--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------


Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)


Wednesday, October 5, 2011

Is worrying about war with China a self-fulfilling prophecy? Liệu lo lắng về chiến tranh với TQ có là lời tiên tri ứng nghiệm?

Is worrying about war with China a self-fulfilling prophecy?
Liệu lo lắng về chiến tranh với TQ có là lời tiên tri ứng nghiệm?
James Traub - 2-9-2011
Is it possible that, a decade after 9/11, America has become too preoccupied with the threat from "nonstate actors" and too complacent about the more classic dangers posed by powerful and self-aggrandizing states? Or, put more succinctly, how afraid of China should the United States be?
Mười năm sau vụ khủng bố 11/9/2001, phải chăng Mỹ đã quá bận tâm với những đe dọa của các phe nhóm mà lơ là với hiềm họa từ các nước lớn đang vỗ ngực xưng hùng? Hay, nói trắng ra, Mỹ phải sợ Trung Quốc (TQ) tới mức nào?
We know, of course, that China owns $1.5 trillion worth of U.S. Treasury bills and thus has the U.S. economy by the short hairs; that China refuses to significantly revalue the renminbi and thus retains its colossal imbalance in trade with the United States; and that China has begun to buy American real estate and other assets (including, perhaps, the Los Angeles Dodgers). But should Americans regard China as a national security threat and not merely an economic one?
Hẳn nhiên, chúng ta biết rằng TQ đang giữ trong tay một số trái phiếu kếch xù của Bộ Tài chính Mỹ trị giá 1.500 tỉ đôla và vì thế đang chi phối nền kinh tế Mỹ; rằng TQ không chịu định lại giá đồng nhân dân tệ một cách đáng kể và vì thế vẫn duy trì bất quân bình mậu dịch quá lớn đối với Mỹ; và rằng TQ đã bắt đầu mua bất động sản và các tài sản khác của Mỹ (có lẽ gồm cả Đội Bóng chày Los Angeles Dodgers). Nhưng liệu người Mỹ có nên coi TQ là một mối đe dọa an ninh quốc gia thay vì chỉ là một mối đe họa kinh tế hay không?
The authors of "Asian Alliances in the 21st Century," a report published by the Project 2049 Institute, a conservative think tank that focuses on East Asia, insist that we must. (The lead author is American Enterprise Institute scholar Dan Blumenthal of Foreign Policy's Shadow Government blog.) The report concludes that "China's military ambitions threaten America's Asian allies, raise questions about the credibility of U.S. alliance pledges, and imperil the U.S. military strategy that underpins its global primacy."
Các tác giả của bản tường trình “Các Liên minh châu Á trong Thế kỷ XXI”, được xuất bản bởi Viện Dự án 2049, một viện nghiên cứu chính sách bảo thủ về các vấn đề Đông Á, nhấn mạnh rằng chúng ta phải coi TQ là một mối đe doạ an ninh quốc gia. (Tác giả chủ đạo là một học giả thuộc Viện nghiên cứu American Enterprise Institute, Ông Dan Blumenthal, cộng tác viên trang blog Shadow Government của Foreign Policy). Bản tường trình kết luận rằng “tham vọng quân sự của TQ đang đe dọa các đồng minh Mỹ tại châu Á, đặt ra các nghi vấn về sự khả tín trong những cam kết của Mỹ đối với đồng minh, đồng thời đe dọa chiến lược quân sự Mỹ vốn đã từ lâu củng cố vị trí siêu cường của nước này”.
This is startling news to those of us who think of China as a "status quo" power, a view that until recently was widely shared in the academic and policy community. In Power Shift: China and Asia's New Dynamics, published in 2006, David Shambaugh, a leading China scholar, concludes that "China is increasingly seen as a good neighbor, constructive partner, and careful listener." Shambaugh and others wrote then that China had emerged from a long era of suspicion and insularity and had begun to join regional organizations, send peacekeepers to U.N. missions, and improve bilateral relations in the neighborhood. Yes, China's military was rapidly modernizing in ways that gave the Taiwanese a fright, but such signs of belligerence had been offset, Shambaugh concluded, by "bilateral and multilateral confidence-building measures."
Đây là bản tin gây sửng sốt cho những ai trong chúng ta vốn tin rằng TQ là một cường quốc muốn duy trì “nguyên trạng”, một quan điểm cho đến gần đây vẫn được chia sẻ trong cộng đồng nghiên cứu và hoạch định chính sách. Trong cuốn Power Shift: China and Asia’s New Dynamics, xuất bản năm 2006, David Shambaugh, một học giả hàng đầu về TQ, kết luận rằng “Càng ngày TQ càng được coi là một láng giềng tốt, một đối tác có tinh thần xây dựng, và một quốc gia biết lắng nghe”. Shambaugh và một số nhà nghiên cứu khác vào lúc đó đã cho rằng TQ đã ra khỏi một thời kỳ ngờ vực và cô lập lâu dài và đã bắt đầu tham gia các tổ chức khu vực, gửi binh sĩ vào các lực lượng bảo vệ hòa bình của LHQ, và cải thiện quan hệ song phương với các nước láng giềng. Đúng là, quân đội TQ đang hiện đại hóa nhanh chóng trong nhiều phương diện khiến Đài Loan phải lo sợ, nhưng những dấu hiệu hung hăng hiếu chiến như thế đã được quân bình bằng “những biện pháp xây dựng niềm tin song phương và đa phương”, Shambaugh đã kết luận như vậy.

But five years is a long time for a country growing, and changing, as rapidly as China. "Asian Alliances" argues, in effect, that China has now fully emerged from its defensive crouch. In recent years, China has developed a new generation of ballistic and cruise missiles, attack submarines, tactical and stealth aircraft, radar, and space-based intelligence, as well as an anti-satellite missile, which together give it the capacity to establish "contested zones" in air, sea, and space, and thus push the United States further and further out from regions of the Pacific that it has long patrolled and protected. And China's behavior in the neighborhood has turned markedly bellicose, aggressively pursuing its claim to islands in the South China Sea and sending its blue-water navy on long-range exercises off the Japanese coast. It's for this reason that Robert D. Kaplan wrote in the current issue of FP that the future of conflict lies not in the sands of the Middle East but the open water of the South China Sea.
Nhưng 5 năm là một thời gian lâu dài đối với một quốc gia tăng trưởng kinh tế và thay đổi nhanh chóng như TQ. Bản tường trình “Các Liên minh châu Á” lý luận rằng hiện nay TQ đã thật sự ra khỏi thế phòng thủ của mình. Trong những năm gần đây, TQ đã phát triển một thế hệ mới của tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, tàu ngầm tấn công, máy bay chiến lược, máy bay tàng hình, ra-đa, và các phương tiện tình báo đặt ngoài không gian, cũng như tên lửa chống vệ tinh – tất cả các phương tiện chiến tranh này kết hợp lại sẽ cho TQ khả năng thiết lập “các vùng tranh chấp” trên không, trên biển, và trong không gian, và bằng cách này từng bước đẩy Mỹ ra khỏi những khu vực trong Thái Bình Dương mà cường quốc này lâu nay đã kiểm soát và bảo vệ. Và hành vi của TQ đối với các nước láng giềng đã trở nên hiếu chiến thấy rõ, bằng việc hung hăng tuyên bố chủ quyền trên các đảo trong Biển Đông và gửi các lực lượng hải quân tuần dương tham dự các cuộc tập trận lớn ngoài khơi duyên hải Nhật Bản. Đó là lý do tại sao Robert D. Kaplan đã viết trong số Foreign Policy này rằng tương lai xung đột không nằm trong các sa mạc Trung Đông nhưng nằm ngoài khơi Biển Đông.
It seems odd that a country so famously patient and slow-gestating would have so radically, and so quickly, changed its posture to the world. Maybe that careful listening was an elaborate show, or a transitional phase. Elizabeth Economy, a China scholar at the Council on Foreign Relations, argues that China's peaceful rise was never more than a "rhetorical formulation"; only now, however, has China's military capacity and its rhetoric caught up with its long-held aspirations to expand its sphere of dominance in East Asia. U.S. President Barack Obama's administration has not accepted that view, but has nevertheless warned China to play by the rules of the international system. In the 2009 speech in which he coined the phrase "strategic reassurance," then-Deputy Secretary of State James Steinberg noted that China's "enhanced capabilities" and "overbroad assertion of its rights" in the South China Sea had caused Washington and its allies to "question China's intentions."
Điều có vẻ lạ lùng là một quốc gia nổi tiếng kiên nhẫn và chín chắn như TQ lại thay đổi lập trường một cách cực đoan và nhanh chóng như vậy. Có lẽ cái thái độ biết thận trọng lắng nghe trước đây của TQ chỉ là một màn kịch tinh vi, hoặc chỉ là một thời kỳ quá độ. Elizabeth Economy, một học giả về TQ tại Hội đồng Đối ngoại (the Council on Foreign Relations), lý luận rằng đường lối trỗi dậy hòa bình của TQ chỉ là một “một cách nói hoa mỹ”; nhưng, chỉ vào thời điểm hiện nay khả năng quân sự và những tuyên bố của TQ mới thể hiện được những tham vọng lâu đời của TQ về việc bành trướng khu vực khống chế tại Đông Á. Chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama không chấp nhận quan điểm này, nhưng chỉ cảnh báo TQ nên chơi theo luật lệ của hệ thống quốc tế. Trong bài diễn văn năm 2009 trong đó ông đã nặn ra cụm từ “trấn an chiến lược”, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg nhận xét rằng những “khả năng quân sự được tăng cường” và “thái độ quyết đoán công khai về quyền chủ quyền” của TQ trong Biển Đông đã khiến Washington và đồng minh của Mỹ “thắc mắc về ý định của TQ”.
There's little debate over those capabilities, which are clearly superior to what they were only a few years ago, and improving fast. But China's intentions are harder to read. David Finkelstein, director of China Studies at the Center for Naval Analyses in Alexandria, Va., says that he shares the "great uneasiness about how China will use its incipient but growing maritime power" throughout the region, but also notes that in recent years China has concluded that "time is on their side on Taiwan" and thus have been "relatively more relaxed" than in the past.
Ít ai tranh cãi về những khả năng quân sự nói trên của TQ, rõ ràng là vượt trội hơn so với chỉ vài năm trước đây và đang được cải tiến nhanh chóng. Nhưng mưu đồ của TQ thì khó lường hơn. David Finkelstein, Giám đốc của Ban Nghiên cứu TQ của Trung tâm Phân tích Tình hình Hải tại Alexandria, Virginia, nói rằng ông chia sẻ “mối lo ngại to lớn về phương cách TQ sẽ sử dụng hải lực mới mẻ và đang mạnh của mình” ở trong khu vực, nhưng ông cũng nhận xét rằng trong những năm qua chính quyền TQ đã kết luận rằng “họ nắm được thời cơ thuận lợi về vấn đề Đài Loan” và vì thế đã tỏ ra “tương đối hòa hoãn” hơn so với trước.

