MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Tuesday, January 17, 2012

A Shift from the Middle East to the Pacific CHUYỂN TỪ TRUNG ĐÔNG ĐẾN THÁI BÌNH DƯƠNG



A Shift from the Middle East to the Pacific

CHUYỂN TỪ TRUNG ĐÔNG ĐẾN THÁI BÌNH DƯƠNG

Christopher Hill,

Project Syndicate,

2011-11-29

Christopher Hill,

Project Syndicate,

2011-11-29

DENVER – For two years, President Barack Obama’s administration has tried to convey a narrative in which it is winding up wars in Southwest Asia and turning America’s attention to its longer-term – and arguably more important – relationships in East Asia and the Pacific. In recent months, that narrative has gained the virtue of actually being true.

DENVER - Trong hai năm qua, chính quyền Tổng thống Barack Obama đã cố gắng chuyển tải một câu chuyện trong đó, để kết thúc (winding up) những cuộc chiến tranh ở Tây Nam Á và chuyển sự chú ý của Mỹ đến một mục tiêu dài hạn hơn - và mục tiêu này được cho là quan trọng hơn - các mối quan hệ ở Đông Á và Thái Bình Dương. Trong những tháng gần đây, cho thấy rằng mục tiêu này đã đạt được kết quả thực sư.

Now, the task will be to balance the need for responsible military drawdowns in Iraq and Afghanistan with a responsible buildup of activities in East Asia. And that means putting to rest fears that the United States is gearing up for confrontation with China.

Bây giờ, nhiệm vụ sẽ được cân bằng nhu cầu phải giải giáp quân đội làm nhiệm vụ ở Iraq và Afghanistan để xây dựng nhiệm vụ quân đội cho các hoạt động ở Đông Á. Và điều đó có nghĩa là đặt phần còn lại của thế giới vào sự lo ngại rằng Hoa Kỳ đang chuẩn bị cho cuộc đối đầu với Trung Quốc.

Obama’s decision to break off talks with Iraq’s government for a new agreement on the status of US forces there means that, after eight years, those troops are finally coming home (perhaps in time for Christmas). Since US politics no longer stops at the water’s edge, Obama’s decision was greeted with howls of derision by those who argued that he was “uncommitted” to the Iraq venture and somehow did not make his best effort to keep troops there. Never mind that Vice President Joe Biden, the chief negotiator, traveled to Iraq more times than any senior US leader has traveled to any previous war zone.

Quyết định của Obama là để phá vỡ các cuộc đàm phán với chính phủ Iraq cho một thỏa thuận mới về tình trạng của quân đội Hoa Kỳ có nghĩa là, sau tám năm, những binh sĩ đó cuối cùng đã trở về nhà (có lẽ trong thời điểm Giáng sinh năm nay). Kể từ khi nền chính trị Mỹ đang đứng trên bờ vực, quyết định của Obama được chào đón bằng sự chế nhạo của những người ủng hộ rằng ông đã "không có trách nhiệm" với tình hình ở Iraq và bằng cách nào đó đã không có những nỗ lực tốt nhất để giữ cho quân đội ở lại Iraq. Chưa bao giờ mà chúng ta có thể nghĩ rằng Phó Tổng thống Joe Biden, trưởng đoàn đàm phán phải đi tới Iraq nhiều lần hơn bất kỳ nhà lãnh đạo cấp cao nào của Mỹ đã đi đến bất kỳ những khu vực chiến tranh trước đó.

Nonetheless, critics claimed that Obama’s administration had offered up Iraq to the Iranians. The “proof” was that Iraq’s Shia prime minister, Nouri al-Maliki – a leader who may be called many things, but certainly not pliable or pliant – did not deliver the rest of the country’s political class to an agreement.

Tuy nhiên, các nhà phê bình đã quả quyết rằng chính quyền Obama đã tạo điều kiện để Iraq đến với người Iran. "Bằng chứng" là Thủ tướng đượng nhiệm theo dòng Hồi giáo Shia (*) của Iraq - Nouri al-Maliki - đã không tìm thấy sự thỏa thuận với các nhóm chính trị khác ở Iraq. Maliki là một nhà lãnh đạo có thể được gọi là đã làm được nhiều việc, nhưng chắc chắn không mềm dẻo hoặc không dễ uốn nắn.

Early in the process, Maliki signaled two points to his American guests: he would like to see a continuing US troop presence in Iraq, but was unwilling to bear the entire political burden. He expected support from other Iraqi politicians; none came.

Mới đây, Maliki đã thông báo hai điểm với người Mỹ: ông muốn thấy một sự hiện diện của quân đội Mỹ tiếp tục ở Iraq, nhưng ông lại không sẵn sàng chịu toàn bộ gánh nặng chính trị. Ông mong đợi sự hỗ trợ từ các chính trị gia Iraq khác; nhưng không có ai ủng hộ ông.

Sunni leaders, who tend to be grouped under the banner of the Iraqi National Party, Iraqiya, made clear that they would not support the continuation of US troops on Iraqi soil, denying Maliki the backing that he needed to forge a broad-based coalition. Sunni leaders have often expressed support for US forces’ presence in their country, but also believe that Iraq should no longer be a host to foreign troops. Polling data in Iraq, such as they are, reveal strong sentiments of the same kind: Iraqis appreciate US forces and what they have done, but nonetheless want them to leave.

Các nhà lãnh đạo dòng Hồi giáo Sunni, những người có xu hướng đứng dưới ngọn cờ của Đảng Quốc gia Iraq (INP: Iraq’s national party) - Iraqiya - họ cho thấy rõ là họ sẽ không ủng hộ sự có mặt của quân đội Mỹ trên đất Iraq, quay lưng với Maliki để tạo ra một liên minh rộng rãi. Các nhà lãnh đạo Sunni thường bày tỏ sự ủng hộ cho sự hiện diện của lực lượng Mỹ tại đất nước của họ, nhưng cũng tin rằng Iraq không còn phải là một nơi có sự hiện diện của quân đội nước ngoài. Theo kết quả bỏ phiếu tại Iraq các nhà lãnh đạo dòng Sunni đã bày tỏ một thái độ giống nhau một cách mạnh mẽ là: Iraq đánh giá cao lực lượng Hoa Kỳ và những gì Hoa Kỳ đã làm cho Iraq, nhưng dù sao cũng muốn Hoa Kỳ rời khỏi Iraq.

The American writer Mark Twain once said: “Do the right thing. It will gratify some people and astonish the rest.” Indeed, Iraq’s implacable anti-American radicals are now both astonished and confused. Iraq’s Sunni and Shia extremists agree on little, but one point of unison had been that the Americans would never leave their country voluntarily. Yet that is what is happening today.

Như nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói: "Hãy làm điều đúng đắn. Nó sẽ làm vừa lòng một số người và làm kinh ngạc phần còn lại". Thật vậy, ngày nay việc chống lại Hoa Kỳ theo kiểu không đội trời chung một cách triệt để của các nhóm chính trị Iraq làm chúng ta ngạc nhiên và lúng túng. Cả 2 dòng Hồi giáo Sunni và Shia cực đoan ở Iraq đồng thuận thì ít, nhưng cùng một quan điểm chung rằng người Mỹ sẽ không bao giờ rời khỏi đất nước Iraq một cách tự nguyện. Tuy nhiên, đó là những gì đang diễn ra ngày hôm nay.

Whether Americans will ever return to Iraq for exercises and training missions that exceed the scope of embassy-sponsored security-assistance initiatives remains to be determined. Iraq needs continued training programs to manage its airspace, and its land forces must still overcome the Soviet model of massed artillery and armored formations. But potential future missions, if they materialize, would be understood as emanating from a sovereign Iraqi decision, not as making a virtue out of a fact on the ground.

Cho dù người Mỹ sẽ ở lại Iraq cho những nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo vượt quá phạm vi những sáng kiến hỗ trợ ​​an ninh do Đại sứ quán tài trợ vẫn được công nhận. Iraq cần tiếp tục chương trình đào tạo quản lý không phận, và bộ binh vẫn còn phải vượt qua mô hình pháo binh đông đảo và đội hình xe bọc thép của Liên Xô. Tuy nhiên, những nhiệm vụ tiềm năng trong tương lai, nếu Hoa Kỳ hiện thực, sẽ được hiểu là bắt nguồn từ một quyết định của chính quyền Iraq, mà không phải là của nước khác.

And so, with America’s withdrawal from Iraq paving the way for the administration’s tectonic policy shift on Asia, Obama and Secretary of State Hillary Clinton headed west, confident that they would have a smooth journey. They did not.

Và như vậy, với sự giải trừ quân bị của Mỹ ở Iraq sẽ mở đường cho sự thay đổi chính sách kiến ​​tạo của chính quyền Hoa Kỳ ở châu Á, TT Obama và Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton nhìn về hướng tây, tự tin rằng họ sẽ có một cuộc hành trình trơn tru. Nhưng họ đã không đạt được như vậy.

To the extent that Americans regard any foreign-policy speech as having relevance to their lives, Obama’s economic message at the Asia-Pacific Economic Cooperation meeting in Hawaii was on message and on target: jobs, jobs, jobs.

Trong thời kỳ mà người Mỹ coi bất kỳ bài phát biểu chính sách đối ngoại nào cũng có liên quan đến cuộc sống của họ, thông điệp kinh tế của Obama tại cuộc họp hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tại Hawaii là thông điệp nhằm vào mục tiêu: việc làm, việc làm, và việc làm.

But, soon after, when Obama arrived in Australia and Clinton landed in the Philippines, what looked like a clean narrative about the economy abruptly unraveled: Obama promised his Australian hosts that the US would station fewer than a brigade of US Marines in far-off Darwin to train and exercise. No one could possibly believe that this step would be sufficient to allay whatever concerns the Obama administration and America’s Asian allies have about China’s growing military power, but that is how the US press played it.

Tuy nhiên, ngay sau khi Obama đến Úc và Clinton đáp xuống Philippines, thì câu chuyện về kinh tế được làm sáng tỏ nhanh chóng: Obama hứa với Úc rằng Mỹ sẽ chỉ đồn trú ít hơn một lữ đoàn thủy quân lục chiến của Hoa Kỳ ở vùng Darwin xa xôi để đào tạo và huấn luyện. Không ai có thể tin rằng nước cờ này đủ để xoa dịu từ bất cứ điều gì liên quan đến chính quyền Obama và các đồng minh châu Á của Mỹ về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, nhưng đó là cách Mỹ gây sức ép trong cuộc chơi.

When combined with Clinton’s crowd-pleasing appearance on a warship in Manila Bay, and her use of the term “West Philippine Sea,” the economic narrative stood little chance. The new storyline was that the US had started pulling out of Southwest Asia for the purpose of confronting China. Even the administration’s deft and courageous move to send Clinton to Burma, following Burmese opposition leader Aung San Suu Kyi’s release from detention and decision to rejoin the political system, was portrayed as another effort to poke China in the eye.

Khi kết hợp với sự hài lòng của đám đông khi bà Clinton xuất hiện trên một tàu chiến ở vịnh Manila, và bà sử dụng thuật ngữ "Biển Tây Philippine" (West Philippine Sea), nó nói lên rằng câu chuyện kinh tế có rất ít cơ hội trong cuộc chơi này. Cốt truyện mới được viết ra rằng, Hoa Kỳ đã bắt đầu rút khỏi Tây Nam Á để cho mục đích đối đầu với Trung Quốc ở Đông Á. Ngay cả sự chuyển hướng khéo léo và dũng cảm của chính quyền Hoa Kỳ bằng cuộc viếng thăm Miến Điện của bà Clinton, sau khi chính quyền Miến Điện phóng thích lãnh đạo đối lập Myanmar Aung San Suu Kyi bị giam giữ và quyết định tham gia lại hệ thống chính trị của bà Kyi, nó được miêu tả như là một cú thúc mạnh cùi chỏ vào mắt Trung Quốc.

America’s reengagement in the Asia-Pacific region is welcome and overdue. Some of America’s partners in that part of the world ask very little, except for the US to pay attention now and again, attend meetings, and respect their consensual approach to problem solving. Just showing up, as the old aphorism goes, is half of life. In the Asia-Pacific region, it is sometimes even more than that.

Sự quay lại của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương được chào đón nồng hậu và được cho là quá chậm. Một số đối tác của Mỹ ở đây rất ít đòi hỏi, ngoại trừ bây giờ là việc Mỹ phải quan tâm và tiếp tục tham dự các cuộc họp, và tôn trọng phương pháp tiếp cận đồng thuận của họ để giải quyết vấn đề. Như câu tục ngữ xưa, chỉ cần cho thấy một nửa của sự thật (Just showing up is half of life). Nhưng đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thậm chí đôi khi cần nhiều hơn thế.

But reengagement will come at too high a cost if it is widely seen as a path to confrontation with China, rather than overdue attention to everyone else. The US and the Asia-Pacific countries need to maintain productive relationships with China, which is becoming more complicated for everyone as China plunges into a period of internal introspection about its future.

Nhưng sự quay lại của Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi một chi phí quá cao nếu nó được xem như là một cuộc đối đầu với Trung Quốc, chứ không phải là sự quan tâm quá chậm trễ đến với các nước khác trong khu vực này. Mỹ và các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương cần duy trì các mối quan hệ sản xuất với Trung Quốc, việc mà nó ngày càng trở nên phức tạp đối với mọi người Trung Quốc, vì nó đã làm người Trung Quốc phải bỏ thời gian để tự xem xét về tương lai tình hình nội bộ của đất nước họ.

How China emerges from this process, and how it behaves in its neighborhood – and globally – will determine much about what the world will look like in the medium and long term. We need to avoid creating self-fulfilling prophecies that stem from our deepest fears.

Cái cách mà Trung Quốc nổi lên từ việc quay lại châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, và cách mà Trung Quốc cử xử với các nước láng giềng và trên toàn cầu sẽ quyết định nhiều về những gì thế giới sẽ như thế nào trong trung và dài hạn. Chúng ta cần phải tránh tạo ra những lời tiên tri mà tự nó có khả năng hiện thực (self fulfilling prophecies) xuất phát từ những lo ngại sâu sắc nhất của chúng ta.

Christopher R. Hill, former US Assistant Secretary of State for East Asia, was US Ambassador to Iraq, South Korea, Macedonia, and Poland, US special envoy for Kosovo, a negotiator of the Dayton Peace Accords, and chief US negotiator with North Korea from 2005-2009. He is now Dean of the Korbel School of International Studies, University of Denver.

Christopher R. Hill, cựu Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ của khu vực Đông Á, Đại sứ Mỹ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia, Ba Lan, đặc phái viên của Mỹ cho Kosovo, một nhà đàm phán Hiệp định Hòa bình Dayton, và Trưởng đoàn đàm phán Mỹ với Bắc Triều Tiên từ 2005-2009. Ông hiện là Hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Korbel, thuộc Đại học Denver – bang Colorado – Hoa Kỳ (Korbel School of International Studies, University of Denver).


(*) Đạo Hồi đã bị phân chia thành 2 dòng Hồi giáo Sunni và Shia ở trên thế giới sau khi nhà tiên tri sáng lập ra đạo Hồi là Mohammed tạ thế mà không di chúc cho người nối nghiệp. Hiện nay đạo Hồi là đạo lớn thứ hai trên thế giới với hơn 1,3 tỷ người theo, và đang phát triển ngày càng mạnh. Tuy rằng dòng Sunni là dòng có số người theo lớn nhất chiếm gần 90%, nhưng ở Iran và Iraq thì số đông theo dòng Shia.



http://www.project-syndicate.org/commentary/hill12/English

A Conversation With: E. Sreedharan Phỏng vấn: E. Sreedharan


A Conversation With: E. Sreedharan

Phỏng vấn: E. Sreedharan

By HEATHER TIMMONS AND PAMPOSH RAINA

HEATHER TIMMONS AND PAMPOSH RAINA

At a time when corruption seems to stalk nearly every corner of the Indian government, the Delhi Metro’s star shines brighter than ever. Under Elattuvalapil Sreedharan, the 9-year-old Metro provides stellar service, completes projects on time and under budget, and is making a profit, despite having the lowest fares of any metro system in the world outside of Kolkata.

Trong lúc tai tiếng tham nhũng hình như đang bám sát mỗi bộ phận của chính quyền Ấn Độ (1) thì ngôi sao sáng của công ty xe điện ngầm Delhi Metro rực rỡ hơn bao giờ hết. Dưới sự lãnh đạo của ông Elattuvalapil Sreedharan, công ty này – chỉ mới thành lập được 9 năm nay – đã không ngừng cung cấp dịch vụ chở hành khách tuyệt hảo, hoàn thành mọi dự án đúng kỳ hạn và dưới ngân sách, và đem lại lợi nhuận, dù với giá vé metro rẻ nhất thế giới ngoài Kolkata (Calcutta).

The Delhi Metro’s more than 200 clean, comfortable trains now carry 2 million passengers a day, and it has embarked on a third phase of expansion, a new line that will ring Delhi, connecting suburbs like Gurgaon with Dwarka.

200 chiếc xe điện ngầm tiện nghi và sạch sẽ của Delhi Metro chuyên chở 2 triệu hành khách mỗi ngày, và hiện nay công ty đang khởi sự phát triển đợt 3, là một đường xe điện ngầm chạy vòng quanh Delhi, nối liền các khu ngoại ô như Gurgaon với Dwarka.

Mr. Sreedharan, 79, a life-long bureaucrat with more than three decades in the country’s railways, has been the architect of this Metro’s success, building a 7,000-person organization that, to all appearances, is corruption-free, from the ground up.

Ông Sreedharan, một cụ già 79 tuổi, cả đời là một công chức với hơn 3 thập niên phục vụ trong hệ thống đường sắt Ấn Độ, đã là người tạo nên sự thành công cho Metro khi từ con số không, ông đã tự tay xây dựng nguyên một công ty gồm 7000 nhân viên được tiếng là trong sạch, không tham nhũng.

Ahead of his retirement at the end of this year, he spoke to India Ink about how Indian society and government need to change, and the ways his spirituality makes him a better manager.

Trước khi về hưu vào cuối năm nay, ông đã nói chuyện với India Ink về nhu cầu cần thay đổi của xã hội và nhà nước Ấn Độ, và làm thế nào cuộc sống tâm linh của ông đã giúp ông trở thành một nhà quản lý giỏi hơn.

Q.

The Delhi Metro has continued to be a success at a time when many other agencies are mired in corruption. What did you do to keep this agency on the straight and narrow?

H:

Delhi Metro đã tiếp tục thành công vào lúc rất nhiều cơ quan nhà nước khác bị sa lầy trong tham nhũng. Ông đã làm gì để giữ cho Metro được trong sạch?

A.

That’s a big question that cannot be answered in one or two sentences.

When we wanted to build the Delhi Metro, we said we would do it in a different way, creating a new organization and a new company with a lot of freedom for taking decisions.

The board of directors is supreme in taking decisions, we depend on the government only for only two or three items like funding and land acquisition, and the rest is entirely left to us.

We have built up a team here drawn from the Indian Railways which is highly motivated and professionally competitive, a very competent team. The whole credit should go to the team backing me.

Đ:

Đây là một câu hỏi rất lớn không thể trả lời bằng một hai câu được. Khi chúng tôi khởi công Delhi Metro, chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ làm khác mọi người. Chúng tôi muốn tạo ra một tổ chức mới và một công ty mới với rất nhiều quyền tự do quyết định. Là một cơ quan nhà nước nhưng ban giám đốc chúng tôi có toàn quyền lấy mọi quyết định. Chúng tôi chỉ lệ thuộc vào chính quyền trong hai ba lãnh vực, như ngân quỹ và mua đất, còn tất cả những thứ còn lại đều thuộc quyền chúng tôi.

Thứ đến, chúng tôi thành lập một ê-kíp toàn nhân viên lấy từ cơ quan Đường Sắt Ấn Độ nhưng chỉ những người làm việc tận tụy nhất với tài năng nghề nghiệp không thua ai. Đây là một ê-kíp với khả năng rất cao, và do đó thành quả đạt được cũng thuộc về toàn bộ ê-kíp đứng sau lưng tôi.

Q.

How did you pick the team?

H:

Ông đã tuyển chọn ê-kíp đó ra sao?

A.

I was with Indian Railways for 36 years so I knew a lot of people. So I could hand pick, choose the right person for the right job and then get him trained.

The main thing was the reputation for integrity, then the reputation for hard work, professional competence and the knowledge and the aptitude to work in a team. If they work as a lone worker, that is not going to help us.

Đ:

Tôi từng làm việc với Đường Sắt Ấn Độ suốt 36 năm trời nên tôi biết rõ nhiều người, nhờ đó tôi đã tự tay tuyển chọn từng người, mỗi người là người thích hợp nhất cho vai trò được giao phó, rồi tôi đào tạo họ. Yếu tố quan trọng nhất là người đó phải được tiếng là trong sạch, chịu khó làm việc, tài giỏi trong nghề nghiệp, có đủ hiểu biết cùng khả năng làm việc tập thể trong một ê-kíp. Nếu chỉ biết làm việc cho riêng mình thì chẳng giúp gì cho chúng tôi.

Q.

Could you apply these same principles to an existing organization? If someone said to you, “Go fix Air India,” would that be possible?

H:

Ông có thể đem áp dụng cùng những nguyên tắc trên cho bất cứ tổ chức nào khác không, chẳng hạn nếu có ai nhờ ông “chữa bệnh” cho Air India, chuyện đó có làm được không?

A.

It is possible. What is required is the right work culture of the organization, the values of the organization, the way the team is built up and the way they are motivated. You need to define the roles and the goals, very precisely.

Đ:

Được chứ. Cái cần nhất cho một công ty là phải có một “văn hóa làm việc” đúng đắn, phải có những giá trị đạo đức, phải xây dựng được một ê-kíp và ê-kịp đó có đủ động cơ thúc đẩy họ phục vụ. Phải định rõ vai trò cùng mục tiêu của mỗi người, thật chính xác.

Q.

What’s the best way to motivate people? Is it praise, or salary or something else?

H:

Làm cách nào thúc đẩy nhân viên? Bằng cách khen ngợi, trả lương cao hay làm gì khác?

A.

The best way to motivate people is to set an example for them. I can’t sit in an air-conditioned room and make others do all the work. Here I try to set an example in all manners, everything, whether it is punctuality or inspections or the standards for specifications, finishing of the work, anything.

Đ: Cách hay nhất để thúc đẩy nhân viên là… làm gương cho họ! Tôi không thể ngồi trong văn phòng có máy lạnh mà sai người khác làm mọi việc thay tôi. Tôi cố làm gương trong mọi điều, mọi thứ, từ chuyện đến sở đúng giờ, việc làm luôn được thanh tra, được hoàn tất đúng kỳ hạn, đúng tiêu chuẩn đã định trước,… vâng, tất cả mọi thứ.

Q.

Does this organization pay more than other government jobs?

H:

Cơ quan của ông có trả lương cao hơn các cơ quan nhà nước khác không?

A.

We pay exactly the same, these are government salaries. What is a motivation is the good work environment that they have, and a good environment for learning things. Once people work in Delhi Metro for five or six years, their market value is so high, they are in demand by everyone afterwards.

Đ:

Chúng tôi trả lương giống y hệt, vì tất cả đều là lương nhà nước mà. Cái thúc đẩy họ không cứ là lương bổng mà là khung cảnh, môi trường làm việc tốt đẹp, một môi trường nơi họ có thể học hỏi thêm nhiều thứ. Một khi đã làm việc với Delhi Metro được 5, 6 năm, thì giá trị của họ trên thị trường nhân dụng lên cao đến nỗi người ta giành giựt mướn họ.

Q.

Yet, many say a reason for corruption in government agencies is that salaries are too low?

H:

Nhưng nhiều người bảo rằng bởi vì lương thấp mà các cơ quan nhà nước mới tham nhũng đến thế?

A.

It is not true. No one can say that government salaries are low, so they have to be corrupt. It is totally wrong. Today the government salaries are very decent. It may not compare well with the private sector, but it is very, very comfortable.

Corruption has become a part of public life in this country mainly because of a lot of black money going around.

There are many laws, regulations, agencies and institutions already set up to prevent corruption, but they are not effective. We have an anti-corruption bureau, a vigilance organization, a big strong audit organization, we have got a huge police force, but the police themselves are corrupt, so what is the use?

Đ: Không đúng đâu. Không thể nói được rằng vì lương nhà nước quá thấp nên nhà nước phải ăn hối lộ!. Ngày nay lương nhà nước cũng đâu đến nỗi tệ? Có lẽ ít hơn lãnh vực tư nhân chút đỉnh nhưng vẫn thoải mái đấy chứ. Tham nhũng đã lan rộng trong chính quyền là vì có quá nhiều “tiền đen”. Người ta đặt ra lắm cơ cấu, ủy ban, bộ luật nhằm phòng chống tham nhũng, nhưng thật là vô hiệu. Nước ta có nguyên một ban bộ chống tham nhũng, một cơ quan báo động, một tổ chức thanh tra đồ sộ và đầy quyền lực, nước ta cũng có một lực lượng cảnh sát vĩ đại, thế nhưng khi chính những người đi bắt tham nhũng cũng ăn tham nhũng thì có ích gì?

Q.

How do you fix that?

H:

Thế làm sao giải quyết đây?

A.

Some basic transformation is required. I would start with the police themselves. We have been talking about police reform in this country for the last so many years. The Supreme Court has given a directive to the governments in 2001 to implement these reforms, but not even one state government or central government has implemented these reforms.

Why? Because it does not suit the politicians, it does not suit the police, themselves.

Corruption has somehow spread into the national fabric, and it takes time to get rid of it.

People want to make easy money, particularly the politicians, and they are the people who are breeding corruption in this country.

Đ:

Có một số chuyện căn bản cần thay đổi. Bắt đầu là những người đi bắt tham nhũng. Người ta đã bàn về chuyện cải tổ ngành cảnh sát từ bao nhiêu năm rồi. Năm 2001 Toà Án Tối Cao đã ra lệnh cho chính phủ phải đem ra thi hành, thế nhưng không có một chính quyền nào từ tiểu bang đến liên bang đã làm bất cứ gì. Tại sao như vậy? Vì chẳng có lợi gì cho các tay chính trị, cũng chẳng lợi gì cho cảnh sát. Và từ đó tham nhũng đã ăn sâu vào xương tủy của đất nước, sẽ phải mất rất nhiều thời gian mới trừ được. Người ta chỉ thích làm tiền kiếm dễ thôi, đặc biệt là những tay có chút quyền hành; họ chính là những kẻ đã nuôi dưỡng tham nhũng trong đất nước này.

Q.

What is one rule or regulation that should change to curb black money, and hence corruption?

H:

Nếu có thể giảm thiểu số “tiền đen” và tham nhũng bằng một điều luật, thì điều luật đó là gì?

A.

A simple thing — most of the black money is coming today through property dealings. The government knows very well that a particular property has a certain market value, but it is registered at one-third the market value, so two-thirds goes as black money. Why can’t the government insist that the registration be at the market value?

And when people are caught for corruption, why are they not punished immediately? It takes years and years. It takes years to get justice.

But this has nothing to do with the Delhi Metro. We have had tried to have a very clean organization. When we suspect anybody is indulging in unethical matters, immediately he is sacked.

Đ:

Một điều giản dị thôi. Phần lớn “tiền đen” trong xứ này có được là qua chuyện mua bán đất đai, bất động sản. Người cầm quyền dư biết bất động sản có giá trị thật trên thị trường là bao nhiêu, nhưng họ lại khai chỉ bằng một phần ba, còn hai phần ba kia là “tiền đen” đó. Tại sao nhà nước không ra lệnh nhà đất phải được đánh giá đúng giá thị trường? Rồi cả khi bắt được kẻ tham nhũng thì tại sao không đem họ ra trừng phạt sớm sủa? Tại sao lại ngâm tôm hết năm này sang tháng nọ?

Nhưng tất cả những gì tôi vừa nói không liên quan gì tới Metro Delhi. Ở đây chúng tôi chỉ cố gắng hết sức để có được một tổ chức sạch sẽ. Khi một người có hành động thiếu đạo đức nghề nghiệp thì lập tức bị sa thải.

Q.

Can you tell us about bringing spirituality into this organization – you give copies of the “Bhagavad Gita” (a Hindu scripture) to all managers. How does that help you and them?

H:

Ông có thể nói thêm về việc đưa đời sống tâm linh vào kinh doanh, như ông thường tặng quyển kinh Bhagavad Gita (2) cho tất cả các manager của ông. Điều này có giúp gì cho ông hoặc cho họ?

A.

You see, spirituality has no religious overtones. The essence of spirituality is to make a person pure in his mind and his thoughts.

When I started reading our old scriptures, like the “Baghavad Gita,” I found it was useful for day-to-day life, so I started practicing it.

I consider it an administrative gospel, one that will help you in doing things like running an organization like this.

Đ: Ông thấy không, tâm linh không mang màu sắc tôn giáo, mà tinh túy của tâm linh là giúp cho con người trở nên trong sạch trong tâm, trong tư tưởng. Khi tôi bắt đầu đọc kinh cổ của nước ta, như quyển Bhagavad Gita, tôi khám phá ra rằng nó rất hữu dụng cho đời sống hằng ngày của mình, và tôi bắt đầu đem ra thực hành. Tôi xem quyển kinh đó như một loại thánh kinh về quản lý, có thể giúp tôi làm nhiều công việc, chẳng hạn như điều hành một tổ chức như thế này.

Q.

Do you have a favorite quote you share with employees?

H: Ông có ưa thích một câu đặc biệt nào trong kinh mà đem ra chia sẻ với nhân viên?

A.

Mainly I tell them “Do your work without expecting any return out of it.” It is called Asangathu Vaa. You do it for the sake of the society, of the organization you work for.

Đ:

Chủ yếu thì tôi thường khuyên họ, “Hãy làm việc mà không chờ đợi một lợi lộc nào”. Đức tính này có tên là Asangathu Vaa. Chúng ta làm việc cho lợi ích của xã hội, cho lợi ích của tổ chức mà chúng ta phục vụ.

Q.

You’ll be serving as an adviser on the Indian Railways safety committee. What else is in your future after you retire?

H:

Ông có chương trình gì sau khi về hưu?

A.

No particular plan, except to retire really and spend more time on spirituality.

Đ:

Không có gì đặc biệt, ngoại trừ tôi muốn thực sự về hưu và dành thêm nhiều thì giờ cho chuyện tâm linh.

Q.

Would you sit on the Lokpal board if asked?

H:

Ông có sẽ nhận ngồi trong Ủy Ban Lokpal (3) nếu được mời?

A.

No, no I would not like to take up any of these responsibilities. I am in the fag end of my life.

Đ: Không, không, ở cái tuổi già yếu này, tôi không muốn nhận những trách nhiệm như thế.

Translated by Sông Hằng

Chú thích

(1) Trong những tháng qua, phong trào quần chúng chống tham nhũng tại Ấn Độ đã lên cao với hàng loạt cuộc biểu tình có hàng chục ngàn người tham dự nhằm hỗ trợ cuộc tuyệt thực của một cụ già 74 tuổi bình dị, tên Kisan Baburao Hazare (được dân chúng mệnh danh là “Anna”, có nghĩa là “người anh cả”). Dưới áp lực của quần chúng và sau khi đàn áp phong trào chống tham nhũng, bỏ tù ông Hazare, cuối cùng chính quyền của Thủ tướng Manmohan Singh đã phải nhượng bộ, chấp nhận cứu xét những sửa đổi pháp lý mà ông Hazare đòi hỏi.

(2) Bhagavad Gita: một trong những quyển kinh cổ của Ấn Độ nằm trong truyền thống Veda. Trong đó, Đức Krishna giảng về những phương cách để linh hồn đạt tới Đấng Tối cao. Một trong những lời dạy chủ yếu là sống và làm việc mà không mong đợi bất cứ thành quả nào của việc làm, vì tất cả đã hiến dâng cho Tối cao, và nhờ đó con người cũng nhập một với Tối cao. Lời dạy này cũng hiện diện dưới nhiều hình thức trong nhiều tín ngưỡng khác như đạo Phật, đạo Kitô, đạo Lão, và do đó được xem là một chân lý tâm linh không mang màu sắc đặc thù tôn giáo nào.

(3) Lokpal: Bộ luật về chính quyền liêm khiết, đã được đưa ra từ năm 1971 nhưng chưa bao giờ được ban hành.

http://india.blogs.nytimes.com/2011/10/05/a-conversation-with-e-sreedharan/

Fears and Tears Sợ hãi và Nước mắt



Fears and Tears

Sợ hãi và Nước mắt

In an exclusive interview, the Dalai Lama talks to NEWSWEEK about the violence in Tibet, his vision of the future—and how he manages to sleep in spite of his distress over the killings.

Trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho Newsweek, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện về bạo lực ở Tây Tạng, tầm nhìn của ông về tương lai làm thế nào ông có thể ngủ được trong khi đau khổ trước cảnh giết choc ở quê hương.

As news spread of massive Chinese troop movements into Tibet, and of hundreds of arrests, Chinese Premier Wen Jiabao told British Prime Minister Gordon Brown he was willing to talk with the exiled Tibetan leader the Dalai Lama if he renounced violence and gave up the idea of an independent Tibet—conditions the Dalai Lama has met with past statements. During an exclusive, wide-ranging 45-minute interview with NEWSWEEK's Melinda Liu and Sudip Mazumdar at the headquarters of the Tibetan government-in-exile in Dharamsala, India, the Dalai Lama talked about his willingness to negotiate with Beijing, his fears for the future, and how some government officials in China have sent him private messages of sympathy. Excerpts:

Như tin tức đưa tin về việc đông đảo quân đội Trung Cộng được di chuyển vào Tây Tạng, và hàng trăm người bị bắt. Tổng lý Ôn Gia Bảo đã nói với Thủ tướng Anh Quốc Gordon Brown rằng ông ta muốn nói chuyện với lãnh đạo lưu vong Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma nếu ngài từ bỏ bạo động và từ bỏ ý tưởng Tây Tạng độc lập – những điều kiện mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp trong những lời tuyên bố trước đây. Trong một cuộc phỏng vấn dành riêng dài 45 phút với phóng viên của tờ Newsweek Melinda Liu và Sudip Mazumdar tại đại bản doanh của chính quyền lưu vong Tây Tạng ở Dharamsala, Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói về thiện chí của ngài trong việc bàn thảo với Bắc Kinh, những lo ngại của ngài về tương lai và việc một có cán bộ nhà nước ở Trung Quốc đã gởi đến ngài những thông điệp riêng tư thông cảm. Trích:

NEWSWEEK: Do you think Chinese officials still hope their problems in Tibet will disappear after you pass away?

NEWSWEEK: Ngài có nghĩ rằng chính quyền Trung Cộng vẫn hy vọng những rắc rối của họ trong vấn đề Tây Tạng sẽ biến mất sau khi ngài không còn nữa chứ?

The Dalai Lama: I don't know. I totally disagree with the view that the Tibet struggle will die, and there will be no hope for Tibet, after the Dalai Lama passes away. Both inside and outside [Tibet], the older generation may go away, but the newer generations carry the same spirit. Sometimes it's even stronger. So after my death a younger generation will come up.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi không biết. Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm rằng sự đấu tranh của Tây Tạng sẽ chết, và sẽ không có hy vọng cho Tây Tạng, sau khi Đạt Lai Lạt Ma qua đời. Cả bên trong lẫn bên ngoài Tây Tạng, thế hệ già có thể biến mất, nhưng những thế hệ trẻ lớn lên mang cùng một tâm linh. Đôi khi ngay cả mạnh hơn. Vì thế sau khi tôi chết, một thế hệ trẻ hơn sẽ đứng lên nối tiếp. TRÍCH:

If Wen Jiabao or [China's President] Hu Jintao were sitting in this room in front of you, what would say to them?

NEWSWEEK: Nếu Tổng Lý Ôn Gia Bảo hay Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào đang ngồi trong phòng này trước mặt ngài, ngài sẽ nói gì với họ?

I always like to quote Deng Xiaoping and say, Please seek truth from facts. It is very important. I would urge them to find out what is really going on in Tibetan minds and what is happening on the ground. This I want to tell the prime minister, Wen Jiabao, if he were to come here. Of course, I have great respect for both, particularly Wen Jiabao. He seems very gentle. I would also ask him, "Please prove your recent accusations [that the Dalai Lama instigated the unrest in Tibet.]" [Laughs]

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi luôn luôn thích trích dẫn lời của Đặng Tiểu Bính, Xin hãy tìm sự thật từ những sự kiện. Điều này rất quan trọng. Tôi sẽ khuyến nghị họ khảo sát xem những gì thật sự xảy ra trong tâm tư ngườiTây Tạng và những gì đang xảy ra trong thực địa. Đây là những gì tôi muốn nói với Tổng Lý Ôn Gia Bảo, nếu ông ta đến đây. Dĩ nhiên, tôi rất có lòng tôn trọng cả hai, đặc biệt với Ôn Gia Bảo. Ông ta dường như rất tế nhị. Tôi cũng sẽ hỏi ông, “Xin hãy chứng minh những sự buộc tội gần đây của ông [rằng Đạt Lai Lạt Ma chủ mưu cho sự bất ổn ở Tây Tạng.]” [Cười]

Do you have back channels of communication to the Chinese leadership?

NEWSWEEK: Ngài đã có lại những đường dây liên lạc với những giới lãnh đạo Bắc Kinh rồi chứ?

Not serious [ones]. The usual channels are still there.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Không phải là những đường dây quan trọng. Những đường dây thông thường vẫn ở đấy.

Do new technologies—cell phones, digital photography, e-mail and so on—make it harder for authorities to control the unrest?

NEWSWEEK: Những kỷ thuật mới – điện thoại cầm tay, máy chụp hình digital, e-mail,v.v…- làm cho giới thẩm quyền kiếm soát khó hơn sự bất ổn?

Oh, yes.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Ô, vâng.

Do they make it impossible?

NEWSWEEK: Có phải chúng làm điều này không thể?

Now authorities are trying to control [things] by shutting down these services. But it is very difficult to control everything.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Bây giờ giới cầm quyền đang cố gắng để kiểm soát những thứ ấy bằng việc ngừng sự phục vụ những thứ này. Nhưng thật sự rất khó khăn để kiểm soát mọi thứ.

What's the difference between what's happening now and the turmoil of the late '80s in Lhasa?

NEWSWEEK: Có những gì khác biệt giữa những gì đang xảy ra bây giờ và sự rối loạn vào cuối những năm 80 tại Lhasa?

At that time it was mainly in Lhasa areas. And, yes, it is a factor that images can be seen elsewhere. But it is mainly the [extent of Tibetan] grievances. Today even Tibetan monks in Chinese areas carry Tibetan flags. I am quite surprised [by the prevalence of Tibetan dissatisfaction in areas far from Lhasa]. Now the entire Tibetan people have strong feelings. If [Chinese authorities] truly treated the Tibetans as brothers and sisters and as equals, giving them trust, then this would not happen.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vào lúc ấy chủ yếu ở những khu vực Lhasa. Và, vâng, nó là một nhân tố mà những hình ảnh có thể được thấy ở những nơi khác. Nhưng chủ yếu là sự phẩn uất lan rộng của người Tây Tạng. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên việc không hài lòng phổ biến ở những vùng xa với Lhasa. Bây giờ toàn bộ người Tây Tạng đã có những cảm giác mạnh mẽ. Nếu nhà đương cục Hoa Lục thật sự đối xử với người Tây Tạng như anh chị em và như bình đẳng, cho họ niểm tin, thế thì điều này đã không xảy ra.

Even privileged Tibetans who are in elite minority universities in Chinese cities such as Beijing and Lanzhou have organized vigils and peaceful protests. Why?

NEWSWEEK: Ngay cả những người Tây Tạng được ưu đãi trong những trường đại học ưu tiên cho người thiểu số ở những thành phố của Hoa Lục như Bắc Kinh và Lan Châu cũng đã tổ chức những buổi cầu nguyện ban đêm và phản đối một cách hòa bình. Tại sao?

Yes, yes—if they're not satisfied you can imagine how nomads feel. I occasionally meet affluent Tibetans who are economically sound, who have good housing. I met one such person who first told me he had no worries. Then he confessed [he felt] mental anguish, and then he began to cry. As Tibetans they feel some kind of subtle discrimination by the Chinese.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng, vâng – nếu họ không hài lòng ông có thể tưởng tượng những người du mục như thế nào. Thỉnh thoảng tôi đã gặp những người Tây Tạng giàu có, kinh tế khả quan, có nhà cửa tiện nghi. Tôi gặp một người như vậy, đầu tiên nói với tôi là ông ta không có gì lo lắng. Sau đó ông thú nhận, ông cảm thấy đau khổ, và rồi ông ta đã bắt đầu khóc. Khi người Tây Tạng cảm thấy một loại phân biệt vi tế nào đấy bởi những người Hoa.

Are you worried about the possibility of greater violence after you pass away?

NEWSWEEK: Ngài có lo lắng về khả năng của những vụ bạo động to lớn hơn sau khi ngài qua đời hay không?

Yes, I worry about that. As long as I am alive, I am fully committed to amity between Tibetans and Chinese. Otherwise there's no use. More importantly, the Tibetan Buddhist cultural heritage can eventually help bring some deeper values to the millions of Chinese youth who are lost in a [moral] vacuum. After all, China is traditionally a Buddhist country.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng, tôi lắng về việc ấy. Cho đến khi nào tôi vẫn còn sống, tôi hoàn toàn cống hiến cho tình thân hữu Hoa – Tạng. Bằng khác đi không có lợi ích gì. Quan trọng hơn nữa, di sản của nền văn hóa Phật Giáo Tây Tạng cuối cùng có thể mang đến những giá trị sâu sắc hơn cho những hàng triệu người Hoa trẻ, những người bị lạc lõng trong khoảng không đạo đức. Dầu gì đi nữa thì Trung Hoa một cách truyền thống là một quốc gia Phật Giáo.

What more do you think the Chinese leadership wants you to do to prove your sincerity? Wen Jiabao wants you to accept two conditions—that you renounce Tibet's independence and renounce violence—before dialogue can take place.

NEWSWEEK: Ngài nghĩ giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn ngài làm gì hơn nữa để minh chứng cho sự chân thành của ngài? Ôn Gia Bảo muốn ngài chấp nhận hai điều kiện – rằng ngài từ bỏ vấn đề độc lập của Tây Tạng và từ bỏ bạo động – trước khi đối thoại có thể xảy ra.

Last year in Washington we had a meeting with some Chinese scholars, including some from mainland China, who asked me, "What guarantee is there that Tibet will not be separate from China ever [in the future]?" I told them that my statements won't help, my signature won't help. The real guarantee is that the Tibetan people should be satisfied. Eventually they should feel they would get greater benefit if they remain with China. Once that feeling develops, that will be the real guarantee that Tibet will forever remain part of the People's Republic of China.The Chinese government wants me to say that for many centuries Tibet has been part of China. Even if I make that statement, many people would just laugh. And my statement will not change past history. History is history.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Năm vừa rồi ở thủ đô Hoa Sinh Tân của Hoa Kỳ, tôi đã có một cuộc gặp gở với một số học giả Trung Hoa, kể cả một số từ Hoa Lục, người ta hỏi tôi, “Điều gì bảo đảm rằng Tây Tạng sẽ không bị tách rời khỏi Trung Hoa mãi mãi về tương lai?” Tôi đã nói với họ rằng những tuyên bố của tôi sẽ không giúp ích gì, chữ ký của tôi không hổ trợ gì. Sự bảo đảm thật sự là đồng bào Tây Tạng phải được hài lòng. Cuối cùng họ phải cảm thấy rằng họ sẽ đạt được những lợi lạc lớn lao nếu duy trì trong Trung Hoa. Một khi cảm nhận ấy phát triển, đấy sẽ là một bảo đảm thật sự rằng Tây Tạng sẽ mãi mãi là một phần của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chính quyền Trung Cộng muốn tôi nói rằng trong nhiều thế kỷ Tây Tạng đã là một phần của Trung Hoa. Ngay cả nếu tôi thực hiện tuyên bố ấy, nhiều người sẽ chỉ cười. Và tuyên bố của tôi sẽ không thay đổi lịch sử quá khứ. Lịch sử là lịch sử.

So my approach is, don't talk about the past. The past is past, irrespective of whether Tibet was a part of China or not. We are looking to the future. I truly believe that a new reality has emerged. The times are different. Today different ethnic groups and different nations come together due to common sense. Look at the European Union … really great. What is the use of small, small nations fighting each other? Today it's much better for Tibetans to join [China]. That is my firm belief.

Vì thế phương pháp của tôi là, đừng nói về quá khứ. Quá khứ là quá khứ, bất chấp Tây Tạng có là một phần của Trung Hoa hay không. Chúng ta đang nhìn về tương lai. Tôi thật sự tin rằng một thực tế mới đã xuất hiện. Thời gian là khác biệt. Ngày nay những nhóm thiểu số khác nhau và những quốc gia khác nhau đến với nhau qua những cảm nhận chung. Hãy nhìn vào Liên Hiệp Âu Châu… thật là vĩ đại. Lợi ích gì cho những quốc gia nhỏ bé chiến đầu với nhau? Ngày nay lợi lạc hơn nhiều để cho người Tây Tạng gia nhập [Trung Hoa]. Đấy là sự tin tưởng vững chắc của tôi.

You've said that two government officials sent private messages of support to you. Is there a significant number of officials in Tibet or other areas of mainland China who have shown sympathy to you in private?

Yes.

NEWSWEEK: Ngài đã từng nói rằng hai viên chức chính quyền đã gửi những thông điệp riêng tư hổ trợ ngài. Có phải có một số nổi bật những viên chức chính quyền ở Tây Tạng hay những vùng khác của Hoa Lục đã biểu lộ tình cảm riêng tư đối với ngài chứ gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng.

How many?

I am not sure, but many ordinary Chinese, thousands, have come here. And several senior officials have sent messages. I feel very strongly that there will be a change [in the attitude of the Chinese leadership]. Now the important thing is the Chinese public should get to know the reality. They should have more information about Tibet.

NEWSWEEK: Bao nhiêu?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi không chắc, nhưng nhiều thường nhân người Hoa, hàng nghìn người đã từng đến đây. Và vài viên chức kỳ cựu đã gửi những thông điệp. Tôi cảm thấy rất mạnh mẽ rằng sẽ có một sự thay đổi [trong thái độ của giới lãnh đạo Bắc Kinh]. Bây giờ điều quan trọng là dư luận công cộng Trung Hoa phải được biết thực tế. Họ phải có thêm tin tức về Tây Tạng.

Will that be difficult? The Internet is heavily censored inside China. As a result, people tend to develop very polarized, often very nationalistic views.

NEWSWEEK: Sẽ khó khăn chứ? Internet bị kiểm duyệt nghiêm nhặt ở Hoa Lục. Như một kết quả, người ta hướng đến phát triển rất phân hóa, thường là những quan điểm dân tộc hẹp hòi.

Yes, yes. You know, till 1959 the Tibetan attitude toward the Han Chinese was affectionate, very close, something normal. Chinese traders in Lhasa used to be referred to with affectionate respect. But, of course, the name of communism is feared in Tibet because of what happened in Mongolia, and to part of the Buddhist community in the Soviet Union. Then the Chinese communists entrenched themselves; more soldiers came and their attitude became more aggressive, more harsh. Even at that time we complained about these "bad communists," but we never said "bad Chinese." Never.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng, vâng. Bà biết không, cho đến 1959, thái độ đối với người Hoa vẫn cảm tình, rất gần gũi, điều gì đấy bình thường. Những thương nhân người Hoa ở Lhasa thường được liên hệ với sự tôn trọng tình cảm. Nhưng, dĩ nhiên, cái tên Trung Cộng bị sợ hãi ở Tây Tạng, do bởi những gì đã xảy ra ở Mongolia, và đến bộ phận cộng đồng Phật Giáo ở Liên Bang Sô Viết. Sau đó người Trung Cộng tác động đến chính họ; nhiều binh sĩ đến và thái độ của họ trở nên gây hấn hơn, khắc nghiệt hơn. Ngay cả vào lúc ấy, chúng tôi phàn nàn về những “người Trung Cộng xấu” này, nhưng chúng tôi không bao giờ nói “người Trung Hoa” xấu. Không bao giờ.

During the last 20 years I have met a lot of Tibetans from Tibet—students, government officials and businessmen. They express great dissatisfaction. Now some of them refer to Chinese people in a derogatory manner. Even in prison there is a division between Chinese and Tibetan inmates. This I think is very bad. This must change. Not through harsh [measures]—that would just harden the stands—but by developing trust. I think real autonomy can restore that trust. As far I am concerned, I'm totally dedicated toward this goal. It is not just politics. My aim is to create a happy society with genuine friendship. Friendship between Tibetan and Chinese peoples is very essential.

Trong 20 năm qua, tôi đã từng gặp nhiều người Tây Tạng từ quê hương Tuyết Sơn đến – sinh viên, viên chức nhà nước và thương nhân. Họ biểu lộ thái độ rất bất mãn. Bây giờ, một số họ liên hệ đến người Hoa trong một thái độ xúc phạm. Ngay cả trong trại giam, cũng có một sự phân biệt giữa những bạn tù người Hoa và Tạng. Điều này tôi nghĩ là rất tệ. Điều này phải thay đổi. Không phải qua mức độ cay nghiệt – điều ấy chỉ làm tình thế trở nên khó khăn hơn – mà bằng sự phát triển lòng tin. Tôi nghĩ một vùng tự trị thật sự có thể khôi phục lại lòng tin. Như tôi quan tâm đến nay, tôi hoàn toàn cống hiến cho mục tiêu này. Điều này không chỉ là chủ trương. Khuynh hướng của tôi là tạo nên một xã hội hạnh phúc với lòng hữu nghị chân thành. Tình thân hữu Hoa – Tạng là rất cần yếu.

Some images of the recent casualties have been graphic and disturbing. Have you seen them? What was your reaction? We heard you wept.

NEWSWEEK: Một số hình ảnh tai biến gần đây là sinh động và đáng ngại. Ngài đã thấy chứ? Phản ứng của ngài là thế nào? Chúng tôi nghe ngài đã rơi lệ.

Yes, I cried once. One advantage of belonging to the Tibetan Buddhist culture is that at the intellectual level there is a lot of turmoil, a lot of anxiety and worries, but at the deeper, emotional level there is calm. Every night in my Buddhist practice I give and take. I take in Chinese suspicion. I give back trust and compassion. I take their negative feeling and give them positive feeling. I do that every day. This practice helps tremendously in keeping the emotional level stable and steady. So during the last few days, despite a lot of worries and anxiety, there is no disturbance in my sleep. [Laughs]

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng, tôi đã khóc một lần. Một thuận lợi thuộc văn hóa Phật Giáo Tây Tạng là tại trình độ trí năng có nhiều rối loạn, nhiều băn khoăn và lo lắng, nhưng ở trình độ cảm xúc sâu hơn có sự tĩnh lặng. Mỗi đêm trong sự thực tập Phật Giáo của tôi, tôi cho và nhận. Tôi nhận sự nghi ngờ của người Trung Cộng. Tôi tặng lại niềm tin và từ bi. Tôi nhận lấy cảm giác tiêu cực của họ và ban tặng họ cảm giác tích cực. Tôi làm như thế mỗi ngày. Đây là sự thực tập hổ trợ vô cùng trong việc giữ trình độ cảm xúc ổn định và vững vàng. Vì thế, trong vài ngày nay, mặc dù nhiều băn khoăn và lo lắng, nhưng không có sự quấy rầy nào trong giấc ngủ của tôi. [Cười]

Melinda Liu is Bejiing bureau chief for Newsweek and The Daily Beast, a veteran foreign correspondent, and recipient of a number of awards, including the 2006 Shorenstein Journalism Award, acknowledging her reporting on Asia.

Melinda Liu Bejiing trưởng văn phòng cho Newsweek và The Daily Beast, một phóng viên kỳ cựu nước ngoài, và đã nhận của một số giải thưởng, bao gồm cả giải thưởng Báo chí Shorenstein năm 2006, ghi nhận báo cáo của bà trên tuyến châu Á.


Translated by Tuệ Uyển

http://www.thedailybeast.com/newsweek/2008/03/19/fears-and-tears.html