MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, January 18, 2012

China's grand strategy in a post-western world William Callahan - Đại chiến lược của Trung Quốc trong một thế giới hậu phương tây


China's grand strategy in a post-western world

William Callahan - Đại chiến lược của Trung Quốc trong một thế giới hậu phương tây

William A Callahan,

Open Democracy, 1 July 2010

William A Callahan,

Open Democracy, 1 July 2010

A number of different visions of China’s future as a leading world power are competing for public attention and influence. Among them are populist ideas that challenge Beijing’s official rhetoric about “building a harmonious world”, says William A Callahan.

Một số những hướng nhìn về tương lai của Trung Quốc như là một cường quốc dẫn đầu thế giới đang tranh giành ảnh hưởng và sự quan tâm của công chúng. Trong số đó là những quan điểm dân tuý đang thách thức luận điểm của Bắc Kinh về việc "xây dựng một thế giới hài hoà", William A Callahan nói.

There is growing debate inside the People’s Republic of China about the country’s proper strategic goals. Many intellectuals and policy-makers are asking how China can convert its new economic power into enduring political and cultural influence around the globe. The key question they are seeking to answer is: “How would China order the (post-western) world?”

Đang có một tranh luận sôi nổi bên trong nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc về những mục đích chiến lược đúng đắn của quốc gia. Nhiều nhà học giả và giới lãnh đạo đang hỏi rằng Trung Quốc có thể làm cách nào để chuyển hoá sức mạnh kinh tế vừa có được của mình để tạo ra một ảnh hưởng văn hoá và chính trị lâu dài trên toàn thế giới. Câu hỏi cốt yếu mà họ tìm cách trả lời là: "Trung Quốc sẽ sắp xếp trật tự thế giới (hậu phương tây) ra sao?"

Beijing’s official view - first outlined by Hu Jintao, China’s president, at the United Nations in September 2005 - is that China is guided by the notion of “building a harmonious world” (谐世界). But two other visions of China’s purpose in the global arena are growing in influence alongside this one: an unofficial view of a Chinese-style utopian world society, and a quasi-official description of how China can compete to become the world’s “number-one power”.

Quan điểm chính thức của Bắc Kinh - được vạch ra đầu tiên bởi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại Liên Hiệp Quốc vào tháng Chín 2005 - rằng Trung Quốc đang được định hướng theo quan điểm "Hài hoà Thế giới" (谐世界). Nhưng hai quan điểm khác về vị thế của Trung Quốc trên sân chơi thế giới cũng đang tăng dần ảnh hưởng bên cạnh quan điểm trên: một cái nhìn không chính thức về một xã hội thiên đường hạ giới theo phong cách Trung Hoa, và một quan điểm gần như chính thức về việc Trung Quốc phải cạnh tranh ra sao để trở thành "quyền lực số một" của thế giới.

This article examines these different visions of China’s grand strategy in a post-western world, and suggests briefly what kind of response western powers might be best advised to take to them.

Bài viết này sẽ phân tích những quan điểm khác nhau về đại chiến lược của Trung Quốc trong một thế giới hậu tây phương, và đưa ra đề xuất ngắn về phản ứng tốt nhất mà các cường quốc phương tây nên có để đối phó.

Official policy: "building a harmonious world”

Chính sách chính thức: "xây dựng một thế giới hài hoà"

The concept of world order embodied in the idea of “harmonious world” (hexie shijie) is an extension into the arena of foreign relations of Hu Jintao’s domestic-policy equivalent, the “harmonious society". Indeed, Chinese officials and scholars regularly proclaim “harmonious society” - whose formal aim is to use state power to “close the wealth divide and ease growing social tensions” - to be “the model for the world”. By this logic, writers in China explain “building a harmonious world” as a new and better route to “lasting peace and common prosperity” that will allow different civilisations to coexist in the global community.

Khái niệm về trật tự thế giới nằm trong quan điểm "hài hoà thế giới" là một sự vươn xa ra khu vực đối ngoại từ chính sách đối nội tương đương của Hồ Cẩm Đào, "xã hội hài hoà". Thật vậy, các quan chức và học giả Trung Quốc thường xuyên tuyên bố về một "xã hội hài hoà" - mà mục đích chính thức của họ là sử dụng quyền lực của nhà nước để "xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo và giảm thiểu căng thẳng xã hội đang tăng cao" - để trở thành "khuôn mẫu của thế giới". Theo lập luận này, những cây bút ở Trung Quốc giải thích rằng "xây dựng một thế giới hài hoà" là một con đường mới tốt đẹp hơn để đạt được sự "hoà bình và thịnh vượng chung một cách lâu bền", cho phép những nền văn minh khác nhau cùng tồn tại trong cộng đồng thế giới.

In practice, the official view of hexie shijie lacks detail. The Beijing government tends to describe the policy in terms of vague platitudes, making it hard (for example) to establish whether the strong state thought essential to building a “harmonious society” is also needed to build a “harmonious world”. Other channels are more outspoken; the Hong Kong Wen Wei Po has called on Beijing to be the “‘formulator, participant and defender of world order,’ in order to push the entire world toward harmony.”

Trên thực tế, quan điểm chính thức về hài hoà thế giới không có chi tiết cụ thể. Chính quyền Bắc Kinh có khuynh hướng giải thích chính sách này bằng những khái niệm mơ hồ sáo rỗng, khó để mà xác định được rằng có phải tư tưởng về một quốc gia hùng mạnh cần thiết để xây dựng một "xã hội hài hoà" thì cũng cần thiết phải có để xây dựng một "thế giới hài hoà" hay không. Những thành phần khác thì thẳng thừng hơn; tờ Văn Vị Báo ở Hồng Kông đã gọi Bắc Kinh là "'kẻ khởi xướng, tham gia và bảo vệ trật tự thế giới,' với mục đích đẩy cả thế giới vào tình trạng hài hoà."

The ambiguity underlying hexie shijie leaves ample room for varied understandings, where “harmonious world” is understood either as a relatively benign aspiration or as a potentially more ominous ambition of “harmonising the world”. This intellectual vacuum at the heart of the strategic concept also creates space for alternative views of China’s role in shaping the post-western world order.

Sự mơ hồ trong khái niệm hài hoà thế giới này đã tạo ra khoảng trống rất lớn để hiểu về nó theo nhiều cách, trong đó "thế giới hài hoà" được hiểu như là một khát vọng tương đối vô hại hoặc một tham vọng tiềm ẩn nhiều bất trắc trong việc "tạo ra sự hài hoà cho thế giới." Khoảng trống tri thức nằm tại trọng tâm của khái niệm chiến lược này cũng tạo ra khoảng trống cho những quan điểm khác nhau về vai trò của Trung Quốc trong việc sắp xếp lại trật tự của thế giới hậu tây phương.

Idealistic world society: Zhao Tingyang’s Tianxia System

A group of theorists has emerged in the last decade who argue that “the Chinese century” needs to be understood in terms of distinctively Chinese concepts. Zhao Tingyang’s The Tianxia System: The Philosophy for the World Institution (2005) follows Beijing’s “go global” economic policy to argue that Chinese culture has to go global as well. If China is to be a world power, it must “create new world concepts and new world structures” that exploit its own “resources of traditional thought.”

Một xã hội thế giới lý tưởng: Hệ thống Thiên hạ của Triệu Đinh Dương

Một nhóm các nhà lý luận xuất hiện trong thập niên vừa qua cho rằng "thế kỷ Trung Hoa" cần được hiểu trên quan niệm riêng biệt của người Trung Quốc. Hệ thống Thiên hạ: Triết lý về một Tổ chức Thế giới (2005) của Triệu Đinh Dương đi theo chính sách kinh tế "toàn cầu" của Bắc Kinh và giải thích rằng văn hoá của Trung Quốc cũng phải được "toàn cầu". Nếu Trung Quốc trở thành một cường quốc trên thế giới, nó cần phải "tạo ra những khái niệm thế giới cũng như cơ cấu thế giới mới" để tận dụng "nguồn tư tưởng truyền thống" của chính mình."

At the core of his own proposal, Zhao - who works at China’s largest think-tank (CASS) - deploys the traditional concept of Tianxia, which prescribes a form of selfless global unity that is at once geographical, psychological, and institutional. Zhao argues that China is revealed in light of this concept as naturally peaceful, orderly and generous, and that Chinese world order will embody the same qualities - in contrast to western hegemony, which has led to violence, chaos and oppression around the world. The establishment of the unified Tianxia system will enable a global hierarchy where order is valued over freedom, ethics over law, and elite governance over democracy and human rights.

