất nước. Hội nghị đã thông qua hai lời tuyên bố ngắn gọn nhưng rất quan trọng và là vấn đề chủ đạo của Hiến pháp:

Congress shall have power ... to make all Laws which shall be necessary and proper for carrying into Execution the ... Powers vested by this Constitution in the Government of the United States. ... (Article I, Section 7)

Quốc hội có quyền... ban hành tất cả các đạo luật cần thiết và thích hợp để thực thi... Quyền lực quy định trong Hiến pháp này được trao cho Chính phủ của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Điều I, Khoản 7).

This Constitution, and the Laws of the United States which shall be made in Pursuance thereof; and all Treaties made, or which shall be made, under the Authority of the United States, shall be the supreme Law of the Land; and the Judges in every State shall be bound thereby, any Thing in the Constitution or Laws of any State to the Contrary notwithstanding. (Article VI)

Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi Điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang đều không có giá trị. (Điều VI)

Thus the laws of the United States became enforceable in its own national courts, through its own judges and marshals, as well as in the state courts through the state judges and state law officers.

Do đó các bộ luật của Hợp chúng quốc có khả năng thực thi tại các tòa án quốc gia thông qua các thẩm phán và cảnh sát trưởng, cũng như trong các tòa án bang thông qua các thẩm phán bang và các quan chức thực thi luật pháp bang.

Debate continues to this day about the motives of those who wrote the Constitution. In 1913 historian Charles Beard, in An Economic Interpretation of the Constitution, argued that the Founding Fathers represented emerging commercial-capitalist interests that needed a strong national government. He also believed many may have been motivated by personal holdings of large amounts of depreciated government securities. However, James Madison, principal drafter of the Constitution, held no bonds and was a Virginia planter. Conversely, some opponents of the Constitution owned large amounts of bonds and securities. Economic interests influenced the course of the debate, but so did state, sectional, and ideological interests. Equally important was the idealism of the framers. Products of the Enlightenment, the Founding Fathers designed a government that they believed would promote individual liberty and public virtue. The ideals embodied in the U.S. Constitution remain an essential element of the American national identity.

Cuộc tranh luận còn tiếp tục cho tới tận ngày nay về những động cơ thôi thúc những người viết Hiến pháp. Năm 1913, nhà sử học Charles Beard, trong cuốn Giải thích Hiến pháp từ góc độ kinh tế, đã lập luận rằng những người cha lập quốc đại diện cho lợi ích của tầng lớp tư bản thương mại đang ngày càng lớn mạnh và đòi hỏi cần phải có một chính phủ trung ương hùng mạnh. Ông cho rằng rất nhiều người trong số họ có thể đã được thôi thúc bởi họ nắm giữ quá nhiều trái phiếu đã bị mất giá của chính phủ. Tuy nhiên, chính James Madison, người soạn thảo chính của hiến pháp lại không có trái phiếu và chỉ là một chủ đồn điền ở bang Virginia. Trái lại, những người phản đối Hiến pháp lại sở hữu một lượng lớn chứng khoán và trái phiếu. Như vậy, không chỉ có lợi ích kinh tế đã ảnh hưởng đến diễn tiến của cuộc tranh luận mà cả những lợi ích của các tiểu bang, tầng lớp dân cư và ý thức hệ cũng đã chi phối. Nhân tố không kém phần quan trọng chính là chủ nghĩa lý tưởng hằn sâu trong những người thảo hiến pháp. Là sản phẩm của phong trào Khai sáng, những người cha lập quốc đã xây dựng một chính quyền mà họ tin rằng sẽ thúc đẩy tự do cá nhân và bản tính thiện của con người. Những lý tưởng thể hiện trong bản Hiến pháp Mỹ là một thành tố quan trọng tạo nên bản sắc dân tộc Mỹ.

RATIFICATION AND THE BILL OF RIGHTS

PHÊ CHUẨN VÀ TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN



The historic room in Independence Hall, Philadelphia, where delegates drafted the Constitution of the United States in the summer of 1787. The Constitution is the supreme law of the land. It prescribes the form and authority of the federal government, and ensures the fundamental freedoms and rights of the citizens of the country through the Bill of Rights.
(© Robert Llewellyn)

Phòng lịch sử trong Hội trường Độc lập, Philadelphia, nơi các đại biểu khởi thảo Hiến pháp của Hoa Kỳ trong mùa hè năm 1787. Hiến pháp là luật tối cao của đất nước này. Nó quy định về hình thức và thẩm quyền của chính phủ liên bang, và đảm bảo các quyền tự do cơ bản và quyền lợi của các công dân của đất nước thông qua Luật Nhân quyền.
(© Robert Llewellyn)
On September 17, 1787, after 16 weeks of deliberation, the finished Constitution was signed by 39 of the 42 delegates present. Franklin, pointing to the half-sun painted in brilliant gold on the back of Washington's chair, said:


Ngày 17/9/1787, sau 16 tuần cân nhắc cẩn thận, bản hiến pháp hoàn thiện đã được 39 trong số 42 đại biểu có mặt ký kết. Franklin chỉ vào hình nửa mặt trời vẽ bằng mầu vàng chói ở sau chiếc ghế tựa của Washington và nói:

I have often in the course of the session ... looked at that [chair] behind the president, without being able to tell whether it was rising or setting; but now, at length, I have the happiness to know that it is a rising, and not a setting, sun.

Suốt những ngày diễn ra Hội nghị, tôi đã thường xuyên... nhìn vào chiếc ghế (kia) phía sau lưng tổng thống mà không thể phân định được đó là mặt trời đang mọc hay đang lặn; nhưng giờ đây cuối cùng thì tôi thực sự hạnh phúc biết rằng đó là vầng mặt trời lúc bình minh chứ không phải lúc hoàng hôn.

The convention was over; the members "adjourned to the City Tavern, dined together, and took a cordial leave of each other." Yet a crucial part of the struggle for a more perfect union remained to be faced. The consent of popularly elected state conventions was still required before the document could become effective.

Hội nghị đã kết thúc, các thành viên tản ra quán rượu thành phố, cùng ăn và chia tay nhau thật chân thành, ấm áp. Tuy nhiên, một nội dung quan trọng trong đấu tranh xây dựng một liên minh hoàn hảo hơn vẫn đặt ra phía trước. Vẫn cần phải có sự chấp thuận của các hội đồng lập pháp dân bầu ở các tiểu bang trước khi văn kiện hiến pháp có thể có hiệu lực.

The convention had decided that the Constitution would take effect upon ratification by conventions in nine of the 13 states. By June 1788 the required nine states had ratified the Constitution, but the large states of Virginia and New York had not. Most people felt that without their support the Constitution would never be honored. To many, the document seemed full of dangers: Would not the strong central government that it established tyrannize them, oppress them with heavy taxes, and drag them into wars?

Hội nghị đã quyết định rằng hiến pháp sẽ có hiệu lực ngay sau khi hội đồng lập pháp của 9 trong tổng số 13 bang phê chuẩn. Đến tháng 6/1788, đã có chín bang theo yêu cầu phê chuẩn hiến pháp, nhưng các bang lớn như Virginia và New York thì chưa. Hầu hết mọi người đều thấy nếu không có sự ủng hộ của họ thì hiến pháp sẽ không bao giờ được tôn kính. Đối với nhiều người, bản hiến pháp dường như còn ẩn chứa vô số những mối nguy: liệu chính phủ trung ương hùng mạnh đã tạo nên hiến pháp đó có áp bức và hành hạ họ bằng các khoản thuế khóa nặng nề và lôi họ vào cuộc chiến tranh hay không?

Differing views on these questions brought into existence two parties, the Federalists, who favored a strong central government, and the Antifederalists, who preferred a loose association of separate states. Impassioned arguments on both sides were voiced by the press, the legislatures, and the state conventions.

Những quan điểm khác biệt về các vấn đề này đã dẫn tới sự tồn tại của hai phe nhóm - những người ủng hộ chế độ liên bang và một chính quyền trung ương mạnh mẽ, và những người phản đối chế độ liên bang muốn có một liên minh lỏng lẻo của từng bang riêng rẽ. Những lập luận của cả hai phe được chuyển tải qua báo chí, các cơ quan lập pháp và các hội nghị bang.


In Virginia, the Antifederalists attacked the proposed new government by challenging the opening phrase of the Constitution: "We the People of the United States." Without using the individual state names in the Constitution, the delegates argued, the states would not retain their separate rights or powers. Virginia Antifederalists were led by Patrick Henry, who became the chief spokesman for back-country farmers who feared the powers of the new central government. Wavering delegates were persuaded by a proposal that the Virginia convention recommend a bill of rights, and Antifederalists joined with the Federalists to ratify the Constitution on June 25.

Ở Virginia, những người chống chủ nghĩa liên bang đã tấn công chính phủ mới được đề xuất bằng cách phản bác đoạn mở đầu của Hiến pháp: “Chúng tôi, những người dân của Hợp chúng quốc. Bằng việc không sử dụng các tên riêng của các bang trong Hiến pháp, các đại biểu lập luận các bang sẽ không duy trì được quyền hay quyền lực riêng rẽ của mình. Phái chống chủ nghĩa liên bang ở Virginia thì do Patrick Henry lãnh đạo. Ông đã trở thành người phát ngôn chính cho những người nông dân ở vùng sâu, vùng xa vốn rất lo sợ trước những quyền lực của Chính phủ Liên bang mới. Các đại biểu còn do dự đã bị thuyết phục bởi đề nghị của hội nghị bang Virginia đưa ra Tuyên ngôn Nhân quyền, còn phái chống chủ nghĩa liên bang đã liên minh với những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang để phê chuẩn Hiến pháp ngày 25/6.

In New York, Alexander Hamilton, John Jay, and James Madison pushed for the ratification of the Constitution in a series of essays known as The Federalist Papers. The essays, published in New York newspapers, provided a now classic argument for a central federal government, with separate executive, legislative, and judicial branches that checked and balanced one another. With The Federalist Papers influencing the New York delegates, the Constitution was ratified on July 26.