The obvious Cold War analogy is to the policy of containment: George Kennan believed that the Soviet Union hoped to dance on America's grave but he was prepared to wait for history to inevitably unspool itself; the Soviets could thus be deterred by a patient and persistent policy of containment. Finkelstein argues that a combination of forceful American diplomacy, which he credits the Obama administration with undertaking, and the current level of American military presence -- the Pacific fleet and 60,000 active-duty troops in the region -- has already contained China's ambitions, and will probably continue to do so. Kaplan, too, for all his projections of growing Chinese naval and air power, argues for maintaining the current state of military deployment. In short, it's the intentions that matter.
Sự tương đồng rõ nét với thời Chiến tranh Lạnh là chính sách ngăn chặn (the policy of containment): George Kennan, [cha đẻ của chính sách này], tin rằng Liên Xô nuôi hy vọng nhảy múa trên nấm mồ của Mỹ nhưng ông sẵn sàng chờ đợi lịch sử diễn ra theo một tiến trình tất yếu; bằng cách này đế quốc Xô viết có thể bị ngăn chặn bởi một chính sách kìm hãm. Finkelstein lý luận rằng một sự kết hợp gồm có chính sách ngoại giao mạnh dạn của Mỹ, mà ông ca ngợi chính quyền Obama đang tiến hành, và mức hiện diện quân sự hiện nay – hạm đội Thái Bình Dương và 60 ngàn quân sẵn sàng chiến đấu ở trong vùng – đã chặn đứng tham vọng bành trướng của TQ, và chắc hẳn sẽ tiếp tục chức năng này trong tương lai. Mặc dù đưa ra những tiên đoán về sự gia tăng của hải quân và không quân TQ, Kaplan cũng bênh vực việc Mỹ duy trì mức độ triển khai quân sự hiện nay ở trong vùng. Tóm lại, [theo chính sách ngăn chặn], chính ý đồ của đối phương mới là chủ yếu.
The authors of "Asian Alliances," by contrast, tend to infer China's intentions from its capacities. In an ominous scenario that carries a strong whiff of Herman Kahn, or perhaps Dr. Strangelove, they describe China using missiles and bombers to launch a devastating attack on Taiwan and the United States responding with a missile strike against the mainland, which in turn leads to … Armageddon. The only way to preclude such a cataclysm, the authors argue, is to adopt much tougher counter-measures: rollback, in Cold War terms.
Những các tác giả của bản tường trình “Các liên minh châu Á”, trái lại, có khuynh hướng suy đoán các ý đồ của TQ từ sức mạnh quân sự của nó. Trong một kịch bản rất đáng ngại, mang âm hưởng Herman Kahn [người dự tưởng chiến tranh nguyên tử] và có lẽ cả Dr. Strangelove [một phim hài về nỗi sợ nguyên tử], các tảc giả này mô tả TQ sử dụng tên lửa và máy bay ném bom để tung ra một cuộc tấn công tàn phá Đài Loan và Mỹ phản ứng lại bằng một cuộc đánh trả bằng tên lửa nhắm vào lục địa, việc này sau đó sẽ dẫn đến… một trận Armageddon [được tiên đoán trong Kinh Thánh]. Cách duy nhất để chặn đứng một thảm họa như thế, theo các tác giả này, là phải chấp nhận những biện pháp chống trả cứng rắn hơn hiện nay rất nhiều: đó là đẩy lùi (rollback), nói theo ngôn ngữ Chiến tranh Lạnh.
The "Asian Alliances" report warns that "Asia's future demands nothing less" than a new "shared strategic concept." The web of Cold War alliances should give way to a military partnership among the United States, Japan, South Korea, the Philippines, Indonesia, and others that would require a major increase in military spending and in military and intelligence cooperation. "[A]ny would-be aggressor" would be made to understand "that targeting one ally means invoking the ire of the rest." It's hard to believe that these states would agree to join such an explicitly anti-Chinese coalition. There's also the danger that China would react by concluding that time was no longer on its side, thus turning the coalition into a devastatingly self-fulfilling prophecy.
Bản tường trình “Các liên minh châu Á” cảnh báo rằng “tương lai châu Á ít ra cũng đòi hỏi [các nước đồng minh] phải chia sẻ một quan niệm chiến lược mới”. Mạng lưới các liên minh thời Chiến tranh Lạnh phải nhường chỗ cho một tổ chức đối tác quân sự gồm có Mỹ, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, và nhiều nước khác đang cần phải tăng cường chi phí quân sự cũng như hợp tác quân sự và tình báo. Tổ chức này phải làm cho “bất cứ một nước có ý đồ xâm lược nào” hiểu rằng “nhắm vào một đồng minh có nghĩa là gây phẫn nộ cho phần còn lại”. Thật khó tin tưởng rằng những quốc gia này sẽ đồng ý tham gia một liên minh công khai chống TQ như thế. Ngoài ra, còn có một nguy hiểm là TQ sẽ phản ứng lại bằng cách kết luận rằng thời cơ không còn nằm trong tay họ, vì thế quay ra đối đầu trực diện với liên minh này và như vậy sẽ biến một dự đoán mơ hồ trở thành một hiện thực chiến tranh khủng khiếp.
The costs for the United States would be greater still. The "Asian Alliances" report accuses the United States of courting "strategic insolvency" and proposes investments in vast amounts of new weaponry. In a congressional briefing, Blumenthal specified the hardware: "a next-generation bomber; large numbers of attack submarines (SSNs); a sizeable fifth-generation tactical aircraft fleet" and on and on and on.
Những phí tổn của Mỹ, nếu theo đề nghị của bản tường trình, sẽ là to lớn hơn nữa. Bản tường trình “Các Liên minh châu Á” lên án chính phủ Mỹ đã chuốc lấy “sự vỡ nợ chiến lược (strategic insolvency)” và đề nghị phải đầu tư nhiều hơn nữa vào các loại vũ khí mới. Trong một điều trần trước Quốc hội, Blumenthal nêu rõ những chiến cụ này: “một loại máy bay ném bom thuộc thế hệ sắp tới; những số lượng lớn tàu ngầm tấn công; một phi đội hùng hậu gồm nhiều máy bay chiến thuật thế hệ thứ năm”, vân vân và vân vân.
That sounds costly, no? Mitt Romney, who never loses an opportunity to talk up the threat from China, not to mention Russia, would peg defense spending at 4 percent of GDP -- $600 billion, or $70 billion more than the current total, which of course would necessitate equivalent cuts elsewhere to make up the difference. Or perhaps voters should accept that national insolvency is a price worth paying in order to address strategic insolvency. Or of course we could Lose China again. Or risk the Big One.
Như vậy nghe đã đủ tốn kém chưa? Chưa. Mitt Romney, [người vận động làm ứng viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa] và không bao giờ để mất cơ hội thổi phồng mối hiểm họa đến từ TQ, chưa kể từ nước Nga, đề nghị chi tiêu 4% GDP cho quốc phòng – tức 600 tỉ đôla, hay 70 tỉ đôla nhiều hơn tổng số chi tiêu quốc phòng hiện nay, điều này hiển nhiên đòi hỏi phải cắt xén một số ngân sách tương đương ở các lãnh vực khác để bù trừ. Nếu không, có lẽ cử tri phải chấp nhận sự vỡ nợ quốc gia (national insolvency) như cái giá phải trả để giải quyết sự vỡ nợ chiến lược (strategic insolvency). Nếu không, dĩ nhiên, chúng ta có thể sống lại kinh nghiệm “Mất Trung Hoa” một lần nữa. Hay có nguy cơ tiến tới một Đại họa Chiến tranh.
Americans are, understandably, much too obsessed with the economy right now to spare a thought for national security. But the debate is waiting in the wings. The threat of terrorist attack is very real, but diminishing. Al Qaeda is not the national nightmare it once was. Are Americans going to replace it with a new nightmare -- or rather, a recycled one from the depths of the Cold War? I certainly hope not. China's regional ambitions do need to be checked. But if America bankrupts itself in the process, we'll win the battle and lose the war.
Điều dễ hiểu là, người dân Mỹ vì quá ám ảnh với tình trạng kinh tế đến nỗi không còn rảnh rỗi tâm trí để lo về an ninh quốc gia. Nhưng cuộc tranh luận [về mối đe dọa TQ] đang chờ dịp xảy ra. Mối đe doạ về các cuộc tấn công khủng bố là rất thực, nhưng đang giảm dần. Al Qaeda không còn là một cơn ác mộng quốc gia như trước đây. Nhưng liệu người Mỹ có muốn thay thế cơn ác mộng này bằng một cơn ác mộng khác – hay nói đúng hơn, phục hồi một cơn ác mộng đã bị vùi dưới đáy sâu của thời Chiến tranh Lạnh không? Hẳn nhiên, tôi hy vọng là không. Nhưng nếu nước Mỹ tự phá sản trong tiến trình này, chúng ta sẽ chỉ thắng được một trận đánh nhưng thua luôn cả cuộc chiến tranh.
James Traub is a contributing writer for the New York Times Magazine and a fellow of the Center on International Cooperation. "Terms of Engagement," his column for, runs weekly.
James Traub là một nhà văn viết cho tạp chí New York Times và một nghiên cứu sinh của Trung tâm Hợp tác quốc tế.

Translated by Trần Ngọc Cư

Kalayaan Island girl wins Palawan beauty tilt Cô gái đảo Kalayaan giành chiến thắng cuộc thi người đẹp Palawan

Kalayaan Island girl wins Palawan beauty tilt

Cô gái đảo Kalayaan giành chiến thắng cuộc thi người đẹp Palawan



With her strong stand on the country’s territorial claim over the Spratlys, a girl from the Kalayaan Island Group easily won the nod of judges and was declared Mutyang Palawan 2011 last week.

Với lập trường mạnh mẽ về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của đất nước trên quần đảo Trường Sa, một cô gái từ chuỗi đảo Kalayaan đã dễ dàng giành được cái gật đầu của ban giám khảo và được tuyên bố Hoa hậu Mutyang Palawan 2011 tuần trước.

During the question and answer portion of the pageant held at the Cory Park main stage in this Palawan capital last Tuesday, Miss Kalayaan Sarah Sopio Osorio said the Kalayaan Island Group, where she grew up and lives, is part of Philippine territory, impressing former Miss Universe Gloria Diaz who chaired the board of judges.

Trong phần thi hỏi và trả lời của cuộc thi sắc đẹp được tổ chức ở sân khấu chính tại Cory Park của thủ phủ Palawan, Hoa hậu Kalayaan Sarah Sopio Osorio cho biết chuỗi đảo Kalayaan, nơi cô lớn lên và đang sinh sống, là một phần lãnh thổ của Philippines, đã tạo ấn tượng với cựu hoa hậu Hoàn vũ Gloria Diaz, người chủ trì ban giám khảo.

Asked by actor and television host Luis Manzano, who acted as master of ceremonies, what her pet project would be if she would win the title of Mutyang Palawan, Osorio said, “I will focus on the biggest problem of my municipality and that is terrestrial jurisdiction. Southeast Asian countries are claiming my municipality and I can’t agree on that because it is my municipality and is part of the Philippines only.”

Khi được diễn viên và là người dẫn chương trình truyền hình Luis Manzano hỏi về dự định yêu thích của mình nếu giành chiến thắng với danh hiệu Hoa hậu Mutyang Palawan, Osorio cho biết "Tôi sẽ tập trung vào vấn đề lớn nhất của thành phố của tôi và đó là chủ quyền đất đai. Nhiều nước Đông Nam Á tuyên bố chủ quyền đối với thị trấn tôi đang ở, và tôi không thể đồng ý về điều đó bởi vì nó là thành phố của tôi và là một phần của Philippines. "

Provincial officials watched in awe as they listened to the short but precise and substantial answer of Osorio, who bested 12 other finalists.

Các quan chức tỉnh dự cuộc thi đã thán phục khi họ lắng nghe câu trả lời ngắn gọn nhưng chính xác và súc tích của Osorio, người đã đánh bại 12 thí sinh khác lọt vòng chung kết.

Gov. Baham Mitra said, “It’s a very good answer and we are very proud to know that a young Palaweña is ready to speak up for the Kalayaan Group of Islands. Maybe our leaders in the national government should take a cue from her and tell the world, especially our neighbors in Southeast Asia, that the Kalayaan Group of Islands is part of the Philippines only,” Mitra said.

Thống đốc Baham Mitra cho biết, "Đó là một câu trả lời rất tốt và chúng tôi rất tự hào khi biết rằng một cô gái Palawa trẻ trung đã sẵn sàng lên tiếng bênh vực cho chuỗi đảo Kalayaan. Có lẽ các nhà lãnh đạo của chúng ta trong chính phủ quốc gia nên theo sự gợi ý cô ấy và nói với thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng của chúng ta trong khu vực Đông Nam châu Á, chuỗi đảo Kalayaan là một phần của chỉ Philippines mà thôi, Mitra nói.

Employees from the provincial capitol said it was the first time a candidate from the Kalayaan Group of Islands won the pageant.

Các nhân viên từ tỉnh lỵ cho biết đây là lần đầu tiên một ứng cử viên của Quần đảo Kalayaan giành chiến thắng trong cuộc thi sắc đẹp này.

Mitra earlier said the province of Palawan would support diplomatic initiatives of the national government toward a peaceful resolution of the controversy stemming from the many claimants of the resource-rich Spratly Islands.

Trước đó Mitra cho biết các tỉnh Palawan sẽ hỗ trợ các sáng kiến ​​ngoại giao của chính phủ quốc gia đối với một giải pháp hòa bình cho các tranh cãi xuất phát từ các tuyên bố chủ quyền của quần đảo Trường Sa giàu tài nguyên.

Osorio, who dreams of becoming a diplomat, said she joined the beauty pageant to represent the Kalayaan Island Group and show everyone what Kalayaan can offer.

Osorio, người mơ ước trở thành một nhà ngoại giao cho biết, cô tham gia cuộc thi sắc đẹp đại diện cho quần đảo Kalayaan và muốn cho mọi người thấy những gì vùng Kalayaan có thể cống hiến.

Her pet project will include programs that will present the natural beauty of Palawan.

Dự định yêu thích của cô bao gồm các chương trình giới thiệu vẻ đẹp tự nhiên của Palawan.

She said she also intends to raise economic and social issues such as transportation, education, “banca” (boats) for transportation and fishing in the islands.

Cô cho biết cô cũng có ý định đề cao các vấn đề kinh tế và xã hội như giao thông vận tải, giáo dục, "Banca" (thuyền) cho vận tải và đánh cá ở vùng đảo này.

The other winners in the pageant were Miss Cuyo Maria Daziella Lazaro Gange, first runner-up; Miss San Vicente Thoreen Halvorsen, second runner-up; Miss Taytay Diana Grace Escasinas Nolsol, third runner-up; and Miss Aborlan Diana Sunshine Manabit Rademann, fourth runner-up.

Những người chiến thắng khác trong cuộc thi Hoa hậu Cuyo Maria Daziella Lazaro Gange, Á hậu thứ nhất, San Vicente Thoreen Halvorsen, Á hậu thứ hai, Taytay Diana Grace Escasinas Nolsol, Á hậu thứ ba và Aborlan Diana Sunshine Manabit Rademann, Á hậu thứ tư.

Among those who watched the pageant were officials of the Brunei Darussalam-Indonesia-Malaysia-Philippines East ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) Growth Area (BIMP-EAGA) who were in Palawan attending the transport, infrastructure and ICT development cluster meeting.

Trong số những người theo dõi cuộc thi có các quan chức của Brunei Darussalam-Indonesia-Malaysia-Philippines, Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN (BIMP-EAGA), những người này đến Palawan để tham gia các cuộc họp về phát triển giao thông, cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin.

The province of Palawan celebrated the founding anniversary of the civil government through the Baragatan Festival.

Tỉnh Palawan đã cử hành lễ kỷ niệm ngày thành lập chính quyền dân sự thông qua lễ hội Baragatan.

Baragatan is derived from the Cuyonon word “bagat” which means “to meet.”

Baragatan, có nguồn gốc từ chữ "bagat", tiếng Cuyonon, có nghĩa là “gặp gỡ”.

The festival is a showcase of Palawan’s agricultural crops, arts and crafts, cultures, traditions and people coming from the 23 municipalities.

Lễ hội là dịp để Palawan phô diễn các sản phẩm nông nghiệp, nghệ thuật và hàng thủ công, văn hóa, truyền thống và con người đến từ 23 thị tứ.

The theme of this year’s festival is “Masiglang Baragatan sa Palawan 2011.”

Chủ đề của lễ hội năm nay là "Masiglang Baragatan sa Palawan 2011".

By Pia Lee-Brago (The Philippine Star)

Translated by nguyenquang

Bo Xilai’s Big Impression Ấn tượng lớn về ông Bạc Hy Lai

Bo Xilai’s Big Impression
Ấn tượng lớn về ông Bạc Hy Lai
By David Cohen
David Cohen - 01-10-2011
China Leadership Monitor has an interesting new report out about middle-rung promotions in the Chinese Communist Party, a wave of which will take place next year to fill spots left vacant by the top-level leadership transition. It’s worth reading in full for detailed analysis (96.4% of China's mid-to-high level leaders are men, apparently), but extracts from this section about Chongqing Party boss Bo Xilai’s amazingly open campaign to join the Politburo standing committee are especially interesting:
China Leadership Monitor (*) có một bản tin mới thú vị về đề bạt thăng chức trong Ðảng cộng sản Trung Quốc, từ cấp bậc trung cấp. Một làn sóng đề bạt sẽ xảy ra năm tới để lấp vào các chỗ trống trong quá trình chuyển giao quyền lực ở cấp cao nhất trong Ðảng. Rất đáng để đọc toàn bộ bản phân tích này, để biết đầy đủ chi tiết (chẳng hạn như, 96.4% lãnh đạo từ trung đến cao cấp là nam), nhưng các đoạn trích trong phần này dành cho lãnh đạo tỉnh Trùng Khánh, người đã mở một chiến dịch vận động đáng kinh ngạc để được tham gia vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị là điều đặc biệt thú vị:
‘The challenge confronting the Chinese leadership in general, and the Party apparatchiks in particular, on the eve of the 18th National Congress is remarkably overwhelming. Never has the country witnessed such extraordinarily open political lobbying by a Politburo member as that being engaged in by Chongqing Party Secretary Bo Xilai, whose aggressive self-promotion campaign is known for its two idiosyncratic initiatives: “Striking black triads and singing red songs.”
“Sự thách thức đối đầu trong giới lãnh đạo Trung Quốc nói chung, và trong ban lãnh đạo đảng nói riêng, trước thềm Ðại hội [Ðảng Cộng sản Trung Quốc] lần thứ 18 là hết sức to lớn. Ðất nước chưa từng chứng kiến một sự vận động chính trị công khai một cách khác thường của một ủy viên Bộ Chính trị như thế, do ông Bạc Hy Lai, Bí thư Ðảng ủy Trùng Khánh tiến hành. Ông Bạc Hy Lai tích cực thực hiện chiến dịch quảng bá, tự đề cao mình, qua hai sáng kiến có phong cách đặc trưng ‘tấn công các các hội tam hoàng và hát những bài ca cách mạng’.
‘Bo’s political campaign methods are not entirely new. Many critics call them “Cultural Revolution–style social mobilization” in both format and substance. Having Chongqing serve as a political model for the nation is just a small part of Bo’s objective. Even people on the street seem to recognize Bo’s political ambition: to obtain a seat on the next Politburo Standing Committee. In recent months, five of the nine current Politburo Standing Committee members have visited Chongqing to endorse his campaign.
Các phương pháp vận động chính trị của ông Bạc Hy Lai không phải hoàn toàn mới. Nhiều người chỉ trích gọi chúng là ‘sự vận động xã hội theo kiểu Cách mạng Văn hóa’, kể cả về mặt hình thức lẫn thực chất nội dung. Dùng Trùng Khánh như một mô hình chính trị cho cả nước chỉ là một phần nhỏ trong mục tiêu của ông Bạc Hy Lai. Ngay cả những người dân thường cũng thấy được tham vọng chính trị của ông ta: có được một ghế trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị sắp tới đây. Trong những tháng gần đây, năm trong chín ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị hiện tại đã đi thăm Trùng Khánh và ủng hộ chiến dịch vận động của ông Bạc Hy Lai.
‘On the ideological front, there is also a remarkable—and to a certain extent unprecedented—display of disunity in the leadership. Premier Wen Jiabao’s favourable view of the “universal” values of democracy and the necessity for democratic elections, his outspoken criticism of the official seizure of farmers’ land for property development, his serious concern about the prevalence of the worship of money and the moral decay in society, and his well-articulated reservations about the “China model” of development and growing Chinese assertiveness on the world stage all sharply contrast with many of the views of his colleagues in the Politburo.’
Về mặt trận ý thức hệ, cũng có điểm đáng chú ý – và ở một mức độ nào đó, [chiến dịch vận động này] chưa có tiền lệ – cho thấy có sự thiếu nhất quán trong ban lãnh đạo. Quan điểm được ưa chuộng của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về các giá trị ‘phổ quát’ của nền dân chủ và sự cần thiết về các cuộc bầu cử dân chủ, sự chỉ trích mạnh mẽ công khai của ông ta về việc chính thức tước đoạt đất đai của nông dân để phát triển, mối quan ngại sâu sắc về sự thịnh hành thái độ tôn sùng tiền bạc và suy đồi đạo đức trong xã hội, cũng như sự e dè của ông ta mà mọi người đều biết về ‘mô hình Trung Quốc’ phát triển và sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc trên trường quốc tế, tất cả điều đó hoàn toàn trái ngược với nhiều quan điểm của các đồng sự ông ta trong Bộ Chính trị”.
When we covered Bo a few months ago, we thought his audience was the standing committee. But I've heard arguments recently that Bo is making a genuine mass campaign, trying to force a reluctant Politburo to accept him by winning popular support. Personal political campaigns haven’t happened in public in China since the days of the republic, so if he makes it onto the standing committee next year it may have huge implications for the way China’s top leaders compete for power.

Cách đây vài tháng, khi viết về ông Bạc Hy Lai, chúng tôi nghĩ rằng khán giả của ông ta là Ủy ban Thường vụ [Bộ Chính trị]. Nhưng gần đây, tôi cũng đã được nghe có lập luận cho rằng, ông Bạc Hy Lai đang thực hiện một chiến dịch vận động đông đảo quần chúng, cố gắng ép Bộ Chính trị miễn cưỡng chấp nhận ông ta, qua việc giành được sự ủng hộ trong quần chúng. Các chiến dịch vận động chính trị cá nhân chưa từng xảy ra công khai ở Trung Quốc, kể từ ngày thành lập nước Cộng hòa [Nhân dân Trung Hoa], nên nếu ông Bạc Hy Lai giành được chức ủy viên thường vụ trong năm tới, có thể có những ẩn ý lớn về cách mà các lãnh đạo Trung Quốc tranh giành chức vụ.
The Diplomat
Ghi chú:
(*) China Leadership Monitor, tức ‘Quan sát giới lãnh đạo Trung Quốc’, là bản tin của Viện Hoover thuộc Ðại học Stanford.

Translated by Nguyễn Trùng Dương

Meet the New Mao Làm quen với tân Mao

Meet the New Mao
Làm quen với tân Mao
By Bruce Gilley - September 28, 2011
Bruce Gilley - 28-09-2011
It may be time to concede that China’s leader-in-waiting, Xi Jinping, is not the moderate that many have assumed. Indeed, evidence from his past suggests that Xi is going to steer China in a more aggressive direction, both domestically and internationally. As his time in office nears, Xi is evincing signs of being a narrow nationalist on foreign policy and of having a penchant for police actions in dealing with domestic frictions. Hence, his rise could signify that the long struggle between Maoists and reformers that characterized China’s “reform era” is now ending. That era’s replacement could be something more like the struggle that characterized the early years of the People’s Republic, when social progressives who believed in Marxist theories of social emancipation struggled against anti-Japanese (and anti-American) nationalists who were more taken with Lenin’s theories of political control. Xi is clearly in the latter camp, siding with order and power over social progress, and he may lead China in a very unpleasant direction.
Có lẽ đã đến lúc phải thừa nhận rằng, ông Tập Cận Bình, người sắp trở thành lãnh đạo Trung Quốc, không phải là người ôn hoà như nhiều người nghĩ. Thật vậy, bằng chứng trong quá khứ cho thấy, ông Tập Cận Bình sẽ lèo lái Trung Quốc theo đường hướng hung hãn hơn, cả đối nội lẫn đối ngoại. Gần đến lúc nhậm chức, ông Tập Cận Bình đã bộc lộ những dấu hiệu về chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong chính sách đối ngoại và ý muốn sử dụng bộ máy cảnh sát để đối phó với những bất đồng trong nước. Do đó, sự thăng tiến của ông ta có thể báo hiệu rằng, cuộc đấu tranh lâu dài giữa những người theo chủ nghĩa Mao và những nhà cải cách, biểu thị cho “thời kỳ cải cách” ở Trung Quốc đã đến hồi kết thúc. Sự thay đổi trong thời kỳ này có thể là điều gì đó giống như cuộc đấu tranh trong những năm đầu của nước Cộng hoà Nhân dân [Trung Hoa], khi những nhà cấp tiến xã hội tin rằng, học thuyết Mác-xít giải phóng xã hội, đấu tranh chống lại những người theo chủ nghĩa dân tộc chống Nhật (và cả chống Mỹ), là những người theo học thuyết Lênin, nắm quyền kiểm soát chính trị. Rõ ràng ông Tập Cận Bình thuộc phe chủ nghĩa dân tộc, đặt trật tự và quyền lực lên trên tiến bộ xã hội, và ông ta có thể sẽ dẫn dắt Trung Quốc theo đường hướng không mấy dễ chịu.
Foreign policy is where new Chinese leaders tend to make their mark quickly, given the small number of people involved compared to domestic policy. Thus it’s also the area where the question of who’s in charge in Beijing really matters, and the fine art of Pekingology remains important. Vice president Joe Biden came away from an August visit praising Xi as “strong” and “pragmatic.” Biden is probably right. But Xi’s strength and pragmatism do not necessarily augur well for those fearful of a rising China.
Chính sách đối ngoại là điều mà các lãnh đạo mới Trung Quốc có khuynh hướng tạo dấu ấn một cách nhanh chóng, do có ít người liên quan so với chính sách đối nội. Do vậy, đây cũng là lĩnh vực mà câu hỏi, ai đang nắm quyền ở Bắc Kinh thì thực sự quan trọng, và thuật về sự cai trị của Bắc Kinh vẫn còn quan trọng. Sau chuyến công du của Phó Tổng thống [Mỹ] Joe Binden hồi tháng 8, đã khen ngợi ông Tập Cẩn Bình là người “mạnh mẽ” và “thực tế”. Ông Biden có thể đúng, nhưng tính mạnh mẽ và thực tế của ông Tập Cận Bình chưa hẳn là điềm báo tốt đẹp cho những ai lo sợ về một nước Trung Hoa đang trỗi dậy.
The first time that Xi’s “strong” dark side emerged publicly was in 2009 when on a visit to Mexico, he told local Chinese, “Well-fed foreigners have nothing better to do but point fingers at China. But China does not export revolution, we do not export poverty and hunger, and we do not interfere in the affairs of others. So what is there to complain about?”
Mặt tối về sự “mạnh mẽ” của ông Tập Cận Bình thể hiện công khai lần đầu vào năm 2009, trong chuyến thăm Mêhicô, khi ông ta nói với những người Trung Hoa ở đó rằng: “Những người ngoại quốc ăn no rửng mỡ chẳng có gì làm tốt hơn là chỉ trích Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc không xuất khẩu cách mạng, chúng tôi không xuất khẩu nghèo đói và chúng tôi không can thiệp vào công việc nội bộ của người khác. Vậy có gì phải phàn nàn [chúng tôi]?“
Xi’s “three did nots,” as they have become known, have won plaudits from the country’s nationalists, including the authors of the vitriolic 1996 book The China That Can Say No. These nationalists express hope that Xi will be the first leader since Mao who is willing to stand up to the West. In early September, Xi told students at the Central Party School, the party’s elite training academy in Beijing, that “two overriding objectives—the struggle for both national independence and popular liberation, which is to say the realization of both state power and popular wealth—have always been closely related. The former has always been the basis of the latter.”
“Ba cái không làm” của ông Tập Cận Bình mà mọi người biết, đã được những người theo chủ nghĩa dân tộc của nước này hoan nghênh nhiệt liệt, kể cả các tác giả của cuốn sách đầy cay độc:”Trung Quốc có thể nói không“, xuất bản năm 1996. Những người theo chủ nghĩa dân tộc này bày tỏ hy vọng rằng, ông Tập Cận Bình sẽ là nhà lãnh đạo đầu tiên sau ông Mao, có thể sẵn sàng đứng lên đối đầu với phương Tây. Đầu tháng 9 vừa qua, ông Tập Cận Bình nói với các sinh viên tại Trường Ðảng Trung ương, một học viện đào tạo thành phần ưu tú của đảng ở Bắc Kinh, rằng: “Hai mục tiêu quan trọng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, mà chính là sự thực hiện cả quyền lực nhà nước và sự thịnh vượng của nhân dân, luôn luôn liên hệ chặt chẽ với nhau. Mục tiêu đầu luôn là cơ sở cho mục tiêu sau“.
Domestically, the same strongman style was evident in Xi’s support of the head-cracking Bo Xilai’s tenure in Chongqing. Another princeling who is also certain to join the ruling Politburo Standing Committee in 2012, Bo wiped out organized crime in the city with an indiscriminate 2009 sweep that ignored due process. Visiting the city in late 2010, Xi effused that the “hair-raising struggle to ‘combat triad gangs and extirpate evil criminals’” was “deeply popular” and praised the local security apparatus for “taking the lead” to root out the problem. His promotion of the “Chongqing model” has been sometimes interpreted as a return to Maoism. Instead, it is better seen as a return to the nationalist police state, more Chiang Kai-shek than Mao Zedong.
Về mặt đối nội, ông Tập Cận Bình cũng thể hiện phong cách mạnh mẽ như thế, đã ủng hộ ông Bạc Hy Lai, lãnh đạo khét tiếng đàn áp ở Trùng Khánh. Ông Bạc Hy Lai (1), một ông vua con khác, chắc chắn cũng sẽ tham gia vào Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị năm 2012, đã tiến hành triệt hạ tội phạm có tổ chức trong thành phố năm 2009, với một đợt càn quét bừa bãi, bỏ qua các thủ tục pháp lý. Khi đến thăm thành phố [Trùng Khánh] hồi cuối năm 2010, ông Tập Cận Bình đã thổ lộ rằng, “cuộc đấu tranh nguy hiểm, ‘chống lại các các băng đảng hội tam hoàng và diệt trừ tội ác’” thì “được dân chúng hoàn toàn hưởng ứng” và ca ngợi bộ máy an ninh địa phương đã “dẫn đầu” trong việc diệt trừ tận gốc nạn tội phạm. Sự khích lệ của ông ta qua “mô hình Trùng Khánh” đôi khi được hiểu như là sự trở lại của chủ nghĩa Mao (2). Thay vào đó, mô hình Trùng Khánh được xem như sự quay trở lại của nhà nước cảnh sát dân tộc chủ nghĩa, giống Tưởng Giới Thạch hơn là Mao Trạch Ðông.
In mid-July, Xi was despatched to Lhasa to preside at the “celebration” of the sixtieth anniversary of the “liberation” of Tibet. In stark contrast to the conciliatory and humane policies of former party chief Hu Yaobang, whose visit to Tibet in 1980 marked the last chance for a real reconciliation with the region, Xi’s visit was a study in domination. An overwhelming police and secret-service presence swamped the city, and nary a Tibetan was seen on the official podium. The city was in total lock-down and Xi was flanked by military and security personnel everywhere he went. He even brought his own water for drinking, cooking and bathing, according to Chinese media reports, so afraid was he of being poisoned. Xi made no attempt to mix with ordinary Tibetans and instead delivered a hard-line seventy-minute speech attacking the Dalai Lama and stressing the importance of the massive military presence in the region.
Giữa tháng 7, ông Tập Cận Bình đã được cử tới Lhasa để chủ trì “lễ kỷ niệm” lần thứ 60, ngày “giải phóng” Tây Tạng. Trái ngược với chính sách hòa giải và nhân đạo của ông Hồ Diệu Bang, cựu lãnh đạo đảng, người đã có chuyến thăm Tây Tạng năm 1980, chuyến thăm được đánh dấu là cơ hội cuối cùng để hoà giải thực sự với Tây Tạng, chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là một chuyến nghiên cứu về sự thống trị. Sự hiện diện dày đặc của mật vụ và cảnh sát tràn ngập thành phố, và không thấy một người Tây Tạng nào trên khán đài chính. Thành phố gần như hoàn toàn bị phong tỏa và ông Tập Cận Bình được đông đảo nhân viên an ninh và quân đội hộ tống ở tất cả mọi nơi mà ông ta đến. Theo tin từ truyền thông Trung Quốc, thậm chí ông ta còn mang theo cả nước để uống, nấu ăn và tắm rửa, do quá lo sợ bị đầu độc. Ông Tập Cận Bình đã không hề nỗ lực hoà nhập với người dân Tây Tạng, thay vào đó, ông đã có bài phát biểu cứng rắn dài 70 phút, tấn công Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhấn mạnh đến tầm quan trọng về sự hiện diện đông đảo của lực lượng quân đội trong vùng.
What is behind this “blood and iron” Xi? Conventional wisdom holds that this son of a CCP moderate—Xi Zhongxun, who suffered under Mao—Xi is a reformist. Indeed, his career in the south coastal provinces showed that he was keen on economic reforms and administrative effectiveness. But the reform era is over, and those debates are past. The debates now are between the Marxist progressives, many of whom earned their spurs within party organizations and in poor inland areas, and the Leninist nationalists, many of whom, like Xi, moved up through technocratic positions in government, usually in wealthy coastal areas. The Marxist progressives care most about social equity and party ideology, while the Leninist nationalists care most about national power and party discipline.
Ðiều gì đằng sau ông Tập Cận Bình “sắt và máu” này? Người ta cho rằng ông Tập Cận Bình – con trai của nhà lãnh đạo ĐCSTQ ôn hòa, ông Tập Trọng Huân (3), là người đã từng chịu đựng đau khổ dưới thời Mao – là nhà cải cách. Thực ra, sự nghiệp của ông Tập Cận Bình hồi còn ở các tỉnh duyên hải miền Nam cho thấy rằng, ông ta hăng hái trong cải tổ kinh tế và hiệu quả hành chính. Nhưng thời kỳ cải cách đó đã qua và những tranh luận [về đường lối cải cách] đã thuộc về quá khứ. Các cuộc tranh luận hiện nay giữa những người Mác-xít cấp tiến, nhiều người trong số đó có được uy tín trong các tổ chức đảng và ở các khu vực nghèo sâu trong nội địa, và với những người Lênin-nít dân tộc chủ nghĩa mà nhiều người trong số họ như ông Tập Cận Bình, đã thăng tiến qua các chức vụ kỹ trị trong chính quyền, thường ở những vùng duyên hải giàu có. Các nhà Mác-xít cấp tiến quan tâm chủ yếu đến bình đẳng xã hội và ý thức hệ của đảng, trong khi những nhà dân tộc chủ nghĩa Lênin-nít chủ yếu quan tâm đến sức mạnh quốc gia và kỷ luật Ðảng.
Xi clearly falls into the latter group. He cares little for the issues of “social harmony,” “people-centered development” and “scientific development” that have absorbed the attentions of the two Marxist progressives who have been in charge since 2002 (Hu Jintao and Wen Jiabao). Instead, his focus is on state power, exerted both domestically and internationally.
Ông Tập Cận Bình rõ ràng thuộc về nhóm sau. Ông chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề “xã hội hài hòa“, “phát triển lấy con người làm trọng tâm” và “phát triển mang tính khoa học” là những điều thu hút sự chú ý của hai nhà Mác-xít cấp tiến là ông Hồ Cẩm Ðào và ông Ôn Gia Bảo, là những người đã nắm quyền lãnh đạo từ năm 2002 cho đến nay. Thay vào đó, ông chú trọng đến quyền lực nhà nước, được áp dụng cả trong các vấn đề đối nội lẫn đối ngoại.

For the United States, while Biden’s brand of goodwill is appropriate at the diplomatic level, foreign-policy planners need to consider the growing possibility of a more confrontational foreign policy under Xi Jinping.
Ðối với Hoa Kỳ, trong khi cử chỉ đầy thiện chí của Phó Tổng Thống Biden thích hợp ở cấp độ ngoại giao, các nhà hoạch định chính sách ngoại giao [Mỹ] cần xem xét đến khả năng gia tăng về chính sách đối ngoại có tính đối đầu hơn [của Trung Quốc] dưới thời ông Tập Cận Bình.
Bruce Gilley is an assistant professor of political science at Portland State University’s Mark O. Hatfield School of Government and the author of The Right to Rule: How States Win and Lose Legitimacy.
Ông Bruce Gilley là phụ tá giáo sư khoa học chính trị tại Trường Hành chính Nhà nước Mark O. Hatfield thuộc Porland State University, và là tác giả của quyển sách “Quyền Thống Trị: các nhà nước đã có được cũng như đánh mất tính chính danh như thế nào“.
The national Interest
Ghi chú:
(1) Cha của ông Bạc Hy Lai là Bạc Nhất Ba, được xem như là một trong tám nhà lãnh đạo bất tử của Ðảng CS Trung Quốc. Ông Bạc Nhất Ba từng là ủy viên bộ chính trị, phó thủ tướng. Bị Mao thanh trừng, sau được Ðặng Tiểu Bình phục hồi, làm Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Nhà nước.
(2) Chủ nghĩa này vốn thường coi đàn áp của cảnh sát hay bạo lực chuyên chế là biệt pháp hữu hiệu duy nhất để tiêu diệt các lực lượng chống đối, bất kể là đối kháng chính trị hay tội ác xã hội.
(3) Ông Tập Trọng Huân giữ chức phó thủ tướng từ 1959 – 1962. Đến năm 1962 thì ông bị thanh trừng vì bị coi là không trung thành với Mao. Sau được Ðặng Tiểu Bình phục hồi, giữ chức Bí thư tỉnh Quảng Ðông năm 1979-1981. Ðặc biệt, về cuối đời, ông ta công khai phê phán vụ đàn áp Thiên An Môn.

Translated by Nguyễn Trùng Dương