MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, May 2, 2012

This Week at War: NIMBYs in the South China Sea Làn sóng phản ứng các căn cứ Mỹ trên biển Đông




This Week at War: NIMBYs in the South China Sea

Làn sóng phản ứng các căn cứ Mỹ trên biển Đông

Where will the Pentagon put its Pacific marines?

Đâu sẽ là nơi Lầu Năm Góc đặt căn cứ thủy quân lục chiến trong vùng Thái Bình Dương?

BY ROBERT HADDICK | APRIL 27, 2012

BY ROBERT HADDICK | 27/4/2012

With this week's news that the United States has finally reached an agreement to cut the number of Marines stationed on the Japanese island of Okinawa, an ongoing standoff in the South China Sea between a Philippine Coast Guard cutter and a Chinese ocean surveillance ship, which is now in its third week, has taken on added significance.

Tin tức tuần này cho hay, cuối cùng Mỹ đã đạt được thỏa thuận cắt giảm quân số lực lượng thủy quân lục chiến trú đóng tại đảo Okinawa (Nhật), và cuộc giằng co vẫn tiếp diễn trên biển Đông giữa tàu tuần duyên Philippines và tàu hải giám Trung Quốc, nay bước sang tuần thứ ba, đã làm cho tình hình thêm nóng.

The incident began in early April when the crew of a small Philippines warship attempted to arrest some Chinese men for illegal fishing near the disputed Scarborough Shoal, 124 miles northwest of Luzon. China quickly dispatched two surveillance ships and blocked the arrest of the men, who slipped away. China later recalled one its ships and Manila replaced its warship with the cutter, which defused the crisis a bit. In Beijing, the Philippine charge d'affaires has twice been summoned to the foreign ministry to receive lectures on why the rocks under dispute fall within China's "inherent territory."

Sự cố phát sinh từ đầu tháng 4 khi lực lượng trên một tàu chiến nhỏ của Philippines cố chặn bắt một số ngư dân Trung Quốc đang đánh bắt thủy sản trái phép gần bãi cạn Scarborough trong vòng tranh chấp, cách đảo Luzon của Philippines 124 dặm về phía tây bắc. Trung Quốc nhanh chóng điều hai tàu hải giám đến hiện trường, ngăn cản việc bắt giữ, và giải thoát thành công ngư dân của mình. Sau đó, Trung Quốc đã rút bớt một tàu và Manila thay tàu chiến bằng một tàu tuần duyên, cuộc khủng hoảng lắng dịu được đôi chút. Tại Bắc Kinh, đại biện Philippines hai lần bị triệu tập đến Bộ Ngoại giao Trung Quốc để nghe giải thích vì sao bãi đá ngầm đang tranh chấp này lại hoàn toàn thuộc về “lãnh thổ không thể tách rời” của Trung Quốc.

With this as a backdrop, "Balikatan 2012," a 10-day U.S.-Philippine military training exercise, began on April 16. The 28th annual iteration of the exercise this year included a variety of maneuvers, including a simulated capture of an island by Philippine and U.S. Marines, staged in daylight for a large media contingent on Palawan Island, facing the South China Sea. Besides U.S. and Philippine military forces, Balikatan 2012 also included a command post exercise conducted with representatives from the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN).

Trong bối cảnh đó, cuộc tập trận quân sự mang tên “Balikatan 2012″ của Mỹ-Philippines kéo dài 10 ngày đã bắt đầu từ ngày 16 tháng 4. Cuộc tập trận định kỳ hàng năm lần thứ 28 này gồm nhiều nội dung diễn tập khác nhau, trong đó có cuộc tiến công giả định tái chiếm một hòn đảo bởi lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ và Philippines, được tiến hành vào ban ngày cho đông đảo phóng viên tường thuật trên đảo Palawan, nhìn ra biển Đông. Bên cạnh các lực lượng quân sự Mỹ và Philippines, tập trận Balikatan 2012 còn có nội dung diễn tập bộ chỉ huy, tiến hành cùng với các đại diện từ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Philippine President Benigno Aquino used the flurry created by these events to warn his country's neighbors over China's aggressiveness in the South China Sea. "They claim this entire body of water practically. Look at what is excluded and what they are claiming," Aquino told reporters as he pointed to a map of the area. "So how can the others not be fearful of what is transpiring?" After the military exercises wrap up, Aquino's foreign minister will be off to Washington for consultations with U.S. officials.

Nhân dịp những sự kiện nói trên, Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã cảnh báo các nước láng giềng về sự gây hấn của Trung Quốc tại biển Đông. “Trên thực tế, họ (Trung Quốc) tuyên bố chủ quyền toàn bộ vùng biển này. Hãy nhìn những gì họ đang yêu sách chủ quyền và những gì còn lại”, ông Aquino nói với các phóng viên khi ông chỉ vào một bản đồ khu vực. “Thế thì làm sao các nước khác không khỏi lo ngại về những gì đang xảy ra”. Sau khi cuộc tập trận quân sự kết thúc, vị ngoại trưởng của chính phủ Aquino sẽ bay đi Washington để tham vấn với các quan chức Mỹ.


If Aquino and his ASEAN colleagues are to have the confidence to stand up to China, few would dispute that they will require diplomatic support from the United States. Indeed, in 2010, when several members openly pushed back against Beijing at two ASEAN Regional Forum meetings in Hanoi, U.S. Secretary of State Hillary Clinton and then Secretary of Defense Robert Gates were there to back them up. Since then, Southeast Asian leaders who are attempting to handle China's assertions seem to have warmed up to the idea of a more visible U.S. military presence in the area. For the South China Sea, that would mean a U.S. Navy and Marine presence to support Washington's partners in ASEAN. The challenge for all of these players is how to arrange this supporting presence so that it is credible yet also politically sustainable.

Nếu ông Aquino và các vị đồng nhiệm trong ASEAN có đủ tự tin đương đầu với Trung Quốc, những ai phản đối yêu cầu có thêm sự ủng hộ về mặt ngoại giao của Mỹ chỉ là con số nhỏ. Thực vậy, hồi năm 2010, khi một vài thành viên ASEAN công khai chỉ trích Bắc Kinh ở hai phiên họp Diễn đàn An ninh Khu vực (ARF) tổ chức tại Hà Nội, ngoại trưởng Hillary Clinton và bộ trưởng quốc phòng Robert Gates có mặt tại đây đã lần lượt lên tiếng ủng hộ lập trường của các nước này. Kể từ đó, lãnh đạo các nước Đông Nam Á, vốn đang nỗ lực đối phó với những đòi hỏi chủ quyền từ phía Trung Quốc, dường như đã hâm nóng ý tưởng về việc cần sự hiện diện quân sự rõ ràng hơn của Mỹ trong khu vực. Đối với biển Đông, điều này có nghĩa cần sự hiện diện của hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ nhằm hỗ trợ các đối tác của Washington trong khối ASEAN. Thách thức đối với các các nước trong cuộc là, làm thế nào để bố trí sự hiện diện quân sự hỗ trợ này, không những đáng tin cậy mà phải bền vững về mặt chính trị.

Unfortunately, the Pentagon has still not figured out where it will base its Marine Corps units in the Pacific. A work-in-progress since the 1990s, version after version of Marine basing plans have gone down in flames, including a 2010 debacle that took down the prime minister of Japan. U.S. partners around the South China Sea want a stabilizing U.S. presence, something Washington wants to provide. But the Pentagon won't be able to show exactly how it will support that mission until it finally determines where it is going to actually put its Marines.

Đáng tiếc, Lầu Năm Góc vẫn chưa xác định nơi sẽ đặt căn cứ cho các đơn vị thủy quân lục chiến trong vùng Thái Bình Dương. Một công việc vẫn đang tiến hành từ thập niên 1990 là kế hoạch lập căn cứ lâu dài cho lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ, hết bản kế hoạch này đến bản kế hoạch khác bị hủy bỏ, trong đó phải kể đến sự thất bại khi không di dời được căn cứ Mỹ ra khỏi Okinawa hồi năm 2010, khiến thủ tướng Nhật lúc đó [ông Yukio Hatoyama] phải từ chức. Các đối tác của Mỹ xung quanh khu vực biển Đông muốn có một sự hiện diện ổn định của Mỹ trong khu vực, đó cũng là điều Mỹ muốn thực hiện. Thế nhưng, Lầu Năm Góc không thể cho biết chính xác làm thế nào Mỹ có thể đảm đương sứ mệnh này cho đến khi Mỹ xác định rốt ráo nơi sẽ là địa điểm thực sự cho lực lượng thủy quân lục chiến lập căn cứ.


Planners now agree that the Marine presence on Okinawa will shrink. The 2006 version of the plan would have transferred 8,600 Marines and 9,000 dependents about 1,500 miles southeast to Guam, a move that would have required $21.1 billion in construction costs to complete. The Marine Corps presence on Okinawa has become too politically toxic for the Japanese government. In addition, some military analysts fear that in a shooting war with China, missile strikes could close U.S. air bases and ports on the island, preventing the Marine infantrymen there from getting to where they might be needed. Meanwhile, the bill for the huge buildup on Guam came in much too high and would have concentrated too many assets on one spot. Last year, Senators Carl Levin, John McCain, and James Webb objected to the Guam plan and demanded a rewrite.

Hiện nay, các nhà hoạch định đồng ý rằng sự hiện diện của thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Okinawa nên được thu hẹp. Bản kế hoạch năm 2006 đề xuất chuyển 8.600 lính thủy quân lục chiến và 9.000 thân nhân theo cùng đến đảo Guam, cách Okinawa 1.500 dặm về phía đông nam, với khoản chi phí xây dựng hoàn tất lên đến 21,1 tỷ USD. Sự hiện diện của thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Okinawa đã trở thành vấn đề quá đau đầu về phương diện chính trị đối với chính phủ Nhật. Thêm vào đó, một số nhà phân tích quân sự lo ngại trường hợp xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, các cuộc tấn công bằng tên lửa sẽ khóa chặt các hải cảng và căn cứ không quân của Mỹ trên đảo Okinawa, ngăn chặn lực lượng trên bộ của thủy quân lục chiến Mỹ triển khai quân đến những nơi cần thiết. Trong khi đó, phí tổn để xây căn cứ quy mô lớn tại Guam đã vượt quá cao, sẽ gây nên tình trạng tập trung quá nhiều nguồn lực vào một địa điểm. Năm ngoái, các thượng nghị sĩ Carl Levin, John McCain và James Webb đã phản đối kế hoạch Guam, và yêu cầu soạn lại một kế hoạch khác.

The latest plan scales back the Guam move to 4,700 Marines with 2,700 more moving to existing bases in Hawaii. That will reduce the Pentagon's Guam construction bill. However, Levin, McCain, and Webb still want to know how the latest basing proposal, "relates to the broader strategic concept of operations in the region."


Kế hoạch mới nhất giảm bớt quân số thủy quân lục chiến chuyển đến Guam xuống còn 4.700 lính, và 2.700 lính còn lại sẽ chuyển đến các căn cứ hiện có tại Hawaii. Kế hoạch này sẽ giúp giảm bớt chi phí xây dựng tại Guam cho Lầu Năm Góc. Tuy nhiên, các thượng nghị sĩ Levin, McCain và Webb vẫn muốn biết đề xuất lập căn cứ mới đây “có liên quan thế nào đến quan điểm chiến lược mở rộng hơn các hoạt động của quân đội Mỹ trong khu vực”.

Providing a forward presence in places like the South China Sea and reacting to military and humanitarian crises will be the major missions for the Marine Corps in the Pacific. How best to position Marine units to accomplish these tasks remains unsettled.

Triển khai sự hiện diện tích cực tại những nơi như biển Đông, ứng phó với các cuộc khủng hoảng quân sự và nhân đạo sẽ là sứ mệnh chủ yếu của thủy quân lục chiến Mỹ trong vùng Thái Bình Dương. Làm thế nào có được căn cứ tốt nhất cho các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ để họ hoàn thành nhiệm vụ vẫn là vấn đề chưa giải quyết được. 

Aquino seems to welcome a stepped-up U.S. military profile in his neighborhood. But that doesn't mean he wants a return to the large and politically overbearing bases the United States operated in the Philippines until 1992, when a political consensus in the country threw the U.S. forces out. It is likely that a majority on Okinawa would follow suit, if they had the authority to do so.

Tổng thống Aquino có vẻ hoan nghênh sự tăng cường binh lực Mỹ chung quanh Philippines. Nhưng điều đó không có nghĩa ông ấy muốn có sự hiện diện trở lại những căn cứ khổng lồ mang tính áp đặt chính trị của Mỹ từng hoạt động trên lãnh thổ Philippines cho đến năm 1992, thời điểm mà sự đồng thuận chính trị của quốc gia này buộc các lực lượng Mỹ phải ra đi. Có khả năng đa số cộng đồng dân cư trên đảo Okinawa sẽ theo đuổi việc kiện ra tòa nếu họ có thẩm quyền làm điều đó.

The political path of least resistance will be to relocate overseas units back to bases in the United States (something almost all congressmen will welcome) and then fly or sail these units back out on relatively short-term deployments and training exercises in partner countries. Darwin, Australia, is already preparing to eventually host up to 2,500 Marines on six-month rotational deployments. The Philippines may soon roll out a similar welcome mat. Other countries in the region may follow.

Con đường chính trị ít vấp phải sự chống đối nhất sẽ là tái bố trí các đơn vị hoạt động ở nước ngoài trở về các căn cứ trên đất Mỹ (là điều hầu hết các nghị sĩ quốc hội sẽ hoan nghênh), sau đó các đơn vị này sẽ được vận chuyển bằng đường biển hoặc đường hàng không đến các địa điểm triển khai quân tương đối ngắn hạn và tập trận tại các quốc gia đối tác. Darwin (Úc) là nơi đã và đang chuẩn bị đón nhận một lực lượng lên tới 2.500 lính thủy quân lục chiến Mỹ đến triển khai luân phiên 6 tháng mỗi lần. Philippines có thể sớm trải thảm chào đón các lực lượng Mỹ với cách thức tương tự. Tiếp theo có thể là các nước khác trong khu vực.

In addition to reducing the corrosiveness of large foreign bases such as those in Okinawa and formerly in the Philippines, the rotational deployment method has other benefits. It will condition U.S. military forces and planners to an expeditionary mind-set. Logisticians will further improve their already formidable skills at moving military units around the world, skills that will always be handy during crises. Military units will learn to become more nimble, adaptable, and flexible, increasing their usefulness during crises. With deployments as the standard model, U.S. military personnel will become acquainted with a wider variety of foreign partners than they would under a static basing scheme. And when units are not deployed, they will be back at bases in the United States, which will have better training facilities and better family accommodations than those overseas.

Bên cạnh giảm bớt tác động tiêu cực của những căn cứ lớn ở nước ngoài như Okinawa và Philippines trước đây, cách triển khai quân luân phiên còn có một số lợi ích khác: Nó tạo điều kiện cho các nhà hoạch định và lực lượng quân sự Mỹ quen với tư duy viễn chinh. Giới chuyên gia hậu cần sẽ phải cải thiện hơn nữa những kỹ năng hết sức phức tạp trong công tác vận chuyển các đơn vị quân đội đi khắp thế giới, những kỹ năng này luôn hữu ích trong những cuộc khủng hoảng. Các đơn vị quân đội Mỹ sẽ phải học cách trở nên linh hoạt hơn, thích nghi tốt hơn và nhanh nhẹn hơn, nâng cao năng lực ứng phó với những cuộc khủng hoảng. Với cách triển khai quân theo mô hình chuẩn nói trên, quân nhân Mỹ sẽ trở nên quen thuộc với các đối tác nước ngoài khác nhau nhiều hơn so với lúc đóng căn cứ cố định. Khi không triển khai quân, các đơn vị này sẽ trở về căn cứ tại Mỹ, nơi có những cơ sở huấn luyện tốt hơn, gần gũi với gia đình hơn khi đóng quân ở nước ngoài. 

The deployment approach has its risks. U.S. naval and air forces face increasing challenges from long-range, anti-ship, and anti-aircraft missiles. The ability of some adversaries to use these missiles to impose "anti-access, area denial" measures against the movement of U.S. reinforcements into crisis areas would be especially troubling for the deployment model. From a diplomatic perspective, some will question whether a U.S. strategy that relies more on distant deployments and less on a permanent forward troop presence will be sufficiently reassuring to partners who might be under stress from a strong nearby neighbor like China.


Cách triển khai quân này cũng có những rủi ro. Lực lượng không quân và hải quân Mỹ sẽ đối mặt với những thách thức gia tăng từ các loại tên lửa tầm xa, đối không và đối hạm. Khả năng một số lực lượng thù địch sử dụng tên lửa để áp đặt chiến thuật “chống tiếp cận, phong tỏa khu vực”, chống lại sự chuyển quân của các lực lượng Mỹ đến tăng cường tại khu vực khủng hoảng, sẽ đặc biệt gây khó khăn cho mô hình triển khai này. Xét từ viễn cảnh ngoại giao, một số nước sẽ đặt câu hỏi liệu chiến lược của Mỹ, dựa trên mô hình triển khai quân từ xa, giảm bớt sự hiện diện quân sự thường trực, có đủ trấn an các quốc gia đối tác đang trong tình trạng căng thẳng bởi một nước láng giềng hùng mạnh như Trung Quốc.

Under a growing missile threat, field commanders will likely prefer the flexibility afforded by an expeditionary approach compared to the vulnerability of fixed bases -- such as Okinawa -- located within easy range of Chinese missiles. The new slimmed-down relocation plan to Guam will still cost an estimated $8.6 billion, spent on elaborate barracks, family housing, and training ranges. Instead of building up another increasing vulnerable fixed base, the Pentagon should consider using that money to acquire additional Marine amphibious ships and anti-missile destroyers to protect them. That would boost forward presence and flexibility, which should be reassuring to both alliance partners and U.S. commanders in the region.

Trước nguy cơ bị tên lửa tấn công ngày một tăng, các tư lệnh chiến trường Mỹ có thể thích sự linh hoạt theo mô hình viễn chinh hơn là đặc điểm dễ bị tấn công của các căn cứ cố định – chẳng hạn như căn cứ tại Okinawa – hoàn toàn nằm trong tầm bắn dễ dàng của các tên lửa Trung Quốc. Kế hoạch tái bố trí mới chuyển quân đến Guam với quy mô tinh gọn hơn, ước tính sẽ vẫn tiêu tốn đến 8,6 tỷ USD, sẽ chi dùng vào việc xây doanh trại, nhà ở cho gia đình binh sĩ, thao trường tập bắn. Thay vì xây thêm căn cứ cố định khác đang ngày càng dễ bị tấn công, Lầu Năm Góc nên xem xét dùng số tiền này trang bị thêm các loại tàu đổ bộ dành cho thủy quân lục chiến và các tàu khu trục chống tên lửa nhằm bảo vệ lực lượng này. Điều đó sẽ tăng cường tính linh hoạt và sự hiện diện tích cực của lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ, giúp củng cố niềm tin của các đối tác đồng minh và cả những tư lệnh quân đội Mỹ trong khu vực.  



http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/04/27/this_week_at_war_nimbys_in_the_south_china_sea?page=full

"S'ils avaient cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien dit" “Nếu bọn họ định ép tôi nói, thì tôi chẳng thèm nói gì với họ cả”




"S'ils avaient cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien dit"

“Nếu bọn họ định ép tôi nói, thì tôi chẳng thèm nói gì với họ cả”

Brice Pedroletti
Brice Pedroletti
Le Monde.fr | 30.04.2012
Le Monde.fr | 30.04.2012

Le militant chinois Hu Jia avait été emprisonné pendant 3 ans et demi pour "incitation à la subversion de l'Etat". il avait été libéré en juin 2011.

Nhà hoạt động dân chủ Trung Quốc Hu Jia đã bị tù ba năm rưỡi vì tội "kích động lật đổ nhà nước". Ông đã được ra tù tháng 6 năm 2011.
Joint par téléphone, Hu Jia a raconté, lundi matin 30 avril, au Monde, sa détention de 24 heures, entre samedi après-midi et dimanche après-midi, après sa rencontre, les jours précédents, avec Chen Guangcheng, le dissident aveugle réfugié à l'ambassade américaine depuis jeudi. Agé de 39 ans, libéré en juin 2011 après trois ans et demi de prison pour "incitation à la subversion de l'État", et toujours privé de ses droits politiques, Hu Jia considère toutefois qu'il est libre de s'exprimer, sur les réseaux sociaux, ou dans les médias, car c'est "son droit constitutionnel".

Sáng 30 tháng 4, Hồ Giai nói qua điện thoại với báo Le Monde về việc ông bị giam giữ 24 tiếng đồng hồ, từ chiều thứ bảy đến chiều chủ nhật vì mấy ngày trước đó ông có gặp Trần Quang Thành, nhà bất đồng khiếm thị đang lánh nạn từ hôm thứ năm trong đại sứ quán Hoa Kỳ. Hồ Giai,  39 tuổi, vừa được trả tự do hồi tháng 6 năm 2011 sau ba năm rưỡi bị tù giam vì tội “Kích động lật đổ Nhà nước”, và vẫn đang trong giai đoạn bị mất quyền công dân, song ông vẫn luôn luôn coi mình là có quyền tự do biểu đạt ý kiến trên các mạng xã hội hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng, vì đó là các “quyền hợp hiến” của ông.

Deux intermédiaires ont aidé Chen Guangcheng dans sa fuite : un intellectuel pékinois, Guo Yushan, et une militante basée à Nankin, He Peirong. Tous deux sont pour l'instant injoignables et auraient été arrêtés. Le premier anime l'ONG Transition Institute et avait participé aux côtés de Chen Guangcheng à l'enquête sur les violences de la politique de l'enfant unique à Linyi (Shandong) en 2005. Il n'a cessé de soutenir le dissident non voyant et avait publié en 2011, une pétition constituée de plusieurs messages vidéos d'intellectuels chinois en appelant à sa libération.

Có hai người đã giúp Trần Quang Thành đi trốn: một trí thức Bắc Kinh tên là Guo Yushan và một nhà hoạt động xã hội nữ ở Nam Kinh tên là He Peirong. Báo chí hiện không bắt liên lạc được với hai người này và có thể họ đều đã bị bắt. Người thứ nhất lãnh đạo tổ chức phi chính phủ có tên Viện chuyển tiếp và đã giúp Trần Quang Thành điều tra những bạo lực do chính sách một con gây ra ở Liêu Ninh (Sơn Đông) hồi năm 2005. Ông này không ngừng giúp đỡ cho nhà bất đồng khiếm thị và đã công bố vào năm 2011 một kháng nghị trong đó có chứa nhiều thông điệp có hình ảnh của các nhà trí thức Trung Hoa yêu cầu thả ông.

He Peirong (dont le pseudonyme sur Internet est Pearl), une jeune professeure d'anglais de Nankin s'est prise de passion pour la cause de l'avocat aux pieds nus. Elle s'est plusieurs fois rendue aux abords du village de Dongshigu, où vivait Chen Guangcheng et sa famille, organisant une "surveillance Internet" de ses heurts avec les gardes grâce à des internautes qui harcelaient la police locale pour la forcer à intervenir. C'est elle qui est allée chercher Chen Guangcheng à Dongshigu après qu'il a franchi le mur de sa maison dimanche puis a rejoint une cachette pendant plusieurs heures. Les gardes ne se sont pas aperçus de son évasion pendant plusieurs jours.

He Peirong (bí danh trên Internet của cô là Ngọc), là một nữ giáo viên tiếng Anh trẻ tuổi ở Nam Kinh, là người đã nhiệt thành đi theo chính nghĩa của luật gia chân đất Trần Quang Thành.  Nhiều lần cô đã đến sát làng Dongshigu nơi Trần Quang Thành sinh sống cùng gia đình, ở đây cô tổ chức ghi lại hình ảnh để chuyển lên Internet về các vụ đụng độ với công an nhờ các người dùng internet tìm cách chọc tức cho cảnh sát địa phương tới đàn áp. Chính cô đã đi tìm Trần Quang Thành ở Dongshigu sau khi ông này leo trốn qua tường nhà mình hôm chủ nhật và sau đó bí mật đến nơi ẩn náu trong nhiều giờ đồng hồ. Nhiều ngày sau đó lính gác vẫn chẳng hay biết gì về vụ Trần Quang Thảnh bỏ trốn.

Vous avez été arrêté pendant vingt-quatre heures, comment s'est passé votre détention ?


Ông bị bắt giữ trong hai mươi bốn giờ, vụ này diễn ra như thế nào, thưa ông Hồ Giai?

J'ai été emmené samedi à 17 h 30 (sur leur papier, il est inscrit 17 h50), et libéré à 17 h 50 hier après-midi [dimanche]. J'ai été conduit au bureau de police de Zhongcang, du district de Dongcheng à Pékin, mais en fait c'est la division générale de la sécurité d'Etat qui s'occupe de l'opération (ils ne me l'ont pas dit, mais j'ai entendu leur conversation). Leur objectif, c'est de savoir quand Chen Guangcheng a quitté Dongshigu, comment on l'a trouvé, où il était logé à Pékin, quand il est entré à l'ambassade américaine et quand je l'ai vu.

Tôi bị bắt đi hôm thứ bảy hồi 17 h 30 (trên giấy tờ họ ghi 17 h50), và được thả lúc 17 h 50 chiều hôm qua [chủ nhật]. Tôi được dẫn tới trụ sở công an Zhongcang, quận Dongcheng thành phố Bắc Kinh, nhưng Cục 1 của cơ quan An ninh Quốc gia làm vụ này (họ không nói với tôi như vậy, nhưng nghe họ nói với nhau thì tôi biết). Mục đích của họ là muốn biết rõ Trần Quang Thành đã trốn khỏi Dongshigu hồi nào, làm cách nào đón được ông ấy và ông ta lẩn trốn ở đâu khi tới Bắc Kinh, ông ấy vào sứ quan Hòa Kỳ khi nào và tôi trông thấy ông ấy vào hồi nào.

Comment avez-vous été traité?

Au départ, ils n'étaient pas très polis. C'étaient deux membres de la police criminelle qui m'ont interrogé. Ils m'ont appelé pour une affaire de sécurité publique, mais ils envoient des policiers de la criminelle ! Ils sont arrivés avec l'air arrogant, me parlant comme s'ils me faisaient la leçon. J'ai contre-attaqué et ils se sont calmés petit à petit. Je n'ai pas été torturé, mais ils ne m'ont pas accordé de repos alors que j'ai une cirrhose et que j'ai besoin d'être allongé. Quand j'ai appris que l'enquête était prolongée jusqu'à 24 heures au lieu de 8 heures, j'ai demandé un temps de repos. Ils n'étaient pas d'accord. J'ai jeté mon bonnet sur leur bureau.

Ông được họ đối xử ra sao?

Ban đầu bọn họ không được tử tế lắm. Có hai cảnh sát hình sự hỏi cung tôi. Họ triệu tập tôi để hỏi chuyện an ninh chính trị, nhưng họ cử người của hình sự tới làm việc! Họ tới với vẻ vênh vang xấc xược, nói với tôi như lên lớp dạy dỗ tôi. Tôi phản công lại, và họ dần dần cũng nhũn đi. Tôi không bị tra tấn, nhưng họ không cho tôi nghỉ mặc dù tôi bị sơ gan và tôi cần được nằm dài nghỉ ngơi. Khi biết là cuộc điều tra sẽ kéo dài tới 24 thay vì 8 giờ, tôi yêu cầu được nghỉ ngơi. Họ không đồng ý. Tôi ném mũ đang đội đầu lên bàn của họ.


Finalement, ils m'ont trouvé une chaise longue dans le couloir sur laquelle j'ai dormi pendant 3 heures, pas plus. Mais il faisait froid dans le couloir, les lampes étaient allumées, il y avait beaucoup de passages, je n'ai pas pu vraiment dormir. Cette privation du droit au repos est aussi une forme de torture. Ils m'ont demandé pour les autres [membres du réseau]. Mais j'ai immédiatement dit que Chen Guangcheng était un citoyen libre, tout comme He Peirong et Guo Yushan [les deux autres militants qui ont organisé le voyage à Pékin de Chen Guangcheng].

Sau rồi họ phải cho tôi nằm trên một chiếc ghế băng ở ngoài hành lang và tôi nằm đó ngủ được chừng ba tiếng đồng hồ, thé thôi. Nhưng ngoài hành lang thì lạnh, đèn lại sáng trưng, người qua lại ầm ầm, thực sự tôi không ngủ được. Cái lối không cho nghỉ cũng là một thứ tra tấn. Họ hỏi cung tôi và hỏi thay cho cả những người khác nữa (trong mạng hoạt động). Nhưng tôi nói ngay với họ rằng Trần Quang Thành là một công dân tự do, cũng như He Peirong và Guo Yushan [hai nhà hoạt động khác đã tổ chức chuyến đi Bắc Kinh cho Trần Quang Thắng).

La division générale de la sécurité d'Etat considère elle aussi qu'aucune loi n'a été violée depuis le départ de Chen Guangcheng du Shandong jusqu'à son entrée dans l'ambassade américaine. Le pouvoir public ne peut pas intervenir dans le droit privé. C'est pour cela qu'ils manquaient de justifications solides pour m'interroger. Ils ont donc expliqué que c'était pour du "renseignement" et des "confirmations". Même s'ils avaient vraiment cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien dit. Et ils ne m'ont pas forcé.

Cục 1 của cơ quan An ninh Quốc gia cũng cho là không có điều luật nào bị vi phạm kể từ khi Trần Quang Thành đi khỏi Sơn Đông cho tới khi ông ầy vào sứ quan Hoa Kỳ. Công an không có quyền can thiệp vào quyền riêng tư của công dân. Chính vì thế mà họ thấy thiếu cơ sở chắc chắn để hỏi cung tôi. Nên họ giải thích cho tôi đây chỉ là “tìm thông tin” và tìm những “xác nhận” mà thôi. Ngay cả khi họ ép buộc tôi nói, thì tôi cũng chẳng nói gì với họ hết. Nhưng họ không ép.

Une question m'a étonné, c'est quand ils m'ont demandé "Quand est-ce que Chen Guangcheng a vu l'ambassadeur américain Gary Locke ?" "Etais-tu présent quand Chen Guangcheng a vu Gary Locke ?" Je ne sais pas si ça veut dire que les agents de la sécurité ont des sources qui confirment qu'ils se sont vus, ou si c'est juste des fausses questions pour me tester. Depuis jeudi après-midi, Chen s'est réfugié dans l'ambassade américaine, car il a été découvert cet après-midi là en compagnie de Guo Yushan. Il y a même eu une poursuite en voiture. Moi, je suis juste passé devant l'ambassade vendredi, mais sans y entrer. La police me suivait, donc ils le savent, et c'est une question stupide.

Nhưng khi họ hỏi tôi điều này thì tôi thấy ngạc nhiên "Trần Quang Thành gặp đại sứ Hoa Kỳ Gary Locke khi nào?" Tôi chưa biết rõ liệu đó có nghĩa là bọn an ninh đã biết là hai người đó đã gặp nhau, hay đó là câu hỏi để thăm dò xem tôi có biết gì không. Kể từ buổi chiều hôm thứ năm, Trần Quang Thành đã trốn được vào sứ quán Hoa Kỳ, vì chiều hôm đó người ta đã thấy ông ấy đi cùng Guo Yushan. Có cả một chiếc xe hơi đuổi theo họ nữa. Còn tôi, hôm thứ sáu, tôi có đi ngang sứ quan Hoa Kỳ, nhưng tôi không vào đó. Công an theo dõi sát tôi, tất họ biết, vậy đó là câu hỏi ngu xuẩn.

Vous êtes en principe encore privé de droits politiques depuis votre sortie de prison en juin 2011. Qu'est-ce que cela implique?

Về nguyên tắc, ông vẫn còn chưa được hưởng đủ quyền công dân kiể từ sau khi ra tù vào tháng sáu năm 2011. Điều đó có những hệ quả gì?


Ils m'ont dit qu'ils me convoquent parce que j'ai violé les règlements de la période de privation des droits politiques à laquelle je suis astreint. Je n'aurais pas du être interviewé par les médias étrangers. Ils m'ont dit que j'ai été interviewé par Radio France-Internationale, alors que j'ai accordé au moins une dizaine, voire une vingtaine d'interviews.

Họ cho biết họ triệu tập tôi vì tôi vi phạm các quy định của thời kỳ quản thúc. Lý ra tôi không được trả lời phỏng vấn của các cơ quan truyền thông nước ngoài. Họ nói tôi đã trả lời đài RFI của Pháp, trong khi thực ra tôi đã trả lời ít ra là hơn chục lần, có khi hai chục ấy.

Je leur ai répondu que cette contrainte de ne pas être interviewé par les médias étrangers vient du Code de procédure pénale et des règlements du ministère de la sécurité publique, mais que la Constitution stipule que j'ai le droit de m'exprimer, de critiquer, de révéler ce que je souhaite. J'ai le droit de révéler au grand jour les violations de droits par le gouvernement local chinois par exemple.

Tôi trả lời họ rằng điều bó buộc này không cho trả lời các cơ quan thông tin truyền thông nước ngoài xuất xứ từ Luật thủ tục tố tụng hình sự và các quy định của Bộ Công an, thế nhưng Hiến  Pháp lại quy định tôi có quyền phát biểu ý kiến và phê phán, được nói rõ những gì tôi mong muốn. Tôi có quyền phơi bày những vi phạm các quyền con người của chính quyền địa phương chẳng hạn.

Ne craignez-vous pas des représailles si vous continuez de vous exprimer?

J'ai passé trois ans et demi en prison. Je n'ai pas envie d'y retourner. Mais en même temps, après avoir traversé tout ça, je n'ai plus peur. Bien sûr que je ne me sens pas bien physiquement, mais même s'ils me détiennent pour quinze jours, comparé aux 277 jours que j'ai vécu incarcéré, ce n'est rien ! Ce qui m'inquiète le plus, c'est ma femme, ma fille et ma mère. Elles se font du mauvais sang pour moi depuis près de dix ans.

Ông không sợ nếu cứ tiếp tục phát biểu thì sẽ bị trả thù à?

Tôi đã ở tù ba năm rưỡi. Tôi không có ý muốn quay trở lại chốn đó. Nhưng mặt khác, sau khi đã trải qua những thứ đó, tôi thấy mình chẳng còn sợ cái gì sất. Hiển nhiên là sức khỏe tôi không tốt, nhưng ngay cả khi họ giam tôi mười lăm ngày đi, so với 277 ngày trong tù, thì chả là cái gì hết! Tôi lo ngại hơn hết là cho vợ tôi cho con gái tôi và cho mẹ tôi. Gần mười năm qua họ đã sợ hết vía cho tôi rồi.

Avant-hier, quand j'ai été emmené, ma fillette a vu ce qu'il se passait. Elle a demandé : "Où est-ce qu'il va papa ?" Ma femme lui a dit que j'allais m'amuser près de la rivière. Elle a répondu : "C'est pas vrai !" On ne peut plus lui mentir. Quand j'étais en prison, ma femme lui disait chaque fois qu'elles me rendaient visite, que papa était dans une crèche pour adultes. Elle répondait : "Il n'a qu'à changer de vêtement. Alors, il pourra rentrer avec nous !". Personne ne lui avait expliqué, mais elle comprend toute seule. J'ai vraiment peur de créer une ombre sur son coeur.

Bữa kia, khi họ bắt tôi đi, đứa con gái bé bỏng của tôi đã thấy hết. Cháu hỏi: "Ba đi đâu hả má?" Vợ tôi bảo cháu là tôi ra bờ sông chơi. Con gái tôi nói: "Không phải!" Không ai còn có thể nói dối cháu được nữa. Khi tôi ở tù, mỗi lần cùng cháu đi thăm tôi, vợ tôi bảo tôi đang ở Nhà trông giữ người lớn tuổi. Cháu nói: "Chỉ cần ba thay quần áo, thì ba sẽ về nhà với mẹ con mình!". Không ai nói cho cháu biết, nhưng tự cháu biết hết. Tôi thực sự lo sẽ tạo ra một bóng đen trong trái tim non nớt ấy.

Comment s'est passé votre rencontre avec Chen Guangcheng?

Les policiers m'ont demandé quand j'avais vu Chen Guangcheng. Mais ils n'étaient pas intéressés par le contenu de notre conversation. Quand je l'ai vu, j'étais tellement excité que j'en tremble encore en y pensant. Il m'a pris dans les bras tellement fort qu'il m'a soulevé du sol. Malgré sa maladie : il a du sang dans les selles depuis 2006 et n'a pas pu être soigné après sa sortie de prison [en septembre 2010], nous avons tous peur que cela se transforme en cancer. J'ai vu aussi des blessures sur ses jambes et sur son corps. Mais son esprit est toujours extraordinairement fort et il garde le courage.

Việc ông gặp Trần Quang Thành diễn ra như thế nào?

Cảnh sát hỏi tôi xem tôi gặp Trần Quang Thành khi nào. Nhưng họ không quan tâm tới nội dung hai chúng tôi nói gì với nhau. Khi gặp ông, tôi vô cùng phấn khích đến độ bây giờ nghĩ lại vẫn thấy mình đang còn run lên này. Ông ôm chặt lấy tôi, ôm rất chặt, đến độ ông nhấc bổng tôi lên. Ông bị bệnh nặng: kể từ năm 2006, ông đi ngoài ra máu, và không được chữa chạy gì sau khi ra tù [tháng chín năm 2010], tất cả chúng tôi đều lo cái đó sẽ chuyển thành ung thư. Tôi cũng nhìn thấy những vết thương trên dùi và trên người ông. Nhưng cơ thể ông lúc nào cũng cực kỳ khỏe mạnh và ông rất vững vàng.

Avez-vous des nouvelles de Guo Yushan et He Peirong, qui ont aidé Chen Guangcheng à s'échapper de chez lui?

Je n'ai pas réussi à contacter Guo Yushan ni He Peirong. Je m'inquiète beaucoup pour eux. Pour moi, ils n'ont violé aucune loi. Ils [les agents de sécurité] n'ont aucune raison de restreindre leur liberté. Je sais que c'est ce qui est pire, d'être "disparu": j'ai goûté à "la disparition" pendant quarante-et-un jours [en 2006]. J'ai été très mal traité pendant cette période.

Ông có tin tức gì về Guo Yushan và He Peirong, những người đã giúp Trần Quang Thành trốn khỏi nhà ông ấy?

Tôi không làm cách gì liên hệ được với Guo Yushan hoặc He Peirong. Tôi lo cho hai người lắm. Như trường hợp tôi, bọn họ không vi phạm bất kỳ luật lệ nào. Bọn an ninh cũng không có cớ gì để hạn chế tự do của hai bạn đó. Nhưng đó lại có thể là điều tồi tệ hơn cả, họ có thể bị “mất tích”: tôi đã từng được nếm chuyện ” mất tích” trong bốn mươi mốt ngày (năm 2006). Thời kỳ đó, họ hành hạ tôi ghế gớm lắm.

He Peirong a disparu depuis 11 h 10 vendredi matin, cela fait déjà soixante-douze heures. J'ai contacté Guo Yushan pour la dernière fois à 22 heures vendredi soir, puis il n'y a plus eu signe de sa part depuis samedi matin. Guo Yushan était suivi depuis jeudi après-midi. Il habitait dans des hôtels pour ne pas avoir de problèmes. J'admire énormément ce qu'ils ont fait. Ce sont de vrais frères.

Cô He Peirong đã mất tích từ 11giờ10 sáng thứ sáu, tình đến lúc này là 72 tiếng đồng hồ rồi. Lần cuối cùng tôi liên lạc được với anh Guo Yushan là hồi 22 giờ đêm thứ sáu, sau đó thì không có dấu tích gì của anh kể từ sáng thứ bảy. Guo Yushan bị theo dõi từ chiều thứ năm. Anh ở trong các khách sạn để tránh rắc rối. Tôi vô cùng khâm phục những gì hai bạn đó đã làm. Huynh đệ thực sự là thế đấy.

Quand He Peirong a appris que le téléphone de Guo Yushan était éteint, elle a envoyé un tweet vendredi matin pour prendre sur elle toute la responsabilité de l'opération, en sachant tous les risques qu'elle court. De son côté, pour la protéger, Guo Yushan a envoyé via des amis des messages disant que c'était lui qui avait tout organisé, et qu'elle n'avait rien à voir la dedans!
Khi cô He Peirong biết chuyện điện thoại của Guo Yushan bị cắt, sáng thứ sáu cô lên mạng gửi một tin trên trang Tweet để nhận về mình toàn bộ trách nhiệm vụ cứu Trần Quang Thành, dù biết rằng điều đó khiến cô gặp vô vàn nguy cơ. Về phần mình, để bảo vệ cô, anh Guo Yushan cũng viết các thông điệp nói rõ anh là người tổ chức mọi chuyện, cô không dính dáng chút gì hết!


Translated by Đại Phúc


http://www.lemonde.fr/asie-pacifique/article/2012/04/30/affaire-chen-guangcheng-s-ils-avaient-cherche-a-me-forcer-a-parler-je-ne-leur-aurais-rien-dit_1692999_3216.html

Tuesday, May 1, 2012

The Power Shift in China Sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc



The Power Shift in China

Sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc

Cheng Li,
Director of Research, John L. Thornton China Center, Brookings Institute, Washington.
Cheng Li
Giám đốc nghiên cứu, Trung tâm Trung Quốc mang tên John L.Thornton Viện Brookings, Washington.

April 16, 2012

16/4/ 2012
Editor's Note: The recent firing of Chongqing party secretary Bo Xilai and the investigation of his wife for murder has put a renewed spotlight on China’s political succession process. In part one of a three-part YaleGlobal series that analyzes China’s internal divisions and the impact they’ve had on the country’s power structures and foreign policy, Cheng Li examines the latest trends in Chinese leadership.

Lời biên tập viên: Sự loại bỏ bí thư đảng ủy Trùng Khánh, Bạc Hy Lai, gần đây và việc điều tra vợ ông về tội giết người đã gây chú ý mới về quá trình kế thừa chính trị của Trung Quốc. Trong phần một của loạt bài ba phần trên YaleGlobal phân tích việc chia rẽ nội bộ của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó lên cơ cấu quyền lực của đất nước và chính sách đối ngoại, Cheng Li xem xét các xu hướng mới nhất trong giới lãnh đạo Trung Quốc.


Soldiers of the Chinese People's Liberation Army (PLA) march in front of the Great Hall of the People.

Những người lính của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) diễu hành trước Đại lễ đường nhân dân.

The spectacular fall of Bo Xilai, a charismatic but notoriously ambitious Politburo member, is only the latest episode in the Middle Kingdom’s long history of power politics. Still, the prevailing views of overseas China analysts have changed dramatically in response. Prior to the Bo crisis, many believed that Chinese political institutionalization was sufficiently developed to make the upcoming leadership succession as smooth and orderly as the previous one in 2002. Now, as the crisis unfolds, many regard Bo’s dismissal as just another political purge, a restoration of the normal pattern of vicious power struggle.

Sự thất sủng ngoạn mục của Bạc Hy Lai – một ủy viên Bộ chính trị đầy tham vọng và lừng danh nhưng có sức thu hút quần chúng chỉ là hồi kết trên sân khấu quyền lực và chính trị trong lịch sử lâu đời của Vương quốc ở trung tâm thiên hạ. Mặc dù vậy, quan điểm phổ biến của các nhà phân tích về Trung Quốc ở nước ngoài đã thay đổi đáng kể theo sự kiện này. Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Bạc Hy Lai nhiều người tin rằng nền chính trị Trung Quốc đã được thể chế hóa một cách cần thiết để thực hiện việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo sắp tới một cách êm thắm và trật tự như đã từng diễn ra hồi năm 2002. Còn giờ đây, khi mà cuộc khủng hoảng đã phát lộ thì nhiều người lại nhận định rằng việc bãi nhiệm họ Bạc chỉ là một cuộc thanh trừng chính trị và khôi phục lại hình mẫu thường gặp của những cuộc đấu đá hằn học vì quyền lực.

Both views can be highly misleading, as neither adequately links its analysis of leadership politics to broader shifts of power in present-day China. The challenge for analysts is to provide a balanced, deep-rooted assessment of the trends underlying this recent drama. Three parallel trends in shifting power deserve special attention.

Cả hai cách nhìn nhận trên đều có thể đã rất nhầm lẫn vì lẽ chúng không liên kết một cách đúng đắn những phân tích của mình về chính sách của ban lãnh đạo với sự thay đổi quyền lực ở tầm mức bao quát hơn ở Trung Quốc ngày nay. Thách thức đối với các nhà phân tích chính là phải đưa ra được sự đánh giá có cân nhắc và lập luận sâu sắc về những xu hướng ở phía sau tấn kịch gần đây. Có ba xu hướng của sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc đang song song phát triển và đáng được quan tâm đặc biệt.


The first shift can be expressed as “weak leaders, strong factions.” Over the past two decades China has gradually left behind rule by an all-powerful leader such as Mao Zedong or Deng Xiaoping and embraced a collective form of leadership. Both Jiang Zemin and Hu Jintao were no more than “first among equals” in their respective third and fourth generations of PRC leadership. Their diluted power was partly due to their lack of revolutionary credentials, but mostly a result of changing public opinion and growing institutional constraints.

Sự thay đổi thứ nhất có thể được diễn tả bằng câu “lãnh tụ yếu, phe phái mạnh”. Hơn hai thập kỷ qua Trung Quốc đã dần dần xa rời cách quản trị bởi một vị lãnh tụ có toàn quyền kiểu như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình và tiếp thu hình thức lãnh đạo tập thể. Cả Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào chỉ là “những nhân vật đứng đầu trong số các đồng đẳng cùng trang lứa” không hơn không kém nếu so sánh với các thế hệ thứ ba và thứ tư của lãnh đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Quyền lực bị phân tán của họ một phần có nguyên nhân do sự thiếu bề dày thành tích cách mạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn vì sự thay đổi trong dư luận xã hội và những ràng buộc ngày càng tăng mang tính thể chế.

For example, Chinese bloggers have criticized Hu, fairly or not, for “inaction.” Some prominent Chinese intellectuals even describe his two five-year terms as “a lost decade.” Premier Wen Jiabao is also often considered “weak” and “ineffective.” These criticisms may, not necessarily represent the general public, but they nevertheless undermine the authority of the Hu-Wen administration. Incoming leaders Xi Jinping and Li Keqiang, owing to their lack of achievements and increasing competition from peers, are likely to be even weaker than their predecessors and forced to rely more on collective leadership.

Chẳng hạn như các blogger Trung Quốc đã phê phán Hồ Cẩm Đào, chưa biết là công bằng hay không, rằng ông này là người “thiếu hành động”. Một số trí thức Trung Quốc nổi tiếng còn mô tả hai nhiệm kỳ của họ Hồ như là “một thập kỷ đã mất”. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng thường bị cho là một nhân vật “yếu” và “không hiệu quả”. Những lời chỉ trích này có thể không phản ánh đúng ý kiến của đại chúng nhưng dù sao chăng nữa chúng cũng làm xói mòn uy tín của chính quyền do hai họ Hồ - Ôn đứng đầu. Các lãnh tụ sắp kế nhiệm là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường do thiếu thành tích và sự cạnh tranh gia tăng với những người đồng lứa, có lẽ sẽ còn yếu hơn những người tiền nhiệm và do vậy sẽ buộc phải dựa nhiều hơn vào sự lãnh đạo tập thể.

Collective leadership naturally makes factional politics more dynamic. The Chinese Communist Party leadership is now structured around what can be called “one party, two coalitions” in which the two balance each other’s power. The two factions can be labeled the “populist coalition,” led by Hu, and the “elitist coalition,” which emerged in the Jiang era and is currently led by Wu Bangguo, chairman of the national legislature.

Sự lãnh đạo tập thể tất nhiên sẽ làm cho các phe phái chính trị năng động hơn. Lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc hiện nay được xây dựng theo cách thức “một đảng, hai liên minh”, trong đó các liên minh lại tìm cách cân bằng quyền lực lẫn nhau. Có thể đặt tên cho liên minh do Hồ Cẩm Đào đứng đầu là “dân túy” , còn liên minh “giới tinh hoa, ưu tú” xuất hiện từ thời Giang Trạch Dân hiện nay do Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Quốc Vụ Viện đứng đầu.

The elitist coalition consists of princelings – leaders who come from high-ranking official family backgrounds – and the so-called Shanghai gang, while the populist coalition consists of former Chinese Communist Youth League officials, known as tuanpai, who comprise Hu’s power base. These two coalitions have contrasting policy priorities. The elitist coalition tends to emphasize economic efficiency and GDP growth, while the populist coalition stands for social justice and social cohesion. In general, the elitist group dominates the economic sectors, representing the coastal region’s interests, while the populist group prevails in party organizations, claiming to voice concerns of the inland region.

Liên minh của giới tinh hoa, ưu tú gồm các nhà lãnh đạo - thái tử, xuất thân từ các gia đình cán bộ cao cấp hay còn gọi là nhóm Thượng Hải, trong khi đó liên minh dân túy bao gồm những cán bộ từng giữ trọng trách ở đoàn thanh niên cộng sản Trung Quốc làm hậu thuẫn cho cơ sở quyền lực của họ Hồ. Hai liên minh chính trị này có những ưu tiên chính trị rất tương phản nhau. Liên minh của giới tinh hoa, ưu tú có xu hướng chú trọng vào hiệu quả kinh tế và sự tăng trưởng GDP, trong khi đó liên minh dân túy lại kiên định với công bằng và đoàn kết xã hội. Nói chung, các nhóm của giới tinh hoa, ưu tú thống lãnh những ngành kinh tế và thể hiện quyền lợi của các vùng duyên hải, trong khi đó nhóm dân túy lại chiếm ưu thế trong các tổ chức đảng và là tiếng nói của những vùng nội địa.

Factional politics, by no means new in the PRC, is no longer a winner-take-all zero-sum game. These two political camps are almost equal in power. They have divided up the seats in the top leadership organizations to reach a near-perfect balance. They also complement each other in terms of expertise. The meteoric falls of two rising stars in the Politburo in recent years – Shanghai Party Chief Chen Lianyu in 2006 and Chongqing Party Chief Bo Xilai in 2012 – are testimonials to the phenomenon of “weak leaders, strong factions.” Factional leaders with scandals can easily be dismissed, but factions are too strong to be dismantled. The leaders replacing Chen and Bo come from the same camps as their predecessors.

Các phe nhóm chính trị không phải là điều gì mới mẻ ở nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, và cũng không còn là cuộc chơi có tổng bằng không, tức là có người thắng cả và có kẻ thua hết. Hai phe phái chính trị đó gần như là cân bằng về quyền lực. Chúng đã chia ghế trong các cơ quan lãnh đạo tối cao nhằm đạt tới một sự gần như là cân bằng hoàn hảo. Hai phe nhóm này còn hỗ trợ nhau về phương diện kinh nghiệm. Việc hai ngôi sao băng rớt khỏi Bộ Chính trị trong những năm gần đây – đó là Bí thư ĐCS Thượng Hải Trần Lương Vũ vào năm 2006 và người đứng đầu ĐCS ở Trùng Khánh Bạc Hy Lai năm 2012 chỉ là minh chứng cho hiện tượng “lãnh tụ yếu, phe nhóm mạnh”. Các lãnh đạo của các phe nhóm hễ bị liên đới tới scandal thì dễ có nguy cơ bị thay thế, nhưng phe nhóm thì lại quá mạnh để khó có thể bị triệt phá. Các nhà lãnh đạo lên thay thế họ Trần và họ Bạc là những người lên từ cùng phe nhóm của người tiền nhiệm.

The second power shift can be described as “weak government, strong interest groups.” The PRC has tremendous financial and political resources, and yet the government faces daunting problems such as economic disparity, inflation, growing local debts, rampant corruption, environmental degradation, resource scarcity, public health insecurity, and ethnic tensions in Xinjiang and Tibet.

Sự thay đổi quyền lực thứ hai có thể được miêu tả bằng câu “chính phủ yếu, các nhóm lợi ích mạnh”. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hiện có những nguồn lực khổng lồ về tài chính và chính trị, tuy nhiên chính phủ lại đang phải đối mặt với những vấn đề như bất bình đẳng về kinh tế, lạm phát, nợ ở cấp địa phương tăng nhanh, tham nhũng không thể kiềm chế, môi trường bị hủy hoại, tài nguyên cạn kiệt, y tế công cộng bấp bênh và căng thẳng sắc tộc ở Tân Cương và Tây Tạng.

The State Council has become less effective in controlling provinces and even key state-owned enterprises. A barb recently circulating online, that “the premier cannot control a general manager,” sums up this problem of the central government’s weakness. Tensions between the two coalitions tend to make the decision-making process lengthier and more complicated, and could at some point even result in deadlock.

Quốc Vụ Viện càng ngày càng trở nên kém hiệu quả trong việc quản lý các tỉnh và ngay cả các xí nghiệp trọng yếu thuộc sở hữu nhà nước. Một câu nói sâu cay gần đây trên mạng đã châm biếm rằng “Đến Thủ tướng cũng không quản lý nổi một Tổng giám đốc”. Gộp tất cả những biểu hiện đó lại cho thấy vấn đề về sự yếu kém của chính phủ trung ương. Sự căng thẳng giữa hai phe nhóm có vẻ như làm cho quá trình ra quyết định mất nhiều thời gian và phức tạp hơn, thậm chí theo một góc độ nào đấy đang gây ra sự bế tắc.


More importantly, never in the six-decade history of the PRC have interest groups been as powerful as they are now. For example, various players associated with property development have emerged as one of the most powerful special-interest groups, explaining why it took 13 years for China to pass the anti-monopoly law, why the macroeconomic control policy of the last decade was largely ineffective, and why the widely perceived property bubble was allowed to expand.

Điều quan trọng là chưa bao giờ trong lịch sử 60 năm của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa các nhóm lợi ích lại hùng mạnh như bây giờ. Ví dụ như một vài nhân vật có liên quan tới phát triển bất động sản đã xuất hiện như một nhóm lợi ích mạnh đặc biệt. Điều này giải thích vì sao phải mất tới 13 năm Trung Quốc mới thông qua được Luật chống độc quyền, vì sao việc quản lý kinh tế vĩ mô trong thập kỷ gần đây lại rất kém hiệu quả và vì sao bong bóng bất động sản xảy ra trên diện rộng lại được phép bành trướng.


Perhaps the most controversial shift in power is the third one, “weak party, strong country.” The CCP is the world’s largest ruling party, consisting of 3.9 million grassroots branches and 80 million members. In the absence of organized opposition, the party seems unchallengeable. But a close reading of the CCP’s official discourse reveals a sense of imminent crisis of legitimacy. The directives adopted at the Fourth Plenary Session of the 17th Central Committee in 2009 explicitly acknowledged that many problems internal to the party are exacerbated by new domestic and international circumstances, “severely weakening the Party’s creativity, unity and effectiveness.” These directives described intra-party democracy as the “lifeblood of the Party.”

Có lẽ sự thay đổi quyền lực thứ ba mới là điều gây tranh cãi nhất, nó được định danh bởi cụm từ “đảng yếu, đất nước mạnh”. Đảng cộng sản Trung Quốc là một đảng cầm quyền lớn nhất thế giới với 3,9 triệu đảng bộ cơ sở và 80 triệu đảng viên. Không tồn tại lực lượng đối lập có tổ chức nên đảng dường như chẳng gặp bất cứ một thách thức nào. Thế nhưng đọc kỹ các diễn văn chính thức của ĐCS lại thấy toát lên cảm giác của một cuộc khủng hoảng về tính chính danh sắp diễn ra. Những chỉ thị được Hội nghị Trung ương 4 khóa 17 của ĐCS năm 2009 đã công khai thừa nhận rằng có nhiều vấn đề nội bộ đảng đã trở nên trầm trọng hơn trong bối cảnh của tình hình trong nước và quốc tế mới có những tác động “làm suy yếu nghiêm trọng sức sáng tạo, sự nhất trí và hiệu lực của đảng”. Các chỉ thị đó đã nêu rõ dân chủ nội bộ của đảng chính là “nhân tố quyết định sự tồn tại của đảng”.

China’s political reforms, including intra-party democracy, have made almost no progress in the past three years. This may be attributed to two factors: First, the 2008 global financial crisis tarnished the Western brand, leading some left-wing Chinese intellectuals to claim credit for superiority of one-party rule in China. Second, the Arab Spring rattled the party leadership, who worry about similar protests at home.


Cải cách chính trị ở Trung Quốc, bao gồm việc mở rộng dân chủ trong đảng hầu như không có tiến bộ gì trong 3 năm gần đây. Điều này có thể vì mấy nguyên nhân sau: thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã làm ô uế thương hiệu phương Tây dẫn tới việc một số trí thức có xu hướng tả khuynh ở Trung Quốc hô hào tính ưu việt của chế độ một đảng lãnh đạo ở Trung Quốc. Thứ hai là, những cuộc nổi dậy của mùa Xuân Ả rập đã làm lãnh đạo đảng lo sợ rằng điều tương tự sẽ xảy ra ngay tại nhà mình.


That China’s spending on “maintaining social stability” in 2009 was almost identical to the country’s total national defense budget is a sign of weakness. Coupled with the Bo episode, the party’s reputation is damaged. Large-scale outflows of capital, presumably from corrupt officials, in recent years further indicate a lack of confidence among party elites. On top of that, the recent demand for constitutionalism among liberal intellectuals, as well as several military officers’ call for a state army rather than a party army, constitute new challenges to CCP rule.

Bởi vậy các khoản chi cho “ gìn giữ ổn định xã hội” năm 2009 gần như cũng bằng ngân sách quốc phòng đã cho thấy đây lại là dấu hiệu của sự yếu kém. Kết hợp với hồi kịch Bạc Hy Lai thì uy tín của đảng đã bị thương tổn. Dòng tiền có quy mô lớn đổ ra ngoài, mà có lẽ là tiền của các quan tham trong những năm gần đây càng cho thấy sự thiếu vắng lòng tin trong hàng ngũ tầng lớp trên của đảng. Trên tất cả những điều đó là đòi hỏi do các trí thức dân chủ và một số sĩ quan quân đội đưa ra về tính hợp hiến của việc quân đội là của quốc gia chứ không phải quân đội là của đảng, và đây mới chính là một thách thức mới đối với ĐCS Trung Quốc.

Troubles within the CCP leadership do not indicate that China as a whole is weak. Among the profound differences between the Tiananmen incident in 1989 and the Bo crisis is that in the latter case, at least so far, China’s economy and society have been hardly disrupted. This reflects the maturity of Chinese society and the country’s strength.


Những rắc rối trong nội bộ lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc không chỉ ra rằng Trung Quốc nhìn chung là yếu. Trong số những khác biệt sâu sắc giữa sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và cuộc khủng hoảng Bạc Hy Lai đã cho thấy rằng qua vụ việc gần đây , ít nhất cho tới nay, kinh tế và xã hội Trung Quốc đã trở nên hầu như không thể tách rời. Điều này phản ánh sự trưởng thành của xã hội Trung Quốc và sức mạnh của nó.


Although these shifts in power have caused new tensions in the PRC’s governance and a sense of uncertainty, viewed from a broader perspective they should be considered encouraging developments. Factional checks and balances within the leadership, dynamic interest groups, and the widely-shared perception of China as a rising power could all become factors in a democratic transition. In the near future, the focus of China analysts should not only be on how effectively the CCP leadership uses legal procedures to deal with the Bo case, but also whether the leadership can boldly adopt more electoral mechanisms in its selection of senior leaders and search for new sources of legitimacy.

Mặc dù những thay đổi trong quyền lực đã gây nên những căng thẳng mới trong giới lãnh đạo Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một cảm giác về sự bất định, thế nhưng hướng về một viễn cảnh rộng lớn hơn thì những thay đổi đó được nhìn nhận như những phát triển rất đáng khích lệ. Kiềm chế và cân bằng lực lượng giữa các phe nhóm trong lãnh đạo, các nhóm lợi ích năng động và nhận thức được chia sẻ rộng rãi về Trung Quốc như một thế lực đang lên, tất cả những yếu tố đó sẽ là điều phải tính đến trong quá trình chuyển biến dân chủ. Trước mắt, mối quan tâm của các nhà phân tích về Trung Quốc không nên chỉ tập trung vào việc liệu lãnh đạo ĐCS Trung Quốc sử dụng các thủ tục pháp lý để xử lý vụ Bạc Hy Lai hiệu quả tới đâu mà còn phải xem liệu ban lãnh đạo có thể táo bạo chấp nhận nhiều cơ chế bầu cử khác nữa trong việc chọn ra các lãnh đạo cao cấp và tìm kiếm những nguồn tài nguyên mới cho tính chính danh của mình.


Translated by  Phạm Gia Minh


http://www.brookings.edu/articles/2012/0416_china_xilai_li.aspx