MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, August 18, 2012

‘Princelings’ in China Use Family Ties to Gain Riches Con ông Cháu cha ở Trung Quốc dùng quan hệ gia đình để làm giàu




‘Princelings’ in China Use Family Ties to Gain Riches

Con ông Cháu cha ở Trung Quốc dùng quan hệ gia đình để làm giàu


By DAVID BARBOZA and SHARON LaFRANIERE

DAVID BARBOZA & SHARON LaFRANIERE

The New York Times
May 17, 2012
New York Times
17/5/2012 132

SHANGHAI — The Hollywood studio DreamWorks Animation recently announced a bold move to crack China’s tightly protected film industry: a $330 million deal to create a Shanghai animation studio that might one day rival the California shops that turn out hits like “Kung Fu Panda” and “The Incredibles.”

THƯỢNG HẢI – Trường quay phim DreamWorks Animation ở Hollywood vừa báo tin đã đặt được chân vào nền điện ảnh Trung Quốc trước nay vẫn nổi tiếng là kín cổng cao tường: một hợp đồng trị giá 330 triệu đô USD$ đã được ký để thành lập ở Thượng Hải một trường quay phim có thể một ngày kia cạnh tranh với những xưởng phim ở Californi, nơi sản xuất những phim ăn khách như Kung Fu Panda và Những kẻ bất diệt.

What DreamWorks did not showcase, however, was one of its newest — and most important — Chinese partners: Jiang Mianheng, the 61-year-old son of Jiang Zemin, the former Communist Party leader and the most powerful political kingmaker of China’s last two decades.

Điều mà DreamWork có vẻ mập mờ không nói rõ là, trong số những đối tác Trung Quốc, nhân vật quan trọng nhất là Giang Miên Hành, 61 tuổi, con của Giang Trạch Dân, cựu chủ tịch Trung Quốc, và là thế lực chính trị hùng mạnh nhất trong hai thập niên qua của Trung Quốc.


The younger Mr. Jiang’s coups have included ventures with Microsoft and Nokia and oversight of a clutch of state-backed investment vehicles that have major interests in telecommunications, semiconductors and construction projects.

Những phi vụ nhỏ hơn của ông Giang bao gồm liên doanh với Microsoft và Nokia và giám sát một cụm các phương tiện đầu tư do nhà nước hậu thuẫn có lợi ích lớn trong viễn thông, bán dẫn và các dự án xây dựng.


That a tay like Mr. Jiang would be included in an undertaking like that of DreamWorks is almost a given in today’s China. Analysts say this is how the Communist Party shares the spoils, allowing the relatives of senior leaders to cash in on one of the biggest economic booms in history.

Việc một tay giao dịch làm ăn như ông có mặt trong một vụ làm ăn tương tự như của DreamWorks là gần như là lẽ thường ở Trung Quốc ngày nay. Các nhà phân tích cho rằng đây là cách thức Đảng Cộng sản chia sẻ chiến lợi phẩm, cho phép thân nhân của lãnh đạo cấp cao dự phần vào một trong những nên kinh tế lớn bùng nổ nhất trong lịch sử.


As the scandal over Bo Xilai continues to reverberate, the authorities here are eager to paint Mr. Bo, a fallen leader who was one of 25 members of China’s ruling Politburo, as a rogue operator who abused his power, even as his family members accumulated a substantial fortune.

Khi vụ bê bối Bạc Hy Lai tiếp tục vang dội, các nhà chức trách ở đây mong muốn bôi nhọ ông Bạc, một nhà lãnh sụp đổ, một trong 25 thành viên của Bộ Chính trị cầm quyền của Trung Quốc, là một nhà điều hành lừa đảo, một người lạm dụng quyền lực, và ngay cả các thành viên trong gia đình cũng tích lũy một tài sản đáng kể.

But evidence is mounting that the relatives of other current and former senior officials have also amassed vast wealth, often playing central roles in businesses closely entwined with the state, including those involved in finance, energy, domestic security, telecommunications and entertainment. Many of these so-called princelings also serve as middlemen to a host of global companies and wealthy tycoons eager to do business in China.

Nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng rằng người thân của các quan chức cấp cao đương nhiệm và đã về hưu tích lũy tài sản lớn, mà thường đóng vai trò trung tâm trong các doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhà nước, bao gồm cả những người tham gia vào tài chính, năng lượng, an ninh nội địa, viễn thông và giải trí. Nhiều người trong cái gọi là những thái tử đảng cũng đóng vai trung gian để làm chủ các công ty toàn cầu và trở thành các ông trùm giàu có mong muốn kinh doanh ở Trung Quốc.


“Whenever there is something profitable that emerges in the economy, they’ll be at the front of the queue,” said Minxin Pei, an expert on China’s leadership and professor of government at Claremont McKenna College in California. “They’ve gotten into private equity, state-owned enterprises, natural resources — you name it.”

"Bất cứ khi nào có một cái gì đó có lợi nhuận mà nổi lên trong nền kinh tế, họ sẽ được ở vị trí hàng đầu", Minxin Pei, một chuyên gia về lãnh đạo Trung Quốc và là giáo sư về chính phủ học tại Claremont McKenna College ở California cho biết. "Họ tham gia vào vốn chủ sở hữu tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, tài nguyên thiên nhiên – còn nhiều thứ nữa."


For example, Wen Yunsong, the son of Prime Minister Wen Jiabao, heads a state-owned company that boasts that it will soon be Asia’s largest satellite communications operator. President Hu Jintao’s son, Hu Haifeng, once managed a state-controlled firm that held a monopoly on security scanners used in China’s airports, shipping ports and subway stations. And in 2006, Feng Shaodong, the son-in-law of Wu Bangguo, the party’s second-ranking official, helped Merrill Lynch win a deal to arrange the $22 billion public listing of the giant state-run bank I.C.B.C., in what became the world’s largest initial public stock offering.

Chẳng hạn, xí nghiệp quốc doanh mà Ôn Vân Tống, con của thủ tướng Ôn Gia Bảo làm giám đốc, đang trở thành hãng hoạt động lớn nhất về truyền thông qua vệ tinh Á châu. Người lãnh đạo công ti nắm độc quyền nhà nước về xử dụng scanners cho hệ thống an ninh là Hồ Hải Phong, con của chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Năm 2006, qua sự trung gian của Phùng Thiếu Đông, con rể Ngô Bang Quốc, nhân vật số 2 của Đảng, Merrill Lynch đã ký với ICBC, một ngân hàng quốc doanh khổng lồ, một hợp đồng về tổ chức đầu vào của chứng khoán, trị giá 22 tỉ đô la.

Much of the income earned by families of senior leaders may be entirely legal. But it is all but impossible to distinguish between legitimate and ill-gotten gains because there is no public disclosure of the wealth of officials and their relatives. Conflict-of-interest laws are weak or nonexistent. And the business dealings of the political elite are heavily censored in the state-controlled news media.

Phần lớn thu nhập gia đình của các nhà lãnh đạo cấp cao có thể là hoàn toàn hợp pháp. Nhưng nhìn chung không thể phân biệt giữa lợi ích hợp pháp và bất hợp pháp vì không có công bố công khai tài sản của viên chức và người thân của họ. Pháp luật về xung đột lợi ích là yếu hoặc không tồn tại. Và các giao dịch kinh doanh của giới tinh hoa chính trị được kiểm duyệt nặng nề trên các phương tiện truyền thông nhà nước kiểm soát.


The spoils system, for all the efforts to keep a lid on it, poses a fundamental challenge to the legitimacy of the Communist Party. As the state’s business has become increasingly intertwined with a class of families sometimes called the Red Nobility, analysts say the potential exists for a backlash against an increasingly entrenched elite. They also point to the risk that national policies may be subverted by leaders and former leaders, many of whom exert influence long after their retirement, acting to protect their own interests.

Hệ thống chiến lợi phẩm, mà tất cả các nỗ lực nhằm che đậy nó, đặt ra một thách thức cơ bản về tính chính danh của Đảng Cộng sản. Khi kinh doanh của nhà nước đã trở nên ngày càng gắn bó với một tầng lớp các gia tộc đôi khi được gọi là quý tộc đỏ, các nhà phân tích cho rằng tồn tại một khả năng về một phản ứng dữ dội chống lại một tầng lớp tinh hoa ngày càng cố thủ này. Họ cũng chỉ ra những rủi ro rằng các chính sách quốc gia có thể bị phá vỡ bởi các nhà lãnh đạo và cựu lãnh đạo, nhiều người trong số họ gây ảnh hưởng lâu dài sau khi đã nghỉ hưu của họ, và hành động để bảo vệ lợi ích riêng của họ.