Trong trọng điểm của đề xuất mà ông đưa ra, Triệu - người đang làm việc tại học viện cố vấn lớn nhất của Trung Quốc (CASS) - đã triển khai khái niệm truyền thống về Thiên hạ trong đó miêu tả một hình thức của một thế giới vị tha và đồng thuận về địa lý, tâm lý và tổ chức. Triệu lập luận rằng nếu giải thích theo khái niệm này thì Trung Quốc được xem như là một quốc gia mang bản chất hoà bình, trật tự và hào phóng, và trật tự thế giới của Trung Quốc sẽ cũng mang cùng những tính chất này, tương phản với sự bá quyền của phương tây, thường dẫn đến bạo lực, hỗn loạn và áp bức trên toàn thế giới. Việt thiết lập một hệ thống Thiên hạ đoàn kết sẽ tạo ra một hệ thống toàn cầu trong đó trật tự được đặt lên trên quyền tự do, đạo đức lên trên pháp luật, và sự lãnh đạo tinh tuyển lên trên dân chủ và nhân quyền.

The official Chinese view of “harmonious world” divides the world into civilisations led by great powers that can have different social systems; in this sense it describes the emerging status quo of a multipolar world. By contrast, Zhao’s unified Tianxia system does not allow for different points of view to coexist; it both outlines a utopia imagined for the long-term future and appeals to the more activist “harmonising-the-world” thread of Chinese foreign policy. The Tianxia System’s main problem is that it doesn’t explain how to get from an unstable and often violent present to the harmonious future.

Quan điểm chính thức của Trung Quốc về "thế giới hài hoà" chia thế giới thành những nền văn minh được lãnh đạo bởi những quyền lực lớn với những hệ thống xã hội khác nhau; trong khía cạnh này, sẽ xuất hiện mối tương quan của một thế giới đa cực. Ngược lại, hệ thống Thiên hạ đoàn kết của Triệu không cho phép sự cùng tồn tại của những quan điểm khác biệt; nó vạch ra một thiên đường tưởng tượng cho một tương lai xa và kêu gọi Trung Quốc tăng cường vận động việc "tạo ra sự hài hoà cho thế giới" trong những chính sách đối ngoại của mình. Trở ngại chính của Hệ thống Thiên hạ là nó đã không giải thích bằng cách nào để chuyển đổi từ một hiện tại bất ổn và thường xuyên bạo lực sang một tương lai hài hoà.

Strategic competitor: Liu Mingfu’s The China Dream

Liu Mingfu’s book The China Dream: The Great Power Thinking and Strategic Positioning of China in the Post-American Age (2010) provides another view of future world order. Liu - who teaches at China’s National Defense University - departs from Beijing’s policies of peaceful rise and “harmonious world” by arguing that to support its economic rise, China needs to pursue a “military rise” that allows it to rival American hegemony. A purely “economic nation” (like Japan) is characterised as a plump lamb waiting in the market to be preyed upon by militarily strong countries, declares Liu; a true great power must convert economic strength into military power in order to become the world’s number one.

Đối thủ chiến lược: Giấc mơ Trung Quốc của Lưu Minh Phúc

Cuốn sách Giấc mơ Trung Quốc: Tư tưởng Cường quốc và Vị trí Chiến lược của Trung Quốc trong Thời đại Hậu Hoa Kỳ (2010) của Lưu Minh Phúc đưa ra một cái nhìn khác về trật tự thế giới trong tương lai. Lưu - người đang giảng dạy tại Đại học Quốc phòng Trung Quốc - đã bác bỏ những chính sách của Bắc Kinh về việc vươn lên một cách hoà bình và "thế giới hài hoà" bằng lập luận rằng để hỗ trợ cho sự lớn mạnh về kinh tế của mình, Trung Quốc cần theo đuổi việc "vươn lên bằng quân sự" để có thể đối đầu với sự bành trướng của Hoa Kỳ. Một "quốc gia hoàn toàn kinh tế" (như Nhật Bản) thì được xem như một con cừu béo bở ngoài chợ bị các cường quốc quân sự săn đuổi, Lưu tuyên bố; một cường quốc chính thực phải biết chuyển hoá sức mạnh kinh tế sang quyền lực quân sự để trở thành số một trên thế giới.

The book presents global politics as a quasi-Olympian competition between civilisations, themselves represented by great powers. Liu calls on China to take advantage of the current “period of strategic opportunity” to surpass American power, and thus “sprint to the finish” to become the global “champion”; that is, “world number one.”

Cuốn sách xem nền chính trị thế giới như là một cuộc thi tài Thế Vận Hội giữa các nền văn minh do các cường quốc đại diện. Lưu kêu gọi Trung Quốc lợi dụng "thời điểm về cơ hội chiến lược" hiện tại để vượt qua sức mạnh Hoa Kỳ, và từ đó "chạy đến đích" để trở thành một "nhà vô địch" thế giới; tức là "số một thế giới."

The China Dream doesn’t see conflict with the United States as inevitable, but it is informed by a deterrence logic: “China’s military rise is not to attack America, but to make sure that China is not attacked by America.” Liu uses this approach to stress that China must seek peace through strength: the peaceful rise must include a “military rise with Chinese characteristics that is defensive, peaceful, limited, necessary, important and urgent.”

Giấc mơ Trung Quốc không thấy có gì xung đột với Hoa Kỳ như là điều tất yếu, nhưng nó được thông báo bởi một logic răn đe: "Tăng cường quân sự của Trung Quốc không phải là để tấn công Mỹ, nhưng để đảm bảo rằng Trung Quốc không bị Mỹ tấn công " Lưu sử dụng cách tiếp cận này để nhấn mạnh rằng Trung Quốc phải tìm kiếm hòa bình thông qua sức mạnh: "sự trỗi dậy hòa bình phải bao gồm tăng cường quân sự mang đặc sắc Trung Quốc đó là phòng thủ, hòa bình, hạn chế, cần thiết, quan trọng và cấp bách"

The China Dream’s understanding of international politics thus differs from both the official Beijing view of hexie shijie and Zhao Tingyang’s Tianxia system. Rather than “build a harmonious world”, Liu Mingfu envisages a grand geopolitical struggle where competition between nations is natural and good; rather than surpass the state-centric international system to build Tianxia’s unified world order, Liu sees international relations (IR) quite narrowly as “US-China relations”; rather than the win-win solutions suggested by both, The China Dream sees IR as a zero-sum game where victory and defeat are total. “If China in the 21st century cannot become world number one, cannot become the top power, then inevitably it will become a straggler that is cast aside.”

Cách hiểu về chính trị thế giới của Giấc mơ Trung Quốc vì thế đã khác biệt so với quan điểm chính thức hài hoà thế giới của Bắc Kinh lẫn hệ thống Thiên hạ của Triệu Đinh Dương. Thay vì "xây dựng một xã hội hài hoà", Lưu Minh Phúc lại muốn chú tâm vào cuộc đấu tranh địa lý vĩ đại, nơi mà sự cạnh tranh giữa các quốc gia được xem là tự nhiên và tốt; thay vì vượt qua một hệ thống quốc tế mang trọng tâm quốc gia để xây dựng một trật tự thế giới Thiên hạ đoàn kết, Lưu lại xem các quan hệ quốc tế trong phạm vi nhỏ hẹp của "quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ"; thay vì những giải pháp hai bên cùng có lợi do hai chủ thuyết trên đưa ra, Giấc mơ Trung Quốc xem quan hệ quốc tế là một trò chơi được ăn cả ngã về không. "Nếu Trung Quốc trong thế kỷ 21 không thể trở thành số một của thế giới, không thể trở thành cường quốc lớn nhất hoàn cầu, thì chắc chắn nó sẽ trở thành một kẻ tụt hậu và bị gạt sang một bên."

While Zhao Tingyang’s The Tianxia System does not chart a clear path to the harmonious world he imagines, Liu Mingfu’s The China Dream is unclear about what China will do once it becomes the champion nation. Yet Liu’s book is fascinating because it reveals the tensions and contradictions of outlook that have accompanied China’s rise. Even as it articulates the goal of China’s global pre-eminence, Liu veers between two positions: a “catch-up mentality” that frames China’s rise within the current international system’s laws, norms and structures, and sees China’s goal as to “surpass” America; and a “new-era mentality” that stresses China’s uniqueness in the geopolitical competition between different civilisational (and racial) models, and thus challenges existing norms.

