MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Saturday, June 10, 2017

Madame Hermet Bà Ec-mê



Madame Hermet

Bà Ec-mê

Guy de Maupassant

Guy de Maupassant

Crazy people attract me. They live in a mysterious land of weird dreams, in that impenetrable cloud of dementia where all that they have witnessed in their previous life, all they have loved, is reproduced for them in an imaginary existence, outside of all laws that govern the things of this life and control human thought.

Những người điên thường hấp dẫn tôi. Những kẻ do sống trong thế giới bí ẩn của những giấc mơ kỳ quặc, trong áng mây mù dày đặc của sự rồi dại, tại nơi đây, mọi thứ họ đã thấy trên đời, mọi cái họ đã yêu quý, mọi người họ đã làm tái diễn trong một cuộc sống tưởng tượng, vượt ra ngoài mọi quy luật điều khiển sự vật và chi phối tư duy con người.


For them there is no such thing as the impossible, nothing is improbable; fairyland is a constant quantity and the supernatural quite familiar. The old rampart, logic; the old wall, reason; the old main stay of thought, good sense, break down, fall and crumble before their imagination, set free and escaped into the limitless realm of fancy, and advancing with fabulous bounds, and nothing can check it. For them everything happens, and anything may happen. They make no effort to conquer events, to overcome resistance, to overturn obstacles. By a sudden caprice of their flighty imagination they become princes, emperors, or gods, are possessed of all the wealth of the world, all the delightful things of life, enjoy all pleasures, are always strong, always beautiful, always young, always beloved! They, alone, can be happy in this world; for, as far as they are concerned, reality does not exist. I love to look into their wandering intelligence as one leans over an abyss at the bottom of which seethes a foaming torrent whose source and destination are both unknown.

Đối với họ, cái không thể có không tồn tại nữa, cái huyền hoặc khó tin biến mất, cái thần tiên huyền ảo trở thành thường xuyên và cái dị thường thành thân thuộc. Logic, tấm rào chắn cũ kỹ, lý trí, bức tường lương tri, hàng lan can cũ kỹ của tư tưởng đều tan tành, ngã gục, đổ sụp dưới trí tưởng tượng được buông thả phóng khoáng, thoát vào xứ sở vô cùng tận của sự tùy hứng, nhảy nhót những bước kỳ ảo chẳng có gì ngăn trở. Đối với họ, tất cả mọi điều đều xảy ra và có thể xảy ra. Họ chẳng hề gắng gỏi để chiến thắng các biến cố, để chế ngự những sự kháng cự, để san bằng các trở ngại. Chỉ cần một thích thú bất thường của ý chí gây ảo giác, là họ thành vua chúa hoặc thánh thần, là họ có mọi của cải trên thế gian, có mọi điều ngon ngọt trên đời, là họ được hưởng mọi thú vui, là họ mãi mãi khỏe, đẹp, trẻ, mãi mãi được yêu dấu! Chỉ riêng họ mới hạnh phúc được trên trái đất, vì đối với họ hiện thực không tồn tại nữa. Tôi ưa nghiêng mình xuống tâm trí lang thang vớ vẩn của họ, như người ta nghiêng mình xuống một vực thẳm, tận đáy vực sục sôi một dòng thác lạ, ở đâu đều không ai biết và chảy đi đâu không ai hay.


But it is in vain that we lean over these abysses, for we shall never discover the source nor the destination of this water. After all, it is only water, just like what is flowing in the sunlight, and we shall learn nothing by looking at it.

Nhưng nghiêng mình xuống những khe sâu ấy nào có ích gì, vì chẳng bao giờ ta biết được nước ấy ở đâu đến, nước ấy chảy đi đâu. Cho đến cùng, đó cũng chỉ là nước giống như nước chảy giữa thanh thiên bạch nhật, và nhìn nó cũng chẳng giúp cho ta hiểu thêm được mấy điều.

It is likewise of no use to ponder over the intelligence of crazy people, for their most weird notions are, in fact, only ideas that are already known, which appear strange simply because they are no longer under the restraint of reason. Their whimsical source surprises us because we do not see it bubbling up. Doubtless the dropping of a little stone into the current was sufficient to cause these ebullitions. Nevertheless crazy people attract me and I always return to them, drawn in spite of myself by this trivial mystery of dementia.

Nghiêng mình xuống tâm trí người điên cũng chẳng ích gì, vì những ý nghĩ kỳ quặc nhất của họ chẳng qua cũng là những ý nghĩ bình thường, chỉ lạ lùng bởi chúng không bị ràng buộc bởi lý trí. Cái ngọn nguồn khó hiểu bất thường của chúng khiến ta sững sờ kinh ngạc, bởi ta không nhìn thấy nó phun ra. Có lẽ chỉ cần một hòn đá nhỏ rơi vào dòng nước đang chảy của nó là đủ gây nên những xúc động sôi sục. Tuy nhiên, những người điên vẫn luôn hấp dẫn tôi, và tôi luôn quay về với họ, bị thu hút ngoài ý muốn của mình vì sự bí ẩn tầm thường của chứng rồ dại.

One day as I was visiting one of the asylums the physician who was my guide said:
Come, I will show you an interesting case."

Vậy, một hôm, khi tôi đến thăm một bệnh xá của người điên, viên thầy thuốc hướng dẫn tôi, bảo rằng:
-À, tôi sẽ đưa ông đi xem một trường hợp lý thú.
And he opened the door of a cell where a woman of about forty, still handsome, was seated in a large armchair, looking persistently at her face in a little hand mirror.
As soon as she saw us she rose to her feet, ran to the other end of the room, picked up a veil that lay on a chair, wrapped it carefully round her face, then came back, nodding her head in reply to our greeting.

Và ông ta mở một ngăn, trong đó một người đàn bà trạc bốn mươi tuổi, hãy còn đẹp, ngồi trên ghế bành, cứ soi mãi mặt vào một tấm gương nhỏ cầm tay. Vừa nhìn thấy chúng tôi, bà đứng phắt dậy, chạy đến cuối phòng, tìm một tấm mạng vắt trên ghế, bịt mặt hết sức cẩn thận, rồi trở lại, gật đầu đáp lễ chúng tôi. Bác sĩ nói:
-Thế nào, sáng nay bà thấy trong người ra sao?
Bà ta thở dài não ruột:

"Well," said the doctor, "how are you this morning?"
She gave a deep sigh.
"Oh, ill, monsieur, very ill. The marks are increasing every day."
He replied in a tone of conviction:
"Oh, no; oh, no; I assure you that you are mistaken."
She drew near to him and murmured:
"No. I am certain of it. I counted ten pittings more this morning, three on the right cheek, four on the left cheek, and three on the forehead. It is frightful, frightful! I shall never dare to let any one see me, not even my son; no, not even him! I am lost, I am disfigured forever."
She fell back in her armchair and began to sob.
The doctor took a chair, sat down beside her, and said soothingly in a gentle tone:
"Come, let me see; I assure you it is nothing. With a slight cauterization I will make it all disappear."

-Ôi, khó chịu, khó chịu lắm, thưa ông, ngày nào các vết sẹo cũng tăng lên.
Bác sĩ trả lời một cách tin tưởng:
-Không, không! Tôi cam đoan với bà là bà lầm đấy.
Bà ta xích lại gần ông, thì thào:
-Không, tôi chắc chắn như vậy. Tôi đã đếm thêm được chín vết, ba vết ở má bên phải, bốn vết ở má bên trái và ba vét ở trên trán. Thật gớm ghiếc! Gớm ghiếc! Tôi không dám để ai nhìn thấy nữa, cả cho đến con tôi, không, cả đến con tôi nữa! Tôi bị nguy mất rồi, mặt mày tôi bị xấu xí suốt đời rồi!
Bà ta lại để mình rơi xuống ghế và khóc nức nở. Người thầy thuốc kéo ghế, ngồi cạnh bà ta, và bằng một giọng dịu dàng, an ủi:
-Nào, bà cho tôi xem nào, tôi cam đoan với bà là chẳng sao đâu. Chỉ xoa cứu chút ít là tôi làm biến đi tất cả.

