MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, July 2, 2012

China buys up the world Trung Quốc mua cả thế giới




China buys up the world
Trung Quốc mua cả thế giới

The Economist, Nov 11th 2010

The Economist, 11/11/2010

And the world should stay open for business

Và thế giới phải  mở cửa cho Trung quốc kinh doanh
IN THEORY, the ownership of a business in a capitalist economy is irrelevant. In practice, it is often controversial. From Japanese firms’ wave of purchases in America in the 1980s and Vodafone’s takeover of Germany’s Mannesmann in 2000 to the more recent antics of private-equity firms, acquisitions have often prompted bouts of national angst.


Trên lý thuyết, sở hữu chủ của một doanh nghiệp trong một nền kinh tế tư bản thì không quan trọng. Trên thực tế thì đây lại là một điều gây bàn cãi. Từ làn sóng các công ty Nhật mua lại các doanh nghiệp Mỹ trong những năm 1980 và việc Vodafone (Anh) sở hữu hãng Mannesmann của Đức vào năm 2000 cho đến những hành động ngông cuồng gần đây của các công ty cổ phần tư nhân, việc sang nhượng các công ty đã thường xuyên dẫn đến những thái độ giận dữ mang tính dân tộc.


Such concerns are likely to intensify over the next few years, for China’s state-owned firms are on a shopping spree. Chinese buyers—mostly opaque, often run by the Communist Party and sometimes driven by politics as well as profit—have accounted for a tenth of cross-border deals by value this year, bidding for everything from American gas and Brazilian electricity grids to a Swedish car company, Volvo.

Những quan tâm này chắc chắn sẽ tăng lên trong vài năm tới, khi các công ty nhà nước Trung Quốc đang trên đà mua sắm thoải mái. Những khách hàng Trung Quốc - đa phần là ẩn danh, thường do Đảng Cộng sản điều khiển và đôi khi mang động cơ chính trị cũng như lợi nhuận - đã chiếm một phần mười tổng số giá trị từ những thoả thuận liên quốc gia trong năm nay, với việc mua lại tất cả các thứ từ khí đốt Mỹ cho đến mạng điện lực của Brazil cho đến hãng xe Volvo của Thụy Điển.


There is, understandably, rising opposition to this trend. The notion that capitalists should allow communists to buy their companies is, some argue, taking economic liberalism to an absurd extreme. But that is just what they should do, for the spread of Chinese capital should bring benefits to its recipients, and the world as a whole.


Điều dễ hiểu là đang có một sự phản đối ngày càng tăng đối với trào lưu này. Một số người lập luận rằng việc các nhà tư bản để những người cộng sản mua lại những công ty của mình đang đưa chủ nghĩa kinh tế thị trường tự do đến mức cực đoan lố bịch. Nhưng đây lại là việc họ nên làm vì việc phân toả vốn của Trung Quốc sẽ đem lại lợi ích cho họ cũng như cho toàn thế giới.


Why China is different

Not so long ago, government-controlled companies were regarded as half-formed creatures destined for full privatisation. But a combination of factors—huge savings in the emerging world, oil wealth and a loss of confidence in the free-market model—has led to a resurgence of state capitalism. About a fifth of global stockmarket value now sits in such firms, more than twice the level ten years ago.


Tại sao Trung Quốc thì khác

Không bao lâu trước đây, những công ty do nhà nước quản lý thường được xem là một sinh vật bán sinh mà số phận sẽ được tư nhân hoá toàn phần. Nhưng tổng hợp những yếu tố - số tiền tiết kiệm khổng lồ từ những quốc gia đang lên, sự thịnh vượng nhờ dầu hoả và việc mất tin tưởng vào mô hình thị trường tự do - đã dẫn đến việc nổi dậy của chủ nghĩa tư bản do nhà nước quản lý. Có khoảng một phần năm giá trị của thị trường chứng khoán toàn cầu hiện đang nằm trong tay của những công ty này, tăng gấp đôi so với mười năm trước.


The rich world has tolerated the rise of mercantilist economies before: think of South Korea’s state-led development or Singapore’s state-controlled firms, which are active acquirers abroad. Yet China is different. It is already the world’s second-biggest economy, and in time is likely to overtake America. Its firms are giants that until now have been inward-looking but are starting to use their vast resources abroad.


Những quốc gia giàu có đã cho phép sự phát triển của những nền kinh tế trọng thương mại trước đây: Hãy nhớ đến sự phát triển do nhà nước chỉ đạo của Nam Hàn hoặc những công ty do nhà nước quản lý của Singapore, vốn đang là những kẻ sang nhượng tích cực ở nước ngoài. Nhưng Trung Quốc thì khác. Nó hiện đã là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới, và có lúc sẽ bắt kịp Hoa Kỳ. Những công ty khổng lồ của họ mãi cho đến gần đây vẫn chú trọng vào trong nước nhưng cũng đang bắt đầu sử dụng nguồn vốn dồi dào của mình ở nước ngoài.


Chinese firms own just 6% of global investment in international business. Historically, top dogs have had a far bigger share than that. Both Britain and America peaked with a share of about 50%, in 1914 and 1967 respectively. China’s natural rise could be turbocharged by its vast pool of savings. Today this is largely invested in rich countries’ government bonds; tomorrow it could be used to buy companies and protect China against rich countries’ devaluations and possible defaults.


Các công ty Trung Quốc chỉ sở hữu 6% tổng số đầu tư toàn cầu trong các doanh nghiệp quốc tế. Trong lịch sử, những kẻ đứng đầu từng có những cổ phần lớn hơn rất nhiều. Cả Anh vào năm 1914 và Mỹ vào năm 1967đã đạt đỉnh điểm ở mức 50%. Việc đi lên tự nhiên của Trung Quốc có thể được tăng tốc bởi số lượng tiền tiết kiệm khổng lồ của họ. Hiện nay số tiền này được đầu tư chủ yếu vào các công phiếu chính phủ của các quốc gia giàu có; ngày mai nó có thể được dùng để mua lại những công ty và bảo vệ Trung Quốc trước những tình trạng mất giá hoặc có thể bị phá sản của các nước giàu.


Chinese firms are going global for the usual reasons: to acquire raw materials, get technical know-how and gain access to foreign markets. But they are under the guidance of a state that many countries consider a strategic competitor, not an ally. As our briefing explains (see article), it often appoints executives, directs deals and finances them through state banks. Once bought, natural-resource firms can become captive suppliers of the Middle Kingdom. Some believe China Inc can be more sinister than that: for example, America thinks that Chinese telecoms-equipment firms pose a threat to its national security.


Các công ty Trung Quốc vươn ra toàn cầu với những nguyên nhân bình thường: nhằm thâu tóm những nguyên liệu thô, kiến thức kỹ thuật và phương tiện vào các thị trường nước ngoài. Nhưng chúng lại chịu sự chỉ đạo của chính quyền vốn được các quốc gia khác xem như là một đối thủ chiến lược chứ không phải là một đồng minh. Như chúng tôi đã giải thích vắn tắt (xem bài viết ở đây), họ thường xuyên bổ nhiệm các giám đốc, chỉ đạo các thương vụ và cung cấp vốn cho các công ty thông qua các ngân hàng nhà nước. Một khi đã được mua, các công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên có thể trở thành những nhà cung cấp bắt buộc cho Trung Quốc. Một số người tin rằng Công ty Trung Quốc còn gian ác hơn thế: ví dụ, Hoa Kỳ cho rằng các công ty thiết bị viễn thông Trung Quốc đe doạ nền an ninh quốc gia của mình.


Private companies have played a big part in delivering the benefits of globalisation. They span the planet, allocating resources as they see fit and competing to win customers. The idea that an opaque government might come to dominate global capitalism is unappealing. Resources would be allocated by officials, not the market. Politics, not profit, might drive decisions. Such concerns are being voiced with increasing fervour. Australia and Canada, once open markets for takeovers, are creating hurdles for China’s state-backed firms, particularly in natural resources, and it is easy to see other countries becoming less welcoming too.


Các công ty tư nhân từng đóng vai trò lớn trong việc chuyển vận lợi ích của việc toàn cầu hoá. Họ đã bắt cầu cho cả thế giới, phân phối tài nguyên nếu họ thấy hợp lý và cạnh tranh để giành khách hàng. Khái niệm về một chính phủ ẩn danh có thể thống lĩnh hệ thống tư bản toàn cầu thì không hấp dẫn lắm. Các nguồn tài nguyên có thể được phân bố bởi các quan chức chứ không phải là bởi thị trường. Chính trị chứ không phải là lợi nhuận có thể điều khiển các quyết định. Những quan ngại này đang được báo động ngày càng mạnh mẽ. Úc và Canada, từng là những thị trường mở của việc sang nhượng, hiện đang tạo ra những rào cản đối với các công ty nhà nước Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên, và rất dễ dàng để thấy các quốc gia khác cũng không còn mặn mà với việc này.


That would be a mistake. China is miles away from posing this kind of threat: most of its firms are only just finding their feet abroad. Even in natural resources, where it has been most active in dealmaking, it is not close to controlling enough supply to rig the market for most commodities.


Đây là một sai lầm. Trung Quốc thì ở quá xa để có thể gây ra sự đe doạ này: đa phần các công ty chỉ mới đặt chân ra nước ngoài. Ngay cả trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, nơi họ đang tích cực hoạt động, họ vẫn còn rất xa để kiểm soát đủ nguồn cung cấp để làm biến động thị trường của các mặt hàng này.


Nor is China’s system as monolithic as foreigners often assume. State companies compete at home and their decision-making is consensual rather than dictatorial. When abroad they may have mixed motives, and some sectors—defence and strategic infrastructure, for instance—are too sensitive to allow them in. But such areas are relatively few.


