|
|
|
Letter from Marx to Arnold Ruge
|
Thư Marx gửi Arnold Ruge
|
in Dresden
|
Viết ở Dresden
|
Written: From a barge on the way to D. March 1843;
First Published: Deutsch-Französische Jahrbücher, 1844;
|
Từ một sà lan trên đường đến D. tháng 3 năm 1843;
Đầu tiên đăng trên Niên giám Pháp-Đức năm 1844;
|
I am now travelling in Holland.
From both the French papers and the local ones I see that Germany has ridden
deeply into the mire and will sink into it even further. I assure you that
even if one can feel no national pride one does feel national shame, even in
Holland. In comparison with the greatest Germans even the least Dutchman is
still a citizen. And the opinions of foreigners about the Prussian
government! There is a frightening agreement, no one is deceived any longer
about the system and its simple nature. So the new school has been of some
use after all. The glorious robes of liberalism have fallen away and the most
repulsive despotism stands revealed for all the world to see.
|
Lúc này tôi đang đi du lịch ở Hà
Lan. Từ các báo Pháp và báo địa phương tôi thấy rằng nước Đức đã bước sâu vào
vũng lầy và sẽ chìm vào nó còn sâu hơn nữa. Tôi đảm bảo với bạn rằng ngay cả khi người ta có thể cảm thấy
không có niềm tự hào quốc gia người ta vẫn cảm thấy sự xấu hổ quốc gia, ngay
cả ở Hà Lan này. So với những người Đức vĩ đại nhất thì thậm chí người Hà Lan
bé nhỏ nhất vẫn là một công dân. Và đó ý kiến của người nước ngoài về chính quyền
Phổ! Có một nhất trí đáng sợ, không ai còn bị lừa dối nữa về hệ thống đó và bản
chất đơn thuần của nó. Vì vậy, rốt cuộc trường phái mới đã có được phần hữu dụng.
Những cái áo choàng vinh quang của chủ nghĩa tự do đã giảm sút và các lập trường
chuyên chế ghê tởm nhất đã lộ diện trước cả thế giới.
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Saturday, November 15, 2014
Letter from Marx to Arnold Ruge Thư Marx gửi Arnold Ruge
Thursday, November 6, 2014
UNITED STATES – VIETNAM RELATIONS 1945-1967 QUAN HỀ MỸ - VIỆT 1945-1967 - Giải mật Hồ sơ Lầu Năm Góc
|
|
|
The Pentagon Papers
UNITED STATES – VIETNAM RELATIONS 1945-1967
Volume 1
|
Giải mật Hồ sơ Lầu Năm Góc
QUAN HỀ MỸ - VIỆT 1945-1967
Phần I
|
Chapter I, "Background to the Crisis, 1940-50,"
|
Chương 1 “Bối cảnh khủng hoảng, 1940-50”
|
translated by Nguyễn Quốc Vĩ
|
|
INDOCHINA IN U.S. WARTIME POLICY, 1941-1945
|
ĐÔNG DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH THỜI CHIẾN CỦA MỸ, 1940-1950
|
Summary
Significant misunderstanding has
developed concerning U.S. policy towards Indochina in the decade of World War
II and its aftermath. A number of historians have held that anti-colonialism
governed U.S. policy and actions up until 1950, when containment of communism
supervened. For example, Bernard Fall (e.g. in his 1967 postmortem book, Last
Reflections on a War) categorized American policy toward Indochina in six
periods: "(1) Anti-Vichy, 1940-1945; (2) Pro-Viet Minh, 1945-1946; (3)
Non-involvement, 1946-June 1950; (4) Pro-French, 1950-July 1954; (5)
Non-military involvement, 1954-November 1961; (6) Direct and full
involvement, 1961- ." Commenting that the first four periods are those
"least known even to the specialist," Fall developed the thesis
that President Roosevelt was determined "to eliminate the French from
Indochina at all costs," and had pressured the Allies to establish an
international trusteeship to administer Indochina until the nations there
were ready to assume full independence.
This obdurate anti-colonialism, in
Fall's view, led to cold refusal of American aid for French resistance
fighters, and to a policy of promoting Ho Chi Minh and the Viet Minh as the
alternative to restoring the French bonds. But, the argument goes, Roosevelt
died, and principle faded; by late 1946, anti-colonialism mutated into
neutrality. According to Fall: "Whether this was due to a deliberate
policy in Washington or, conversely, to an absence of policy, is not quite
clear. . . .
|
Tóm lược
Đã có những sai lầm đáng kể trong
chính sách của Mỹ đối với Đông Dương trong thập niên Thế Chiến II và những hậu
quả gây nên bởi chúng. Một số sử gia đã ghi nhận rằng chính việc chống chủ
nghĩa thực dân đã điều khiển các chính sách và hành động của Mỹ cho đến năm
1950, khi việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trở thành chủ đạo. Ví dụ, Bernard
Fall (trong cuốn sách phát hành năm 1967, sau khi ông qua đời mang tựa “Những suy ngẫm cuối cho một cuộc chiến”
ông phân loại chính sách của Mỹ đối với Đông Dương gồm sáu giai đoạn:
"(1) Chống-Vichy, 1940-1945; (2) Ủng hộ-Việt Minh, 1945-1946; (3) không
can thiệp từ 1946 đến tháng 6 năm 1950; (4) Ủng hộ Pháp, 1950 - Tháng 7 năm
1954; (5) can thiệp dân sự: 1954 - tháng 11 năm 1961; (6) can thiệp trực tiếp
và toàn diện 1961. Bình luận rằng “bốn giai đoạn đầu tiên là những giai đoạn
mà ít người kể cả những chuyên gia biết đến”, Fall còn đưa ra luận thuyết rằng
Tổng thống Roosevelt đã xác định là “phải loại bỏ người Pháp khỏi Đông Dương
bằng mọi giá” và đã làm áp lực trên Đồng Minh ủy thác việc quản trị Đông
Dương cho một tổ chức Quốc Tế cho đến khi các quốc gia ở đó (Việt, Miên, Lào)
sẳn sàng hoàn toàn chịu trách nhiệm về nền Độc Lập của mình. Thái độ chống Thực
Dân một cách ngoan cố này, theo ông Fall, là đã đưa đến việc lạnh nhạt từ chối
giúp đỡ phe kháng chiến Việt Nam chống Pháp và [từ chối] một đường lối nhằm
nâng đỡ Hồ Chí Minh và Việt Minh như là một giải pháp để thay thế cho việc
tái lập gông cùm của Pháp. Tuy nhiên, trong khi những lý lẽ đang diễn biến
thì Roosevelt qua đời, và ý chính đó trở nên mờ nhạt; vào cuối năm 1946, ý đồ
chống chủ nghĩa Thực Dân đã đột biến thành toan tính trung lập hóa Đông
Dương. Theo Fall, có thể “đây là một chính sách có chủ ý và ngược lại cũng có
thể vì sự thiếu vắng một chính sách rõ ràng về Đông Dương vào lúc đó. Việc
này quả thật không rõ lắm.
|
Friday, October 17, 2014
B2-VOCABULARY
B2-VOCABULARY
2 WORK AND EMPLOYMENT
11 bank 2 field 3 garage 4 studio 5 office 6 restaurant/kitchen 7 salon 8 coal-mine 9 cockpit 10 church 11 surgery 12 library 13 concert hall/studio 14 hotel 15 restaurant
3. a) plumber
2 WORK AND EMPLOYMENT
11 bank 2 field 3 garage 4 studio 5 office 6 restaurant/kitchen 7 salon 8 coal-mine 9 cockpit 10 church 11 surgery 12 library 13 concert hall/studio 14 hotel 15 restaurant
2 a) vet
b) refuse collector
c) estate agent
d) carpenter
e) chef
f) plumber
g) accountant
h) firefighter3. a) plumber
b) porter
c) dentist
d) hairdresser
e) carpenter
f) vet
g) waiter
h) mechanicSunday, October 12, 2014
ANSWERS TO EXERCISES
AUDIO-Y2: http://www.mediafire.com/file/m62fiylcbcafd9j/Y2-AUDIO.rar
UNIT 1
P5: A 1. of 2. made/built 3. composed 4. divided 5. make 6. includes/contains/comprises
P7: 1. pancreas 2. liver 3. spleen 4. skin 5. kidneys 6. pancreas 7. heart 8. spleen 9. liver 10.liver
P7-8:
A. 1. head 2. hair 3. forehead 4. eyes 5. nose 6. mouth 7. lips 8. teeth 9. tongue 10. cheek 11. ears 12. chin 13. jaw 14. neck
B. 1. shoulder 2. armpit 3. elbow 4. hand 5. fingernails 6. thigh 7. knee 8. shin 9. calf 10. toenails
P9:
1. composed of/made up of/built up of the heart...
2. us to think/our thinking
3. a part/role in urea excretion
4. in producing hormones
5. our speech/speaking
6. is produced by the liver
7. for circulating/the circulation of the blood through the body
8. make up/compose/comprise the spinal column
9. primarily of oxygen...
10. the function/role/job of the heart?
Saturday, October 11, 2014
PROBLEM OF UNIVERSALS VẤN ĐỀ VỀ CÁC PHỔ QUÁT
|
|
|
PROBLEM OF UNIVERSALS
|
VẤN ĐỀ VỀ CÁC PHỔ QUÁT
|
In metaphysics, the problem of
universals refers to the question of whether properties exist, and if so,
what they are. Properties are qualities or relations that two or more
entities have in common. The various kinds of properties, such as qualities
and relations are referred to as universals. For instance, one can imagine
three cup holders on a table that have in common the quality of being
circular or exemplifying circularity, or two daughters that have in common
being the daughter of Frank. There are many such properties, such as being
human, red, male or female, liquid, big or small, taller than, father of, etc.
|
Trong siêu hình học, vấn đề về những
cái phổ quát liên quan tới câu hỏi liệu các thuộc tính có hiện hữu không, và
nếu có, chúng là gì. Thuộc tính là những chất hay mối quan hệ mà hai hay nhiều
thực thể có chung với nhau. Nhiều loại thuộc tính, như những chất hay những mối
quan hệ, được xem như là những cái phổ quát. Chẳng hạn, ta có thể hình dung
ba miếng lót ly trên bàn đều có chung một phẩm tính là có hìnhtròn hay tính
tròn, hoặc hai cô con gái có chung thuộc tính là con gái của Frank. Có nhiều
thuộc tính như thế, chẳng hạn như người, đỏ, đực hay cái, lỏng, lớn và nhỏ,
cao hơn, cha của, v.v…
|
While philosophers agree that
human beings talk and think about properties, they disagree on whether these
universals exist in reality or merely in thought and speech.
|
Mặc dù các triết gia đồng ý rằng
con người nói và nghĩ về các thuộc tính, nhưng họ lại bất đồng với nhau ở chỗ
liệu những cái phổ quát này hiện hữu trong thực tại, hay chỉ hiện hữu
trong tư tưởng và lời nói mà thôi.
|
Subscribe to:
Posts (Atom)
