MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, June 29, 2011

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 7 Thư gởi nhà thơ trẻ 7


THE SEVENTH LETTER

BỨC THƯ THỨ BẢY

Rome
May 14, 1904

My dear Mr. Kappus,

Much time has passed since I received your last letter. Please don't hold that against me; first it was work, then a number of interruptions, and finally poor health that again and again kept me from answering, because I wanted my answer to come to you out of peaceful and happy days. Now I feel somewhat better again (the beginning of spring with its moody, bad-tempered transitions was hard to bear here too) and once again, dear Mr. Kappus, I can greet you and talk to you (which I do with real pleasure) about this and that in response to your letter, as well as I can.

Rome,

ngày 14, tháng 5, năm 1904.

Ông Kappus thân ái,

Từ lúc nhận được bức thư cuối cùng của ông cho tới hôm nay bao nhiêu thời gian biền biệt trôi qua. Việc sáng tác, những lo âu thường nhật bần thần khó chịu trong cơ thể đã làm trở ngại việc phúc đáp thư ông. Và tôi lại muốn việc hồi âm của tôi được đến ông từ những ngày bình thản và tươi đẹp. (Tiết lập xuân, với những chứng triệu thất thường khó chịu, ảnh hưởng nhiều đến tâm thức tôi ở đây). Ngày hôm nay tôi cảm thấy được đôi chút khỏe khoắn thảnh thơi, ông Kappus thân ái, tôi xin biên thư ngay để chào ông và nói hết tâm sự (nói tận lòng) nói bao nhiêu việc về bức thư cuối cùng của ông.

You see: I have copied out your sonnet, because I found that it is lovely and simple and born in the shape that it moves in with such quiet decorum. It is the best poem of yours that you have let me read. And now I am giving you this copy because I know that it is important and full of new experience to rediscover a work of one's own in someone else's handwriting. Read the poem as if you had never seen it before, and you will feel in your innermost being how very much it is your own.

It was a pleasure for me to read this sonnet and your letter, often; I thank you for both.

Như ông đã thấy đó, tôi đã chép bài thơ ngắn của ông vì tôi thấy bài thơ ấy đẹp và đơn giản và được khai sinh ra trong hình thức khả dĩ giúp cho bài thơ được chuyển dịch một cách thầm lặng chỉnh trang. Trong tất cả những vần điệu do ông sáng tác mà tôi đã đọc, đây mới chính là những vần thơ tuyệt tác của ông. Tôi gửi cho ông bài chép tay của tôi về bài thơ ông làm, vì tôi vẫn biết rõ rằng khi mình đọc lại tác phẩm của mình trong nét chữ xa lạ thì mình học được nhiều điều hay lắm. Ông hãy đọc những vần thơ này như là đọc những câu thơ của một kẻ khác, và lúc ấy ông mới cảm thấy tận lòng mình mức độ độc sáng của những vần điệu thuộc về mình.

And you should not let yourself be confused in your solitude by the fact that there is some thing in you that wants to move out of it. This very wish, if you use it calmly and prudently and like a tool, will help you spread out your solitude over a great distance. Most people have (with the help of conventions) turned their solutions toward what is easy and toward the easiest side of the easy; but it is clear that we must trust in what is difficult; everything alive trusts in it, everything, in Nature grows and defends itself any way it can and is spontaneously itself, tries to be itself at all costs and against all opposition. We know little, but that we must trust in what is difficult is a certainty that will never abandon us; it is good to be solitary, for solitude is difficult; that something is difficult must be one more reason for us to do it.

Xin ông đừng để bị phiền muộn trong nỗi cô đơn vì ông tự cảm thấy có cái gì trong người mình nhoi nhoi nhất thời muốn đạp bỏ sự cô đơn để đi ra bên ngoài.Những sự lôi cuốn dụ hoặc này cũng có thể giúp đỡ ông nếu ông dùng chúng trong sự điềm đạm thanh thản và sự suy tư chín chắn, ông có thể dùng chúng như một dụng cụ để trải rộng nỗi cô đơn của ông đến một cõi vùng phong phú hơn và bao la hơn nữa. Người đời thường có những giải đáp dễ dãi đối với cuộc sống. Tuy thế, điều quá rõ ràng là chúng ta cần phải sống với sự khó khăn. Tất cả những gì đang sống phải vin vào sự khó khăn. Mỗi một sinh thể tự phát triển và tự vệ tùy theo thể cách của mình và rút tỉa từ bản thân mình dạng thức độc đáo riêng biệt của mình, với bất cứ giá nào, chống lại mọi trở ngại. Chúng ta đâu biết được, hiểu được bao nhiêu, song chúng ta cần phải đeo đuổi. Được cô độc là một điều tốt đẹp, vì sự cố đơn là một sự việc khó khăn. Nếu một sự việc gì quả thực là khó khăn thì đó là một lý do hơn nữa để cho chúng ta vin dựa đeo đuổi.

It is also good to love: because love is difficult. For one human being to love another human being: that is perhaps the most difficult task that has been entrusted to us, the ultimate task, the final test and proof, the work for which all other work is merely preparation. That is why young people, who are beginners in everything, are not yet capable of love: it is something they must learn. With their whole being, with all their forces, gathered around their solitary, anxious, upward-beating heart, they must learn to love. But learning-time is always a long, secluded time, and therefore loving, for a long time ahead and far on into life, is: solitude, a heightened and deepened kind of aloneness for the person who loves.

Yêu đương cũng là một điều tốt đẹp; vì tình yêu cũng khó khăn. Tình yêu của một con người đối với một con người khác, đó có lẽ là sự thử thách khó khăn nhất đối với mỗi một người trong chúng ta, đó là sự tâm chứng cao cả nhất của bản thân chúng ta, sự nghiệp tối cao mà tất cả mọi sự nghiệp khác chỉ là những sự chuẩn bị mở đường. Cũng vì thế mà những con người trẻ tuổi, khi hãy còn mới non tinh khôi trong mọi việc, tất nhiên hãy còn chưa biết yêu đương; họ phải học yêu mới được. Họ học yêu, tập yêu, bằng tất cả sinh lực của con người họ, những sinh lực được tập trung trong lòng họ, trong nhịp đập tim xao xuyến và cô liêu. Tất cả mọi sự học tập đều là thời gian ẩn dật đóng cửa. Đối với kẻ yêu đương cũng thế, tình yêu từ bao giờ chỉ là cô đơn, cô đơn càng lúc càng nung nấu, càng mãnh liệt, càng sâu thẳm hơn nữa.

Loving does not at first mean merging, surrendering, and uniting with another person (for what would a union be of two people who are unclarified, unfinished, and still incoherent?), it is a high inducement for the individual to ripen, to become something in himself, to become world, to become world in himself for the sake of another person; it is a great, demanding claim on him, something that chooses him and calls him to vast distances. Only in this sense, as the task of working on themselves ("to hearken and to hammer day and night"), may young people use the love that is given to them. Merging and surrendering and every kind of communion is not for them (who must still, for a long, long time, save and gather themselves); it is the ultimate, is perhaps that for which human lives are as yet barely large enough.

Tình yêu, không phải từ thoạt đầu chỉ là dâng hiến, trao tặng, tự cho, tự kết hợp cới một người khác. (Kết hợp làm gí mới được chứ, khi đó chỉ là sự kết hợp của hai sinh thể hãy còn mập mờ, lở dở, chưa tự lập?). Tình yêu phải là dịp duy nhất để chín muồi, thành thục, để kết nụ thành hình, để kết trái đơm bông, để chính mình trở nên một thế giới phụng hiến cho tình nồng đối với người mình yêu. Đó là một yêu sách cao cả quí phái, một cao vọng không giới hạn, chuyển hóa kẻ yêu đương trở thành một kẻ được tuyển định, một ý trung nhân mà trùng khơi đời sống lên tiếng gọi. Trong tình yêu, mỗi khi tình yêu hiện hình, đó chỉ là bổn phận tạo tác cho bản thân của chính những con người trẻ tuổi mà họ cần phải nhìn thấy. Tự đánh mất mình trong một người khác, tự dâng hiến mình cho một người khác, tất cả những cung cách giao hợp vẫn chưa dành sẵn cho họ. Trước hết, họ cần phải trữ tài thực lâu dài, tích lũy thực lâu dài. Sự tự hiến bản thân là một sự lạc thành hoàn tựu: con người có lẽ vẫn chưa có khả năng để làm được việc đó.

But this is what young people are so often and so disastrously wrong in doing: they (who by their very nature are impatient) fling themselves at each other when love takes hold of them, they scatter themselves, just as they are, in all their messiness, disorder, bewilderment. And what can happen then? What can life do with this heap of half-broken things that they call their communion and that they would like to call their happiness, if that were possible, and their future? And so each of them loses himself for the sake of the other person, and loses the other, and many others who still wanted to come. And loses the vast distances and possibilities, gives up the approaching and fleeing of gentle, prescient Things in exchange for an unfruitful confusion, out of which nothing more can come; nothing but a bit of disgust, disappointment, and poverty, and the escape into one of the many conventions that have been put up in great numbers like public shelters on this most dangerous road.

Đó là lỗi lầm thông thường trần trọng của bao nhiêu người trẻ tuổi. Họ xấn vào nhau, khi tình yêu vồ lấy họ, vì bản tính của họ vốn là không biết chờ đợi. Họ buông thả với nhau tràn lan lai láng, đang khi tâm hồn họ chỉ là mớ sơ thảo sờ soạng, ám dục, hỗn loạn. Nhưng vậy thì sao? Cuộc đời có thể làm gì được với mớ dây rối chằng chịt của những vật liệu bỏ phí này mà họ gọi là sự giao thoa, mà họ lại muốn gọi là hạnh phúc của họ? – Và ngày mai thì sao? Mỗi một người lại tự đánh mất mình vì tình yêu đối với kẻ khác, rồi lại đánh mất luôn kẻ khác và đánh mất luôn tất cả những kẻ nào sẽ đến sau đó. Mỗi một người đánh mất ý thức về trùng khơi sinh động bao la và những phương tiên để đạt tới đó, mỗi người đánh đổi sự vãng lai nhịp nhàng của những sự thể im lặng, đầy tràn bao hứa hẹn, để đổi lấy sự tạp nhạp khô cằn mà từ đó chỉ còn sót lại dư vị chán chường, nghèo nàn, vỡ mộng ê chề. Thế là kẻ ấy chỉ còn cách đi tìm cho được một nơi trú ẩn trong bao nhiêu công thức ước lệ hiện lên đầy dẫy khắp nơi, chìa sẵn những chỗ nương náu dọc suốt con đường gian nan hiển nghèo.

No area of human experience is so extensively provided with conventions as this one is: there are life-preservers of the most varied invention, boats and water wings; society has been able to create refuges of every sort, for since it preferred to take love life as an amusement, it also had to give it an easy form, cheap, safe, and sure, as public amusements are.

Không có cõi vùng nào của con người chứa đầy công thức ước lệ như là ở đó. Những ghe xuồng, những chiếc phao, những đai cứu nịch, ồ, xã hội đã cung cấp bao nhiêu phương tiện để trốn thoát. Khi người đời có khuynh hướng chỉ coi tình yêu như một khoái lạc nhục thể thì họ đã làm cho tình yêu trở nên dẽ dãi, dễ bắt, rẻ tiền, thiếu mất liều lĩnh, nghĩa là không khác gì một cuộc vui ở hội chợ.

It is true that many young people who love falsely, i.e., simply surrendering themselves and giving up their solitude (the average person will of course always go on doing that), feel oppressed by their failure and want to make the situation they have landed in livable and fruitful in their own, personal way. For their nature tells them that the questions of love, even more than everything else that is important, cannot be resolved publicly and according to this or that agreement; that they are questions, intimate questions from one human being to another, which in any case require a new, special, wholly personal answer. But how can they, who have already flung themselves together and can no longer tell whose outlines are whose, who thus no longer possess anything of their own, how can they find a way out of themselves, out of the depths of their already buried solitude?

Biết bao nhiêu chàng và nàng chỉ lao đến tình yêu trong giới hạn chật hẹp thông thường của người đời dung nhàn (tất nhiên, hạng người trung bình tà tà thì chỉ vẫn luôn luôn là thế thôi), rồi thì họ cũng khom trĩu dưới lỗi lầm của người thiên hạ! Họ cố gắng tìm đủ mọi cách riêng để hô hấp sinh khí phong nhiêu vào thảm trạng mà họ đang bị rơi vào. Rồi bản tính của họ cũng dạy họ biết rõ rằng những sự thể của tình yêu, khó hơn cả những sự thể khác không kém phần quan trọng, không thể nào được giải quyết rập theo nguyên tắc đại loại nào đó, loại nguyên tắc có giá trị trong đủ mọi trường hợp. Họ cảm thấy mãnh liệt rằng đó là một câu hỏi được đặt ra giữa một sinh thể này với một sinh thể khác, và đối với mỗi một trường hợp thì phải cần có một sự giải đáp độc đáo, hoàn toàn có tính cách cá nhân riêng biệt thôi. Nhưng làm thế nào khi mà họ đã lầm lẫn lộn xộn, trong lúc vồ xiết xấn chụp với nhau, khi mà họ đã đánh mất những gì trung thực thiết thân nhất của bản thể họ thì làm thế nào họ còn tìm thấy trong người họ một con đường thoát ra ngoài hố thẳm mà nỗi cô đơn của họ đã trầm một tiêu tán?

They act out of mutual helplessness, and then if, with the best of intentions, they try to escape the convention that is approaching them (marriage, for example), they fall into the clutches of some less obvious but just as deadly conventional solution. For then everything around them is convention. Wherever people act out of a prematurely fused, muddy communion, every action is conventional: every relation that such confusion leads to has its own convention, how ever unusual (i.e., in the ordinary sense immoral) it may be; even separating would be a conventional step, an impersonal, accidental decision without strength and without fruit.

Cả hai người, chàng và nàng, đều hành động một cách mù lòa. Họ cố dùng ý lực để tránh những công ước đại loại như việc hôn nhân nhưng rồi lại rơi vào những công ước khác, dù ít lòe loẹt sơ thiển hơn, nhưng không hẳn kém phần khốc hại. Đói với sức hạn của họ thì đó chỉ là những công thức ước lệ, tất cả những gì thoát từ những cuốc giao thoa ngầu đục này, (ngầu đục hỗn loạn vì vội vã hấp tấp) thì chỉ có thể là những công thức ước lệ mà thôi. Những tương giao phát xuất tử những lỗi lầm như vậy chỉ chứa đựng một sự thỏa hiệp trong tự thể, dù sự thỏa hiệp ấy đứng bên ngoài thói thường đi nữa (trong ngôn ngữ thông dụng: phi luân). Rồi đến sự tuyệt tình ruồng bỏ nhau cũng chỉ là một cử chỉ có tính cách công thức ước lệ phi nhân, bình phàm, bất kỳ, bạc nhược, vô hiệu.

Whoever looks seriously will find that neither for death, which is difficult, nor for difficult love has any clarification, any solution, any hint of a path been perceived; and for both these tasks, which we carry wrapped up and hand, on without opening, there is no general, agreed-upon rule that can be discovered. But in the same measure in which we begin to test life as individuals, these great Things will come to meet us, the individuals, with greater intimacy. The claims that the difficult work of love makes upon our development are greater than life, and we, as beginners, are not equal to them. But if we nevertheless endure and take this love upon us as burden and apprenticeship, instead of losing ourselves in the whole easy and frivolous game behind which people have hidden from the most solemn solemnity of their being, then a small advance and a lightening will perhaps be perceptible to those who come long after us. That would be much.

Giống như trong sự chết, vì chết cũng là một sự khó khăn, trong tình yêu cũng khó khăn như thế, kẻ nào bước đi trang trọng trên lộ trình của tình yêu hoặc của sự chết thì sẽ không được ánh sáng nào dắt dẫn, sẽ không được một lới giải đáp nào chìa sẵn ra đó, không được một đường hướng nào đã được vạch trước. Cũng thế, đối với bổn phận này cũng như đối với bổn phận kia, những thế phận mà chúng ta cưu mang và được ẩn kín trong lòng, mà chúng ta trao truyền lại cho những kẻ khác và không thể nào giải minh được nổi, quả thực là chúng ta không thể nào đưa ra những nguyên tắc lề luật khái quát được. Chỉ khi nào chúng ta cảm thấy cô độc thì lúc đó tình yêu và nỗi chết mới xê lại ấn nhau. Những yêu sách của cơ sự dễ sợ nàu, gọi là tính yêu, băng suốt đời sống chúng ta thực rõ là không thuộc trong kích thước của sinh hạn, và chúng ta không đủ tầm vóc để đáp ứng những yêu sách ấy từ ngay những bước chập chững đầu tiên. Nhưng nếu chúng ta vẫn thường tỏ ra kiên cố nhẫn nại, nếu chúng ta chịu thụ nhận tình yêu như là một sự tu học gian nan, thay vì tự đánh mất mình trong những ngón trò dễ dãi đú đởn khả dĩ khiến cho người đời trốn tránh sự nghiêm trọng của việc sinh hữu thì lúc ấy có lẽ đôi chút tiến bộ, đôi chút khinh khoái vơi nhẹ dịu bớt nào đó có thể sẽ hiện đến cho những kẻ nào nối gót theo chúng ta và kể sau suốt thời gian dài sau chúng ta. Đó cũng là nhiều lắm rồi còn gì.

We are only just now beginning to consider the relation of one individual to a second individual objectively and without prejudice, and our attempts to live such relationships have no model before them. And yet in the changes that time has brought about there are already many things that can help our timid novitiate.

Cho mãi đến ngày hôm nay chúng ta cũng khó lòng nhìn xét tương giao giữa một sinh thể này với một sinh thể khác mà không vướng phải những thành kiến. Những cố gắng nỗ lực để sống qua những tương giao như vậy vẫn còn thiếu những gương mẫu dìu dắt. tuy thế, quá khứ vẫn chứa đựng những phác thảo về đời sống và chỉ chực chờ hướng dẫn những bước đi lưỡng lự của chúng ta.

The girl and the woman, in their new, individual unfolding, will only in passing be imitators of male behavior and misbehavior and repeaters of male professions. After the uncertainty of such transitions, it will become obvious that women were going through the abundance and variation of those (often ridiculous) disguises just so that they could purify their own essential nature and wash out the deforming influences of the other sex.

Người thiếu nữ và người đàn bà, trong sự phát triển cơ thể của riêng họ vẫn bắt chước nhất thời những chứng thói và cung cách nam tính, hành nghề đàn ông nhất thời thôi. Khi những giai đoạn chuyển thời vô định này đã trôi qua rồi thì người ta sẽ thấy rằng những người đàn bà thường khi chịu giả trang lố bịch như thế là chỉ để tống khứ ra khỏi bản chất họ những ảnh hưởng méo mó của nam phái.

Women, in whom life lingers and dwells more immediately , more fruitfully, and more confidently, must surely have become riper and more human in their depths than light, easygoing man, who is not pulled down beneath the surface of life by the weight of any bodily fruit and who, arrogant and hasty, undervalues what he thinks he loves.

Người đàn bà chứa đựng trong người họ một đời sống bột phát tư nhiên hơn, phong nhiêu hơn, đầy tin tưởng hơn là người đàn ông, nhất định đàn bà chín muồi hơn, gần gũi với nhân tính hơn là đàn ông, – đàn ông kênh kiệu, náo nức, thiếu kiên nhẫn, bỏ quên giá trị của điều mình tin yêu, vì đàn ông không sống tận vùng sâu thẳm của đời sống như đàn bà qua trái kết trong lòng họ.

This humanity of woman, carried in her womb through all her suffering and humiliation, will come to light when she has stripped off the conventions of mere femaleness in the transformations of her outward status, and those men who do not yet feel it approaching will be astonished by it. Someday (and even now, especially in the countries of northern Europe, trustworthy signs are already speaking and shining), someday there will be girls and women whose name will no longer mean the mere opposite of the male, but something in itself, something that makes one think not of any complement and limit, but only of life and reality: the female human being.

Nhân loại tính mà người đàn bà đã làm chín muồi thành thục trong đau đớn và khuất phục, nhân loại tính ấy sẽ hiển lộ khi nào người đàn bà phá tan những xiềng xích về sinh phận xã hội của họ. Những người đàn ông nào không cảm thấy ngày hiển lộ ấy sẽ sửng sốt ngạc nhiên và trở thành chiến bại. Một ngày nào đó (những chứng triệu rõ ràng đã bắt đầu xuất hiện ở những xứ Bắc Âu), người thiếu phụ sẽ hiện diện; “thiếu nữ” “thiếu phụ”, không chỉ còn có ý nghĩa là trái ngược với nam tính mà một cái gì độc sáng, mang giá trị nơi tự thế; không còn là một sự bổ túc phụ thuộc mà là một hình thái hoàn bị của đời sống: người đàn bà với nhân loại tính thực thụ của mình.

This advance (at first very much against the will of the outdistanced men) will transform the love experience, which is now filled with error, will change it from the ground up, and reshape it into a relationship that is meant to be between one human being and another, no longer one that flows from man to woman. And this more human love (which will fulfill itself with infinite consideration and gentleness, and kindness and clarity in binding and releasing) will resemble what we are now preparing painfully and with great struggle: the love that consists in this: that two solitudes protect and border and greet each other.

Sự tiến bộ như thế sẽ chuyển hình đổi dạng đời sống yêu đương ngày nay, một đời sống đầy những sai lầm (và điều tiến bộ kia sẽ trái ý người đàn ông, họ phải chịu đi sau vậy). Tình yêu lúc ấy sẽ không còn là sự giao du qua lại giữa một người đàn ông và một người đàn bà mà là sự giao thoa giữa một nhân tính này với một nhân tính khác. Khi tình yêu đến gần gũi hơn với nhân tính thì tình yêu sẽ tế nhị vô hạn và đầy sự tôn trọng, thiện hảo và minh mẫn trong tất cả mọi sự việc mà tình yêu thắt chặt hay tháo gỡ. Đó sẽ là tình yêu mà chúng ta chuẩn bị trong sự nỗ lực tranh đấu gian nan: hai nỗi cô đơn che chở đùm bọc nhau, bổ túc nhau, giới hạn nhau, cúc cung với nhau.

And one more thing: Don't think that the great love which was once granted to you, when you were a boy, has been lost; how can you know whether vast and generous wishes didn't ripen in you at that time, and purposes by which you are still living today? I believe that that love remains so strong and intense in your memory because it was your first deep aloneness and the first inner work that you did on your life. - All good wishes to you, dear Mr. Kappus!

Yours,

Rainer Maria Rilke

Còn một điều này nữa: đừng ngỡ rằng tình yêu mà ông được biết khi mới chớm lớn là đã mất rồi. Không phải tình yêu ấy đã gieo mầm mống trong người ông bao nhiêu hoài vọng phong phú và mãnh liệt, những dự thế mà cho mãi đến hôm nay ông hãy còn nuôi dưỡng? Tôi cho rằng sở dĩ tình yêu ấy đã sống còn một cách mạnh mẽ như thế, mãnh liệt như thế, trong hoài niệm của ông là vì tình yêu ban đầu ấy là một dịp đầu tiên cho ông được cô độc nơi tận lòng sâu thẳm nhất của hồn ông, sự cố gắng đầu tiên bên trong tâm hồn mà ông đã thể hiện thử thách trong đời sống của ông. Xin ông nhận tất cả lời chúc tụng của tôi, ông Kappus thân ái.

Mến chào,

RAINER MARIA RILKE




LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 6 Thư gởi nhà thơ trẻ 6


THE SIXTH LETTER

BỨC THƯ THỨ SÁU

Rome
December 23, 1903

My dear Mr. Kappus,

Rome,

ngày 23 tháng chạp, năm 1903

Ông Kappus thân ái,

I don't want you to be without a greeting from me when Christmas comes and when you, in the midst of the holiday, are bearing your solitude more heavily than usual. But when you notice that it is vast, you should be happy; for what (you should ask yourself) would a solitude be that was not vast; there is only one solitude, and it is vast, heavy, difficult to bear, and almost everyone has hours when he would gladly exchange it for any kind of sociability, however trivial or cheap, for the tiniest outward agreement with the first person who comes along, the most unworthy. But perhaps these are the very hours during which solitude grows; for its growing is painful as the growing of boys and sad as the beginning of spring. But that must not confuse you. What is necessary, after all, is only this: solitude, vast inner solitude. To walk inside yourself and meet no one for hours - that is what you must be able to attain. To be solitary as you were when you were a child, when the grownups walked around involved with matters that seemed large and important because they looked so busy and because you didn't understand a thing about what they were doing.

Không lẽ nào tôi lại không gửi đến ông lời chào mừng nhân dịp lễ giáng sinh sắp tới, khi mà giữa cuộc lễ vui ông lại còn cưu mang nỗi cô đơn của ông nặng nề hơn bao giờ cả. Nếu lúc ấy ông cảm thấy rằng nỗi cô đơn của ông quá lớn lao thì ông hãy vui hưởng nỗi cô đơn mênh mông ấy. Ông hãy tự nhủ: nỗi cô đơn sẽ là gì, khi đó không phải là nỗi cô đơn lớn lao nhỉ? Nỗi cô đơn chỉ là một, là độc nhất: tận nơi bản thể thì nỗi cô đơn đều lớn lao và nặng chĩu. Hầu hết mọi người đều trải qua những giờ giấc mà họ sẵn sàng đổi chác để lấy cho được một cuộc giao du nào dù tầm thường nông cạn đi chăng nữa cũng được, đổi lấy bất cứ hình thức giả vờ nào có vẻ tương thuận hời hợt nhất với bất cứ kẻ nào chợt đến, dù là kẻ không xứng đáng với mình nhất… Song có lẽ những giờ phút cô tịch kia chính là những giờ phút mà nỗi cô đơn của ông được tăng trưởng cao lớn và sự lớn mạnh kia thì thực là đau đớn như tuổi lớn của trẻ con và trầm buồn như trời sắp lập xuân. Xin ông đừng chộn rộn. Chỉ có một điều là cần thiết: đó là nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn cao lớn bên trong tâm hồn. Ông hãy đi sâu vào tâm hồn ông và đừng gặp mặt bất cứ ai suốt những giờ đằng đẵng lê thê, đó là điều mình phải đạt tới. Mình phải cô đơn như trẻ con trơ trọi một mình lúc người lớn đi qua đi lại trong nhà, lao đao lận đận bận bịu líu díu với những sự việc dường như to lớn đối với trẻ con và dường như quan trọng chỉ vì những người lớn chộn rộn và trẻ con thì không hiểu nổi những sự việc bề bộn kia của những người lớn tuổi.

And when you realize that their activities are shabby, that their vocations are petrified and no longer connected with life, why not then continue to look upon it all as a child would, as if you were looking at something unfamiliar, out of the depths of your own world, from the vastness of your own solitude, which is itself work and status and vocation? Why should you want to give up a child's wise not-understanding in exchange for defensiveness and scorn, since not understanding is, after all, a way of being alone, whereas defensiveness and scorn are a participation in precisely what, by these means, you want to separate yourself from.

Một ngày nào đó khi mình chợt thấy rằng những lo âu chộn rộn của người lớn quả thực là xót xa cơ cực, những công ăn việc làm của họ thì nguội lạnh và không can hệ gì với đời sống, lúc ấy là lúc mình khó lòng không nhìn họ như trẻ con nhìn họ, nghĩa là một cái gì xa lạ hẳn người đời, một cái nhìn từ tận lòng thế giới riêng biệt của mình, tận nỗi cô đơn bao la, một nỗi cô đơn đồng thời cũng là sự lao tác, thuận vị và thiên chức? Tại sao mình lại chịu đổi cái vô tri khôn ngoan của trẻ con để lấy sự cạnh tranh và rẻ rúng thị phi bởi vì sự vô tri kia chính là thuận chịu cô đơn và cạnh tranh sự rẻ rúng thị phi kia chỉ là những cách lối tham dự vào chính những sự việc mà người ta không muốn biết tới?

Think, dear Sir, of the world that you carry inside you, and call this thinking whatever you want to: a remembering of your own childhood or a yearning toward a future of your own - only be attentive to what is arising within you, and place that above everything you perceive around you. What is happening in your innermost self is worthy of your entire love; somehow you must find a way to work at it, and not lose too much time or too much courage in clarifying your attitude toward people. Who says that you have any attitude at all? l know, your profession is hard and full of things that contradict you, and I foresaw your lament and knew that it would come.

Ông thân ái, xin ông hãy áp dụng những tư duy của ông vào thế giới nội tâm mà ông cưu mang trong hồn, hảy gọi dậy những tư duy này như sở vọng của mình. Nhưng dù đó là hoài niệm về chính tuổi nhỏ của ông hoặc về nhu cầu say đắm của việc thể hiện thành đạt đời mình thì ông hãy tập trung tinh thần vào tất cả những gì bừng dậy trong hồn ông, hãy để tất cả những cái ấy vượt lướt qua trước tất cả những gì ông quan sát ở thế giới bên ngoài. Những biến cố nội tâm của ông rất xứng đáng thụ hưởng tất cả lòng thương yêu của ông. Ông phải làm việc phụng sự cho chúng, đừng đánh mất quá nhiều thời giờ, đừng làm mất quá nhiều sinh lực để soi rọi những mối tương giao của ông với những kẻ khác. Hơn nữa ai lại bảo ông rằng ông phải cần như thế chứ? – Tôi thừa hiểu, nghề nghiệp của ông hiện nay quả là vất vả gian nan và va chạm phiền lụy ông nhiều, tôi đã đoán trước những lời kêu than của ông; tất nhiên ông sẽ kêu than.

Now that it has come, there is nothing I can say to reassure you, I can only suggest that perhaps all professions are like that, filled with demands, filled with hostility toward the individual, saturated as it were with the hatred of those who find themselves mute and sullen in an insipid duty. The situation you must live in now is not more heavily burdened with conventions, prejudices, and false ideas than all the other situations, and if there are some that pretend to offer a greater freedom, there is nevertheless none that is, in itself, vast and spacious and connected to the important Things that the truest kind of life consists of.

Giờ thì ông đã kêu than rồi, tôi không làm thế nào trấn an ông được. Những gì tôi có thể làm được là chỉ khuyên ông nên tự vấn: không phải tất cả nghề nghiệp đều như vậy sao, nghĩa là đầy mọi yêu sách, chống trở đối nghịch lại với nhân thể, dường như thấm nhiễm đầy lòng oán ghét của những kẻ đuối lý gắt gỏng trước bổn phận trơ trọi. Sinh phận mà hiện nay ông phải chịu quen thuộc không hẳn là nặng đầy những công thức ước lệ, những thành kiến lỗi lầm hơn là bất cứ một sinh phận nào khác. Nếu có những người nào đó dường như có vẻ bảo toàn được sự tự do thì không ai có đủ những khai vực kích thước cần phải có cho những sự việc vĩ đại làm thành đời sống trung thực nhất.

Only the individual who is solitary is placed under the deepest laws like a Thing, and when he walks out into the rising dawn or looks out into the event-filled evening and when he feels what is happening there, all situations drop from him as if from a dead man, though he stands in the midst of pure life. What you, dear Mr. Kappus, now have to experience as an officer, you would have felt in just the same way in any of the established professions; yes, even if, outside any position, you had simply tried to find some easy and independent contact with society, this feeling of being hemmed in would not have been spared you.

Song con người sống với nỗi cô đơn chính là một sinh thể nhu thuận theo những lề luật sâu thẳm nhất của đời sống. và mội khi con người cô đơn này bước ra trong buổi rạng đông đang bừng dậy hoặc mỗi khi hắn ngước nhìn vào đêm tối đang rơi xuống, giờ phút tràn đầy những nứt nụ đơm trái này, nếu hắn cảm được những gì đang thành tựu trong đó thì lúc ấy hắn lột bỏ tất cả mọi sinh phận điều kiện, giống như một người đang sắp chết, mặc dù chính lúc ấy là lúc hắn đang bước vào đời sông chân thực nhất. Về những nỗi khó khăn gian nan của binh nghiệp, hỡi ông Kappus thân ái, ông cũng sẽ gặp những khổ nạn ấy trong tất cả nghề nghiệp nào khác. Dù ông đã tìm mọi cách để tạo ra giữa ông và xã hội những mối tương giao uyển chuyển và thoải mái, xa cách hẳn tất cả nghề nghiệp thì ngay cả lúc ấy ông cũng cảm thấy không tránh khỏi cảm giác đàn áp đè nặng trong tâm tư mình.

It is like this everywhere; but that is no cause for anxiety or sadness; if there is nothing you can share with other people, try to be close to Things; they will not abandon you; and the nights are still there, and the winds that move through the trees and across many lands; everything in the world of Things and animals is still filled with happening, which you can take part in; and children are still the way you were as a child, sad and happy in just the same way and if you think of your childhood, you once again live among them, among the solitary children, and the grownups are nothing, and their dignity has no value.

Ở đâu rồi cũng như thế, nhưng đó không phải là một lý do để bồn chồn áy náy và buồn rầu sầu thảm. nếu không không tìm được sự giao cảm dung nhập giữa ông và những người đời, vậy ông hãy cố gắng sống gần gũi với những sự vật: những sự vật không bao giờ từ bỏ ông đâu. Những đêm tối khơi vơi vẫn còn đó kìa, những cơn gió lay động lá cành vẫn còn đó kìa, những cơn gió chạy ri1y băng qua trên những cọi miền hun nút. Trong thế giới của những sự vật và trong thế giới của những thú vật, tất cả đều tràn đầy những biến cố cơ sự ,mà ông có thể tham dự dung nhập. Những trẻ con luôn luôn giống như tuổi thơ dại ngày trước của ông: nghĩa là vừa buồn vừa vui; và nếu ông nghĩ tới tuổi thơ của ông, ông sẽ được sống lại với những trẻ con, sống giữa những đứa bé bí mật. những con người lớn tuổi chẳng là gì cả, phẩm cách của họ không cung ứng với cái gì cả.

And if it frightens and torments you to think of childhood and of the simplicity and silence that accompanies it, because you can no longer believe in God, who appears in it everywhere, then ask yourself, dear Mr. Kappus, whether you have really lost God. Isn't it much truer to say that you have never yet possessed him? For when could that have been? Do you think that a child can hold him, him whom grown men bear only with great effort and whose weight crushes the old? Do you suppose that someone who really has him could lose him like a little stone? Or don't you think that someone who once had him could only be lost by him? But if you realize that he did not exist in your childhood, and did not exist previously, if you suspect that Christ was deluded by his yearning and Muhammad deceived by his pride - and if you are terrified to feel that even now he does not exist, even at this moment when we are talking about him - what justifies you then, if he never existed, in missing him like someone who has passed away and in searching for him as though he were lost?

Nếu ông cảm thấy xao xuyến bồn chồn day dứt mỗi khi khơi dậy tuổi thơ dại của ông, khôi dậy tất cả những gì chất phác và bí ẩn trong tuổi thơ, vì ông không thể tin tưởng gì nữa nơi Linh thể ngày xưa thường hiện hữu nơi từng bước chân của trẻ dại, lúc ấy, hỡi ông Kappus thân ái, ông hãy tự hỏi rằng có thực sự ông đã đánh mất Linh thể? Đúng hơn: phải chăng ông chưa bao giờ thụ nhận được Linh thể? Thực ra khi nào thì ông mới thụ nhận? Ông có tin rằng trẻ thơ có thể ôm giữ Linh thể trong tay nó, Linh thể mà con người trưởng thành cưu mang với đầy khốn khổ cơ cực; Linh thể mà trọng lực đè bẹp kẻ già nua tuổi tác? Ông có cho rằng kẻ nào đã thụ nhận được Linh thể rồi có thể đánh mất Linh thể như người ta đánh mất một hòn sỏi? Ông không nghĩ rằng kẻ nào đó đã thu nhận Linh thể chỉ là dễ bị Linh thể đánh mất? – Nhưng nếu ông nhận rằng Linh thể đã không hiện hữu trước ông, nếu ông linh cảm rằng Christ đã bị lừa bởi tình thương của ngài, cũng như Mahomet đã bị lừa bởi tính kiêu ngạo, nếu ông cảm thấy kinh hãi ngay trong giây phút chúng ta nói về Linh thể, cảm thấy Linh thể không hiện hữu, thế thì làm thế nào ông cảm thấy thiếu vắng Linh thể như thiếu vắng quá khư; vì Linh thể chưa từng hiện hữu, và tại sao ông lại tìm kiếm Linh thể như là ông đã đánh mất Linh thể?

Why don't you think of him as the one who is coming, who has been approaching from all eternity, the one who will someday arrive, the ultimate fruit of a tree whose leaves we are? What keeps you from projecting his birth into the ages that are coming into existence, and living your life as a painful and lovely day in the history of a great pregnancy? Don't you see how everything that happens is again and again a beginning, and couldn't it be His beginning, since, in itself, starting is always so beautiful? If he is the most perfect one, must not what is less perfect precede him, so that he can choose himself out of fullness and superabundance? Must he not be the last one, so that he can include everything in himself, and what meaning would we have if he whom we are longing for has already existed?

Tại sao không nghĩ rằng Linh thể là kẻ sẽ hiện đến, kẻ phải hiện đến từ trường cửu, rằng Linh thể là tương lai, trái chín muồi của một cây mà chúng ta là những chiếc lá? Cái gì đã ngăn ông lại vậy, không cho ông phóng hiện trước sự hiện đến của Linh thể trong dòng lưu chuyển và sống đời sống ông như sống giữa những ngày đau đớn và đẹp đẽ của một mối hoài thai cao thượng? Ông không thấy rằng tất cả những gì hiện đến đều luôn luôn là một sự bắt đầu? Ôi biết bao là diễm sắc trong tất cả những gì mới bắt đầu. Vì chính Linh thể là điều kiện hoàn thiện, thế thì chẳng phải Linh thể cần được hiệnđến trước những thành tựu mong manh nhất, để mà Linh thể có thể rút lấy cốt chất tràn trề sung mãn của mình? Không phải Linh thể cần đến sau tất cả mọi sự để dung nhiếp tất cả mọi sự? Sự tìm kiếm của chúng ta còn có được ý nghĩa gì nữa nếu người mà chúng ta tìm kiếm đã thuộc về dĩ vãng rồi?

As bees gather honey, so we collect what is sweetest out of all things and build Him. Even with the trivial, with the insignificant (as long as it is done out of love) we begin, with work and with the repose that comes afterward, with a silence or with a small solitary joy, with everything that we do alone, without anyone to join or help us, we start Him whom we will not live to see, just as our ancestors could not live to see us. And yet they, who passed away long ago, still exist in us, as predisposition, as burden upon our fate, as murmuring blood, and as gesture that rises up from the depths of time.

Giống y như những con ong, chúng ta xây dựng Linh thể với những gì dịu mềm nhất trong mỗi một sự vật. Bất cứ điều gì nhỏ nhiệm nhất, phơn phớt nhất, khi xuất phát từ tình yêu, đều trở thành chất liệu cho chúng ta để thảo phác Linh thể. Chúng ta bắt đầu phác thảo Linh thể trong công việc, trong sự an nghỉ theo sao đó, trong sự im lặng, trong đà vui đột phát ngắn ngủi bên trong. Chúng ta bắt đầu phác thảo Linh thể trong tất cả những việc làm đơn độc của chúng ta, không có sự trợ giúp nào, không có sự tham gia của những kẻ khác. Chúng ta sẽ không biết được Linh thể trong cuộc sống của chúng ta, như những tổ tiên của chúng ta cũng đã không biết được Linh thể trong cuộc sống của họ. Tuy thế những sinh thể của dĩ vãng vẫn sống trong chúng ta, trong tận đáy lòng của những khuynh hướng chúng ta, trong nhịp đập của giòng máu chúng ta: những sinh thể ấy là cử chỉ thoát từ sự sâu thẳm của thời gian.

Is there anything that can deprive you of the hope that in this way you will someday exist in Him, who is the farthest, the outermost limit?

Vậy thì cái gì có thể tước đoạt mất niềm hy vọng của chúng ta rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ được sống nơi Linh thể, vượt ra ngoài tất cả mọi giới hạn ngăn cách?

Dear Mr. Kappus, celebrate Christmas in this devout feeling, that perhaps He needs this very anguish of yours in order to begin; these very days of your transition are perhaps the time when everything in you is working at Him, as you once worked at Him in your childhood, breathlessly. Be patient and without bitterness, and realize that the least we can do is to make coming into existence no more difficult for Him than the earth does for spring when it wants to come.

And be glad and confident.

Yours,

Rainer Maria Rilke

Hãy làm lẽ Giáng sinh, ông Kappus thân ái, trong niềm cảm hoài thánh thiện. Để mà khởi sự nơi lòng ông, phải chăng Linh thể cũng sẽ cần tới nỗi xao xuyến ưu tư của ông trước đời sống? Những ngày gian nan trở ngại gần đây có lẽ là lúc mà tất cả mọi sự trong người ông đang tác động phụng hướng cho Linh thể. Khi còn thơ ấu, ông đã phụng hướng cho Linh thể và chỉ ngắn hơi. Ông hãy kiên nhẫn và đầy thiện chí lân mẫn. Ít nhất điều ông có thể làm được là đừng chống chế cầm cự với Linh thể, cũng như Mặt Đất không cầm cự với Mùa Xuân, lúc mùa xuân hiện đến. Hãy yêu đời và đầy tin tưởng.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE

LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 5 Thư gởi nhà thơ trẻ 5


THE FIFTH LETTER

BỨC THƯ THỨ NĂM

Rome
October 29, 1903

Dear Sir,

Rome,

ngày 29 tháng mười, năm 1903.

Ông thân ái,

I received your letter of August 29 in Florence, and it has taken me this long two months to answer. Please forgive this tardiness, but I don't like to write letters while I am traveling because for letter-writing I need more than the most necessary tools: some silence and solitude and a not too unfamiliar hour.

Bức thư ông gửi ngày 29 tháng tám đã tới tay tôi tại Florence, và bây giờ, sau hai tháng trời biền biệt, tôi mới nhắc tới bức thư đó. Xin ông thứ lỗi cho sự chậm trễ này, sở dĩ thế là vì tôi không thích viết thư khi lên đường. Vì muốn viết thư, đối với tôi, không phải chỉ cần vật dụng cần thiết thôi mà lại cần cả đôi chút im lặng biệt lập và một giờ thuận tiện cho tinh thần kết nụ.

We arrived in Rome about six weeks ago, at a time when it was still the empty, the hot, the notoriously feverish Rome, and this circumstance, along with other practical difficulties in finding a place to live, helped make the restlessness around us seem as if it would never end, and the unfamiliarity lay upon us with the weight of homelessness. In addition, Rome (if one has not yet become acquainted with it) makes one feel stifled with sadness for the first few days: through the gloomy and lifeless museum atmosphere that it exhales, through the abundance of its pasts, which are brought forth and laboriously held up (pasts on which a tiny present subsists), through the terrible overvaluing, sustained by scholars and philologists and imitated by the ordinary tourist in Italy, of all these disfigured and decaying Things, which, after all, are essentially nothing more than accidental remains from another time and from a life that is not and should not be ours. Finally, after weeks of daily resistance, one finds oneself somewhat composed again, even though still a bit confused, and one says to oneself: No, there is not more beauty here than in other places, and all these objects, which have been marveled at by generation after generation, mended and restored by the hands of workmen, mean nothing, are nothing, and have no heart and no value; but there is much beauty here, because every where there is much beauty.

Chúng tôi đã đến Rome cách đây sáu tuần lễ vào một mùa mà thành phố hãy còn trống trải, nóng bức, như bị trời phạt vạ vì phải cơn sốt thiêu đốt. Những hoàn cảnh như thế, lại thêm những sự khó khăn gian nan trong việc thu xếp ăn ở cho an ổn, đã khiến chúng tôi phải lao xao chộn rộn không ngừng. Rồi lại chơ vơ lạ nước lạ non, đất khách quê người đè nặng chúng tôi với lòng sầu viễn xứ. Cũng nên thêm rằng thành phố Rome (khi mình chưa quen biết nó lắm) xô đẩy khách lạ mấy ngày đầu vào trong một nỗi sầu tiêu sái, một ý chí tiêu trầm thoát ra từ hơi hám nhạt nhẽo khô chết, bốc ra từ những bảo tàng viện, thoát ra từ bao nhiêu quá khứ của thành phố mà người ta khai quật và lưu tồn một cách gian nan (hiện tại tầm thường nuôi sống từ đó), thoát ra sự đánh giá quá cao mà những nhà bác học thông thái khảo cổ đã đặt vào những sự vật hư nát, và theo đuổi họ là những du khách truyền thống của Ý đại lợi. Tất cả những sự vật này thực ra chỉ là những tàn tích xuất hiện ngẫu nhiên ở đó, thuộc vào một thời đại khác, vào một đời sống khác hẳn đời sống chúng ta và không thể là đời sống của chúng ta được. Sau cùng, trải qua bao tuần chịu đựng ở thế thủ, mình mới tìm lại con đường trở về nội tâm mình, dù hơi bỡ ngỡ sửng sốt đôi chút. Lúc ấy mình mới tự nhủ: không, ở đây, nơi thành phố này, cũng chẳng có gì đẹp hơn nơi khác. Tất cả những di phẩm ở đây, mà bao nhiêu thế hệ liên tiếp đã sùng bái ca tụng, mà bao nhiêu tay thợ đã vá víu tu bổ, thực ra chúng chẳng có ý nghĩa gì cả, chẳng có đời sống gì cả, không hồn, không giá trị gì hết. Nếu ở đây có nhiều cảnh tượng đẹp đẽ thì ở mọi nơi khác cũng có nhiều cảnh tượng đẹp đẽ như vậy.

Waters infinitely full of life move along the ancient aqueducts into the great city and dance in the many city squares over white basins of stone and spread out in large, spacious pools and murmur by day and lift up their murmuring to the night, which is vast here and starry and soft with winds. And there are gardens here, unforgettable boulevards, and stair cases designed by Michelangelo, staircases constructed on the pattern of downward-gliding waters and, as they descend, widely giving birth to step out of step as if it were wave out of wave. Through such impressions one gathers oneself, wins oneself back from the exacting multiplicity, which speaks and chatters there (and how talkative it is!), and one slowly learns to recognize the very few Things in which something eternal endures that one can love and something solitary that one can gently take part in.

Nước chảy lai láng, tràn trề sự sống, chảy đến thành phố qua những thủy lộ lâu đời, nhảy múa trong những vành đựng nước bằng đá trắng trên vô số công trường của thành phố, chảy lan ra trong những chậu nước rộng và sâu. Tiếng nước chảy róc rách ban ngày dâng lên thành bài ca vất vưởng vào ban đêm khuya khoắt, ở nơi thành phố này đêm trở nên linh trọng và trời đầy sao, đêm dịu dàng mơn trớn dưới sự vuốt ve nhè nhẹ của những cơn gió thoảng qua. Nơi đây có những khuôn trang, những lối đi khó quên, những bậc thang do Michel Ange thai nghén tạo thành rập theo hình thể của dòng nước chảy xiết, ào ạt đổ trào, mỗi một bước thang thoát ra từ một nấc thang khác, như từng cơn sóng lũ lượt thoát từ cơn sóng khác. Nhờ những xúc động cảm khái kia mình mới thu phối được tâm tư, thu lòng, tập trung tinh thần lại để thoát khỏi đám đông xâm lấn ba hoa ồn ào (ở Ý đại lợi này, đám đông ba hoa, ăn nói huyên thuyên quá đỗi!) Chầm chậm dần hồi mình bắt đầu tập nhận ra những sự việc vô cùng hy hữu mà Thiên Thu còn trì cửu, mà mình có thể thương yêu lưu luyến, mình tập nhận ra nỗi cô đơn mà chúng mình có thể tham dự vào đó trong niềm im lặng chơi vơi.

I am still living in the city, on the Capitol, not far from the most beautiful equestrian statue that has come down to us from Roman art - the statue of Marcus Aurelius; but in a few weeks I will move into a quiet, simple room, an old summerhouse, which lies lost deep in a large park, hidden from the city, from its noises and incidents. There I will live all winter and enjoy the great silence, from which I expect the gift of happy, work-filled hours...

Tôi vẫn còn đang ở trong thành phố, trên điện chiến thần Capitole, không xa kỵ mã tượng đẹp nhất mà nghệ thuật La Mã còn truyền lại cho chúng ta: đó là bức tượng Marc-Aurèle. Trong vài tuần nữa tôi sẽ di chuyển đến một chỗ ở đơn giản tĩnh lặng, ngôi nhà mùa hạ nằm hút tận lòng một công viện to lớn, đóng kín mất khỏi những tiếng ồn ào động đậy của thị tứ. Tôi sẽ sống suốt mùa đông ở đó, thụ hưởng niềm im lặng mênh mông, chờ đợi tặng phẩm của những giờ phút tràn đầy thơ mộng…

From there, where I will be more at home, I will write you a longer letter, in which I win say something more about what you wrote me. Today I just need to tell you (and perhaps I am wrong not to have done this sooner) that the book you sent me (you said in your letter that it contained some works of yours) hasn't arrived. Was it sent back to you, perhaps from Worpswede? (They will not forward packages to foreign countries.) This is the most hopeful possibility, and I would be glad to have it confirmed. I do hope that the package hasn't been lost - unfortunately, the Italian mail service being what it is, that would not be anything unusual.

Sống nơi đó, tôi sẽ cảm thấy thoải mái hơn, sẽ viết nhiều hơn nữa cho ông và tôi sẽ trả lời tiếp về bức thư cuối cùng của ông. Hôm nay tôi cần cho ông biết (đáng lẽ ông cho tôi biết sớm hơn) rằng tác phẩm ông nói trong thư, gồm một số sáng tác của ông, chưa tới tay tôi. Có lẽ người ta đã hồi lại ông từ Worpswede (vì họ không thể gửi lại theo địa chỉ mới của người nhận ở hải ngọai), Nếu họ đã hồi lại ông thì quí biết bao, tôi muốn ông xác nhận cho tôi rõ điều ấy.

I would have been glad to have this book (as I am to have anything that comes from you); and any poems that have arisen in the meantime I will always (if you entrust them to me) read and read again and experience as well and as sincerely as I can.

With greetings and good wishes,

Yours,

Rainer Maria Rilke

Tôi mong rằng nó không lạc (bưu điện Ý đại lợi thì đáng ngờ lắm, thực là không may). Tôi rất sung sướng khi nào nhận lại được tác phẩm kia, cũng như nhận được bất cứ sáng tác nào của ông; về những vần thơ ông làm sau đó, tôi cũng thích thú đọc chúng nếu ông phó thác chúng cho tôi, tôi sẽ đọc lại chúng, sống với chúng bằng tất cả chân tình của lòng mình.

Chào mến chúc.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE


LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10

Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 4 Thư gởi nhà thơ trẻ 4




THE FOURTH LETTER

BỨC THƯ THỨ TƯ

Worpswede, near Bremen

July 16, 1903

About ten days ago I left Paris, tired and quite sick, and traveled to this great northern plain, whose vastness and silence and sky ought to make me well again. But I arrived during a long period of rain; this is the first day it has begun to let up over the restlessly blowing landscape, and I am taking advantage of this moment of brightness to greet you, dear Sir.

Lưu trú tại Worpswede, gần Brême,

Ngày 16, tháng bảy, năm 1903.

Tôi đã rời Paris cách đây chừng mươi ngày, thân xác rã rời đau ốm và mệt nhoài. Tôi đến vùng bình nguyên bao la ở miền Bắc này; vùng rộng thênh thang, sự im lặng thanh thản và vòm trời ở đây chắc sẽ làm tôi bình phục lại. Nhưng tôi ở vào một cơn mưa lê thê, chỉ mới hôm nay trời được quang đãng trên vùng đất lộng gió không yên – Lợi dụng trời quang đãng hôm nay, tôi biên đôi lời chào thăm ông.

My dear Mr. Kappus: I have left a letter from you unanswered for a long time; not because I had forgotten it - on the contrary: it is the kind that one reads again when one finds it among other letters, and I recognize you in it as if you were very near. It is your letter of May second, and I am sure you remember it. As I read it now, in the great silence of these distances, I am touched by your beautiful anxiety about life, even more than when I was in Paris, where everything echoes and fades away differently because of the excessive noise that makes Things tremble. Here, where I am surrounded by an enormous landscape, which the winds move across as they come from the seas, here I feel that there is no one anywhere who can answer for you those questions and feelings which, in their depths, have a life of their own; for even the most articulate people are unable to help, since what words point to is so very delicate, is almost unsayable. But even so, I think that you will not have to remain without a solution if you trust in Things that are like the ones my eyes are now resting upon.

Ông Kappus rất thân ái, lâu rồi, tôi vẫn chưa hồi âm cho ông. Không phải là tôi đã quên thư ông đâu; thư ấy thuộc vào những bức thư mà người ta phải đọc đi đọc lại luôn luôn những lúc tìm gặp lại chúng. Tôi đã nhìn thấy ông rất gần qua bức thư đó. Tôi muốn nói đến bức thư ông viết vào ngày 2 tháng 5, chắc ông còn nhớ. Hôm nay khi đọc lại bức thư đó trong sự tĩnh lặng bao la của vùng xa xôi này, tôi thấy rằng mối ưu tư đẹp đẽ của ông về đời sống làm xúc động tôi hơn cả lúc còn ở Paris, vì ở đó mọi sự mang âm hưởng khác hẳn và chìm mất trong tiếng động huyên náo làm lay chuyển mọi sự. Ở đây, vùng đất cao cường vây phủ tôi, nơi mà từng cơn gió biển kéo lê thê, tôi cảm thấy không ai có thể trả lời được cho ông về những vấn đề và những tình cảm này, những điều này có một đời sống riêng lẻ trong tận đáy sâu thẳm của chúng. Ngay những bậc cao minh nhất cũng phải lầm lẫn trong những tiếng lời của họ khi họ đòi hỏi những tiếng lời ấy diễn tả những sự việc tế nhị, những sự việc đôi khi bất khả diễn đạt. Dù sao tôi cũng cho rằng ông sẽ không phải chịu bất hồi âm nếu ông sống với những sự việc đang hồi động thị quan tôi hiện nay.



If you trust in Nature, in what is simple in Nature, in the small Things that hardly anyone sees and that can so suddenly become huge, immeasurable; if you have this love for what is humble and try very simply, as someone who serves, to win the confidence of what seems poor: then everything will become easier for you, more coherent and somehow more reconciling, not in your conscious mind perhaps, which stays behind, astonished, but in your innermost awareness, awakeness, and knowledge. You are so young, so much before all beginning, and I would like to beg you, dear Sir, as well as I can, to have patience with everything unresolved in your heart and to try to love the questions themselves as if they were locked rooms or books written in a very foreign language. Don't search for the answers, which could not be given to you now, because you would not be able to live them. And the point is, to live everything. Live the questions now.

Nếu ông sống sát với thiên nhiên, với những gì đơn giản trong thiên nhiên, những gì nhỏ nhặt, mà gần như không ai lưu ý, những gì thình lình trở nên vô cùng lớn lao, vô lượng, khi ông xòe trải tình yêu của ông cho tất cả hiện thể, khi ông cố gắng một cách khiêm tốn để thu phục, như một kẻ đầy tớ, lòng tín cẩn của những gì có vẻ khốn đốn cơ cực thì lúc ấy mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn, ông sẽ được bình hành trong tâm hồn hơn và có được tinh thần thỏa hiệp hơn, nếu có thể nói thế, không phải trong trí thuật của ông, vì có lẽ trí thuật chỉ lê lết ngạc nhiên tỉm hiểu ở đàng sau, nhưng ở trong ý thức sâu thẳm nhất của ông, sự tỉnh thức và trực thức của ông. Ông hãy còn quá trẻ, vì thế trước mọi sự khởi đầu, tôi muốn van xin ông hết lòng, ông thân ái, xin ông hãy kiên nhẫn với tất cả những gì chưa an định, chưa dứt khoát trong lòng ông và cố gắng yêu thương chính những câu hỏi như là yêu thương những gian phòng đóng kín, như là yêu thương những quyển sách được viết ra trong một ngôn ngữ ngoại quốc xa lạ. Thôi đừng tìm kiếm những câu trả lời, ông không thể nhận được những câu trả lời bởi vì ông sẽ không thể sống nổi với những câu trả lới ấy, và vấn đề là phải sống tất cả mọi sự, phải sống mọi kinh nghiệm. Hãy sống tất cả câu hỏi, thể nghiệm những câu hỏi hiện giờ.

Perhaps then, someday far in the future, you will gradually, without even noticing it, live your way into the answer. Perhaps you do carry within you the possibility of creating and forming, as an especially blessed and pure way of living; train yourself for that but take whatever comes, with great trust, and as long as it comes out of your will, out of some need of your innermost self, then take it upon yourself, and don't hate anything. Sex is difficult; yes. But those tasks that have been entrusted to us are difficult; almost everything serious is difficult; and everything is serious. If you just recognize this and manage, out of yourself, out of your own talent and nature, out of your own experience and childhood and strength, to achieve a wholly individual relation to sex (one that is not influenced by convention and custom), then you will no longer have to be afraid of losing yourself and becoming unworthy of your dearest possession.

Có lẽ dần hồi một ngày xa xôi nào đó, ngoài sự lưu ý của ông, ông sẽ được bất ngờ sống vào bên trong câu trả lời. Có lẽ ông thực sự mang thiên chức khả tính hun đúc hóa thành bản thân như là một đường lối thuần túy hạnh phúc một cách đặc thù – nhưng ông hãy nhận lấy bất cứ sự việc nào xảy đến cho ông với tất cả lòng tín thành cao cả; ông hãy tự luyện mình mở đón khả tính ấy, và nếu cơ sự hiện đến phát từ ý muốn riêng biệt của ông, từ một sự cần thiết nào đó thoát từ bản thể sâu thẳm thầm kín nhất của ông thì ông hãy nhận lãnh nó, cưu mang nó, và đừng thù ghét gì cả. Tình dục là điều khó khăn; đúng thế. Nhưng đó là những điều khó khăn mà chúng ta phải nhận lấy cưu mang; gần như tất cả mọi sự trang trọng đều khó khăn, và tất cả mọi sự đều trang trọng cả. Nếu ông chỉ tri nhận được điều này, và từ bản thể của ông, từ nơi chính bản tính độc đáo của người ông, những đường lối cá biệt của ông, từ nơi kinh nghiệm riêng tư và tuổi thơ và sức lực của ông, ông hãy cố gắng làm sao đạt cho tới được một sự tương giao hoàn toàn độc sáng của chính ông đối với tình dục (chứ không bị ảnh hưởng bởi công thức ước lệ và tập quán phong tục) thì lúc ấy ông không cần phải sợ hãi đánh mất bản thân ông và trở nên không xứng đáng với sở hữu thể quí đẹp nhất của ông.

Bodily delight is a sensory experience, not any different from pure looking or the pure feeling with , which a beautiful fruit fills the tongue; it is a great, an infinite learning that is given to us, a knowledge of the world, the fullness and the splendor of all knowledge. And it is not our acceptance of it that is bad; what is bad is that most people misuse this learning and squander it and apply it as a stimulant on the tired places of their lives and as a distraction rather than as a way of gathering themselves for their highest moments.

Khoái cảm thân xác là một kinh nghiệm nhục cảm không khác với sự năng kiến thuần túy hoặc cảm giác thuần túy mà một trái ngon ngọt thấm vào lưỡi ông; nó là một kinh nghiệm cao cả vô tận mà chúng ta đã được trao tặng, một cách tìm biết thế giới, sự tràn đầy huy hoàng của tất cả mọi sự hiểu biết. Và không phải việc chúng ta chấp nhận nó là xấu; điều xấu xa là phần đông người đời đều lạm dụng và phung phí kinh nghiệm này, dùng nó như một kích thích tố vào những lúc họ rã rời mệt mỏi, dùng nó như một sự giải trí, thay vì dùng nó như một sự triệu hồi thu tập để hướng tới những khoảnh khắc đê mê tuyệt thế.

People have even made eating into something else: necessity on the one hand, excess on the other; have muddied the clarity of this need, and all the deep, simple needs in which life renews itself have become just as muddy. But the individual can make them clear for himself and live them clearly (not the individual who is dependent, but the solitary man). He can remember that all beauty in animals and plants is a silent, enduring form of love and yearning, and he can see the animal, as he sees plants, patiently and willingly uniting and multiplying and growing, not out of physical pleasure, not out of physical pain, but bowing to necessities that are greater than pleasure and pain, and more powerful than will and withstanding. If only human beings could more humbly receive this mystery which the world is filled with, even in its smallest Things, could bear it, endure it, more solemnly, feel how terribly heavy it is, instead of taking it lightly.

Ngay đến việc ăn uống, loài người cũng đã làm việc ấy trở thành một cái gì khác hẳn: một đằng là nhu cầu, một đằng khác là sự thừa thãi, cả hai đã làm lu mờ nhạt phai đi sự phân biệt của nhu cầu này, và tất cả những nhu cầu đơn giản sâu thẳm mà đời sống được phục hồi lại sinh khí mới lạ trong đó cũng phải trở thành mờ nhạt như vậy. Nhưng cá thể có khả năng giải minh những nhu cầu ấy cho chính mình và sống những như cầu ấy một cách sáng suốt (nếu không là cá thể, vì cá thể lại quá lệ thuộc thì ít nhất cũng là con người cô đơn). Con người cô đơn có thể nhớ rằng tất cả vẻ đẹp trong những thú vật và cây cỏ là một hình thể kiên trì lặng lẽ của tình yêu và khát vọng, và hắn có thể nhìn thấy rằng những con thú, cũng như hắn nhìn thấy những cây cỏ, đều kết hợp, tăng trưởng, sinh sôi nẩy nở phát triển một cách kiên trì và hứng thú, không phải vì mê cảm thân xác, không phải vì đau khổ thân xác, mà nhu thuận theo những nhu cầu tất yếu cao lớn hơn khoái cảm và đau khổ, mạnh mẽ hơn ý chí và khí khái.

If only they could be more reverent to ward their own fruitfulness, which is essentially one, whether it is manifested as mental or physical; for mental creation too arises from the physical, is of one nature with it and only like a softer, more enraptured and more eternal repetition of bodily delight. "The thought of being a creator, of engendering, of shaping" is nothing without its continuous great confirmation and embodiment in the world, nothing without the thousand-fold assent from Things and animals - and our enjoyment of it is so indescribably beautiful and rich only because it is full of inherited memories of the engendering and birthing of millions. In one creative thought a thousand forgotten nights of love come to life again and fill it with majesty and exaltation. And those who come together in the nights and are entwined in rocking delight perform a solemn task and gather sweetness, depth, and strength for the song of some future poet, who will appear in order to say ecstasies that are unsayable.

Ồ, ước gì con người có thể cưu mang niềm bí ẩn này, trần gian gồm đầy bí ẩn ở ngay cả nơi những sự vật bé nhỏ nhất, ước gì con người có thể cưu mang sự bí ẩn ấy cho chính mình, cưu mang một cách khiêm cung, chịu đựng sự bí ẩn một cách nhẫn nại, cảm nhận bao nhiêu nan điểm của niềm cơ mật kia, thay vì nhận lấy điều huyền bí kia một cách bộp chộp, khinh suất. Ước gì hắn có thể tỏ ra sùng bái hơn đối với tính cách sinh thực phong nhiêu của tâm hồn hắn, không phân biệt sự sinh thực thuộc thân xác hay thuộc tinh thần, vì cả hai loại sinh thực này đều là một, vì sự sinh tại trí thức tinh thần cũng phát xuất từ sự sinh tạo thể xác, cùng thuộc một bản chất với sự sinh thực thể xác và chỉ là sự lặp lại của niềm khoái cảm đê mê của thể xác, dịu dàng hơn, thoát trần hơn và trường cửu hơn. “Ý tưởng về việc sáng tạo, về sự sinh thực và sư sinh hóa hình thành” không là gì cả nếu không có sự xác chuẩn và sự thể hiện cao cả liên tục ở nơi thế gian, không là gì cả nếu không có hằng ngàn sự thù ứng phù hợp từ những sự vật và những thú vật – và thụ hưởng tính cách sinh thực kia là điều đẹp đẽ và phong phú khôn tả chỉ vì nó chứa đầy những kỷ niệm kế thừa từ sự sinh thực cưu mang cùa hàng triệu con người. Trong một tư tưởng sáng tạo, một ngàn đêm quên lãng của tình yêu được sống lại, làm tràn đầy tình yêu với bao nhiêu cao cả tuyệt thế đê mê. Và những kẻ nào đi đến chung nhau trong đêm tối, ôm siết quấn quít nhau trong niềm mê cảm đu đưa ru mộng, chính những kẻ ấy đang làm một công việc trang trọng, thu nhóm hái gặt sự dịu ngọt triền miên, thu gặt chiều sâu thẳm hun hút và sức mạnh nội tâm cho tiếng hát của một thi nhân nào đó ở ngày mai, thi nhân này sẽ xuất hiện lên để nói lên những cơn thoát trần ngây ngất khôn xiết.

And they call forth the future; and even if they have made a mistake and embrace blindly, the future comes anyway, a new human being arises, and on the foundation of the accident that seems to be accomplished here, there awakens the law by which a strong, determined seed forces its way through to the egg cell that openly advances to meet it. Don't be confused by surfaces; in the depths everything becomes law. And those who live the mystery falsely and badly (and they are very many) lose it only for themselves and nevertheless pass it on like a sealed letter, without knowing it. And don't be puzzled by how many names there are and how complex each life seems. Perhaps above them all there is a great motherhood, in the form of a communal yearning.

Tất cả những tình nhân gọi dậy tương lai; dù cho họ có sai đường lạc lối khi ôm nhau một cách mù mịt đi nữa thì tương lai vẫn hiện tới; một con người mới xuất hiện, và từ trên lòng vận thế ngẫu nhiên kia dường như được nung nấy tập thành nơi đây, phát hiện lên lề luật từ đó thai chủng mạnh mẽ cường tráng bứt ra đường đi của nó nó xuyên tới noãn bào mở rộng hướng về nó. Xin ông đừng để những bề mặt nông thiển làm ông bỡ ngỡ bối rối; trong những chiều sâu thẳm, tất cả đều trở nên lề luật – và những kẻ nào sống sự bí ẩn một cách sai lầm xấu xa (biết bao người đã sống như vậy) thì họ chỉ đánh mất sự bí ẩn ấy cho chính riêng họ thôi và họ trao truyền niềm bí ẩn trên cho kẻ khác, trao truyền như trao truyền một phong thư đóng kín, mà không hề biết niềm bí ẩn ấy là gì hết. Xin ông đừng bối rối lúng túng vì bao nhiêu danh hiệu, vì bao nhiêu trường hợp phức tạp. Có lẽ trên tất cả mọi sự vẫn hiện hữu tình mẹ vĩ đại, như lòng khát vọng chung.

The beauty of the girl, a being who (as you so beautifully say) "has not yet achieved anything," is motherhood that has a presentiment of itself and begins to prepare, becomes anxious, yearns. And the mother's beauty is motherhood that serves, and in the old woman there is a great remembering. And in the man too there is motherhood, it seems to me, physical and mental; his engendering is also a kind of birthing, and it is birthing when he creates out of his innermost fullness. And perhaps the sexes are more akin than people think, and the great renewal of the world will perhaps consist in one phenomenon: that man and woman, freed from all mistaken feelings and aversions, will seek each other not a opposites but as brother and sister, as neighbors, and will unite as human beings, in order to bear in common, simply, earnestly, and patiently, the heavy sex that has been laid upon them.

Vẻ đẹp của một trinh nữ, một sinh thể (như ông đã diễn tả một cách mỹ lệ) “chưa đạt tới được cái gì cả”, chính là tình mẹ, một thứ tình bắt đầu cảm nhận tự thể và chuẩn bị một cách xao xuyến thao thức, đầy khao khát. Sắc đẹp của người đàn bà, khi làm mẹ, là ở nơi tình mẹ mà người đàn bà đang thể hiện thủ trì: rồi khi nàng tới tuổi già, vẻ đẹp của người đàn bà là ở nơi kỷ niệm cao cả về tình mẹ này, kỷ niệm cao cả ấy vẫn sống nơi người đàn bà. Dường như đối với tôi, người đàn ông cũng có cả thân phận làm mẹ, cả về mặt tinh thần và thể chất; sinh thực cũng là một cách sinh đẻ, sản sinh; đó quả thực là sự sản sinh khi người đàn ông sáng tạo từ nơi sự tràn đầy sâu thẳm nhất. Có lẽ nam tính và nữ tính có liên hệ chặt chẹ hơn chúng ta thường nghĩ, và sự phục hồi sinh lực vĩ đại của thế gian có lẽ là do điều này: người con trai và người con gái, lúc cả hai giải thoát được ra ngoài tất cả những cảm giác sai lầm và những tỵ hiềm miễn cưỡng sai lạc, cả hai sẽ tìm nhau không phải như hai nghịch thể xung đột nhau mà như là anh trai và em gái, như là những kẻ lân cận gần gũi, họ sẽ đến nhau như là những con người, để mà có thể, một cách đơn giản, trang trọng và nhẫn nại, cưu mang chung nhau tính dục thân xác khó khăn mà cả hai đã được giao phó.

But everything that may someday be possible for many people, the solitary man can now, already, prepare and build with his own hands, which make fewer mistakes. Therefore, dear Sir, love your solitude and try to sing out with the pain it causes you. For those who are near you are far away, you write, and this shows that the space around you is beginning to grow vast. And if what is near you is far away, then your vastness is already among the stars and is very great; be happy about your growth, in which of course you can't take anyone with you, and be gentle with those who stay behind; be confident and calm in front of them and don't torment them with your doubts and don't frighten them with your faith or joy, which they wouldn't be able to comprehend.

Nhưng tất cả những gì có thể thành hình trong tương lai cho bao nhiêu người thì ngay bây giờ chính con người cô đơn có thể chuẩn bị xây dựng với những bàn tay ít lầm lẫn hơn cả. Vì vậy, ông thân mến, xin ông hãy thương yêu nỗi cô độc của ông và hãy chịu đựng nỗi khổ đau của niềm cô độc với lời ai ca mỹ lệ. Vì những kẻ nào gần gũi ông đều xa xôi, như ông nói, điều ấy tỏ ra bắt đầu lan rộng chung quanh ông và khi những gì gần gũi ông thì xa xôi lúc ấy khoảng cách biệt của ông nằm giữa những vì sao, và đã trải rộng thênh thang rồi; ông hãy sung sướng với sự trưởng thành đi tới của ông; không ai có thể đi theo ông, không ai mà ông có thể mang đi theo với ông được, và ông hãy tỏ ra khoan dung tử tế với những kẻ nào lê lết ở đằng sau, hãy tỏ ra tự tại và bình thản trước mặt họ, đừng hành hạ họ với những mối nghi ngại ngờ vực của ông, đừng làm họ luống cuống sợ hãi trước lòng tin tưởng hoặc nỗi vui lớn của ông, vì họ không thể nào hiểu được những cảm trạng ấy.

Seek out some simple and true feeling of what you have in common with them, which doesn't necessarily have to alter when you yourself change again and again; when you see them, love life in a form that is not your own and be indulgent toward those who are growing old, who are afraid of the aloneness that you trust. Avoid providing material for the drama, that is always stretched tight between parent and children; it uses up much of the children's strength and wastes the love of the elders, which acts and warms even if it doesn't comprehend Don't ask for any advice from them and don't expect any understanding; but believe in a love that is being stored up for you like an inheritance, and have faith that in this love there is a strength and a blessing so large that you can travel as far as you wish without having to step outside it.

Hãy tự tìm cách chia xẻ với họ tinh thần cộng hữu đơn giản và trung nghĩa, tinh thần cộng hữu này không nhất thiết phải đổi thay như sự biến đổi khác biệt của chính tâm hồn ông, hãy thương yêu hình thể khác của đời sống thể hiện trong tâm hồn họ. Hãy tỏ ra khoan nhân với những kẻ cuối đường đời sợ hãi nỗi cô đơn mà ông thường tin cậy nuôi dưỡng. hãy tránh làm trầm trọng tấn thảm kịch ngàn đời khẩn trương giữa cha mẹ và con cái. Tấn kịch kia đã ăn mòn bao nhiêu sinh lực của những trẻ thơ, làm suy nhược tình thương yêu đối với cha mẹ già cả; dù có vô tri chăng nữa, tình yêu này cũng đủ sức tác động và sưởi ấm lòng già. Đừng mong họ mang tới cho ông những lời khuyên dạy và cũng đừng mong đợi họ hiểu biết nỗi lòng mình. Nhưng hãy tin tưởng vào một tình thương chất chứa cho ông như một di sản. Hãy tin cậy rằng tình thương ấy chứa đựng một sức mạnh, một ân huệ khả dĩ theo đuổi ông suốt lộ trình xa xôi.

It is good that you will soon be entering a profession that will make you independent and will put you completely on your own, in every sense. Wait patiently to see whether your innermost life feels hemmed in by the form this profession imposes. I myself consider it a very difficult and very exacting one, since it is burdened with enormous conventions and leaves very little room for a personal interpretation of its duties. But your solitude will be a support and a home for you, even in the midst of very unfamiliar circumstances, and from it you will find all your paths. All my good wishes are ready to accompany you, and my faith is with you.

Yours,

Rainer Maria Rilke

Thật là điều may mắn đối với ông, vì hiện nay ông đang theo đuổi một chức nghiệp khiến cho ông được tự lập và trả ông lại hòan toàn với chính bản thân ông, trong mọi ý nghĩa. Hãy kiên nhẫn chờ đợi tìm xem đời sống nội tâm của ông có cảm thấy bưng bít chật vật trong khuôn khổ của chức nghiệp này. Tôi cho rằng chức nghiệp này rất khốn đốn gian nan và đầy cay nghiệt eo sách, nặng chĩu đầy những công thức, không chừa chỗ nào nữa cho nhân cách. Nhưng nỗi cô đơn của ông, ngay trong những hoàn cảnh ngang trái này, vẫn sẽ là nơi lưu trú nâng đỡ cho ông, chính từ nỗi cô đơn này mà ông sẽ tìm thấy tất cả những con đường đi của ông. Tất cả lòng kỳ nguyện của tôi sẵn sàng gửi theo ông, và lòng tín thác của tôi ở nơi ông.

Thân ái,

RAINER MARIA RILKE


LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10