MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, November 18, 2017

KỂ TỪ GIỜ FROM NOW ONWARD




KỂ TỪ GIỜ

FROM NOW ONWARD

DP
by DP

Kể từ giờ em hãy sống vì em
Dù mạnh mẽ, hay yếu mềm, cũng được.
Miễn thản nhiên cười và vô tư bước,
Đau khổ hay không là tự do mình.

From now on, live for yourself, please
Whether you're stronger or weaker.
With natural smiles, do walk carefree,
As suffering is inner and not outer.

Kể từ giờ em phải thật là xinh,
Rạng rỡ yêu đời dù mưa hay nắng
Không phải để cho người nào nhìn ngắm,
Bởi thanh xuân ngắn lắm, sắp qua rồi...

From now on you should be really pretty,
Life-loving with ever-radiant smiles
Not for just a particular person to admire,
As soon over is your short youthful time...

Kể từ giờ em phải sống thật vui
Để chôn vùi nỗi buồn vào quá khứ.
Ai tổn thương mình thì cũng nên tha thứ,
Bởi sau cùng em đáng được bình yên.

From now on you should live happily
To bury sadness in the graveyard of the past.
Whoever has hurt you should also be forgiven,
As, after all, you deserve to be in peace with yourself.

Kể từ giờ không phải nhớ hay quên,
Không muộn phiền vì một người nào nữa.
Vui đi em, nếu không thì sẽ lỡ
Chuyến tàu mang hạnh phúc đến ga rồi.

From now on, whether you remember or forget,
Stop being grieved for anyone else.
And have fun, otherwise, you will miss
The arriving train that brings happiness to you.

Wednesday, November 1, 2017

Quà tặng trong Chiến tranh Trần Mộng Tú The Gift in Wartime


Quà tặng trong Chiến tranh
Trần Mộng Tú

The Gift in Wartime
Trần Mộng Tú

Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh

I offer you roses
Buried in your new grave
I offer you my wedding gown
To cover your tomb still green with grass
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai mầu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng

You give me medals
Together with silver stars
And the yellow pips* on your badge
Unused and still shining
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu

I offer you my youth
The days we were still in love
My youth died away
When they told the bad news
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương

You give me the smell of blood
From your war dress
Your blood and your enemy's
So that I may be moved
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời

I offer you clouds
That linger on my eyes on summer days
I offer you cold winters
Amid my spring time of life
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động

You give me your lips with no smile
You give me your arms without tenderness
You give me your eyes with no sight
And your motionless body
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.

Seriously, you apologize to me
And promise to meet me in our next life
I will hold this shrapnel as a token
By which we will recognize each other.
Tháng 7/ 1969
*Pips are military badges of rank worn on the shoulder.

Translated by Van Pham


Nếu bài thơ là lời của người nam thì  mình có bản dịch như sau

Quà tặng trong Chiến tranh
Trần Mộng Tú
The Gifts In Wartime
Trần Mộng Tú

Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh
You offer me some roses
To be buried in my fresh grave.
You offer your wedding gown
To blanket the greenish mound.

Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai mầu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
I give you silver star
Medal of valor and
Yellow insignia
Unworn and still shiny.

Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
You offer blooms of youth
To all our loving days
Which fade and pass away
When sad news’s told to you

Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
I give you scent of blood
Of mine and of my foe’s
In my combat uniform
So you can miss us both

Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
You offer me white clouds
From summer sky - your eyes.
You offer chill winters
From your springtime of life

Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
I give my lips with no smile
I give my arms with no hug
I give my eyes with no sight
And the motionless body of mine

Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.

Profusely, I apologize
And vow to be with you next life.
Please hold this bullet as a token
For us to identify each other some time.
Tháng 7/ 1969
Translated by Nguyen Quang



Tuesday, October 24, 2017

筌者所以在鱼-A trap is for fish-Có nơm là vì cá


筌者所以在
A trap is for fish:

Có nơm là vì cá
筌者所以在鱼,鱼而忘筌。
蹄者所以在兔,得兔而忘蹄。
言者所以在意,得意而忘言。
安得夫忘言, 人而與之言哉。
莊子
(南華經)
Thuyên giả sở dĩ tại ngư;
đắc ngư nhi vong thuyên.
Đề giả sở dĩ tại thố,
đắc thố nhi vong đề
Ngôn giả sở dĩ tại ý,
đắc ý nhi vong ngôn.
Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai.
Trang Tử
(Nam Hoa Kinh)
A trap is for fish:
when you've got the fish,
you can forget the trap.
A snare is for rabbits:
when you've got the rabbit,
you can forget the snare.
Words are for meaning,
when you've got the meaning,
you can forget the words.
When can I find someone who has forgotten the words
to have a word with him?
Zhuang zi
(Nan Hua jing)
Có nơm là vì cá,
được cá hãy quên nơm.
Có bẫy là vì thỏ,
được thỏ hãy quên bẫy.
Có lời là vì ý,
được ý hãy quên lời.
Ta tìm đâu được người biết quên lời để cùng nhau đàm luận.
Trang Tử
(Nam Hoa Kinh)

Friday, September 15, 2017

INSIDE VIETNAM CITY, THE FRENCH HOLDING CAMP FOR VULNERABLE UK-BOUND MIGRANTS BÊN TRONG VIETNAM CITY, MỘT TRAI TẠM TRÚ CHO NGƯỜI DI CƯ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG QUA BIÊN GIỚI NƯỚC ANH





INSIDE VIETNAM CITY, THE FRENCH HOLDING CAMP FOR VULNERABLE UK-BOUND MIGRANTS

BÊN TRONG VIETNAM CITY, MỘT TRAI TẠM TRÚ CHO NGƯỜI DI CƯ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG QUA BIÊN GIỚI NƯỚC ANH

by Amelia Gentleman
The Guardian, Sunday 10 September 2017
Amelia Gentleman
The Guardian, 10/9/2017

Hidden in woodland, camp houses up to 100 Vietnamese people allegedly on their way to work illegally in Britain

Trong một khu rừng ở Pháp, có một trại tạm trú với 100 người Việt, được cho là đang trên đường tìm kiếm việc làm bất hợp pháp ở Anh quốc

Detailed accounts of a holding camp in Northern France, where hundreds of vulnerable Vietnamese young people are housed every year before being smuggled into exploitation in the UK, have prompted anti-trafficking charities to call on the British and French governments to disrupt the criminal networks running the site.

Báo cáo chi tiết về một trại giam ở miền Bắc nước Pháp, nơi hàng trăm thanh thiếu niên Việt Nam dễ bị tổn thương lưu trú hàng năm trước khi bị nhập cảnh bất hợp pháp vào Anh, đã thúc đẩy các tổ chức từ thiện chống buôn người kêu gọi Chính phủ Anh và Pháp phá vỡ mạng lưới tội phạm điều hành địa điểm này.


Trafficked and enslaved: the teenagers tending UK cannabis farms
Bị buôn bán và làm nô lệ: những thanh thiếu niên chăm sóc trang trại cần sa ở Anh

Friday, September 8, 2017

VENEZUELA’S UNPRECEDENTED COLLAPSE Sự sụp đổ chưa từng có của Venezuela



VENEZUELA’S UNPRECEDENTED COLLAPSE


Sự sụp đổ chưa có tiền lệ của Venezuela

RICARDO HAUSMANN
RICARDO HAUSMANN

Ricardo Hausmann, a former minister of planning of Venezuela and former Chief Economist of the Inter-American Development Bank, is Director of the Center for International Development at Harvard University and a professor of economics at the Harvard Kennedy School.
Ricardo Hausmann, cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, là Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế tại Đại học Harvard và là giáo sư kinh tế tại Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard.
CAMBRIDGE – In a hastily organized plebiscite on July 16, held under the auspices of the opposition-controlled National Assembly to reject President Nicolás Maduro’s call for a National Constituent Assembly, more than 720,000 Venezuelans voted abroad. In the 2013 presidential election, only 62,311 did. Four days before the referendum, 2,117 aspirants took Chile’s medical licensing exam, of which almost 800 were Venezuelans. And on July 22, when the border with Colombia was reopened, 35,000 Venezuelans crossed the narrow bridge between the two countries to buy food and medicines.

CAMBRIDGE – Trong cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vội vã hôm 16 tháng 7 dưới sự bảo hộ của phe đối lập kiểm soát Quốc hội để phản đối lời kêu gọi thành lập Hội đồng Lập hiến Quốc gia của Tổng thống Nicolás Maduro, hơn 720.000 công dân Venezuela đã bỏ phiếu ở nước ngoài. Trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2013 chỉ có 62.311 người bỏ phiếu như vậy. Bốn ngày trước cuộc trưng cầu dân ý, 2.117 thí sinh đã tham gia cuộc sát hạch giấy phép hành nghề y tế của Chile, trong đó có gần 800 người Venezuela. Và ngày 22 tháng 7, khi biên giới với Colombia được mở lại, 35.000 người Venezuela đã băng qua cây cầu hẹp giữa hai nước để mua thực phẩm và thuốc men.

Venezuelans clearly want out – and it’s not hard to see why. Media worldwide have been reporting on Venezuela, documenting truly horrible situations, with images of starvation, hopelessness, and rage. The cover of The Economist’s July 29 issue summed it up: “Venezuela in chaos.”

Người dân Venezuela rõ ràng muốn rời đi – và không khó để biết được lý do tại sao. Truyền thông trên khắp thế giới đã đưa tin về Venezuela, miêu tả những tình cảnh thực sự khốn cùng, với những hình ảnh về sự đói khát, tuyệt vọng, và giận dữ. Trang bìa của tờ The Economist số ngày 29 tháng 7 đã tóm gọn tất cả trong một câu: “Venezuela trong cơn hỗn loạn”.