Tại New York, Alexander Hamilton, John Jay và James Madison đã kêu gọi phê chuẩn Hiến pháp qua một loạt các bài luận nổi tiếng mang tựa đề Bút ký của những người ủng hộ liên bang. Những bài luận đăng tải trong các tờ báo ở New York đã trở thành lập luận cổ điển ủng hộ chính quyền liên bang trung ương theo mô hình tam quyền phân lập - hành pháp, lập pháp và tư pháp kiểm soát và cân bằng lẫn nhau. Do những bài Bút ký có ảnh hưởng lớn tới đại biểu New York nên Hiến pháp đã được phê chuẩn ngày 26/7.

Antipathy toward a strong central government was only one concern among those opposed to the Constitution; of equal concern to many was the fear that the Constitution did not protect individual rights and freedoms sufficiently. Virginian George Mason, author of Virginia's Declaration of Rights of 1776, was one of three delegates to the Constitutional Convention who had refused to sign the final document because it did not enumerate individual rights. Together with Patrick Henry, he campaigned vigorously against ratification of the Constitution by Virginia. Indeed, five states, including Massachusetts, ratified the Constitution on the condition that such amendments be added immediately.

Mối ác cảm với một chính quyền trung ương mạnh chỉ là một mối lo lắng duy nhất trong số những mối lo của những người phản đối Hiến pháp; một mối lo ngại tương đương đối với nhiều người là nỗi lo sợ rằng Hiến pháp không bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cá nhân một cách có hiệu quả. George Mason, người Virginia, tác giả bản Tuyên ngôn Nhân quyền của bang Virginia năm 1776, là một trong ba đại biểu tham dự Hội nghị Lập hiến đã từ chối ký văn kiện cuối cùng vì nó không liệt kê ra những quyền cá nhân. Cùng với Patrick Henry, ông đã ra sức chống lại bang Virginia phê chuẩn Hiến pháp. Đương nhiên, năm bang bao gồm cả Massachusetts đã phê chuẩn Hiến pháp với điều kiện rằng những Điều bổ sung sửa đổi hiến pháp cần phải được bổ sung lập tức.

When the first Congress convened in New York City in September 1789, the calls for amendments protecting individual rights were virtually unanimous. Congress quickly adopted 12 such amendments; by December 1791, enough states had ratified 10 amendments to make them part of the Constitution. Collectively, they are known as the Bill of Rights. Among their provisions: freedom of speech, press, religion, and the right to assemble peacefully, protest, and demand changes (First Amendment); protection against unreasonable searches, seizures of property, and arrest (Fourth Amendment); due process of law in all criminal cases (Fifth Amendment); right to a fair and speedy trial (Sixth Amendment); protection against cruel and unusual punishment (Eighth Amendment); and provision that the people retain additional rights not listed in the Constitution (Ninth Amendment).

Khi phiên họp Quốc hội đầu tiên diễn ra ở thành phố New York tháng 9/1789, những lời kêu gọi có các Điều bổ sung sửa đổi để bảo vệ các quyền cá nhân đã thực sự giành được sự nhất trí rất cao. Quốc hội đã nhanh chóng thông qua 12 Điều bổ sung sửa đổi như vậy; đến tháng 12/1791, đã có đủ số bang đã phê chuẩn 10 Điều bổ sung sửa đổi để đưa chúng vào thành một phần của Hiến pháp và gọi chung là Tuyên ngôn Nhân quyền. Trong số các quy định của các Điều bổ sung sửa đổi có: quyền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo và quyền hội họp một cách hòa bình, quyền phản đối và yêu cầu các thay đổi (Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất); Bảo vệ chống lại những cuộc khám xét, tịch thu không hợp lệ tài sản và bắt giam (Điều bổ sung sửa đổi thứ tư); thủ tục tố tụng công bằng ở tất cả các vụ án hình sự (Điều bổ sung sửa đổi thứ năm); Quyền được xử án công bằng và nhanh chóng (Điều bổ sung sửa đổi thứ sáu); Bảo vệ chống lại hình phạt dã man và bất thường (Điều bổ sung sửa đổi thứ tám); và điều khoản cho rằng mọi người được sử dụng những quyền bổ sung mà không được ghi trong Hiến pháp (Điều bổ sung sửa đổi thứ chín).

Since the adoption of the Bill of Rights, only 17 more amendments have been added to the Constitution. Although a number of the subsequent amendments revised the federal government's structure and operations, most followed the precedent established by the Bill of Rights and expanded individual rights and freedoms.

Từ khi thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền chỉ có 16 Điều bổ sung sửa đổi được bổ sung vào Hiến pháp. Tuy một số Điều bổ sung sửa đổi tiếp theo đã điều chỉnh cấu trúc và hoạt động của Chính phủ Liên bang, nhưng phần lớn các điều khoản này vẫn tuân theo những tiền lệ do Tuyên ngôn Nhân quyền đã xác lập và mở rộng các quyền cá nhân và các quyền tự do.

PRESIDENT WASHINGTON

TỔNG THỐNG WASHINGTON



George Washington's beloved home, Mount Vernon, by the Potomac River in Virginia, where he died on December 14, 1799, and is buried along with his wife Martha. Among other treasured items owned by the first president on display there, visitors can see one of the keys to the Bastille, a gift to Washington from the Marquis de Lafayette.
(Cameron Davidson/FOLIO, Inc.)

Ngôi nhà yêu quý của George Washington, Mount Vernon, bên bờ sông Potomac ở Virginia, nơi ông qua đời vào ngày 14 Tháng 12 năm 1799, và được chôn cất cùng với vợ ông Martha. Trong số các hiện vật quý giá khác thuộc sở hữu của tổng thống đầu tiên được trưng bày ở đó, du khách có thể thấy một trong những chìa khóa nhà ngục Bastille, món quà Marquis de Lafayette gởi tặng Washington.
(Cameron Davidson / Folio, Inc)

One of the last acts of the Congress of the Confederation was to arrange for the first presidential election, setting March 4, 1789, as the date that the new government would come into being. One name was on everyone's lips for the new chief of state -- George Washington. He was unanimously chosen president and took the oath of office at his inauguration on April 30, 1789. In words spoken by every president since, Washington pledged to execute the duties of the presidency faithfully and, to the best of his ability, to "preserve, protect, and defend the Constitution of the United States."

Một trong những công việc cuối cùng của Quốc hội liên bang là tổ chức cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên tiến hành, lấy ngày 4/3/1789 là ngày khai sinh chính phủ mới. Một cái tên được tất thảy mọi người nhắc tới cương vị người lãnh đạo quốc gia là George Washington và ông đã được tín nhiệm bầu làm tổng thống và tuyên thệ nhậm chức ngày 30/4/1789. Bằng những lời tuyên thệ mà sau này bất kỳ tổng thống nào cũng sử dụng, Washington đã cam kết thực thi những bổn phận của chức vụ tổng thống một cách trung thành, và cố gắng hết sức mình nhằm bảo toàn, bảo vệ và che chở Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

When Washington took office, the new Constitution enjoyed neither tradition nor the full backing of organized public opinion. The new government had to create its own machinery and legislate a system of taxation that would support it. Until a judiciary could be established, laws could not be enforced. The army was small. The navy had ceased to exist.

Khi Washington nhậm chức tổng thống thì Hiến pháp mới chưa hề quan tâm tới tập quán lẫn ủng hộ hoàn toàn quan điểm của dư luận có định hướng. Chính phủ mới đã phải xây dựng bộ máy riêng và điều tiết một hệ thống thuế để đảm bảo sự hoạt động của chính mình. Các bộ luật vẫn chưa được thực thi chừng nào cơ quan tư pháp vẫn chưa được thành lập. Quân đội thì nhỏ bé. Lực lượng hải quân tạm thời không còn tồn tại nữa.


Congress quickly created the departments of State and Treasury, with Thomas Jefferson and Alexander Hamilton as their respective secretaries. Departments of War and Justice were also created. Since Washington preferred to make decisions only after consulting those men whose judgment he valued, the American presidential Cabinet came into existence, consisting of the heads of all the departments that Congress might create. Simultaneously, Congress provided for a federal judiciary -- a Supreme Court, with one chief justice and five associate justices, three circuit courts, and 13 district courts.

Quốc hội mau chóng thành lập Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính với Thomas Jefferson và Alexander Hamilton giữ chức bộ trưởng tương ứng. Bộ Chiến tranh và Bộ Tư pháp cũng đã được thành lập. Do Washington chỉ muốn đưa ra các quyết định sau khi tham vấn ý kiến những người có trí tuệ được ông đánh giá cao, nên Nội các của Tổng thống Mỹ đã được thành lập, bao gồm Bộ trưởng của tất cả các bộ mà Quốc hội có thể lập ra.

Meanwhile, the country was growing steadily and immigration from Europe was increasing. Americans were moving westward: New Englanders and Pennsylvanians into Ohio; Virginians and Carolinians into Kentucky and Tennessee. Good farms were to be had for small sums; labor was in strong demand. The rich valley stretches of upper New York, Pennsylvania, and Virginia soon became great wheat-growing areas.

Trong khi đó, đất nước vẫn liên tục phát triển và làn sóng nhập cư từ châu Âu đang gia tăng. Người Mỹ đang chuyển sang miền Tây: Người các bang New England và Pennsylvania đang chuyển tới bang Ohio; người các bang Virginia và Carolina chuyển sang các bang Kentucky và Tennessee. Chỉ cần có số tiền nhỏ cũng đủ để mua những trang trại mầu mỡ, và do vậy, nhu cầu lao động không ngừng tăng. Miền thung lũng màu mỡ trải dài phía trên các bang New York, Pennsylvania và Virginia chẳng bao lâu sau đã trở thành khu vực trồng lúa mì.

Although many items were still homemade, the Industrial Revolution was dawning in the United States. Massachusetts and Rhode Island were laying the foundation of important textile industries; Connecticut was beginning to turn out tinware and clocks; New York, New Jersey, and Pennsylvania were producing paper, glass, and iron. Shipping had grown to such an extent that on the seas the United States was second only to Britain. Even before 1790, American ships were traveling to China to sell furs and bring back tea, spices, and silk.

