|
|
|
|
‘Princelings’ in
China Use Family Ties to Gain Riches
|
Con ông Cháu cha ở
Trung Quốc dùng quan hệ gia đình để làm giàu
|
|
By DAVID BARBOZA and SHARON LaFRANIERE
|
DAVID BARBOZA & SHARON LaFRANIERE
|
|
The New York Times
May 17, 2012
|
New York Times
17/5/2012 132
|
|
SHANGHAI — The Hollywood studio DreamWorks Animation
recently announced a bold move to crack China’s tightly protected film
industry: a $330 million deal to create a Shanghai animation studio that
might one day rival the California shops that turn out hits like “Kung Fu
Panda” and “The Incredibles.”
|
THƯỢNG HẢI – Trường quay phim DreamWorks Animation ở
Hollywood vừa báo tin đã đặt được chân vào nền điện ảnh Trung Quốc trước nay
vẫn nổi tiếng là kín cổng cao tường: một hợp đồng trị giá 330 triệu đô USD$
đã được ký để thành lập ở Thượng Hải một trường quay phim có thể một ngày kia
cạnh tranh với những xưởng phim ở Californi, nơi sản xuất những phim ăn khách
như Kung Fu Panda và Những kẻ bất diệt.
|
|
What DreamWorks did not showcase, however, was one of its
newest — and most important — Chinese partners: Jiang Mianheng, the
61-year-old son of Jiang Zemin, the former Communist Party leader and the
most powerful political kingmaker of China’s last two decades.
|
Điều mà DreamWork có vẻ mập mờ không nói rõ là, trong số
những đối tác Trung Quốc, nhân vật quan trọng nhất là Giang Miên Hành, 61
tuổi, con của Giang Trạch Dân, cựu chủ tịch Trung Quốc, và là thế lực chính
trị hùng mạnh nhất trong hai thập niên qua của Trung Quốc.
|
|
The younger Mr. Jiang’s coups have included ventures with
Microsoft and Nokia and oversight of a clutch of state-backed investment
vehicles that have major interests in telecommunications, semiconductors and
construction projects.
|
Những phi vụ nhỏ hơn của ông Giang bao gồm liên doanh với
Microsoft và Nokia và giám sát một cụm các phương tiện đầu tư do nhà nước hậu
thuẫn có lợi ích lớn trong viễn thông, bán dẫn và các dự án xây dựng.
|
|
That a tay like Mr. Jiang would be included in an
undertaking like that of DreamWorks is almost a given in today’s China.
Analysts say this is how the Communist Party shares the spoils, allowing the
relatives of senior leaders to cash in on one of the biggest economic booms
in history.
|
Việc một tay giao dịch làm ăn như ông có mặt trong một vụ
làm ăn tương tự như của DreamWorks là gần như là lẽ thường ở Trung Quốc ngày
nay. Các nhà phân tích cho rằng đây là cách thức Đảng Cộng sản chia sẻ chiến
lợi phẩm, cho phép thân nhân của lãnh đạo cấp cao dự phần vào một trong những
nên kinh tế lớn bùng nổ nhất trong lịch sử.
|
|
As the scandal over Bo Xilai continues to reverberate, the
authorities here are eager to paint Mr. Bo, a fallen leader who was one of 25
members of China’s ruling Politburo, as a rogue operator who abused his
power, even as his family members accumulated a substantial fortune.
|
Khi vụ bê bối Bạc Hy Lai tiếp tục vang dội, các nhà chức
trách ở đây mong muốn bôi nhọ ông Bạc, một nhà lãnh sụp đổ, một trong 25
thành viên của Bộ Chính trị cầm quyền của Trung Quốc, là một nhà điều hành
lừa đảo, một người lạm dụng quyền lực, và ngay cả các thành viên trong gia
đình cũng tích lũy một tài sản đáng kể.
|
|
But evidence is mounting that the relatives of other
current and former senior officials have also amassed vast wealth, often
playing central roles in businesses closely entwined with the state,
including those involved in finance, energy, domestic security,
telecommunications and entertainment. Many of these so-called princelings
also serve as middlemen to a host of global companies and wealthy tycoons
eager to do business in China.
|
Nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng rằng người thân của
các quan chức cấp cao đương nhiệm và đã về hưu tích lũy tài sản lớn, mà thường
đóng vai trò trung tâm trong các doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhà
nước, bao gồm cả những người tham gia vào tài chính, năng lượng, an ninh nội
địa, viễn thông và giải trí. Nhiều người trong cái gọi là những thái tử đảng
cũng đóng vai trung gian để làm chủ các công ty toàn cầu và trở thành các ông
trùm giàu có mong muốn kinh doanh ở Trung Quốc.
|
|
“Whenever there is something profitable that emerges in
the economy, they’ll be at the front of the queue,” said Minxin Pei, an
expert on China’s leadership and professor of government at Claremont McKenna
College in California. “They’ve gotten into private equity, state-owned
enterprises, natural resources — you name it.”
|
"Bất cứ khi nào có một cái gì đó có lợi nhuận mà nổi
lên trong nền kinh tế, họ sẽ được ở vị trí hàng đầu", Minxin Pei, một
chuyên gia về lãnh đạo Trung Quốc và là giáo sư về chính phủ học tại
Claremont McKenna College ở California cho biết. "Họ tham gia vào vốn
chủ sở hữu tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, tài nguyên thiên nhiên – còn nhiều
thứ nữa."
|
|
For example, Wen Yunsong, the son of Prime Minister Wen
Jiabao, heads a state-owned company that boasts that it will soon be Asia’s
largest satellite communications operator. President Hu Jintao’s son, Hu
Haifeng, once managed a state-controlled firm that held a monopoly on
security scanners used in China’s airports, shipping ports and subway
stations. And in 2006, Feng Shaodong, the son-in-law of Wu Bangguo, the
party’s second-ranking official, helped Merrill Lynch win a deal to arrange
the $22 billion public listing of the giant state-run bank I.C.B.C., in what
became the world’s largest initial public stock offering.
|
Chẳng hạn, xí nghiệp quốc doanh mà Ôn Vân Tống, con của
thủ tướng Ôn Gia Bảo làm giám đốc, đang trở thành hãng hoạt động lớn nhất về
truyền thông qua vệ tinh Á châu. Người lãnh đạo công ti nắm độc quyền nhà
nước về xử dụng scanners cho hệ thống an ninh là Hồ Hải Phong, con của chủ
tịch Hồ Cẩm Đào. Năm 2006, qua sự trung gian của Phùng Thiếu Đông, con rể Ngô
Bang Quốc, nhân vật số 2 của Đảng, Merrill Lynch đã ký với ICBC, một ngân
hàng quốc doanh khổng lồ, một hợp đồng về tổ chức đầu vào của chứng khoán, trị
giá 22 tỉ đô la.
|
|
Much of the income earned by families of senior leaders
may be entirely legal. But it is all but impossible to distinguish between
legitimate and ill-gotten gains because there is no public disclosure of the
wealth of officials and their relatives. Conflict-of-interest laws are weak
or nonexistent. And the business dealings of the political elite are heavily
censored in the state-controlled news media.
|
Phần lớn thu nhập gia đình của các nhà lãnh đạo cấp cao có
thể là hoàn toàn hợp pháp. Nhưng nhìn chung không thể phân biệt giữa lợi ích
hợp pháp và bất hợp pháp vì không có công bố công khai tài sản của viên chức
và người thân của họ. Pháp luật về xung đột lợi ích là yếu hoặc không tồn
tại. Và các giao dịch kinh doanh của giới tinh hoa chính trị được kiểm duyệt
nặng nề trên các phương tiện truyền thông nhà nước kiểm soát.
|
|
The spoils system, for all the efforts to keep a lid on
it, poses a fundamental challenge to the legitimacy of the Communist Party.
As the state’s business has become increasingly intertwined with a class of
families sometimes called the Red Nobility, analysts say the potential exists
for a backlash against an increasingly entrenched elite. They also point to
the risk that national policies may be subverted by leaders and former
leaders, many of whom exert influence long after their retirement, acting to
protect their own interests.
|
Hệ thống chiến lợi phẩm, mà tất cả các nỗ lực nhằm che đậy
nó, đặt ra một thách thức cơ bản về tính chính danh của Đảng Cộng sản. Khi
kinh doanh của nhà nước đã trở nên ngày càng gắn bó với một tầng lớp các gia
tộc đôi khi được gọi là quý tộc đỏ, các nhà phân tích cho rằng tồn tại một
khả năng về một phản ứng dữ dội chống lại một tầng lớp tinh hoa ngày càng cố
thủ này. Họ cũng chỉ ra những rủi ro rằng các chính sách quốc gia có thể bị
phá vỡ bởi các nhà lãnh đạo và cựu lãnh đạo, nhiều người trong số họ gây ảnh
hưởng lâu dài sau khi đã nghỉ hưu của họ, và hành động để bảo vệ lợi ích
riêng của họ.
|
|
Chinese officials and their relatives rarely discuss such
a delicate issue publicly. The New York Times made repeated attempts to reach
public officials and their relatives for this article, often through their
companies. None of those reached agreed to comment on the record.
|
Các quan chức Trung Quốc và thân nhân của họ hiếm khi công
khai thảo luận về một vấn đề tế nhị. Tờ báo New York Times đã cố gắng nhiều
lần để tiếp cận các quan chức công quyền và người thân của họ cho bài viết
này, thường là thông qua công ty của họ. Không ai trong số những người được
gặp đưa ra nhận xét gì.
|
|
A secret United States State Department cable from 2009,
released two years ago by the WikiLeaks project, cited reports that China’s
ruling elite had carved up the country’s economic pie. At the same time, many
companies openly boast that their ties to the political elite give them a
competitive advantage in China’s highly regulated marketplace.
|
Một điện mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 2009, do WikiLeaks
công bố hai năm, trích dẫn báo cáo nói rằng tầng lớp cầm quyền của Trung Quốc
đã chia phần chiếc bánh kinh tế của đất nước. Đồng thời có nhiều xí nghiệp
muốn chứng tỏ có nhiều ưu thế hơn những đối thủ của mình khi phô trương một
cách công khai là có mối quan hệ với những thành phần chính trị nằm trên
thượng đỉnh.
|
|
A Chinese sportswear company called Xidelong, for example,
proudly informed some potential investors that one of its shareholders was
the son of Wen Jiabao, according to one of the investors. (A private equity
firm, New Horizon, that the son, Wen Yunsong helped found invested in the
company in 2009, according to Xidelong’s Web site.) “There are so many ways
to partner with the families of those in power,” said one finance executive
who has worked with the relatives of senior leaders. “Just make them part of
your deal; it’s perfectly legal.”
|
Chẳng hạn, một công ty đồ thể thao Trung Quốc có tên là
Xidelong, tự hào thông báo cho một số
nhà đầu tư tiềm năng biết rằng một trong những cổ đông của nó là con trai của
Ôn Gia Bảo, một trong các nhà đầu tư cho biết. (Công ty cổ phần tư nhân, New
Horizon, mà người con trai, Wen Yunsong giúp thành lập đã đầu tư vào công ty
trong năm 2009, trang web của Xidelong cho biết.) "Có quá nhiều các đề
làm đối tác với các gia đình quyền thế. Chỉ cần những người này có phần trong
bản giao kèo là mọi việc đều hợp lệ”, một chuyên viên tài chính quen làm việc
với giới thân cận những quan chức chóp bu nói như vậy."
|
|
Worried about the appearance of impropriety and growing
public disgust with official corruption, the Communist Party has repeatedly
revised its ethics codes and tightened financial disclosure rules. In its
latest iteration, the party in 2010 required all officials to report the
jobs, whereabouts and investments of their spouses and children, as well as
their own incomes. But the disclosure reports remain secret; proposals to
make them public have been shelved repeatedly by the party-controlled
legislature.
|
Lo lắng về sự xuất hiện của tài sản bất minh và sự căm
ghét của công chúng với tham nhũng của viên chức ngày càng phát triển chính,
Đảng Cộng sản đã nhiều lần sửa đổi quy chế về đạo đức và thắt chặt các quy
tắc công khai tài chính. Trong lần thực hiện mới nhất năm 2010, đảng yêu cầu
tất cả các quan chức báo cáo về việc làm, nơi ở và đầu tư của vợ chồng và con
cái của họ, cũng như thu nhập của chính họ. Tuy nhiên, các báo cáo công bố
thông tin vẫn còn bí mật, đề nghị công khai hóa đã bị hoãn nhiều lần bởi cơ
quan lập pháp do đảng kiểm soát.
|
|
The party is unlikely to move more aggressively because
families of high-ranking past and current officials are now deeply embedded
in the economic fabric of the nation. Over the past two decades, business and
politics have become so tightly intertwined, they say, that the Communist
Party has effectively institutionalized an entire ecosystem of crony
capitalism. “They don’t want to bring this into the open,” said Roderick
MacFarquhar, a China specialist at Harvard University. “It would be a
tsunami.”
|
Đảng không thể có các động thái mạnh mẽ hơn vì gia đình
của quan chức cấp cao trong quá khứ và hiện tại đã nhúng sâu vào các cơ cấu
kinh tế của quốc gia. Trong hai thập kỷ qua, kinh doanh và chính trị đã trở
nên gắn bó với nhau chặt chẽ, họ nói, rằng Đảng Cộng sản đã thể chế hóa có
hiệu quả toàn bộ hệ sinh thái của chủ nghĩa tư bản thân hữu. "Họ không
muốn công khai điều này", ông Roderick MacFarquhar, một chuyên gia Trung
Quốc tại Đại học Harvard. "Nó sẽ là một cơn sóng thần".
|
|
Critics charge that powerful vested interests are now
strong enough to block reforms that could benefit the larger populace.
Changes in banking and financial services, for instance, could affect the
interests of the family of Zhu Rongji, China’s prime minister from 1998 to
2003 and one of the architects of China’s economic system. His son, Levin
Zhu, joined China International Capital Corporation, one of the country’s
biggest investment banks, in 1998 and has served as its chief executive for
the past decade.
|
Các nhà phê bình tính rằng quyền lợi ích được giao to lớn
như hiện nay đủ mạnh để ngăn chặn cải cách mà có thể đem lại lợi ích lớn hơn
cho dân chúng. Ví dụ, những thay đổi trong dịch vụ ngân hàng và tài chính, có
thể ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình Chu Dung Cơ, Bộ trưởng chính của Trung
Quốc từ 1998 đến 2003 và một trong số các kiến trúc sư của hệ thống kinh tế của Trung Quốc. Con trai ông,
Levin Zhu, năm 1998 gia nhập Tổng công ty China International Capital, một
trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất của đất nước, và đã giữ chức giám đốc
điều hành của nó trong thập kỷ qua.
|
|
Efforts to open the power sector to competition, for
example, could affect the interests of relatives of Li Peng, a former prime
minister. Li Xiaolin, his daughter, is the chairwoman and chief executive of
China Power International, the flagship of one of the big five power
generating companies in China. Her brother, Li Xiaopeng, was formerly the
head of another big power company and is now a public official.
|
Những nỗ lực để mở cánh cửa cạnh tranh, chẳng hạn, có thể
ảnh hưởng đến lợi ích của các thân nhân của gia tộc Li Bằng, một cựu thủ
tướng. Li Xiaolin, con gái ông, là chủ tịch và giám đốc điều hành của China
Power International, một trong năm công ty hàng về năng lượng ở Trung Quốc.
Anh trai của cô, Li Xiaopeng, trước đây là người đứng đầu của một công ty
điện lực lớn và là một công chức.
|
|
“This is one of the most difficult challenges China
faces,” said Mr. Pei, an authority on China’s leadership. “Whenever they want
to implement reform, their children might say, ‘Dad, what about my business?’
”
|
"Đây là một trong những thách thức khó khăn nhất
Trung Quốc phải đối mặt," ông Pei, một nhân vật lãnh đạo của Trung Quốc
cho biết. "Bất cứ khi nào họ muốn thực hiện cải cách, con cái của họ có
thể nói," Bố gìa ơi, thế còn doanh nghiệp của con thì sao?”
|
|
There are also growing concerns that a culture of nepotism
and privilege nurtured at the top of the system has flowed downward,
permeating bureaucracies at every level of government in China.
|
Ngoài ra còn có mối quan tâm ngày càng tăng rằng một nền
văn hóa gia đình trị và đặc quyền đặc lợi nuôi dưỡng ở thượng đỉnh hệ thống
đã chảy xuống bên dưới, thâm nhập thói quan liêu vào mọi cấp của chính phủ ở
Trung Quốc.
|
|
“After a while you realize, wow, there are actually a lot
of princelings out there,” said Victor Shih, a China scholar at Northwestern
University near Chicago, using the label commonly slapped on descendants of
party leaders. “You’ve got the children of current officials, the children of
previous officials, the children of local officials, central officials,
military officers, police officials.We’re talking about hundreds of thousands
of people out there — all trying to use their connections to make money.”
|
“Tới một hồi người ta nhận thấy có quá nhiều “các vị hoàng
tử kế thừa”, Victor Shih, chuyên viên về Trung Quốc ở đại học Northwestern,
gần Chicago phát biểu như vậy. Giữa những con cháu của những người lãnh đạo
ngày nay, con cháu của những người tiền nhiệm, con cháu những người nắm quyền
ở trung ương, ở địa phương, con cháu các sĩ quan trong quân đội, trong công
an… tổng cộng có thể lên đến mấy trăm ngàn người. Tất cả đều lợi dụng những
mối quan hệ để kiếm tiền.”
|
|
To shore up confidence in the government’s ability to
tackle the problem, high-ranking leaders regularly inveigh against greedy
officials caught with their hand in the till. In 2008, for instance, a former
Shanghai Party secretary, Chen Liangyu, was sentenced to 18 years in prison
for bribery and abuse of power. One of his crimes was pressing businessmen to
funnel benefits to his close relatives, including a land deal that netted his
brother, Chen Liangjun, a $20 million profit.
|
Để tăng cường niềm tin về khả năng giả quyết vấn đề của
chính phủ, lãnh đạo cấp cao thường xuyên chỉ trích các quan chức cấp dưới
tham lam bị bắt khi nhúng tay hành sự. Trong năm 2008, chẳng hạn, một cựu bí
thư Thượng Hải, Trần Lương Vũ, đã bị kết án đến 18 năm tù vì hối lộ và lạm
dụng quyền lực. Một trong những tội ác của ông là bắt buộc các doanh nhân
phải nộp lợi nhuận cho người thân gần gũi của ông, bao gồm một thỏa thuận về
đất đai do người anh em của ông, Chen Liangjun, điều hành mạng lưới, với lợi nhuận 20 triệu
USD.
|
|
But exposés in the foreign press — like the report in 2010
that Zeng Wei, the son of China’s former vice president Zeng Qinghong, bought
a $32 million mansion in Sydney, Australia — are ignored by the
Chinese-language news media and blocked by Internet censors.
|
Nhưng khi báo chí nước ngoài phanh phui - như báo cáo năm 2010 về việc Zeng Wei, con trai
của cựu Phó chủ tịch Trung Quốc Tăng Khánh Hồng, mua một căn biệt thự $32
triệu đô-la tại Sydney, Úc - được bỏ qua bởi các phương tiện truyền thông
tiếng Trung và bị chặn bởi kiểm duyệt Internet.
|
|
Allegations of bribery and corruption against the nation’s
top leaders typically follow — rather than precede — a fall from political
grace. Mr. Bo’s downfall this spring, for instance, came after his former
police chief in Chongqing told American diplomats that Mr. Bo’s wife, Gu
Kailai, had ordered the murder of Neil Heywood, a British businessman, in a
dispute over the family’s business interests.
|
Đa số những nhân vật cao cấp bị buộc tội tham nhũng rút
cục cũng bị thất sủng. Xuân vừa rồi, Bạc Hy Lai bị rớt là vì người sếp công
an thành phố Trùng Khánh đã khai với các nhà ngoại giao Mỹ là Cốc Khai Lai,
vợ của nhân vật chính trị này đã sai ông ta ám sát Neil Heywood, một nhà kinh
doanh người Anh do tranh chấp về lợi ích kinh doanh của gia tộc này
|
|
Evidence has surfaced of at least $160 million in assets
held by close relatives of Bo Xilai, and the authorities are investigating
whether other assets held by the family may have been secretly and illegally
moved offshore.
|
Những bằng chứng xác nhận những người bà con của Bạc Hy
Lai đã cất giấu ít nhất là 160 triệu đô la của chìm của nổi, được bộc lộ, và
các nhà chức trách đang tiếp tục tìm kiếm xem có nhiều của cải khác vẫn còn
được cất giấu ở nước ngoài hay không.
|
|
Wen Jiabao, the prime minister, responded by demanding a
more forceful crackdown on corruption. Without naming Mr. Bo by name,
People’s Daily, the official Communist Party newspaper, denounced fortune
seekers who stain the party’s purity by smuggling ill-gotten gains out of the
country.
|
Phản ứng của thủ tướng Ôn Gia Bảo là ra lệnh tăng cường
việc trấn áp tham nhũng. Trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của đảng
Cộng sản, có những bài tố cáo những người dân tham lam tiền của đang tuồn của
cải bất chính ra nước ngoài.
|
|
Some scholars argue that the party is now hostage to its
own unholy alliances. Cheng Li, an expert on Chinese politics with the
Brookings Institution in Washington, said it would be difficult for the
Chinese government to push through major political reforms aimed at
extricating powerful political families from business without giving immunity
to those now in power.
|
Một số học giả cho rằng đảng bây giờ bị bắt làm con tin cho
các đồng minh xấu xa của nó. Cheng Li, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc
làm việc cho Viện Brookings ở Washington, nói rằng chính phủ Trung Quốc khó mà
thúc đẩy mạnh mẽ cải cách chính trị lớn nhằm đẩy các gia đình có thế lực chính
trị mạnh mẽ ra khỏi kinh doanh mà không tạo miễn dịch đối với những người
đang nắm quyền.
|
|
And with no independent judiciary in China, he said, party
leaders would essentially be charged with investigating themselves. “The
party has said anticorruption efforts are a life-and-death issue,” Mr. Li
said. “But if they want to clean house, it may be fatal.”
|
Và do không có tư pháp độc lập ở Trung Quốc, ông cho biết,
lãnh đạo đảng về cơ bản sẽ tự mình đảm nhận việc điều tra. "Đảng cho
biết nỗ lực chống tham nhũng là một vấn đề tồn-vong," ông Li nói.
"Nhưng nếu họ muốn để làm sạch nhà, nó cũng có thể gây tử vong."
|
|
Chinese tycoons have also been quietly welcomed into the
families of senior leaders, often through secret partnerships in which the
sons, daughters, spouses and close relatives act as middlemen or co-investors
in real estate projects or other deals that need government approval or
backing, according to investors who have been involved in such transactions.
|
Các tài phiệt Trung Quốc vẫn được kín đáo tiếp đãi trong
gia đình những lãnh đạo cao cấp qua sự trung gian của những đối tác bí mật. “Con
trai, con gái, vợ, họ hàng thân thuộc là những người đứng làm trung gian hay
hùn hạp vốn trong những chương trình xây dựng, trong những hợp đồng cần có sự
ưng thuận hay cần có sự hỗ trợ của chính phủ” , những người tham dự vào những
cuộc giao dịch quả quyết như vậy.
|
|
Moreover, China’s leading political families, often
through intermediaries, hold secret shares in dozens of companies, including
many that are publicly listed in Hong Kong, Shanghai and elsewhere, according
to interviews with bankers and investment advisers.
|
Hơn nữa, các gia đình có thế lực chính trị hàng đầu của
Trung Quốc, thường thông qua trung gian, nắm giữ cổ phần bí mật trong hàng
chục công ty, bao gồm nhiều công ty được niêm yết công khai tại Hồng Kông,
Thượng Hải và các nơi khác, theo các cuộc phỏng vấn với các ngân hàng và các
cố vấn đầu tư cho biết.
|
|
Lately, the progeny of the political elite have retooled
the spoils system for a new era, moving into high-finance ventures like
private equity funds, where the potential returns dwarf the benefits from
serving as a middleman to government contracts or holding an executive post
at a state monopoly.
|
Gần đây, con các nhân vật chính trị không màng đến những
vai trò trung gian nữa mà dòm ngó những ngành tài chính cao cấp, đặc biệt là
ngành kinh doanh tư bản. Ngành này có nhiều triển vọng kiếm được nhiều lợi
nhuận hơn, đã làm lu mờ những vai trò đứng làm trung gian cho những thị
trường công cộng hay những chức vụ như giám đốc một xí nghiệp độc quyền quốc
gia:
|
|
Jeffrey Zeng, the son of the former Politburo member Zeng
Peiyan, is a managing partner at Kaixin Investments, a venture-capital firm
set up with two state-owned entities, China Development Bank and Citic
Capital. Liu Lefei, the son of another Politburo member, Liu Yunshan, helps
operate the $4.8 billion Citic Private Equity Fund, one of the biggest
state-managed funds. Last year, Alvin Jiang, the grandson of former president
Jiang Zemin, the former Communist Party leader and president, helped
establish Boyu Capital, a private equity firm that is on its way to raising
at least $1 billion.
|
Jeffrey Tăng, con của Tăng Bái An, cựu ủy viên bộ Chính
trị là quản lý Kaisin Investments, một hãng đầu tư được hai ngân hàng Nhà
nước lập ra, China development Bank và Citic Capital. Liu Lefei, con của Lưu
Vân Sơn, một ủy viên khác của bộ Chính trị, là một trong những quản trị viên
của Citic Private Equity Fund, một quĩ lớn dưới sự quản trị của nhà nước. Năm
ngoái, Alvin Giang, cháu của Giang Trạch Dân đã nhúng tay vào sự thành lập
Quĩ Boyu Capital. Vốn của quĩ này sẽ lên đến ít nhất là một tỷ đô la.
|
|
Most recently, with the Communist Party promising to
overhaul the nation’s media and cultural industries, the relatives of China’s
political elite are at the head of the crowd scrambling for footholds in a
new frontier.
|
Gần đây nhất, đảng Cộng sản hứa hẹn sẽ cải tổ giới truyền
thông và lãnh vực văn hóa quốc gia. Những thân thích của giới cầm quyền cao
cấp sẽ là những người đầu tiên chạy vội giành giật chỗ cho mình trong lãnh
vực mới này:
|
|
The February announcement of the deal between DreamWorks
and three Chinese partners, including Shanghai Alliance Investment, was timed
to coincide with the high-profile visit to the United States of Xi Jinping,
China’s vice president and presumptive next president. The news release did
not mention that Shanghai Alliance is partly controlled by Jiang Zemin’s son
Jiang Mianheng. A person who answered the telephone at the Shanghai Alliance
office here declined to comment.
|
Tháng Hai vừa rồi, tin báo về thỏa hiệp giữa DreamWorks và
ba đối tác Trung Quốc trong đó có Shanghai Alliance Investment đã được tính
toán để trùng hợp với cuộc viếng thăm rất được mong đợi của Tập Cận Bình, phó
chủ tịch và có thể sẽ là chủ tịch nước. Thông cáo ỉm đi chuyện một phần
Shanghai Alliance ở dưới quyền kiểm soát của ông Giang, con của cựu chủ tịch
Giang Trạch Dân.
|
|
Zeng Qinghuai, the brother of Zeng Qinghong, China’s
former vice president, is also in the film business. He served as a
consultant for the patriotic epic “Beginning of the Great Revival.” The film
exemplified the hand-in-glove relationship between business and politics. It
was shown on nearly 90,000 movie screens across the country. Government
offices and schools were ordered to buy tickets in bulk. The media was banned
from criticizing it. It became one of last year’s top-grossing films.
|
Tăng Khánh Hoài, em của Tăng Khánh Hồng, cựu phó chủ tịch
nước, cũng có chân trong kỹ nghệ điện ảnh. Ông này đã làm tham vấn cho bộ
phim anh hùng tính The Founding of the Party. Phim này chúng minh sự quá gần
gũi giữa thế giới áp phe và chính trị. Phim được chiếu trên gần 90000 màn ảnh
khắp cả nước. Các văn phòng chính phủ và những trường học nhận được lệnh phải
mua xỉ vé số lớn và giới truyền thông bị cấm không được đưa ra những phê phán
về phim. Kết quả là cuốn phim này đã đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong năm
2011.
|
|
Scholars describe the film industry as the new playground
for princelings. Zhang Xiaojin, director of the Center of Political
Development at Tsinghua University, said, “There are cases where propaganda
department officials specifically ask their children to make films which they
then approve.”
|
Các nhà nghiên cứu đều công nhận điện ảnh là sân chơi mới
của các “hoàng tử kế thừa”. Tăng Tiểu Anh, giám đốc Trung tâm phát triển
chính trị đại học Thanh Hoa giảng giải: “Trong nhiều trường hợp, các quan
chức của bộ Tuyên truyền khuyến khích các con cháu họ cứ làm phim đi, trước
sau gì phim cũng sẽ được sự tán đồng của bộ “.
|
|
Zhao Xiao, an economist at the University of Science and
Technology in Beijing, said, “They are everywhere, as long as the industry is
profitable.”
|
Ziao Xiao, nhà kinh tế học đại học Khoa học và Kỹ thuật
Bắc Kinh còn nói thêm: “Họ có mặt khắp nơi chừng nào còn có những phi vụ làm
ăn béo bở”.
|
|
|
|
|
http://www.nytimes.com/2012/05/18/world/asia/china-princelings-using-family-ties-to-gain-riches.html?_r=1&pagewanted=all
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Saturday, August 18, 2012
‘Princelings’ in China Use Family Ties to Gain Riches Con ông Cháu cha ở Trung Quốc dùng quan hệ gia đình để làm giàu
Friday, August 17, 2012
LIPSTICK ON YOUR COLLAR
|
LIPSTICK
ON YOU COLLAR
|
VẾT SON
TRÊN CỔ ÁO
|
|
Connie
Francis
|
Connie
Francis
|
|
(Yeah,
yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.)
(Yeah, yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.) |
|
|
When you
left me all alone at the record hop
Told me you were goin' out for a soda pop You were gone for quite a while, half an hour or more You came back and man oh, man, this is what I saw. |
Khi đang
ngồi chơi trong quán ăn
Anh kêu
rằng anh muốn đi
Đi mua
một bao thuốc lá thơm
Trong
ngôi chợ bên góc đường
Anh ra đi
sao thấy hơi lâu
Đi qua 30
phút hơn
Khi anh
vô trong mắt anh sao
Thấy có
những nét dối gian
|
|
Lipstick
on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue Bet your bottom dollar you and I are through Cause, lipstick on you collar told a tale on you, yeah. |
Kìa son
môi trên áo anh
Thì ra
anh đã dối em
Kìa son
môi trên áo anh
Nhìn sao
anh không nói thêm
Đã thế
chớ trách sao
Em không
yêu anh đâu
Vết son
môi in trên cổ áo
Chẳng
thèm anh nữa đâụ
|
|
You said
it belonged to me, made me stop and think
Then I noticed yours was red, mine was baby pink Who walked in but Mary Jane, lipstick all a mess Were you smoochin' my best friend, guess the answers yes. |
Anh nói
rằng son kia của em
Em chau
mày thêm tức thêm giận
Son em
màu hồng tươi hãy xem
Son kia
màu đỏ thẫm như mận
Anh bôi
son cô đó hay sao
Son môi
lem nhem thấy nghê
Anh đã
đưa cô ta tới nơi đâu
Bao lâu
nay anh đã đi
|
|
Lipstick
on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue Bet your bottom dollar you and I are through Cause, lipstick on you collar told a tale on you, boy. |
Kìa son
môi trên áo anh
Thì ra
anh đã dối em
Kìa son
môi trên áo anh
Nhìn xem
em không nói thêm
|
|
Told a
tale on you, man.
Told a tale on you, yeah. Told a tale on you... |
Đã thế
chớ trách sao
Em không
yêu anh đâu
Vết son
môi in trên cổ áo
Chẳng
thèm anh nữa đâu ...... nhe !
|
|
|
|
Sunday, August 12, 2012
The South China Sea - Troubled waters Biển Đông – Vùng biển rắc rối
|
|
|
|
The South China Sea
- Troubled waters
|
Biển Đông – Vùng biển rắc rối
|
|
by Banyan
|
Banyan
|
|
Aug 6th 2012
|
6/8/2012
|
|
|
|
|
LONG a zone of contention among a number of littoral
states, the South China Sea is fast becoming the focus of one of the most
serious bilateral disputes between America and China. Over the weekend
China’s foreign ministry summoned an American diplomat to express “strong
dissatisfaction and resolute opposition” to a statement issued by the state
department on August 3rd.
|
Là một khu vực tranh chấp giữa các nước duyên hải, từ lâu
Biển Đông nhanh chóng trở thành tâm điểm của một trong những tranh chấp song
phương nghiêm trọng nhất giữa Mỹ và Trung Quốc. Cuối tuần qua, Bộ Ngoại giao
Trung Quốc triệu tập một nhà ngoại giao Hoa Kỳ để bày tỏ “sự bất bình mạnh mẽ
và cương quyết phản đối” về một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 3 tháng
8.
|
|
Tensions in the sea have mounted this year, especially
between China and the Philippines on the one hand, and between China and the
Vietnam on the other. Although there has not been a serious armed clash in
the sea since 1988, and none is likely now, there are worries that in the
current climate some low-level confrontation might escalate by accident.
|
Năm nay, các vụ căng thẳng trên biển đã gia tăng cao, nhất
là giữa Trung Quốc và Phillippines và mặt khác, giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Mặc dù đã không có một cuộc va chạm quân sự nghiêm trọng nào xảy ra trên biển
kể từ năm 1988, và bây giờ cũng khó có thể xảy ra, đã có những mối lo ngại
rằng với tình hình hiện tại thì một cuộc đối đầu ở mức độ nhẹ có thể leo
thang bất ngờ.
|
|
The specific Chinese complaint this weekend was over
America’s criticism of its recent upgrading of the administrative level of
Sansha city, on one of the Paracel islands (known in China as the Xisha),
from a county to a prefecture, and the establishment of a new military
garrison there. In its riposte China judged its own decision to be “normal
and reasonable”, though only a few hundred people live on the islets covered
by the vast new maritime prefecture.
|
Than phiền chính yếu của Trung Quốc là sự chỉ trích của
Hoa Kỳ về việc Trung Quốc nâng cấp hành chính của thành phố Tam Sa, trên một
hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa), từ cấp huyện hạt
lên cấp quận, và việc thành lập một đơn vị đồn trú quân đội mới ở đó. Trong
lời đáp trả, Trung Quốc xem quyết định của họ là “bình thường và hợp lý”, cho
dù chỉ có vài trăm người sống trên những đảo nhỏ, bao quanh cái quận trên
biển mới thành lập đó là vùng nước mênh mông.
|
|
More broadly, China complains that America is taking sides
in the many territorial disputes in the sea. China and Taiwan both claim
virtually all the sea. Vietnam claims the Paracels, from which it was evicted
by China in 1974, as well as the Spratly chain further to the south. In the
south both overlap extensively with the exclusive economic zone the
Philippines claims under the United Nations Convention on the Law of the Sea
(UNCLOS).
|
Một cách tổng quát hơn, Trung Quốc than phiền rằng Hoa Kỳ
chọn phe trong nhiều tranh chấp lãnh thổ trên biển. Cả Trung Quốc và Đài Loan
đều đòi chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Việt Nam đòi chủ quyền quần đảo
Hoàng Sa do đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974, cũng như chuỗi đảo Trường
Sa về phía nam. Trong vùng biển phía nam, đòi hỏi của cả hai nước [Trung Quốc
và Việt Nam] đều chồng lấn với tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế của
Philippines theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).
|
|
Further complicating things, Malaysia and Brunei also have
smaller territorial claims, and the regional club to which they, the
Philippines and Vietnam all belong, the Association of South-East Asian
Nations (ASEAN), has tried to play a co-ordinating and mediating role.
|
Càng phức tạp hơn, Malaysia và Brunei cũng có tuyên bố chủ
quyền lãnh thổ nhỏ hơn, và Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) mà Việt Nam
và Philippines là thành viên, đã cố gắng thực hiện vai trò liên lạc và hòa
giải.
|
|
America insists it is entirely neutral on the territorial
disputes. However China has long seen it as a troublemaker, especially since,
at a security forum in Hanoi two years ago, Hillary Clinton, the secretary of
state, declared the United States’ “national interest” in the affairs of the
sea.
|
Hoa Kỳ nhấn mạnh vai trò trung lập của mình trong các
tranh chấp lãnh thổ. Nhưng Trung Quốc vẫn xem Hoa Kỳ là kẻ gây rối, nhất là
kể từ khi tại Diễn đàn An ninh Khu vực ở Hà Nội hai năm trước, bà Hillary
Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia”
đối với các vấn đề trên biển.
|
|
China blames America for encouraging—and perhaps even
instigating—a more aggressive approach from both the Philippines and Vietnam.
It asks why the American statement chose “to turn a blind eye” to what China
sees as provocations by (unnamed) other countries.
|
Trung Quốc đổ lỗi cho Hoa Kỳ đã khuyến khích – và có lẽ
ngay cả kích động – một thái độ hung hăng hơn từ Phillippines và Việt Nam.
Trung Quốc đặt câu hỏi tại sao tuyên bố của Hoa Kỳ chọn thái độ “làm ngơ”
trước những điều Trung Quốc coi là sự khiêu khích bởi những quốc gia khác
(không nêu tên).
|
|
This is a reference to Vietnam’s adoption of a maritime
law asserting its territorial claims, and to recent disputes with it and the
Philippines over fishing and the opening of disputed waters to oil and gas
exploration. One reason tempers are rising is that the seas are so abundant
in resources.
|
Điều này ám chỉ việc Việt Nam phê chuẩn luật biển, khẳng
định chủ quyền lãnh thổ và những tranh chấp mới đây với Trung Quốc và
Philippines về vấn đề đánh bắt cá và mở [thầu] các vùng biển tranh chấp để
khai thác dầu khí. Một lý do cho các cơn thịnh nộ gia tăng là vùng biển có
quá nhiều tài nguyên.
|
|
The most serious recent confrontation, between the
Philippines and China over the Scarborough Shoal, has eased after both sides
withdrew their armed patrols and competing fishing boats, as storms
approached. But the Philippines says the Chinese boats left the mouth of the
lagoon roped off to prevent other fishermen from entering.
|
Cuộc đối đầu nghiêm trọng nhất gần đây giữa Philippines
với Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough đã giảm cường độ sau khi cả hai bên rút
các tàu tuần tra có trang bị vũ trang và tàu đánh cá về, khi những cơn bão ập
tới. Nhưng Philippines nói các tàu Trung Quốc đã để lại dây chắn ngang cửa
bãi cạn để ngăn cản ngư dân lui tới.
|
|
The American statement backs the multilateral approach to
the disputes championed by ASEAN. Its members are still smarting over their
failure—for the first time in the organisation’s 45-year history—to agree on
a joint statement after their annual foreign ministers’ meeting, which they
held last month in Phnom Penh. It was blocked because Cambodia, a faithful
Chinese client, refused to accept wording on the South China Sea demanded by
some of its fellow members.
|
Tuyên bố của Mỹ ủng hộ phương pháp đa phương để giải quyết
tranh chấp do ASEAN chủ trương. Các thành viên ASEAN vẫn đang khổ sở về sự
thất bại của họ – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm kể từ khi tổ chức này
thành lập – về việc cho ra một tuyên bố chung sau cuộc họp giữa các bộ trưởng
ngoại giao hàng năm, đã tổ chức hồi tháng trước tại Phnom Penh. Bản tuyên bố
chung đã bị ngăn chặn bởi vì Cambodia, một thân chủ trung thành với Trung
Quốc, đã từ chối không chấp nhận cách diễn đạt về biển Đông theo yêu cầu của
một số thành viên khác.
|
|
Dogged Indonesian diplomacy subsequently managed to cobble
together a palatable, if bland, ASEAN position on the sea. China is working
(ever so slowly) with ASEAN towards a regional code of conduct to lessen the
risks of conflict. But it insists the territorial disputes are a series of
bilateral issues. It does not want its smaller neighbours ganging up on it,
still less if they are backed up by America.
|
Đường lối ngoại giao bền bỉ của Indonesia tiếp theo đã cố
hàn gắn lại tình trạng có thể chấp nhận được, cho dù tẻ nhạt, lập trường của
ASEAN về Biển Đông. Trung Quốc đang làm việc (một cách quá chậm) với ASEAN về
bộ quy tắc ứng xử khu vực để làm giảm những nguy cơ xung đột. Nhưng Trung
Quốc nhấn mạnh các tranh chấp lãnh thổ là vấn đề song phương. Trung Quốc
không muốn những nước láng giềng nhỏ hơn quy tụ lại để chống [Trung Quốc],
càng không muốn các nước này được Mỹ hỗ trợ.
|
|
It has a point when it says that the American statement
was one-sided. And it must be suspicious that, despite its denials, America
is backing its rivals’ claims. Mrs Clinton, for example, has taken to using
the term “the West Philippine Sea”. It is also understandable for China to
fear that America is trying to capitalise on the disputes, to cement its position
in the region, in keeping with the global “rebalancing” of its military
posture in favour of Asia and the Pacific.
|
Trung Quốc có lý do để nói rằng tuyên bố của Hoa Kỳ là
đứng về một phe. Và họ hẳn phải nghi ngờ rằng, mặc dù chối bỏ, Hoa Kỳ đang hỗ
trợ tuyên bố của các đối thủ của Trung Quốc. Chẳng hạn như, bà Clinton đã
dùng cụm từ “Biển Tây Philippines”. Điều cũng dễ hiểu là Trung Quốc sợ Hoa Kỳ
trục lợi trong vấn đề tranh chấp để củng cố vị thế trong khu vực, qua việc
“tái cân bằng” lực lượng quân sự nghiêng về châu Á – Thái Bình dương.
|
|
That the American approach is broadly appreciated in the
region, however, must give China pause. There are two reasons for the welcome
to America. The first is the perception that China has become more strident
and more of a bully in asserting its claims.
|
Tuy nhiên, sự tiếp cận của Hoa Kỳ được hoan nghênh rộng
rãi trong khu vực, đã phải làm cho Trung Quốc khựng lại. Có hai lý do để chào
đón Hoa Kỳ. Thứ nhất là, nhận thức rằng Trung Quốc đã trở nên hung hăng và
bắt nạt hơn trong việc xác lập chủ quyền.
|
|
The second is that it remains unclear what those claims
are based on. China couches many of its statements by reference to the islands,
islets and rocks over which it claims sovereignty, and their associated
waters, as if it were following UNCLOS. But it has not renounced the
“nine-dashed line” (see map) which it says gives it historic rights over
virtually the entire sea. China’s neighbours have reason to worry China sees
their sea as its lake
|
Thứ hai là Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng về các tuyên bố đó
dựa trên cơ sở gì. Trung Quốc diễn tả trong nhiều tuyên bố có nhắc tới các
hòn đảo, đảo nhỏ và đá mà họ tuyên bố chủ quyền, và các các vùng biển liên
quan, như thể họ tuân theo luật lệ của UNCLOS. Nhưng Trung Quốc đã không từ
bỏ “đường chín đoạn” (xem ảnh) mà họ cho rằng họ có chủ quyền lịch sử đối với
toàn bộ khu vực. Các nước láng giềng của Trung Quốc có lý để lo sợ Trung Quốc
xem biển của họ như ao nhà của Trung Quốc.
|
|
|
|
|
|
Translated by Trần Văn Minh
|
|
|
|
|
|
|
|
http://www.economist.com/blogs/analects/2012/08/south-china-
|
|
No More Growth Miracles Không còn những kỳ tích phát triển
|
|
|
|
|
|
|
No More Growth
Miracles
|
Không còn những kỳ
tích phát triển
|
|
Dani Rodrik
|
Dani Rodrik
|
|
Theo Project Syndicate
Aug. 8, 2012
|
Theo Project Syndicate
8/8/2012
|
|
|
|
|
CAMBRIDGE – A year ago, economic analysts were giddy with
optimism about the prospects for economic growth in the developing world. In
contrast to the United States and Europe, where the growth outlook looked
weak at best, emerging markets were expected to sustain their strong
performance from the decade preceding the global financial crisis, and thus
become the engine of the global economy.
|
CAMBRIDGE – Một năm trước, các nhà phân tích kinh tế còn
đang quay cuồng với những dự đoán lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế
tại các quốc gia đang phát triển. Ngược lại với Hoa Kỳ và Châu Âu, nơi mà
tăng trưởng – nếu có – chỉ là èo uột, các thị trường mới nổi dự kiến sẽ tiếp
tục duy trì tốc độ phát triển mạnh mẽ của một thập niên trước cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, và do đó trở thành động cơ chính của nền kinh tế
toàn cầu.
|
|
Economists at Citigroup, for example, boldly concluded
that circumstances had never been this conducive to broad, sustained growth
around the world, and projected rapidly rising global output until 2050, led
by developing countries in Asia and Africa. The accounting and consulting
firm PwC predicted that per capita GDP growth in China, India, and Nigeria
would exceed 4.5% well into the middle of the century. The consulting firm
McKinsey & Company christened Africa, long synonymous with economic failure,
the land of “lions on the move.”
|
Ví dụ, các nhà kinh tế tại Citigroup mạnh dạn kết luận
rằng chưa bao giờ có những điều kiện thuận lợi để đạt được tốc độ phát triển
rộng rãi và bền vững trên toàn cầu như hiện nay, và dự kiến sản lượng toàn
cầu sẽ tăng nhanh cho tới năm 2050, dẫn dắt bởi các quốc gia đang phát triển
ở Châu Á và Châu Phi. Công ty kế toán và tư vấn PwC dự đoán rằng GDP theo đầu
người ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nigeria sẽ tăng hơn 4,5% [mỗi năm] vào giữa thế
kỷ này. Công ty tư vấn McKinsey & Company chúc phúc cho Châu Phi, một nơi
từ lâu vẫn đồng nghĩa với sự thất bại kinh tế, gọi đây là mảnh đất của ”những
con sư tử thức giấc”.
|
|
Today, such talk has been displaced by concern about what
The Economist calls “the great slowdown.” Recent economic data in China,
India, Brazil, and Turkey point to the weakest growth performance in these
countries in years. Optimism has given way to doubt.
|
Tới hôm nay, những dự đoán như thế đã bị thay thế bởi lo
ngại về cái mà tờ Economist gọi là ”đại suy thoái”. Những dữ liệu kinh tế gần
đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin và Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra rằng các quốc gia này
đang trải nghiệm một tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Sự
lạc quan đang nhường chỗ cho nghi ngờ.
|
|
Of course, just as it was inappropriate to extrapolate
from the previous decade of strong growth, one should not read too much into
short-term fluctuations. Nevertheless, there are strong reasons to believe
that rapid growth will prove the exception rather than the rule in the
decades ahead.
|
Tất nhiên, cũng giống như không nên dùng tốc độ tăng
trưởng mạnh của thập niên vừa rồi để dự đoán tương lai, chúng ta không nên
quá tin vào những biến động ngắn hạn. Tuy nhiên, có nhiều lý do chính đáng để
tin rằng tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ sẽ chỉ là trường hợp ngoại lệ, chứ không
phải hiện tượng phổ biến, trong vài thập niên tới.
|
|
To see why, we need to understand how “growth miracles”
are made. Except for a handful of small countries that benefited from
natural-resource bonanzas, all of the successful economies of the last six
decades owe their growth to rapid industrialization. If there is one thing
that everyone agrees on about the East Asian recipe, it is that Japan, South
Korea, Singapore, Taiwan, and of course China all were exceptionally good at
moving their labor from the countryside (or informal activities) to organized
manufacturing. Earlier cases of successful economic catch-up, such as the US
or Germany, were no different
|
Để thấy lý do tại sao, chúng ta cần phải hiểu ”những nền
kinh tế phát triển thần kỳ” này được tạo ra bằng cách nào. Ngoại trừ một số
ít quốc gia nhỏ bé hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên, tất cả những nền kinh
tế thành công trong 60 năm qua đều phát triển nhờ quá trình công nghiệp hóa
nhanh chóng. Nếu có một thứ mà mọi người có thể nhất trí về ”công thức [phát
triển] Đông Á”, thì đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và tất
nhiên cả Trung Quốc đều rất giỏi trong việc dịch chuyển lực lượng lao động
của mình từ nông thôn sang nền sản xuất có tổ chức. Những trường hợp của các
nền kinh tế thành công trong việc bắt kịp với các quốc gia giàu có hơn trước
đây, như Hoa Kỳ hay Đức, cũng không khác biệt.
|
|
Manufacturing enables rapid catch-up because it is
relatively easy to copy and implement foreign production technologies, even
in poor countries that suffer from multiple disadvantages. Remarkably, my
research shows that manufacturing industries tend to close the gap with the
technology frontier at the rate of about 3% per year regardless of policies,
institutions, or geography. Consequently, countries that are able to
transform farmers into factory workers reap a huge growth bonus.
|
Sản xuất cho phép đuổi kịp nhanh chóng bởi vì nó tương đối
dễ sao chép và thực thi các công nghệ sản xuất của nước ngoài, ngay cả ở
những quốc gia nghèo đang rất nhiều khó khăn. Điều đáng chú ý là, nghiên cứu
của tôi cho thấy các nước công nghiệp sản xuất có xu hướng rút ngắn khoảng
cách công nghệ với tỷ lệ trung bình 3% một năm, bất chấp sự khác biệt về khu
vực địa lý, chính sách hay thể chế. Kết quả là các quốc gia có khả năng biến
nông dân thành công nhân nhà máy sẽ gặt hái một tốc độ tăng trưởng thần tốc.
|
|
To be sure, some modern service activities are capable of
productivity convergence as well. But most high-productivity services require
a wide array of skills and institutional capabilities that developing
economies accumulate only gradually. A poor country can easily compete with
Sweden in a wide range of manufactures; but it takes many decades, if not
centuries, to catch up with Sweden’s institutions.
|
Chắc chắn là một số hoạt động dịch vụ hiện đại cũng có khả
năng giúp các quốc gia chậm phát triển đuổi kịp các quốc gia phát triển về
năng lực sản xuất. Nhưng phần lớn các dịch vụ có năng suất cao lại cần nhiều
kỹ năng và thể chế mà các quốc gia phát triển chỉ có thể tích lũy từ từ. Một
quốc gia nghèo có thể nhanh chóng cạnh tranh với Thụy Điển ở nhiều ngành sản
xuất; nhưng nó phải mất nhiều thập niên, nếu không nói thế kỷ, để bắt kịp với
Thụy Điển về mặt thể chế.
|
|
Consider India, which demonstrates the limitations of
relying on services rather than industry in the early stages of development.
The country has developed remarkable strengths in IT services, such as
software and call centers. But the bulk of the Indian labor force lacks the
skills and education to be absorbed into such sectors. In East Asia,
unskilled workers were put to work in urban factories, making several times
what they earned in the countryside. In India, they remain on the land or
move to petty services where their productivity is not much higher.
|
Hãy xem ví dụ Ấn Độ, để thấy hạn chế trong việc dựa vào
dịch vụ thay vì công nghiệp trong giai đoạn đầu quá trình phát triển. Ấn Độ
đã phát triển rất mạnh trong lĩnh vực dịch vụ tin học, như phần mềm và các
trung tâm chăm sóc khách hàng (call center). Nhưng một số lượng lớn lực lượng
lao động Ấn Độ thiếu kỹ năng và giáo dục để có thể được hấp thu vào khu vực
dịch vụ này. Ở Đông Á, lao động không có trình độ được đưa vào làm việc ở các
nhà máy, kiếm được vài lần so với số tiền họ kiếm được ở nông thôn. Ở Ấn Độ,
những người này tiếp tục ở lại nông thôn hoặc dịch chuyển vào những khu vực
dịch vụ nhỏ bé, nơi năng suất của họ không cao hơn là bao.
|
|
Successful long-term development therefore requires a
two-pronged push. It requires an industrialization drive, accompanied by the
steady accumulation of human capital and institutional capabilities to
sustain services-driven growth once industrialization reaches its limits.
Without the industrialization drive, economic takeoff becomes quite
difficult. Without sustained investments in human capital and
institution-building, growth is condemned to peter out.
|
Do đó, phát triển dài hạn thành công cần được thúc đẩy từ
hai hướng: Nó cần có động lực từ công nghiệp hóa, đi kèm với sự tích lũy ổn
định về vốn xã hội và khả năng thể chế để duy trì một nền kinh tế phát triển
dựa trên nền tảng dịch vụ, một khi công nghiệp hóa đã đạt tới giới hạn. Không
có sự thúc đẩy của công nghiệp hóa, sự cất cánh của nền kinh tế trở nên khó
khăn. Nhưng không có đầu tư bền vững vào vốn con người và việc xây dựng thể
chế, thì sự tăng trưởng sẽ có ngày cạn kiệt.
|
|
But this time-tested recipe has become a lot less
effective these days, owing to changes in manufacturing technologies and the
global context. First, technological advances have rendered manufacturing
much more skill- and capital-intensive than it was in the past, even at the
low-quality end of the spectrum. As a result, the capacity of manufacturing
to absorb labor has become much more limited. It will be impossible for the
next generation of industrializing countries to move 25% or more of their
workforce into manufacturing, as East Asian economies did.
|
Nhưng ngày nay công thức đã được thời gian thử nghiệm này
trở nên kém hiệu quả hơn nhiều, bởi những thay đổi trong công nghệ sản xuất
và bối cảnh toàn cầu. Thứ nhất, các tiến bộ công nghệ đã khiến sản suất thâm
dụng vốn và cần trình độ cao hơn trước, ngay cả ở phân đoạn chất lượng thấp.
Kết quả là, khả năng hấp thụ lực lượng lao động của khu vực sản xuất ngày
càng giảm. Và nó sẽ rất khó để các nước công nghiệp hóa thế hệ kế tiếp chuyển
25% hoặc hơn lực lượng lao động của mình vào khu vực sản xuất, như cách mà
các nền kinh tế Đông Á đã thành công.
|
|
Second, globalization in general, and the rise of China in
particular, has greatly increased competition on world markets, making it
difficult for newcomers to make space for themselves. Although Chinese labor
is becoming more expensive, China remains a formidable competitor for any
country contemplating entry into manufactures.
|
Thứ hai, toàn cầu hóa nói chung, và sự trỗi dậy của Trung
Quốc nói riêng, đã làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường thế giới lên
rất nhiều, gây trở ngại cho các quốc gia mới nổi tiến vào không gian này. Mặc
dù lao động ở Trung Quốc ngày càng trở nên đắt đỏ hơn, Trung Quốc vẫn là một
đối thủ cạnh tranh đáng gờm cho bất kỳ quốc gia nào dự tính tiến vào lĩnh vực
sản xuất.
|
|
Moreover, rich countries are unlikely to be as permissive
towards industrialization policies as they were in the past. Policymakers in
the industrial core looked the other way as rapidly growing East Asian
countries acquired Western technologies and industrial capabilities through
unorthodox policies such as subsidies, local content requirements, reverse
engineering, and currency undervaluation. Core countries also kept their
domestic markets open, allowing East Asian countries to export freely the
manufactured products that resulted.
|
Hơn nữa, các quốc gia giàu có không còn bi quan về các
chính sách công nghiệp hóa như họ đã từng trong quá khứ. Các nhà hoạch định
chinh sách trong các quốc gia công nghiệp phát triển đã nhìn ra chỗ khác khi
các quốc gia phát triển nhanh chóng ở Đông Á thu thập công nghệ và trình độ
kỹ thuật phương Tây thông qua các chính sách không chính thống như trợ cấp,
đòi hỏi nội địa hóa, nghiên cứu đảo ngược (reverse engineering), và định giá
nội tệ thấp. Các quốc gia này cũng đã để ngỏ thị trường của mình cho các quốc
gia Đông Á xuất khẩu thoải mái các mặt hàng đầu ra của nền sản xuất.
|
|
Now, however, as rich countries struggle under the
combined weight of high debt, low growth, unemployment, and inequality, they
will apply greater pressure on developing nations to abide by World Trade Organization
rules, which narrow the space for industrial subsidies. Currency
undervaluation à la China will not go unnoticed. Protectionism, even if not
in overt form, will be politically difficult to resist.
|
Giờ đây, các quốc gia giàu đang phải vận lộn với nợ, phát
triển èo uột, thất nghiệp và bất bình đẳng; họ sẽ tạo áp lực lớn hơn để các
quốc gia phát triển phải tuân thủ các luật lệ của WTO, giảm bớt liều lượng
trợ cấp cho nền công nghiệp. Đánh giá thấp tiền tệ như kiểu Trung Quốc sẽ khó
tránh khỏi sự chú ý. Chủ nghĩa bảo hộ, dù không phải dưới hình thức công
khai, cũng sẽ khó phản đối về mặt chính trị.
|
|
Manufacturing industries will remain poor countries’
“escalator industries,” but the escalator will neither move as rapidly, nor
go as high. Growth will need to rely to a much greater extent on sustained
improvements in human capital, institutions, and governance. And that means
that growth will remain slow and difficult at best.
|
Các ngành công nghiệp sản xuất sẽ tiếp tục là ”cái thang
cuốn” cho các nước nghèo, nhưng thang cuốn này có thể không di chuyển nhanh,
hay cao như trước. Phát triển sẽ phải dựa nhiều hơn vào sự tích lũy bền vững
của vốn xã hội, thể chế và khả năng quản lý của nhà nước. Và điều này có
nghĩa là phát triển có lẽ sẽ chậm và khó khăn.
|
|
Dani Rodrik is a
professor at Harvard University’s Kennedy School of Government and a leading
scholar of globalization and economic development.
|
Dani Rodrik là giáo
sư tại Khoa Chính phủ học Kennedy thuộc Đại học Harvard và là học giả hàng
đầu về toàn cầu hóa và phát triển kinh tế.
|
|
|
Translated by Nguyễn Công Huân
|
|
|
|
|
http://www.project-syndicate.org/commentary/no-more-growth-miracles-by-dani-rodrik
|
|
Saturday, August 11, 2012
China’s South China Sea jurisdictional claims: when politics and law collide Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột
|
|
|
|
China’s South China
Sea jurisdictional claims: when politics and law collide
|
Tuyên bố chủ quyền
tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột
|
|
Sourabh Gupta
|
Sourabh Gupta
|
|
East Asia Forum
July 29, 2012
|
East Asia Forum
29/7/2012
|
|
|
|
|
A running thread through the tensions at various Southeast
Asian regional forums over the past four summers has been the uncertainty and
insecurity generated by China’s jurisdictional claims in the South China Sea.
|
Một chủ đề đã và đang được các nước bàn luận về những căng
thẳng tại các diễn đàn khu vực Đông Nam Á khác nhau trong bốn mùa hè vừa qua
thì trong tình trạng không rõ ràng và bấp bênh, được tạo ra bởi các tuyên bố
về quyền tài phán của Trung Quốc trên biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam).
|
|
Legally, China claims sovereignty over the disputed
islands and adjacent waters inthe Sea and sovereign rights over relevant
waters as well as the seabed and subsoil there of — a claim in accordance
with Law of the Seas (LOS) norms. But operationally, China’s oceanic law
enforcement agencies have unilaterally, and at times forcefully, enforced
their writ across the more expansive political perimeter bounded by the ‘nine
- dashed line’.
|
Về mặt pháp lý, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên các đảo
tranh chấp và vùng biển lân cận và các quyền chủ quyền trên vùng biển liên
quan, cũng như dưới đáy biển và trong lòng đất ở đó – một yêu sách dựa theo
các quy định về Luật Biển. Tuy nhiên, về mặt thi hành, các cơ quan thực thi
luật biển của Trung Quốc đã đơn phương, và đôi khi một cách áp đặt, thi hành
lệnh của họ trên vành đai chính trị mở rộng hơn, gắn với ‘đường chín đoạn đứt
khúc’.
|
|
Plainly, these legal and political claims overlap but do
not coincide. However, endlessdwelling on the supposedly impenetrable logic
of the nine-dashed line’s extremity is side-tracking attention from what
ought to be the central premise of this issue: that China’s claim to the primary
land elements lying within the nine-dashed line — theSpratlys and the
Paracels — is markedly superior to those of its rival claimants.
|
Rõ ràng, các tuyên bố về pháp lý và chính trị này chồng
lên nhau nhưng không trùng khớp nhau. Tuy nhiên, nghĩ mãi về điều được cho là
logic cốt lõi đằng sau đường chín đoạn đứt khúc là việc đánh lạc hướng sự chú
ý đến điều phải là tiền đề trọng tâm của vấn đề này: Tuyên bố chủ quyền của
Trung Quốc đối với các yếu tố đất đai chính, nằm trong đường chín đoạn đứt
khúc – quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – rõ ràng là thuận lợi hơn so với các
đối thủ đòi chủ quyền của họ.
|
|
Alone among claimants, China is capable of coupling
‘continuous and effective occupation’ of the islands, islets and reefs with a
robust modern international law -based claim backed by relevant multilateral
and bilateral instruments.
|
Một mình trong các nước tranh chấp, Trung Quốc có khả năng
nối kết chuyện ‘chiếm đóng liên tục và hiệu quả’ các hòn đảo, đảo nhỏ và rặng
san hô ngầm, với tuyên bố dựa trên luật pháp quốc tế hiện đại, mạnh mẽ, được
hỗ trợ bằng các công cụ song phương và đa phương có liên quan.
|
|
In 1952, Japan renounced all right, title and claim to the
Spratly and Paracel Islands to the Republic of China (Taiwan), by way of
Article 2 of the bilateral Japan – Taiwan
Treaty of Taipei. This treaty followed — and referenced — the territorial renunciations
of the Islands by Japan under the 1951 San Francisco Peace Treaty, which had
not identified the beneficiary at the time — a treaty that was ratified
byboth the Philippine and (South) Vietnamese governments. And although
neithercountry is bound by provisions in the bilateral Japan – Taiwan treaty, neither canproduce a
Spratlys/Paracels cession or reversion clause in their own bilateral
treatieswith Japan. Rather, their claims are supplementarily based on
historical cartography in the case of Vietnam or, for the Philippines,
‘historical discovery’ that is (incredibly) of a post-World War II vintage!
|
Năm 1952, Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, từ bỏ giấy tờ xác nhận
quyền sở hữu và từ bỏ tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa đối với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), theo Điều 2 của Hiệp ước Đài Bắc,
một hiệp ước song phương giữa Nhật Bản – Đài Loan. Hiệp ước này theo sau – và
đã nhắc đến – là sự từ bỏ [chủ quyền] lãnh thổ của Nhật Bản đối với các hòn
đảo theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951, Hiệp ước đã không xác định
nước thụ hưởng vào thời điểm đó – một hiệp ước đã được Philippines và Chính
phủ (miền Nam) Việt Nam phê chuẩn. Và mặc dù cả hai nước không bị ràng buộc
bởi các điều khoản trong hiệp ước song phương Nhật – Đài, nhưng không nước
nào đưa ra sự nhượng lại hay điều khoản thu hồi quần đảo Trường Sa/ Hoàng Sa
trong các hiệp ước song phương của họ với Nhật Bản. Thay vào đó, các tuyên bố
phụ của họ dựa trên bản đồ lịch sử trong trường hợp Việt Nam, hay với
Philippines là ‘khám phá lịch sử’ (khó tin) từ thời kỳ hậu Chiến tranh Thế
giới thứ II!
|
|
At the end of the day, ultimate title cannot be said to
rest with any one party so longas a territorial claim is not resolved by way
of a binding instrument betweenclaimant states. At best, there are better claims
and less-better claims to the territory in question. But given China’s law-based
claim is superior to that of rivalclaimants, why does it persist with the
infamous nine-dashed line [1]?
|
Tóm lại, cuối cùng thì giấy tờ xác nhận chủ quyền không
thể nói là nên trao cho bất kỳ nước nào, với điều kiện là tuyên bố lãnh thổ
không được giải quyết bằng một công cụ ràng buộc giữa các nước tuyên bố chủ
quyền. Tốt nhất, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của nước này có lý hơn hoặc ít
thuyết phục hơn nước kia, đang được bàn đến. Nhưng với tuyên bố dựa trên luật
pháp của Trung Quốc đã đưa ra thì vượt trội so với các tuyên bố chủ quyền của
các đối thủ của họ, vì sao họ vẫn khăng khăng với đường chín đoạn đứt khúc
đáng hổ thẹn [1]?
|
|
As the successor government of Taiwan, the mundane reason
is that Beijing is proceeding from the claim line that it inherited from the
Chiang Kai-shek regime asthe baseline for negotiation and compromise in an
open territorial dispute. Beijing’s approach to negotiating its Himalayan
boundary dispute with India is no different inthis regard. But the technical
reason is more complicated. Were China to submit an LOS-compliant claim to
its outer continental shelf limits in the South China Sea, the UN Commission on the Limits of the
Continental Shelf (CLCS), tasked with examining its validity, would almost
certainly strike down parts of the submission.
|
Khi chính phủ Đài Loan kế nhiệm, lý do quen thuộc là Bắc
Kinh đang tiến hành đòi những phần mà họ thừa hưởng từ chế độ Tưởng Giới
Thạch, như là chuẩn mực để đàm phán và thỏa hiệp trong một vụ tranh chấp lãnh
thổ mở rộng. Phương pháp của Bắc Kinh trong đàm phán tranh chấp biên giới Hy
Mã Lạp Sơn với Ấn Độ thì không khác nhau về mặt này. Nhưng lý do kỹ thuật thì
phức tạp hơn. Trung Quốc có đệ trình tuyên bố chủ quyền tuân theo Luật Biển
đối với các ranh giới bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông hay không, Ủy ban
Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) kiểm tra tính hợp lệ của nó,
gần như chắc chắn sẽ làm mất hiệu lực các phần trong nội dung đệ trình.
|
|
The CLCS appears on track to derecognising Japan’s claim
that the two high–tide elevations — totally the size of five tatami mats — within
the Okinotori atolls in the Pacific are in fact ‘islands’ capable of
generating an EEZ (that is ironically larger in dimension than the land mass
of Japan itself). By the same reasoning, many of the high-tide elevations
under Beijing’s control in the South China Sea would be found to be mere
‘rocks’. Although CLCS findings are non - enforceable, it would dent China’s case
to certain disputed resource-rich zones within the Sea — hence its preference
for the nine-dashed line.
|
Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa sẽ có mặt đúng lúc để không
thừa nhận tuyên bố của Nhật về hai vùng [đảo đá] nằm trên mặt nước khi thủy
triều dâng cao – kích thước tổng cộng bằng năm chiếc chiếu tatami – trên các
đảo san hô Okinotori ở Thái Bình Dương là “các hòn đảo” có khả năng tạo ra
vùng đặc quyền kinh tế (trớ trêu thay, nó lớn hơn toàn bộ đất đai của nước
Nhật Bản). Cũng với lập luận tương tự, nhiều vùng [đảo đá] nằm trên mặt biển
khi thủy triều dâng cao do Bắc Kinh kiểm soát trên Biển Đông, sẽ tìm thấy chỉ
là ‘những hòn đá’. Mặc dù những phát hiện của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa
thì không được thi hành, nhưng nó sẽ làm suy yếu trường hợp của Trung Quốc
đối với một số khu vực đang tranh chấp giàu tài nguyên trên biển – do đó sự
họ ưu tiên đường chín đoạn đứt khúc.
|
|
The foremost motive for the nine- dashed line’s
persistence is its intertwined character with the highly politicised,
deterrence-based model of territorial dispute management that Beijing favours.
|
Động lực quan trọng nhất trong việc khăng khăng [đòi chủ
quyền ở] đường chín đoạn đứt khúc là vấn đề đã bị chính trị hóa, mô hình quản
lý tranh chấp lãnh thổ dựa trên sự ngăn chặn mà Bắc Kinh ưa chuộng
|
|
Territorial jurisdiction issues have never been treated as
mere cartographic detail: they are tied to a larger political calculus of
stability and good neighbourliness. In its maritime dimension, joint
development of commonly held resources has been the established mode to
implement this principle. Her
e, Manila’s misjudgement in abrogating its joint seismic
study agreement with Vietnam and China in 2008(compounding the error by
unilaterally issuing exploration licenses within a disputed section of the
study area) has been the principal cause of the swift deterioration in bilateral
ties with China.
|
Các vấn đề về quyền tài phán lãnh thổ chưa bao giờ chỉ
được xem là chi tiết trong bản đồ: chúng được gắn với sự toan tính chính trị
lớn hơn về sự ổn định và láng giềng tốt. Trong khuôn khổ hàng hải, việc khai
thác chung ở những khu vực có tài nguyên là phương thức đã được thiết lập để
thi hành nguyên tắc này. Ở đây, tính toán sai lầm của Manila trong việc bãi
bỏ thỏa thuận nghiên cứu địa chấn chung với Việt Nam và Trung Quốc trong năm
2008 (gom các sai lầm, đơn phương cấp giấy phép thăm dò trong vùng tranh chấp
của khu vực nghiên cứu) là nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái nhanh chóng
trong quan hệ song phương với Trung Quốc.
|
|
Furthermore, territorial settlements have never been
concluded under duress, and China’s rulers calibrate their approach between a
hard -line and a flexible one to suitthe strategic circumstances at hand. The
nine-dashed line has conveniently served as a hard-line expedient that
Beijing’s competing maritime bureaucracies are not shy to lever to signal
displeasure to other claimants.
|
Hơn nữa, việc giải quyết [tranh chấp] lãnh thổ chưa bao
giờ được kết luận là do cưỡng ép, và những người cầm quyền Trung Quốc điều
chỉnh phương pháp tiếp cận giữa một chính sách cứng rắn với một chính sách
linh hoạt, thích hợp với tình huống chiến lược sắp tới. Đường chín đoạn đứt
khúc thuận tiện trong việc phục vụ như là một chiến thuật cứng rắn mà những
người quan liêu chạy đua trên biển của Bắc Kinh không dè dặt đưa ra để báo
hiệu sự không hài lòng đối với các nước tuyên bố chủ quyền khác.
|
|
So what are the enabling circumstances that would motivate
China to set the nine-dashed line aside and adhere to best international
practice in issuing forth maritime jurisdictional claims? Beijing has
previously been willing to soften its inflated ‘natural prolongation’
principle with Korea and Japan to pursue fisheries and (in -principle) joint
resource development, and the 2000 Gulf of Tonkin maritime delimitation agreement
with Vietnam too was firmly in keeping with the highest international practices.
Given the fast-paced development of international maritime law [2], which is accentuating
the gap between political calculus-based and rules-based orders at sea, it is
in China’s self-interest to submit an LOS-compliant claim to its outer
continental-shelf limits in the South China Sea. Beijing’s gains in goodwill
earned will far outweigh the territory, and resources, relinquished. It might
also allow China leeway to subsequently initiate a region-wide conversation
on introducing limits to objectionable, threat-based activities in EEZs by
foreign navies, under the guise of navigational freedoms.
|
Vậy thì các tình huống có thể thúc đẩy Trung Quốc đặt
đường chín đoạn đứt khúc qua một bên và tốt nhất tuân theo thông lệ quốc tế
trong việc ban hành quy định về tuyên bố các quyền tài phán hàng hải sắp tới
là gì? Trước đó, Bắc Kinh đã sẵn sàng nới lỏng nguyên tắc ‘mở rộng tự nhiên’
về mặt hình thức với Nam Hàn và Nhật Bản để theo đuổi nghề cá và (trên nguyên
tắc) cùng hợp tác khai thác, và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 với
Việt Nam cũng là để thi hành theo các thông lệ quốc tế cao nhất. Với sự phát
triển nhanh của luật hàng hải quốc tế [2], bộ luật nhấn mạnh khoảng cách giữa
trật tự dựa trên toan tính chính trị và trật tự dựa theo luật lệ trên biển,
quyền lợi của chính Trung Quốc là đệ trình tuyên bố tuân theo Luật Biển về
các giới hạn bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông. Lợi ích mà Bắc Kinh thu
được về thiện chí sẽ nhiều hơn lợi ích về lãnh thổ và các nguồn tài nguyên,
đã bị từ bỏ. Nó cũng có thể cho phép Trung Quốc có thêm thời gian để sau đó
bắt đầu một cuộc đối thoại trên toàn khu vực về việc đưa ra các hạn chế khó
chịu, các hoạt động đe dọa trong vùng đặc quyền kinh tế của các lực lượng hải
quân nước ngoài, dưới vỏ bọc tự do đi lại.
|
|
Sourabh Gupta is
Senior Research Associate at Samuels International Associates
|
Sourabh Gupta là nhà
nghiên cứu cao cấp tại Samuels International Associates
|
|
|
|
|
|
Translated by by
Duong Le Chi
|
Subscribe to:
Posts (Atom)