Trong khi Hệ thống Thiên hạ của Triệu Đinh Dương không vạch ra được một phương hướng rõ rệt để đi đến một thế giới hài hoà mà ông mường tượng, Giấc mơ Trung Quốc của Lưu Minh Phúc cũng chẳng rõ ràng trong việc Trung Quốc cần phải làm gì một khi nó đã trở một quốc gia vô địch. Nhưng cuốn sách của Lưu cũng rất hấp dẫn vì nó đã hé lộ ra những quan điểm căng thẳng và mâu thuẫn xảy ra trong quá trình vươn lên của Trung Quốc. Ngay cả khi chỉ rõ mục tiêu của Trung Quốc trước khi trở thành vị thế tối cao trên thế giới, Lưu đã xoay trở giữa hai vị trí: một "tâm lý đuổi kịp" buộc sự đi lên của Trung Quốc trong hệ thống pháp lý, qui luật và cơ chế hiện tại của quốc tế, và xem mục tiêu của Trung Quốc là để "qua mặt" Hoa Kỳ; và một "tâm lý thời đại mới" nhấn mạnh tính khác biệt của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh địa lý giữa những kiểu mẫu văn minh (và chủng tộc) khác nhau, và vì thế đã thách thức những qui luật hiện tại.

China’s global path

Many Chinese texts, official and unofficial, give the impression that China’s victory in the global competition is guaranteed, if not imminent. In fact the PRC is unlikely to catch up with the United States - economically, politically, culturally or militarily - in the next few decades. But the disjuncture between grand intentions and middling capabilities could itself lead to conflict, for Beijing is effectively promising its citizens much more than it can deliver in terms of global power and influence.

Hướng đi toàn cầu của Trung Quốc

Nhiều bài viết chính thức và không chính thức của Trung Quốc cho thấy một ấn tượng rằng chiến thắng của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh toàn cầu là điều bảo đảm, nếu không gọi là tất yếu. Trên thực tế thì nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc sẽ không đuổi kịp được Hoa Kỳ về kinh tế, chính trị, văn hoá lẫn quân sự trong vòng vài thập niên tới. Nhưng gián đoạn giữa những dự định vĩ đại và khả năng trung bình bản thân nó sẽ có thể dẫn đến mâu thuẫn, đối với Bắc Kinh là việc họ đang hứa hẹn quá chắc chắn với người dân của mình những gì họ không thể đạt được trong phạm vi quyền lực và ảnh hưởng trên toàn cầu.

This “propaganda gap” is likely to increase tensions between China and the US in the next few years - not least as the approach of Beijing’s transition to the “fifth generation” leadership that will assume power in 2012 after the retirement of Hu Jintao and Wen Jiabao is likely to be accompanied by the emergence of populist voices. Indeed, the prominent strategist Yan Xuetong recently lamented the declining status of international relations in the face of popular (and populist) views from outside the security-studies establishment. Many of these populist strategists in China see international politics as a hostile zero-sum game, a grand bipolar civilisational struggle, where victory and defeat are total.

"Khoảng cách tuyên truyền" này chắc chắn sẽ làm tăng thêm căng thẳng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong vài năm tới - chưa kể là sắp đến Bắc Kinh sẽ chuyển quyền lãnh đạo sang "thế hệ thứ năm", sẽ nắm lấy quyền lực vào năm 2012 sau khi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo về hưu, điều này chắc chắn sẽ kéo theo việc xuất hiện những chủ trương dân tuý. Thật vậy, chiến lược gia nổi tiếng là Diêm Học Thông vừa qua đã phê phán hiện tượng suy giảm về quan hệ quốc tến trên quan điểm dân tuý bên ngoài hệ thống nghiên cứu an ninh. Nhiều nhà chiến lược dân tuý ở Trung Quốc xem chính trị quốc tế như là một trò chơi được ăn cả ngã về không đầy thù địch, một cuộc đấu tranh đối cực vĩ đại giữa các nền văn minh.

The views of Zhao Tingyang and Liu Mingfu are interesting and influential in part because they are relative outsiders who offer a sense of the parameters within which vague official policies (such as “harmonious world”) are formulated, implemented, defended – and rejected.

Những quan điểm của Lưu Minh Phúc và Triệu Đinh Dương rất thú vị và đầy ảnh hưởng, một phần vì họ tương đối là những người ở bên ngoài, đưa ra chiều hướng rõ rệt trong đó những chính sách mơ hồ của chính quyền (ví dụ như "thế giới hài hoà") được đặt ra, thi hành, bảo vệ - và bị khước từ.

The three approaches considered here - hexie shijie, Tianxia, and “world number one” - do not exhaust all the visions on offer for China’s grand strategy in a post-western world. But considering them together suggests that the best way to address the developing debate in China is to with words and actions that are positive-sum and multilateral, which engage China at various levels, and in both official and unofficial spaces. In this perspective, the main issue is not what to do about China’s many-dimensional rise, but how to keep the bumps along China’s development road from provoking a hyper-nationalist backlash.

Ở đây có ba hướng đi được quan tâm - hài hoà thế giới, Thiên hạ và "số một thế giới" - không là những quan điểm duy nhất trong việc vạch ra chiến lược vĩ đại cho Trung Quốc trong một thế giới hậu phương tây. Nhưng gộp chung chúng lại cho thấy rằng phương pháp tốt nhất để đối phó với cuộc tranh luận đang xảy ra tại Trung Quốc là bằng ngôn từ và hành động mang hệ quả tích cực và đa phương, tiếp xúc với Trung Quốc trên nhiều mức độ, và trong phạm vi chính thức lẫn không chính thức. Trong khái niệm này, vấn đề chính không là phải đối phó như thế nào với sự vươn lên đa dạng của Trung Quốc, mà là tìm cách giới hạn những chướng ngại trên con đường phát triển của Trung Quốc để chúng không tạo ra những phản ứng của tinh thần quốc gia cực đoan.


Translated by Dien Vy

http://www.opendemocracy.net/william-callahan/china%E2%80%99s-grand-strategy-in-post-western-world



Grand Strategy spreads across US
By Evan Walker-Wells 3 March 2011

Anna Wang/YH

Has Colin Powell read Sun Tzu?” John Negroponte, DC ’60, former Director of National Intelligence, wondered aloud one day last spring as the “Studies in Grand Strategy” seminar read the work of the Chinese strategist. By the end of the class, he had an answer: yes. Negroponte had texted the former Secretary of State during the class.

But to be Secretary of State, do you need to read Sun Tzu? Maybe not, but it might be a good idea. This is one of the purposes of Studies in Grand Strategy (GS). Charles Hill, one the course’s three founding professors who worked in the State Department, explains that students interested in GS come to Yale with the idea of doing big things—like becoming president, or senator, or a Supreme Court justice. John Gaddis, another founding professor and prominent Cold War historian, says, “It should train Yale students—undergraduate, graduate, and professional school—for leadership in their respective fields.”

GS emerged from a desire to study ideas in the context of executing statecraft. In the 1990s, Paul Kennedy, the third founding processor, was the premiere diplomatic and military historian in the United States, and began a renaissance in the field. He, Hill, and Gaddis (who are often called the “Big Three”) wanted to build off of Kennedy’s reenergizing of these disciplines and focus on big ideas with practical effects. Though they disagree on the exact story of the course’s origins, the professors were united by a frustration with how micro-histories and the social sciences had taken over the liberal arts curriculum. Hill says that GS was born, in part, because “students were voting with their feet, choosing history over other majors with the idea of doing big things, because methodologies in other majors were social science things where you thought about little corners of the world.”

GS is co-taught by the Big Three, Minh Luong, associate director of the program, and three visiting practitioner-professors. The first semester of the course, taught in the spring, focuses on thinkers and historical actors’ conceptions of “grand strategy.” Most students receive money from the program to pursue a summer project, and all are required to write a report explaining how the concept of grand strategy applies to what they’ve done. In the fall, groups of students design and present policy proposals called Marshall Briefs on specific topics, which the faculty ruthlessly analyzes as if students were presenting to the President. Instead of a final exam or paper, the students elect a president and play out a crisis simulation as the US government. Throughout the course, the students have guest visitors: General David Petraeus, the Commander of the US Forces in Afghanistan, visited the class last year.

Between the big name professors, guests, and big ideas, Grand Strategy had built enough of a reputation outside of Yale that in 2008, Roger Hertog, a former investment banker, held a meeting here to announce that he was interested in funding programs similar to GS around America. The Big Three say that Hertog independently became interested in Yale’s GS program and decided that there should be more like it. Whether the Yale class that first caught Hertog’s eye can be replicated across the US by different professors with their own philosophies is in some ways particularly relevant to Yale as GS enters its second decade and students wonder what a GS after the Big Three may look like.

*

Thanks to Hertog’s funding and support, similar courses have appeared at Temple University, University of Wisconsin at Madison, Duke, and Columbia. According to an article in last October’s Philanthropy Magazine, this is just one part of Hertog’s broader interest in funding programs and chairs at universities that focus on “big ideas,” such as funding for Birthright trips for American Jews and a summer program in Jewish and western thought at Princeton. Hill is skeptical that grand strategy is really being taught outside of Yale. Often, he says, people “think they’re doing grand strategy but they’re not. They’re not because grand strategy is hard to grasp.”

Unrelated to Hertog’s initiative is what Walter Russell Mead, BK ’76, who was a professor at Yale for several years and co-taught GS here, calls “The Hudson River School of Grand Strategy”; it offers one course, which Mead teaches alone at Bard College. The syllabus is based on Yale’s, and is posted online along with slightly edited transcripts or reports of class discussions on “StratBlog” on The-American-Interest.com. Mead says the big challenge of the course is teaching everything himself. “I can’t count on Professor Luong to teach Sun Tzu and Professor Kennedy to teach British naval history.” He says the program currently doesn’t receive outside funding, but may solicit it if he can expand the program.

Some of the professors at the Hertog-funded programs—Matthew Connelly, GRD ’98, who helped found and now teaches at Columbia’s Hertog Global Strategic Initiative summer program, and Jeremy Suri, GRD ‘98, a professor at the Grand Strategy Program at University of Wisconsin-Madison—are Kennedy’s former students. Yale International Security Studies, a broader program of which GS is a part, funds graduate and post-graduate level research, and now has almost 100 former students teaching throughout the US, according to their literature. Though the Big Three may not have a direct hand in the grand strategy programs around the US, their influence is widespread.

Connelly says that when designing the Hertog Global Strategy Initiative at Columbia, “We borrowed aspects of Yale experience—the esprit de corps. Students form up in a tight knit unit, which gets them ready to take on really colossal challenges.” Connelly also places more emphasis on the actual research involved in the program. “We’re training students to do really original research so they can go on to do the same thing when it counts and when the stakes are higher.”

Peter Feaver runs Duke’s American Grand Strategy program and says that he modeled the program off Yale’s in some important ways—the focus on diplomatic and military history—while emphasizing Duke’s advantages in American history and policy. This emphasis on what is now called international history is, in some ways, a return to the way in which decision-making was studied many years ago. Feaver says, “It’s so old-school that it’s fresh.”

*

The material isn’t the only thing that’s old school—the teaching philosophy is too. The Marshall Briefs and the crisis simulation at the end of the course are designed to put pressure on to students to perform well in order to replicate what it’s really like to work in an intense, policy-making environment. Mead, in a Dec. 6 2009 blog post, calls GS’s teaching philosophy “teaching at both ends”—disciplining the rear-end with stress and even humiliation while educating the head. Gaddis says, “We try to give our students a sense of what it’s like to work under stress, which is inescapable in any leadership role. Beyond the class, it’s our hope that exposure to stress under simulated conditions will better prepare them to cope with it under real ones. Think of it as a kind of coaching.” One student from the 2010 class says, “The Marshall Brief comments can be fairly scathing. You work for hours and haven’t slept for days, and you get told that you’ve done nothing right. I understand in the abstract the life lesson, but it doesn’t mean I didn’t want to cry my eyes out. In GS, there can develop an aura of anxiety.”

This aura and the selectivity of the class create a certain mindset that many current and former students say adversely affects the course. One current student, an economics major, says, “The attitude with which some people approach GS is disappointing—this idea that you are chosen for this, that you are special because of it, that this is a great thing—there’s a sense with some people in the class that they’ve spent the first two and a half years of Yale working to get into this class, that this class is an end in itself.”

Just as each program teaches grand strategy in different ways, there are about as many definitions of grand strategy as there are students and professors. The most common is Gaddis’s: “The calculated relationship of means to large ends.” Feaver, who runs the Duke program, says, “Grand strategy refers to the efforts to globalize and coordinate all of the elements of national power—diplomatic, military, economic, psychological and soft power kinds of things, in pursuit of a national goal.” Hill thinks grand strategy is about how to make decisions that can’t be answered by other disciplines and involve uncertainty: “How do you act when you don’t have all the facts and can’t delay?”

Against this conception is some skepticism about whether grand strategy even exists. One current student and history major says, “Grand strategy can only exist in a retrospective way for historians to map out what at the time were ad hoc reactions to complex situations.” As a sign of this, he says, “The professors in the class inevitably paint grand strategies or grand strategists as goodies or baddies almost arbitrarily according to success insofar as how they think history’s supposed to progress.”

Mead sees grand strategy as a deeply personal mode of thought. He says that studying grand strategy in the realm of statecraft has taught him to think about his own life more strategically. “Grand strategy is how are you trying to conduct yourself in the world—how do you try to manage your affairs in this world? It pushes you back to first principles. That may be in a way something that happens more naturally at twenty than at my age—you spend a lot of time in your teens and twenties asking basic questions. At my age, you tend to take that a little more for granted. But I think it’s a good thing to keep coming back to those questions.”

Interdependency Theory China, India and the west Thuyết phụ thuộc hổ tương - Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây


Interdependency Theory

China, India and the west

Thuyết phụ thuộc hổ tương - Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây

Simon Tay, Foreign Affairs

Simon Tay, Foreign Affairs

In the aftermath of the global financial crisis, the economies of North America and Europe remain fragile while those of Asia continue to grow. This is especially true in the cases of China and India, which both boast near double-digit rates of growth and have therefore inspired confidence around the region. But too many commentators discuss China and India with breathless admiration -- extrapolating, for example, that growth will continue at a breakneck pace for decades. In doing so, they treat emerging economies as if they were already world powers, echoing the hubris that preceded the Asian currency crisis of 1997-98.

Trong hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế Bắc Mỹ và châu Âu vẫn còn mong manh trong khi những nền kinh tế của châu Á tiếp tục phát triển. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của Trung Quốc và Ấn Độ, cả hai cùng huênh hoang đạt phát triển gần mức hai con số khiến đã tạo cảm hứng tin tưởng khắp trong khu vực. Nhưng có vô số những nhà bình luận thảo luận với lời lẽ ngưỡng mộ không ngớt Trung Quốc và Ấn Độ – suy diễn rằng, ví dụ, sự phát triển sẽ tiếp tục tăng với nhịp độ rất nhanh trong nhiều thập kỷ nữa. Trong lúc hành xử như thế, họ xem những nền kinh tế đang nổi lên nầy như thể chúng đã là những cường quốc thế giới rồi vậy, khiến làm vang vọng cái âm hưởng xấc xược ngạo mạn vào thời trước khi cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á xảy ra năm 1997-98.

Pranab Bardhan's Awakening Giants, Feet of Clay: Assessing the Economic Rise of China and India is a welcome corrective to that view. It succinctly summarizes the challenges facing China and India, including environmental degradation, unfavorable demographics, poor infrastructure, and social inequality -- threats that the leaders of China and India understand. Even as others have lavished praise on China, and Chinese citizens have grown stridently nationalistic, Chinese President Hu Jintao and others in the current leadership have been cautionary. As Chinese Premier Wen Jiabao said in 2007, the country's development is "unsteady, unbalanced, uncoordinated, and unsustainable." In India, meanwhile, although the government has orchestrated campaigns to highlight the country's growth and reform, its plans to develop roads and other infrastructure are a prominent and expensive recognition of the country's enduring gaps.

Tác phẩm Những gã khổng lồ thức dậy, chân đất sét: Đánh giá sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ của Pranab Bardhan là lời cải chỉnh đáng hoan nghênh cho quan điểm trên. Tác phẩm nầy tóm tắt cô động những thách thức Trung Quốc và Ấn Độ phải đối mặt, bao gồm vấn nạn môi trường xuống cấp, nhiều thành phần dân chúng bị bạc đãi, cơ sở hạ tầng yếu kém, và bất công xã hội – những mối đe dọa mà những nhà lãnh đạo cả ở Trung Quốc lẫn Ấn Độ đều hiểu rõ. Ngay cả khi những nhà bình luận khác không ngớt tung hê hậu hĩ về Trung Quốc, và công dân Trung Hoa ngày càng oang oang về quốc gia dân tộc chủ nghĩa, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và những nhà lãnh đạo đương chức khác đã phải tỏ ra cảnh giác. Như thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng phải thốt lên vào năm 2007 rằng, sự phát triển của quốc gia là “không đều đặn, mất quân bình, không kết hợp đồng bộ, và không bền vững.” Trong khi đó, bên Ấn Độ, mặc dù chính phủ đã chỉ đạo nhiều chiến dịch làm tôn vinh những chương trình cải cách và sự phát triển của đất nước, những kế hoạch phát triển đường sá và những cơ sở hạ tầng khác là sự thừa nhận đắt giá và nổi bật của những hố ngăn cách kéo dài của quốc gia.

A more contentious claim offered by Bardhan is that internal reform -- not the global market -- has been the key driver of both countries' growth. Rather than focusing on India's information technology sector or China's export-led industrialization, Bardhan highlights less glamorous domestic sectors. Examining the rural economy -- in which a majority of Chinese and Indians work -- he concludes that growth is driven from below. He shows, for example, how China's steepest reductions in poverty had already happened by the mid-1980s, before the country began attracting sizable foreign trade and investment. The main causes of China's decline in poverty, Bardhan argues, were investments in infrastructure and reforms to town and village enterprises, which are predominantly agricultural.

Một luận điểm có thể gây tranh cãi nhiều hơn mà Bardhan nêu lên trong tác phẩm của mình đó là chính chính sách cải cách trong nước – chứ không phải là thị trường toàn cầu – là động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng cho cả hai quốc gia. Thay vì tập trung vào thành phần kinh tế công nghệ thông tin ở Ấn Độ hoặc nền kỹ nghệ hóa phụ thuộc chính vào xuất khẩu của Trung Quốc, Bardhan lại chú trọng vào những thành phần thuộc nội địa kém tươi sáng hơn. Xem xét nền khinh tế nông thôn – môi trường lao động của tuyệt đại đa số dân chúng Trung Quốc và Ấn Độ– Bardhan kết luận rằng sự tăng trưởng được thúc đẩy từ bên dưới. Thí dụ, Bardhan đã chỉ ra rằng Trung Quốc thành công đẩy lùi mức nghèo đói rất nhanh trước giữa thập niên 1980, trước thời gian đất nước thu hút được một khối lượng đáng kể đầu tư và thương mại nước ngoài. Bardhan biện giải những nguyên nhân chính dẫn đến giảm thiểu nhanh nạn nghèo đói ở Trung Quốc là do những chương trình cải cách và đầu tư vào cơ sở hạ tầng cho những xí nghiệp ở những thôn làng và thị trấn, mà đa phần nặng về nông nghiệp.

The book thus suggests that the fates of China and India are in their own hands -- and do not depend on the West, as many assume. If that is correct, then these giants can continue to grow despite the global economic crisis, towing much of Asia along with them. This would have great implications for geopolitics and economics. To the contrary, however, neither China nor India can ignore external conditions.

Do vậy, tác phẩm gợi ý rằng số phận của Trung Quốc và Ấn Độ là hoàn toàn tùy thuộc tự thân họ - và không phụ thuộc vào phương Tây như nhiều người vẫn tưởng. Nếu điều đó đúng, thì những gã khổng lồ nầy còn có thể tiếp tục phát triển bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và còn kéo theo sau phần lớn châu Á. Điều nầy có ý nghĩa trọng đại đối với các bộ môn kinh tế và địa chính trị học. Để chứng tỏ điều ngược lại, cả Trung Quốc và Ấn Độ cũng không thể lảng tránh những điều kiện đến từ bên ngoài.

GIANT FEUDS

One of the external circumstances affecting both China and India is their bilateral relationship -- and whether it will develop in a healthy or an antagonistic way. Although China and India cooperate in various intergovernmental bodies and trade more than ever -- Chinese-Indian trade increased from $3 billion in 2001 to $40 billion in 2007 -- there are various ways in which Asia's awakening giants might step on each other's feet of clay. Bardhan's book does not address this topic.

NHỮNG CỪU HẬN VĨ ĐẠI

Một trong những điều kiện ngoại lai tác động đến cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ đó chính là mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia – bất chấp mối quan hệ đó có phát triển lành mạnh hay đối địch thế nào đi chăng nữa. Tuy nhiên, Trung Quốc và Ấn Độ đã thiết lập quan hệ hợp tác thương mại và có liên kết nhiều cơ quan liên chính phủ khác nhau hơn từ trước đến nay – mậu dịch giữa Trung Hoa và Ấn Độ tăng từ 3 tỷ USD trong năm 2001 lên tới 40 tỷ USD vào năm 2007 – có nhiều cách khác nhau qua đó những gã khổng lồ châu Á mới thức dậy này có thể giẫm lên chân đất sét của nhau. Cuốn sách của Bardhan không đề cập gì đến chủ đề này.

The nadir of Chinese-Indian relations was the brief, one-sided war between the two countries in 1962, which resulted in a humiliating defeat (and the loss of more than 3,000 troops) for India. Relations have improved since then, but elements of cooperation coexist with competition and suspicion. Various geostrategic disputes separate Beijing and New Delhi, including a number of sensitive disagreements about areas along their 2,200-mile border. Tibet shares a long border with India, and when the region is restive, as it has been in recent years, China suspects Indian instigation. This makes disputes over remote Himalayan points -- such as Arunachal Pradesh, an Indian state claimed by Beijing -- loom large, as does China's recently intensified criticism of Indian actions in and around Kashmir.

Điểm chùng thấp nhất trong quan hệ Trung-Ấn là cuộc chiến đơn phương ngắn ngủi giữa hai quốc gia xảy ra vào năm 1962, mà kết quả là Ấn Độ bị bại thảm hại (với thiệt hại hơn 3,000 binh sĩ). Kể từ sau đó, mối quan hệ được dần cải thiện, nhưng những yếu tố hợp tác luôn tồn tại song hành với sự cạnh tranh và hoài nghi. Nhiều cuộc tranh chấp địa chiến lược làm chia rẽ Bắc Kinh và Tân Delhi, bao gồm một số bất đồng nhạy cảm về những khu vực nằm dọc theo biên giới dài 2,200 dặm giữa hai quốc gia. Tây Tạng chia sẻ chung đường biên giới dài với Ấn Độ, và khi khu vực này trở nên bất ổn như trong những năm gần đây, Trung Quốc hoài nghi Ấn Độ xúi giục. Điều nầy khiến những tranh chấp các điểm trên dãy Himalaya xa xôi – chẳng hạn như vùng Arunachal Pradesh, một tiểu bang thuộc Ấn Độ bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền – trở nên nghiêm trọng hơn, cũng như gần đây Trung Quốc tăng cường chỉ trích những hành động của Ấn Độ bên trong và xung quanh vùng Kashmir.

There are also newer sources of tension, including competition over Indian Ocean sea-lanes and the exploration of outer space. There is even tension over the very trade ties that increasingly link the two countries economically. In 2009, India hiked tariffs on telecommunications imports from China by as much as 200 percent in order to limit the flow of Chinese goods into that sector, which New Delhi considers both economically and strategically important.

Bên cạnh đó còn có những nguồn gây căng thẳng mới khác, kể cả sự cạnh tranh trên những tuyến đường biển trong vùng Ấn Độ Dương và trong lãnh vực khám phá vũ trụ. Thậm chí có cả căng thẳng ngay chính trong những quan hệ thương mại mà càng ngày càng liên kết hai quốc gia với nhau về mặt kinh tế. Năm 2009, Ấn Độ tăng cao thuế nhập khẩu lên 200% đối với những mặt hàng viễn thông nhập khẩu từ Trung Quốc nhằm để hạn chế lại dòng hàng nhập này từ quốc gia này, mà Tân Delhi cho là quan trọng cả trong khía cạnh kinh tế lẫn chiến lược.

Underlying these tensions is a power gap. Rising simultaneously, the two Asian giants compete for markets, natural resources, commercial investment, and political influence in Asia and worldwide. Depending on how one measures, China's economy is three or four times as large as India's. And whereas China is India's largest trading partner, India ranks only tenth among China's trading partners. Yet in government ministries in New Delhi and corporate towers in Mumbai, Indian elites typically refuse to concede India's status as number two.

Tiềm tàng bên dưới những căng thẳng này là một hố cách biệt về quyền lực. Cùng trỗi lên đồng thời, hai quốc gia châu Á khổng lồ này cạnh tranh lẫn nhau từ thị trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên, đầu tư thương mại, đến ảnh hưởng chính trị khắp trong vùng châu Á và trên toàn thế giới. Tùy thuộc vào cách lượng định của mỗi cá nhân, nền kinh tế của Trung Quốc lớn gấp ba hay bốn lần nền kinh tế của Ấn Độ. Và trong khi Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, Ấn Độ được xếp ở hạng thứ mười trong số những đối tác thương mại của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong những bộ ngành của chính phủ ở Tân Delhi và trong những tòa tháp của các đại công ty ở Mumbai, giới ưu tú Ấn Độ luôn luôn từ chối thừa nhận vị thế đứng hàng thứ nhì của quốc gia mình.

Of course, there are forces -- especially the Association of Southeast Asian Nations -- that seek to promote Asian regional cooperation and weaken the appeal of competition between Asian states. But although it hosts regional summits that include officials from China and India as well as officials from its member states, ASEAN is an association of only small and medium-sized economies, so it lacks the economic heft to direct regional integration. Therefore, although China and India may make shows of solidarity in the ASEAN forum and elsewhere, they will continue to compete economically, politically, and otherwise.

Hiển nhiên, còn những lực lượng khác – đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ra sức thúc đẩy cho sự hợp tác cấp khu vực châu Á và làm yếu đi hấp lực cạnh tranh giữa các quốc gia thành viên. Và mặc dầu đích thân đăng đàn chủ tế những hội nghị thượng đỉnh cấp khu vực bao gồm cả các giới chức từ Trung Quốc và Ấn Độ cũng như từ các quốc gia thành viên, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng chỉ là hiệp hội của những nền kinh tế trung bình và nhỏ, vì thế nó không có đủ trọng lượng kinh tế để định hướng cho sự hội nhập cấp khu vực. Do vậy, mặc dù Trung Quốc và Ấn Độ có thể phô diễn sự đoàn kết tại diễn đàn ASEAN hoặc bất kỳ nơi nào khác, hai quốc gia này vẫn phải tiếp tục cạnh tranh với nhau trên các lãnh vực kinh tế, chính trị, và theo những cách khác.

ASIAN LODESTAR

A major factor in the Chinese-Indian competition -- and in its perceived significance for the wider world -- is that the two countries have such different political systems. Their trajectories, therefore, offer insights into the prospects for development under authoritarianism and under democracy. In addressing this point, Bardhan rightly cautions against the simplistic conclusion that authoritarianism is superior to democracy with regard to growth. Yet he echoes simplistic characterizations of the subject, writing, for example, "India's experience suggests that democracy can also hinder development in a number of ways" and "in China, there is more decisive policy initiative and execution than in India." The real debate, especially in the wake of the recent crisis, is over what mix of democratic jockeying and authoritarian decisiveness makes economies most robust.

SAO BẮC ĐẨU CỦA CHÂU Á

Yếu tố chính trong cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ - và trong tầm ảnh hưởng mà thế giới bên ngoài có thể tiếp nhận được – là hai quốc gia có hai hệ thống chính trị rất khác biệt. Quĩ đạo của mỗi quốc gia, do vậy, dẫn dắt mỗi cách hiểu khác nhau về triển vọng phát triển của mỗi quốc gia, một theo đường hướng toàn trị một theo thể chế dân chủ. Bàn về điểm này, Bardhan thành thực đưa ra cảnh báo chống lại lối kết luận ấu trĩ cho rằng thể chế toàn trị là siêu vượt hơn thể chế dân chủ xét trên khía cạnh tăng trưởng. Tuy nhiên, ông lập lại tiến trình tính cách hóa quá giản đơn của chủ đề và viết như thế này, “Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy rằng thể chế dân chủ cũng có thể cản trở tốc độ phát triển theo một số cách” và “ở Trung Quốc, có nhiều sự chủ động và thực thi những chính sách mang tính quyết định hơn ở Ấn Độ.” Chủ đề tranh luận thực thụ, đặc biệt trong đợt khủng hoảng mới đây, là về cái trộn lẫn giữa mánh khóe thủ đoạn dân chủ với tính quyết đoán độc tài làm cho các nền kinh tế này bùng phát mạnh mẽ nhất.

The challenge for Beijing and New Delhi is to combine power and legitimacy. Only then can the Chinese and Indian governments take measures that may be unpopular in the short run or damaging to some politically connected sectors but necessary for long-term progress: stimulating job growth, alleviating poverty, protecting the environment, or other vital tasks.

Thách thức cho cả Bắc Kinh lẫn Tân Delhi là làm thế nào để kết hợp được quyền lực với tính hợp pháp. Chỉ bằng cách đó hai chính quyền Trung Quốc và Ấn Độ mới có thể thực thi được những giải pháp mà xem ra khác thường trong đoản kỳ hoặc có thể làm phương hại một số thành phần liên kết với nhau trên mặt chính trị nhưng lại thiết yếu cho sự tiến bộ trong trường kỳ như: kích thích tăng trưởng việc làm, xóa bỏ đói nghèo, bảo vệ môi trường, hoặc nhiều nhiệm vụ trọng yếu khác.

One hears often of a "Beijing consensus" but rarely, if ever, of any Indian model of governance. Indeed, India's case appears to be sui generis, especially since the modern Indian state was born a democracy -- unlike other postcolonial states, such as South Korea, which were or remain autocratic. Moreover, New Delhi has not traditionally sought to influence the political practices of other Asian states (lest its own domestic issues become vulnerable to intervention by foreigners). Asia therefore lacks a strong homegrown exemplar of successful economic development under democracy. Indonesia might become such a model, as it has been transitioning to democracy since Suharto's fall in 1998 and now has annual growth rates of four to six percent. But, for now, autocratic China remains Asia's lodestar.

Nhiều người thường nghe nói tới “sự đồng thuận Bắc Kinh” nhưng ít ai nghe nói tới điều gì về lối cai trị theo mô hình Ấn Độ. Quả thực, trường hợp của Ấn Độ là độc nhất vô nhị, đặc biệt từ khi nhà nước Ấn Độ hiện đại đã sản sinh ra một nền dân chủ - không giống bất kỳ nhà nước hậu thuộc địa nào khác, chẳng hạn như Nam Hàn, mà đã hoặc vẫn còn độc tài. Hơn thế nữa, Tân Delhi không có truyền thống tìm cách gây ảnh hưởng lên thiết chế chính trị cho bất kỳ quốc gia châu Á nào khác (vì sợ rằng những vấn đề nội bộ của mình trở nên dễ thương tổn trước sự can thiệp của người ngoại quốc). Châu Á do vậy thiếu vắng gương điển hình cây nhà lá vườn cho mô hình phát triển kinh tế thành công dưới thể chế dân chủ. Indonesia có thể trở thành một mô hình như thế, trong khi nó đang chuyển dịch theo chính thể dân chủ kể từ khi triều đại Suharto sụp đổ năm 1998 và hiện thời có tốc độ tăng trưởng hàng năm từ bốn đến sáu phần trăm. Nhưng, cho đến giờ phút này, Trung Quốc độc tài vẫn là ngôi sao Bắc Đẩu của châu Á.

This concerns many in the West who warn against China's model of state capitalism, criticize its human rights abuses and censorship, suspect Beijing of pursuing a manipulative currency policy, and generally see China as a risen dragon seeking domination. According to this view, China's economy has opened and globalized but its politics remain frozen around the Communist Party. This, in turn, suggests that the Chinese state will remain radically different from, and even opposed to, the liberal states of the West.

Điều này gây quan ngại cho nhiều người ở phương Tây lên tiếng cảnh báo mô hình tư bản nhà nước của Trung Quốc, chỉ trích Trung Quốc vi phạm nhân quyền và chế độ kiểm duyệt, nghi ngờ Bắc Kinh theo đuổi chính sách kiểm soát tiền tệ, và đại để xem Trung Quốc như một con rồng đang vươn lên tìm cách bành trướng thống trị. Dưới cái nhìn của quan điểm này, nền kinh tế của Trung Quốc đã được mở cửa và toàn cầu hóa nhưng hệ thống chính trị của nó vẫn còn đông cứng xung quanh Đảng Cộng sản. Thực tế này, đến phiên nó, cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc vẫn tiếp tục tồn tại khác biệt từ trong căn bản, và thậm chí đối nghịch với, những nhà nước tự do của phương Tây.

WESTERN RULES

Edward Steinfeld's book Playing Our Game: Why China's Rise Doesn't Threaten the West offers a different perspective on China's rise. The changes in China's economic and political systems are not contradictory, Steinfeld argues, but are more or less in sync. This, he argues, is because of "institutional outsourcing" from the global system: globalization brings with it commercial discipline and requires states to institute rules in order to foster change and anchor progress.

LUẬT LỆ PHƯƠNG TÂY

Tác phẩm Chơi trò chơi của ta: Tại sao sự trỗi dậy của Trung Quốc không đe dọa phương Tây của Edward Steinfeld cung cấp một góc độ nhìn khác về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Steinfield lập luận rằng hệ thống chính trị và kinh tế của Trung Quốc không đối chọi nhau, mà trái lại không nhiều thì ít đồng bộ với nhau. Luận điểm này, được ông lập luận, là bởi vì khuynh hướng “vươn ra ngoài để tìm kiếm nguồn lực theo thông lệ” (institutional outsourcing) của hệ thống toàn cầu: toàn cầu hóa mang theo mình những qui tắc thương mại và đòi hỏi mọi quốc gia phải thiết lập luật lệ để nâng đỡ sự thay đổi và giữ vững tiến bộ.

Having been influenced by foreign investors and experts, the Chinese government and business community have deliberately altered China's commercial environment, especially with regard to legal institutions and industrial-labor relations. For example, in 2007, the National People's Congress enacted a labor contract law that provides individual workers with far more job security than they had under the preexisting laws, which dated back to 1994. China remains a far cry from having the sort of labor unions and collective bargaining that are taken for granted elsewhere, but, as Steinfeld correctly argues, Chinese labor practices are moving away from their revolutionary roots and are increasingly consonant with Western standards.

Dưới ảnh hưởng của giới chuyên gia và những nhà đầu tư ngoại quốc, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc đã chủ động điều chỉnh môi trường thương mại, đặc biệt là lãnh vực liên quan sự thiết lập pháp chế và quan hệ lao động công nghiệp. Ví dụ, năm 2007, Quốc hội Nhân dân Quốc gia Trung Quốc ban hành bộ luật hợp đồng lao động qua đó từng cá thể lao động được hưởng nhiều quyền về an ninh việc làm hơn rất nhiều so với trước đây thời còn bộ luật cũ từ năm 1994. Trung Quốc còn lâu nữa mới có được hình thức tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể mà đã trở thành thông lệ hiển nhiên ở nhiều nơi khác, nhưng, như Steinfeld đích thực chỉ ra, hoạt động lao động của Trung Quốc đang xa rời cội rễ cách mạng của chúng và ngày càng tiến sát gần với những chuẩn mực phương Tây.

Meanwhile, argues Steinfeld, the role of the Communist Party within China's political system has changed radically in recent decades. Today, politics are primarily determined not by contests for power between the party and different segments of society but by partnerships between government forces and reform elements outside the party. Ordinary Chinese people, Steinfeld argues, have gone from being mere subjects to being citizens. Because of this, the Chinese government has to proceed cautiously: to preserve the party's central role, officials must find allies outside the party, including among activists and civil-society elements, that could otherwise threaten the party's monopoly on official power. To Steinfeld, this means that China is evolving in much the same way that other modernizing nations did, including not just South Korea and Taiwan but also the United Kingdom and the United States. Increasingly liberal politics are ahead, he argues, even if the Communist Party will remain central and there will be ebbs and flows along the way.

Trong lúc đó, theo lập luận của Steinfeld, vai trò của Đảng Cộng sản bên trong hệ thống chính trị của Trung Quốc đã thay đổi tận căn gốc trong vài thập niên gần đây. Ngày ngay, quyền lực chính trị được quyết định chính yếu không phải bằng những cuộc tranh đua quyền lực giữa một bên là đảng với những thành phần khác nhau của xã hội mà bằng chính sự cộng tác, liên minh giữa những thế lực trong chính quyền và những thành phần cải cách bên ngoài đảng. Người dân thường Trung Quốc, theo Steinfeld, đã chuyển đổi từ chỗ thuần túy chỉ là chủ thể để trở thành những công dân thực thụ. Bởi vì lý do này, chính quyền Trung Quốc buộc phải hành động một cách cẩn trọng: để bảo toàn vai trò trung tâm của đảng, cán bộ phải tìm đồng minh ở bên ngoài đảng, kể cả trong số những nhà hoạt động và những thành phần xã hội dân sự, mà nếu không làm như thế có thể đe dọa nguy hiểm cho vai trò độc tôn của đảng đối với quyền chính. Đối với Steinfeld, điều này có nghĩa là Trung Quốc đang tiến hóa rất giống với cách thức những quốc gia đang hiện đại hóa đã trải qua, kể cả không chỉ Nam Hàn và Đài Loan mà còn cả Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Rõ ràng là nền chính trị tự do đang chờ đón ở phía trước, Steinfeld bày tỏ, ngay cả khi Đảng Cộng sản vẫn còn nắm vai trò trung tâm và hẵn nhiên sẽ có lắm thăng trầm trên con đường trước mặt.

"China today is growing not by writing its own rules… It is playing our game," Steinfeld writes. That game is globalization, and its dominant rules are set predominately by the West. If this is correct, China will increasingly become a responsible stakeholder in the existing global order. The country, then, does not need to be contained; globalization will take care of that.

“Trung Quốc ngày nay đang phát triển không phải do tự mình đặt ra luật lệ riêng cho mình . . . Trung Quốc đang chơi trò chơi của chúng ta,” Steinfeld viết như thế trong sách. Trò chơi đó chính là cuộc toàn cầu hóa, và những luật lệ thống trị của nó đã được phương Tây thiết định chiếm ưu thế. Nếu quả đúng như thế, Trung Quốc sẽ càng ngày càng trở nên có trách nhiệm hơn trong vai trò là một bên tham gia trong cái trật tự toàn cầu đang hiện hữu này. Đất nước này, do vậy, không cần thiết phải bị kềm chế; cuộc toàn cầu hóa sẽ làm lấy cái phần vụ đó.

Such analysis may breed complacency. First, China may not follow established rules. Beijing has had high-profile difficulties with Google over the past months, and the CEO of General Electric, Jeffrey Immelt, recently commented that although his company had ramped up investments in China, he was not sure that Chinese officials "want any of us to win or any of us to be successful." Furthermore, established rules might be unable to accommodate some of the unprecedented issues raised by Chinese growth. Take monetary policy: What China has done in accumulating massive financial reserves is similar to what other Asian states did during their development, but those states had far smaller economies. China's accumulation of reserves might threaten the crisis-plagued global financial system, especially given the complex matter of whether Beijing sets policy based on political reasons as much as economic ones.

Những phân tích như thế có thể sản sinh ra sự tự mãn. Trước tiên, Trung Quốc có thể không tuân thủ những luật lệ đã được thiết lập. Bắc Kinh gặp nhiều khó khăn trước công luận khắp nơi trong vụ Google cách nay mấy tháng, và mới đây tổng giám đốc điều hành công ty General Electric, ông Jeffrey Immelt, bình luận rằng mặc dù công ty của ông đã tăng đầu tư vào Trung Quốc, ông vẫn không chắc là giới chức Trung Quốc “muốn ai trong chúng ta chiến thắng hoặc ai trong cúng ta đạt được thành công.” Bên cạnh đó, những luật lệ hiện hữu có thể không phù hợp với một số những vấn đề chưa có tiền lệ nổi lên do sự phát triển của Trung Quốc tạo ra. Hãy xem xét chính sách tiền tệ: Những gì Trung Quốc đã và đang làm để tích trữ những nguồn dự trữ tài chánh khổng lồ thì cũng giống như những quốc gia châu Á khác đã làm trong quá trình phát triển, nhưng tất cả những quốc gia đó đều có nền kinh tế nhỏ hơn rất nhiều. Sự gia tăng tích trữ nguồn dự trữ của Trung Quốc có thể đe dọa hệ thống tài cánh đã bị nhiễm khủng hoảng toàn cầu, đặc biệt trong điều kiện của vấn đề phức tạp không rõ Bắc Kinh hoạch định chính sách dựa trên cơ sở chính trị ngang bằng với trên cơ sở kinh tế hay không.

The state's decisive role in the Chinese economy allowed it to respond bluntly and effectively to the recent global financial crisis. But, as the financier George Soros and others have rightly warned, there are substantial dangers that China's brand of state capitalism may give too little regard to the market and to humanistic values. Steinfeld regards such concerns as throwbacks to a past era, before China began acting as an authoritarian liberalizer in the mold of other East Asian states. He argues, for example, that the attempt of the China National Offshore Oil Corporation to purchase U.S.-based Unocal in 2005 -- which some critics in the United States argued was motivated by a strategic effort to secure Chinese access to energy -- was merely a corporate decision aimed at modernizing a major business. CNOOC, he points out, was publicly listed in Hong Kong and had been working with Western consultants to achieve global scale and standing.

Vai trò quyết định của nhà nước trong nền kinh tế Trung Quốc cho phép nó phản ứng thẳng thừng và hiệu quả đối với cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu mới đây. Nhưng, như nhà tài phiệt George Soros và những người khác đã cảnh báo rất đích đáng rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước có nhãn hiệu “made in China” có thể không chú trọng gì mấy đến những giá trị thị trường và giá trị nhân bản. Steinfeld đề cập đến những lo ngại đó trong khi ngoái nhìn lại một thời đã qua, trước khi Trung Quốc bắt đầu thủ vai kẻ tự do hóa toàn trị trong khuôn khổ của những nhà nước Đông Á khác. Steinfeld lý luận, ví dụ, nỗ lực của Công ty dầu hỏa xa bờ quốc gia Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation – CNOOC) để mua lại công ty Unocal có trụ sở đóng ở Mỹ năm 2005 – mà theo một số nhà phê bình từ Hoa Kỳ cho rằng nó được thúc đẩy bởi nỗ lực chiến lược nhằm đảm bảo nguồn vào năng lượng cho Trung Quốc – là chỉ thuần túy quyết định của công ty nhằm mục đích hiện đại hóa một lãnh vực kinh doanh quan trọng. CNOOC, ông chỉ ra, là công ty niêm yết công khai ở Hồng Kông và đã và đang làm việc với những nhà tư vấn phương Tây nhằm nâng vị thế và tầm mức của công ty lên cấp độ toàn cầu.

These insights are useful, but perceptions matter, and many U.S. policymakers viewed CNOOC's actions as a case of Chinese leaders using corporate cover for their pursuit of national security goals. This is one reason why China's rise continues to trigger suspicion in Asia, the United States, and elsewhere.

Những cách hiểu thấu đáo này rất hữu ích, nhưng cách thức nhận thức mới trở thành đáng chú ý, và nhiều nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ vẫn nhìn nhận những hoạt động của CNOOC như một trường hợp giới lãnh đạo Trung Quốc muốn sử dụng cái vỏ bộc công ty để theo đuổi những mục đích an ninh quốc gia của họ. Đây chính là lý do gải thích tại sao sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp tục tạo hoài nghi cho châu Á, Hoa Kỳ, và nhiều khu vực khác.

THE INDISPENSABLE NATION

Many Americans are concerned that in a "post-American world," as the Newsweek editor Fareed Zakaria put it, a rising Asia and a worried and weary United States will ignore each other or interact acrimoniously. But, as Steinfeld argues, Asia's fate is tied by globalization to the West.

MỘT QUỐC GIA KHÔNG THỂ THIẾU

Nhiều người Mỹ lo ngại rằng trong “thế giới hậu-Hoa Kỳ,” theo cách gọi của ông Fareed Zakaria biên tập viên tờ Newsweek, một châu Á đang nổi lên và một Hoa Kỳ đang mệt mỏi và lo âu sẽ làm ngơ nhau hoặc đối chọi nhau gay gắt. Nhưng, theo quan điểm của Steinfeld, số phận của châu Á đã gắn chặt với phương Tây qua công cuộc toàn cầu hóa.

Before the economic crisis, there seemed a reasonable case to be made that Asia could decouple from the West -- that increased economic integration among Asian states could keep the region growing even if U.S. consumers stopped buying Asian goods. As the crisis mounted in 2008, however, it became clear that Asia and the West are not decoupling: when U.S. demand fell sharply, it immediately hurt production across Asia, especially in China.

Trước cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra, dường như có một trường hợp xem ra hợp lý cần ghi nhận đó là châu Á có thể tách rời khỏi phương Tây – có nghĩa là hòa nhập kinh tế giữa những quốc gia châu Á với nhau ngày càng tăng có thể duy trì cả khu vực phát triển cho dù ngay cả khi người tiêu thụ Mỹ ngừng mua sắm hàng hóa từ châu Á. Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng dâng cao vào năm 2008, tình hình cho thấy rõ rằng châu Á và phương Tây không thể tách rời nhau được: khi mức cầu của Mỹ giảm sút mạnh, ngay lập tức nền sản xuất khắp vùng châu Á bị tổn thưởng, đặc biệt là ở Trung Quốc.

But some efforts are already under way to limit Asian economies' reliance on U.S. markets by increasing Asian states' own domestic consumption and developing new financial mechanisms to keep Asian savings in Asia and away from the U.S. Treasury. For example, under the recently enacted Chiang Mai Initiative, Asian governments (including the members of ASEAN, plus China, Japan, and South Korea) pledged over $120 billion for currency swaps aimed at ensuring currency stability across the continent. And as of this year, ASEAN and China are united in a free-trade zone that is the world's largest combined market, with over 1.8 billion people. (In addition, various bilateral trade agreements have crisscrossed Asia for years.)

Nhưng một số những nỗ lực đã được thực hiện để làm hạn chế sự lệ thuộc của các nền kinh tế châu Á vào thị trường Hoa Kỳ bằng cách gia tăng tiêu thụ nội địa chính tại các quốc gia châu Á và phát triển những cơ chế tài chánh mới nhằm nắm giữ nguồn tiền tiết kiệm của họ lại ngay tại châu Á để tránh không cho chúng chảy về trong Ngân khố Hoa Kỳ. Ví dụ, dưới Sáng kiến Chiang Mai vừa được ban hành mới đây, các chính phủ châu Á (kể cả những thành viên của ASEAN, cộng thêm Trung Quốc, Nhật Bản, và Nam Hàn) đã cam kết hứa đóng góp 120 tỷ USD cho những gói trao đổi tiền tệ nhằm để đảm bảo ổn định tiền tệ lưu thông cho toàn khắp lục địa này. Và vừa trong năn nay, ASEAN và Trung Quốc đã kết hợp thành một khu vực tự do mậu dịch, một thị trường liên kết lớn nhất trên thế giới với số dân hơn 1.8 tỷ người. (Thêm vào đó, nhiều thỏa thuận thương mại song phương khác nhau đã được kí kết chồng chéo giữa các quốc gia châu Á trong nhiều năm qua.)

Steinfeld's book explains why even such reforms separate Asian economies from Western ones only marginally. As China has captured the central role in global production networks, Steinfeld points out, its economic growth has unleashed great innovative capacity in U.S. companies. To be sure, the economic crisis has made some U.S. actors, such as labor unions, increasingly critical of globalization, but major U.S. companies have long recognized that trade and investment in Asia are essential to their ability to innovate and stay ahead.

Tác phẩm của Syeinfeld giải thích lí do tai sao những cải tổ như thế làm phân chia những nền kinh tế châu Á khỏi phương Tây chỉ với biên độ nhỏ. Khi Trung Quốc chiếm lấy vai trò trung tâm trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, Steinfeld chỉ ra, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đã làm giải phóng khả năng đổi mới to lớn của những công ty Hoa Kỳ. Để củng cố cho chắc chắn, cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến một số diễn viên Hoa Kỳ, chẳng hạn như những liên đoàn lao động, càng tỏ ra phê phán cuộc toàn cầu hóa, nhưng những công ty lớn của Hoa Kỳ đã từ lâu thừa nhận rằng giao thương và đầu tư ở châu Á rất quan trọng cho khả năng cải tổ và duy trì vị trí hàng đầu của họ.

There are many additional factors outside the scope of Steinfeld's book that also demonstrate the interdependence of Asia and the West -- especially in terms of regional security. The United States remains essential to a range of issues in the region, including the stability of the Korean Peninsula and the Taiwan Strait, disputes over control of the South China Sea and over human rights in countries such as Myanmar (also known as Burma), and the future of Afghanistan and Pakistan. Asia currently has no local substitute for U.S. influence, and indeed, old and unsettled Asian rivalries could reignite if any one power tried to assert itself too forcefully. The rise of Asia is far from a truly continental affair; the region is not united. Policymakers in Washington and across Asia, therefore, should continue to welcome strong U.S. influence in the region.

Còn nhiều những yếu tố hỗ trợ nằm ngoài phạm vi đề cập của tác phẩm của Steinfeld mà cũng minh họa cho sự phụ thuộc hổ tương của châu Á và phương Tây – đặc biệt trên khía cạnh an ninh khu vực. Hoa Kỳ vẫn còn rất quan trọng trong một loạt những vấn đề trong khu vực, kể cả sự ổn định của bán đảo Triều tiên và vùng eo biển Đại Hàn, những tranh chấp quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông của Việt Nam) và cả vấn đề nhân quyền tại nhiều quốc gia chẳng hạn như Myanmar (còn được biết là Burma), và tương lai của Afghanistan và Pakistan. Châu Á hiện tại không có nguồn lực thay thế cho ảnh hưởng của Hoa Kỳ, và quả đúng như thế, những đối thủ châu Á cũ và không ổn định có thể sẽ kích nổ trở lại nếu bất kỳ cường quốc nào cố gắng khẳng định vị thế mình quá mạnh mẽ. Sự trỗi dậy của châu Á còn lâu mới thực thụ là vấn đề toàn lục địa; khu vực này không đoàn kết. Cho nên, những nhà hoạch định chính sách ở Washington và khắp châu Á nên tiếp tục hoan nghênh mức ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kỳ trong khu vực.




Translated by Hoang Quan



http://www.foreignaffairs.com/articles/66595/simon-tay/interdependency-theory?page=show