Chinese officials and their relatives rarely discuss such a delicate issue publicly. The New York Times made repeated attempts to reach public officials and their relatives for this article, often through their companies. None of those reached agreed to comment on the record.


Các quan chức Trung Quốc và thân nhân của họ hiếm khi công khai thảo luận về một vấn đề tế nhị. Tờ báo New York Times đã cố gắng nhiều lần để tiếp cận các quan chức công quyền và người thân của họ cho bài viết này, thường là thông qua công ty của họ. Không ai trong số những người được gặp đưa ra nhận xét gì.
A secret United States State Department cable from 2009, released two years ago by the WikiLeaks project, cited reports that China’s ruling elite had carved up the country’s economic pie. At the same time, many companies openly boast that their ties to the political elite give them a competitive advantage in China’s highly regulated marketplace.


Một điện mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 2009, do WikiLeaks công bố hai năm, trích dẫn báo cáo nói rằng tầng lớp cầm quyền của Trung Quốc đã chia phần chiếc bánh kinh tế của đất nước. Đồng thời có nhiều xí nghiệp muốn chứng tỏ có nhiều ưu thế hơn những đối thủ của mình khi phô trương một cách công khai là có mối quan hệ với những thành phần chính trị nằm trên thượng đỉnh.

A Chinese sportswear company called Xidelong, for example, proudly informed some potential investors that one of its shareholders was the son of Wen Jiabao, according to one of the investors. (A private equity firm, New Horizon, that the son, Wen Yunsong helped found invested in the company in 2009, according to Xidelong’s Web site.) “There are so many ways to partner with the families of those in power,” said one finance executive who has worked with the relatives of senior leaders. “Just make them part of your deal; it’s perfectly legal.”

Chẳng hạn, một công ty đồ thể thao Trung Quốc có tên là Xidelong,  tự hào thông báo cho một số nhà đầu tư tiềm năng biết rằng một trong những cổ đông của nó là con trai của Ôn Gia Bảo, một trong các nhà đầu tư cho biết. (Công ty cổ phần tư nhân, New Horizon, mà người con trai, Wen Yunsong giúp thành lập đã đầu tư vào công ty trong năm 2009, trang web của Xidelong cho biết.) "Có quá nhiều các đề làm đối tác với các gia đình quyền thế. Chỉ cần những người này có phần trong bản giao kèo là mọi việc đều hợp lệ”, một chuyên viên tài chính quen làm việc với giới thân cận những quan chức chóp bu nói như vậy."

Worried about the appearance of impropriety and growing public disgust with official corruption, the Communist Party has repeatedly revised its ethics codes and tightened financial disclosure rules. In its latest iteration, the party in 2010 required all officials to report the jobs, whereabouts and investments of their spouses and children, as well as their own incomes. But the disclosure reports remain secret; proposals to make them public have been shelved repeatedly by the party-controlled legislature.

Lo lắng về sự xuất hiện của tài sản bất minh và sự căm ghét của công chúng với tham nhũng của viên chức ngày càng phát triển chính, Đảng Cộng sản đã nhiều lần sửa đổi quy chế về đạo đức và thắt chặt các quy tắc công khai tài chính. Trong lần thực hiện mới nhất năm 2010, đảng yêu cầu tất cả các quan chức báo cáo về việc làm, nơi ở và đầu tư của vợ chồng và con cái của họ, cũng như thu nhập của chính họ. Tuy nhiên, các báo cáo công bố thông tin vẫn còn bí mật, đề nghị công khai hóa đã bị hoãn nhiều lần bởi cơ quan lập pháp do đảng kiểm soát.



The party is unlikely to move more aggressively because families of high-ranking past and current officials are now deeply embedded in the economic fabric of the nation. Over the past two decades, business and politics have become so tightly intertwined, they say, that the Communist Party has effectively institutionalized an entire ecosystem of crony capitalism. “They don’t want to bring this into the open,” said Roderick MacFarquhar, a China specialist at Harvard University. “It would be a tsunami.”

Đảng không thể có các động thái mạnh mẽ hơn vì gia đình của quan chức cấp cao trong quá khứ và hiện tại đã nhúng sâu vào các cơ cấu kinh tế của quốc gia. Trong hai thập kỷ qua, kinh doanh và chính trị đã trở nên gắn bó với nhau chặt chẽ, họ nói, rằng Đảng Cộng sản đã thể chế hóa có hiệu quả toàn bộ hệ sinh thái của chủ nghĩa tư bản thân hữu. "Họ không muốn công khai điều này", ông Roderick MacFarquhar, một chuyên gia Trung Quốc tại Đại học Harvard. "Nó sẽ là một cơn sóng thần".


Critics charge that powerful vested interests are now strong enough to block reforms that could benefit the larger populace. Changes in banking and financial services, for instance, could affect the interests of the family of Zhu Rongji, China’s prime minister from 1998 to 2003 and one of the architects of China’s economic system. His son, Levin Zhu, joined China International Capital Corporation, one of the country’s biggest investment banks, in 1998 and has served as its chief executive for the past decade.

Các nhà phê bình tính rằng quyền lợi ích được giao to lớn như hiện nay đủ mạnh để ngăn chặn cải cách mà có thể đem lại lợi ích lớn hơn cho dân chúng. Ví dụ, những thay đổi trong dịch vụ ngân hàng và tài chính, có thể ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình Chu Dung Cơ, Bộ trưởng chính của Trung Quốc từ 1998 đến 2003 và một trong số các kiến ​​trúc sư của hệ thống kinh tế của Trung Quốc. Con trai ông, Levin Zhu, năm 1998 gia nhập Tổng công ty China International Capital, một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất của đất nước, và đã giữ chức giám đốc điều hành của nó trong thập kỷ qua.



Efforts to open the power sector to competition, for example, could affect the interests of relatives of Li Peng, a former prime minister. Li Xiaolin, his daughter, is the chairwoman and chief executive of China Power International, the flagship of one of the big five power generating companies in China. Her brother, Li Xiaopeng, was formerly the head of another big power company and is now a public official.

Những nỗ lực để mở cánh cửa cạnh tranh, chẳng hạn, có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các thân nhân của gia tộc Li Bằng, một cựu thủ tướng. Li Xiaolin, con gái ông, là chủ tịch và giám đốc điều hành của China Power International, một trong năm công ty hàng về năng lượng ở Trung Quốc. Anh trai của cô, Li Xiaopeng, trước đây là người đứng đầu của một công ty điện lực lớn và là một công chức.

“This is one of the most difficult challenges China faces,” said Mr. Pei, an authority on China’s leadership. “Whenever they want to implement reform, their children might say, ‘Dad, what about my business?’ ”

"Đây là một trong những thách thức khó khăn nhất Trung Quốc phải đối mặt," ông Pei, một nhân vật lãnh đạo của Trung Quốc cho biết. "Bất cứ khi nào họ muốn thực hiện cải cách, con cái của họ có thể nói," Bố gìa ơi, thế còn doanh nghiệp của con thì sao?”


There are also growing concerns that a culture of nepotism and privilege nurtured at the top of the system has flowed downward, permeating bureaucracies at every level of government in China.

Ngoài ra còn có mối quan tâm ngày càng tăng rằng một nền văn hóa gia đình trị và đặc quyền đặc lợi nuôi dưỡng ở thượng đỉnh hệ thống đã chảy xuống bên dưới, thâm nhập thói quan liêu vào mọi cấp của chính phủ ở Trung Quốc.

“After a while you realize, wow, there are actually a lot of princelings out there,” said Victor Shih, a China scholar at Northwestern University near Chicago, using the label commonly slapped on descendants of party leaders. “You’ve got the children of current officials, the children of previous officials, the children of local officials, central officials, military officers, police officials.We’re talking about hundreds of thousands of people out there — all trying to use their connections to make money.”


“Tới một hồi người ta nhận thấy có quá nhiều “các vị hoàng tử kế thừa”, Victor Shih, chuyên viên về Trung Quốc ở đại học Northwestern, gần Chicago phát biểu như vậy. Giữa những con cháu của những người lãnh đạo ngày nay, con cháu của những người tiền nhiệm, con cháu những người nắm quyền ở trung ương, ở địa phương, con cháu các sĩ quan trong quân đội, trong công an… tổng cộng có thể lên đến mấy trăm ngàn người. Tất cả đều lợi dụng những mối quan hệ để kiếm tiền.”



To shore up confidence in the government’s ability to tackle the problem, high-ranking leaders regularly inveigh against greedy officials caught with their hand in the till. In 2008, for instance, a former Shanghai Party secretary, Chen Liangyu, was sentenced to 18 years in prison for bribery and abuse of power. One of his crimes was pressing businessmen to funnel benefits to his close relatives, including a land deal that netted his brother, Chen Liangjun, a $20 million profit.

Để tăng cường niềm tin về khả năng giả quyết vấn đề của chính phủ, lãnh đạo cấp cao thường xuyên chỉ trích các quan chức cấp dưới tham lam bị bắt khi nhúng tay hành sự. Trong năm 2008, chẳng hạn, một cựu bí thư Thượng Hải, Trần Lương Vũ, đã bị kết án đến 18 năm tù vì hối lộ và lạm dụng quyền lực. Một trong những tội ác của ông là bắt buộc các doanh nhân phải nộp lợi nhuận cho người thân gần gũi của ông, bao gồm một thỏa thuận về đất đai do người anh em của ông, Chen Liangjun,  điều hành mạng lưới, với lợi nhuận 20 triệu USD.

But exposés in the foreign press — like the report in 2010 that Zeng Wei, the son of China’s former vice president Zeng Qinghong, bought a $32 million mansion in Sydney, Australia — are ignored by the Chinese-language news media and blocked by Internet censors.

Nhưng khi báo chí nước ngoài phanh phui - như  báo cáo năm 2010 về việc Zeng Wei, con trai của cựu Phó chủ tịch Trung Quốc Tăng Khánh Hồng, mua một căn biệt thự $32 triệu đô-la tại Sydney, Úc - được bỏ qua bởi các phương tiện truyền thông tiếng Trung và bị chặn bởi kiểm duyệt Internet.
Allegations of bribery and corruption against the nation’s top leaders typically follow — rather than precede — a fall from political grace. Mr. Bo’s downfall this spring, for instance, came after his former police chief in Chongqing told American diplomats that Mr. Bo’s wife, Gu Kailai, had ordered the murder of Neil Heywood, a British businessman, in a dispute over the family’s business interests.

Đa số những nhân vật cao cấp bị buộc tội tham nhũng rút cục cũng bị thất sủng. Xuân vừa rồi, Bạc Hy Lai bị rớt là vì người sếp công an thành phố Trùng Khánh đã khai với các nhà ngoại giao Mỹ là Cốc Khai Lai, vợ của nhân vật chính trị này đã sai ông ta ám sát Neil Heywood, một nhà kinh doanh người Anh do tranh chấp về lợi ích kinh doanh của gia tộc này

Evidence has surfaced of at least $160 million in assets held by close relatives of Bo Xilai, and the authorities are investigating whether other assets held by the family may have been secretly and illegally moved offshore.

Những bằng chứng xác nhận những người bà con của Bạc Hy Lai đã cất giấu ít nhất là 160 triệu đô la của chìm của nổi, được bộc lộ, và các nhà chức trách đang tiếp tục tìm kiếm xem có nhiều của cải khác vẫn còn được cất giấu ở nước ngoài hay không.

Wen Jiabao, the prime minister, responded by demanding a more forceful crackdown on corruption. Without naming Mr. Bo by name, People’s Daily, the official Communist Party newspaper, denounced fortune seekers who stain the party’s purity by smuggling ill-gotten gains out of the country.

Phản ứng của thủ tướng Ôn Gia Bảo là ra lệnh tăng cường việc trấn áp tham nhũng. Trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của đảng Cộng sản, có những bài tố cáo những người dân tham lam tiền của đang tuồn của cải bất chính ra nước ngoài.

Some scholars argue that the party is now hostage to its own unholy alliances. Cheng Li, an expert on Chinese politics with the Brookings Institution in Washington, said it would be difficult for the Chinese government to push through major political reforms aimed at extricating powerful political families from business without giving immunity to those now in power.


Một số học giả cho rằng đảng bây giờ bị bắt làm con tin cho các đồng minh xấu xa của nó. Cheng Li, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc làm việc cho Viện Brookings ở Washington, nói rằng chính phủ Trung Quốc khó mà thúc đẩy mạnh mẽ cải cách chính trị lớn nhằm đẩy các gia đình có thế lực chính trị mạnh mẽ ra khỏi kinh doanh mà không tạo miễn dịch đối với những người đang nắm quyền.
And with no independent judiciary in China, he said, party leaders would essentially be charged with investigating themselves. “The party has said anticorruption efforts are a life-and-death issue,” Mr. Li said. “But if they want to clean house, it may be fatal.”

Và do không có tư pháp độc lập ở Trung Quốc, ông cho biết, lãnh đạo đảng về cơ bản sẽ tự mình đảm nhận việc điều tra. "Đảng cho biết nỗ lực chống tham nhũng là một vấn đề tồn-vong," ông Li nói. "Nhưng nếu họ muốn để làm sạch nhà, nó cũng có thể gây tử vong."
Chinese tycoons have also been quietly welcomed into the families of senior leaders, often through secret partnerships in which the sons, daughters, spouses and close relatives act as middlemen or co-investors in real estate projects or other deals that need government approval or backing, according to investors who have been involved in such transactions.

Các tài phiệt Trung Quốc vẫn được kín đáo tiếp đãi trong gia đình những lãnh đạo cao cấp qua sự trung gian của những đối tác bí mật. “Con trai, con gái, vợ, họ hàng thân thuộc là những người đứng làm trung gian hay hùn hạp vốn trong những chương trình xây dựng, trong những hợp đồng cần có sự ưng thuận hay cần có sự hỗ trợ của chính phủ” , những người tham dự vào những cuộc giao dịch quả quyết như vậy.

Moreover, China’s leading political families, often through intermediaries, hold secret shares in dozens of companies, including many that are publicly listed in Hong Kong, Shanghai and elsewhere, according to interviews with bankers and investment advisers.

Hơn nữa, các gia đình có thế lực chính trị hàng đầu của Trung Quốc, thường thông qua trung gian, nắm giữ cổ phần bí mật trong hàng chục công ty, bao gồm nhiều công ty được niêm yết công khai tại Hồng Kông, Thượng Hải và các nơi khác, theo các cuộc phỏng vấn với các ngân hàng và các cố vấn đầu tư cho biết.

Lately, the progeny of the political elite have retooled the spoils system for a new era, moving into high-finance ventures like private equity funds, where the potential returns dwarf the benefits from serving as a middleman to government contracts or holding an executive post at a state monopoly.



Gần đây, con các nhân vật chính trị không màng đến những vai trò trung gian nữa mà dòm ngó những ngành tài chính cao cấp, đặc biệt là ngành kinh doanh tư bản. Ngành này có nhiều triển vọng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, đã làm lu mờ những vai trò đứng làm trung gian cho những thị trường công cộng hay những chức vụ như giám đốc một xí nghiệp độc quyền quốc gia:

Jeffrey Zeng, the son of the former Politburo member Zeng Peiyan, is a managing partner at Kaixin Investments, a venture-capital firm set up with two state-owned entities, China Development Bank and Citic Capital. Liu Lefei, the son of another Politburo member, Liu Yunshan, helps operate the $4.8 billion Citic Private Equity Fund, one of the biggest state-managed funds. Last year, Alvin Jiang, the grandson of former president Jiang Zemin, the former Communist Party leader and president, helped establish Boyu Capital, a private equity firm that is on its way to raising at least $1 billion.


Jeffrey Tăng, con của Tăng Bái An, cựu ủy viên bộ Chính trị là quản lý Kaisin Investments, một hãng đầu tư được hai ngân hàng Nhà nước lập ra, China development Bank và Citic Capital. Liu Lefei, con của Lưu Vân Sơn, một ủy viên khác của bộ Chính trị, là một trong những quản trị viên của Citic Private Equity Fund, một quĩ lớn dưới sự quản trị của nhà nước. Năm ngoái, Alvin Giang, cháu của Giang Trạch Dân đã nhúng tay vào sự thành lập Quĩ Boyu Capital. Vốn của quĩ này sẽ lên đến ít nhất là một tỷ đô la.

Most recently, with the Communist Party promising to overhaul the nation’s media and cultural industries, the relatives of China’s political elite are at the head of the crowd scrambling for footholds in a new frontier.


Gần đây nhất, đảng Cộng sản hứa hẹn sẽ cải tổ giới truyền thông và lãnh vực văn hóa quốc gia. Những thân thích của giới cầm quyền cao cấp sẽ là những người đầu tiên chạy vội giành giật chỗ cho mình trong lãnh vực mới này:

The February announcement of the deal between DreamWorks and three Chinese partners, including Shanghai Alliance Investment, was timed to coincide with the high-profile visit to the United States of Xi Jinping, China’s vice president and presumptive next president. The news release did not mention that Shanghai Alliance is partly controlled by Jiang Zemin’s son Jiang Mianheng. A person who answered the telephone at the Shanghai Alliance office here declined to comment.


Tháng Hai vừa rồi, tin báo về thỏa hiệp giữa DreamWorks và ba đối tác Trung Quốc trong đó có Shanghai Alliance Investment đã được tính toán để trùng hợp với cuộc viếng thăm rất được mong đợi của Tập Cận Bình, phó chủ tịch và có thể sẽ là chủ tịch nước. Thông cáo ỉm đi chuyện một phần Shanghai Alliance ở dưới quyền kiểm soát của ông Giang, con của cựu chủ tịch Giang Trạch Dân.


Zeng Qinghuai, the brother of Zeng Qinghong, China’s former vice president, is also in the film business. He served as a consultant for the patriotic epic “Beginning of the Great Revival.” The film exemplified the hand-in-glove relationship between business and politics. It was shown on nearly 90,000 movie screens across the country. Government offices and schools were ordered to buy tickets in bulk. The media was banned from criticizing it. It became one of last year’s top-grossing films.

Tăng Khánh Hoài, em của Tăng Khánh Hồng, cựu phó chủ tịch nước, cũng có chân trong kỹ nghệ điện ảnh. Ông này đã làm tham vấn cho bộ phim anh hùng tính The Founding of the Party. Phim này chúng minh sự quá gần gũi giữa thế giới áp phe và chính trị. Phim được chiếu trên gần 90000 màn ảnh khắp cả nước. Các văn phòng chính phủ và những trường học nhận được lệnh phải mua xỉ vé số lớn và giới truyền thông bị cấm không được đưa ra những phê phán về phim. Kết quả là cuốn phim này đã đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong năm 2011.

Scholars describe the film industry as the new playground for princelings. Zhang Xiaojin, director of the Center of Political Development at Tsinghua University, said, “There are cases where propaganda department officials specifically ask their children to make films which they then approve.”


Các nhà nghiên cứu đều công nhận điện ảnh là sân chơi mới của các “hoàng tử kế thừa”. Tăng Tiểu Anh, giám đốc Trung tâm phát triển chính trị đại học Thanh Hoa giảng giải: “Trong nhiều trường hợp, các quan chức của bộ Tuyên truyền khuyến khích các con cháu họ cứ làm phim đi, trước sau gì phim cũng sẽ được sự tán đồng của bộ “.


Zhao Xiao, an economist at the University of Science and Technology in Beijing, said, “They are everywhere, as long as the industry is profitable.”
Ziao Xiao, nhà kinh tế học đại học Khoa học và Kỹ thuật Bắc Kinh còn nói thêm: “Họ có mặt khắp nơi chừng nào còn có những phi vụ làm ăn béo bở”.



http://www.nytimes.com/2012/05/18/world/asia/china-princelings-using-family-ties-to-gain-riches.html?_r=1&pagewanted=all

Friday, August 17, 2012

LIPSTICK ON YOUR COLLAR




LIPSTICK ON YOU COLLAR
VẾT SON TRÊN CỔ ÁO

Connie Francis

Connie Francis
(Yeah, yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.)
(Yeah, yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.)


When you left me all alone at the record hop
Told me you were goin' out for a soda pop
You were gone for quite a while, half an hour or more
You came back and man oh, man, this is what I saw.

Khi đang ngồi chơi trong quán ăn
Anh kêu rằng anh muốn đi
Đi mua một bao thuốc lá thơm
Trong ngôi chợ bên góc đường

Anh ra đi sao thấy hơi lâu
Đi qua 30 phút hơn
Khi anh vô trong mắt anh sao
Thấy có những nét dối gian

Lipstick on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue
Bet your bottom dollar you and I are through
Cause, lipstick on you collar told a tale on you, yeah.

Kìa son môi trên áo anh
Thì ra anh đã dối em
Kìa son môi trên áo anh
Nhìn sao anh không nói thêm
Đã thế chớ trách sao
Em không yêu anh đâu
Vết son môi in trên cổ áo
Chẳng thèm anh nữa đâụ


You said it belonged to me, made me stop and think
Then I noticed yours was red, mine was baby pink
Who walked in but Mary Jane, lipstick all a mess
Were you smoochin' my best friend, guess the answers yes.

Anh nói rằng son kia của em
Em chau mày thêm tức thêm giận
Son em màu hồng tươi hãy xem
Son kia màu đỏ thẫm như mận

Anh bôi son cô đó hay sao
Son môi lem nhem thấy nghê
Anh đã đưa cô ta tới nơi đâu
Bao lâu nay anh đã đi

Lipstick on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue
Bet your bottom dollar you and I are through
Cause, lipstick on you collar told a tale on you, boy.

Kìa son môi trên áo anh
Thì ra anh đã dối em
Kìa son môi trên áo anh
Nhìn xem em không nói thêm

Told a tale on you, man.
Told a tale on you, yeah.
Told a tale on you...
Đã thế chớ trách sao
Em không yêu anh đâu
Vết son môi in trên cổ áo
Chẳng thèm anh nữa đâu ...... nhe !


Sunday, August 12, 2012

The South China Sea - Troubled waters Biển Đông – Vùng biển rắc rối




The South China Sea - Troubled waters

Biển Đông –  Vùng biển rắc rối

by Banyan
Banyan

Aug 6th 2012
6/8/2012


LONG a zone of contention among a number of littoral states, the South China Sea is fast becoming the focus of one of the most serious bilateral disputes between America and China. Over the weekend China’s foreign ministry summoned an American diplomat to express “strong dissatisfaction and resolute opposition” to a statement issued by the state department on August 3rd.

Là một khu vực tranh chấp giữa các nước duyên hải, từ lâu Biển Đông nhanh chóng trở thành tâm điểm của một trong những tranh chấp song phương nghiêm trọng nhất giữa Mỹ và Trung Quốc. Cuối tuần qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc triệu tập một nhà ngoại giao Hoa Kỳ để bày tỏ “sự bất bình mạnh mẽ và cương quyết phản đối” về một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 3 tháng 8.  


Tensions in the sea have mounted this year, especially between China and the Philippines on the one hand, and between China and the Vietnam on the other. Although there has not been a serious armed clash in the sea since 1988, and none is likely now, there are worries that in the current climate some low-level confrontation might escalate by accident.


Năm nay, các vụ căng thẳng trên biển đã gia tăng cao, nhất là giữa Trung Quốc và Phillippines và mặt khác, giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mặc dù đã không có một cuộc va chạm quân sự nghiêm trọng nào xảy ra trên biển kể từ năm 1988, và bây giờ cũng khó có thể xảy ra, đã có những mối lo ngại rằng với tình hình hiện tại thì một cuộc đối đầu ở mức độ nhẹ có thể leo thang bất ngờ.

The specific Chinese complaint this weekend was over America’s criticism of its recent upgrading of the administrative level of Sansha city, on one of the Paracel islands (known in China as the Xisha), from a county to a prefecture, and the establishment of a new military garrison there. In its riposte China judged its own decision to be “normal and reasonable”, though only a few hundred people live on the islets covered by the vast new maritime prefecture.

Than phiền chính yếu của Trung Quốc là sự chỉ trích của Hoa Kỳ về việc Trung Quốc nâng cấp hành chính của thành phố Tam Sa, trên một hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa), từ cấp huyện hạt lên cấp quận, và việc thành lập một đơn vị đồn trú quân đội mới ở đó. Trong lời đáp trả, Trung Quốc xem quyết định của họ là “bình thường và hợp lý”, cho dù chỉ có vài trăm người sống trên những đảo nhỏ, bao quanh cái quận trên biển mới thành lập đó là vùng nước mênh mông.


More broadly, China complains that America is taking sides in the many territorial disputes in the sea. China and Taiwan both claim virtually all the sea. Vietnam claims the Paracels, from which it was evicted by China in 1974, as well as the Spratly chain further to the south. In the south both overlap extensively with the exclusive economic zone the Philippines claims under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).


Một cách tổng quát hơn, Trung Quốc than phiền rằng Hoa Kỳ chọn phe trong nhiều tranh chấp lãnh thổ trên biển. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều đòi chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Việt Nam đòi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa do đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974, cũng như chuỗi đảo Trường Sa về phía nam. Trong vùng biển phía nam, đòi hỏi của cả hai nước [Trung Quốc và Việt Nam] đều chồng lấn với tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế của Philippines theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Further complicating things, Malaysia and Brunei also have smaller territorial claims, and the regional club to which they, the Philippines and Vietnam all belong, the Association of South-East Asian Nations (ASEAN), has tried to play a co-ordinating and mediating role.


Càng phức tạp hơn, Malaysia và Brunei cũng có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhỏ hơn, và Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) mà Việt Nam và Philippines là thành viên, đã cố gắng thực hiện vai trò liên lạc và hòa giải.


America insists it is entirely neutral on the territorial disputes. However China has long seen it as a troublemaker, especially since, at a security forum in Hanoi two years ago, Hillary Clinton, the secretary of state, declared the United States’ “national interest” in the affairs of the sea.

Hoa Kỳ nhấn mạnh vai trò trung lập của mình trong các tranh chấp lãnh thổ. Nhưng Trung Quốc vẫn xem Hoa Kỳ là kẻ gây rối, nhất là kể từ khi tại Diễn đàn An ninh Khu vực ở Hà Nội hai năm trước, bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” đối với các vấn đề trên biển.


China blames America for encouraging—and perhaps even instigating—a more aggressive approach from both the Philippines and Vietnam. It asks why the American statement chose “to turn a blind eye” to what China sees as provocations by (unnamed) other countries.


Trung Quốc đổ lỗi cho Hoa Kỳ đã khuyến khích – và có lẽ ngay cả kích động – một thái độ hung hăng hơn từ Phillippines và Việt Nam. Trung Quốc đặt câu hỏi tại sao tuyên bố của Hoa Kỳ chọn thái độ “làm ngơ” trước những điều Trung Quốc coi là sự khiêu khích bởi những quốc gia khác (không nêu tên).


This is a reference to Vietnam’s adoption of a maritime law asserting its territorial claims, and to recent disputes with it and the Philippines over fishing and the opening of disputed waters to oil and gas exploration. One reason tempers are rising is that the seas are so abundant in resources.


Điều này ám chỉ việc Việt Nam phê chuẩn luật biển, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và những tranh chấp mới đây với Trung Quốc và Philippines về vấn đề đánh bắt cá và mở [thầu] các vùng biển tranh chấp để khai thác dầu khí. Một lý do cho các cơn thịnh nộ gia tăng là vùng biển có quá nhiều tài nguyên.


The most serious recent confrontation, between the Philippines and China over the Scarborough Shoal, has eased after both sides withdrew their armed patrols and competing fishing boats, as storms approached. But the Philippines says the Chinese boats left the mouth of the lagoon roped off to prevent other fishermen from entering.

Cuộc đối đầu nghiêm trọng nhất gần đây giữa Philippines với Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough đã giảm cường độ sau khi cả hai bên rút các tàu tuần tra có trang bị vũ trang và tàu đánh cá về, khi những cơn bão ập tới. Nhưng Philippines nói các tàu Trung Quốc đã để lại dây chắn ngang cửa bãi cạn để ngăn cản ngư dân lui tới.


The American statement backs the multilateral approach to the disputes championed by ASEAN. Its members are still smarting over their failure—for the first time in the organisation’s 45-year history—to agree on a joint statement after their annual foreign ministers’ meeting, which they held last month in Phnom Penh. It was blocked because Cambodia, a faithful Chinese client, refused to accept wording on the South China Sea demanded by some of its fellow members.

Tuyên bố của Mỹ ủng hộ phương pháp đa phương để giải quyết tranh chấp do ASEAN chủ trương. Các thành viên ASEAN vẫn đang khổ sở về sự thất bại của họ – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm kể từ khi tổ chức này thành lập – về việc cho ra một tuyên bố chung sau cuộc họp giữa các bộ trưởng ngoại giao hàng năm, đã tổ chức hồi tháng trước tại Phnom Penh. Bản tuyên bố chung đã bị ngăn chặn bởi vì Cambodia, một thân chủ trung thành với Trung Quốc, đã từ chối không chấp nhận cách diễn đạt về biển Đông theo yêu cầu của một số thành viên khác. 


Dogged Indonesian diplomacy subsequently managed to cobble together a palatable, if bland, ASEAN position on the sea. China is working (ever so slowly) with ASEAN towards a regional code of conduct to lessen the risks of conflict. But it insists the territorial disputes are a series of bilateral issues. It does not want its smaller neighbours ganging up on it, still less if they are backed up by America.


Đường lối ngoại giao bền bỉ của Indonesia tiếp theo đã cố hàn gắn lại tình trạng có thể chấp nhận được, cho dù tẻ nhạt, lập trường của ASEAN về Biển Đông. Trung Quốc đang làm việc (một cách quá chậm) với ASEAN về bộ quy tắc ứng xử khu vực để làm giảm những nguy cơ xung đột. Nhưng Trung Quốc nhấn mạnh các tranh chấp lãnh thổ là vấn đề song phương. Trung Quốc không muốn những nước láng giềng nhỏ hơn quy tụ lại để chống [Trung Quốc], càng không muốn các nước này được Mỹ hỗ trợ.       


It has a point when it says that the American statement was one-sided. And it must be suspicious that, despite its denials, America is backing its rivals’ claims. Mrs Clinton, for example, has taken to using the term “the West Philippine Sea”. It is also understandable for China to fear that America is trying to capitalise on the disputes, to cement its position in the region, in keeping with the global “rebalancing” of its military posture in favour of Asia and the Pacific.


Trung Quốc có lý do để nói rằng tuyên bố của Hoa Kỳ là đứng về một phe. Và họ hẳn phải nghi ngờ rằng, mặc dù chối bỏ, Hoa Kỳ đang hỗ trợ tuyên bố của các đối thủ của Trung Quốc. Chẳng hạn như, bà Clinton đã dùng cụm từ “Biển Tây Philippines”. Điều cũng dễ hiểu là Trung Quốc sợ Hoa Kỳ trục lợi trong vấn đề tranh chấp để củng cố vị thế trong khu vực, qua việc “tái cân bằng” lực lượng quân sự nghiêng về châu Á – Thái Bình dương.

That the American approach is broadly appreciated in the region, however, must give China pause. There are two reasons for the welcome to America. The first is the perception that China has become more strident and more of a bully in asserting its claims.

Tuy nhiên, sự tiếp cận của Hoa Kỳ được hoan nghênh rộng rãi trong khu vực, đã phải làm cho Trung Quốc khựng lại. Có hai lý do để chào đón Hoa Kỳ. Thứ nhất là, nhận thức rằng Trung Quốc đã trở nên hung hăng và bắt nạt hơn trong việc xác lập chủ quyền.


The second is that it remains unclear what those claims are based on. China couches many of its statements by reference to the islands, islets and rocks over which it claims sovereignty, and their associated waters, as if it were following UNCLOS. But it has not renounced the “nine-dashed line” (see map) which it says gives it historic rights over virtually the entire sea. China’s neighbours have reason to worry China sees their sea as its lake
Thứ hai là Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng về các tuyên bố đó dựa trên cơ sở gì. Trung Quốc diễn tả trong nhiều tuyên bố có nhắc tới các hòn đảo, đảo nhỏ và đá mà họ tuyên bố chủ quyền, và các các vùng biển liên quan, như thể họ tuân theo luật lệ của UNCLOS. Nhưng Trung Quốc đã không từ bỏ “đường chín đoạn” (xem ảnh) mà họ cho rằng họ có chủ quyền lịch sử đối với toàn bộ khu vực. Các nước láng giềng của Trung Quốc có lý để lo sợ Trung Quốc xem biển của họ như ao nhà của Trung Quốc.




Translated by Trần Văn Minh




http://www.economist.com/blogs/analects/2012/08/south-china-

No More Growth Miracles Không còn những kỳ tích phát triển






No More Growth Miracles

Không còn những kỳ tích phát triển
Dani Rodrik
Dani Rodrik

Theo Project Syndicate
Aug. 8, 2012
Theo Project Syndicate
8/8/2012


CAMBRIDGE – A year ago, economic analysts were giddy with optimism about the prospects for economic growth in the developing world. In contrast to the United States and Europe, where the growth outlook looked weak at best, emerging markets were expected to sustain their strong performance from the decade preceding the global financial crisis, and thus become the engine of the global economy.

CAMBRIDGE – Một năm trước, các nhà phân tích kinh tế còn đang quay cuồng với những dự đoán lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Ngược lại với Hoa Kỳ và Châu Âu, nơi mà tăng trưởng – nếu có – chỉ là èo uột, các thị trường mới nổi dự kiến sẽ tiếp tục duy trì tốc độ phát triển mạnh mẽ của một thập niên trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và do đó trở thành động cơ chính của nền kinh tế toàn cầu.


Economists at Citigroup, for example, boldly concluded that circumstances had never been this conducive to broad, sustained growth around the world, and projected rapidly rising global output until 2050, led by developing countries in Asia and Africa. The accounting and consulting firm PwC predicted that per capita GDP growth in China, India, and Nigeria would exceed 4.5% well into the middle of the century. The consulting firm McKinsey & Company christened Africa, long synonymous with economic failure, the land of “lions on the move.”

Ví dụ, các nhà kinh tế tại Citigroup mạnh dạn kết luận rằng chưa bao giờ có những điều kiện thuận lợi để đạt được tốc độ phát triển rộng rãi và bền vững trên toàn cầu như hiện nay, và dự kiến sản lượng toàn cầu sẽ tăng nhanh cho tới năm 2050, dẫn dắt bởi các quốc gia đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi. Công ty kế toán và tư vấn PwC dự đoán rằng GDP theo đầu người ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nigeria sẽ tăng hơn 4,5% [mỗi năm] vào giữa thế kỷ này. Công ty tư vấn McKinsey & Company chúc phúc cho Châu Phi, một nơi từ lâu vẫn đồng nghĩa với sự thất bại kinh tế, gọi đây là mảnh đất của ”những con sư tử thức giấc”.


Today, such talk has been displaced by concern about what The Economist calls “the great slowdown.” Recent economic data in China, India, Brazil, and Turkey point to the weakest growth performance in these countries in years. Optimism has given way to doubt.

Tới hôm nay, những dự đoán như thế đã bị thay thế bởi lo ngại về cái mà tờ Economist gọi là ”đại suy thoái”. Những dữ liệu kinh tế gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin và Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra rằng các quốc gia này đang trải nghiệm một tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Sự lạc quan đang nhường chỗ cho nghi ngờ.


Of course, just as it was inappropriate to extrapolate from the previous decade of strong growth, one should not read too much into short-term fluctuations. Nevertheless, there are strong reasons to believe that rapid growth will prove the exception rather than the rule in the decades ahead.

Tất nhiên, cũng giống như không nên dùng tốc độ tăng trưởng mạnh của thập niên vừa rồi để dự đoán tương lai, chúng ta không nên quá tin vào những biến động ngắn hạn. Tuy nhiên, có nhiều lý do chính đáng để tin rằng tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ sẽ chỉ là trường hợp ngoại lệ, chứ không phải hiện tượng phổ biến, trong vài thập niên tới.

To see why, we need to understand how “growth miracles” are made. Except for a handful of small countries that benefited from natural-resource bonanzas, all of the successful economies of the last six decades owe their growth to rapid industrialization. If there is one thing that everyone agrees on about the East Asian recipe, it is that Japan, South Korea, Singapore, Taiwan, and of course China all were exceptionally good at moving their labor from the countryside (or informal activities) to organized manufacturing. Earlier cases of successful economic catch-up, such as the US or Germany, were no different
Để thấy lý do tại sao, chúng ta cần phải hiểu ”những nền kinh tế phát triển thần kỳ” này được tạo ra bằng cách nào. Ngoại trừ một số ít quốc gia nhỏ bé hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên, tất cả những nền kinh tế thành công trong 60 năm qua đều phát triển nhờ quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng. Nếu có một thứ mà mọi người có thể nhất trí về ”công thức [phát triển] Đông Á”, thì đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và tất nhiên cả Trung Quốc đều rất giỏi trong việc dịch chuyển lực lượng lao động của mình từ nông thôn sang nền sản xuất có tổ chức. Những trường hợp của các nền kinh tế thành công trong việc bắt kịp với các quốc gia giàu có hơn trước đây, như Hoa Kỳ hay Đức, cũng không khác biệt.


Manufacturing enables rapid catch-up because it is relatively easy to copy and implement foreign production technologies, even in poor countries that suffer from multiple disadvantages. Remarkably, my research shows that manufacturing industries tend to close the gap with the technology frontier at the rate of about 3% per year regardless of policies, institutions, or geography. Consequently, countries that are able to transform farmers into factory workers reap a huge growth bonus.


Sản xuất cho phép đuổi kịp nhanh chóng bởi vì nó tương đối dễ sao chép và thực thi các công nghệ sản xuất của nước ngoài, ngay cả ở những quốc gia nghèo đang rất nhiều khó khăn. Điều đáng chú ý là, nghiên cứu của tôi cho thấy các nước công nghiệp sản xuất có xu hướng rút ngắn khoảng cách công nghệ với tỷ lệ trung bình 3% một năm, bất chấp sự khác biệt về khu vực địa lý, chính sách hay thể chế. Kết quả là các quốc gia có khả năng biến nông dân thành công nhân nhà máy sẽ gặt hái một tốc độ tăng trưởng thần tốc.


To be sure, some modern service activities are capable of productivity convergence as well. But most high-productivity services require a wide array of skills and institutional capabilities that developing economies accumulate only gradually. A poor country can easily compete with Sweden in a wide range of manufactures; but it takes many decades, if not centuries, to catch up with Sweden’s institutions.

Chắc chắn là một số hoạt động dịch vụ hiện đại cũng có khả năng giúp các quốc gia chậm phát triển đuổi kịp các quốc gia phát triển về năng lực sản xuất. Nhưng phần lớn các dịch vụ có năng suất cao lại cần nhiều kỹ năng và thể chế mà các quốc gia phát triển chỉ có thể tích lũy từ từ. Một quốc gia nghèo có thể nhanh chóng cạnh tranh với Thụy Điển ở nhiều ngành sản xuất; nhưng nó phải mất nhiều thập niên, nếu không nói thế kỷ, để bắt kịp với Thụy Điển về mặt thể chế.

Consider India, which demonstrates the limitations of relying on services rather than industry in the early stages of development. The country has developed remarkable strengths in IT services, such as software and call centers. But the bulk of the Indian labor force lacks the skills and education to be absorbed into such sectors. In East Asia, unskilled workers were put to work in urban factories, making several times what they earned in the countryside. In India, they remain on the land or move to petty services where their productivity is not much higher.

Hãy xem ví dụ Ấn Độ, để thấy hạn chế trong việc dựa vào dịch vụ thay vì công nghiệp trong giai đoạn đầu quá trình phát triển. Ấn Độ đã phát triển rất mạnh trong lĩnh vực dịch vụ tin học, như phần mềm và các trung tâm chăm sóc khách hàng (call center). Nhưng một số lượng lớn lực lượng lao động Ấn Độ thiếu kỹ năng và giáo dục để có thể được hấp thu vào khu vực dịch vụ này. Ở Đông Á, lao động không có trình độ được đưa vào làm việc ở các nhà máy, kiếm được vài lần so với số tiền họ kiếm được ở nông thôn. Ở Ấn Độ, những người này tiếp tục ở lại nông thôn hoặc dịch chuyển vào những khu vực dịch vụ nhỏ bé, nơi năng suất của họ không cao hơn là bao.


Successful long-term development therefore requires a two-pronged push. It requires an industrialization drive, accompanied by the steady accumulation of human capital and institutional capabilities to sustain services-driven growth once industrialization reaches its limits. Without the industrialization drive, economic takeoff becomes quite difficult. Without sustained investments in human capital and institution-building, growth is condemned to peter out.


Do đó, phát triển dài hạn thành công cần được thúc đẩy từ hai hướng: Nó cần có động lực từ công nghiệp hóa, đi kèm với sự tích lũy ổn định về vốn xã hội và khả năng thể chế để duy trì một nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng dịch vụ, một khi công nghiệp hóa đã đạt tới giới hạn. Không có sự thúc đẩy của công nghiệp hóa, sự cất cánh của nền kinh tế trở nên khó khăn. Nhưng không có đầu tư bền vững vào vốn con người và việc xây dựng thể chế, thì sự tăng trưởng sẽ có ngày cạn kiệt.


But this time-tested recipe has become a lot less effective these days, owing to changes in manufacturing technologies and the global context. First, technological advances have rendered manufacturing much more skill- and capital-intensive than it was in the past, even at the low-quality end of the spectrum. As a result, the capacity of manufacturing to absorb labor has become much more limited. It will be impossible for the next generation of industrializing countries to move 25% or more of their workforce into manufacturing, as East Asian economies did.


Nhưng ngày nay công thức đã được thời gian thử nghiệm này trở nên kém hiệu quả hơn nhiều, bởi những thay đổi trong công nghệ sản xuất và bối cảnh toàn cầu. Thứ nhất, các tiến bộ công nghệ đã khiến sản suất thâm dụng vốn và cần trình độ cao hơn trước, ngay cả ở phân đoạn chất lượng thấp. Kết quả là, khả năng hấp thụ lực lượng lao động của khu vực sản xuất ngày càng giảm. Và nó sẽ rất khó để các nước công nghiệp hóa thế hệ kế tiếp chuyển 25% hoặc hơn lực lượng lao động của mình vào khu vực sản xuất, như cách mà các nền kinh tế Đông Á đã thành công.


Second, globalization in general, and the rise of China in particular, has greatly increased competition on world markets, making it difficult for newcomers to make space for themselves. Although Chinese labor is becoming more expensive, China remains a formidable competitor for any country contemplating entry into manufactures.


Thứ hai, toàn cầu hóa nói chung, và sự trỗi dậy của Trung Quốc nói riêng, đã làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường thế giới lên rất nhiều, gây trở ngại cho các quốc gia mới nổi tiến vào không gian này. Mặc dù lao động ở Trung Quốc ngày càng trở nên đắt đỏ hơn, Trung Quốc vẫn là một đối thủ cạnh tranh đáng gờm cho bất kỳ quốc gia nào dự tính tiến vào lĩnh vực sản xuất.


Moreover, rich countries are unlikely to be as permissive towards industrialization policies as they were in the past. Policymakers in the industrial core looked the other way as rapidly growing East Asian countries acquired Western technologies and industrial capabilities through unorthodox policies such as subsidies, local content requirements, reverse engineering, and currency undervaluation. Core countries also kept their domestic markets open, allowing East Asian countries to export freely the manufactured products that resulted.


Hơn nữa, các quốc gia giàu có không còn bi quan về các chính sách công nghiệp hóa như họ đã từng trong quá khứ. Các nhà hoạch định chinh sách trong các quốc gia công nghiệp phát triển đã nhìn ra chỗ khác khi các quốc gia phát triển nhanh chóng ở Đông Á thu thập công nghệ và trình độ kỹ thuật phương Tây thông qua các chính sách không chính thống như trợ cấp, đòi hỏi nội địa hóa, nghiên cứu đảo ngược (reverse engineering), và định giá nội tệ thấp. Các quốc gia này cũng đã để ngỏ thị trường của mình cho các quốc gia Đông Á xuất khẩu thoải mái các mặt hàng đầu ra của nền sản xuất.

Now, however, as rich countries struggle under the combined weight of high debt, low growth, unemployment, and inequality, they will apply greater pressure on developing nations to abide by World Trade Organization rules, which narrow the space for industrial subsidies. Currency undervaluation à la China will not go unnoticed. Protectionism, even if not in overt form, will be politically difficult to resist.

Giờ đây, các quốc gia giàu đang phải vận lộn với nợ, phát triển èo uột, thất nghiệp và bất bình đẳng; họ sẽ tạo áp lực lớn hơn để các quốc gia phát triển phải tuân thủ các luật lệ của WTO, giảm bớt liều lượng trợ cấp cho nền công nghiệp. Đánh giá thấp tiền tệ như kiểu Trung Quốc sẽ khó tránh khỏi sự chú ý. Chủ nghĩa bảo hộ, dù không phải dưới hình thức công khai, cũng sẽ khó phản đối về mặt chính trị.

Manufacturing industries will remain poor countries’ “escalator industries,” but the escalator will neither move as rapidly, nor go as high. Growth will need to rely to a much greater extent on sustained improvements in human capital, institutions, and governance. And that means that growth will remain slow and difficult at best.

Các ngành công nghiệp sản xuất sẽ tiếp tục là ”cái thang cuốn” cho các nước nghèo, nhưng thang cuốn này có thể không di chuyển nhanh, hay cao như trước. Phát triển sẽ phải dựa nhiều hơn vào sự tích lũy bền vững của vốn xã hội, thể chế và khả năng quản lý của nhà nước. Và điều này có nghĩa là phát triển có lẽ sẽ chậm và khó khăn.
Dani Rodrik is a professor at Harvard University’s Kennedy School of Government and a leading scholar of globalization and economic development.

Dani Rodrik là giáo sư tại Khoa Chính phủ học Kennedy thuộc Đại học Harvard và là học giả hàng đầu về toàn cầu hóa và phát triển kinh tế.

Translated by Nguyễn Công Huân


http://www.project-syndicate.org/commentary/no-more-growth-miracles-by-dani-rodrik

Saturday, August 11, 2012

China’s South China Sea jurisdictional claims: when politics and law collide Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột


 


China’s South China Sea jurisdictional claims: when politics and law collide

Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột
Sourabh Gupta

Sourabh Gupta

East Asia Forum
July 29, 2012
East Asia Forum
29/7/2012


A running thread through the tensions at various Southeast Asian regional forums over the past four summers has been the uncertainty and insecurity generated by China’s jurisdictional claims in the South China Sea.

Một chủ đề đã và đang được các nước bàn luận về những căng thẳng tại các diễn đàn khu vực Đông Nam Á khác nhau trong bốn mùa hè vừa qua thì trong tình trạng không rõ ràng và bấp bênh, được tạo ra bởi các tuyên bố về quyền tài phán của Trung Quốc trên biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam).


Legally, China claims sovereignty over the disputed islands and adjacent waters inthe Sea and sovereign rights over relevant waters as well as the seabed and subsoil there of — a claim in accordance with Law of the Seas (LOS) norms. But operationally, China’s oceanic law enforcement agencies have unilaterally, and at times forcefully, enforced their writ across the more expansive political perimeter bounded by the ‘nine - dashed line’.

Về mặt pháp lý, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên các đảo tranh chấp và vùng biển lân cận và các quyền chủ quyền trên vùng biển liên quan, cũng như dưới đáy biển và trong lòng đất ở đó – một yêu sách dựa theo các quy định về Luật Biển. Tuy nhiên, về mặt thi hành, các cơ quan thực thi luật biển của Trung Quốc đã đơn phương, và đôi khi một cách áp đặt, thi hành lệnh của họ trên vành đai chính trị mở rộng hơn, gắn với ‘đường chín đoạn đứt khúc’.


Plainly, these legal and political claims overlap but do not coincide. However, endlessdwelling on the supposedly impenetrable logic of the nine-dashed line’s extremity is side-tracking attention from what ought to be the central premise of this issue: that China’s claim to the primary land elements lying within the nine-dashed line — theSpratlys and the Paracels — is markedly superior to those of its rival claimants.

Rõ ràng, các tuyên bố về pháp lý và chính trị này chồng lên nhau nhưng không trùng khớp nhau. Tuy nhiên, nghĩ mãi về điều được cho là logic cốt lõi đằng sau đường chín đoạn đứt khúc là việc đánh lạc hướng sự chú ý đến điều phải là tiền đề trọng tâm của vấn đề này: Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các yếu tố đất đai chính, nằm trong đường chín đoạn đứt khúc – quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – rõ ràng là thuận lợi hơn so với các đối thủ đòi chủ quyền của họ.


Alone among claimants, China is capable of coupling ‘continuous and effective occupation’ of the islands, islets and reefs with a robust modern international law -based claim backed by relevant multilateral and bilateral instruments.

Một mình trong các nước tranh chấp, Trung Quốc có khả năng nối kết chuyện ‘chiếm đóng liên tục và hiệu quả’ các hòn đảo, đảo nhỏ và rặng san hô ngầm, với tuyên bố dựa trên luật pháp quốc tế hiện đại, mạnh mẽ, được hỗ trợ bằng các công cụ song phương và đa phương có liên quan.


In 1952, Japan renounced all right, title and claim to the Spratly and Paracel Islands to the Republic of China (Taiwan), by way of Article 2 of the bilateral Japan  – Taiwan Treaty of Taipei. This treaty followed — and referenced — the territorial renunciations of the Islands by Japan under the 1951 San Francisco Peace Treaty, which had not identified the beneficiary at the time — a treaty that was ratified byboth the Philippine and (South) Vietnamese governments. And although neithercountry is bound by provisions in the bilateral Japan  – Taiwan treaty, neither canproduce a Spratlys/Paracels cession or reversion clause in their own bilateral treatieswith Japan. Rather, their claims are supplementarily based on historical cartography in the case of Vietnam or, for the Philippines, ‘historical discovery’ that is (incredibly) of a post-World War II vintage!

Năm 1952, Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, từ bỏ giấy tờ xác nhận quyền sở hữu và từ bỏ tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đối với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), theo Điều 2 của Hiệp ước Đài Bắc, một hiệp ước song phương giữa Nhật Bản – Đài Loan. Hiệp ước này theo sau – và đã nhắc đến – là sự từ bỏ [chủ quyền] lãnh thổ của Nhật Bản đối với các hòn đảo theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951, Hiệp ước đã không xác định nước thụ hưởng vào thời điểm đó – một hiệp ước đã được Philippines và Chính phủ (miền Nam) Việt Nam phê chuẩn. Và mặc dù cả hai nước không bị ràng buộc bởi các điều khoản trong hiệp ước song phương Nhật – Đài, nhưng không nước nào đưa ra sự nhượng lại hay điều khoản thu hồi quần đảo Trường Sa/ Hoàng Sa trong các hiệp ước song phương của họ với Nhật Bản. Thay vào đó, các tuyên bố phụ của họ dựa trên bản đồ lịch sử trong trường hợp Việt Nam, hay với Philippines là ‘khám phá lịch sử’ (khó tin) từ thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới thứ II!


At the end of the day, ultimate title cannot be said to rest with any one party so longas a territorial claim is not resolved by way of a binding instrument betweenclaimant states. At best, there are better claims and less-better claims to the territory in question. But given China’s law-based claim is superior to that of rivalclaimants, why does it persist with the infamous nine-dashed line [1]?


Tóm lại, cuối cùng thì giấy tờ xác nhận chủ quyền không thể nói là nên trao cho bất kỳ nước nào, với điều kiện là tuyên bố lãnh thổ không được giải quyết bằng một công cụ ràng buộc giữa các nước tuyên bố chủ quyền. Tốt nhất, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của nước này có lý hơn hoặc ít thuyết phục hơn nước kia, đang được bàn đến. Nhưng với tuyên bố dựa trên luật pháp của Trung Quốc đã đưa ra thì vượt trội so với các tuyên bố chủ quyền của các đối thủ của họ, vì sao họ vẫn khăng khăng với đường chín đoạn đứt khúc đáng hổ thẹn [1]?


As the successor government of Taiwan, the mundane reason is that Beijing is proceeding from the claim line that it inherited from the Chiang Kai-shek regime asthe baseline for negotiation and compromise in an open territorial dispute. Beijing’s approach to negotiating its Himalayan boundary dispute with India is no different inthis regard. But the technical reason is more complicated. Were China to submit an LOS-compliant claim to its outer continental shelf limits in the South China Sea, the  UN Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), tasked with examining its validity, would almost certainly strike down parts of the submission.
Khi chính phủ Đài Loan kế nhiệm, lý do quen thuộc là Bắc Kinh đang tiến hành đòi những phần mà họ thừa hưởng từ chế độ Tưởng Giới Thạch, như là chuẩn mực để đàm phán và thỏa hiệp trong một vụ tranh chấp lãnh thổ mở rộng. Phương pháp của Bắc Kinh trong đàm phán tranh chấp biên giới Hy Mã Lạp Sơn với Ấn Độ thì không khác nhau về mặt này. Nhưng lý do kỹ thuật thì phức tạp hơn. Trung Quốc có đệ trình tuyên bố chủ quyền tuân theo Luật Biển đối với các ranh giới bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông hay không, Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) kiểm tra tính hợp lệ của nó, gần như chắc chắn sẽ làm mất hiệu lực các phần trong nội dung đệ trình.


The CLCS appears on track to derecognising Japan’s claim that the two high–tide elevations — totally the size of five tatami mats — within the Okinotori atolls in the Pacific are in fact ‘islands’ capable of generating an EEZ (that is ironically larger in dimension than the land mass of Japan itself). By the same reasoning, many of the high-tide elevations under Beijing’s control in the South China Sea would be found to be mere ‘rocks’. Although CLCS findings are non - enforceable, it would dent China’s case to certain disputed resource-rich zones within the Sea — hence its preference for the nine-dashed line.

Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa sẽ có mặt đúng lúc để không thừa nhận tuyên bố của Nhật về hai vùng [đảo đá] nằm trên mặt nước khi thủy triều dâng cao – kích thước tổng cộng bằng năm chiếc chiếu tatami – trên các đảo san hô Okinotori ở Thái Bình Dương là “các hòn đảo” có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế (trớ trêu thay, nó lớn hơn toàn bộ đất đai của nước Nhật Bản). Cũng với lập luận tương tự, nhiều vùng [đảo đá] nằm trên mặt biển khi thủy triều dâng cao do Bắc Kinh kiểm soát trên Biển Đông, sẽ tìm thấy chỉ là ‘những hòn đá’. Mặc dù những phát hiện của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thì không được thi hành, nhưng nó sẽ làm suy yếu trường hợp của Trung Quốc đối với một số khu vực đang tranh chấp giàu tài nguyên trên biển – do đó sự họ ưu tiên đường chín đoạn đứt khúc.


The foremost motive for the nine- dashed line’s persistence is its intertwined character with the highly politicised, deterrence-based model of territorial dispute management that Beijing favours.
Động lực quan trọng nhất trong việc khăng khăng [đòi chủ quyền ở] đường chín đoạn đứt khúc là vấn đề đã bị chính trị hóa, mô hình quản lý tranh chấp lãnh thổ dựa trên sự ngăn chặn mà Bắc Kinh ưa chuộng

Territorial jurisdiction issues have never been treated as mere cartographic detail: they are tied to a larger political calculus of stability and good neighbourliness. In its maritime dimension, joint development of commonly held resources has been the established mode to implement this principle. Her
e, Manila’s misjudgement in abrogating its joint seismic study agreement with Vietnam and China in 2008(compounding the error by unilaterally issuing exploration licenses within a disputed section of the study area) has been the principal cause of the swift deterioration in bilateral ties with China.
Các vấn đề về quyền tài phán lãnh thổ chưa bao giờ chỉ được xem là chi tiết trong bản đồ: chúng được gắn với sự toan tính chính trị lớn hơn về sự ổn định và láng giềng tốt. Trong khuôn khổ hàng hải, việc khai thác chung ở những khu vực có tài nguyên là phương thức đã được thiết lập để thi hành nguyên tắc này. Ở đây, tính toán sai lầm của Manila trong việc bãi bỏ thỏa thuận nghiên cứu địa chấn chung với Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2008 (gom các sai lầm, đơn phương cấp giấy phép thăm dò trong vùng tranh chấp của khu vực nghiên cứu) là nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái nhanh chóng trong quan hệ song phương với Trung Quốc.


Furthermore, territorial settlements have never been concluded under duress, and China’s rulers calibrate their approach between a hard -line and a flexible one to suitthe strategic circumstances at hand. The nine-dashed line has conveniently served as a hard-line expedient that Beijing’s competing maritime bureaucracies are not shy to lever to signal displeasure to other claimants.
Hơn nữa, việc giải quyết [tranh chấp] lãnh thổ chưa bao giờ được kết luận là do cưỡng ép, và những người cầm quyền Trung Quốc điều chỉnh phương pháp tiếp cận giữa một chính sách cứng rắn với một chính sách linh hoạt, thích hợp với tình huống chiến lược sắp tới. Đường chín đoạn đứt khúc thuận tiện trong việc phục vụ như là một chiến thuật cứng rắn mà những người quan liêu chạy đua trên biển của Bắc Kinh không dè dặt đưa ra để báo hiệu sự không hài lòng đối với các nước tuyên bố chủ quyền khác.

So what are the enabling circumstances that would motivate China to set the nine-dashed line aside and adhere to best international practice in issuing forth maritime  jurisdictional claims? Beijing has previously been willing to soften its inflated ‘natural prolongation’ principle with Korea and Japan to pursue fisheries and (in -principle) joint resource development, and the 2000 Gulf of Tonkin maritime delimitation agreement with Vietnam too was firmly in keeping with the highest international practices. Given the fast-paced development of international maritime law [2], which is accentuating the gap between political calculus-based and rules-based orders at sea, it is in China’s self-interest to submit an LOS-compliant claim to its outer continental-shelf limits in the South China Sea. Beijing’s gains in goodwill earned will far outweigh the territory, and resources, relinquished. It might also allow China leeway to subsequently initiate a region-wide conversation on introducing limits to objectionable, threat-based activities in EEZs by foreign navies, under the guise of navigational freedoms.


Vậy thì các tình huống có thể thúc đẩy Trung Quốc đặt đường chín đoạn đứt khúc qua một bên và tốt nhất tuân theo thông lệ quốc tế trong việc ban hành quy định về tuyên bố các quyền tài phán hàng hải sắp tới là gì? Trước đó, Bắc Kinh đã sẵn sàng nới lỏng nguyên tắc ‘mở rộng tự nhiên’ về mặt hình thức với Nam Hàn và Nhật Bản để theo đuổi nghề cá và (trên nguyên tắc) cùng hợp tác khai thác, và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 với Việt Nam cũng là để thi hành theo các thông lệ quốc tế cao nhất. Với sự phát triển nhanh của luật hàng hải quốc tế [2], bộ luật nhấn mạnh khoảng cách giữa trật tự dựa trên toan tính chính trị và trật tự dựa theo luật lệ trên biển, quyền lợi của chính Trung Quốc là đệ trình tuyên bố tuân theo Luật Biển về các giới hạn bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông. Lợi ích mà Bắc Kinh thu được về thiện chí sẽ nhiều hơn lợi ích về lãnh thổ và các nguồn tài nguyên, đã bị từ bỏ. Nó cũng có thể cho phép Trung Quốc có thêm thời gian để sau đó bắt đầu một cuộc đối thoại trên toàn khu vực về việc đưa ra các hạn chế khó chịu, các hoạt động đe dọa trong vùng đặc quyền kinh tế của các lực lượng hải quân nước ngoài, dưới vỏ bọc tự do đi lại.


Sourabh Gupta is Senior Research Associate at Samuels International Associates
Sourabh Gupta là nhà nghiên cứu cao cấp tại Samuels International Associates



Translated by by Duong Le Chi