She shook her head in denial, without speaking. He tried to touch her veil, but she seized it with both hands so violently that her fingers went through it.
He continued to reason with her and reassure her.
"Come, you know very well that I remove those horrid pits every time and that there is no trace of them after I have treated them. If you do not let me see them I cannot cure you."
"I do not mind your seeing them," she murmured, "but I do not know that gentleman who is with you."
"He is a doctor also, who can give you better care than I can."
She then allowed her face to be uncovered, but her dread, her emotion, her shame at being seen brought a rosy flush to her face and her neck, down to the collar of her dress. She cast down her eyes, turned her face aside, first to the right; then to the left, to avoid our gaze and stammered out:
"Oh, it is torture to me to let myself be seen like this! It is horrible, is it not? Is it not horrible?"

Bà ta lắc đầu, không nói một lời. Người thầy thuốc muốn sờ vào tấm mạng, những bà ta tay nắm lấy nó chặt đến mức ngón tay xuyên cả vào trong mạng. Ông lại khuyến khích và dỗ dành cho bà yên lòng:
-Bà biết rõ là lần nào tôi cũng làm cho những vết sẹo xấu xí ấy biến đi mất hộ bà, và khi tôi điều trị chúng xong thì người ta không hề nhìn thấy chúng nữa. Nếu bà không cho tôi xem, thì tôi không thể chữa cho bà khỏi được.
Bà ta thì thào:
-Với ông thì còn được, nhưng tôi không quen ông khách đi cùng ông.
-Đây cũng là một thầy thuốc, ông ấy sẽ điều trị cho bà còn tốt hơn tôi nhiều.
Bấy giờ bà ta mới cho hở mặt ra, nhưng sự hoảng sợ, nỗi xúc động, niềm hổ thẹn vì bị mọi người nhìn thấy khiến cả da thịt ở cổ bà ta, nơi lút sâu trong áo, cũng đỏ ửng lên. Bà nhìn xuống, quay mặt đi, lúc sang phải, lúc sang trái, để tránh những cái nhìn của chúng tôi và ấp úng:
-Ôi! Để thấy mặt mình như thế này là tôi đau đớn ghê gớm. Kinh khủng lắm, phải không các ông? Kinh khủng lắm phải không?

I looked at her in much surprise, for there was nothing on her face, not a mark, not a spot, not a sign of one, nor a scar.
She turned towards me, her eyes still lowered, and said:
"It was while taking care of my son that I caught this fearful disease, monsieur. I saved him, but I am disfigured. I sacrificed my beauty to him, to my poor child. However, I did my duty, my conscience is at rest. If I suffer it is known only to God."
The doctor had drawn from his coat pocket a fine water-color paint brush.
"Let me attend to it," he said, "I will put it all right."
She held out her right cheek, and he began by touching it lightly with the brush here and there, as though he were putting little points of paint on it. He did the same with the left cheek, then with the chin, and the forehead, and then exclaimed:
"See, there is nothing there now, nothing at all!"
She took up the mirror, gazed at her reflection with profound, eager attention, with a strong mental effort to discover something, then she sighed:
"No. It hardly shows at all. I am infinitely obliged to you."

