|
|
|
|
Bargaining With Beijing
What China Wants
|
Mặc cả với Bắc Kinh
Trung Quốc muốn gì
|
|
By Andrew J. Nathan
Foreign Affairs, July-August 2011
|
Andrew J. Nathan,
Foreign Affairs, tháng Bảy/tháng Tám 2011
|
|
Henry Kissinger's
new book argues that the United States should yield gracefully to China's
rise; Aaron Friedberg's gives the opposite advice. By focusing on intentions
instead of capabilities, both books overstate China's actual power.
|
Cuốn sách mới của
Henry Kissinger lập luận rằng Hoa Kỳ nên dịu dàng nâng đỡ sự trỗi dậy của
Trung Quốc; nhưng Aaron Friedberg cho lời khuyên ngược lại. Bằng cách tập
trung vào ý định thay vì khả năng, cả hai cuốn sách đều phóng đại quyền lực
thực tế của Trung Quốc.
|
|
As a connoisseur of fine diplomacy, Henry Kissinger finds
a lot of it to admire in China. His new book, cast as a history of Chinese
foreign policy, traces the twists and turns of Chinese strategy since the
establishment of the People's Republic in 1949, quoting liberally from his
numerous conversations with Chinese leaders. But On China is really neither
history nor memoir. Its purpose is to argue that the United States should
yield gracefully to China's rise in order to avoid a tragic conflict.
|
Là một người sành điệu trong nghệ thuật ngoại giao tế nhị,
Henry Kissinger tỏ ra rất khâm phục Trung Quốc (TQ) về nghệ thuật này. Tác
phẩm mới của ông, được viết dưới dạng một cuốn lịch sử ngoại giao TQ, vẽ ra
những khúc mắc chiến lược của TQ kể từ ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa năm 1949, trích dẫn khá nhiều các cuộc hội đàm của ông với một số
lãnh đạo TQ. Nhưng thật ra, cuốn Bàn về Trung Quốc (On China) của Kissinger
chẳng phải là một cuốn lịch sử mà cũng chẳng phải là một hồi ký. Mục đích
chính của nó là nhằm tranh luận rằng Hoa Kỳ (HK) nên tử tế nhượng bộ trước sự
trỗi dậy của TQ để tránh một cuộc xung đột bi thảm.
|
|
Aaron Friedberg gives the opposite advice. A Princeton
professor and former foreign policy adviser to Vice President Dick Cheney, he
analyzes the strategies that China and the United States have used in dealing
with each other since the early 1990s and tries to decipher China's
intentions in the coming decades. In the face of growing Chinese power and
ambition, the United States, he argues, must stand strong in those many areas
in which China's interests are adverse to its own. Together, the two books
offer a window onto the strategic split over China among mainstream
Republicans.
|
Aaron Friedberg lại đưa ra một lời khuyên ngược lại. Hiện
là giáo sư của Đại học Princeton và từng là cố vấn về chính sách đối ngoại
cho Phó Tổng thống Dick Cheney, Friedberg phân tích những chiến lược mà TQ và
HK đã sử dụng để ứng xử với nhau kể từ đầu thập niên 1990 và cố gắng giải mã
những ý định của TQ trong những thập kỷ tới. Ông lý luận rằng, để đối phó với
quyền lực và tham vọng ngày càng lớn của TQ, Hoa Kỳ cần phải giữ thế mạnh
trong nhiều lãnh vực mà lợi ích của hai nước xung khắc lẫn nhau. Cả hai cuốn
sách sẽ hé mở một cánh cửa cho thấy một sự rạn nứt chiến lược giữa các nhân
vật Cộng hòa chính thống về vấn đề TQ.
|
|
Kissinger likens Chinese diplomacy to the game of wei qi
(equivalent to the Japanese game of go), a patient contest of encirclement in
which victory is only relative. Chinese strategists view the quest for a
decisive outcome as illusory. Instead, they play a game of "combative
coexistence," seeking to improve their relative power position amid the
ever-changing forces of world politics. At the necessary moment, one may
deliver a salutary psychological shock and then withdraw, as the Chinese did to
the Indians in 1962 to put a stop to incursions along their contested border,
and as they did to the Soviets in 1969 to deter Moscow from probing Chinese
positions along their frontier. On other occasions, one may hide one's light
and bide one's time, as Deng Xiaoping famously advised his colleagues to do
in 1991, telling them to maintain good relations with the United States while
building up China's strength. Or it might be useful to claim hurt dignity and
designate a whole topic as nonnegotiable, as Beijing did in 1993-94 when U.S.
President Bill Clinton tried to make favorable tariff rates conditional on
improvements on human rights, and as it is doing today over territorial
issues.
|
Kissinger ví chính sách ngoại giao của TQ với môn cờ vây –
weiqi (tương tự như cờ igo của Nhật), một cuộc đọ trí kiên nhẫn bằng chiến
thuật bao vây, trong đó chiến thắng chỉ là tương đối. Các nhà chiến lược TQ
coi một thành quả quyết định là ảo tưởng. Thay vào đó, họ chơi trò “vừa sống
chung vừa đấu đá” (a game of combative coexistence), tìm cách cải tiến địa vị
quyền lực tương đối của mình giữa những thế lực biến chuyển không ngừng của
chính trị thế giới. Vào lúc cần thiết, TQ có thể dàn chào địch thủ bằng một
cú sốc tâm lý rồi rút lui, như họ từng làm với Ấn Độ năm 1962 nhằm chặn đứng
những cuộc xâm lấn vào biên giới tranh chấp giữa hai nước, và như TQ từng làm
với Liên Xô năm 1969 để ngăn chặn không cho Mác-xcơ-va thọc vào những vị trí
của TQ dọc theo biên giới. Trong những trường hợp khác, TQ có thể che đậy ánh
sáng và chờ thời cơ [“thao quang dưỡng hối”], như mọi người đều biết Đặng
Tiểu Bình đã khuyên các đồng chí của mình vào năm 1991, bảo họ phải duy trì
quan hệ tốt đẹp với Hoa Kỳ trong khi xây dựng lực lượng của TQ. Hay có khi
TQ ấy lý do tự ái quốc gia bị tổn
thương để khẳng định toàn bộ một vấn đề nào đó là không thể thương thuyết,
như Bắc Kinh đã làm trong những năm 1993-94 khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton cố
đưa ra những mức thuế quan thuận lợi cho hàng hóa TQ với điều kiện TQ phải
cải thiện nhân quyền, và như TQ đang coi các vấn đề lãnh thổ hiện nay là
không thể thương thuyết.
|
|
Kissinger sees contrasts here with the usual approach of
U.S. diplomats, which often frustrated him when he was running the show.
Where American negotiators tend to compartmentalize issues and seek
solutions, their Chinese counterparts prefer to integrate issues and seek
understandings. Whereas Americans believe that agreements can be reached in
one sector while disagreements are expressed in another, Chinese prefer to
characterize the whole atmosphere as warm or cold, friendly or tense,
creating an incentive for the other side to put disagreements on the back
burner. Whereas Americans are troubled by deadlocks, Chinese know how to
leverage them to keep pressure on the other side. American diplomacy is
transactional; Chinese diplomacy, psychological.
|
Kissinger nhận thấy có những tương phản rõ nét ở đây với
đường lối thông thường của các nhà ngoại giao Mỹ, một điều lắm lúc làm ông
bức xúc trong thời gian ông điều khiển ngành ngoại giao Hoa Kỳ. Trong khi các
nhà thương thuyết Mỹ muốn tách riêng các vấn đề và tìm giải pháp cho từng vấn
đề một, thì các đồng nhiệm TQ lại muốn gộp các vấn đề lại với nhau và tìm
kiếm sự thông cảm từ phía bên kia. Trong khi người Mỹ tin rằng hai bên có thể
đạt được những thỏa thuận trong một lãnh vực nào đó và có thể nêu lên những
bất đồng trên một lãnh vực khác, thì các nhà thương thuyết TQ thích mô tả
toàn bộ bầu không khí là nồng ấm hay lạnh nhạt, thân thiện hay căng thẳng,
tạo động lực để khuyến khích phía bên kia gác lại các bất đồng. Trong khi
người Mỹ lấy làm lo ngại vì những bế tắc, thì phía TQ biết lợi dụng những bế
tắc này để duy trì sức ép lên phía bên kia. Ngoại giao của Mỹ nhằm giải quyết
vấn đề (transactional); ngoại giao của TQ nhằm gây tác động tâm lý
(psychological).
|
|
Kissinger quotes the advice of the ancient military
strategist Sun-tzu, who argued that one can win a battle before it begins by
staking out a dominant political and psychological position. As far back as
the third century, the military commander Zhuge Liang turned back an enemy
army by opening the city gates and sunning himself on the ramparts; this
looked like a trap and frightened away the opposing general. In 1793-94, the
Qianlong emperor fended off the British delegate Lord George Macartney with
smothering hospitality; when Macartney failed to get the point, the court
dismissed him with a note left on a silk chair. In 1958, Mao Zedong received
the Soviet leader Nikita Khrushchev not just at his private swimming pool but
in it, forcing the Soviet leader to negotiate in water wings. When Kissinger
met Zhou Enlai for the first time, in 1971, the premier had arranged his
schedule to leave only two negotiating slots, totaling 13 hours, available
during Kissinger's time in Beijing, forcing the American envoy to agree to a
presidential visit with few details resolved in advance.
|
Kissinger trích dẫn lời khuyên của Tôn Tử, một nhà chiến
lược quân sự cổ đại TQ đã cho rằng người ta có thể nắm được phần thắng trong
tay trước khi ra trận bằng cách trước hết là phải giành lấy ưu thế chính trị
và tâm lý. Thuở xa xưa, vào thế kỷ thứ ba, tư lệnh Gia Cát Lượng đã đẩy lui
một đạo quân của địch bằng cách mở toang các cửa thành rồi lên thành nằm phơi
nắng; sự dàn cảnh này tạo ấn tượng một chiếc bẫy, khiến tướng địch sợ hãi rút
quân. Khoảng năm 1793-94, Hoàng đế Càn Long đã tránh né những yêu cầu của sứ
thần Anh là Lord George Macartney bằng một cuộc tiếp đãi hết sức nồng hậu;
khi Macartney không hiểu được thâm ý của nhà vua, triều đình đã xua đuổi ông
bằng một tờ thư để trên một chiếc ghế lụa. Năm 1958, Mao Trạch Đông không chỉ
tiếp lãnh đạo Xô-viết Nikita Khrushchev tại hồ tắm riêng mà ngay trong hồ
tắm, buộc nhà lãnh đạo Xô-viết phải đàm phán trong khi đang mang phao. Khi
Kissinger gặp Chu Ân Lai lần đầu, năm 1971, thủ tướng TQ đã bố trí thời khắc
biểu của mình thế nào để chỉ dành cho Kissinger hai thời khoản thương thuyết
tổng cộng là 13 giờ trong suốt thời gian Kissinger có mặt tại Bắc Kinh, buộc
nhà ngoại giao Mỹ phải vội vã chấp nhận một cuộc viếng thăm TQ của tổng thống
Mỹ với rất ít chi tiết được giải quyết trước.
|
|
|
|
|
Such tactics make hospitality "an aspect of
strategy," Kissinger explains, leaving a foreign guest awed, discomfited,
or wooed by the host's wealth, generosity, and composure. Chinese diplomats
are adept at the use of friendship, which leaves "the other side . . .
flattered by being admitted to the Chinese 'club' as an 'old friend,' a
posture that makes disagreement more complicated and confrontations
painful," Kissinger writes. As the Manchu diplomat Qiying said about
dealing with the British "barbarians," it was necessary to
"curb them by sincerity."
|
Kissinger giải thích rằng những chiến thuật này đã biến
tính hiếu khách của TQ thành “một khía cạnh chiến lược”, khiến cho khách nước
ngoài phải nễ sợ, bối rối, hoặc bị dụ khị do sự giàu có, hào phóng, và điềm
tĩnh của chủ nhà. Các nhà ngoại giao TQ rất khéo dùng tình hữu nghị, khiến
“phía bên kia… cảm thấy mát lòng [được nịnh] vì được cho gia nhập vào ‘hội
quán’ TQ trong tư cách một ‘người bạn cũ’—đây là một tư thế làm cho việc bất
đồng với họ thêm khó khăn và việc đối đầu với họ trở nên nhức nhối”,
Kissinger viết. Nhà ngoại giao Kỳ Anh của nhà Thanh đã nói về cách ứng sử với
bọn “phiên” Anh (British barbarians) như sau: cần phải “kiềm chế chúng bằng
sự chân thành của mình”.
|
|
It helps to come from an ancient civilization. "The
duration and scale of the Chinese past allow Chinese leaders to use the
mantle of an almost limitless history to evoke a certain modesty in their
opposite numbers," Kissinger writes. His occasional digs at the United
States -- whose foreign policy culture he describes as
"missionary," interventionist, narrow-visioned, and crassly
pragmatic -- show how hard it was to represent a nation that lacks that
asset. At Kissinger and Zhou's first conversation, Zhou ceded seniority to
the United States by comparing the age of the American republic (some 200
years) to that of the People's Republic (22 years). It was flattering, even
though Kissinger knew it was false.
|
Kissinger cho rằng có gốc gác từ một nền văn minh cổ đại
là một lợi thế. “Độ dài và phạm vi rộng lớn của lịch sử TQ cho phép các nhà
lãnh đạo TQ nhận lấy trọng trách của một lịch sử gần như dài bất tận, do đó
có thể gợi lên trong tâm trí người đồng nhiệm ở phía bên kia một sự khiêm
nhượng nhất định”, Kissinger viết. Những lời chỉ trích đây đó của ông nhắm
vào Hoa Kỳ – mà văn hoá đối ngoại được ông mô tả là “có tính truyền giáo”,
theo chủ nghĩa can thiệp, có viễn kiến hẹp hòi, và thực dụng một cách thô bỉ
– chứng tỏ ông đã gặp khó khăn khi đại diện một quốc gia thiếu lợi thế đó.
Trong cuộc đàm luận đầu tiên của Chu Ân Lai và Kissinger, họ Chu đã dành thâm
niên (seniority) cho Hoa Kỳ bằng cách so sánh số tuổi của nước cộng hòa Mỹ
(khoảng 200 năm) với số tuổi của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (22 năm). Cách
so sánh này làm mát lòng người nghe, mặc dù Kissinger biết điều đó là không
thật.
|
|
The problem with Kissinger's book is not the facts. These
are well grounded in the scholarly literature and, throughout much of the
book, in the notes of conversations in which he himself took part. But newer
scholarship has long since called into doubt any essentialism about China's
"singularity," "centrality," or "strategic
patience." Although Kissinger does not use the word, the picture he paints
is of an eternal -- and very Oriental -- China. And it is not clear why
China's long history of diplomacy makes it necessary for the United States to
yield to Chinese preferences in the present. What is lacking for such an
argument is an analysis of the material realities of China's relative power,
which even after 20 years of spectacular economic growth remain in many ways
unfavorable.
|
Vấn đề với cuốn sách của Kissinger không nằm ở sự kiện.
Những sự kiện được đưa ra là có cơ sở vững chắc trong tác phẩm nghiên cứu này
và, đây đó trong cuốn sách, ở những ghi chú về các cuộc đàm đạo mà chính
Kissinger có tham dự. Nhưng từ bấy đến nay những nghiên cứu mới mẻ đã hoài
nghi bất cứ một lý thuyết nào về các yếu tính (essentialism) liên quan đến TQ
như “tính đơn nhất”, “tính trung tâm”, hay “óc nhẫn nại chiến lược”
(singularity, centrality, or strategic patience). Mặc dù Kissinger không nói ra, nhưng bức
tranh ông vẽ lên nói về một nước Trung Hoa trường cửu – và rất đông phương.
Và Kissinger không cắt nghĩa rõ ràng lý do tại sao lịch sử ngoại giao lâu đời
của TQ lại khiến Hoa Kỳ phải nhượng bộ những tham vọng của TQ. Một lập luận
như thế thiếu sự phân tích những thực
tế vật chất tạo nên quyền lực tương đối hiện nay của TQ – thậm chí sau 20 năm
tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, trên nhiều mặt những thực tế vật chất này vẫn
còn rất bất lợi.
|
|
CONTENTIOUS
INTENTIONS
Friedberg also exaggerates Chinese power, although in
pursuit of a different argument. His is the most thoughtful and informative
of a stream of China-threat books that have come out since the mid-1990s.
Within that genre, its contribution is to focus on China's strategic
intentions. Although Friedberg agrees with the classical realist logic that a
change in power relations inevitably generates rivalry, he also believes it
is important to figure out what, as he puts it, China wants.
|
Những ý định lôi
thôi của Trung Quốc
Friedberg cũng phóng đại sức mạnh của TQ, mặc dù ông đi
theo một lập luận khác. Nhưng tác phẩm của ông là một cuốn sách sâu sắc và
đầy đủ thông tin nhất trong một loạt sách nói về hiểm họa TQ được xuất bản từ
giữa thập niên 1990 cho đến nay. Trong thể loại này, sự đóng góp của
Friedberg là tập trung vào những ý định chiến lược của TQ. Mặc dù Friedberg
đồng ý với lô-gic thực tế cổ điển (the classical realist logic), theo đó một
sự thay đổi trong tương quan quyền lực sẽ tất yếu tạo ra cạnh tranh quyền
lực, nhưng ông nghĩ rằng điều quan trọng là phải tìm cho ra TQ thật sự muốn
gì – theo cách diễn tả của ông.
|
|
His method is to synthesize the views of Chinese public
intellectuals who write in Chinese policy magazines roughly similar in
function to Foreign Affairs and in other media. The authors on whom he draws
are professors or fellows (and some graduate students) at universities and
think tanks and a few military officers who work in jobs that allow them to
write books and articles for the general public. Friedberg argues that these
materials "reflect the main currents of 'responsible' opinion"
among Chinese writers, "some of [whom] are known to have access to the
inner circles of the party and state." What he reads these experts as
saying is that China should seek to "displace the United States as the
dominant player in East Asia, and perhaps to extrude it from the region
altogether."
|
Phương pháp của Friedberg là tổng hợp quan điểm của các
nhà trí thức TQ đã công khai viết ra trên các tạp chí nghiên cứu chính sách
TQ có chức năng tương tự như tạp chí Foreign Affairs tại Mỹ và các phương
tiện truyền thông khác. Các tác giả mà ông trích dẫn là giáo sư đại học hay
những nhà nghiên cứu (và một số sinh viên theo đuổi chương trình thạc sĩ và
tiến sĩ) tại các đại học và các viện nghiên cứu chính sách. Ông cũng dựa vào
một số sĩ quan quân đội làm việc trong các ngành được phép viết sách, báo
phục vụ độc giả quần chúng. Friedberg lý giải rằng những tư liệu này “phản
ánh những luồng dư luận chính ‘có trách nhiệm’” trong giới viết lách tại TQ.
“Người ta biết rằng một số trong những nhà văn này được phép tiếp cận với các
giới lãnh đạo trung ương của đảng và nhà nước”. Điều mà ông đọc được từ những
chuyên gia này là, TQ phải tìm cách “thay thế Mỹ trong vai trò khống chế tại
Đông Á, và có thể đẩy Mỹ ra khỏi hẳn khu vực”.
|
|
But this method of assessing Chinese intentions is full of
pitfalls. Authors who write for the Chinese public have to compete for
attention the same way that American public intellectuals do, with edgy views
and vivid writing. And they do not all agree with one another. In fact, the
authors Friedberg cites take varied positions, ranging from that of Senior
Colonel Liu Mingfu, who wants China to become "world number one,"
to that of the scholar Wang Jisi, who emphasizes common interests between
China and the United States. The attempt to synthesize these views creates a
false unity, with Friedberg privileging those of the writers who say the
sharpest things. Moreover, as pointed out by Thomas Christensen in these
pages ( "The Advantages of an Assertive China," March/April 2011),
Chinese policymakers have consistently been more cautious in practice than
the Chinese media have been in their rhetoric. The proper takeaway from
Friedberg's analysis is that the Chinese public has been treated to a rich
diet of nationalist sentimentality, which for whatever reason is permitted --
or perhaps even mandated -- by the propaganda department, which ultimately
controls the Chinese media.
|
Nhưng phương pháp đánh giá các ý định của TQ mà Friedberg
sử dụng có rất nhiều khuyết điểm. Các tác giả viết cho công chúng TQ cần phải
tranh giành sự chú ý của bạn đọc, cũng giống như các trí thức quần chúng
(public intellectuals) tại Mỹ mà thôi, nghĩa là phải có quan điểm gay gắt và
lối viết sống động. Thật vậy, các tác giả mà Friedberg trích dẫn có lập
trường rất khác nhau, từ lập trường của Đại tá Lưu Minh Phúc, một người muốn
TQ trở thành “số một trên thế giới” (world number one), đến lập trường của
học giả Vương Tập Tư, một người nhấn mạnh những lợi ích chung giữa TQ và HK.
Việc Friedberg cố gắng tổng hợp những quan điểm này đã tạo ra một sự hợp nhất
không thật (a false unity), cùng với sự kiện ông chỉ tập trung vào những tác
giả phát biểu những điều sắc bén nhất. Hơn nữa, như Thomas Christensen đã
vạch ra trong tạp chí này [bản dịch trên Bauxite VN, “Những lợi thế của một
Trung Quốc biết khẳng định”, DG], trong thực tế các nhà hoạch định chính sách
TQ luôn luôn thận trọng hơn giọng điệu trên các phương tiện truyền thông TQ.
Điều đáng tiếp thu từ sự phân tích của Friedberg là: dân chúng TQ được báo
đài trong nước thiết đãi những món ăn đầy cảm tính dân tộc chủ nghĩa (a rich
diet of nationalist sentimentality) – dù với bất cứ lý do gì, điều này được
cho phép, hay thậm chí được giao phó bởi ban tuyên giáo, một cơ quan nhiên
hậu kiểm soát hết mọi báo đài TQ.
|
|
By focusing on intentions, Friedberg, like Kissinger,
leaves out any serious accounting of China's capability to achieve the goals
that various writers propose. Such an audit would show that China is bogged
down both internally and in Asia generally. At home, it devotes enormous
resources, including military ones, to maintaining control over the
two-fifths of its territory that comprise Xinjiang and greater Tibet, to
keeping civil order throughout the densely populated and socially unstable
Han heartland, and to deterring Taiwan's independence. Around its borders, it
is surrounded chiefly by two kinds of countries: unstable ones where almost
any conceivable change will make life more difficult for Chinese strategists
(such as Myanmar, North Korea, and the weak states of Central Asia) and
strong ones that are likely to get stronger in the future and compete with
China (such as India, Japan, Russia, and Vietnam). And everywhere on its
periphery, on land and at sea, China faces the powerful presence of the
United States. The U.S. Pacific Command remains the most muscular of the U.S.
military's six regional combatant commands, after the Central Command (which
is managing two ongoing wars), and it continues to adjust its strategies as
China's military modernizes.
|
Bằng cách tập trung vào ý định của TQ, Friedberg, cũng như
Kissinger, đã không đề cập một cách nghiêm túc những khả năng TQ cần phải có
để thực hiện những mục tiêu mà nhiều học giả khác nhau của TQ đã đề xuất. Một
sự kiểm toán như thế, nếu có, sẽ cho thấy rằng TQ đang sa lầy cả trong nước
lẫn tại châu Á nói chung. Ở trong nước, TQ đã dành nhiều nguồn lực hết sức to
lớn, kể cả các nguồn lực quân sự, để duy trì quyền kiểm soát trên 2/5 lãnh
thổ TQ, gồm Tân Cương và Tây Tạng, để duy trì trật tự dân sự khắp miền trung
châu của người Hán quá đông đúc và bất ổn, và để ngăn chặn phong trào độc lập
của Đài Loan. Chung quanh biên giới của mình, TQ bị bao vây chủ yếu bởi hai
loại quốc gia: những nước mất ổn định mà gần như bất cứ một thay đổi nào xảy
ra ở đó đều đặt các nhà chiến lược TQ vào tình trạng khó xử (chẳng hạn Miến
Điện, Bắc Hàn, và các nước nhược tiểu Trung Á) và các quốc gia hùng mạnh có
khả năng vươn lên trong tương lai để cạnh tranh với TQ (như Ấn Độ, Nhật Bản,
Nga, và Việt Nam). Và khắp nơi trên chu vi của TQ, trên bộ và trên biển, TQ
đều phải đối mặt với sự hiện diện hùng hậu của Hoa Kỳ. Bộ Tư lệnh Thái Bình
Dương của Hoa Kỳ vẫn là một lực lượng có cơ bắp lớn nhất trong sáu bộ tư lệnh
chiến đấu khu vực (regional combatant commands) của quân lực Hoa Kỳ, chỉ đứng
sau Bộ Tư lệnh Trung ương (đang điều hành hai cuộc chiến). Bộ Tư lệnh Thái
Bình Dương tiếp tục điều chỉnh chiến lược của mình trong khi quân đội TQ hiện
đại hóa.
|
|
Friedberg is also imprecise. His title, A Contest for
Supremacy , means one thing; part of his subtitle, the Struggle for Mastery
in Asia , means another -- and neither idea is vindicated by the body of the
book. He is on firmer ground when he writes that "if China's power
continues to grow, and if it continues to be ruled by a one-party
authoritarian regime, its relations with the United States are going to
become increasingly tense and competitive." But friction is not
conflict.
|
Friedberg còn tỏ ra thiếu chính xác, khi nhan đề A Contest
for Supremacy (Cuộc thi đua giành địa vị siêu cường) nói lên một điều, mà một
phần của tiểu đề the Struggle for Mastery in Asia (cuộc tranh đấu giành quyền
bá chủ tại châu Á) lại có nói lên một điều khác – và cả hai ý tưởng này không
được phần chính của cuốn sách biện minh. Nhưng lý luận của ông có phần vững
chãi hơn khi ông viết rằng “nếu quyền lực của TQ tiếp tục gia tăng, và nếu TQ
tiếp tục bị cai trị bởi một chế độ độc tài độc đảng, thì quan hệ Mỹ-Trung sẽ
trở nên ngày càng căng thẳng và cạnh tranh.” Nhưng va chạm không có nghĩa là
xung đột.
|
|
And all this assumes that China's rise will continue
unabated. Friedberg reasonably enough makes this assumption for the purposes
of argument. But it is unlikely to prove correct in the long run because
China's economic and political model faces so many vulnerabilities. To add to
the worries of Chinese leaders, as Friedberg points out, there are U.S.
intentions: "stripped of diplomatic niceties, the ultimate aim of the
American strategy is to hasten a revolution, albeit a peaceful one, that will
sweep away China's one-party authoritarian state." This helps explain
why Chinese leaders act more like people under siege than like people on an
expansionist warpath.
|
Và tất cả điều này dựa trên giả định cho rằng sự trỗi dậy
của TQ sẽ tiếp diễn không ngừng. Một cách chừng mực vừa phải, Friedberg chỉ
đưa ra giả định này với mục đích tranh luận. Nhưng đây không phải là một giả
thuyết có thể đúng về lâu về dài, vì mô hình kinh tế và chính trị TQ đang gặp
phải quá nhiều sơ hở. Chồng chất lên những mối lo âu của giới lãnh đạo TQ,
như Friedberg vạch ra, là những ý đồ của Hoa Kỳ: “gạt bỏ những tế nhị ngoại
giao qua một bên, mục đích sau cùng trong chiến lược Mỹ là thúc đẩy một cuộc
cách mạng, dù là một cuộc cách mạng ôn hòa [diễn biến hoà bình], để cuốn
phăng nhà nước độc tài độc đảng của TQ”. Điều này giúp giải thích tại sao các
lãnh đạo TQ đang hành xử như những kẻ bị vây khốn hơn là những kẻ đang trên
đường đi gây chiến tranh bành trướng.
|
|
Even if China does stay on course, it cannot hope for
anything that can reasonably be called supremacy, or even regional mastery,
unless U.S. power radically declines. Absent that development, it is
implausible that, as Friedberg predicts, "the nations of Asia will
choose eventually to follow the lead of a rising China, 'bandwagoning' with
it . . . rather than trying to balance against it." Instead, the more
China rises, the more most of China's neighbors will want to balance with the
United States, not against it.
|
Cho dù có tiếp tục con đường trỗi dậy của mình, TQ cũng
không hi vọng đạt được một địa vị gọi là siêu cường thế giới, hay thậm chí
một bá quyền khu vực, trừ phi quyền lực Mỹ suy yếu quá đột ngột. Trừ khả năng
ấy ra, sẽ không có chuyện, như Friedberg tiên đoán, “các quốc gia châu Á cuối
cùng sẽ quyết định đi theo sự lãnh đạo của một TQ đang lên, ‘hùa theo’ TQ…
chứ không cố tình đối trọng với TQ”. Thay vì như vậy, TQ càng vươn dậy, thì
hầu hết các láng giềng của TQ càng muốn đứng với Hoa Kỳ để quân bình quyền
lực với TQ, chứ không chống lại Hoa Kỳ.
|
|
REACTING TO RISE
Kissinger ends his book with a policy recommendation that
is disappointingly brief and imprecise. He urges the creation of a Pacific
Community, "to which the United States, China, and other states all
belong and in whose peaceful development all participate." But why
should the United States yield so much authority to China? Every other
potential member of this community will also ask whether such a project would
enhance or reduce its power. The Chinese will wonder why they should bind
themselves to U.S. priorities in this way. Larger Asian powers, such as Japan
and South Korea, will doubt the benefit of submerging themselves in a
U.S.-Chinese condominium. And smaller states will see themselves at risk of
being sold out by their major ally, either China or the United States. The
proposal's premise, that a U.S.-Chinese confrontation must be avoided, is
sound, but it fails to take national interests into account.
|
Phản ứng trước sự
trỗi dậy của Trung Quốc
Kissinger kết thúc cuốn sách của mình bằng một đề xuất
chính sách vắn tắt và thiếu chính xác đến mức đáng thất vọng. Ông thúc đẩy
thành lập một Cộng đồng Thái Bình Dương “mà Hoa Kỳ, Trung Quốc, và các quốc
gia khác trong vùng đều là thành viên và tất cả đều tham gia vào việc phát
triển hoà bình của cộng đồng này”. Nhưng câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Hoa
Kỳ phải nhượng bộ quá nhiều thẩm quyền cho TQ? Mỗi thành viên tiềm năng khác
của cộng đồng cũng sẽ thắc mắc là liệu một dự án như vậy sẽ gia tăng hay làm
suy giảm quyền lực của họ. Người TQ sẽ tự hỏi tại sao họ phải tự ràng buộc
mình vào những ưu tiên của Mỹ qua dự án này. Những cường quốc châu Á, như
Nhật Bản và Nam Hàn, sẽ không tin vào lợi ích của việc tự d́m ḿnh trong một
chế độ công quản Mỹ-Trung. Và các quốc gia nhỏ bé hơn sẽ thấy mình có nguy cơ
bị người anh cả đồng minh bán đứng, dù đó là TQ hay HK. Tiền đề của đề xuất
này, rằng chúng ta cần phải tránh một cuộc đối đầu Mỹ-Trung, là đúng đắn,
nhưng đây là một tiền đề không xét đến các lợi ích quốc gia.
|
|
Friedberg rejects the idea of a two-power condominium in
Asia as appeasement. At the other extreme, he discredits the idea of trying
to delay or derail China's rise as too confrontational. A third option,
"enhanced engagement," is fine as far as it goes, but it places too
much hope in the willingness of Chinese policymakers to cooperate with an
opponent whose interests are not identical to their own. Instead, he
recommends that the United States set proper boundaries for China's rise by
maintaining a favorable balance of power in Asia. This will require the
United States to undertake "costly and difficult measures," such as
maintaining its alliances with Japan and South Korea and its cooperative
relations with most of China's other neighbors, continuing to upgrade its
military posture to match China's military modernization, and balancing its
transpacific trade relationships. In a version of "we have met the enemy
and he is us," Friedberg says that in order to do all this, the United
States must restore its economy, keep its scientific edge, protect its
advanced technology, and maintain its margin of military advantage.
|
Friedberg bác bỏ ý kiến thành lập một chế độ công quản do
hai cường quốc lãnh đạo và coi đó là một sự khoan nhượng vô nguyên tắc
(appeasement). Mặt khác, ông cũng bác bỏ đề nghị làm trì hoãn hay phá hoại sự
trỗi dậy của TQ vì cho như thế là quá trực diện đối đầu (too confrontational).
Lựa chọn thứ ba, “gia tăng cam kết” (enhanced engagement), ở một mức độ nào
đó là có thể chấp nhận, nhưng lập trường này đặt quá nhiều hi vọng vào thiện
chí của các nhà làm chính sách TQ trong việc cộng tác với một đối thủ có lợi
ích bất đồng với lợi ích của họ. Thay vào đó, Friedberg đề nghị Hoa Kỳ phải
vạch ra những ranh giới phù hợp với sự trỗi dậy của TQ, bằng cách duy trì một
cán cân quyền lực thuận lợi tại châu Á. Việc này sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải thực
thi “những biện pháp tốn kém và khó khăn”, như duy trì các liên minh với Nhật
Bản và Nam Hàn và các quan hệ hợp tác với hầu hết các nước láng giềng khác
của TQ, tiếp tục nâng cấp thế đứng quân sự của mình cho phù hợp với chương
trình hiện đại hóa quân đội của TQ, và quân bình các quan hệ thương mại xuyên
Thái Bình Dương. Dựa vào câu “chúng ta đã gặp kẻ thù và nó chính là ta” [ý
nói Hoa Kỳ có những khuyết tật nội tại, DG], Friedberg cho rằng để thực hiện
tất cả những điều trên, Hoa Kỳ phải phục hồi sức mạnh kinh tế, giữ vững lợi
thế khoa học kỹ thuật, bảo vệ công nghệ tân tiến của mình, và duy trì khoảng
cách trong thế mạnh quân sự.
|
|
One can only say amen to the recommendation that the
United States pull up its socks. Such proposals are persuasive with or
without China in the picture, and it is well to reinforce them in the context
of China's rise. But few of them are controversial. That they form the core
of Friedberg's strategy is a sign that the United States' future in Asia is
not as hostage to China's rise as is implied by the alarmist tone of his
earlier chapters. China cannot displace the United States from Asia; only the
United States can. Friedberg's counsel resembles the essence of U.S. policy
for at least the last decade. Certainly, the Obama administration has been
working to do what Friedberg suggests. The United States is hardly "on
track to lose [its] geopolitical contest with China."
|
Người ta chỉ biết cầu nguyện cho cái đề xuất là Hoa Kỳ
phải biết cải thiện chính mình. Những đề nghị loại này là rất thuyết phục dù
có hay không có Trung Quốc trong kịch bản, và chúng cần được tăng cường trong
bối cảnh một nước Trung Hoa đang trỗi dậy. Nhưng thật ra, cũng ít ai tranh
cãi về những đề nghị này. Sự kiện những đề nghị này tạo thành cốt lõi cho
chiến lược mà Friedberg đưa ra là một dấu hiệu cho thấy rằng tương lai của
Hoa Kỳ tại châu Á không bị sự trỗi dậy của TQ đe dọa, như được ám chỉ bằng
giọng điệu báo động của ông trong phần đầu của sách. TQ không thể đẩy HK ra
khỏi châu Á; chỉ có HK tự ý làm việc đó cho mình mà thôi. Lời khuyên của
Friedberg cơ bản phản ánh yếu tính của chính sách Mỹ ít ra trong thập kỷ vừa
qua. Chắc chắn là, chính quyền Obama đã và đang làm những điều như Friedberg
đề nghị. Hoa Kỳ không “có dấu hiệu thua cuộc trong màn thi đua địa chính trị
với TQ”.
|
|
The real target of Friedberg's criticism is not U.S.
policy but "China-watchers in academia, commerce, and government,"
whom he accuses of stifling debate and of "willful, blinkered
optimism." Prominent among these is Kissinger, whom Friedberg
characterizes as part of a "Shanghai Coalition" (more plainly, a
new China lobby) that wants "to avoid criticism of China and to support
good relations." Friedberg's strongest disagreement with this group
concerns the place of human rights in Washington's China policy.
|
Sự chỉ trích của Friedberg không nhắm vào chính sách ngoại
giao của HK, nhưng nhắm vào “các chuyên gia về TQ trong giới hàn lâm, thương
mãi, hay chính quyền” là chính; những người này bị ông lên án là đã bóp nghẹt
tranh luận và có “thái độ lạc quan cố tình và thiển cận” (wilful, blinkered
optimism). Nổi bậc nhất trong đám là Kissinger, người mà Friedberg coi là
thành viên của một “Liên minh Thượng Hải” (nói trắng ra, một tổ chức lobby
mới xuất hiện, phục vụ quyền lợi của TQ), một tổ chức “tránh né việc chỉ trích
TQ và hậu thuẫn quan hệ hữu hảo giữa hai nước”. Bất đồng mãnh liệt nhất của
Friedberg với nhóm này có liên quan đến vai trò của nhân quyền trong chính
sách của Washington đối với TQ.
|
|
If a key technique of Sun-tzu-style diplomacy is to
convince the other side that certain issues are too culturally and
politically sensitive to be discussed, China seems to have secured that part
of the wei qi board when it comes to Kissinger's views on human rights.
Speaking of the immediate post-Tiananmen period, Kissinger says that
"the American advocates of human rights insisted on values they
considered universal" and that such universalism "challenges the
element of nuance by which foreign policy is generally obliged to
operate." He continues: "If adoption of American principles of
governance is made the central condition for progress in all other areas of
the relationship, deadlock is inevitable." These statements combine
three fallacies: that the universality of international human rights is a
matter of opinion rather than international law, that human rights equals
American principles of governance, and that promoting human rights means
holding hostage progress in all other areas.
|
Nếu một thủ thuật chủ yếu của chính sách ngoại giao theo
truyền thống Tôn Tử là thuyết phục phía bên kia tránh thảo luận một số vấn đề
nhất định có tính nhạy cảm chính trị và văn hóa, thì TQ có vẻ đã giành được
phần này trên bàn cờ vây (the wei qi board) nếu chúng ta chấp nhận quan điểm
của Kissinger về nhân quyền. Bàn về giai đoạn tiếp theo sau biến cố Thiên An
Môn, Kissinger nói rằng “những người Mỹ kêu gọi nhân quyền nhấn mạnh những
giá trị mà họ cho là phổ quát” và tính phổ quát ấy “phản lại yếu tố tế nhị,
theo đó chính sách đối ngoại thường bị bó buộc phải vận hành”. Ông nói tiếp:
“Nếu coi việc chấp nhận các nguyên tắc điều hành quốc gia kiểu Mỹ là điều
kiện chủ yếu để xúc tiến tất cả các lãnh vực khác của mối quan hệ giữa hai
nước, thì bế tắc là điều không thể tránh”. Những phát biểu này của Kissinger
có ba điều sai lầm: rằng tính phổ quát của các nhân quyền quốc tế là một vấn
đề tùy theo quan niệm chứ không phải là luật pháp quốc tế, rằng nhân quyền
đồng nghĩa với các nguyên tắc điều hành quốc gia kiểu Mỹ, và rằng cổ vũ cho
nhân quyền có nghĩa là đe dọa sự tiến bộ trong mọi lãnh vực khác của chính
sách đối ngoại.
|
|
Friedberg's counterargument is persuasive. Showing
softness on core values will reinforce the view of many Chinese that the
United States is in decline, thus encouraging China to miscalculate U.S.
resolve. As Friedberg writes, "Soft-pedaling talk of freedom will not
reassure China's leaders as much as it will embolden them." He tellingly
applies Kissinger's insight into the emollient effects of friendship to
Kissinger himself, arguing that the Shanghai Coalition's members are motivated
in part by "the psychic rewards that come from believing that they are
helping to promote peace and the gratification of being revered and well
treated by Beijing."
|
Lý luận phản biện của Friedberg là rất thuyết phục. Nếu
Hoa Kỳ tỏ ra mềm yếu đối với các giá trị cốt lỏi, thái độ này sẽ tăng cường
quan điểm của nhiều nhà lãnh đạo TQ rằng Hoa Kỳ đang suy yếu, vì vậy sẽ khuyến
khích TQ tính toán sai lầm quyết tâm của HK. Như Friedberg viết, “Nếu không
đặt nặng vấn đề tự do trong các cuộc thương thuyết, Hoa Kỳ sẽ trấn an các
lãnh đạo TQ thì ít nhưng khuyến khích họ trở nên liều lĩnh thì nhiều”.
Friedberg thẳng thắn áp dụng quan điểm của Kissinger về những hiệu ứng hòa
dịu của tình hữu nghị vào chính bản thân Kissinger, bằng cách tranh luận rằng
những thành viên của Liên minh Thượng Hải được thúc đẩy một phần do “các phần
thưởng tâm lý phát xuất từ việc tin rằng họ đang giúp gìn giữ hòa bình và từ
sự thoả mãn vì được Bắc Kinh kính nễ và tiếp đãi tử tế”.
|
|
It is no wonder that Chinese statecraft aims to establish
the cultural relativity of human rights and to pose talk of human rights as
the enemy of friendship. After all, the failure to respect human rights is a
glaring weakness of Chinese power both at home and abroad, whereas promoting
human rights has been among the United States' most successful maneuvers on
the wei qi board of world politics. What is surprising is that the United
States' master strategist wants to play this part of the game by Beijing's
rules. Would it not make more sense to emulate Chinese strategy than to yield
to it? Emphasizing the principled centrality of the human rights idea to
American ideology and keeping the issue active in bilateral relations even
though it cannot be solved would seem to be -- along with exercising the
United States' strengths in other fields -- a good way to set the boundaries
within which a rising Chinese power can operate without threatening U.S.
interests.
|
Thảo nào, chính sách ngoại giao của TQ cố tình coi nhân
quyền chỉ có giá trị tương đối tùy theo văn hóa từng quốc gia và coi vấn đề
nhân quyền như một kẻ thù của tình hữu nghị. Dẫu sao, việc không tôn trọng
nhân quyền là một yếu kém nổi bật của TQ ngay trong nước cũng như ở nước
ngoài, trong khi đó chủ trương bảo vệ nhân quyền lâu nay vẫn là một trong
chiến thuật thành công nhất của Hoa Kỳ trên bàn cờ vây (wei qi) của chính trị
thế giới. Điều đáng ngạc nhiên là, nhà chiến lược lỗi lạc của Hoa Kỳ [tức
Kissinger] muốn chơi cờ vây theo luật chơi của Bắc Kinh. Thiết tưởng ta có
nên bắt chước chiến lược này của TQ thay vì chỉ nhường bước cho nó? Nhấn mạnh
vai trò trung tâm có nguyên tắc của chủ trương nhân quyền trong ý thức hệ Mỹ
và tích cực nuôi dưỡng vấn đề nhân quyền trong các quan hệ song phương cho dù
không thể tìm ra giải pháp cho nó – cùng với việc sử dụng thế mạnh của Hoa Kỳ
trong các lãnh vực khác -- tỏ ra là một phương cách hữu hiệu để tạo ra những
hạn giới, trong đó một cường quốc Trung Hoa đang trỗi dậy có thể hoạt động mà
không đe dọa các lợi ích của Hoa Kỳ.
|
|
Andrew J. Nathan,
Ph.D is Class of 1919 Professor of Political Science at Columbia
University. His teaching and research
interests include Chinese politics and foreign policy, the comparative study
of political participation and political culture, and human rights. He is the
author of China's Transition, China's Crisis: Dilemmas of Reform and
Prospects for Democracy, and Chinese Democracy and co-author with Bruce
Gilley, China's New Rulers: The Secret Files.
|
Andrew J. Nathan,
tiến sĩ là hạng 1919, Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Columbia. Giảng
dạy và quan tâm nghiên về chính trị và chính sách đối ngoại của Trung Quốc,
nghiên cứu so sánh về chính trị và văn hóa chính trị, và quyền con người. Ông
là tác giả của Chuyển đổi của Trung Quốc, Khủng hoảng của Trung Quốc: tình
thế lưỡng nan của việc cải cách và triển vọng cho Dân chủ và Dân chủ Trung Hoa,
và đồng tác giả Bruce Gilley, Các Nhà cai trị mới của Trung Hoa: Hồ sơ mật.
|
|
|
|
|
|
Translated by Tran Ngoc Cu
|
|
http://www.foreignaffairs.com/articles/67926/andrew-j-nathan/what-china-wants?page=show
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Monday, July 2, 2012
Bargaining With Beijing What China Wants Mặc cả với Bắc Kinh Trung Quốc muốn gì
China buys up the world Trung Quốc mua cả thế giới
|
|
|
|
China buys up the
world
|
Trung Quốc mua cả
thế giới
|
|
The Economist, Nov 11th 2010
|
The Economist, 11/11/2010
|
|
And the world should
stay open for business
|
Và thế giới phải mở cửa cho Trung quốc kinh doanh
|
|
IN THEORY, the ownership of a business in a capitalist
economy is irrelevant. In practice, it is often controversial. From Japanese
firms’ wave of purchases in America in the 1980s and Vodafone’s takeover of
Germany’s Mannesmann in 2000 to the more recent antics of private-equity
firms, acquisitions have often prompted bouts of national angst.
|
Trên lý thuyết, sở hữu chủ của một doanh nghiệp trong một
nền kinh tế tư bản thì không quan trọng. Trên thực tế thì đây lại là một điều
gây bàn cãi. Từ làn sóng các công ty Nhật mua lại các doanh nghiệp Mỹ trong
những năm 1980 và việc Vodafone (Anh) sở hữu hãng Mannesmann của Đức vào năm
2000 cho đến những hành động ngông cuồng gần đây của các công ty cổ phần tư
nhân, việc sang nhượng các công ty đã thường xuyên dẫn đến những thái độ giận
dữ mang tính dân tộc.
|
|
Such concerns are likely to intensify over the next few
years, for China’s state-owned firms are on a shopping spree. Chinese
buyers—mostly opaque, often run by the Communist Party and sometimes driven
by politics as well as profit—have accounted for a tenth of cross-border
deals by value this year, bidding for everything from American gas and
Brazilian electricity grids to a Swedish car company, Volvo.
|
Những quan tâm này chắc chắn sẽ tăng lên trong vài năm
tới, khi các công ty nhà nước Trung Quốc đang trên đà mua sắm thoải mái.
Những khách hàng Trung Quốc - đa phần là ẩn danh, thường do Đảng Cộng sản
điều khiển và đôi khi mang động cơ chính trị cũng như lợi nhuận - đã chiếm
một phần mười tổng số giá trị từ những thoả thuận liên quốc gia trong năm
nay, với việc mua lại tất cả các thứ từ khí đốt Mỹ cho đến mạng điện lực của
Brazil cho đến hãng xe Volvo của Thụy Điển.
|
|
There is, understandably, rising opposition to this trend.
The notion that capitalists should allow communists to buy their companies
is, some argue, taking economic liberalism to an absurd extreme. But that is
just what they should do, for the spread of Chinese capital should bring
benefits to its recipients, and the world as a whole.
|
Điều dễ hiểu là đang có một sự phản đối ngày càng tăng đối
với trào lưu này. Một số người lập luận rằng việc các nhà tư bản để những
người cộng sản mua lại những công ty của mình đang đưa chủ nghĩa kinh tế thị
trường tự do đến mức cực đoan lố bịch. Nhưng đây lại là việc họ nên làm vì
việc phân toả vốn của Trung Quốc sẽ đem lại lợi ích cho họ cũng như cho toàn
thế giới.
|
|
Why China is
different
Not so long ago, government-controlled companies were
regarded as half-formed creatures destined for full privatisation. But a
combination of factors—huge savings in the emerging world, oil wealth and a loss
of confidence in the free-market model—has led to a resurgence of state
capitalism. About a fifth of global stockmarket value now sits in such firms,
more than twice the level ten years ago.
|
Tại sao Trung Quốc
thì khác
Không bao lâu trước đây, những công ty do nhà nước quản lý
thường được xem là một sinh vật bán sinh mà số phận sẽ được tư nhân hoá toàn
phần. Nhưng tổng hợp những yếu tố - số tiền tiết kiệm khổng lồ từ những quốc
gia đang lên, sự thịnh vượng nhờ dầu hoả và việc mất tin tưởng vào mô hình
thị trường tự do - đã dẫn đến việc nổi dậy của chủ nghĩa tư bản do nhà nước
quản lý. Có khoảng một phần năm giá trị của thị trường chứng khoán toàn cầu
hiện đang nằm trong tay của những công ty này, tăng gấp đôi so với mười năm
trước.
|
|
The rich world has tolerated the rise of mercantilist
economies before: think of South Korea’s state-led development or Singapore’s
state-controlled firms, which are active acquirers abroad. Yet China is
different. It is already the world’s second-biggest economy, and in time is
likely to overtake America. Its firms are giants that until now have been
inward-looking but are starting to use their vast resources abroad.
|
Những quốc gia giàu có đã cho phép sự phát triển của những
nền kinh tế trọng thương mại trước đây: Hãy nhớ đến sự phát triển do nhà nước
chỉ đạo của Nam Hàn hoặc những công ty do nhà nước quản lý của Singapore, vốn
đang là những kẻ sang nhượng tích cực ở nước ngoài. Nhưng Trung Quốc thì
khác. Nó hiện đã là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới, và có lúc sẽ bắt
kịp Hoa Kỳ. Những công ty khổng lồ của họ mãi cho đến gần đây vẫn chú trọng
vào trong nước nhưng cũng đang bắt đầu sử dụng nguồn vốn dồi dào của mình ở
nước ngoài.
|
|
Chinese firms own just 6% of global investment in
international business. Historically, top dogs have had a far bigger share
than that. Both Britain and America peaked with a share of about 50%, in 1914
and 1967 respectively. China’s natural rise could be turbocharged by its vast
pool of savings. Today this is largely invested in rich countries’ government
bonds; tomorrow it could be used to buy companies and protect China against
rich countries’ devaluations and possible defaults.
|
Các công ty Trung Quốc chỉ sở hữu 6% tổng số đầu tư toàn
cầu trong các doanh nghiệp quốc tế. Trong lịch sử, những kẻ đứng đầu từng có
những cổ phần lớn hơn rất nhiều. Cả Anh vào năm 1914 và Mỹ vào năm 1967đã đạt
đỉnh điểm ở mức 50%. Việc đi lên tự nhiên của Trung Quốc có thể được tăng tốc
bởi số lượng tiền tiết kiệm khổng lồ của họ. Hiện nay số tiền này được đầu tư
chủ yếu vào các công phiếu chính phủ của các quốc gia giàu có; ngày mai nó có
thể được dùng để mua lại những công ty và bảo vệ Trung Quốc trước những tình
trạng mất giá hoặc có thể bị phá sản của các nước giàu.
|
|
Chinese firms are going global for the usual reasons: to
acquire raw materials, get technical know-how and gain access to foreign
markets. But they are under the guidance of a state that many countries
consider a strategic competitor, not an ally. As our briefing explains (see
article), it often appoints executives, directs deals and finances them
through state banks. Once bought, natural-resource firms can become captive
suppliers of the Middle Kingdom. Some believe China Inc can be more sinister
than that: for example, America thinks that Chinese telecoms-equipment firms
pose a threat to its national security.
|
Các công ty Trung Quốc vươn ra toàn cầu với những nguyên
nhân bình thường: nhằm thâu tóm những nguyên liệu thô, kiến thức kỹ thuật và
phương tiện vào các thị trường nước ngoài. Nhưng chúng lại chịu sự chỉ đạo
của chính quyền vốn được các quốc gia khác xem như là một đối thủ chiến lược chứ
không phải là một đồng minh. Như chúng tôi đã giải thích vắn tắt (xem bài
viết ở đây), họ thường xuyên bổ nhiệm các giám đốc, chỉ đạo các thương vụ và
cung cấp vốn cho các công ty thông qua các ngân hàng nhà nước. Một khi đã
được mua, các công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên có thể trở thành những
nhà cung cấp bắt buộc cho Trung Quốc. Một số người tin rằng Công ty Trung
Quốc còn gian ác hơn thế: ví dụ, Hoa Kỳ cho rằng các công ty thiết bị viễn
thông Trung Quốc đe doạ nền an ninh quốc gia của mình.
|
|
Private companies have played a big part in delivering the
benefits of globalisation. They span the planet, allocating resources as they
see fit and competing to win customers. The idea that an opaque government
might come to dominate global capitalism is unappealing. Resources would be
allocated by officials, not the market. Politics, not profit, might drive
decisions. Such concerns are being voiced with increasing fervour. Australia
and Canada, once open markets for takeovers, are creating hurdles for China’s
state-backed firms, particularly in natural resources, and it is easy to see
other countries becoming less welcoming too.
|
Các công ty tư nhân từng đóng vai trò lớn trong việc
chuyển vận lợi ích của việc toàn cầu hoá. Họ đã bắt cầu cho cả thế giới, phân
phối tài nguyên nếu họ thấy hợp lý và cạnh tranh để giành khách hàng. Khái
niệm về một chính phủ ẩn danh có thể thống lĩnh hệ thống tư bản toàn cầu thì
không hấp dẫn lắm. Các nguồn tài nguyên có thể được phân bố bởi các quan chức
chứ không phải là bởi thị trường. Chính trị chứ không phải là lợi nhuận có
thể điều khiển các quyết định. Những quan ngại này đang được báo động ngày
càng mạnh mẽ. Úc và Canada, từng là những thị trường mở của việc sang nhượng,
hiện đang tạo ra những rào cản đối với các công ty nhà nước Trung Quốc, đặc
biệt là trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên, và rất dễ dàng để
thấy các quốc gia khác cũng không còn mặn mà với việc này.
|
|
That would be a mistake. China is miles away from posing
this kind of threat: most of its firms are only just finding their feet
abroad. Even in natural resources, where it has been most active in
dealmaking, it is not close to controlling enough supply to rig the market
for most commodities.
|
Đây là một sai lầm. Trung Quốc thì ở quá xa để có thể gây
ra sự đe doạ này: đa phần các công ty chỉ mới đặt chân ra nước ngoài. Ngay cả
trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, nơi họ đang tích cực hoạt động, họ vẫn
còn rất xa để kiểm soát đủ nguồn cung cấp để làm biến động thị trường của các
mặt hàng này.
|
|
Nor is China’s system as monolithic as foreigners often
assume. State companies compete at home and their decision-making is
consensual rather than dictatorial. When abroad they may have mixed motives,
and some sectors—defence and strategic infrastructure, for instance—are too
sensitive to allow them in. But such areas are relatively few.
|
Hệ thống của Trung Quốc cũng phải là một khối thống nhất
như những người nước ngoài thường tưởng. Các công ty nhà nước cũng phải cạnh
tranh trong nước và những quyết định của họ thường từ sự đồng thuận hơn là bị
chỉ đạo. Khi ra nước ngoài họ có thể có những động cơ khác nhau, vào một số
lĩnh vực - ví dụ như quốc phòng và cơ sở hạ tầng chiến lược - thì quá nhạy
cảm để cho phép họ tham gia. Nhưng những lĩnh vực này cũng tương đối ít.
|
|
What if Chinese state-owned companies run their
acquisitions for politics, not profit? So long as other firms could satisfy
consumers’ needs, it would not matter. Chinese companies could safely be
allowed to own energy firms, for instance, in a competitive market where
customers could turn to other suppliers. And if Chinese firms throw
subsidised capital around the world, that’s fine. America and Europe could
use the money. The danger that cheap Chinese capital might undermine rivals
can be better dealt with by beefing up competition law than by keeping
investment out.
|
Nếu các công ty nhà nước Trung Quốc tiến hành những sự
sang nhượng vì chính trị chứ không phải vì lợi nhuận thì sao? Nếu những công
ty khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì điều này không quan trọng.
Ví dụ như các công ty Trung Quốc có thể xem là an toàn để được phép sở hữu
những doanh nghiệp về năng lượng trong một thị trường mang tính cạnh tranh
nơi khách hàng có thể lựa chọn những nhà cung cấp khác nhau. Và nếu các công
ty Trung Quốc phân bổ vốn do nhà nước hỗ trợ trên khắp thế giới, điều này
cũng tốt thôi. Hoa Kỳ và châu Âu có thể sử dụng số tiền này. Mối nguy hiểm về
việc tiền vốn đầu tư giá rẻ của Trung Quốc có thể làm tổn hại đến những đối
thủ cạnh tranh thì có thể được đối phó bằng cách tăng cường hơn nữa luật cạnh
tranh hơn là từ chối việc đầu tư.
|
|
Not all Chinese companies are state-directed. Some are
largely independent and mainly interested in profits. Often these firms are
making the running abroad. Take Volvo’s new owner, Geely. Volvo should now be
able to sell more cars in China; without the deal its future was bleak.
|
Không phải tất cả các công ty Trung Quốc đều do chính
quyền quản lý. Một số có sự độc lập cao và chỉ chủ yếu quan tâm vào lợi
nhuận. Thường thì các công ty này đang tiến ra nước ngoài. Lấy ví dụ như chủ
nhân hiện nay của Volvo là Geely. Giờ đây Volvo có thể bán được nhiều xe hơn
ở Trung Quốc; nếu không có sự sang nhượng này, tương lai của Volvo sẽ rất tăm
tối.
|
|
Show a little
confidence
Chinese firms can bring new energy and capital to flagging
companies around the world; but influence will not just flow one way. To
succeed abroad, Chinese companies will have to adapt. That means hiring local
managers, investing in local research and placating local concerns—for
example by listing subsidiaries locally. Indian and Brazilian firms have an
advantage abroad thanks to their private-sector DNA and more open cultures.
That has not been lost on Chinese managers.
|
Hãy tỏ ra tự tin một
tí
Các công ty Trung Quốc có thể đem đến nguồn năng lực và
nguồn vốn mới cho các công ty đang suy thoái trên thế giới; nhưng sự ảnh
hưởng không chỉ có một chiều. Để thành công ở nước ngoài, các công ty Trung
Quốc sẽ phải thích ứng. Điều này có nghĩa là họ phải thuê các giám đốc địa
phương, đầu tư vào những nghiên cứu địa phương và thoả mãn những quan tậm địa
phương - ví dụ như việc tuyển dụng các công ty con tại địa phương. Các công
ty Ấn Độ và Brazil có được lợi thế ở nước ngoài là nhờ lĩnh vực tư nhân và
nền văn hoá cởi mở. Điều này cũng không phải là không có đối với các giám đốc
Trung Quốc.
|
|
China’s advance may bring benefits beyond the narrowly
commercial. As it invests in the global economy, so its interests will become
increasingly aligned with the rest of the world’s; and as that happens its
enthusiasm for international co-operation may grow. To reject China’s
advances would thus be a disservice to future generations, as well as a
deeply pessimistic statement about capitalism’s confidence in itself.
|
Sự đi lên của Trung Quốc có thể đem đến lợi ích vượt xa
hơn lĩnh vực thương mại nhỏ hẹp. Khi họ đầu tư vào kinh tế thế giới, quyền
lợi của họ cũng ngày càng đi cùng hướng với phần còn lại của thế giới; và khi
việc này xảy ra, có thể lòng nhiệt tình của họ trong việc hợp tác quốc tế
cũng tăng theo. Từ chối sự đi lên của Trung Quốc vì thế sẽ là một bất lợi đối
với những thế hệ tương lai và cũng là một tuyên bố đầy bi quan về sự tự tin
của chủ nghĩa tư bản.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Translated by Diên Vỹ
|
|
|
|
|
http://www.economist.com/node/17463473
|
|
The New American Might in the 21st Century Vũ Đức Khanh - Một sức mạnh mới của Hoa Kỳ trong thế kỷ 21
|
|
|
|
The New American
Might in the 21st Century
|
Vũ Đức Khanh - Một
sức mạnh mới của Hoa Kỳ trong thế kỷ 21
|
|
by Khanh Vu Duc
Asia Sentinel, 22 June 2012
|
Vũ Đức Khanh
Asia Sentinel, 22/6/2012
|
|
Faced with the
prospect of downsizing its military, the United States must adjust
accordingly if it hopes to carry out its foreign policy objectives
|
Đối mặt với tiềm
năng thu nhỏ quy mô quân sự của mình, Hoa Kỳ phải điều chỉnh cho phù hợp nếu
nó hy vọng sẽ thực hiện mục tiêu chính sách đối ngoại.
|
|
The United States’ pivot to Asia-Pacific has more than
ruffled a few feathers in China, with Beijing regarding it to be intrusive
and opportunistic. For some countries in the region, concerned by China’s
increasing assertiveness, the arrival of the US can only be a good thing.
Yet, in this period of austerity when the US is marked to reduce its defense
budget, what exactly will be its role in the region?
|
Chính sách chuyển trục của Hoa Kỳ vào khu vực châu Á-Thái
Bình Dương không phải chỉ là biểu hiện xù lông đập cánh làm phiền Trung Quốc,
với việc Bắc Kinh xem đấy như một sự xâm nhập và cơ hội. Đối với một số nước
trong khu vực, lo lắng vì tính quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc, sự
xuất hiện của Mỹ chỉ có thể là một điều lợi. Tuy nhiên, trong giai đoạn thắt
lưng buộc bụng này, khi Hoa Kỳ phải chú ý đến việc giảm ngân sách quốc phòng
của mình, vai trò chính xác trong khu vực của Hoa kỳ là gì?
|
|
Undoubtedly, that role will be much reduced, requiring
greater cooperation among allies to achieve its objectives. To that end,
building alliances will become critical to US success in the region; however,
in selecting strategic partners, the US must be sure in picking the right
one.
|
Không còn nghi ngờ gì nữa, vai trò đó sẽ phải bị suy giảm
đi rất nhiều, đòi hỏi đến sư hợp tác hơn nữa giữa các đồng minh nhằm đạt được
mục tiêu của mình. Để được như thế, việc xây dựng các đồng minh sẽ trở nên
quan trọng cho sự thành công của Mỹ trong khu vực, tuy nhiên, trong việc lựa
chọn đối tác chiến lược, Mỹ phải chắc chắn trong việc lựa chọn một đối tác
đúng.
|
|
Returning to
Asia-Pacific
If the 21st century should belong to the Pacific, it is
clear the United States wishes to be a part of it. The US has recently and
frequently described itself as a “Pacific nation,” as if to give the
impression that its transition to the Pacific theatre is natural. To be
clear, US interests in Asia-Pacific date as far back as the 19th century,
with its abortive Philippine–American War being quite disastrous; and the
century after saw further US involvement in various Asia countries before,
during, and following World War II, including China, Japan, Korea and
Vietnam.
|
Quay lại khu vực
châu Á-Thái Bình Dương
Nếu như thế kỷ 21 phải thuộc về khu vực Thái Bình Dương,
rõ ràng Hoa Kỳ muốn là một phần của khu vực ấy. Gần đây, Hoa Kỳ đã thường
xuyên mô tả mình như là một "quốc gia Thái Bình Dương," như thể để
tạo ấn tượng rằng quá trình chuyển đổi của mình đến sân khấu Thái Bình Dương
là điều tự nhiên. Minh định cho rõ, quyền lợi của Mỹ trong khu vực châu
Á-Thái Bình Dương đã có lâu từ thế kỷ 19, với cuộc chiến tranh sớm dở dang,
tại hại giữa Mỹ và Pilippines và ngay thế kỷ sau đó nhìn thấy sự tham dự
nhiều hơn của Mỹ trong các nước Châu Á khác nhau, vào thời gian trước, trong
và sau chiến tranh thế giới thứ Hai, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
và Việt Nam.
|
|
It would be erroneous to believe that the US has ever
truly left the Pacific. The US Seventh Fleet, based out of Japan since the
Second World War, serves to project American power throughout the region. It
would seem that the past decade was, in context of the past century, an
outcome of the September 11, 2001, terrorist attacks. That devastating
morning would have far-reaching effects on American foreign policy. The US
would reorient its military, intelligence, and law enforcement services to
tackle terrorism, primarily in the Middle East and Central Asia, at the
expense of its commitments elsewhere.
|
Sẽ là điều sai lầm để tin rằng Hoa Kỳ từng thực sự rời
khỏi khu vực Thái Bình Dương. Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, đồn trú ngoài khơi Nhật
Bản kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, đã phục vụ cho việc phóng chiếu sức
mạnh của Mỹ trong khu vực. Có vẻ như trong thập kỷ qua, dưới bối cảnh của thế
kỷ trước, là một kết quả từ những cuộc tấn công của khủng bố vào ngày 11
tháng 9 năm 2001. Đó là một buổi sáng tàn phá vốn đã có ảnh hưởng sâu rộng về
chính sách đối ngoại của Mỹ. Hoa Kỳ đã phải định hướng lại tình báo quân đội
của mình và các dịch vụ thực thi pháp luật để giải quyết nạn khủng bố, chủ
yếu ở Trung Đông và Trung Á, bằng chi phí của các cam kết của mình ở những
nơi khác.
|
|
For the first decade of the 21st century, the America’s
War on Terror has defined and dictated the direction of the country.
|
Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, chiến chống khủng bố
của Mỹ đã được xác định và chi phối hướng đi của đất nước.
|
|
To Work with Others
However, as American operations in Iraq have wound down
and with Afghanistan soon to follow, Washington is free to shift its focus
back to the Asia-Pacific. This has had the predictable effect of annoying
China, whose increasing wealth and stature on the international stage has
allowed the country to be bold in asserting its presence, which has alarmed
its neighbors. The Philippines and Vietnam have been most vocal in their
opposition to China’s assertiveness, particularly as it relates to the South
China Sea disputes.
|
Để hợp tác, làm việc
với các nước khác
Tuy nhiên, khi hoạt động của Mỹ ở Iraq và tiếp theo là
Afghanistan đã tổn thương, suy giảm đi, Washington được rảnh tay để chuyển
hướng tập trung trở lại về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này đã có tác
dụng dự đoán được của một nước Trung Quốc phiền nhiễu, đất nước đang gia tăng
sự thịnh vượng và vị thế trên trường quốc tế, cho phép họ lên mặt táo bạo
trong việc khẳng định sự hiện diện của mình, khiến đã cảnh báo các nước láng
giềng. Philipppine và Việt Nam đã có tiếng nói mạnh mẽ trong lời phản đối của
mình đến sự quyết đoán của Trung Quốc, đặc biệt khi có liên quan đến các
tranh chấp ở Biển Đông.
|
|
In the face of potentially deep cuts to its defense
budget, the US has adopted a more multilateral approach to its Asia-Pacific
pivot, more than willing to take the lead on affairs but to share the
responsibility among partners.
|
Đối diện với những khả năng phải cắt giảm sâu đến ngân
sách quốc phòng của mình, Mỹ đã theo đuổi một cách tiếp cận đa phương cho
trục châu Á-Thái Bình Dương, với việc sẵn sàng dẫn đạo các sự kiện nhưng đa
phần là chia sẻ trách nhiệm giữa các đối tác.
|
|
During his visits to Singapore, Vietnam, and India in May
through June of this year, it fell upon Defense Secretary Leon Panetta to
outline the future of America in the region. In brief, the secretary stated
that the US pivot had little to do with China and more to do with promoting
regional stability. Among key concerns listed by Secretary Panetta were
narcotics and human trafficking, terrorism, and piracy, as well as North
Korea. Far from acting alone, the US would seek assistance from its partners,
for these matters not only concern the US but regional countries as well.
|
Trong chuyến thăm Singapore, Việt Nam, và Ấn Độ từ tháng
năm qua tháng sáu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta là người đã phác
thảo tương lai của Mỹ trong khu vực. Nói một cách vắn tắt, vị bộ trưởng đã
tuyên bố rằng trục chuyển của Hoa Kỳ không có liên quan gì nhiều đến Trung
Quốc mà đa phần là về thúc đẩy ổn định trong khu vực. Trong số các mối quan
tâm chính được lbộ trưởng Panetta liệt kê là nạn buôn người, ma tuý, khủng
bố, vi phạm bản quyền đồng thời cả vấn đề Bắc Triều Tiên. Gầnnhư hoàn toàn
không hành động đơn độc, Hoa Kỳ sẽ tìm kiếm hỗ trợ từ các đối tác của mình,
về các vấn đề không chỉ liên quan đến Mỹ mà còn là vì tất cả các nước trong
khu vực.
|
|
In response these threats, the secretary announced the
Unites States would provide advice and assistance to help improve the
military capabilities of its partners. From his participation in the
Shangri-La Dialogue and meeting face-to-face with his counterparts from
Singapore, Vietnam, and India, among other nations, Secretary Panetta,
accompanied by senior government and military officials, gave the appearance
of someone hard at work to spread news of America’s return to the Pacific. As
was the case with Libya, the United States will no longer be the primary or
sole actor, but a facilitator, helping others in achieving shared objectives.
|
Để giải quyết những hiểm họa trên, bộ trưởng đã công bố
rằng Hoa Kỳ sẽ cung cấp tư vấn và hỗ trợ để giúp cải thiện khả năng quân sự
cho các đối tác của họ. Từ sự tham gia trong Đối thoại Shangri-La và các cuộc
hội kiến trực diện với các đối tác của mình từ Singapore, Việt Nam, Ấn Độ và
giữa các quốc gia khác, của mình, bộ trưởng Panetta, tháp tùng bởi các viện
chức quân sự và chính phủ cao cấp, đã đem đến sự xuất hiện của những người
hoạt động cần mẫn nhằm lan truyền thông tin về sự trở lạiThái Bình Dương của
Mỹ. Như trường hợp với Libya, Hoa Kỳ sẽ không còn là diễn viên chính hoặc duy
nhất, nhưng là một nhà hỗ trợ, giúp đỡ những nước khác trong việc đạt được
các mục tiêu chung.
|
|
Selecting the Right
Partner
The United States will have no trouble finding allies in
the Pacific. Traditional allies such as the Philippines, Japan, South Korea,
Thailand and Australia can be counted upon. Other nations such as Singapore
and Indonesia may also be willing to assist or at least provide diplomatic
support for American endeavors in the region. However, in choosing new
partners, the US must be wary of picking the wrong one.
|
Lựa chọn đúng đối
tác
Hoa Kỳ sẽ không có khó khăn trong việc tìm kiếm đồng minh
ở khu vực Thái Bình Dương. Các đồng minh truyền thống như Philippines, Nhật
Bản, Nam Hàn, Thái Lan và Australia có thể trông cậy được. Các quốc gia khác
như Singapore và Indonesia cũng có thể sẵn sàng hỗ trợ hoặc ít nhất là cung
cấp những hỗ trợ ngoại giao cho các nỗ lực của Mỹ trong khu vực. Tuy nhiên,
trong việc lựa chọn một đối tác mới, Hoa Kỳ cần phải cảnh giác để không chọn
lựa sai.
|
|
It has been the position of the US that closer ties with
Vietnam, particularly in the area of selling arms, are subject to human
rights improvement by the Vietnamese government. Improvements in these areas
to date have been found lacking; and true to their word, the US has so far
refrained from selling weapons to Vietnam.
|
Mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam, đặc biệt là trong
lĩnh vực bán vũ khí, là tùy thuộc vào việc cải thiện nhân quyền ở Viêt Nam đã
từng là quan điểm của Hoa Kỳ. Cho đến nay, các cải thiện trong những lĩnh vực
này vẫn còn thiếu sót, và đúng như lời mình đã cảnh báo, cho đến nay Mỹ vẫn
không bán vũ khí cho Việt Nam.
|
|
All of this stands to change should the situation in the
Pacific become too unfavorable to the US. If this is the case, the US cannot
sacrifice its moral standing on the matter for the sake of short-term gains
and convenience.
|
Tất cả các các lập trường này sẽ thay đổi nếu tình hình ở
Thái Bình Dương trở nên quá bất lợi cho Mỹ. Và nếu là như thế, Mỹ sẽ không
thể hy sinh uy tín đạo đức của mình để cứ giữ lập trường cũ mà bỏ qua cơ hội
thuận tiện và đạt được các lợi ích ngắn hạn.
|
|
How can a government with a proven and consistent record
of human rights abuse be trusted to appropriately handle armaments intended
for national defense? These are not the foundations upon which one builds a
partnership. The US should be wary of affording Vietnam any goodwill when its
leaders are intent on protecting their self-interest at the expense of its
citizens. Vietnam can be a valuable strategic partner in the Pacific, but it
must first change.
|
Làm thế nào mà một chính phủ từng có kỷ lục liên tục và
từng được chứng minh về các vi phạm nhân quyền có thể được tin cậy để xử lý
thích hợp các vũ khí dành cho quốc phòng? Đây không phải là căn bản để xây
dựng một quan hệ đối tác. Mỹ nên thận trọng khi chấp nnận bất cứ thiện chí
nào của Việt Nam khi các nhà lãnh đạo đất nước này có ý định bảo vệ lợi ích
bản thân của họ bằng cái giá phải trả của các công dân mình. Việt Nam có thể
là một đối tác có giá trị chiến lược tại Thái Bình Dương, nhưng trước tiên đất
nước này phải thay đổi.
|
|
A strong, stable, and prosperous relationship between the
US and Vietnam requires a Vietnam that is democratic, and respective of the
rights and privileges of its people. Shared values and beliefs unite nations,
much in the same way the US regards the United Kingdom and the Japan friends,
two historic foes now allies. It is not the Vietnamese people that have
opposed political and human rights reform, but their government.
|
Một mối quan hệ ổn định, thịnh vượng và mạnh mẽ giữa Mỹ và
Việt Nam đòi hỏi đến một nước Việt Nam dân chủ, và tôn trọng các quyền và đặc
quyền của người dân. Các giá trị và niềm tin chung sẽ đoàn kết được hai nước,
như trong cùng một cách mà Hoa Kỳ cư xử với những người bạn Anh Quốc và Nhật
Bản, hai kẻ thù lịch sử hiện trở thành các đồng minh. Chẳng phải là nhân dân
Việt Nam chống lại cải cách chính trị và quyền con người , mà chính là chính
phủ của họ.
|
|
Needless to say, Hanoi must walk a fine line of trying to
develop closer ties with the US without jeopardizing its relationship with
China. It is an unenviable task that requires diplomatic finesse. Still, all
of this can be achieved with a democratic government in place. More than
once, the US has partnered with less than democratic governments leading to
questionable results. If this coming century belongs to the Pacific, and if
the US wishes to be part of this future, it cannot make its return by joining
hands with a regime such as that of Vietnam.
|
Không cần phải nói cũng biết, Hà Nội đang phải đi một
đường cheo leo căng thẳng để có thể phát triển quan hệ gần hơn với Hoa Kỳ mà
không gây nguy hiểm cho mối quan hệ với Trung Quốc. Đó là một nhiệm vụ không
đáng có, đòi hỏi một khả năng ngoại giao khéo léo. Tuy nhiên, tất cả những
điều này có thể đạt được nếu có một chính phủ dân chủ. Hơn một lần, Hoa Kỳ đã
hợp tác với các chính phủ ít dân chủ hơn khiến đưa đến những kết quả khó
khăn. Nếu thế kỷ sắp đến này thuộc về Thái Bình Dương, và nếu Hoa Kỳ muốn là
một phần của tương lai này,họ không thể thực hiện cuộc trở lại của mình bằng
cách bắt tay với một chế độ như của Việt Nam.
|
|
All of this is not to say the US should engage in overthrowing
governments. Rather, it must be willing to do dedicate the time and effort to
help transition authoritarian and single-party states to democracy.
Multilateral instead of unilateral action will offer the best road to
long-term success. If the US wishes to play any part in Asia-Pacific—more
than whatever military assets it can mobilize to the area—America must be
seen to be a trusted ally.
|
Tất cả những điều này không phải là để nói rằng Mỹ nên
tham gia vào việc lật đổ chính phủ. Mà là để nói rằng, Hoa Kỳ phải sẵn sàng
dành thời gian và nỗ lực để giúp các quốc gia độc tài và độc đảng chuyển tiếp
sang dân chủ. Chính hành động đa phương thay vì đơn phương sẽ mang lại các
con đường tốt nhất để thành công về lâu dài. Nếu Hoa Kỳ muốn thủ diễn bất cứ
vai trò nào trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương - hơn cả bất cứ điều gì mà
khả năng quân sự của mình có thể huy động vào khu vực - Hoa Kỳ phải được xem
là một đồng minh đáng tin cậy.
|
|
Khanh Vu Duc is a
Vietnamese Canadian lawyer in Ottawa, focusing on various areas of law. He researches
on International Relations and International Law
|
Vũ Đức Khanh là một
luật sư Người Việt Canada tại Ottawa, chuyên về các lĩnh vực khác nhau của
pháp luật. Ông nghiên cứu về quan hệ quốc tế và Luật quốc tế.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Translated by Lê Quốc Tuấn
|
|
|
|
|
http://www.asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=4621&Itemid=206
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)