Tuy nhiều mặt hàng vẫn còn được sản xuất thủ công tại gia, nhưng cuộc cách mạng công nghiệp vẫn còn đang ở buổi bình minh ở Mỹ. Bang Massachusetts và Rhode Island đang đặt nền móng cho các ngành công nghiệp dệt quan trọng; bang Connecticut bắt đầu sản xuất hàng thiếc và đồng hồ; các bang New York, New Jersey và Pennsylvania chế tạo giấy, thủy tinh và sắt. Vận tải biển ở Mỹ đã phát triển tới quy mô lớn mức chỉ đứng thứ hai sau nước Anh. Thậm chí cho tới năm 1790, các tàu Mỹ đã tới Trung Quốc để bán lông thú và mang về chè, hương liệu và tơ lụa.

At this critical juncture in the country's growth, Washington's wise leadership was crucial. He organized a national government, developed policies for settlement of territories previously held by Britain and Spain, stabilized the northwestern frontier, and oversaw the admission of three new states: Vermont (1791), Kentucky (1792), and Tennessee (1796). Finally, in his Farewell Address, he warned the nation to "steer clear of permanent alliances with any portion of the foreign world." This advice influenced American attitudes toward the rest of the world for generations to come.

Vào thời khắc quyết định trong sự nghiệp phát triển đất nước, sự lãnh đạo tài tình của Washington đóng vai trò vô cùng quan trọng. Ông đã tổ chức chính quyền liên bang, ban hành các chính sách định cư ở các vùng lãnh thổ trước kia nằm trong tay nước Anh và Tây Ban Nha, bình định biên giới tây bắc và giám sát việc kết nạp ba tiểu bang mới: bang Vermont (1791), bang Kentucky (1792) và bang Tennessee (1796). Cuối cùng trong Diễn văn Từ biệt của mình, Washington đã cảnh báo cả nước Mỹ nên tránh xa những liên minh lâu dài cố định với bất cứ thế lực nào ở thế giới bên ngoài. Lời khuyên này đã ảnh hưởng tới thái độ của người Mỹ đối với thế giới trong nhiều thế hệ tương lai.

HAMILTON VS. JEFFERSON

A conflict took shape in the 1790s between America's first political parties. Indeed, the Federalists, led by Alexander Hamilton, and the Republicans (also called Democratic-Republicans), led by Thomas Jefferson, were the first political parties in the Western world. Unlike loose political groupings in the British House of Commons or in the American colonies before the Revolution, both had reasonably consistent and principled platforms, relatively stable popular followings, and continuing organizations.

CUỘC TRANH LUẬN GIỮA HAMILTON VÀ JEFFERSON

ĐÃ có mâu thuẫn nảy sinh trong thập niên 1790 giữa các đảng phái chính trị đầu tiên ở Mỹ. Trên thực tế, phái ủng hộ chủ nghĩa liên bang do Alexander Hamilton lãnh đạo, và phe chống chủ nghĩa liên bang do Thomas Jefferson đứng đầu, là những chính đảng đầu tiên ở thế giới phương Tây. Khác với các nhóm chính trị lỏng lẻo trong Hạ viện Anh, hay ở các thuộc địa Mỹ trước thời kỳ cách mạng, cả hai chính đảng này đều có cương lĩnh và nguyên tắc tương đối nhất quán, lực lượng ủng hộ tương đối ổn định và bộ máy tổ chức mang tính liên tục.

The Federalists in the main represented the interests of trade and manufacturing, which they saw as forces of progress in the world. They believed these could be advanced only by a strong central government capable of establishing sound public credit and a stable currency. Openly distrustful of the latent radicalism of the masses, they could nonetheless credibly appeal to workers and artisans. Their political stronghold was in the New England states. Seeing England as in many respects an example the United States should try to emulate, they favored good relations with their former mother country.

Phái ủng hộ chủ nghĩa liên bang nhìn chung đại diện cho nhóm lợi ích thương mại và công nghiệp bởi lẽ họ cho rằng đây chính là những động lực thúc đẩy tiến bộ trên thế giới. Họ tin rằng thương mại và sản xuất chỉ có thể được thúc đẩy qua bàn tay của một chính quyền trung ương hùng mạnh, có đủ sức huy động vốn tín dụng và phát hành đồng tiền ổn định. Mặc dù công khai nghi ngờ chủ nghĩa cấp tiến đang âm ỉ trong quần chúng nhân dân, song họ lại thu hút được công nhân và thợ thủ công. Lực lượng chính trị hùng mạnh của họ nằm ở các tiểu bang vùng New England. Thấy nước Anh, xét trên nhiều góc độ, là một mô hình mà nước Mỹ nên chạy đua nên họ ủng hộ duy trì quan hệ hữu hảo với mẫu quốc trước đây.

Although Alexander Hamilton was never able to muster the popular appeal to stand successfully for elective office, he was far and away the Federalists' main generator of ideology and public policy. He brought to public life a love of efficiency, order, and organization. In response to the call of the House of Representatives for a plan for the "adequate support of public credit," he laid down and supported principles not only of the public economy, but of effective government. Hamilton pointed out that the United States must have credit for industrial development, commercial activity, and the operations of government, and that its obligations must have the complete faith and support of the people.

Mặc dù Alexander Hamilton chưa bao giờ có thể có đủ sức tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng đối với việc lựa chọn các chức vụ qua bầu cử, song ông lại là bộ não của phái ủng hộ chủ nghĩa liên bang về hệ tư tưởng và chính sách công. Ông cống hiến cho xã hội niềm đam mê hiệu quả, trật tự và tổ chức. Đáp lại lời kêu gọi của Hạ viện về kế hoạch huy động tín dụng công, ông đã đưa ra và ủng hộ các nguyên tắc không chỉ áp dụng với nền kinh tế quốc dân mà còn với một chính phủ hiệu quả. Hamilton đã chỉ rõ nước Mỹ phải có tín dụng hỗ trợ phát triển công nghiệp, thương mại và hoạt động của chính quyền. Những bổn phận của chính phủ đòi hỏi phải có niềm tin và sự ủng hộ của dân chúng.

There were many who wished to repudiate the Confederation's national debt or pay only part of it. Hamilton insisted upon full payment and also upon a plan by which the federal government took over the unpaid debts of the states incurred during the Revolution. He also secured congressional legislation for a Bank of the United States. Modeled after the Bank of England, it acted as the nation's central financial institution and operated branches in different parts of the country. Hamilton sponsored a national mint, and argued in favor of tariffs, saying that temporary protection of new firms could help foster the development of competitive national industries. These measures --placing the credit of the federal government on a firm foundation and giving it all the revenues it needed -- encouraged commerce and industry, and created a solid phalanx of interests firmly behind the national government.

ĐÃ có nhiều người mong muốn chối bỏ các khoản nợ công hay chỉ trả một phần của khoản nợ ấy. Tuy nhiên, Hamilton đã cương quyết đòi thanh toán hoàn toàn và cũng yêu cầu có kế hoạch tiếp quản các khoản nợ phát sinh từ thời cách mạng nhưng các bang vẫn chưa trả được. Hamilton cũng bảo trợ một đạo luật của Quốc hội nhằm xây dựng Ngân hàng Trung ương Hợp chúng quốc theo mô hình Ngân hàng Trung ương Anh. Ngân hàng này vừa là thiết chế tài chính trung ương của quốc gia vừa có các chi nhánh hoạt động ở nhiều nơi khác khắp cả nước. Ông đã bảo trợ cho xưởng đúc tiền quốc gia, ủng hộ thuế quan, và nhấn mạnh việc bảo hộ tạm thời cho các công ty mới là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp quốc gia có sức cạnh tranh. Những biện pháp này - đặt nền tảng vững chắc cho các khoản tín dụng của chính phủ trung ương và cung cấp cho chính phủ tất cả nguồn lực cần thiết - đã khuyến khích thương mại và công nghiệp phát triển, đồng thời tạo ra mạng lưới những lợi ích tạo chỗ dựa vững chắc cho chính quyền liên bang.

The Republicans, led by Thomas Jefferson, spoke primarily for agricultural interests and values. They distrusted bankers, cared little for commerce and manufacturing, and believed that freedom and democracy flourished best in a rural society composed of self-sufficient farmers. They felt little need for a strong central government; in fact, they tended to see it as a potential source of oppression. Thus they favored states' rights. They were strongest in the South.

Đảng Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Thomas Jefferson chủ yếu đứng về phía lợi ích và giá trị nông nghiệp. Họ nghi ngờ các nhà băng và hầu như không quan tâm tới thương mại và sản xuất. Họ tin rằng tự do và dân chủ sẽ đơm hoa kết trái tốt nhất trong một xã hội thuần nông, gồm những nông dân tự cung tự cấp. Họ cảm thấy không cần một chính phủ trung ương hùng mạnh. Thực ra, họ coi một chính phủ như vậy chỉ là nguy cơ gây đàn áp trong tương lai. Tóm lại, họ cổ xúy cho quyền của các tiểu bang. Họ có lực lượng hùng mạnh nhất ở miền Nam.

Hamilton's great aim was more efficient organization, whereas Jefferson once said, "I am not a friend to a very energetic government." Hamilton feared anarchy and thought in terms of order; Jefferson feared tyranny and thought in terms of freedom. Where Hamilton saw England as an example, Jefferson, who had been minister to France in the early stages of the French Revolution, looked to the overthrow of the French monarchy as vindication of the liberal ideals of the Enlightenment. Against Hamilton's instinctive conservatism, he projected an eloquent democratic radicalism.

Mục tiêu cao cả của Hamilton là một bộ máy chính quyền hiệu quả hơn, trong khi đó Jefferson lại nói "Tôi không phải là người ủng hộ một chính phủ quá nhiệt huyết". Hamilton lo sợ tình trạng vô chính phủ và luôn suy nghĩ đảm bảo an ninh, trật tự; trong khi đó Jefferson lại lo sợ tình trạng chuyên chế và luôn suy nghĩ đảm bảo quyền tự do. Nếu Hamilton coi nước Anh là một hình mẫu thì Jefferson - công sứ tại Pháp trong giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng Pháp - lại coi việc lật đổ chế độ quân chủ ở Pháp là một hiện thân của những lý tưởng tự do của thời kỳ Khai sáng. Trái với bản năng bảo thủ của Hamilton, Jefferson lại thiên về chủ nghĩa cấp tiến dân chủ.

An early clash between them, which occurred shortly after Jefferson took office as secretary of state, led to a new and profoundly important interpretation of the Constitution. When Hamilton introduced his bill to establish a national bank, Jefferson, speaking for those who believed in states' rights, argued that the Constitution expressly enumerated all the powers belonging to the federal government and reserved all other powers to the states. Nowhere was the federal government empowered to set up a bank.

Một mâu thuẫn nảy sinh rất sớm giữa hai người ngay sau khi Jefferson nhậm chức ngoại trưởng đã dẫn tới một cách lý giải mới và rất quan trọng của Hiến pháp. Khi Hamilton trình dự luật thành lập ngân hàng quốc gia của mình thì Jefferson - đại diện cho những người cổ xúy quyền lực của các tiểu bang - đã lập luận rằng Hiến pháp đã liệt kê một cách rõ ràng toàn bộ những quyền lực thuộc về Chính phủ Liên bang và dành tất cả những quyền lực khác cho tất cả các tiểu bang. Không có quy định nào trong Hiến pháp cho phép chính phủ được thiết lập ngân hàng.

Hamilton responded that because of the mass of necessary detail, a vast body of powers had to be implied by general clauses, and one of these authorized Congress to "make all laws which shall be necessary and proper" for carrying out other powers specifically granted. The Constitution authorized the national government to levy and collect taxes, pay debts, and borrow money. A national bank would materially help in performing these functions efficiently. Congress, therefore, was entitled, under its implied powers, to create such a bank. Washington and the Congress accepted Hamilton's view -- and set an important precedent for an expansive interpretation of the federal government's authority.

Hamilton đã phản bác lại rằng, vì đây có muôn vàn chi tiết cần thiết nên một bộ luật quy định về quyền phải được diễn giải từ những quy định chung, và một trong những quyền đó là cho phép Quốc hội ban hành tất cả các đạo luật cần thiết và phù hợp để thực thi những quyền lực khác đã được trao cụ thể. Hiến pháp đã trao quyền cho chính quyền liên bang đặt ra và thu các loại thuế, trả nợ và vay tiền. Ngân hàng quốc gia sẽ giúp đỡ về mặt vật chất trong việc thực hiện những chức năng này có hiệu quả. Vì vậy, theo những quyền lực được suy rộng ra, Quốc hội có quyền thành lập một ngân hàng như vậy. Washington và Quốc hội đã chấp nhận quan điểm của Hamilton - và như vậy đã tạo một tiền lệ mở rộng việc diễn giải quyền lực của Chính phủ Liên bang.

CITIZEN GENET AND FOREIGN POLICY

Although one of the first tasks of the new government was to strengthen the domestic economy and make the nation financially secure, the United States could not ignore foreign affairs. The cornerstones of Washington's foreign policy were to preserve peace, to give the country time to recover from its wounds, and to permit the slow work of national integration to continue. Events in Europe threatened these goals. Many Americans watched the French Revolution with keen interest and sympathy. In April 1793, news came that France had declared war on Great Britain and Spain, and that a new French envoy, Edmond Charles Genet -- Citizen Genet -- was coming to the United States.

CÔNG DÂN GENET VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

Tuy một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chính phủ mới là củng cố nền kinh tế trong nước và làm cho quốc gia được an toàn về tài chính, song Hoa Kỳ không thể coi thường những vấn đề đối ngoại. Những nền tảng của chính sách đối ngoại của Washington là duy trì hòa bình, giúp đất nước có thời gian phục hồi những vết thương và tiếp tục quá trình hợp nhất dân tộc. Những sự kiện ở châu Âu đã đe dọa các mục tiêu này. Nhiều người Mỹ theo dõi một cách say sưa và dành thiện cảm sâu sắc cho cuộc cách mạng Pháp. Tháng 4/1793, những tin tức dồn dập đổ về, thông báo Pháp đã tuyên chiến với Anh và Tây Ban Nha, đồng thời đặc phái viên mới của Pháp, Edmond Charles Genet - công dân Genet - đang trên đường sang Mỹ.

When the revolution in France led to the execution of King Louis XVI in January 1793, Britain, Spain, and Holland became involved in war with France. According to the Franco-American Treaty of Alliance of 1778, the United States and France were perpetual allies, and the United States was obliged to help France defend the West Indies. However, the United States, militarily and economically a very weak country, was in no position to become involved in another war with major European powers.

Sau cuộc cách mạng Pháp dẫn tới việc Vua Louis XVI bị xử tử tháng 1/1793, Anh, Tây Ban Nha và Hà Lan đã can dự vào cuộc chiến với nước Pháp. Theo Hiệp định Liên minh Pháp - Mỹ năm 1778, Hoa Kỳ và Pháp là những đồng minh vĩnh viễn và nước Mỹ có nghĩa vụ giúp nước Pháp bảo vệ khu vực Tây ấn. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn còn là một nước rất yếu về quân sự và kinh tế, và do vậy không có khả năng can dự vào một cuộc chiến tranh mới với các cường quốc châu Âu.

On April 22, 1793, Washington effectively abrogated the terms of the 1778 treaty that had made American independence possible by proclaiming the United States to be "friendly and impartial toward the belligerent powers." When Genet arrived, he was cheered by many citizens, but treated with cool formality by the government. Angered, he violated a promise not to outfit a captured British ship as a privateer (privately owned warships commissioned to prey on ships of enemy nations). Genet then threatened to take his cause directly to the American people, over the head of the government. Shortly afterward, the United States requested his recall by the French government.

Ngày 22/4/1793, Washington đã bãi bỏ thành công các điều khoản của Hiệp ước 1778 - điều ước đã giúp Mỹ có thể giành độc lập thông qua việc tuyên bố Hợp chúng quốc mong muốn hữu nghị và vô tư, không thiên vị với tất các cường quốc đang tham chiến. Khi tới nước Mỹ, Genet được nhiều công dân hoan hô, nhưng được tiếp đón bằng nghi thức lạnh nhạt của Chính phủ. Genet nổi giận và vi phạm lời hứa, không cung cấp một chiếc tàu chiến Anh bị bắt giữ với tư cách là tàu lùng (tàu của tư nhân được chính phủ giao nhiệm vụ chuyên đi bắt tàu buôn địch). Sau đó Genet đe dọa trực tiếp nêu vấn đề cho nhân dân Mỹ thấy. Ngay sau đó Hoa Kỳ đã yêu cầu Chính phủ Pháp triệu hồi ông về nước.

The Genet incident strained American relations with France at a time when those with Great Britain were far from satisfactory. British troops still occupied forts in the West, property carried off by British soldiers during the Revolution had not been restored or paid for, and the British Navy was seizing American ships bound for French ports. The two countries seemed to be drifting toward war. Washington sent John Jay, first chief justice of the Supreme Court, to London as a special envoy. Jay negotiated a treaty that secured withdrawal of British soldiers from western forts but allowed the British to continue the fur trade with the Indians in the Northwest. London agreed to pay damages for American ships and cargoes seized in 1793 and 1794, but made no commitments on possible future seizures. Moreover, the treaty failed to address the festering issue of British "impressment" of American sailors into the Royal Navy, placed severe limitations on American trade with the West Indies, and accepted the British view that food and naval stores, as well as war materiel, were contraband subject to seizure if bound for enemy ports on neutral ships.


Sự kiện Genet đã làm căng thẳng những mối quan hệ giữa Mỹ với Pháp giữa lúc quan hệ với nước Anh còn lâu mới được coi là khăng khít. Quân đội Anh còn chiếm đóng các pháo đài ở miền Tây, tài sản bị binh lính Anh chiếm đoạt trong thời cách mạng vẫn chưa được khôi phục hay trả lại, và hải quân Anh đang chặn các tàu Mỹ chuẩn bị tới các cảng Pháp. Hai nước dường như vẫn tiến đến bên bờ của một cuộc chiến. Trước tình hình đó, Washington đã cử John Jay, Chánh án Tòa án Tối cao đầu tiên, làm đặc phái viên tới Luân Đôn. Jay đã đàm phán một hiệp ước bảo đảm việc rút quân Anh ra khỏi các pháo đài miền Tây và về lời hứa của Luân Đôn sẽ đền bù thiệt hại do việc nước Anh chiếm giữ các tàu và hàng hóa Mỹ vào năm 1793 và 1794, nhưng lại không nêu cam kết sẽ không có các vụ bắt giữ trong tương lai. Hơn nữa, hiệp định đã không giải quyết vấn đề hết sức nhức nhối là người Anh vẫn cưỡng bức tòng quân các thủy thủ Mỹ tham gia lực lượng Hải quân Anh, cản trở ghê gớm việc buôn bán của Mỹ với Tây ấn, đồng thời chấp nhận quan điểm của Anh cho rằng đồ quân trang quân dụng của hải quân và các vật liệu chiến tranh đều là hàng lậu, và sẽ bị bắt giữ nếu chở tới cảng biển của quốc gia thù địch trên tàu của các quốc gia trung lập.

American diplomat Charles Pinckney was more successful in dealing with Spain. In 1795, he negotiated an important treaty settling the Florida border on American terms and giving Americans access to the port of New Orleans. All the same, the Jay Treaty with the British reflected a continuing American weakness vis-a-vis a world superpower. Deeply unpopular, it was vocally supported only by Federalists who valued cultural and economic ties with Britain. Washington backed it as the best bargain available, and, after a heated debate, the Senate approved it.


Nhà ngoại giao người Mỹ Charles Pinckney thì thành công hơn trong thương thuyết với Tây Ban Nha. Năm 1795, ông đã đàm phán một hiệp định quan trọng giải quyết vấn đề biên giới Florida theo yêu cầu của Mỹ và cho phép người Mỹ tiếp cận cảng New Orleans. Cũng tương tự như vậy, Hiệp định Jay với người Anh đã phản ánh vị thế tiếp tục suy yếu của Mỹ so với một siêu cường trên thế giới. Hiệp định này không được công chúng ủng hộ rộng rãi, nhưng lại được những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang công khai ủng hộ bởi lẽ họ đề cao mối quan hệ kinh tế và văn hóa với nước Anh. Washington ủng hộ hiệp định này vì nó là món quà mặc cả tốt nhất có thể có trong bối cảnh lúc bấy giờ. Sau một cuộc tranh luận nảy lửa, Thượng viện đã thông qua hiệp định này.

Citizen Genet's antics and Jay's Treaty demonstrated both the difficulties faced by a small weak nation caught between two great powers and the wide gap in outlook between Federalists and Republicans. To the Federalists, Republican backers of the increasingly violent and radical French Revolution were dangerous radicals ("Jacobins"); to the Republicans, advocates of amity with England were monarchists who would subvert the natural rights of Americans. The Federalists connected virtue and national development with commerce; the Republicans saw America's destiny as that of a vast agrarian republic. The politics of their conflicting positions became increasingly vehement.

Vụ trò hề công dân Genet và Hiệp ước Jay đã chứng minh cả những khó khăn mà một nước nhược tiểu phải đương đầu khi bị kẹt giữa hai cường quốc, và khoảng cách rất xa trong quan điểm giữa phe ủng hộ chủ nghĩa liên bang và những người theo chủ nghĩa cộng hòa. Đối với những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang, những kẻ theo chủ nghĩa cộng hòa ủng hộ cuộc Cách mạng cấp tiến và đầy bạo lực ở Pháp là những tên cấp tiến đầy nguy hiểm (Gia-cô-banh). Đối với những người cộng hòa, những người ủng hộ chính sách thân Anh là những kẻ bảo hoàng, dám vứt bỏ quyền tự nhiên của người Mỹ. Những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang gắn hiệu quả và phát triển quốc gia với thương mại; còn những người chủ trương cộng hòa lại coi tương lai của nước Mỹ là tương lai của một nền cộng hòa thuần nông rộng lớn. Cuộc cạnh tranh trong quan điểm mâu thuẫn nhau của họ ngày càng trở nên trầm trọng.

ADAMS AND JEFFERSON

ADAMS VÀ JEFFERSON


The silhouette of one of the United States' most revered Founding Fathers, Thomas Jefferson, stands in the shrine dedicated to his memory. "I have sworn upon the altar of God, eternal hostility against every form of tyranny over the mind of man." (© Robert Llewellyn)

Hình bóng của một trong những người sáng lập tôn kính nhất của Hoa Kỳ, Thomas Jefferson, đứng trong ngôi đền dành tưởng niệm ông. "Tôi đã thề trước bàn thờ của Thiên Chúa, sẽ đối địch vĩnh viễn với mọi hình thức độc tài đối với tâm trí của con người." (© Robert Llewellyn)
Washington retired in 1797, firmly declining to serve for more than eight years as the nation's head. Thomas Jefferson of Virginia (Republican) and John Adams (Federalist) vied to succeed him. Adams won a narrow election victory. From the beginning, however, he was at the head of a party and an administration divided between his backers and those of his rival, Hamilton.

Washington nghỉ hưu năm 1797, kiên quyết rời nhiệm sở sau hơn sau hơn tám năm làm Tổng thống. Thomas Jefferson, người bang Virginia (chủ trương cộng hòa), và John Adams (ủng hộ liên bang) cạnh tranh nhau để kế nhiệm ông. Adams đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử với số phiếu sít sao. Tuy nhiên, ngay từ đầu, ông là đã người đứng đầu một đảng và một chính quyền bị chia rẽ giữa những người ủng hộ ông và những người thuộc phe của Hamilton đối nghịch với ông.

Adams faced serious international difficulties. France, angered by Jay's treaty with Britain, adopted its definition of contraband and began to seize American ships headed for Britain. By 1797 France had snatched 300 American ships and broken off diplomatic relations with the United States. When Adams sent three commissioners to Paris to negotiate, agents of Foreign Minister Charles Maurice de Talleyrand (whom Adams labeled X, Y, and Z in his report to Congress) informed the Americans that negotiations could only begin if the United States loaned France $12 million and bribed officials of the French government. American hostility to France rose to an excited pitch. The so-called XYZ Affair led to the enlistment of troops and the strengthening of the fledgling U.S. Navy.

Adams gặp muôn vàn khó khăn ở bên ngoài. Giận dữ trước việc hiệp ước của Jay được ký với Anh, Pháp quay sang áp dụng định nghĩa đồ buôn lậu của hiệp định trên và bắt đầu bắt giữ tàu của Mỹ khi trên đường sang Anh. Đến năm 1797, Pháp đã chiếm giữ 300 tàu của Mỹ và đã cắt đứt các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Khi Adams gửi ba người đại diện tới Paris để đàm phán, các đại diện của ngoại trưởng Charles Maurice Talleyraud (những người được Adams đặt biệt hiệu X, Y và Z trong báo cáo của mình gửi Quốc hội) đã thông báo cho người Mỹ rằng những cuộc đàm phán chỉ có thể bắt đầu nếu Hoa Kỳ cho Pháp vay 12 triệu đô-la và hối lộ các quan chức Chính phủ Pháp. Sự thù địch của nước Mỹ đối với nước Pháp đã dâng lên tới tột điểm. Vụ áp-phe XYZ đã dẫn tới việc tuyển binh lính và củng cố lực lượng hải quân còn non trẻ của nước Mỹ.

In 1799, after a series of sea battles with the French, war seemed inevitable. In this crisis, Adams rejected the guidance of Hamilton, who wanted war, and reopened negotiations with France. Napoleon, who had just come to power, received them cordially. The danger of conflict subsided with the negotiation of the Convention of 1800, which formally released the United States from its 1778 defense alliance with France. However, reflecting American weakness, France refused to pay $20 million in compensation for American ships taken by the French Navy.

Vào năm 1799, sau một loạt trận hải chiến với Pháp, chiến tranh dường như không thể tránh khỏi. Trong cuộc khủng hoảng này, Tổng thống Adams đã bác bỏ những lời khuyên từ Hamilton - người muốn tiến hành chiến tranh - và nối lại đàm phán với Pháp. Napoleon lúc ấy vừa mới lên nắm quyền, ông đã tiếp các phái viên của Mỹ rất chân tình và hiểm họa của cuộc xung đột đã lắng xuống sau khi có cuộc đàm phán về Hiệp định năm 1800. Hiệp định này đã chính thức giải phóng nước Mỹ khỏi liên minh quân sự đã được ký kết với Pháp 1778. Tuy nhiên, do biết được thế yếu của Mỹ nên Pháp từ chối việc trả 20 triệu đô-la đền bù cho những chiếc tàu Mỹ bị hải quân Pháp chiếm giữ.


Hostility to France had led Congress to pass the Alien and Sedition Acts, which had severe repercussions for American civil liberties. The Naturalization Act, which changed the requirement for citizenship from five to 14 years, was targeted at Irish and French immigrants suspected of supporting the Republicans. The Alien Act, operative for two years only, gave the president the power to expel or imprison aliens in time of war. The Sedition Act proscribed writing, speaking, or publishing anything of "a false, scandalous, and malicious" nature against the president or Congress. The few convictions won under it created martyrs to the cause of civil liberties and aroused support for the Republicans.

Sự thù địch với nước Pháp đã khiến Quốc hội thông qua các Đạo luật về Ngoại kiều và nổi loạn. Những đạo luật này này ngược lại nghiêm trọng những quyền tự do dân sự của Mỹ. Đạo luật Nhập quốc tịch thay đổi yêu cầu nhập quốc tịch từ năm năm lên tới 14 năm là nhằm vào người nhập cư Ai-len và Pháp vốn bị nghi ngờ ủng hộ những người chủ trương cộng hòa. Đạo luật Ngoại kiều chỉ có hiệu lực trong hai năm đã trao cho tổng thống quyền trục xuất hay tống giam những công dân nước ngoài trong thời chiến. Đạo luật Nổi loạn cấm việc viết, nói hay xuất bản bất cứ nội dung giả dối, xúc phạm và ác ý chống lại tổng thống hay Quốc hội. Một vài vụ kết án thành công theo Đạo luật Nổi loạn chỉ đẻ ra những kẻ tử vì đạo chiến đấu vì sự nghiệp tự do dân sự và càng gia tăng sự ủng hộ cho phe Cộng hòa.

The acts met with resistance. Jefferson and Madison sponsored the passage of the Kentucky and Virginia Resolutions by the legislatures of these two states in November and December 1798. Extreme declaration of states' rights, the resolutions asserted that states could "interpose" their views on federal actions and "nullify" them. The doctrine of nullification would be used later for the Southern states' resistance to protective tariffs, and, more ominously, slavery.

Các đạo luật đã vấp phải sự chống đối. Jefferson và Madison đã bảo trợ cho việc thông qua các nghị quyết của hai bang Kentucky và Virginia do các cơ quan lập pháp của họ trình vào tháng 11 và 12/1798. Khẳng khái tuyên bố các quyền của tiểu bang, các nghị quyết nhấn mạnh các tiểu bang có thể nêu những quan điểm của họ về những hành động của liên bang cách và vô hiệu hoá các hành động ấy. Học thuyết về vô hiệu hóa sau này được các bang miền Nam sử dụng chống lại thuế quan bảo hộ và chế độ nô lệ.

By 1800 the American people were ready for a change. Under Washington and Adams, the Federalists had established a strong government, but sometimes failing to honor the principle that the American government must be responsive to the will of the people, they had followed policies that alienated large groups. For example, in 1798 they had enacted a tax on houses, land, and slaves, affecting every property owner in the country.

Đến năm 1800, nhân dân Mỹ đã sẵn sàng thay đổi. Dưới sự lãnh đạo của Washington và Adams, phái ủng hộ chủ nghĩa liên bang đã thiết lập được một chính quyền mạnh, nhưng đôi khi đã không tôn trọng nguyên tắc Chính phủ Liên bang phải lắng nghe nguyện vọng của dân vì chính phủ đã theo đuổi các chính sách xa lạ với đông đảo nhân dân. Chẳng hạn, năm 1798, họ đã ban hành sắc thuế về nhà cửa, đất đai và nô lệ, làm ảnh hưởng tới tất cả chủ sở hữu ở Mỹ.

Jefferson had steadily gathered behind him a great mass of small farmers, shopkeepers, and other workers. He won a close victory in a contested election. Jefferson enjoyed extraordinary favor because of his appeal to American idealism. In his inaugural address, the first such speech in the new capital of Washington, D.C., he promised "a wise and frugal government" that would preserve order among the inhabitants but leave people "otherwise free to regulate their own pursuits of industry, and improvement."

Jefferson dần dần đã tập hợp một lực lượng quần chúng gồm đông đảo các chủ trại nhỏ, những chủ cửa hàng và những người làm công ăn lương khác ủng hộ ông. Ông đã đắc cử với kết quả sít sao. Jefferson rất được lòng dân bởi ông kêu gọi thực hiện chủ nghĩa lý tưởng Mỹ. Trong bài diễn văn nhậm chức - diễn văn nhậm chức đầu tiên tại thủ đô mới là Washington, D.C. - ông cam kết xây dựng một chính quyền khôn ngoan và tiết kiệm, đảm bảo trật tự cho dân chúng nhưng sẽ cũng để cho công chúng tự do theo đuổi nghề nghiệp và tiến bộ.

Jefferson's mere presence in the White House encouraged democratic procedures. He preached and practiced democratic simplicity, eschewing much of the pomp and ceremony of the presidency. In line with Republican ideology, he sharply cut military expenditures. Believing America to be a haven for the oppressed, he secured a liberal naturalization law. By the end of his second term, his far-sighted secretary of the treasury, Albert Gallatin, had reduced the national debt to less than $560 million. Widely popular, Jefferson won reelection as president easily.

Chỉ có sự hiện diện của Jefferson ở Nhà Trắng mới có thể khuyến khích những tiến trình dân chủ. Ông giảng giải và thực hiện những triết lý đơn giản về dân chủ, tránh xa hoa và phô trương thường gắn liền với chức vụ tổng thống. Theo tư tưởng cộng hòa, ông đã cắt giảm chi tiêu quân sự. Do tin rằng nước Mỹ là thiên đường của những người bị áp bức, ông đã thông qua luật nhập quốc tịch tự do. Đến cuối nhiệm kỳ hai của ông, vị Bộ trưởng Tài chính nhìn xa trông rộng của ông, Albert Gallatin, đã giảm nợ công xuống còn dưới 560 triệu đô-la. Vì được lòng dân nên Jefferson đã tái đắc cử tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo một cách dễ dàng.

LOUISIANA AND BRITAIN

One of Jefferson's acts doubled the area of the country. At the end of the Seven Years' War, France had ceded its territory west of the Mississippi River to Spain. Access to the port of New Orleans near its mouth was vital for the shipment of American products from the Ohio and Mississippi river valleys. Shortly after Jefferson became president, Napoleon forced a weak Spanish government to cede this great tract, the Louisiana Territory, back to France. The move filled Americans with apprehension and indignation. French plans for a huge colonial empire just west of the United States seriously threatened the future development of the United States. Jefferson asserted that if France took possession of Louisiana, "from that moment we must marry ourselves to the British fleet and nation."

BANG LOUISIANA VÀ NƯỚC ANH

Một trong số những đạo luật của Jefferson đã nhân đôi diện tích nước Mỹ. Vào thời kỳ cuối của cuộc Chiến tranh Bảy năm, nước Pháp đã nhượng quyền cho Tây Ban Nha sở hữu vùng lãnh thổ phía Tây sông Mississippi. Việc tiếp cận cảng New Orleans gần cửa sông này có ý nghĩa sống còn đối với việc vận chuyển hàng hóa của Mỹ bằng tàu từ vùng thung lũng sông Ohio và Mississippi. Ngay sau khi Jefferson đắc cử tổng thống, Napoleon đã buộc Chính phủ Tây Ban Nha trả lại lãnh thổ rộng lớn ở Lousiana cho Pháp. Động thái này đã khiến người Mỹ e sợ và căm phẫn. Những kế hoạch của Napoleon nhằm xây dựng một đế chế thuộc địa bao la ở phía Tây đã đe dọa sự phát triển trong tương lai của Hợp chúng quốc. Jefferson đã tuyên bố "nếu nước Pháp chiếm lại Louisiana thì kể từ giây phút đó, chúng ta phải tự kết thân với người Anh và hạm đội của họ".


Napoleon, however, lost interest after the French were expelled from Haiti by a slave revolt. Knowing that another war with Great Britain was impending, he resolved to fill his treasury and put Louisiana beyond the reach of Britain by selling it to the United States. His offer presented Jefferson with a dilemma: The Constitution conferred no explicit power to purchase territory. At first the president wanted to propose an amendment, but delay might lead Napoleon to change his mind. Advised that the power to purchase territory was inherent in the power to make treaties, Jefferson relented, saying that "the good sense of our country will correct the evil of loose construction when it shall produce ill effects."

Tuy nhiên, Napoleon không còn quan tâm đến Lousiana sau khi Pháp bị đánh bật khỏi Haiti trong cuộc nổi dậy của nô lệ. Khi biết rằng một cuộc chiến tranh khác với nước Anh đang sắp xảy ra, Napoleon đã quyết định bổ sung ngân sách và đặt Louisiana ngoài tầm với của người Anh bằng cách bán vùng đất này cho Hoa Kỳ. Đề nghị của Napoleon đã đưa Jefferson vào tình thế khó xử: Hiến pháp không nêu cụ thể quyền mua bán lãnh thổ. Một mặt, Jefferson muốn đề xuất một Điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp song mặt khác, việc trì hoãn cũng có thể khiến Napoleon thay đổi ý định. Sau khi được tham mưu rằng quyền mua lãnh thổ đã nằm sẵn trong quyền ký kết các điều ước, Jefferson đã dịu đi và nói rằng "lương tri của dân tộc ta sẽ sửa sai hậu quả của một sự giải thích không chặt chẽ một khi sự giải thích ấy sản sinh ra những kết quả không mong muốn".

The United States obtained the "Louisiana Purchase" for $15 million in 1803. It contained more than 2,600,000 square kilometers as well as the port of New Orleans. The nation had gained a sweep of rich plains, mountains, forests, and river systems that within 80 years would become its heartland -- and a breadbasket for the world.


Hợp chúng quốc đã mua được Louisiana với giá 15 triệu đô-la vào năm 1803. Miền này rộng hơn 2,6 triệu km2 và có cảng New Orleans. Nước Mỹ đã có được một vùng đất bao la có những đồng bằng màu mỡ, những dãy núi, những khu rừng và hệ thống sông ngòi. Chỉ trong vòng 80 năm, khu vực này trở thành trung tâm của nước Mỹ - và là vựa lúa mì của thế giới.


As Jefferson began his second term in 1805, he declared American neutrality in the struggle between Great Britain and France. Although both sides sought to restrict neutral shipping to the other, British control of the seas made its interdiction and seizure much more serious than any actions by Napoleonic France. British naval commanders routinely searched American ships, seized vessels and cargoes, and took off sailors believed to be British subjects. They also frequently impressed American seamen into their service.

Khi Jefferson bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình vào năm 1805, ông tuyên bố quy chế trung lập của Mỹ trong cuộc chiến giữa Anh và Pháp. Tuy cả hai phe đều cố gắng hạn chế vận chuyển hàng hải trung lập tới phe kia, song sự kiểm soát của Anh trên biển cả đã khiến lệnh cấm và bắt giữ của nước này càng trở nên nghiêm trọng hơn nhiều so với bất cứ hành động nào do Pháp của Napoleon gây ra. Các chỉ huy hải quân Anh thường xuyên khám xét tàu Mỹ, tịch thu tàu và hàng hóa, và cướp đi những thủy thủ mà họ cho là thần dân của nước Anh. Họ cũng thường xuyên cưỡng ép ngư dân Mỹ đi lính cho họ.

When Jefferson issued a proclamation ordering British warships to leave U.S. territorial waters, the British reacted by impressing more sailors. Jefferson then decided to rely on economic pressure; in December 1807 Congress passed the Embargo Act, forbidding all foreign commerce. Ironically, the law required strong police authority that vastly increased the powers of the national government. Economically, it was disastrous. In a single year American exports fell to one-fifth of their former volume. Shipping interests were almost ruined by the measure; discontent rose in New England and New York. Agricultural interests suffered heavily also. Prices dropped drastically when the Southern and Western farmers could not export their surplus grain, cotton, meat, and tobacco.

Khi Jefferson tuyên bố ra lệnh cho các tàu chiến Anh ra khỏi lãnh hải của Mỹ thì người Anh đã phản ứng lại bằng cách cưỡng bức tòng quân càng nhiều thủy thủ người Mỹ hơn. Jefferson quyết định sử dụng sức ép kinh tế. Tháng 12/1807, Quốc hội thông qua Đạo luật Cấm vận, cấm tất cả hoạt động ngoại thương. Trớ trêu thay, luật lại yêu cầu cần có lực lượng cảnh sát hùng hậu, và chính điều này đã gia tăng rất nhiều quyền hạn của Chính phủ Liên bang. Về mặt kinh tế, biện pháp này quả là lợi bất cập hại. Chỉ riêng trong một năm, xuất khẩu của Mỹ đã giảm một phần năm so với trước. Ngành vận tải biển cũng bị mất đi do biện pháp này. Tình trạng bất mãn tăng mạnh ở New England và New York. Ngành nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề. Giá cả hàng hóa đã sụt giảm khi các chủ trại miền Nam và miền Tây không thể xuất khẩu được lượng ngũ cốc, bông, thịt và thuốc lá dư thừa của họ.

The embargo failed to starve Great Britain into a change of policy. As the grumbling at home increased, Jefferson turned to a milder measure, which partially conciliated domestic shipping interests. In early 1809 he signed the Non-Intercourse Act permitting commerce with all countries except Britain or France and their dependencies.


Lệnh cấm vận đã không khiến nước Anh phải chết đói đến mức phải thay đổi chính sách. Do sự phản đối trong nước ngày càng gia tăng, Jefferson đã quay sang biện pháp mềm mỏng hơn nhằm hài hòa lợi ích của ngành vận tải biển. Đầu năm 1809 ông đã ký Đạo luật Không giao dịch, cho phép buôn bán với tất cả các nước trừ Anh hay Pháp và những nước phụ thuộc họ.

James Madison succeeded Jefferson as president in 1809. Relations with Great Britain grew worse, and the two countries moved rapidly toward war. The president laid before Congress a detailed report, showing several thousand instances in which the British had impressed American citizens. In addition, northwestern settlers had suffered from attacks by Indians whom they believed had been incited by British agents in Canada. In turn, many Americans favored conquest of Canada and the elimination of British influence in North America, as well as vengeance for impressment and commercial repression. By 1812, war fervor was dominant. On June 18, the United States declared war on Britain.

James Madison đã kế nhiệm Jefferson làm tổng thống năm 1809. Quan hệ với nước Anh đã trở nên tồi tệ hơn, và hai nước đã nhanh chóng đi đến bên bờ vực của cuộc chiến. Tổng thống đã trình Quốc hội một bản báo cáo chi tiết, chỉ dẫn hàng nghìn dẫn chứng về việc người Anh cưỡng bức công dân Mỹ tòng quân. Ngoài ra, những người định cư ở Tây Bắc đã bị thổ dân da đỏ tấn công vì bị mật vụ Anh ở Canada kích động. Kết quả là, nhiều người Mỹ đã ủng hộ việc chinh phục Canada và loại bỏ ảnh hưởng của Anh ở Bắc Mỹ, đồng thời trả thù cho món nợ cưỡng bức tòng quân và đàn áp về thương mại. Đến năm 1812, không khí chiến tranh bao trùm khắp nơi, và nước Mỹ đã tuyên chiến với Anh ngày 18/6.

WAR OF 1812

The nation went to war bitterly divided. While the South and West favored the conflict, New York and New England opposed it because it interfered with their commerce. The U.S. military was weak. The army had fewer than 7,000 regular soldiers, distributed in widely scattered posts along the coast, near the Canadian border, and in the remote interior. The state militias were poorly trained and undisciplined.

CUỘC CHIẾN TRANH NĂM 1812

Nước Mỹ tham chiến mà nội bộ chia rẽ sâu sắc. Nếu như miền Nam và miền Tây ủng hộ chiến tranh thì các bang New York và New England lại phản đối bởi lẽ chiến tranh cản trở việc làm ăn buôn bán của họ. Lực lượng quân sự của Mỹ rất yếu. Cả binh lực mới có dưới 7.000 quân chính quy, lại đóng rải rác dọc bờ biển gần biên giới với Canada và ở vùng nội địa xa xôi. Lực lượng dân phòng của các tiểu bang chỉ được huấn luyện thô sơ và vô kỷ luật.

Hostilities began with an invasion of Canada, which, if properly timed and executed, would have brought united action against Montreal. Instead, the entire campaign miscarried and ended with the British occupation of Detroit. The U.S. Navy, however, scored successes. In addition, American privateers, swarming the Atlantic, captured 500 British vessels during the fall and winter months of 1812 and 1813.

Sự thù nghịch giữa hai nước đã bắt đầu từ việc xâm lược Canada. Lẽ ra nếu được dàn xếp kịp thời và hợp lý thì họ đã chung tay chống lại Montreal. Tiếc thay, toàn bộ chiến dịch đã thất bại và kết thúc với việc quân Anh chiếm đóng Detroit. Tuy nhiên, hải quân Mỹ lại đạt nhiều thắng lợi. Ngoài ra, các tàu chiến Mỹ do tư nhân quản lý, di chuyển khắp Đại Tây Dương, đã bắt giữ được 500 tàu Anh trong những tháng mùa thu và mùa đông hai năm 1812 và 1813.


The campaign of 1813 centered on Lake Erie. General William Henry Harrison -- who would later become president -- led an army of militia, volunteers, and regulars from Kentucky with the object of reconquering Detroit. On September 12, while he was still in upper Ohio, news reached him that Commodore Oliver Hazard Perry had annihilated the British fleet on Lake Erie. Harrison occupied Detroit and pushed into Canada, defeating the fleeing British and their Indian allies on the Thames River. The entire region now came under American control.


Chiến dịch năm 1813 chủ yếu diễn ra ở Hồ Erie. Tướng William Henry Harrison - sau này là tổng thống - đã lãnh đạo lực lượng gồm dân quân, lính tình nguyện và quân thường trực từ bang Kentucky với mục tiêu chiếm lại Detroit. Ngày 12/9, trong khi vẫn còn ở thượng nguồn sông Ohio thì ông đã nhận được tin tức cho biết Thiếu tướng Hải quân Oliver Hazard Perry đã đánh bại hoàn toàn hạm đội Anh trên Hồ Erie. Harrison đã bao vây Detroit và đẩy lùi quân Anh sang Canada, đập tan đội quân Anh bại trận đang tháo chạy cùng bè lũ thổ dân da đỏ của chúng trên sông Thames. Giờ đây toàn bộ vùng đất này đã nằm trong sự kiểm soát của Mỹ.

A year later Commodore Thomas Macdonough won a point-blank gun duel with a British flotilla on Lake Champlain in upper New York. Deprived of naval support, a British invasion force of 10,000 men retreated to Canada. Nevertheless, the British fleet harassed the Eastern seaboard with orders to "destroy and lay waste." On the night of August 24, 1814, an expeditionary force routed American militia, marched to Washington, D.C., and left the city in flames. President James Madison fled to Virginia.


Một năm sau, Thiếu tướng Thomas Macdonough đã giành chiến thắng trong cuộc đấu súng tầm ngắn với hạm đội nhỏ của Anh trên Hồ Champlain ở vùng New York thượng. Mất sự yểm trợ của hải quân, đội quân xâm lược của Anh gồm 10.000 người đã rút lui về Canada. Tuy nhiên, hạm đội của Anh lại quay sang quấy rối vùng bờ biển miền Đông với khẩu hiệu tiêu diệt và tàn phá. Đêm ngày 24/8/1814, một lực lượng viễn chinh đã đột kích vào lực lượng dân quân của Mỹ, rồi hành quân lên Washington D.C., sau đó rút lui và để lại thành phố trong khói lửa. Tổng thống James Madison phải rút chạy về bang Virginia.


British and American negotiators conducted talks in Europe. The British envoys decided to concede, however, when they learned of Macdonough's victory on Lake Champlain. Faced with the depletion of the British treasury due in large part to the heavy costs of the Napoleonic Wars, the negotiators for Great Britain accepted the Treaty of Ghent in December 1814. It provided for the cessation of hostilities, the restoration of conquests, and a commission to settle boundary disputes. Unaware that a peace treaty had been signed, the two sides continued fighting into 1815 near New Orleans, Louisiana. Led by General Andrew Jackson, the United States scored the greatest land victory of the war, ending for once and for all any British hopes of reestablishing continental influence south of the Canadian border.

Các nhà đàm phán Anh và Mỹ đã hội đàm tại châu Âu. Tuy nhiên, các phái viên của Anh quyết định nhượng bộ khi họ biết tin về chiến thắng của Macdonough trên Hồ Champlain. Trước tình trạng ngân khố ngày càng thâm thủng phần lớn là do các chi phí quá lớn trong các cuộc chiến tranh của Napoleon, các nhà đàm phán của Anh đã chấp nhận Hiệp định Ghent vào tháng 12/1814. Hiệp định đã chấm dứt tình trạng thù địch, đặt dấu chấm hết cho việc phục hồi các cuộc chinh phục, đồng thời xác định một ủy ban phụ trách giải quyết tranh chấp biên giới. Do không biết hòa ước đã được ký kết nên cả hai bên vẫn tiếp tục giao chiến ở New Orleans, bang Louisiana. Dưới sự chỉ huy của Tướng Andrew Jackson, quân Mỹ đã giành chiến thắng trên bộ vẻ vang nhất, chấm dứt mãi mãi bất kỳ tia hy vọng nào của người Anh về việc tái lập sự ảnh hưởng của họ ở phía Nam biên giới Canada.

While the British and Americans were negotiating a settlement, Federalist delegates selected by the legislatures of Massachusetts, Rhode Island, Connecticut, Vermont, and New Hampshire gathered in Hartford, Connecticut, to express opposition to "Mr. Madison's war." New England had managed to trade with the enemy throughout the conflict, and some areas actually prospered from this commerce. Nevertheless, the Federalists claimed that the war was ruining the economy. With a possibility of secession from the Union in the background, the convention proposed a series of constitutional amendments that would protect New England interests. Instead, the end of the war, punctuated by the smashing victory at New Orleans, stamped the Federalists with a stigma of disloyalty from which they never recovered.

Trong khi người Anh và người Mỹ đang đàm phán giải quyết thì các đại biểu ủng hộ chủ nghĩa liên bang được các cơ quan lập pháp của các bang Massachusetts, Rhode Island, Connecticut, Vermont và New Hampshire lựa chọn đã tập trung ở Hartford, bang Connecticut để phản đối cuộc chiến tranh của Ngài Madison. Bang New England đã cố giao thương với kẻ thù trong suốt cuộc chiến, và một số vùng thực tế đã trở nên giàu có nhờ hoạt động thương mại này. Tuy nhiên, những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang lại tuyên bố rằng cuộc chiến tranh đã hủy hoại nền kinh tế. Do có thể xảy ra khả năng ly khai khỏi liên minh, nên hội nghị đã đề xuất một loại các dự thảo Điều bổ sung sửa đổi Hiến pháp nhằm bảo vệ lợi ích của bang New England. Song đoạn kết của cuộc chiến - bị ngưng lại sau chiến thắng vẻ vang ở New Orleans - đã để lại trong những người ủng hộ chủ nghĩa liên bang một vết nhơ nhục nhã về sự phản bội mà họ không bao giờ có thể tẩy được.

THE SECOND GREAT AWAKENING

By the end of the 18th century, many educated Americans no longer professed traditional Christian beliefs. In reaction to the secularism of the age, a religious revival spread westward in the first half of the 19th century.

ĐẠI GIÁC NGỘ LẦN HAI

Đến cuối thế kỷ XVIII, nhiều người Mỹ có học thức đã tự nhận không còn theo những tín ngưỡng Cơ- đốc truyền thống nữa. Đáp lại phong trào thế tục đang diễn ra trong thời đạ i, phong trào phục hưng tôn giáo đã nhanh chóng tiến về phía tây vào nửa đầu thế kỷ XIX.

This "Second Great Awakening" consisted of several kinds of activity, distinguished by locale and expression of religious commitment. In New England, the renewed interest in religion inspired a wave of social activism. In western New York, the spirit of revival encouraged the emergence of new denominations. In the Appalachian region of Kentucky and Tennessee, the revival strengthened the Methodists and the Baptists, and spawned a new form of religious expression -- the camp meeting.

“Cơn giác ngộ vĩ đại lần hai này có nhiều loại hình hoạt động và có sự khác biệt theo địa phương và cách thức thể hiện gắn bó tôn giáo. Ở bang New England, tinh thần tôn giáo trỗi dậy đã kích thích một làn sóng tuyên truyền mạnh mẽ trong xã hội. Ở phía tây New York, tinh thần phục hưng đã khuyến khích sự xuất hiện những giáo phái mới. Ở vùng Appalachian thuộc bang Kentucky và Tennessee, phong trào phục hưng đã củng cố các giáo phái Giám lý và Baptist, và sản sinh một hình thức thể hiện tôn giáo mới - tụ họp trong lều trại.

In contrast to the Great Awakening of the 1730s, the revivals in the East were notable for the absence of hysteria and open emotion. Rather, unbelievers were awed by the "respectful silence" of those bearing witness to their faith. The evangelical enthusiasm in New England gave rise to interdenominational missionary societies, formed to evangelize the West. Members of these societies not only acted as apostles for the faith, but as educators, civic leaders, and exponents of Eastern, urban culture. Publication and education societies promoted Christian education. Most notable among them was the American Bible Society, founded in 1816. Social activism inspired by the revival gave rise to abolition-of-slavery groups and the Society for the Promotion of Temperance, as well as to efforts to reform prisons and care for the handicapped and mentally ill.

Trái với Cơn giác ngộ vĩ đại trong thập niên 1730, phong trào phục hưng ở miền Đông nổi tiếng vì không có kích động cuồng loạn và công khai cảm xúc. Trái lại, những người phi tín ngưỡng đã kinh sợ với sự im lặng đáng kính của những người đang mang những bằng chứng cho đức tin của họ. Tinh thần phục hồi phái phúc âm ở bang New England đã dẫn đến sự ra đời những hội truyền giáo liên giáo phái để truyền bá phúc âm tới miền Tây. Các thành viên của những giáo phái này không chỉ hành động như những tông đồ vì đức tin mà còn như những nhà giáo dục, những nhà lãnh đạo nhân dân và đại diện của nền văn hóa đô thị miền Đông. Việc ấn hành sách báo và các hội giáo dục đã góp phần đẩy mạnh truyền bá đạo Cơ- đốc. Nổi bật nhất trong số các hội này là Hội Thánh kinh Hoa Kỳ thành lập năm 1816. Lòng hăng say hoạt động xã hội vốn được kích thích bởi phong trào phục hưng tôn giáo đã góp phần mở đường cho các nhóm bãi nô, Hội Khuyến khích Thanh tịnh và những nỗ lực cải tạo nhà tù, đồng thời chăm sóc người tàn tật và người thiểu năng trí tuệ.

Western New York, from Lake Ontario to the Adirondack Mountains, had been the scene of so many religious revivals in the past that it was known as the "Burned-Over District." Here, the dominant figure was Charles Grandison Finney, a lawyer who had experienced a religious epiphany and set out to preach the Gospel. His revivals were characterized by careful planning, showmanship, and advertising. Finney preached in the Burned-Over District throughout the 1820s and the early 1830s, before moving to Ohio in 1835 to take a chair in theology at Oberlin College, of which he subsequently became president.

Miền Tây New York, từ Hồ Ontario đến dãy núi Adirondack đã là nơi hoạt động của nhiều cuộc phục hưng tôn giáo trước đây - hay còn gọi là phong trào Rực cháy khắp quận. Chính tại nơi đây có một nhân vật nổi tiếng, Charles Grandison Finney, luật sư đã trải qua lễ hiển linh và chuẩn bị giảng Phúc âm. Phong trào thúc đẩy lòng mộ đạo của ông đã được chuẩn bị chu đáo, thu hút được đông đảo quần chúng và quảng bá rất rộng. Finney đã giảng đạo ở khu vực Rực cháy khắp quận suốt thập niên 1820 và đầu thập niên 1830 trước khi chuyển tới bang Ohio vào năm 1835 làm giảng viên thần học tại Đại học Oberlin. Sau này ông trở thành hiệu trưởng của trường.

Two other important religious denominations in America -- the Mormons and the Seventh Day Adventists -- also got their start in the Burned-Over District.


Hai giáo phái khác ở Mỹ là Mormons (các Thánh ngày nay) và Seventh Day Adventists (giáo phái Tin vào lần xuất hiện thứ hai của Chúa), cùng khởi đầu ở miền đất rực cháy này.

In the Appalachian region, the revival took on characteristics similar to the Great Awakening of the previous century. But here, the center of the revival was the camp meeting, a religious service of several days' length, for a group that was obliged to take shelter on the spot because of the distance from home. Pioneers in thinly populated areas looked to the camp meeting as a refuge from the lonely life on the frontier. The sheer exhilaration of participating in a religious revival with hundreds and perhaps thousands of people inspired the dancing, shouting, and singing associated with these events. Probably the largest camp meeting was at Cane Ridge, Kentucky, in August 1801; between 10,000 and 25,000 people attended.

Ở khu vực Appalachian, phong trào phục hưng tôn giáo có những nét đặc điểm giống Cơn giác ngộ vĩ đại của thế kỷ trước. Nhưng tại đây, trung tâm của phong trào phục hưng là những cuộc gặp gỡ trong lều - một nghi lễ tôn giáo kéo dài nhiều ngày cho nhóm tín đồ phải lưu lại nơi hành lễ vì quá xa nhà. Những người tiên phong ở vùng thưa thớt dân cư đã tìm đến những buổi hành lễ trong lều làm nơi trốn tránh cuộc sống đơn côi nơi biên ải. Niềm hân hoan từ việc tham gia buổi lễ phục hưng tôn giáo cùng với hàng trăm và có lẽ hàng nghìn người đã thôi thúc họ vui ca, nhảy múa, hò hét thâu suốt các buổi lễ.

The great revival quickly spread throughout Kentucky, Tennessee, and southern Ohio, with the Methodists and the Baptists its prime beneficiaries. Each denomination had assets that allowed it to thrive on the frontier. The Methodists had a very efficient organization that depended on ministers -- known as circuit riders -- who sought out people in remote frontier locations. The circuit riders came from among the common people and possessed a rapport with the frontier families they hoped to convert. The Baptists had no formal church organization. Their farmer preachers were people who received "the call" from God, studied the Bible, and founded a church, which then ordained them. Other candidates for the ministry emerged from these churches, and established a presence farther into the wilderness. Using such methods, the Baptists became dominant throughout the border states and most of the South.

Phong trào phục hưng tôn giáo nhanh chóng lan khắp các bang Kentucky, Tennesssee và miền Nam bang Ohio, trong đó người hưởng lợi chủ yếu là tín đồ Giám lý và Baptist. Mỗi giáo phái đều có tài sản giúp họ trở nên hưng thịnh ở miền biên ải. Các tín đồ Giám lý có bộ máy tổ chức rất hiệu quả, chủ yếu dựa vào các mục sư - hay còn gọi là những kỵ sỹ kinh lý - tìm đến những con người sinh sống ở khu vực biên giới xa xôi. Các kỵ sỹ kinh lý đến với dân thường để giúp đỡ họ gây dựng quan hệ với các gia đình sống ven biên giới. Họ hy vọng sẽ cải biến những con người này thành những tín đồ. Những người thuộc Giáo phái Baptist không có tổ chức giáo hội chính thức. Những người giảng đạo kiêm chủ trang trại của họ đqược tôn vinh là "những người nhận được lời hiệu triệu của Chúa Trời". Họ học kinh thánh và lập nhà thờ nơi sau này chính họ sẽ được thụ phong. Những ứng viên mục sư khác cũng xuất phát từ các nhà thờ này, giúp giáo phái Baptist thiết lập được sự hiện diện xa hơn vào miền đất hoang sơ. Sử dụng những phương pháp như vậy, giáo phái Baptist đã đóng vai trò chủ đạo ở khắp các bang giáp biên giới và hầu hết miền Nam.

The Second Great Awakening exercised a profound impact on American history. The numerical strength of the Baptists and Methodists rose relative to that of the denominations dominant in the colonial period -- Anglicans, Presbyterians, and Congregationalists. The growing differences within American Protestantism reflected the growth and diversity of an expanding nation.

Cơn giác ngộ vĩ đại lần hai đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới lịch sử nước Mỹ. Sức mạnh của các tín đồ Baptist và Giám lý đã gia tăng đáng kể so với những giáo phái chủ đạo khác thời thuộc địa - Anh giáo, Giáo hội Trưởng lão và những người theo giáo đoàn. Sự khác biệt ngày càng lớn trong nội bộ giáo hội Tin Lành Hoa Kỳ đã phản ảnh sự lớn mạnh và đa dạng của một dân tộc đang vươn dậy.

P1    P2      P3        P5    P6    P7    P8    P9    P10    P11    P12    P13    P14    P15

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn