MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, March 27, 2013

Animal Farm Trại súc vật







Animal Farm
Trại súc vật
George Orwell (1903-1950)
George Orwell (1903-1950)


Peter Davison
A Note on the Text

Chú thích vê văn bản
Peter Davison


Rule of Law as a Goal of Development Policy Pháp quyền dưới góc nhìn từ chính sách phát triển





Rule of Law as a Goal of Development Policy

Pháp quyền dưới góc nhìn từ chính sách phát triển

Law and Justice Institutions–The World Bank

Các thiết chế luật pháp và tư pháp – Ngân hàng Thế Giới

A prominent concern in the development community is the "rule of law" and the related concepts from other legal systems -- "etat de droit," "estado de derecho," "rechsstaat."  Economic growth, political modernization, the protection of human rights, and other worthy objectives are all believed to hinge, at least in part, on "the rule of law." Policymakers in developing and transition nations are thus seeking ways to establish or strengthen the rule of law in their countries.  Investment rating services, non-governmental organizations, and other students of development are producing indices that try to measure the degree to which a nation enjoys the rule of law.


Một trong những thuật ngữ được quan tâm nhất trong việc xây dựng và phát triển chính sách là “pháp quyền” [thượng tôn pháp luật], còn được biết với những cái tên gọi khác như “rule of law” trong tiếng Anh, “etat de droit” trong tiếng Pháp, “estado de derecho” trong tiếng Tây Ban Nha và “rechsstaat” trong tiếng Đức. Sự tăng trưởng kinh tế, quá trình hiện đại hóa chính trị, bảo vệ nhân quyền, và nhiều vấn đề quan trọng khác không ít thì nhiều đều được xây dựng trên nền tảng của “pháp quyền”. Do đó những nhà hoạch định chính sách ở những nước đang phát triển hoặc vẫn còn trong thời kỳ quá độ đang tìm kiếm phương pháp để thiết lập hoặc là củng cố pháp quyền ở đất nước của họ. Các dịch vụ đánh giá chỉ số đầu tư, các tổ chức phi chính phủ, và những nghiên cứu sinh trong các ngành phát triển nói chung đang tìm cách xây dựng khung chỉ số để đo đạc mức độ hiệu quả của pháp quyền ở mỗi quốc gia.

Saturday, March 23, 2013

Animal Farm Trại súc vật





Animal Farm
Trại súc vật

By George Orwell
George Orwell


The Freedom of the Press
Orwell's Proposed Preface to ‘Animal Farm’

Tự do báo chí
Lời tựa do Orwell đề nghị cho cuốn Trại súc vật



This book was first thought of, so far as the central idea goes, in 1937, but was not written down until about the end of 1943. By the time when it came to be written it was obvious that there would be great difficulty in getting it published (in spite of the present book shortage which ensures that anything describable as a book will ‘sell’), and in the event it was refused by four publishers. Only one of these had any ideological motive. Two had been publishing anti-Russian books for years, and the other had no noticeable political colour. One publisher actually started by accepting the book, but after making the preliminary arrangements he decided to consult the Ministry of Information, who appear to have warned him, or at any rate strongly advised him, against publishing it. Here is an extract from his letter:

Ý tưởng về cuốn sách này xuất hiện từ năm 1937, nhưng mãi đến cuối năm 1943 mới được viết. Lúc đó tôi đã thấy rõ ràng rằng xuất bản là công việc cực kì khó khăn (mặc dù tình trạng thiếu sách lúc đó, bảo đảm rằng cứ có sách là bán được) và quả thật, đã có tới 4 nhà xuất bản từ chối. Nhưng chỉ có một nhà xuất bản từ chối vì lí do ý thức hệ mà thôi. Hai nhà xuất bản khác đã xuất bản những tác phẩm bài Nga trong suốt nhiều năm, còn nhà xuất bản thứ tư thì không có bất cứ lập trường chính trị nào. Một ông chủ xuất bản ban đầu đã chấp nhận, nhưng sau khi chuẩn bị thì lại quyết định sẽ tham khảo Bộ Thông tin[1], có lẽ Bộ này đã cảnh báo, hay ít nhất cũng đã khuyên là không nên in tác phẩm này. Đây là trích đoạn bức thư của ông ta gửi cho tôi:

Friday, March 22, 2013

What is the Difference Between Infatuation and Love? Sự khác biệt giữa si mê và tình yêu?





What is the Difference Between Infatuation and Love?

Sự khác biệt giữa si mê và tình yêu?

It can sometimes be difficult to tell the difference between infatuation and love. This is especially true at the beginning of a relationship. It is easy to think that you have found true love as the intensity of infatuation takes over your life. Love, however, rarely comes on suddenly. It is a slow, gradual process that can only happen after the rush of infatuation starts to ebb.


Đôi khi khó có thể phân biệt giữa si mê và tình yêu. Điều này đặc biệt đúng vào lúc bắt đầu một mối quan hệ. Thật dễ dàng nghĩ rằng bạn đã tìm thấy tình yêu đích thực khi cường độ của sự si mê chiếm lĩnh cuộc sống của bạn. Tuy nhiên, tình yêu, hiếm khi xuất hiện đột ngột. Nó là một quá trình dần dà chậm rãi mà chỉ có thể xảy ra sau khi cơn bột phát mê say bắt đầu suy giảm.

Saturday, March 16, 2013

What is Political Efficacy? Hiệu quả Chính trị là gì?








What is Political Efficacy?
Hiệu quả Chính trị là gì?

WISE GEEK

WISE GEEK
Political efficacy is a term used primarily in political theory and discussion to refer to the amount of faith and impact citizens feel or believe they have upon their government. When it is low, it indicates the citizens of a country have little faith in their government and feel like their actions have little or no impact upon the actions of their political leaders. Higher levels of efficacy, however, tend to indicate that citizens believe their government is doing what is best for them and that the actions they take on a common basis can have a positive impact on the government. This type of information is often determined through polling and surveys, and used by politicians and news broadcasters to understand the political climate of a country or region.

Hiệu quả chính trị là một thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong lý thuyết và thảo luận chính trị để đề cập đến mức độ lòng tin và tác động đối với chính phủ mà các công dân cảm thấy hoặc tin là họ có. Hiệu quả chính trị thấp cho thấy công dân của một quốc gia có ít lòng tin đối với chính phủ của họ và cảm thấy dường như hành động của họ có ảnh hưởng rất ít hoặc không có ảnh hưởng nào đối với hành động của các nhà lãnh đạo chính trị của họ.  Trái lại, mức độ hiệu quả cao thường cho thấy công dân tin rằng chính phủ của họ đang làm những gì tốt nhất cho họ và những hành động mà họ cùng chung tay thực hiện có thể có một tác động tích cực đối với chính phủ. Loại thông tin này thường được xác định thông qua thăm dò ý kiến và điều tra, và được sử dụng bởi các chính trị gia và các phương tiện truyền thông, báo chí để hiểu được tình hình chính trị của một quốc gia hoặc khu vực.