Hệ thống của Trung Quốc cũng phải là một khối thống nhất như những người nước ngoài thường tưởng. Các công ty nhà nước cũng phải cạnh tranh trong nước và những quyết định của họ thường từ sự đồng thuận hơn là bị chỉ đạo. Khi ra nước ngoài họ có thể có những động cơ khác nhau, vào một số lĩnh vực - ví dụ như quốc phòng và cơ sở hạ tầng chiến lược - thì quá nhạy cảm để cho phép họ tham gia. Nhưng những lĩnh vực này cũng tương đối ít.


What if Chinese state-owned companies run their acquisitions for politics, not profit? So long as other firms could satisfy consumers’ needs, it would not matter. Chinese companies could safely be allowed to own energy firms, for instance, in a competitive market where customers could turn to other suppliers. And if Chinese firms throw subsidised capital around the world, that’s fine. America and Europe could use the money. The danger that cheap Chinese capital might undermine rivals can be better dealt with by beefing up competition law than by keeping investment out.


Nếu các công ty nhà nước Trung Quốc tiến hành những sự sang nhượng vì chính trị chứ không phải vì lợi nhuận thì sao? Nếu những công ty khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì điều này không quan trọng. Ví dụ như các công ty Trung Quốc có thể xem là an toàn để được phép sở hữu những doanh nghiệp về năng lượng trong một thị trường mang tính cạnh tranh nơi khách hàng có thể lựa chọn những nhà cung cấp khác nhau. Và nếu các công ty Trung Quốc phân bổ vốn do nhà nước hỗ trợ trên khắp thế giới, điều này cũng tốt thôi. Hoa Kỳ và châu Âu có thể sử dụng số tiền này. Mối nguy hiểm về việc tiền vốn đầu tư giá rẻ của Trung Quốc có thể làm tổn hại đến những đối thủ cạnh tranh thì có thể được đối phó bằng cách tăng cường hơn nữa luật cạnh tranh hơn là từ chối việc đầu tư.


Not all Chinese companies are state-directed. Some are largely independent and mainly interested in profits. Often these firms are making the running abroad. Take Volvo’s new owner, Geely. Volvo should now be able to sell more cars in China; without the deal its future was bleak.


Không phải tất cả các công ty Trung Quốc đều do chính quyền quản lý. Một số có sự độc lập cao và chỉ chủ yếu quan tâm vào lợi nhuận. Thường thì các công ty này đang tiến ra nước ngoài. Lấy ví dụ như chủ nhân hiện nay của Volvo là Geely. Giờ đây Volvo có thể bán được nhiều xe hơn ở Trung Quốc; nếu không có sự sang nhượng này, tương lai của Volvo sẽ rất tăm tối.


Show a little confidence

Chinese firms can bring new energy and capital to flagging companies around the world; but influence will not just flow one way. To succeed abroad, Chinese companies will have to adapt. That means hiring local managers, investing in local research and placating local concerns—for example by listing subsidiaries locally. Indian and Brazilian firms have an advantage abroad thanks to their private-sector DNA and more open cultures. That has not been lost on Chinese managers.

Hãy tỏ ra tự tin một tí

Các công ty Trung Quốc có thể đem đến nguồn năng lực và nguồn vốn mới cho các công ty đang suy thoái trên thế giới; nhưng sự ảnh hưởng không chỉ có một chiều. Để thành công ở nước ngoài, các công ty Trung Quốc sẽ phải thích ứng. Điều này có nghĩa là họ phải thuê các giám đốc địa phương, đầu tư vào những nghiên cứu địa phương và thoả mãn những quan tậm địa phương - ví dụ như việc tuyển dụng các công ty con tại địa phương. Các công ty Ấn Độ và Brazil có được lợi thế ở nước ngoài là nhờ lĩnh vực tư nhân và nền văn hoá cởi mở. Điều này cũng không phải là không có đối với các giám đốc Trung Quốc.


China’s advance may bring benefits beyond the narrowly commercial. As it invests in the global economy, so its interests will become increasingly aligned with the rest of the world’s; and as that happens its enthusiasm for international co-operation may grow. To reject China’s advances would thus be a disservice to future generations, as well as a deeply pessimistic statement about capitalism’s confidence in itself.
Sự đi lên của Trung Quốc có thể đem đến lợi ích vượt xa hơn lĩnh vực thương mại nhỏ hẹp. Khi họ đầu tư vào kinh tế thế giới, quyền lợi của họ cũng ngày càng đi cùng hướng với phần còn lại của thế giới; và khi việc này xảy ra, có thể lòng nhiệt tình của họ trong việc hợp tác quốc tế cũng tăng theo. Từ chối sự đi lên của Trung Quốc vì thế sẽ là một bất lợi đối với những thế hệ tương lai và cũng là một tuyên bố đầy bi quan về sự tự tin của chủ nghĩa tư bản.





Translated by Diên Vỹ


http://www.economist.com/node/17463473

No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn