|
|
|
|
This Week at War:
NIMBYs in the South China Sea
|
Làn sóng phản ứng
các căn cứ Mỹ trên biển Đông
|
|
Where will the Pentagon put its Pacific marines?
|
Đâu sẽ là nơi Lầu Năm Góc đặt căn cứ thủy quân lục chiến
trong vùng Thái Bình Dương?
|
|
BY ROBERT HADDICK | APRIL 27, 2012
|
BY ROBERT HADDICK | 27/4/2012
|
|
With this week's news that the United States has finally
reached an agreement to cut the number of Marines stationed on the Japanese
island of Okinawa, an ongoing standoff in the South China Sea between a
Philippine Coast Guard cutter and a Chinese ocean surveillance ship, which is
now in its third week, has taken on added significance.
|
Tin tức tuần này cho hay, cuối cùng Mỹ đã đạt được thỏa
thuận cắt giảm quân số lực lượng thủy quân lục chiến trú đóng tại đảo Okinawa
(Nhật), và cuộc giằng co vẫn tiếp diễn trên biển Đông giữa tàu tuần duyên
Philippines và tàu hải giám Trung Quốc, nay bước sang tuần thứ ba, đã làm cho
tình hình thêm nóng.
|
|
The incident began in early April when the crew of a small
Philippines warship attempted to arrest some Chinese men for illegal fishing
near the disputed Scarborough Shoal, 124 miles northwest of Luzon. China
quickly dispatched two surveillance ships and blocked the arrest of the men,
who slipped away. China later recalled one its ships and Manila replaced its
warship with the cutter, which defused the crisis a bit. In Beijing, the
Philippine charge d'affaires has twice been summoned to the foreign ministry
to receive lectures on why the rocks under dispute fall within China's
"inherent territory."
|
Sự cố phát sinh từ đầu tháng 4 khi lực lượng trên một tàu
chiến nhỏ của Philippines cố chặn bắt một số ngư dân Trung Quốc đang đánh bắt
thủy sản trái phép gần bãi cạn Scarborough trong vòng tranh chấp, cách đảo
Luzon của Philippines 124 dặm về phía tây bắc. Trung Quốc nhanh chóng điều
hai tàu hải giám đến hiện trường, ngăn cản việc bắt giữ, và giải thoát thành
công ngư dân của mình. Sau đó, Trung Quốc đã rút bớt một tàu và Manila thay
tàu chiến bằng một tàu tuần duyên, cuộc khủng hoảng lắng dịu được đôi chút.
Tại Bắc Kinh, đại biện Philippines hai lần bị triệu tập đến Bộ Ngoại giao
Trung Quốc để nghe giải thích vì sao bãi đá ngầm đang tranh chấp này lại hoàn
toàn thuộc về “lãnh thổ không thể tách rời” của Trung Quốc.
|
|
With this as a backdrop, "Balikatan 2012," a
10-day U.S.-Philippine military training exercise, began on April 16. The
28th annual iteration of the exercise this year included a variety of
maneuvers, including a simulated capture of an island by Philippine and U.S.
Marines, staged in daylight for a large media contingent on Palawan Island,
facing the South China Sea. Besides U.S. and Philippine military forces,
Balikatan 2012 also included a command post exercise conducted with
representatives from the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN).
|
Trong bối cảnh đó, cuộc tập trận quân sự mang tên
“Balikatan 2012″ của Mỹ-Philippines kéo dài 10 ngày đã bắt đầu từ ngày 16
tháng 4. Cuộc tập trận định kỳ hàng năm lần thứ 28 này gồm nhiều nội dung
diễn tập khác nhau, trong đó có cuộc tiến công giả định tái chiếm một hòn đảo
bởi lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ và Philippines, được tiến hành vào ban
ngày cho đông đảo phóng viên tường thuật trên đảo Palawan, nhìn ra biển Đông.
Bên cạnh các lực lượng quân sự Mỹ và Philippines, tập trận Balikatan 2012 còn
có nội dung diễn tập bộ chỉ huy, tiến hành cùng với các đại diện từ Hiệp hội
các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
|
|
Philippine President Benigno Aquino used the flurry created
by these events to warn his country's neighbors over China's aggressiveness
in the South China Sea. "They claim this entire body of water
practically. Look at what is excluded and what they are claiming,"
Aquino told reporters as he pointed to a map of the area. "So how can
the others not be fearful of what is transpiring?" After the military
exercises wrap up, Aquino's foreign minister will be off to Washington for
consultations with U.S. officials.
|
Nhân dịp những sự kiện nói trên, Tổng thống Philippines
Benigno Aquino đã cảnh báo các nước láng giềng về sự gây hấn của Trung Quốc
tại biển Đông. “Trên thực tế, họ (Trung Quốc) tuyên bố chủ quyền toàn bộ vùng
biển này. Hãy nhìn những gì họ đang yêu sách chủ quyền và những gì còn lại”,
ông Aquino nói với các phóng viên khi ông chỉ vào một bản đồ khu vực. “Thế
thì làm sao các nước khác không khỏi lo ngại về những gì đang xảy ra”. Sau
khi cuộc tập trận quân sự kết thúc, vị ngoại trưởng của chính phủ Aquino sẽ
bay đi Washington để tham vấn với các quan chức Mỹ.
|
|
If Aquino and his ASEAN colleagues are to have the
confidence to stand up to China, few would dispute that they will require
diplomatic support from the United States. Indeed, in 2010, when several
members openly pushed back against Beijing at two ASEAN Regional Forum
meetings in Hanoi, U.S. Secretary of State Hillary Clinton and then Secretary
of Defense Robert Gates were there to back them up. Since then, Southeast
Asian leaders who are attempting to handle China's assertions seem to have
warmed up to the idea of a more visible U.S. military presence in the area.
For the South China Sea, that would mean a U.S. Navy and Marine presence to
support Washington's partners in ASEAN. The challenge for all of these
players is how to arrange this supporting presence so that it is credible yet
also politically sustainable.
|
Nếu ông Aquino và các vị đồng nhiệm trong ASEAN có đủ tự
tin đương đầu với Trung Quốc, những ai phản đối yêu cầu có thêm sự ủng hộ về
mặt ngoại giao của Mỹ chỉ là con số nhỏ. Thực vậy, hồi năm 2010, khi một vài
thành viên ASEAN công khai chỉ trích Bắc Kinh ở hai phiên họp Diễn đàn An
ninh Khu vực (ARF) tổ chức tại Hà Nội, ngoại trưởng Hillary Clinton và bộ
trưởng quốc phòng Robert Gates có mặt tại đây đã lần lượt lên tiếng ủng hộ
lập trường của các nước này. Kể từ đó, lãnh đạo các nước Đông Nam Á, vốn đang
nỗ lực đối phó với những đòi hỏi chủ quyền từ phía Trung Quốc, dường như đã
hâm nóng ý tưởng về việc cần sự hiện diện quân sự rõ ràng hơn của Mỹ trong
khu vực. Đối với biển Đông, điều này có nghĩa cần sự hiện diện của hải quân
và thủy quân lục chiến Mỹ nhằm hỗ trợ các đối tác của Washington trong khối
ASEAN. Thách thức đối với các các nước trong cuộc là, làm thế nào để bố trí
sự hiện diện quân sự hỗ trợ này, không những đáng tin cậy mà phải bền vững về
mặt chính trị.
|
|
Unfortunately, the Pentagon has still not figured out where
it will base its Marine Corps units in the Pacific. A work-in-progress since
the 1990s, version after version of Marine basing plans have gone down in
flames, including a 2010 debacle that took down the prime minister of Japan.
U.S. partners around the South China Sea want a stabilizing U.S. presence,
something Washington wants to provide. But the Pentagon won't be able to show
exactly how it will support that mission until it finally determines where it
is going to actually put its Marines.
|
Đáng tiếc, Lầu Năm Góc vẫn chưa xác định nơi sẽ đặt căn cứ
cho các đơn vị thủy quân lục chiến trong vùng Thái Bình Dương. Một công việc
vẫn đang tiến hành từ thập niên 1990 là kế hoạch lập căn cứ lâu dài cho lực
lượng thủy quân lục chiến Mỹ, hết bản kế hoạch này đến bản kế hoạch khác bị
hủy bỏ, trong đó phải kể đến sự thất bại khi không di dời được căn cứ Mỹ ra
khỏi Okinawa hồi năm 2010, khiến thủ tướng Nhật lúc đó [ông Yukio Hatoyama]
phải từ chức. Các đối tác của Mỹ xung quanh khu vực biển Đông muốn có một sự
hiện diện ổn định của Mỹ trong khu vực, đó cũng là điều Mỹ muốn thực hiện.
Thế nhưng, Lầu Năm Góc không thể cho biết chính xác làm thế nào Mỹ có thể đảm
đương sứ mệnh này cho đến khi Mỹ xác định rốt ráo nơi sẽ là địa điểm thực sự
cho lực lượng thủy quân lục chiến lập căn cứ.
|
|
Planners now agree that the Marine presence on Okinawa
will shrink. The 2006 version of the plan would have transferred 8,600
Marines and 9,000 dependents about 1,500 miles southeast to Guam, a move that
would have required $21.1 billion in construction costs to complete. The
Marine Corps presence on Okinawa has become too politically toxic for the
Japanese government. In addition, some military analysts fear that in a
shooting war with China, missile strikes could close U.S. air bases and ports
on the island, preventing the Marine infantrymen there from getting to where
they might be needed. Meanwhile, the bill for the huge buildup on Guam came
in much too high and would have concentrated too many assets on one spot.
Last year, Senators Carl Levin, John McCain, and James Webb objected to the
Guam plan and demanded a rewrite.
|
Hiện nay, các nhà hoạch định đồng ý rằng sự hiện diện của
thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Okinawa nên được thu hẹp. Bản kế hoạch năm
2006 đề xuất chuyển 8.600 lính thủy quân lục chiến và 9.000 thân nhân theo
cùng đến đảo Guam, cách Okinawa 1.500 dặm về phía đông nam, với khoản chi phí
xây dựng hoàn tất lên đến 21,1 tỷ USD. Sự hiện diện của thủy quân lục chiến
Mỹ trên đảo Okinawa đã trở thành vấn đề quá đau đầu về phương diện chính trị
đối với chính phủ Nhật. Thêm vào đó, một số nhà phân tích quân sự lo ngại
trường hợp xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, các cuộc tấn công bằng tên lửa
sẽ khóa chặt các hải cảng và căn cứ không quân của Mỹ trên đảo Okinawa, ngăn chặn
lực lượng trên bộ của thủy quân lục chiến Mỹ triển khai quân đến những nơi
cần thiết. Trong khi đó, phí tổn để xây căn cứ quy mô lớn tại Guam đã vượt
quá cao, sẽ gây nên tình trạng tập trung quá nhiều nguồn lực vào một địa
điểm. Năm ngoái, các thượng nghị sĩ Carl Levin, John McCain và James Webb đã
phản đối kế hoạch Guam, và yêu cầu soạn lại một kế hoạch khác.
|
|
The latest plan scales back the Guam move to 4,700 Marines
with 2,700 more moving to existing bases in Hawaii. That will reduce the
Pentagon's Guam construction bill. However, Levin, McCain, and Webb still
want to know how the latest basing proposal, "relates to the broader
strategic concept of operations in the region."
|
Kế hoạch mới nhất giảm bớt quân số thủy quân lục chiến
chuyển đến Guam xuống còn 4.700 lính, và 2.700 lính còn lại sẽ chuyển đến các
căn cứ hiện có tại Hawaii. Kế hoạch này sẽ giúp giảm bớt chi phí xây dựng tại
Guam cho Lầu Năm Góc. Tuy nhiên, các thượng nghị sĩ Levin, McCain và Webb vẫn
muốn biết đề xuất lập căn cứ mới đây “có liên quan thế nào đến quan điểm
chiến lược mở rộng hơn các hoạt động của quân đội Mỹ trong khu vực”.
|
|
Providing a forward presence in places like the South
China Sea and reacting to military and humanitarian crises will be the major
missions for the Marine Corps in the Pacific. How best to position Marine
units to accomplish these tasks remains unsettled.
|
Triển khai sự hiện diện tích cực tại những nơi như biển
Đông, ứng phó với các cuộc khủng hoảng quân sự và nhân đạo sẽ là sứ mệnh chủ
yếu của thủy quân lục chiến Mỹ trong vùng Thái Bình Dương. Làm thế nào có
được căn cứ tốt nhất cho các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ để họ hoàn thành
nhiệm vụ vẫn là vấn đề chưa giải quyết được.
|
|
Aquino seems to welcome a stepped-up U.S. military profile
in his neighborhood. But that doesn't mean he wants a return to the large and
politically overbearing bases the United States operated in the Philippines
until 1992, when a political consensus in the country threw the U.S. forces
out. It is likely that a majority on Okinawa would follow suit, if they had
the authority to do so.
|
Tổng thống Aquino có vẻ hoan nghênh sự tăng cường binh lực
Mỹ chung quanh Philippines. Nhưng điều đó không có nghĩa ông ấy muốn có sự hiện
diện trở lại những căn cứ khổng lồ mang tính áp đặt chính trị của Mỹ từng
hoạt động trên lãnh thổ Philippines cho đến năm 1992, thời điểm mà sự đồng
thuận chính trị của quốc gia này buộc các lực lượng Mỹ phải ra đi. Có khả
năng đa số cộng đồng dân cư trên đảo Okinawa sẽ theo đuổi việc kiện ra tòa
nếu họ có thẩm quyền làm điều đó.
|
|
The political path of least resistance will be to relocate
overseas units back to bases in the United States (something almost all
congressmen will welcome) and then fly or sail these units back out on
relatively short-term deployments and training exercises in partner
countries. Darwin, Australia, is already preparing to eventually host up to
2,500 Marines on six-month rotational deployments. The Philippines may soon
roll out a similar welcome mat. Other countries in the region may follow.
|
Con đường chính trị ít vấp phải sự chống đối nhất sẽ là
tái bố trí các đơn vị hoạt động ở nước ngoài trở về các căn cứ trên đất Mỹ
(là điều hầu hết các nghị sĩ quốc hội sẽ hoan nghênh), sau đó các đơn vị này
sẽ được vận chuyển bằng đường biển hoặc đường hàng không đến các địa điểm
triển khai quân tương đối ngắn hạn và tập trận tại các quốc gia đối tác.
Darwin (Úc) là nơi đã và đang chuẩn bị đón nhận một lực lượng lên tới 2.500
lính thủy quân lục chiến Mỹ đến triển khai luân phiên 6 tháng mỗi lần.
Philippines có thể sớm trải thảm chào đón các lực lượng Mỹ với cách thức
tương tự. Tiếp theo có thể là các nước khác trong khu vực.
|
|
In addition to reducing the corrosiveness of large foreign
bases such as those in Okinawa and formerly in the Philippines, the
rotational deployment method has other benefits. It will condition U.S.
military forces and planners to an expeditionary mind-set. Logisticians will
further improve their already formidable skills at moving military units
around the world, skills that will always be handy during crises. Military
units will learn to become more nimble, adaptable, and flexible, increasing
their usefulness during crises. With deployments as the standard model, U.S.
military personnel will become acquainted with a wider variety of foreign
partners than they would under a static basing scheme. And when units are not
deployed, they will be back at bases in the United States, which will have
better training facilities and better family accommodations than those
overseas.
|
Bên cạnh giảm bớt tác động tiêu cực của những căn cứ lớn ở
nước ngoài như Okinawa và Philippines trước đây, cách triển khai quân luân
phiên còn có một số lợi ích khác: Nó tạo điều kiện cho các nhà hoạch định và
lực lượng quân sự Mỹ quen với tư duy viễn chinh. Giới chuyên gia hậu cần sẽ
phải cải thiện hơn nữa những kỹ năng hết sức phức tạp trong công tác vận
chuyển các đơn vị quân đội đi khắp thế giới, những kỹ năng này luôn hữu ích
trong những cuộc khủng hoảng. Các đơn vị quân đội Mỹ sẽ phải học cách trở nên
linh hoạt hơn, thích nghi tốt hơn và nhanh nhẹn hơn, nâng cao năng lực ứng
phó với những cuộc khủng hoảng. Với cách triển khai quân theo mô hình chuẩn
nói trên, quân nhân Mỹ sẽ trở nên quen thuộc với các đối tác nước ngoài khác
nhau nhiều hơn so với lúc đóng căn cứ cố định. Khi không triển khai quân, các
đơn vị này sẽ trở về căn cứ tại Mỹ, nơi có những cơ sở huấn luyện tốt hơn,
gần gũi với gia đình hơn khi đóng quân ở nước ngoài.
|
|
The deployment approach has its risks. U.S. naval and air
forces face increasing challenges from long-range, anti-ship, and
anti-aircraft missiles. The ability of some adversaries to use these missiles
to impose "anti-access, area denial" measures against the movement
of U.S. reinforcements into crisis areas would be especially troubling for
the deployment model. From a diplomatic perspective, some will question
whether a U.S. strategy that relies more on distant deployments and less on a
permanent forward troop presence will be sufficiently reassuring to partners
who might be under stress from a strong nearby neighbor like China.
|
Cách triển khai quân này cũng có những rủi ro. Lực lượng
không quân và hải quân Mỹ sẽ đối mặt với những thách thức gia tăng từ các
loại tên lửa tầm xa, đối không và đối hạm. Khả năng một số lực lượng thù địch
sử dụng tên lửa để áp đặt chiến thuật “chống tiếp cận, phong tỏa khu vực”,
chống lại sự chuyển quân của các lực lượng Mỹ đến tăng cường tại khu vực
khủng hoảng, sẽ đặc biệt gây khó khăn cho mô hình triển khai này. Xét từ viễn
cảnh ngoại giao, một số nước sẽ đặt câu hỏi liệu chiến lược của Mỹ, dựa trên
mô hình triển khai quân từ xa, giảm bớt sự hiện diện quân sự thường trực, có
đủ trấn an các quốc gia đối tác đang trong tình trạng căng thẳng bởi một nước
láng giềng hùng mạnh như Trung Quốc.
|
|
Under a growing missile threat, field commanders will
likely prefer the flexibility afforded by an expeditionary approach compared
to the vulnerability of fixed bases -- such as Okinawa -- located within easy
range of Chinese missiles. The new slimmed-down relocation plan to Guam will
still cost an estimated $8.6 billion, spent on elaborate barracks, family
housing, and training ranges. Instead of building up another increasing
vulnerable fixed base, the Pentagon should consider using that money to
acquire additional Marine amphibious ships and anti-missile destroyers to
protect them. That would boost forward presence and flexibility, which should
be reassuring to both alliance partners and U.S. commanders in the region.
|
Trước nguy cơ bị tên lửa tấn công ngày một tăng, các tư lệnh
chiến trường Mỹ có thể thích sự linh hoạt theo mô hình viễn chinh hơn là đặc
điểm dễ bị tấn công của các căn cứ cố định – chẳng hạn như căn cứ tại Okinawa
– hoàn toàn nằm trong tầm bắn dễ dàng của các tên lửa Trung Quốc. Kế hoạch
tái bố trí mới chuyển quân đến Guam với quy mô tinh gọn hơn, ước tính sẽ vẫn
tiêu tốn đến 8,6 tỷ USD, sẽ chi dùng vào việc xây doanh trại, nhà ở cho gia
đình binh sĩ, thao trường tập bắn. Thay vì xây thêm căn cứ cố định khác đang
ngày càng dễ bị tấn công, Lầu Năm Góc nên xem xét dùng số tiền này trang bị
thêm các loại tàu đổ bộ dành cho thủy quân lục chiến và các tàu khu trục
chống tên lửa nhằm bảo vệ lực lượng này. Điều đó sẽ tăng cường tính linh hoạt
và sự hiện diện tích cực của lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ, giúp củng cố niềm
tin của các đối tác đồng minh và cả những tư lệnh quân đội Mỹ trong khu vực.
|
|
|
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/04/27/this_week_at_war_nimbys_in_the_south_china_sea?page=full
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Wednesday, May 2, 2012
This Week at War: NIMBYs in the South China Sea Làn sóng phản ứng các căn cứ Mỹ trên biển Đông
"S'ils avaient cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien dit" “Nếu bọn họ định ép tôi nói, thì tôi chẳng thèm nói gì với họ cả”
|
|
|
"S'ils avaient
cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien dit"
|
“Nếu bọn họ định ép
tôi nói, thì tôi chẳng thèm nói gì với họ cả”
|
Brice Pedroletti
|
Brice Pedroletti
|
Le Monde.fr | 30.04.2012
|
Le Monde.fr | 30.04.2012
|
|
|
|
Le militant chinois
Hu Jia avait été emprisonné pendant 3 ans et demi pour "incitation à la
subversion de l'Etat". il avait été libéré en juin 2011.
|
Nhà hoạt động dân chủ Trung Quốc Hu Jia đã bị tù
ba năm rưỡi vì
tội "kích động lật đổ nhà nước". Ông đã
được ra tù tháng 6 năm 2011.
|
Joint par téléphone, Hu Jia a raconté, lundi matin 30
avril, au Monde, sa détention de 24 heures, entre samedi après-midi et
dimanche après-midi, après sa rencontre, les jours précédents, avec Chen
Guangcheng, le dissident aveugle réfugié à l'ambassade américaine depuis
jeudi. Agé de 39 ans, libéré en juin 2011 après trois ans et demi de prison
pour "incitation à la subversion de l'État", et toujours privé de
ses droits politiques, Hu Jia considère toutefois qu'il est libre de
s'exprimer, sur les réseaux sociaux, ou dans les médias, car c'est "son
droit constitutionnel".
|
Sáng 30 tháng 4, Hồ Giai nói qua điện thoại với báo Le
Monde về việc ông bị giam giữ 24 tiếng đồng hồ, từ chiều thứ bảy đến chiều
chủ nhật vì mấy ngày trước đó ông có gặp Trần Quang Thành, nhà bất đồng khiếm
thị đang lánh nạn từ hôm thứ năm trong đại sứ quán Hoa Kỳ. Hồ Giai, 39 tuổi, vừa được trả tự do hồi tháng 6 năm
2011 sau ba năm rưỡi bị tù giam vì tội “Kích động lật đổ Nhà nước”, và vẫn
đang trong giai đoạn bị mất quyền công dân, song ông vẫn luôn luôn coi mình là
có quyền tự do biểu đạt ý kiến trên các mạng xã hội hoặc trên các phương tiện
thông tin đại chúng, vì đó là các “quyền hợp hiến” của ông.
|
Deux intermédiaires ont aidé Chen Guangcheng dans sa fuite
: un intellectuel pékinois, Guo Yushan, et une militante basée à Nankin, He
Peirong. Tous deux sont pour l'instant injoignables et auraient été arrêtés.
Le premier anime l'ONG Transition Institute et avait participé aux côtés de
Chen Guangcheng à l'enquête sur les violences de la politique de l'enfant
unique à Linyi (Shandong) en 2005. Il n'a cessé de soutenir le dissident non
voyant et avait publié en 2011, une pétition constituée de plusieurs messages
vidéos d'intellectuels chinois en appelant à sa libération.
|
Có hai người đã giúp Trần Quang Thành đi trốn: một trí
thức Bắc Kinh tên là Guo Yushan và một nhà hoạt động xã hội nữ ở Nam Kinh tên
là He Peirong. Báo chí hiện không bắt liên lạc được với hai người này và có
thể họ đều đã bị bắt. Người thứ nhất lãnh đạo tổ chức phi chính phủ có tên
Viện chuyển tiếp và đã giúp Trần Quang Thành điều tra những bạo lực do chính
sách một con gây ra ở Liêu Ninh (Sơn Đông) hồi năm 2005. Ông này không ngừng
giúp đỡ cho nhà bất đồng khiếm thị và đã công bố vào năm 2011 một kháng nghị
trong đó có chứa nhiều thông điệp có hình ảnh của các nhà trí thức Trung Hoa
yêu cầu thả ông.
|
He Peirong (dont le pseudonyme sur Internet est Pearl),
une jeune professeure d'anglais de Nankin s'est prise de passion pour la
cause de l'avocat aux pieds nus. Elle s'est plusieurs fois rendue aux abords
du village de Dongshigu, où vivait Chen Guangcheng et sa famille, organisant
une "surveillance Internet" de ses heurts avec les gardes grâce à
des internautes qui harcelaient la police locale pour la forcer à intervenir.
C'est elle qui est allée chercher Chen Guangcheng à Dongshigu après qu'il a
franchi le mur de sa maison dimanche puis a rejoint une cachette pendant
plusieurs heures. Les gardes ne se sont pas aperçus de son évasion pendant
plusieurs jours.
|
He Peirong (bí danh trên Internet của cô là Ngọc), là một
nữ giáo viên tiếng Anh trẻ tuổi ở Nam Kinh, là người đã nhiệt thành đi theo
chính nghĩa của luật gia chân đất Trần Quang Thành. Nhiều lần cô đã đến sát làng Dongshigu nơi
Trần Quang Thành sinh sống cùng gia đình, ở đây cô tổ chức ghi lại hình ảnh
để chuyển lên Internet về các vụ đụng độ với công an nhờ các người dùng
internet tìm cách chọc tức cho cảnh sát địa phương tới đàn áp. Chính cô đã đi
tìm Trần Quang Thành ở Dongshigu sau khi ông này leo trốn qua tường nhà mình
hôm chủ nhật và sau đó bí mật đến nơi ẩn náu trong nhiều giờ đồng hồ. Nhiều
ngày sau đó lính gác vẫn chẳng hay biết gì về vụ Trần Quang Thảnh bỏ trốn.
|
Vous avez été arrêté
pendant vingt-quatre heures, comment s'est passé votre détention ?
|
Ông bị bắt giữ trong
hai mươi bốn giờ, vụ này diễn ra như thế nào, thưa ông Hồ Giai?
|
J'ai été emmené samedi à 17 h 30 (sur leur papier, il est
inscrit 17 h50), et libéré à 17 h 50 hier après-midi [dimanche]. J'ai été
conduit au bureau de police de Zhongcang, du district de Dongcheng à Pékin,
mais en fait c'est la division générale de la sécurité d'Etat qui s'occupe de
l'opération (ils ne me l'ont pas dit, mais j'ai entendu leur conversation).
Leur objectif, c'est de savoir quand Chen Guangcheng a quitté Dongshigu,
comment on l'a trouvé, où il était logé à Pékin, quand il est entré à l'ambassade
américaine et quand je l'ai vu.
|
Tôi bị bắt đi hôm thứ bảy hồi 17 h 30 (trên giấy tờ họ ghi
17 h50), và được thả lúc 17 h 50 chiều hôm qua [chủ nhật]. Tôi được dẫn tới
trụ sở công an Zhongcang, quận Dongcheng thành phố Bắc Kinh, nhưng Cục 1 của
cơ quan An ninh Quốc gia làm vụ này (họ không nói với tôi như vậy, nhưng nghe
họ nói với nhau thì tôi biết). Mục đích của họ là muốn biết rõ Trần Quang
Thành đã trốn khỏi Dongshigu hồi nào, làm cách nào đón được ông ấy và ông ta
lẩn trốn ở đâu khi tới Bắc Kinh, ông ấy vào sứ quan Hòa Kỳ khi nào và tôi
trông thấy ông ấy vào hồi nào.
|
Comment avez-vous
été traité?
Au départ, ils n'étaient pas très polis. C'étaient deux
membres de la police criminelle qui m'ont interrogé. Ils m'ont appelé pour
une affaire de sécurité publique, mais ils envoient des policiers de la
criminelle ! Ils sont arrivés avec l'air arrogant, me parlant comme s'ils me
faisaient la leçon. J'ai contre-attaqué et ils se sont calmés petit à petit.
Je n'ai pas été torturé, mais ils ne m'ont pas accordé de repos alors que
j'ai une cirrhose et que j'ai besoin d'être allongé. Quand j'ai appris que
l'enquête était prolongée jusqu'à 24 heures au lieu de 8 heures, j'ai demandé
un temps de repos. Ils n'étaient pas d'accord. J'ai jeté mon bonnet sur leur
bureau.
|
Ông được họ đối xử
ra sao?
Ban đầu bọn họ không được tử tế lắm. Có hai cảnh sát hình
sự hỏi cung tôi. Họ triệu tập tôi để hỏi chuyện an ninh chính trị, nhưng họ
cử người của hình sự tới làm việc! Họ tới với vẻ vênh vang xấc xược, nói với
tôi như lên lớp dạy dỗ tôi. Tôi phản công lại, và họ dần dần cũng nhũn đi.
Tôi không bị tra tấn, nhưng họ không cho tôi nghỉ mặc dù tôi bị sơ gan và tôi
cần được nằm dài nghỉ ngơi. Khi biết là cuộc điều tra sẽ kéo dài tới 24 thay
vì 8 giờ, tôi yêu cầu được nghỉ ngơi. Họ không đồng ý. Tôi ném mũ đang đội
đầu lên bàn của họ.
|
Finalement, ils m'ont trouvé une chaise longue dans le
couloir sur laquelle j'ai dormi pendant 3 heures, pas plus. Mais il faisait
froid dans le couloir, les lampes étaient allumées, il y avait beaucoup de
passages, je n'ai pas pu vraiment dormir. Cette privation du droit au repos est
aussi une forme de torture. Ils m'ont demandé pour les autres [membres du
réseau]. Mais j'ai immédiatement dit que Chen Guangcheng était un citoyen
libre, tout comme He Peirong et Guo Yushan [les deux autres militants qui ont
organisé le voyage à Pékin de Chen Guangcheng].
|
Sau rồi họ phải cho tôi nằm trên một chiếc ghế băng ở
ngoài hành lang và tôi nằm đó ngủ được chừng ba tiếng đồng hồ, thé thôi.
Nhưng ngoài hành lang thì lạnh, đèn lại sáng trưng, người qua lại ầm ầm, thực
sự tôi không ngủ được. Cái lối không cho nghỉ cũng là một thứ tra tấn. Họ hỏi
cung tôi và hỏi thay cho cả những người khác nữa (trong mạng hoạt động).
Nhưng tôi nói ngay với họ rằng Trần Quang Thành là một công dân tự do, cũng
như He Peirong và Guo Yushan [hai nhà hoạt động khác đã tổ chức chuyến đi Bắc
Kinh cho Trần Quang Thắng).
|
La division générale de la sécurité d'Etat considère elle
aussi qu'aucune loi n'a été violée depuis le départ de Chen Guangcheng du
Shandong jusqu'à son entrée dans l'ambassade américaine. Le pouvoir public ne
peut pas intervenir dans le droit privé. C'est pour cela qu'ils manquaient de
justifications solides pour m'interroger. Ils ont donc expliqué que c'était
pour du "renseignement" et des "confirmations". Même
s'ils avaient vraiment cherché à me forcer à parler, je ne leur aurais rien
dit. Et ils ne m'ont pas forcé.
|
Cục 1 của cơ quan An ninh Quốc gia cũng cho là không có
điều luật nào bị vi phạm kể từ khi Trần Quang Thành đi khỏi Sơn Đông cho tới
khi ông ầy vào sứ quan Hoa Kỳ. Công an không có quyền can thiệp vào quyền
riêng tư của công dân. Chính vì thế mà họ thấy thiếu cơ sở chắc chắn để hỏi
cung tôi. Nên họ giải thích cho tôi đây chỉ là “tìm thông tin” và tìm những
“xác nhận” mà thôi. Ngay cả khi họ ép buộc tôi nói, thì tôi cũng chẳng nói gì
với họ hết. Nhưng họ không ép.
|
Une question m'a étonné, c'est quand ils m'ont demandé
"Quand est-ce que Chen Guangcheng a vu l'ambassadeur américain Gary
Locke ?" "Etais-tu présent quand Chen Guangcheng a vu Gary Locke
?" Je ne sais pas si ça veut dire que les agents de la sécurité ont des
sources qui confirment qu'ils se sont vus, ou si c'est juste des fausses
questions pour me tester. Depuis jeudi après-midi, Chen s'est réfugié dans
l'ambassade américaine, car il a été découvert cet après-midi là en compagnie
de Guo Yushan. Il y a même eu une poursuite en voiture. Moi, je suis juste
passé devant l'ambassade vendredi, mais sans y entrer. La police me suivait,
donc ils le savent, et c'est une question stupide.
|
Nhưng khi họ hỏi tôi điều này thì tôi thấy ngạc nhiên
"Trần Quang Thành gặp đại sứ Hoa Kỳ Gary Locke khi nào?" Tôi chưa
biết rõ liệu đó có nghĩa là bọn an ninh đã biết là hai người đó đã gặp nhau,
hay đó là câu hỏi để thăm dò xem tôi có biết gì không. Kể từ buổi chiều hôm
thứ năm, Trần Quang Thành đã trốn được vào sứ quán Hoa Kỳ, vì chiều hôm đó
người ta đã thấy ông ấy đi cùng Guo Yushan. Có cả một chiếc xe hơi đuổi theo
họ nữa. Còn tôi, hôm thứ sáu, tôi có đi ngang sứ quan Hoa Kỳ, nhưng tôi không
vào đó. Công an theo dõi sát tôi, tất họ biết, vậy đó là câu hỏi ngu xuẩn.
|
Vous êtes en
principe encore privé de droits politiques depuis votre sortie de prison en
juin 2011. Qu'est-ce que cela implique?
|
Về nguyên tắc, ông
vẫn còn chưa được hưởng đủ quyền công dân kiể từ sau khi ra tù vào tháng sáu
năm 2011. Điều đó có những hệ quả gì?
|
Ils m'ont dit qu'ils me convoquent parce que j'ai violé
les règlements de la période de privation des droits politiques à laquelle je
suis astreint. Je n'aurais pas du être interviewé par les médias étrangers.
Ils m'ont dit que j'ai été interviewé par Radio France-Internationale, alors
que j'ai accordé au moins une dizaine, voire une vingtaine d'interviews.
|
Họ cho biết họ triệu tập tôi vì tôi vi phạm các quy định
của thời kỳ quản thúc. Lý ra tôi không được trả lời phỏng vấn của các cơ quan
truyền thông nước ngoài. Họ nói tôi đã trả lời đài RFI của Pháp, trong khi
thực ra tôi đã trả lời ít ra là hơn chục lần, có khi hai chục ấy.
|
Je leur ai répondu que cette contrainte de ne pas être
interviewé par les médias étrangers vient du Code de procédure pénale et des
règlements du ministère de la sécurité publique, mais que la Constitution
stipule que j'ai le droit de m'exprimer, de critiquer, de révéler ce que je
souhaite. J'ai le droit de révéler au grand jour les violations de droits par
le gouvernement local chinois par exemple.
|
Tôi trả lời họ rằng điều bó buộc này không cho trả lời các
cơ quan thông tin truyền thông nước ngoài xuất xứ từ Luật thủ tục tố tụng
hình sự và các quy định của Bộ Công an, thế nhưng Hiến Pháp lại quy định tôi có quyền phát biểu ý
kiến và phê phán, được nói rõ những gì tôi mong muốn. Tôi có quyền phơi bày
những vi phạm các quyền con người của chính quyền địa phương chẳng hạn.
|
Ne craignez-vous pas
des représailles si vous continuez de vous exprimer?
J'ai passé trois ans et demi en prison. Je n'ai pas envie
d'y retourner. Mais en même temps, après avoir traversé tout ça, je n'ai plus
peur. Bien sûr que je ne me sens pas bien physiquement, mais même s'ils me
détiennent pour quinze jours, comparé aux 277 jours que j'ai vécu incarcéré,
ce n'est rien ! Ce qui m'inquiète le plus, c'est ma femme, ma fille et ma
mère. Elles se font du mauvais sang pour moi depuis près de dix ans.
|
Ông không sợ nếu cứ
tiếp tục phát biểu thì sẽ bị trả thù à?
Tôi đã ở tù ba năm rưỡi. Tôi không có ý muốn quay trở lại
chốn đó. Nhưng mặt khác, sau khi đã trải qua những thứ đó, tôi thấy mình
chẳng còn sợ cái gì sất. Hiển nhiên là sức khỏe tôi không tốt, nhưng ngay cả
khi họ giam tôi mười lăm ngày đi, so với 277 ngày trong tù, thì chả là cái gì
hết! Tôi lo ngại hơn hết là cho vợ tôi cho con gái tôi và cho mẹ tôi. Gần
mười năm qua họ đã sợ hết vía cho tôi rồi.
|
Avant-hier, quand j'ai été emmené, ma fillette a vu ce
qu'il se passait. Elle a demandé : "Où est-ce qu'il va papa ?" Ma
femme lui a dit que j'allais m'amuser près de la rivière. Elle a répondu :
"C'est pas vrai !" On ne peut plus lui mentir. Quand j'étais en
prison, ma femme lui disait chaque fois qu'elles me rendaient visite, que
papa était dans une crèche pour adultes. Elle répondait : "Il n'a qu'à
changer de vêtement. Alors, il pourra rentrer avec nous !". Personne ne
lui avait expliqué, mais elle comprend toute seule. J'ai vraiment peur de
créer une ombre sur son coeur.
|
Bữa kia, khi họ bắt tôi đi, đứa con gái bé bỏng của tôi đã
thấy hết. Cháu hỏi: "Ba đi đâu hả má?" Vợ tôi bảo cháu là tôi ra bờ
sông chơi. Con gái tôi nói: "Không phải!" Không ai còn có thể nói
dối cháu được nữa. Khi tôi ở tù, mỗi lần cùng cháu đi thăm tôi, vợ tôi bảo
tôi đang ở Nhà trông giữ người lớn tuổi. Cháu nói: "Chỉ cần ba thay quần
áo, thì ba sẽ về nhà với mẹ con mình!". Không ai nói cho cháu biết,
nhưng tự cháu biết hết. Tôi thực sự lo sẽ tạo ra một bóng đen trong trái tim
non nớt ấy.
|
Comment s'est passé
votre rencontre avec Chen Guangcheng?
Les policiers m'ont demandé quand j'avais vu Chen
Guangcheng. Mais ils n'étaient pas intéressés par le contenu de notre
conversation. Quand je l'ai vu, j'étais tellement excité que j'en tremble
encore en y pensant. Il m'a pris dans les bras tellement fort qu'il m'a
soulevé du sol. Malgré sa maladie : il a du sang dans les selles depuis 2006
et n'a pas pu être soigné après sa sortie de prison [en septembre 2010], nous
avons tous peur que cela se transforme en cancer. J'ai vu aussi des blessures
sur ses jambes et sur son corps. Mais son esprit est toujours
extraordinairement fort et il garde le courage.
|
Việc ông gặp Trần
Quang Thành diễn ra như thế nào?
Cảnh sát hỏi tôi xem tôi gặp Trần Quang Thành khi nào.
Nhưng họ không quan tâm tới nội dung hai chúng tôi nói gì với nhau. Khi gặp
ông, tôi vô cùng phấn khích đến độ bây giờ nghĩ lại vẫn thấy mình đang còn
run lên này. Ông ôm chặt lấy tôi, ôm rất chặt, đến độ ông nhấc bổng tôi lên.
Ông bị bệnh nặng: kể từ năm 2006, ông đi ngoài ra máu, và không được chữa
chạy gì sau khi ra tù [tháng chín năm 2010], tất cả chúng tôi đều lo cái đó
sẽ chuyển thành ung thư. Tôi cũng nhìn thấy những vết thương trên dùi và trên
người ông. Nhưng cơ thể ông lúc nào cũng cực kỳ khỏe mạnh và ông rất vững
vàng.
|
Avez-vous des
nouvelles de Guo Yushan et He Peirong, qui ont aidé Chen Guangcheng à
s'échapper de chez lui?
Je n'ai pas réussi à contacter Guo Yushan ni He Peirong.
Je m'inquiète beaucoup pour eux. Pour moi, ils n'ont violé aucune loi. Ils
[les agents de sécurité] n'ont aucune raison de restreindre leur liberté. Je
sais que c'est ce qui est pire, d'être "disparu": j'ai goûté à
"la disparition" pendant quarante-et-un jours [en 2006]. J'ai été
très mal traité pendant cette période.
|
Ông có tin tức gì về
Guo Yushan và He Peirong, những người đã giúp Trần Quang Thành trốn khỏi nhà
ông ấy?
Tôi không làm cách gì liên hệ được với Guo Yushan hoặc He
Peirong. Tôi lo cho hai người lắm. Như trường hợp tôi, bọn họ không vi phạm
bất kỳ luật lệ nào. Bọn an ninh cũng không có cớ gì để hạn chế tự do của hai
bạn đó. Nhưng đó lại có thể là điều tồi tệ hơn cả, họ có thể bị “mất tích”:
tôi đã từng được nếm chuyện ” mất tích” trong bốn mươi mốt ngày (năm 2006).
Thời kỳ đó, họ hành hạ tôi ghế gớm lắm.
|
He Peirong a disparu depuis 11 h 10 vendredi matin, cela
fait déjà soixante-douze heures. J'ai contacté Guo Yushan pour la dernière fois
à 22 heures vendredi soir, puis il n'y a plus eu signe de sa part depuis
samedi matin. Guo Yushan était suivi depuis jeudi après-midi. Il habitait
dans des hôtels pour ne pas avoir de problèmes. J'admire énormément ce qu'ils
ont fait. Ce sont de vrais frères.
|
Cô He Peirong đã mất tích từ 11giờ10 sáng thứ sáu, tình
đến lúc này là 72 tiếng đồng hồ rồi. Lần cuối cùng tôi liên lạc được với anh
Guo Yushan là hồi 22 giờ đêm thứ sáu, sau đó thì không có dấu tích gì của anh
kể từ sáng thứ bảy. Guo Yushan bị theo dõi từ chiều thứ năm. Anh ở trong các
khách sạn để tránh rắc rối. Tôi vô cùng khâm phục những gì hai bạn đó đã làm.
Huynh đệ thực sự là thế đấy.
|
Quand He Peirong a appris que le téléphone de Guo Yushan
était éteint, elle a envoyé un tweet vendredi matin pour prendre sur elle
toute la responsabilité de l'opération, en sachant tous les risques qu'elle
court. De son côté, pour la protéger, Guo Yushan a envoyé via des amis des
messages disant que c'était lui qui avait tout organisé, et qu'elle n'avait
rien à voir la dedans!
|
Khi cô He Peirong biết chuyện điện thoại của Guo Yushan bị
cắt, sáng thứ sáu cô lên mạng gửi một tin trên trang Tweet để nhận về mình
toàn bộ trách nhiệm vụ cứu Trần Quang Thành, dù biết rằng điều đó khiến cô
gặp vô vàn nguy cơ. Về phần mình, để bảo vệ cô, anh Guo Yushan cũng viết các
thông điệp nói rõ anh là người tổ chức mọi chuyện, cô không dính dáng chút gì
hết!
|
Translated by Đại Phúc
|
|
http://www.lemonde.fr/asie-pacifique/article/2012/04/30/affaire-chen-guangcheng-s-ils-avaient-cherche-a-me-forcer-a-parler-je-ne-leur-aurais-rien-dit_1692999_3216.html
|
|
Tuesday, May 1, 2012
The Power Shift in China Sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc
The Power Shift in
China
|
Sự thay đổi quyền
lực ở Trung Quốc
|
Cheng Li,
Director of Research, John L. Thornton China Center, Brookings
Institute, Washington.
|
Cheng Li
Giám đốc nghiên cứu, Trung tâm Trung Quốc mang tên John
L.Thornton Viện Brookings, Washington.
|
April 16, 2012
|
16/4/ 2012
|
Editor's Note: The
recent firing of Chongqing party secretary Bo Xilai and the investigation of
his wife for murder has put a renewed spotlight on China’s political
succession process. In part one of a three-part YaleGlobal series that
analyzes China’s internal divisions and the impact they’ve had on the
country’s power structures and foreign policy, Cheng Li examines the latest
trends in Chinese leadership.
|
Lời biên tập viên: Sự
loại bỏ bí thư đảng ủy Trùng Khánh, Bạc Hy Lai, gần đây và việc điều tra vợ
ông về tội giết người đã gây chú ý mới về quá trình kế thừa chính trị của
Trung Quốc. Trong phần một của loạt bài ba phần trên YaleGlobal phân tích việc
chia rẽ nội bộ của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó lên cơ cấu quyền lực của
đất nước và chính sách đối ngoại, Cheng Li xem xét các xu hướng mới nhất
trong giới lãnh đạo Trung Quốc.
|
|
|
|
Soldiers of the
Chinese People's Liberation Army (PLA) march in front of the Great Hall of
the People.
|
Những người lính của
Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) diễu hành trước Đại lễ đường
nhân dân.
|
The spectacular fall of Bo Xilai, a charismatic but
notoriously ambitious Politburo member, is only the latest episode in the
Middle Kingdom’s long history of power politics. Still, the prevailing views
of overseas China analysts have changed dramatically in response. Prior to
the Bo crisis, many believed that Chinese political institutionalization was
sufficiently developed to make the upcoming leadership succession as smooth
and orderly as the previous one in 2002. Now, as the crisis unfolds, many
regard Bo’s dismissal as just another political purge, a restoration of the
normal pattern of vicious power struggle.
|
Sự thất sủng ngoạn mục của Bạc Hy Lai – một ủy viên Bộ
chính trị đầy tham vọng và lừng danh nhưng có sức thu hút quần chúng chỉ là
hồi kết trên sân khấu quyền lực và chính trị trong lịch sử lâu đời của Vương
quốc ở trung tâm thiên hạ. Mặc dù vậy, quan điểm phổ biến của các nhà phân
tích về Trung Quốc ở nước ngoài đã thay đổi đáng kể theo sự kiện này. Trước
khi xảy ra cuộc khủng hoảng Bạc Hy Lai nhiều người tin rằng nền chính trị
Trung Quốc đã được thể chế hóa một cách cần thiết để thực hiện việc chuyển
tiếp thế hệ lãnh đạo sắp tới một cách êm thắm và trật tự như đã từng diễn ra
hồi năm 2002. Còn giờ đây, khi mà cuộc khủng hoảng đã phát lộ thì nhiều người
lại nhận định rằng việc bãi nhiệm họ Bạc chỉ là một cuộc thanh trừng chính
trị và khôi phục lại hình mẫu thường gặp của những cuộc đấu đá hằn học vì
quyền lực.
|
Both views can be highly misleading, as neither adequately
links its analysis of leadership politics to broader shifts of power in
present-day China. The challenge for analysts is to provide a balanced,
deep-rooted assessment of the trends underlying this recent drama. Three
parallel trends in shifting power deserve special attention.
|
Cả hai cách nhìn nhận trên đều có thể đã rất nhầm lẫn vì
lẽ chúng không liên kết một cách đúng đắn những phân tích của mình về chính
sách của ban lãnh đạo với sự thay đổi quyền lực ở tầm mức bao quát hơn ở
Trung Quốc ngày nay. Thách thức đối với các nhà phân tích chính là phải đưa
ra được sự đánh giá có cân nhắc và lập luận sâu sắc về những xu hướng ở phía
sau tấn kịch gần đây. Có ba xu hướng của sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc
đang song song phát triển và đáng được quan tâm đặc biệt.
|
The first shift can be expressed as “weak leaders, strong
factions.” Over the past two decades China has gradually left behind rule by
an all-powerful leader such as Mao Zedong or Deng Xiaoping and embraced a collective
form of leadership. Both Jiang Zemin and Hu Jintao were no more than “first
among equals” in their respective third and fourth generations of PRC
leadership. Their diluted power was partly due to their lack of revolutionary
credentials, but mostly a result of changing public opinion and growing
institutional constraints.
|
Sự thay đổi thứ nhất có thể được diễn tả bằng câu “lãnh tụ
yếu, phe phái mạnh”. Hơn hai thập kỷ qua Trung Quốc đã dần dần xa rời cách
quản trị bởi một vị lãnh tụ có toàn quyền kiểu như Mao Trạch Đông hay Đặng
Tiểu Bình và tiếp thu hình thức lãnh đạo tập thể. Cả Giang Trạch Dân và Hồ
Cẩm Đào chỉ là “những nhân vật đứng đầu trong số các đồng đẳng cùng trang
lứa” không hơn không kém nếu so sánh với các thế hệ thứ ba và thứ tư của lãnh
đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Quyền lực bị phân tán của họ một phần
có nguyên nhân do sự thiếu bề dày thành tích cách mạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn
vì sự thay đổi trong dư luận xã hội và những ràng buộc ngày càng tăng mang
tính thể chế.
|
For example, Chinese bloggers have criticized Hu, fairly
or not, for “inaction.” Some prominent Chinese intellectuals even describe
his two five-year terms as “a lost decade.” Premier Wen Jiabao is also often
considered “weak” and “ineffective.” These criticisms may, not necessarily
represent the general public, but they nevertheless undermine the authority
of the Hu-Wen administration. Incoming leaders Xi Jinping and Li Keqiang, owing
to their lack of achievements and increasing competition from peers, are
likely to be even weaker than their predecessors and forced to rely more on
collective leadership.
|
Chẳng hạn như các blogger Trung Quốc đã phê phán Hồ Cẩm
Đào, chưa biết là công bằng hay không, rằng ông này là người “thiếu hành
động”. Một số trí thức Trung Quốc nổi tiếng còn mô tả hai nhiệm kỳ của họ Hồ
như là “một thập kỷ đã mất”. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng thường bị cho là một
nhân vật “yếu” và “không hiệu quả”. Những lời chỉ trích này có thể không phản
ánh đúng ý kiến của đại chúng nhưng dù sao chăng nữa chúng cũng làm xói mòn
uy tín của chính quyền do hai họ Hồ - Ôn đứng đầu. Các lãnh tụ sắp kế nhiệm
là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường do thiếu thành tích và sự cạnh tranh gia
tăng với những người đồng lứa, có lẽ sẽ còn yếu hơn những người tiền nhiệm và
do vậy sẽ buộc phải dựa nhiều hơn vào sự lãnh đạo tập thể.
|
Collective leadership naturally makes factional politics
more dynamic. The Chinese Communist Party leadership is now structured around
what can be called “one party, two coalitions” in which the two balance each
other’s power. The two factions can be labeled the “populist coalition,” led
by Hu, and the “elitist coalition,” which emerged in the Jiang era and is
currently led by Wu Bangguo, chairman of the national legislature.
|
Sự lãnh đạo tập thể tất nhiên sẽ làm cho các phe phái
chính trị năng động hơn. Lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc hiện nay được xây
dựng theo cách thức “một đảng, hai liên minh”, trong đó các liên minh lại tìm
cách cân bằng quyền lực lẫn nhau. Có thể đặt tên cho liên minh do Hồ Cẩm Đào
đứng đầu là “dân túy” , còn liên minh “giới tinh hoa, ưu tú” xuất hiện từ
thời Giang Trạch Dân hiện nay do Ngô Bang Quốc, Chủ tịch Quốc Vụ Viện đứng
đầu.
|
The elitist coalition consists of princelings – leaders
who come from high-ranking official family backgrounds – and the so-called
Shanghai gang, while the populist coalition consists of former Chinese
Communist Youth League officials, known as tuanpai, who comprise Hu’s power
base. These two coalitions have contrasting policy priorities. The elitist
coalition tends to emphasize economic efficiency and GDP growth, while the
populist coalition stands for social justice and social cohesion. In general,
the elitist group dominates the economic sectors, representing the coastal
region’s interests, while the populist group prevails in party organizations,
claiming to voice concerns of the inland region.
|
Liên minh của giới tinh hoa, ưu tú gồm các nhà lãnh đạo -
thái tử, xuất thân từ các gia đình cán bộ cao cấp hay còn gọi là nhóm Thượng
Hải, trong khi đó liên minh dân túy bao gồm những cán bộ từng giữ trọng trách
ở đoàn thanh niên cộng sản Trung Quốc làm hậu thuẫn cho cơ sở quyền lực của
họ Hồ. Hai liên minh chính trị này có những ưu tiên chính trị rất tương phản
nhau. Liên minh của giới tinh hoa, ưu tú có xu hướng chú trọng vào hiệu quả
kinh tế và sự tăng trưởng GDP, trong khi đó liên minh dân túy lại kiên định
với công bằng và đoàn kết xã hội. Nói chung, các nhóm của giới tinh hoa, ưu
tú thống lãnh những ngành kinh tế và thể hiện quyền lợi của các vùng duyên
hải, trong khi đó nhóm dân túy lại chiếm ưu thế trong các tổ chức đảng và là
tiếng nói của những vùng nội địa.
|
Factional politics, by no means new in the PRC, is no
longer a winner-take-all zero-sum game. These two political camps are almost
equal in power. They have divided up the seats in the top leadership
organizations to reach a near-perfect balance. They also complement each
other in terms of expertise. The meteoric falls of two rising stars in the
Politburo in recent years – Shanghai Party Chief Chen Lianyu in 2006 and
Chongqing Party Chief Bo Xilai in 2012 – are testimonials to the phenomenon
of “weak leaders, strong factions.” Factional leaders with scandals can
easily be dismissed, but factions are too strong to be dismantled. The
leaders replacing Chen and Bo come from the same camps as their predecessors.
|
Các phe nhóm chính trị không phải là điều gì mới mẻ ở nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, và cũng không còn là cuộc chơi có tổng bằng
không, tức là có người thắng cả và có kẻ thua hết. Hai phe phái chính trị đó
gần như là cân bằng về quyền lực. Chúng đã chia ghế trong các cơ quan lãnh
đạo tối cao nhằm đạt tới một sự gần như là cân bằng hoàn hảo. Hai phe nhóm
này còn hỗ trợ nhau về phương diện kinh nghiệm. Việc hai ngôi sao băng rớt
khỏi Bộ Chính trị trong những năm gần đây – đó là Bí thư ĐCS Thượng Hải Trần
Lương Vũ vào năm 2006 và người đứng đầu ĐCS ở Trùng Khánh Bạc Hy Lai năm 2012
chỉ là minh chứng cho hiện tượng “lãnh tụ yếu, phe nhóm mạnh”. Các lãnh đạo
của các phe nhóm hễ bị liên đới tới scandal thì dễ có nguy cơ bị thay thế,
nhưng phe nhóm thì lại quá mạnh để khó có thể bị triệt phá. Các nhà lãnh đạo
lên thay thế họ Trần và họ Bạc là những người lên từ cùng phe nhóm của người
tiền nhiệm.
|
The second power shift can be described as “weak
government, strong interest groups.” The PRC has tremendous financial and
political resources, and yet the government faces daunting problems such as
economic disparity, inflation, growing local debts, rampant corruption,
environmental degradation, resource scarcity, public health insecurity, and
ethnic tensions in Xinjiang and Tibet.
|
Sự thay đổi quyền lực thứ hai có thể được miêu tả bằng câu
“chính phủ yếu, các nhóm lợi ích mạnh”. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hiện
có những nguồn lực khổng lồ về tài chính và chính trị, tuy nhiên chính phủ
lại đang phải đối mặt với những vấn đề như bất bình đẳng về kinh tế, lạm
phát, nợ ở cấp địa phương tăng nhanh, tham nhũng không thể kiềm chế, môi
trường bị hủy hoại, tài nguyên cạn kiệt, y tế công cộng bấp bênh và căng
thẳng sắc tộc ở Tân Cương và Tây Tạng.
|
The State Council has become less effective in controlling
provinces and even key state-owned enterprises. A barb recently circulating online,
that “the premier cannot control a general manager,” sums up this problem of
the central government’s weakness. Tensions between the two coalitions tend
to make the decision-making process lengthier and more complicated, and could
at some point even result in deadlock.
|
Quốc Vụ Viện càng ngày càng trở nên kém hiệu quả trong
việc quản lý các tỉnh và ngay cả các xí nghiệp trọng yếu thuộc sở hữu nhà
nước. Một câu nói sâu cay gần đây trên mạng đã châm biếm rằng “Đến Thủ tướng
cũng không quản lý nổi một Tổng giám đốc”. Gộp tất cả những biểu hiện đó lại
cho thấy vấn đề về sự yếu kém của chính phủ trung ương. Sự căng thẳng giữa
hai phe nhóm có vẻ như làm cho quá trình ra quyết định mất nhiều thời gian và
phức tạp hơn, thậm chí theo một góc độ nào đấy đang gây ra sự bế tắc.
|
More importantly, never in the six-decade history of the
PRC have interest groups been as powerful as they are now. For example,
various players associated with property development have emerged as one of
the most powerful special-interest groups, explaining why it took 13 years
for China to pass the anti-monopoly law, why the macroeconomic control policy
of the last decade was largely ineffective, and why the widely perceived
property bubble was allowed to expand.
|
Điều quan trọng là chưa bao giờ trong lịch sử 60 năm của
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa các nhóm lợi ích lại hùng mạnh như bây giờ.
Ví dụ như một vài nhân vật có liên quan tới phát triển bất động sản đã xuất
hiện như một nhóm lợi ích mạnh đặc biệt. Điều này giải thích vì sao phải mất
tới 13 năm Trung Quốc mới thông qua được Luật chống độc quyền, vì sao việc
quản lý kinh tế vĩ mô trong thập kỷ gần đây lại rất kém hiệu quả và vì sao
bong bóng bất động sản xảy ra trên diện rộng lại được phép bành trướng.
|
Perhaps the most controversial shift in power is the third
one, “weak party, strong country.” The CCP is the world’s largest ruling
party, consisting of 3.9 million grassroots branches and 80 million members.
In the absence of organized opposition, the party seems unchallengeable. But
a close reading of the CCP’s official discourse reveals a sense of imminent
crisis of legitimacy. The directives adopted at the Fourth Plenary Session of
the 17th Central Committee in 2009 explicitly acknowledged that many problems
internal to the party are exacerbated by new domestic and international
circumstances, “severely weakening the Party’s creativity, unity and
effectiveness.” These directives described intra-party democracy as the
“lifeblood of the Party.”
|
Có lẽ sự thay đổi quyền lực thứ ba mới là điều gây tranh
cãi nhất, nó được định danh bởi cụm từ “đảng yếu, đất nước mạnh”. Đảng cộng
sản Trung Quốc là một đảng cầm quyền lớn nhất thế giới với 3,9 triệu đảng bộ
cơ sở và 80 triệu đảng viên. Không tồn tại lực lượng đối lập có tổ chức nên
đảng dường như chẳng gặp bất cứ một thách thức nào. Thế nhưng đọc kỹ các diễn
văn chính thức của ĐCS lại thấy toát lên cảm giác của một cuộc khủng hoảng về
tính chính danh sắp diễn ra. Những chỉ thị được Hội nghị Trung ương 4 khóa 17
của ĐCS năm 2009 đã công khai thừa nhận rằng có nhiều vấn đề nội bộ đảng đã
trở nên trầm trọng hơn trong bối cảnh của tình hình trong nước và quốc tế mới
có những tác động “làm suy yếu nghiêm trọng sức sáng tạo, sự nhất trí và hiệu
lực của đảng”. Các chỉ thị đó đã nêu rõ dân chủ nội bộ của đảng chính là
“nhân tố quyết định sự tồn tại của đảng”.
|
China’s political reforms, including intra-party
democracy, have made almost no progress in the past three years. This may be
attributed to two factors: First, the 2008 global financial crisis tarnished
the Western brand, leading some left-wing Chinese intellectuals to claim
credit for superiority of one-party rule in China. Second, the Arab Spring
rattled the party leadership, who worry about similar protests at home.
|
Cải cách chính trị ở Trung Quốc, bao gồm việc mở rộng dân
chủ trong đảng hầu như không có tiến bộ gì trong 3 năm gần đây. Điều này có
thể vì mấy nguyên nhân sau: thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm
2008 đã làm ô uế thương hiệu phương Tây dẫn tới việc một số trí thức có xu
hướng tả khuynh ở Trung Quốc hô hào tính ưu việt của chế độ một đảng lãnh đạo
ở Trung Quốc. Thứ hai là, những cuộc nổi dậy của mùa Xuân Ả rập đã làm lãnh
đạo đảng lo sợ rằng điều tương tự sẽ xảy ra ngay tại nhà mình.
|
That China’s spending on “maintaining social stability” in
2009 was almost identical to the country’s total national defense budget is a
sign of weakness. Coupled with the Bo episode, the party’s reputation is
damaged. Large-scale outflows of capital, presumably from corrupt officials,
in recent years further indicate a lack of confidence among party elites. On
top of that, the recent demand for constitutionalism among liberal
intellectuals, as well as several military officers’ call for a state army
rather than a party army, constitute new challenges to CCP rule.
|
Bởi vậy các khoản chi cho “ gìn giữ ổn định xã hội” năm
2009 gần như cũng bằng ngân sách quốc phòng đã cho thấy đây lại là dấu hiệu
của sự yếu kém. Kết hợp với hồi kịch Bạc Hy Lai thì uy tín của đảng đã bị
thương tổn. Dòng tiền có quy mô lớn đổ ra ngoài, mà có lẽ là tiền của các
quan tham trong những năm gần đây càng cho thấy sự thiếu vắng lòng tin trong
hàng ngũ tầng lớp trên của đảng. Trên tất cả những điều đó là đòi hỏi do các
trí thức dân chủ và một số sĩ quan quân đội đưa ra về tính hợp hiến của việc
quân đội là của quốc gia chứ không phải quân đội là của đảng, và đây mới
chính là một thách thức mới đối với ĐCS Trung Quốc.
|
Troubles within the CCP leadership do not indicate that
China as a whole is weak. Among the profound differences between the
Tiananmen incident in 1989 and the Bo crisis is that in the latter case, at
least so far, China’s economy and society have been hardly disrupted. This
reflects the maturity of Chinese society and the country’s strength.
|
Những rắc rối trong nội bộ lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc
không chỉ ra rằng Trung Quốc nhìn chung là yếu. Trong số những khác biệt sâu
sắc giữa sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và cuộc khủng hoảng Bạc Hy Lai đã cho
thấy rằng qua vụ việc gần đây , ít nhất cho tới nay, kinh tế và xã hội Trung
Quốc đã trở nên hầu như không thể tách rời. Điều này phản ánh sự trưởng thành
của xã hội Trung Quốc và sức mạnh của nó.
|
Although these shifts in power have caused new tensions in
the PRC’s governance and a sense of uncertainty, viewed from a broader
perspective they should be considered encouraging developments. Factional checks
and balances within the leadership, dynamic interest groups, and the
widely-shared perception of China as a rising power could all become factors
in a democratic transition. In the near future, the focus of China analysts
should not only be on how effectively the CCP leadership uses legal
procedures to deal with the Bo case, but also whether the leadership can
boldly adopt more electoral mechanisms in its selection of senior leaders and
search for new sources of legitimacy.
|
Mặc dù những thay đổi trong quyền lực đã gây nên những
căng thẳng mới trong giới lãnh đạo Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một cảm giác
về sự bất định, thế nhưng hướng về một viễn cảnh rộng lớn hơn thì những thay
đổi đó được nhìn nhận như những phát triển rất đáng khích lệ. Kiềm chế và cân
bằng lực lượng giữa các phe nhóm trong lãnh đạo, các nhóm lợi ích năng động
và nhận thức được chia sẻ rộng rãi về Trung Quốc như một thế lực đang lên,
tất cả những yếu tố đó sẽ là điều phải tính đến trong quá trình chuyển biến
dân chủ. Trước mắt, mối quan tâm của các nhà phân tích về Trung Quốc không
nên chỉ tập trung vào việc liệu lãnh đạo ĐCS Trung Quốc sử dụng các thủ tục
pháp lý để xử lý vụ Bạc Hy Lai hiệu quả tới đâu mà còn phải xem liệu ban lãnh
đạo có thể táo bạo chấp nhận nhiều cơ chế bầu cử khác nữa trong việc chọn ra
các lãnh đạo cao cấp và tìm kiếm những nguồn tài nguyên mới cho tính chính danh
của mình.
|
Translated by Phạm Gia Minh
|
|
http://www.brookings.edu/articles/2012/0416_china_xilai_li.aspx
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)