Tôi hết sức kinh ngạc ngắm nhìn bà ta, bởi vì bà chẳng có cái gì trên mặt hết, không có một vết, không có một điểm, không có một dấu, cũng không có một cái sẹo nào. Bà ta quay sang tôi, mắt vẫn nhìn xuống và bảo tôi:
-Thưa ông, đó là do chăm nom con mà tôi bị lây cái bệnh ghê gớm này. Tôi đã cứu được cháu, nhưng mặt mày tôi bị xấu xí. Tôi đã cho cháu nhan sắc của tôi, cho đứa con tội nghiệp của tôi. Rốt cuộc, tôi đã làm phận sự của tôi, lương tâm tôi được yên ổn. Nếu tôi đau khổ, chỉ có Chúa biết.
Bác sĩ đã rút trong túi ra một cây bút vẽ nhỏ. Ông nói:
-Bà để tôi làm, tôi sẽ sửa cho bà tất cả những cái đó.
Bà ta chìa má bên phải ra, và ông bắt đầu lướt nhẹ vào má, như thể ông điểm những chấm màu nho nhỏ trên đó. Ông cũng làm như vậ bên má trái, rồi trên trán, rồi ông reo:
-Bà nhìn xem, không còn gì, không còn gì nữa nhé!
Bà ta cầm gương, ngắm bóng mình rất lâu, hết sức chăm chú, một sự chăm chú gay go căng thẳng, gắng gỏi cực kỳ toàn tâm trí để tìm ra một vết gì, rồi bà thở dài:
-Không, không nhìn thấy rõ lẵm nữa. Đa tạ ông vô cùng.

The doctor had risen. He bowed to her, ushered me out and followed me, and, as soon as he had locked the door, said:
"Here is the history of this unhappy woman."
Her name is Mme. Hermet. She was once very beautiful, a great coquette, very much beloved and very much in-love with life.

Người thầy thuốc đứng dậy. Ông chào bà ta, dẫn tôi ra rồi đi theo tôi, và, khi cánh cửa vừa đóng lại, ông nói:
-Đây là câu chuyện khốc liệt của người đàn bà bất hạnh ấy.
Bà ta tên là Ec-mê. Bà rất đẹp, rất làm dáng, rất được yêu chiều và lấy làm sung sướng được sống.

She was one of those women who have nothing but their beauty and their love of admiration to sustain, guide or comfort them in this life. The constant anxiety to retain her freshness, the care of her complexion, of her hands, her teeth, of every portion of body that was visible, occupied all her time and all her attention.

Đó là một trong những người đàn bà mà trên đời chỉ có nhan sắc và niềm ham muốn làm duyên cho người ưa là nguồn nâng đỡ, chi phối hoặc an ủi trong cuộc sống. Mối quan tâm thường xuyên đến vẻ tươi tắn của mình, sự chăm sóc cho bột mặt, cho bàn tay, cho hàm răng, cho hết thảy các bộ phận nhỏ của cơ thể mà bà có thể phô bày ra thu hút toàn bộ thì giờ và toàn bộ sự chú ý của bà.
She became a widow, with one son. The boy was brought up as are all children of society beauties. She was, however, very fond of him. He grew up, and she grew older.

Bà góa chồng, có một con trai. Thằng bé được nuôi dạy như bao đứa bé của những người đẹp trong xã hội thượng lưu. Tuy vậy, bà rất thích con trai. Thằng bé lớn khôn và bà cũng lớn tuổi dần.
Whether she saw the fatal crisis approaching, I cannot say. Did she, like so many others, gaze for hours and hours at her skin, once so fine, so transparent and free from blemish, now beginning to shrivel slightly, to be crossed with a thousand little lines, as yet imperceptible, that will grow deeper day by day, month by month? Did she also see slowly, but surely, increasing traces of those long wrinkles on the forehead, those slender serpents that nothing can check? Did she suffer the torture, the abominable torture of the mirror, the little mirror with the silver handle which one cannot make up one's mind to lay down on the table, but then throws down in disgust only to take it up again in order to look more closely, and still more closely at the hateful and insidious approaches of old age? Did she shut herself up ten times, twenty times a day, leaving her friends chatting in the drawing-room, and go up to her room where, under the protection of bolts and bars, she would again contemplate the work of time on her ripe beauty, now beginning to wither, and recognize with despair the gradual progress of the process which no one else had as yet seemed to perceive, but of which she, herself, was well aware. She knows where to seek the most serious, the gravest traces of age. And the mirror, the little round hand-glass in its carved silver frame, tells her horrible things; for it speaks, it seems to laugh, it jeers and tells her all that is going to occur, all the physical discomforts and the atrocious mental anguish she will suffer until the day of her death, which will be the day of her deliverance.

Bà ta có nhìn thấy trước khủng hoảng định mệnh đang đến hay chăng, tôi không hề biết. Chẳng hiểu bà có như bao người đàn bà khác, mỗi sáng lại nhìn ngắm hàng giờ làn da xưa kia hết sức mịn màng, trong suốt và tươi sáng, giờ đây hơi nheo lại dưới đuôi mắt, hơi nhăn đi vì hàng ngàn vết hãy còn lờ mờ khó thấy, nhưng cứ sâu dần xuống, từng ngày, từng tháng? Chẳng hiểu bà có thấy lớn lên không ngừng, một cách chậm rãi và chắc chắn, những vết nhăn dài trên trán, những con rắn mỏng mảnh không gì ngăn lại được? Chẳng hiểu bà có bị giày vò day dứt, nỗi giày vò day dứt ác hại của tấm gương, tấm gương nhỏ có tay cầm bằng bạc mà người ta không thể quyết tâm đặt lên bàn, rồi người ta giận dữ hẩy đi và người ta lại cầm ngay lấy, để nhìn lại, thật gần hơn nữa, cái sự tàn phá khả ố và bình thản của tuổi già đang xích lại? Chẳng hiểu bà có náu mình ngày mươi, hai mươi lần, vô duyên cớ rời phòng khách nơi bạn bè đang trò chuyện, để lên phòng riêng và nhờ cửa đóng then cài che chở, lại ngắm nhìn công trình phá hoại của da thịt hết xuân đang tàn úa, để kiểm chứng một cách tuyệt vọng bước tiến triển nhẹ nhàng của căn bệnh dường như chưa ai nhìn thấy, nhưng bà thì hiểu rất rõ? Bà biết, đâu là chỗ bệnh tấn công mạnh nhất, đâu là những vết cắn xé sâu nhất của tuổi tác. Và tấm gương tròn nhỏ xoay trong cái khung bạc chạm, bảo với bà những điều tệ hại, bởi vì nó nói, nó như cười cợt, nó nhạo báng và báo cho bà tất cả những gì sắp đến, tất cả những nỗi khốn khổ của cơ thể, và cực hình tàn khốc của tư tưởng cho đến ngày bà chết đi, đó là ngày bà được giải thoát. Chẳng hiểu bà có bàng hoàng, khóc lóc, quỳ gối, đập đầu xuống đất, và cầu nguyện, cầu nguyện, cầu nguyện.

Did she weep, distractedly, on her knees, her forehead to the ground, and pray, pray, pray to Him who thus slays his creatures and gives them youth only that he may render old age more unendurable, and lends them beauty only that he may withdraw it almost immediately? Did she pray to Him, imploring Him to do for her what He has never yet done for any one, to let her retain until her last day her charm, her freshness and her gracefulness? Then, finding that she was imploring in vain an inflexible Unknown who drives on the years, one after another, did she roll on the carpet in her room, knocking her head against the furniture and stifling in her throat shrieks of despair?
Doubtless she suffered these tortures, for this is what occurred:

Đấng đã giết người ta như vậy và chỉ cho người ta sự trẻ trung để làm cho tuổi già thêm cay cực, và chỉ cho người ta mượn sắc đẹp để rồi lấy lại ngay tức khắc, bà có cầu xin, van nài Người hãy làm cho bà ta điều mà Người không bao giờ làm cho ai hết, hãy để lại cho bà, đến mãi ngày tận số, vẻ hấp dẫn, sự tươi thắm và duyên sắc mỹ lệ? Rồi hiểu là mình đã khẩn cầu vô hiệu Đấng vô danh khắc nghiệt cứ đẩy năm tháng qua, năm này kế tiếp năm khác, chẳng hiểu bà có vặn tay, lăn mình trên thảm trải phòng, có đập đầu vào đồ đạc và ghìm trong họng những tiếng la thét tuyệt vọng khủng khiếp?
Chắc hẳn bà đã chịu đựng những sự giày vò hành hạ ấy. Bởi vì đây là chuyện đã xảy ra.

One day (she was then thirty-five) her son aged fifteen, fell ill.
He took to his bed without any one being able to determine the cause or nature of his illness.
His tutor, a priest, watched beside him and hardly ever left him, while Mme. Hermet came morning and evening to inquire how he was.
She would come into the room in the morning in her night wrapper, smiling, all powdered and perfumed, and would ask as she entered the door:
"Well, George, are you better?"
The big boy, his face red, swollen and showing the ravages of fever, would reply:
"Yes, little mother, a little better."
She would stay in the room a few seconds, look at the bottles of medicine, and purse her lips as if she were saying "phew," and then would suddenly exclaim: "Oh, I forgot something very important," and would run out of the room leaving behind her a fragrance of choice toilet perfumes.

Một hôm, bấy giờ bà ta ba mươi nhăm tuổi, cậu con trai mười lăm tuổi của bà bị ốm. Em nằm trên giường bệnh mà chưa xác định được em đau chứng gì. Một linh mục là gia sư của em, trông nom em và không mấy khi rời em, trong khi bà Ec-mê sớm, tối đến hỏi thăm tin tức.
Buổi sáng, bà vào, mặc áo choàng đen, tươi cười, người đã thơm phưng phức, và vừa đến cửa đã hỏi ngay:
-Thế nào, Giooc-giơ, có đỡ không con?
Đứa trẻ đã lớn, mặt đỏ, sưng mọng và hao mòn vì sốt, trả lời:
-Có, thưa mẹ, hơi đỡ.
Bà ở lại trong phòng chốc lát, nhìn các chai thuốc, chúm môi kêu khẽ: “Khiếp!”, rồi đột nhiên kêu lên: “À! Quên mất một việc rất cần” và bà chạy ra ngoài, để lại sau mùi phấn hương trang điểm thơm tho.
In the evening she would appear in a decollete dress, in a still greater hurry, for she was always late, and she had just time to inquire:
"Well, what does the doctor say?"
The priest would reply:
"He has not yet given an opinion, madame."
But one evening the abbe replied: "Madame, your son has got the small-pox."
She uttered a scream of terror and fled from the room.
When her maid came to her room the following morning she noticed at once a strong odor of burnt sugar, and she found her mistress, with wide-open eyes, her face pale from lack of sleep, and shivering with terror in her bed.
As soon as the shutters were opened Mme. Herrnet asked:
"How is George?"
"Oh, not at all well to-day, madame."

Buổi tối, bà xuất hiện, mặc áo dài hở cổ hở ngực, còn vỗi vã hơn nữa,  vì bao giờ bà cũng bị muộn, và bà chỉ vừa kịp đủ thì giờ để hỏi:
-Thế nào, thấy thuốc bảo sao?
Linh mục trả lời:
-Thưa bà, ông ấy còn chưa chắc là bệnh gì.
Thế rồi, một buổi tối, linh mục trả lời: “Thưa bà, cậu nhà mắc bệnh đậu mùa”.
Bà hét lên hoảng sợ và bỏ chạy. Sáng hôm sau, khi cô hầu phòng vào buồng bà, thoạt tiên cô ngửi thấy mùi đường cháy khét lẹt, và cô thấy bà chủ nằm trong giường, mắt mở, mặt xanh xao vì mất ngủ và run lẩy bẩy vì lo âu hoảng hốt. Khi các cánh cửa đã mở, bà Ec-mê hỏi:
-Giooc-giơ ra sao?
-Ồ, thưa bà, hôm nay sức khỏe cậu không khá tí nào.

She did not rise until noon, when she ate two eggs with a cup of tea, as if she herself had been ill, and then she went out to a druggist's to inquire about prophylactic measures against the contagion of small-pox.
She did not come home until dinner time, laden with medicine bottles, and shut herself up at once in her room, where she saturated herself with disinfectants.
The priest was waiting for her in the dining-room. As soon as she saw him she exclaimed in a voice full of emotion:
"Well?"
"No improvement. The doctor is very anxious:"
She began to cry and could eat nothing, she was so worried.
The next day, as soon as it was light, she sent to inquire for her son, but there was no improvement and she spent the whole day in her room, where little braziers were giving out pungent odors. Her maid said also that you could hear her sighing all the evening.
She spent a whole week in this manner, only going out for an hour or two during the afternoon to breathe the air.
She now sent to make inquiries every hour, and would sob when the reports were unfavorable.

Mãi tới trưa bà mới dậy, ăn hai quả trứng, uống một cốc nước chè, như thể chính bà bị ốm, rồi bà ra đi, đến một dược sĩ hỏi các biện pháp phòng lây bệnh đậu mùa. Mãi đến giờ ăn chiều bà mới về, mang theo nào chai nào lọ, và đóng cửa ở luôn trong phòng, tẩm đầy người các chất sát trùng tẩy uế.
Linh mục đợi bà ở phòng ăn. Vừa thấy ông, bà ta kêu lên, giọng rất xúc động:
“Thế nào?”.
“Không khá được. Bác sỹ rất lo lắng.”
Bà khóc, và không ăn uống được gì hết, vì băn khoăn dằn vặt.
Ngày hôm sau, trời vừa rạng, bà đã cho hỏi tin tức, những tin tức này không hay gì hơn, và suốt ngày bà ở trong phòng riêng nghi ngút những lò than nhỏ tỏa mùi khét. Ngoài ra, cô gái ở còn quả quyết là nghe thấy bà rền rĩ suốt buổi tối.
Cả một tuần trôi qua như vậy, bà không làm việc gì khác ngoài việc đi dạo một hoặc hai tiếng đồng hồ cho thoáng khí, vào khoảng giữa buổi chiều.
Bây giờ thì bà cho hỏi tin tức từng giờ một, và khóc nức nở khi tin xấu đi.


On the morning of the eleventh day the priest, having been announced, entered her room, his face grave and pale, and said, without taking the chair she offered him:
"Madame, your son is very ill and wishes to see you."
She fell on her knees, exclaiming:
"Oh, my God! Oh, my God! I would never dare! My God! My God! Help me!"
The priest continued:
"The doctor holds out little hope, madame, and George is expecting you!"
And he left the room.
Two hours later as the young lad, feeling himself dying, again asked for his mother, the abbe went to her again and found her still on her knees, still weeping and repeating:
"I will not.... I will not.... I am too much afraid.... I will not...."
He tried to persuade her, to strengthen her, to lead her. He only succeeded in bringing on an attack of "nerves" that lasted some time and caused her to shriek.

Buổi sáng ngày thứ mười một, linh mục xin gặp, vào phòng bà, mặt nghiêm trang và xanh tái, ông nói mà không ngồi xuống chiếc ghế bà đưa mời:
-Thưa bà, cậu nhà mệt nặng, và cậu muốn gặp bà.
Bà ta quỳ sụp xuống mà kêu:
-Ôi! Lạy Chúa! Ôi! Lạy Chúa! Tôi không bao giờ dám đâu! Lạy Chúa! Hãy cứu vớt lấy con!
Ông linh mục nhắc lại:
-Thưa bà, bác sĩ còn í thy vọng. Giooc-giơ đang đợi bà.
Và ông bước ra. Hai giờ đồng hồ sau, cậu thiếu niên cảm thấy mình sắp chết, lại hỏi mẹ, linh mục bèn trở vào phòng bà ta và thấy bà vẫn quỳ, vẫn khóc và lặp đi lặp lại:
-Tôi không muốn…tôi không muốn…tôi sợ quá lắm…tôi không muốn…
Linh mục cố khuyên bà quyết định, động viên bà, lôi kéo bà. Ông chỉ làm cho bà lên một cơn thần kinh kéo dài và khiến bà la hét.

The doctor when he came in the evening was told of this cowardice and declared that he would bring her in himself, of her own volition, or by force. But after trying all manner of argument and just as he seized her round the waist to carry her into her son's room, she caught hold of the door and clung to it so firmly that they could not drag her away. Then when they let go of her she fell at the feet of the doctor, begging his forgiveness and acknowledging that she was a wretched creature. And then she exclaimed: "Oh, he is not going to die; tell me that he is not going to die, I beg of you; tell him that I love him, that I worship him..."

Buổi chiều, viên thầy thuốc trở lại, được biết sự hèn nhát đó, và tuyên bố rằng ông sẽ dẫn bà tới, hoặc tự ý, hoặc cưỡng ép. Nhưng sau khi đã dùng thử mọi lập luận, ông bèn nhấc bà ta lên để đem đến gần con, thì bà nắm lấy cánh cửa và bám chắc đến mức không sao lôi ra được. Rồi khi người ta buông bà ra, bà sụp xuống chân ông thầy thuốc mà xin lỗi, mà tự buộc tội mình là kẻ khốn nạn. Và bà kêu lên: “Ôi! Cháu không chết đâu, ông hãy bảo với cháu là tôi yêu cháu, tôi quý cháu…”

The young lad was dying. Feeling that he had only a few moments more to live, he entreated that his mother be persuaded to come and bid him a last farewell. With that sort of presentiment that the dying sometimes have, he had understood, had guessed all, and he said: "If she is afraid to come into the room, beg her just to come on the balcony as far as my window so that I may see her, at least, so that I may take a farewell look at her, as I cannot kiss her."

Cậu thiếu niên hấp hối. Biết mình sắp đến lúc lâm chùng, cậu khẩn khoản xin mọi người khuyên mẹ quyết định đến vĩnh biệt mình. Với thứ linh tính đôi khi có ở những người sắp qua đời, cậu đã hiểu, đoán được hết, và cậu nói: “Nếu mẹ tôi không dám vào, hãy xin mẹ tôi chỉ đi ngoài bao lơn đến cửa sổ phòng tôi để ít ra tôi được trông thấy mẹ, để tôi nhìn và vĩnh biệt mẹ vì không được ôm hôn mẹ”.

The doctor and the abbe, once more, went together to this woman and assured her: "You will run no risk, for there will be a pane of glass between you and him." She consented, covered up her head, and took with her a bottle of smelling salts. She took three steps on the balcony; then, all at once, hiding her face in her hands, she moaned: "No... no... I would never dare to look at him... never.... I am too much ashamed... too much afraid.... No... I cannot."


Thầy thuốc và linh mục lại trở vào gặp người đàn bà đó lần nữa. Họ cả quyết: “Bà không cần ngại điều gì cả vì có một tấm kính giữa bà và cậu ấy”. Bà ta nhận lời, choàng kín đầu, cầm một lọ thuốc ngửi, bước ba bước trên bao lơn, rồi đột nhiên ôm mặt, rền rĩ: “Không…không…tôi hổ thẹn quá…tôi sợ quá lắm…không…tôi không thể…”.

They endeavored to drag her along, but she held on with both hands to the railings and uttered such plaints that the passers-by in the street raised their heads. And the dying boy waited, his eyes turned towards that window, waited to die until he could see for the last time the sweet, beloved face, the worshiped face of his mother.

Người ta muốn kéo bà đi, nhưng bà túm chặt lấy lan can và than vãn rên la đến nỗi khách đi đường bên dưới phải ngẩng lên xem. Và người sắp chết vẫn chờ đợi, mắt hướng về khung cửa sổ ấy, chờ đợi, để chết đi còn được trông thấy lần cuối cùng khuôn mặt dịu hiền yêu dấu, khuôn mặt thiêng liêng của mẹ.

He waited long, and night came on. Then he turned over with his face to the wall and was silent.
When day broke he was dead. The day following she was crazy.
Cậu chờ đợi rất lâu, và đêm xuống. Cậu bèn quay mặt vào tường và không nói một lời nào nữa.
Khi trời sáng, cậu đã chết. Ngày hôm sau, bà ta phát điên.



Translated by Lê Hồng Sâm


No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn