|
|
|
Лотман и марксизм
|
Lotman và chủ nghĩa
Mác
|
М. Л. Гаспаров
|
M. L. Gasparov
|
У Романа Якобсона в некрологе Б. Эйхенбаума мимоходом
сказано: Эйхенбаум раздражал официозных литературоведов еще и тем, что, когда
его заставили писать на тему "Ленин о Льве Толстом", у него и это
получилось лучше, чем у них.
|
Trong bài điếu B.Eikhenbaum, Roman Jakobson có một câu nói
móc: Eikhenbaum trên gan đám nghiên cứu văn học nửa mùa bằng việc viết ngay
một bài hay hơn hẳn bọn họ, khi họ buộc ông phải viết về đề tài “Lenin và Lev
Tolstoi”.
|
Наверное, то же можно сказать и о Лотмане. В истории
русской литературы он занимался авторами вполне благонадежными: Радищевым,
декабристами, Пушкиным.
|
Hẳn cũng có thể nói như thế về Lotman. Trong lịch sử văn
học Nga, Lotman nghiên cứu toàn những tác giả được tin cậy tuyệt đối:
Radisev, các nhà tháng Chạp, Pushkin.
|
И Радищев действительно был у него революционером, а
декабристы героями, а Пушкин универсальным гением, и даже Карамзин оказывался
очень сочувствующим французской революции. Только при этом они получались
гораздо сложнее и глубже, чем в обычных портретах, которые бывали подписаны
даже хорошими учеными. Между тем для официозного советского литературоведения
если Радищев был хороший, то Карамзин обязан был быть плохой. А у Лотмана так
не было, это и раздражало.
|
Trong những công trình của ông, Radisev đúng là nhà cách
mạng, các nhà tháng Chạp là những vị anh hùng, Pushkin là thiên tài toàn
diện, và ngay cả Karamzin hoá ra cũng đồng cảm với cách mạng Pháp. Chỉ có
điều, những nhà văn ấy hiện lên phức tạp hơn và sâu sắc hơn rất nhiều so với
hình ảnh của họ được khắc hoạ ở những bức chân dung mà bên dưới có ký tên các
học giả giỏi giang. Hơn nữa, với đám nghiên cứu văn học xô viết nửa mùa, nếu
Radisev là người tốt, thì Karamzin dứt khoát phải là kẻ xấu. Còn với Lotman,
lại không phải như vậy. Thế mới trêu gan nhau!
|
Советское литературоведение строилось на марксизме. В
марксизме сосуществовали метод и идеология. Методом марксизма был
диалектический и исторический материализм. Материализм - это была аксиома
"бытие определяет сознание", в том числе и носителя культуры -
поэта и читателя. Историзм - это значило, что культура есть следствие
социально-экономических явлений своего времени. Диалектика - это значило, что
развитие культуры, как и всего на свете, совершается в результате борьбы ее
внутренних противоречий.
|
Nghiên cứu văn học xô viết được xây dựng trên nền tảng của
chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác có hai bình diện: phương pháp và tư tưởng hệ.
Phương pháp của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử. Chủ nghĩa duy vật là định lý: “tồn tại quyết định ý thức”, nó quyết định
cả đại diện của văn hoá, ấy là nhà thơ và độc giả. Còn chủ nghĩa lịch sử thì
có nghĩa: văn hoá là kết quả sinh ra từ những hiện tượng kinh tế - xã hội của
thời đại mình.
Phép biện chứng có nghĩa: sự phát triển của văn hoá, cũng
như mọi thứ trên thế gian này, đều diễn ra như là hệ quả đấu tranh giữa các
mặt mâu thuẫn nội tại của nó.
|
А идеология учила иному. История уже кончилась, и
начинается вечность идеального бесклассового общества, к которому все прошлое
было лишь подступом. Все внутренние противоречия уже отыграли свою роль, и
остались только внешние, между явлениями хорошими и плохими; нужно делить
культурные явления на хорошие и плохие и стараться, чтобы хорошие были
всесторонне хорошими и наоборот. Абсолютная истина достигнута, и владеющее ею
сознание теперь само творит новое бытие.
|
Ấy vậy mà tư tưởng hệ lại dạy người ta hoàn toàn khác:
lịch sử đã kết thúc, bắt đầu mở ra thời đại vĩnh hằng của một xã hội lý tưởng
không còn giai cấp, xã hội mà toàn bộ quá khứ chỉ có thể mon men tới gần nó.
Toàn bộ mâu thuẫn bên trong đã giải quyết xong xuôi, chỉ còn lại những xung
đột bên ngoài giữa các hiện tượng tốt và hiện tượng xấu; cần phai phân chia
các hiện tượng văn hoá thành hai loại tốt, xấu, và phấn đấu sao cho, cái xấu
bị tiêu diệt, cái tốt ngày càng phát triển toàn diện. Đã nắm chắc trong tay
chân lý tuyệt đối, cái ý thức đã chiếm hữu được nó từ nay chỉ còn mỗi việc
sáng tạo ra tồn tại mới.
|
Идеология победившего марксизма решительно не совпадала с
методом борющегося марксизма, но это тщательно скрывалось. Лотман относился к
марксистскому методу серьезно, а к идеологии - так, как она того заслуживала.
А известно, для догмы опаснее всего тот, кто относится к ней всерьез.
Официозы это и чувствовали.
|
Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác chiến thắng hoàn toàn vênh
lệch với phương pháp của chủ nghĩa Mác chiến đấu, nhưng điều đó được che đậy
rất kỹ lưỡng. Lotman tỏ thái độ rất nghiêm túc với phương pháp của chủ nghĩa
Mác, còn tư tưởng hệ, ông ứng xử với nó như nó xứng đáng được hưởng. Vậy mà
ai cũng biết, người đáng gờm nhất đối với một giáo điều là những ai ứng xử
với nó một cách nghiêm túc. Đám bồi bút và trí thức nửa mùa cảm nhận rất rõ
điều ấy.
|
Пока Лотман писал об истории литературы, это замечалось
меньше. Можно было принять то, что Радищев все-таки оказывается хорошим, и
закрыть глаза на те способы, какими это доказывается. Когда Лотман стал
писать о теории, официозная неприязнь сделалась открытой. Переломом стали три
книги об одном и том же, адресовавшиеся к все более широкому кругу читателей:
"Лекции по структуральной поэтике" (1964), "Структура
художественного текста" (1970) и "Анализ поэтического текста"
(1972). Разговор о подборе фонем, перекличках ритмов, антитезах глагольных
времен, мельчайших смысловых оттенках слов, пересекающихся семантических
полях - все это занимало здесь так много места, что выглядело уже слишком
вызывающе, особенно в применении к классическим стихам Пушкина, Тютчева,
Некрасова, в которых издавна полагалось размышлять только над высокими
мыслями и чувствами. В то же время законных поводов придраться к методологии
Лотмана как бы и не было. Это и раздражало критиков больше всего.
|
Khi Lotman viết về lịch sử văn học, thì điều vừa nói ở
trên lộ ra ít hơn. Có thể chấp nhận là Radisev dẫu sao vẫn là nhân vật ưu tú,
tạm thời bưng tai nhắm mắt trước những phương pháp được sử dụng để chứng minh
điều đó. Nhưng khi Lotman bắt đầu viết về lý thuyết, thì sự khó chịu của đám
nửa mùa bộc lộ ra mặt. Bước ngoặt được đánh dấu bằng ba cuốn sách dành cho
phạm vi độc giả ngày càng rộng hơn: Các bài giảng về thi pháp cấu trúc
(1964), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (1970) và Phân tích văn bản thơ (1972).
Những câu chuyện về sự lựa chọn âm vị, về sự lặp lại của tiết tấu, về các cặp
đối lập thời gian của các động từ, về sắc thái ý nghĩa vi tế của các từ, về
các trường ngữ nghĩa giao cắt lẫn nhau - tất cả những cái đó chiếm giữ ở đây
một dung lượng lớn tới mức, nhìn vào giống như một sự khiêu khích ngỗ ngược,
nhất là trong việc vận dụng vào thơ cổ điển của Pushkin, Chiuchev, Nhekrasov,
nơi mà từ lâu, hễ đọc là người ta chỉ suy ngẫm về những tư tưởng và tình cảm
cao cả. Trong khi đó, lại không thể nào tìm được lý do chính đáng để hoạnh
hoẹ Lotman về phương pháp luận. Chính chuyện này thực sự trêu gan giới phê
bình nhiều nhất.
|
В самом деле. Когда Лотман начинал анализ стихотворения с
росписи его лексики, ритмики и фоники, он этим самым строго держался правила
материализма: бытие определяет сознание. В начале существуют слова писателя,
написанные на бумаге; а из восприятия их (сознательного, когда речь идет об
их словарном смысле, подсознательного, когда о стилистических оттенках или
звуковых ассоциациях) складывается наше понимание стихотворения. Никакое
самое высокое содержание вольнолюбивого или любовного стихотворения Пушкина
не может быть постигнуто в обход его словесного выражения. (Поэтому
методологически неверно начинать анализ с идейного содержания, а потом
спускаться к "мастерству".) Мысль поэта подлежит реконструкции, а
путь от мысли к тексту - формализации. Дело было даже не в том, что это
расхолаживало "живое непосредственное восприятие" стихов. Дело было
в том, что это требовало доказывать то, что казалось очевидным. Метод марксизма
и вправду требовал от исследователя доказательств (альбомный девиз Маркса был
"во всем сомневаться"). Но идеология предпочитала работать с
очевидностями: иначе она встала бы перед необходимостью доказывать свое право
на существование.
|
Trong thực tế, khi bắt đầu phân tích một bài thơ từ vẻ đẹp
từ vựng, nhịp điệu, âm điệu của nó, Lotman tuân thủ đặc biệt nghiêm nhặt quy
tắc của chủ nghĩa duy vật: tồn tại quyết định ý thức. Thoạt đầu là sự tồn tại
của từ ngữ được nhà văn viết ra trên giấy; rồi từ sự thụ cảm chúng (thụ cảm
một cách có ý thức khi bàn về ý nghĩa từ vựng của chúng; thụ cảm từ trong
tiềm thức khi nói về sắc thái tu từ hoặc các tổ hợp âm thanh), sự thông hiểu
của chúng ta về bài thơ được hình thành. Sẽ chẳng có bất kỳ một nội dung cao
cả nào ở thơ thể hiện tình yêu tự do hay thơ tình yêu của Pushkin được chiếm
lĩnh nếu bỏ qua sự biểu đạt bằng ngôn từ đối với nội dung ấy (cho nên, sẽ sai
lầm nghiêm trọng về phương pháp luận, nếu bắt đầu phân tích từ nội dung tư
tưởng, rồi sau đó hạ xuống phân tích bình diện “kỹ thuật”). Tư tưởng của nhà
thơ phải được giải cấu trúc, mà con đường từ tư tưởng đến văn bản, ấy là quá
trình hình thức hoá. Vấn đề thậm chí cũng chẳng phải vì làm như thế sẽ khiến
sự “thụ cảm trực tiếp sinh động” các bài thơ bị nguội lạnh. Vấn đề là ở chỗ,
nếu làm thế thì sẽ phải chứng minh cho cái tưởng như đã rõ ràng. Phương pháp
của chủ nghĩa Mác thực sự yêu cầu nhà nghiên cứu phải có các bằng chứng
(phương châm ghi trong sổ tay của Mác là: “hãy hoài nghi tất cả”). Nhưng hệ
tư tưởng thì lại ưa thích làm việc với những cái hiển nhiên, rành rành: bởi
nếu không làm thế, nó cũng bị buộc phải chứng minh về quyền tồn tại của bản
thân mình.
|
Формализацией пути поэта от мысли к тексту Лотман
занимался в статье "Стихотворения раннего Пастернака и некоторые вопросы
структурного изучения текста" (Труды по знаковым системам. IV. 1969). Из
анализа следовало: принципы отбора пригодного и непригодного для стихов (на
всех уровнях, от идей до языка и метрики) могут быть различны, причем никогда
не совпадают полностью с критериями обыденного сознания и естественного
языка. Это значило, что поэтические системы Пушкина и Пастернака одинаково
основаны на противопоставлении логики "поэта" и логики
"толпы" и имеют равное право на существование, завися лишь от
исторически изменчивого вкуса.
|
Trong bài Những bài thơ đầu tay của Pasternak và một số
vấn đề nghiên cứu cấu trúc văn bản (Những công trình nghiên cứu về các hệ
thống ký hiệu. IV. 1969), Lotman đã nghiên cứu vấn đề hình thức hoá con đường
của nhà thơ từ tư tưởng đến văn bản. Kết luận rút ra từ sự phân tích: các
nguyên tắc lựa chọn phù hợp và không phù hợp với thơ (ở tất cả các cấp độ, từ
tư tưởng đến ngôn ngữ và vận luật) có thể rất khác nhau, chẳng những thế,
chúng không bao giờ trùng khuýp hoàn toàn với các chuẩn mực của ý thức thường
nhật và ngôn ngữ tự nhiên. Điều đó chứng tỏ, các hệ thống thi ca của Pushkin
và Pasternak đều cùng dựa vào sự đối lập giữa lô gíc của “nhà thơ” với lô gíc
của “đại chúng” và, trong khi chịu lệ thuộc vào thị hiếu thường thay đổi theo
hoàn cảnh lịch sử, chúng có quyền tồn tại ngang nhau.
|
Для идеологии, считавшей свой вкус абсолютным, такое
уравнивание было неприятно. Формализацией пути читателя от текста к мысли
поэта Лотман занимается во всех своих работах по анализу текста, а для
демонстрации в качестве выигрышного примера выбирает пушкинскую строчку из
"Вольности" - "Восстаньте, падшие рабы!". Семантически
слово "восстаньте" значит "взбунтуйтесь", стилистически
оно значит просто "встаньте" (со знаком высокого слога); нашему
слуху ближе первое значение, но в логику стихотворения непротиворечиво
вписывается лишь второе. Это значило, что для понимания стихов недостаточно
полагаться на свое чувство языка - нужно изучать язык поэта как чужой язык, в
котором связь слов по стилю (или даже по звуку) может значить больше, чем
связь по словарному смыслу.
|
Với hệ tư tưởng vẫn xem thị hiếu của mình là tuyệt đối,
thì một sự cào bằng như thế là không thể chấp nhận. Vấn đề hình thức hoá con
đường độc giả đi từ văn bản đến tư tưởng của nhà văn được Lotman nghiên cứu
trong tất cả các công trình phân tích văn bản, và để dưa ra một ví dụ thuyết
phục, ông đã chọn dòng thơ trong bài Tự do của Pushkin: “Hãy vùng lên, hỡi
những nô lệ bị đè đầu!”. Về mặt ngữ nghĩa, chữ “hãy vùng lên” có nghĩa là
“hãy nổi loạn”, về mặt tu từ, nó chỉ đơn giản có nghĩa là “hãy đứng dậy”(với
ký hiệu của văn phong cao cả); nghĩa thứ nhất gần với thi cảm của chúng ta,
nhưng chỉ nghĩa thứ hai mới hoà hợp, không mâu thuẫn với lô gíc của bài thơ. Điều
này chứng tỏ, chỉ dựa vào cảm giác ngôn ngữ của mình thì chưa đủ để hiểu bài
thơ, cần nghiên cứu ngôn ngữ của nhà thơ như một ngôn ngữ lạ, trong đó mối
liên hệ giữa các từ theo phong cách (hay thậm chí theo âm thanh) mang lại ý
nghĩa nhiều hơn so với mối liên hệ theo ý nghĩa từ vựng.
|
Для идеологии, считавшей, что у мировой культуры есть лишь
один язык и она, идеология, - его хозяйка, это тоже было неприятно. Между тем
Лотман и здесь строго держался установок марксизма - установок на диалектику.
("Методологической основой структурализма является диалектика. Одним из
основных принципов структурализма является отказ от анализа по принципу
механического перечня признаков. "Исследователь не перечисляет
"признаки", а строит модель связей", - писал он в статье
"Литературоведение должно быть наукой" в "Вопросах
литературы" (1967. № 9. С. 93)). Диалектическое положение о всеобщей
взаимосвязи явлений означало, что в стихе и аллитерации, и ритмы, и
метафорика, и образы, и идеи сосуществуют, тесно переплетаясь друг с другом,
ощутимы только контрастами на фоне друг друга, фонические и стилистические
контрасты сцепляются со смысловыми, и в результате оппозиция (например)
взрывных и не-взрывных согласных оказывается переплетена с оппозицией
"я" и "ты" или "свобода" и "рабство".
Притом, что важно, эта взаимосвязь никогда не бывает полной и однозначной:
вывести ямбический размер или метафорический стиль стихотворения прямо из его
идейного содержания невозможно, он сохраняет семантические ассоциации всех
своих прежних употреблений, и одни из них совпадают с семантикой нового
контекста, а другие ей противоречат. Это и есть структура текста, причем
структура диалектическая - такая, в которой все складывается в напряженные
противоположности.
|
Với tư tưởng hệ lúc nào cũng đinh ninh, trong thế giới văn
hoá chỉ có một ngôn ngữ duy nhất, và nó, tư tưởng hệ, chính là chủ nhân của
ngôn ngữ ấy, thì điều này cũng không thể chấp nhận. Vậy mà rõ ràng, chính ở
đây, Lotman bám rất chặt vào nguyên lý của chủ nghĩa Mác, vào nguyên lý của
phép biện chứng. (“Cơ sở phương pháp luận của cấu trúc luận là phép biện
chứng. Một trong những nguyên tắc cơ bản của cấu trúc luận là không chấp nhận
phân tích theo nguyên tắc liệt kê các dấu hiệu một cách máy móc. “Nhà nghiên
cứu không liệt kê các “dấu hiệu”, mà xây dựng mô hình của các mối liên hệ”,-
ông đã viết như thế trong bài Nghiên cứu văn học cần trở thành khoa học trên
“Những vấn đề văn học” (1967, số 9, tr.93)). Luận điểm về mối liên hệ phổ
quát giữa các hiện tượng khẳng định: cả trùng điệp, cả nhịp điệu, cả ẩn dụ,
cả hình tượng, cho tới tư tưởng cùng tồn tại trong câu thơ, chúng đan cài vào
nhau, chỉ có thể cảm nhận trên cái nền của những sự tương phản; sự tương phản
về ngữ âm và phong cách lại bện kết
với ý nghĩa, và kết cục là: cặp đối lập (ví như) giữa các phụ âm vô thanh và
phụ âm hữu thanh lại kết nối với cặp đối lập “anh” và “em”, hoặc “tự do” và
“nô lệ”. Chẳng những thế, điều quan trọng là ở chỗ, mối quan hệ qua lại nói
trên chẳng bao giờ viên mãn, đơn nghĩa: khuôn nhịp iambơ hoặc phong cách ẩn
dụ của bài thơ không thể trực tiếp rút ra từ nội dung tư tưởng của nó; nó vẫn
duy trì các mối liên hệ ngữ nghĩa trước đó đã được sử dụng, và một loạt cách
sử dụng thế này thì phù hợp với ngữ nghĩa của ngữ cảnh mới, còn những cách sử
dụng khác lại xung đột với nó. Đó chính là cấu trúc của văn bản, chẳng những
thế, là cấu trúc biện chứng, một loại cấu trúc mà trong đó, tất cả được kiến
tạo luôn luôn nằm trong thế xung đột hết sức căng thẳng.
|
Главная же диалектическая противоположность, делающая
текст стихотворения живым, - в том, что этот текст представляет собой поле
напряжения между нормой и ее нарушениями. При чтении стихотворения (а тем
более - многих стихотворений одной поэтической культуры) у читателя
складывается система ожиданий: если стихотворение начато пушкинским ямбом, то
ударения в нем будут ожидаться на каждом втором слоге, а лексика будет
возвышенная и (для нас) слегка архаическая, а образы в основном из
романтического набора и т. д.
|
Mâu thuẫn biện chứng chính yếu làm cho văn bản bài thơ
thành một sinh thể thực chất nằm ở chỗ: văn bản ấy hiện lên như một đấu
trường căng thẳng giữa quy phạm và xoá bỏ quy phạm. Khi đọc một bài thơ (nhất
là đọc những bài thơ của cùng một loại văn hoá thi ca), một hệ thống đón đợi
được hình thành ở người đọc: nếu bài thơ được bắt đầu bằng thể iambơ của
Pushkin, thì ở đó, trọng âm bao giờ cũng được chờ đợi rơi vào các âm tiết thứ
hai, từ vựng sẽ được nống lên trang trọng, cao cả và (với chúng ta) có đôi
chút cổ kính, còn các hình tượng, về cơ bản, được lựa chọn theo phong cách
lãng mạn.
|
Эти ожидания на каждом шагу то подтверждаются, то не
подтверждаются: в ямбе ударения то и дело пропускаются, про смерть Ленского
после романтического "Потух огонь на алтаре!" говорится:
"...как в доме опустелом... окна мелом забелены..." и т. п. Именно
подтверждение или неподтверждение этих читательских ожиданий реальным текстом
ощущается как эстетическое переживание. Если подтверждение стопроцентно
("никакой новой информации"), то стихи ощущаются как плохая,
скучная поэзия; если стопроцентно неподтверждение ("новая информация не
опирается на имеющуюся"), то стихи ощущаются как вообще не поэзия.
Критерием оценки стихов становится мера информации. Маркс считал, "что
наука только тогда достигает совершенства, когда ей удается пользоваться
математикой", - это малопопулярное свидетельство Лафарга Лотман
напоминает в той же статье "Литературоведение должно быть наукой".
|
Những sự chờ đợi nói trên, từng bước, có thể trúng, có thể
không trúng: vì rằng trong thơ iambơ, nhiều trọng âm có thể được bỏ qua, về
cái chết của Lenski, sau một câu thơ lãng mạn “Trên bàn thờ ngọn lửa leo
lét”, lại có câu nói thế này: “…như trong ngôi nhà hoang, những ô cửa sổ
…trắng loá màu phấn” v.v… Chính việc trúng hay không trúng ở sự chờ đợi của
độc giả đối với văn bản sẽ được cảm nhận như là xúc động thẩm mỹ. Nếu sự chờ
đợi trúng cả trăm phần trăm, thì các câu thơ sẽ gây cảm giác về một bài thơ
kém cỏi, buồn tẻ; nếu sự chờ đợi sai trăm phần trăm (thông tin mới không dựa trên
những thông tin đã có), thì các câu thơ sẽ gây cảm giác, đó không phải là bài
thơ. Chuẩn mực đánh giá các câu thơ hoá thành chuẩn mực thông tin. Mác từng
cho rằng, “khoa học chỉ đạt được sự hoàn hảo, khi nó sử dụng được toán học”,-
câu nói ghi trong sổ tay của Lafarge rất ít người biết này được Lotman nhắc
lại trong bài Nghiên cứu văn học cần trở thành khoa hoc.
|
Как материализм и как диалектика, точно так же исходным
принципом для Лотмана был и историзм - и точно так же этот историзм метода
сталкивался с антиисторизмом идеологии. Идеологическая схема эгоцентрична,
она навязывает всем эпохам одну и ту же систему ценностей - нашу. Что не
укладывается в систему, объявляется досадными противоречиями, следствием
исторической незрелости. Для марксистского метода противоречия были
двигателем истории, для марксистской идеологии они, наоборот, препятствия
истории.
|
Cũng như chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, quan điểm
lịch sử chính là nguyên tắc khởi điểm của Lotman - và quan điểm lịch sử trong
phương pháp luận này cũng xung đột với chủ nghĩa phản lịch sử của tư tưởng hệ
hệt như vậy. Sơ đồ tư tưởng hệ bao giờ cũng lấy bản thân làm trung tâm, nó
gán cho tất cả các thời đại một hệ thống giá trị duy nhất: hệ thống giá trị
của chúng ta. Những gì không đặt vừa vào hệ thống ấy sẽ được lý giải bằng
những mâu thuẫn đáng tiếc, bằng hệ quả của sự thiếu chín muồi lịch sử. Với
phương pháp luận mác - xít, mâu thuẫn là động lực của lịch sử, với hệ tư
tưởng mác - xít, mâu thuẫn lại là trở lực của lịch sử, cần thay thế bằng
“đồng thuận”.
|
Именно от этого статического эгоцентризма отказывается
Лотман во имя историзма. Для каждой культуры он реконструирует ее собственную
систему ценностей, и то, что со стороны казалось мозаической эклектикой,
изнутри оказывается стройно и непротиворечиво, - даже такие вопиющие случаи,
как когда Радищев в начале сочинения отрицает бессмертие души, а в конце утверждает.
Конечно, непротиворечивость эта - временная: с течением времени незамечаемые
противоречия начинают ощущаться, а ощущаемые - терять значимость, происходит
слом системы и, например, на смену дворянской культуре приходит разночинская.
|
Lotman cũng đã cự tuyệt chủ nghĩa phản lịch sử lấy bản
thân làm trung tâm một cách tĩnh tại để bảo vệ quan điểm lịch sử như thế. Với
từng loại văn hoá, Lotman giải cấu trúc hệ thống giá trị riêng của nó, ngay
cả những gì nhìn bề ngoài, có vẻ mang tính chiết trung pha tạp, nhưng nhìn từ
bên trong lại cân đối, nhất quán, ngay cả những trường hợp quá quắt, ví như ở
phần mở đầu tác phẩm, Radisev phủ định sự bất tử của tâm hồn, đến cuối tác
phẩm, ông lại khẳng định sự bất tử ấy. Tất nhiên, sự nhất quán này chỉ là tạm
thời: cùng với sự vận động của thời gian, những mâu thuẫn chưa phát hiện ra
bắt đầu được cảm nhận, mà cái được cảm nhận là sự đánh mất ý nghĩa, diễn ra
sự phá vỡ hệ thống và, ví như, văn hoá công chức sẽ thay thế cho văn hoá quý
tộc.
|
Наличие потенциальных противоречий внутри культурной
системы оказывается двигателем ее развития - совершенно так, как этого
требовала марксистская диалектика. А демонстративно непротиворечивая
идеология, которую всегда старалась сочинять себе и другим каждая культура,
оказывается фикцией, мистификацией реального жизненного поведения. Для
насквозь идеологизированной советской официальной культуры этот взгляд на
идеологии прошлых культур был очень неприятен.
|
Sự hiện diện của những mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong mỗi hệ
thống văn hoá là động lực phát triển của nó, điều đó hoàn toàn đúng với những
gì mà phép biện chững mác - xít đòi hỏi. Còn hệ tư tưởng tỏ ra phi mâu thuẫn
mà mỗi nền văn hoá ra sức buộc mình và những nền văn hoá khác phải phục tùng
thực ra chỉ là sự hư cấu, bịp bợm của lối hành xử trong thực tế đời sống. Với
nền văn hoá xô viết chính thống hoàn toàn bị tư tưởng hệ hoá, cái nhìn như
vậy đối với các nền văn hoá quá khứ là rất chướng ta gai mắt.
|
Движимая то смягчениями, то обострениями внутренних
противоречий, история движется толчками: то плавное развитие, то взрыв, то
эволюция, то революция. Это тоже общее место марксизма, и оно тоже воспринято
Лотманом. Но он помнит и еще одно положение из азбуки марксизма - такое
элементарное, что над ним редко задумывались: "истина всегда
конкретна". Это значит: будучи историком, он думает не столько о том,
какими эти эпохи кажутся нам, сколько о том, как они видят сами себя. Или,
говоря его выражениями, он представляет их не в нарицательных, а в
собственных именах. Глядеть на культурную систему эпохи изнутри - это значит
встать на ее точку зрения, забыть о том, что будет после. Есть анекдотическая
фраза, приписывавшаяся Л. Сабанееву: "Берлиоз был убежденнейшим
предшественником Вагнера", - так вот, историзм требует понимать, что
каждое поколение думает не о том, кому бы предшествовать, и старается не о
том, чтобы нам понравиться и угадать наши ответы на все вопросы: нет, оно
решает собственные задачи. Оно не знает заранее будущего пути истории - перед
ним много равновозможных путей.
|
Được thúc đẩy bởi những mâu thuẫn nội tại, khi thì hoà
hoãn, khi thì gay gắt, lịch sử vận động nhờ những cú va đập: khi thì phát
triển nhịp nhàng, lúc lại bùng nổ dữ dội, khi thì tiệm tiến, lúc lại cách
mạng sục sôi. Đó cũng là điểm chung của chủ nghĩa Mác và Lotman cũng tiếp thu
một cách nghiêm túc. Nhưng ông còn nhớ thêm một luận điểm trong sách vỡ lòng
của chủ nghĩa Mác - một luận điểm sơ đẳng tới mức, rất hiếm khi người ta nghĩ
tới nó: “chân lý bao giờ cũng cụ thể”. Điều này có nghĩa, là nhà sử học, ông không
hẳn chỉ nghĩ xem, chúng ta cảm thấy các thời đại ấy thế nào, mà chủ yếu nghĩ
xem, bản thân các thời đại ấy vẫn nhìn mình ra sao. Hoặc diễn đạt theo cách
của Lotman, ông trình bày chúng trong các tên riêng, chứ không phải trong
những danh từ chung. Nhìn vào hệ thống văn hoá của thời đại từ bên trong,
điều đó có nghĩa, phải đứng trên quan điểm của nó, hãy quên đi cái gì xẩy ra
sau này. Có một câu đã trở thành giai thoại thường được gán cho L.Sabanheev:
“Berlioz là bậc tiền bối đáng tin cậy nhất của Wagner”[1],- thế tức là, quan
điểm lịch sử đòi hỏi phải hiểu rằng, mỗi thế hệ không để tâm vào chuyện mình
là tiền bối của ai, không dốc sức làm cho chúng ta thích họ và đoán định câu
trả lời của chúng ta đối với mọi câu hỏi: không, mỗi thế hệ chỉ giải quyết những
nhiệm vụ của riêng mình. Nó không biết trước con đường tương lai của lịch sử
- trước nó có rất nhiều ngã ba ngã bảy, rất nhiều những con đường có thể có.
|
[1] Sabanheev
L.L.(1881-1968): Nhạc sỹ, nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc Liên Xô; Berlioz Louis-Hector (1803-1869): Nhạc sỹ,
đạo diễn, nhà văn Pháp; Wagner Wilhelm Richard (1813-1883): Nhạc sỹ, nhà lý
luận nghệ thuật, nhà cách tân Opera kiệt suất người Đức. Câu nói của
Sabanheev sở dĩ được xem là giai thoại, có lẽ bởi vì Berlioz là nhà văn, nhạc
sỹ lãng mạn, còn Warner là tín đồ của chủ nghĩa thần bí và chủ nghĩa phản
tình cảm pha màu sắc tư tưởng hệ.- ND.
|
|
Научность, историзм велят нам видеть историческую
реальность не целенаправленной, а обусловленной. Не целенаправленной - то
есть не рвущейся стать нашим пьедесталом и более ничем: Лотман настаивал, что
история закономерна, но не фатальна, что в ней всегда есть неиспользованные
возможности, что несбывшегося за нами гораздо больше, чем сбывшегося. Именно
потерянные возможности культуры и привлекали Лотмана в незаметных писателях и
незамеченных произведениях - с тех самых пор, когда он писал об Андрее
Тургеневе, Мамонове и Кайсарове, и до последних лет, когда он читал лекции о
неосуществленных замыслах Пушкина. Но, конечно, не только это: уважение к
малым именам всегда было благородной традицией филологии - в
противоположность критике, науки - в противоположность идеологии,
исследования - в противоположность оценочничеству. Особенно когда это были
безвременные кончины и несбывшиеся надежды. А в официозном литературоведении,
экспроприировавшем классику, как мы знаем, все больше чувствовалась тенденция
подменять историю процесса медальонной галереей литературных генералов.
|
Tính khoa học và quan điểm lịch sử bảo chúng ta phải nhìn
thấy ở hiện thực lịch sử ý nghĩa chế định, chứ không phải tính định định
hướng của nó. Không mang tính định hướng, tức là không lo lắng để trở thành
bệ đỡ của chúng ta và một cái gì hơn thế: Lotman quả quyết, rằng lịch sử mang
tính quy luật, nhưng không phải là tiền định, rằng trong đó bao giờ cũng có
những khả năng chưa được sử dụng, rằng phía sau chúng, cái chưa được thực
hiện bao giờ cũng nhiều hơn gấp bội so với cái đã được thực hiện. Chính những
khả năng bị bỏ mất của văn hoá đã lôi cuốn Lotman đến với những hiện tượng
chẳng có gì vượt trội và những tác phẩm chưa được phát hiện - ông đã làm như
thế ngay từ thời viết về Andreiev Turgheniev, Momonov và Kaisarov cho đến tận
những năm cuối đời, khi ông viết về các ý tưởng chưa được thực hiện của
Pushkin, Nhưng, tất nhiên, không phải chỉ có thế: kính trọng các tên tuổi nhỏ
bé vốn là truyền thống của ngữ văn học, trái ngược với phê bình, là truyền
thống của khoa học, trái ngược với tư tưởng hệ, và là truyền thống của nghiên
cứu, trái ngược với định giá.Truyền thống này thể hiện rõ nhất khi đối tượng
nghiên cứu là những cái kết cục non yểu và những hy vọng chưa được thực hiện.
Vậy mà trong khoa nghiên cứu văn học nửa mùa, loại khoa học đem các tác phẩm
kinh điển sung công, như chúng ta thấy, ngày càng hiện ra rất rõ xu hướng
đánh tráo vào đó lịch sử quy trình của một bộ sưu tập huy chương dành cho các
ông tướng văn học.
|
Представить себе эту ситуацию выбора пути без ретроспективно
подсказанного ответа, выбора пути с отказом от одних возможностей ради других
- это задача уже не столько научная, сколько художественная: как у Тынянова,
который начинает "Смерть Вазир-Мухтара" словами: "Еще ничего
не было решено". Выбор делает не безликая эпоха, выбор делает каждый
отдельный человек: именно у него в сознании осколки противоречивых идей
складываются в структуру, и структура эта прежде всего этическая, с ключевыми
понятиями: стыд и честь. О своем любимом времени, о 1800- 1810-х гг., Лотман
говорит: "Основное культурное творчество этой эпохи проявилось в
создании человеческого типа", оно не дало вершинных созданий ума, но
дало резкий подъем "среднего уровня духовной жизни". Это внимание к
среднему уровню и к тем незнаменитым людям, которые его поднимали, - тоже
демократическая традиция филологии. Я решился бы сказать, что так понимал
свое место в нашей современности сам Лотман. Он не бросал вызовов и не писал
манифестов - он поднимал средний уровень духовной жизни. И теперь мы этим
подъемом пользуемся.
|
Hãy hình dung tình huống chọn đường không có sẵn câu trả
lời đã được gợi ý trước ấy, tình huống chọn đường với sự cự tuyệt một loạt
khả năng, vì một loạt khả năng khác - đó không hẳn là nhiệm vụ của khoa học,
mà chủ yếu là nhiệm vụ của nghệ thuật: giống như trong sáng tác của
Tynhianov, người mở đầu Cái chết của Mazir-Mukhtar bằng những lời: “Chẳng còn
gì chưa được giải quyết”[1]. Lựa chọn chẳng phải là công việc của một thứ
thời đại chung chung, vô nhân xưng, mỗi con người riêng lẻ đều tiến hành lựa
chọn: ngay trong ý thức của anh ta, các mảnh của những tư tưởng đầy mâu thuẫn
kiến tạo thành cấu trúc, và trước hết, đó là cấu trúc luân lý với khái niệm
chìa khoá của nó là các chữ: danh thơm và hổ thẹn. Về thời đại yêu quý của
mình, về những năm 1800-1810, Lotman nói: “Sáng tạo văn hoá cơ bản của thời
đại này được bộc lộ ở việc tạo ra một mẫu người”, nó không làm nên những tác
phẩm đỉnh cao của trí tuệ, nhưng đã nâng lên mạnh mẽ “đời sống tinh thần của lớp bậc trung”. Sự
chú ý như thế tới lớp bậc trung và những con người không mấy tên tuổi cũng là
một truyền thống dân chủ của khoa học ngữ văn. Tôi dám chắc, bản thân Lotman
đã hiểu như vậy về vị trí của mình trong thời đại của chúng ta. Ông không ném
ra những lời thách và không viết những bản tuyên ngôn - ông chỉ nâng cao
trình độ bậc trung của đời sống tinh thần. Và bây giờ chúng ta được thừa
hưởng cái sự nâng lên ấy.
|
Таким образом, Лотман перемещает передний край науки туда,
где обычно распоряжалось искусство: в мир человеческих характеров и судеб, в
мир собственных имен. Он любуется непредсказуемостью исторической
конкретности.
У него был ученик, Рафик Папаян, стиховед; потом он был
арестован за армянский национализм, сидел, а потом, в перестройку, был
выдвинут в депутаты, и соперником его по избирательному округу оказался тот
бывший начальник тюрьмы, у которого он сидел. Когда я рассказал об этом
Лотману, он хлопнул в ладоши и воскликнул: "Вот за что я люблю
историю!" Это интерес эстетический едва ли не больше, чем умственный.
|
Cho nên, Lotman thường xuyên chuyển dịch khu vực tiền
duyên của khoa học tới chỗ mà nghệ thuật vẫn thường kiểm soát, tức là chuyển
đến chỗ thế giới của các tính cách và số phận con người, thế giới của những
cái tên riêng. Ông đặc biệt quan tâm tới tính chất vô thường của cái cụ thể
lịch sử. Ông có người học trò tên là Raflik Papaian, một nhà lý luận về thơ,
sau đó anh này bị bắt vì theo chủ nghĩa dân tộc Armenia, phải ngồi tù, rồi
sau, đến thời cải tổ, lại được đề cử làm nghị viên, trở thành đối thủ cạnh
tranh trong cùng một khu vực bầu cử với cựu giám đốc nhà tù, nơi anh từng bị
giam giữ. Khi tôi kể chuyện này cho
Lotman, ông vỗ tay rồi thốt lên: “Đó chính là lý do vì sao tôi yêu lịch sử
đến vậy!”. Điều này chứng tỏ, cái lý thú thẩm mỹ bao giờ cũng lớn hơn cái lý
thú của trí lự.
|
Но Лотман не подменяет науки искусством: наука остается
наукой. Когда вспоминаешь человеческие портреты, появляющиеся в
историко-культурных работах Лотмана, - от декабриста Завалишина до Натальи
Долгорукой, - то сперва сами собой напрашиваются два сравнения: так же
артистичны были Ключевский и Гершензон. А потом они уточняются: скорее
Ключевский, чем Гершензон. Потому что есть слово, которое в портретах Лотмана
невозможно: слово "душа".
|
Nhưng Lotman không đánh tráo khoa học bằng nghệ thuật:
khoa học vẫn là khoa học. Khi nói tới những bức chân dung nhân vật xuất hiện
trong các công trình nghiên cứu lịch sử - văn hoá của Lotman,- từ nhà cách
mạng tháng Chạp Zavalisin cho đến Natalia Dolgaruka - ngay từ đầu, tự nó, đã
nảy ra hai hình ảnh đối sánh: Kliuchevski và Ghersenzon đều nghệ sỹ như nhau.
Sau đó, các hình ảnh ấy tự làm sáng tỏ: Kliuchevski nghệ sỹ hơn so với
Ghersenzon. Bởi vì, có một từ không thể nào xuất hiện trong các bức chân dung
của Lotman: từ “tâm hồn”.
|
Человеческая личность для Лотмана не субстанция, а
отношение, точка пересечения социальных кодов. Марксист сказал бы:
"точка пересечения социальных отношений", - разница опять-таки
только в языке. Именно благодаря этому оказывается, что Пушкин был
одновременно и просветителем-рационалистом, и аристократом, и романтиком, и
трезвым зрителем своего века, знал цену условностям и дал убить себя на
дуэли. Каждую из этих скрестившихся линий можно проследить отдельно, и тогда
получится та "история культуры без имен" или та "типология
культуры без имен", которой порадовались бы Вельфлин и Варрон. Лотман
отлично умел делать такой анализ безличных механизмов культуры, но ему это
было не очень интересно - не потому, что это схема, а потому, что это слишком
грубая схема. Конечно, для Лотмана анализ бинарных оппозиций в стихотворении
и картина эпохи вокруг поэта дополняли друг друга как наука и искусство.
|
Với Lotman, cá nhân con người không phải là một thực thể,
mà là một quan hệ, là điểm giao cắt của các mã xã hội. Người mác-xít chắc sẽ
nói: “điểm giao cắt của các quan hệ xã hội”, - sự khác nhau vẫn chỉ là ở ngôn
ngữ. Chính vì thế mà hoá ra, Pushkin đồng thời vừa là nhà khai sáng - duy lý,
vừa là nhà quý tộc, nhà lãng mạn, vừa là nhà quan sát tỉnh táo thời đại mình,
hiểu được giá trị của những ước lệ và để cho người ta giết mình trong một
cuộc đấu súng. Từng con đường trong những tuyến giao lộ ấy có thể theo dõi
riêng lẻ, và khi đó, ta sẽ thu được cái “lịch sử văn hoá vô danh”, hoặc cái
“loại hình văn hoá vô danh” mà Wolfflin và Varro rất thích thú. Lotman cũng
có khả năng tuyệt vời trong việc phân tích các cơ chế vô nhân xưng của văn
hoá như thế, nhưng ông không thích làm như vậy, chẳng phải vì đó chỉ là sơ
đồ, mà vì nó là sơ đồ quá thô sơ. Tất nhiên, với Lotman, việc phân tích các
đối lập phân cực trong thơ và bức tranh của thời đại bao quanh nhà thơ bổ
sung cho nhau giống như khoa học và nghệ thuật.
|
Но такая дополнительность тоже может осуществляться
по-разному. Веселовский всю жизнь работал над безличной историей словесности,
а в старости написал замечательный психологический портрет Жуковского - без
всякой связи с прежним, просто для отвода души. Тынянов стал писать роман о
Пушкине, когда увидел, что тот образ Пушкина, который сложился в его
сознании, не может быть обоснован научно-доказательно, а только
художественно-убедительно: образ - главное, аргумент - вспомогательное. У
Лотмана (как и у Ключевского) - наоборот, каждый его портрет есть иллюстрация
в собственном смысле слова, материал для упражнения по историко-культурному
анализу, человек у него, как фонема, складывается из дифференциальных
признаков, в нем можно выделить все пересекающиеся культурные коды, и автор
этого не делает только затем, чтобы вдумчивый читатель сам прикинул их в уме.
Здесь концепция - главное, а образ - вспомогательное.
|
Nhưng sự bổ sung nói trên có thể được thực hiện theo những
kiểu khác nhau. Suốt đời, Veselovski nghiên cứu lịch sử vô nhân xưng của nghệ
thuật ngôn từ, về già, ông viết một bức chân dung tâm lý tuyệt vời về
Zukovski - nó chẳng có mối liên hệ gì với những gì trước đó, chỉ đơn giản là
để giải toả tâm hồn. Tynhianov bắt đầu viết tiểu thuyết về Pushkin, khi ông
thấy cái hình tượng Pushkin như nó đã hình thành trong ý thức của ông không
thể xây dựng theo kiểu chứng minh - khoa học, mà chỉ có thể mô tả theo kiểu
thuyết phục - nghệ thuật: hình tượng là chính yếu, chứng lý chỉ có ý nghĩa bổ
trợ. Với Lotman (cũng như với Kliuchevski) - hoàn toàn ngược lại, mỗi bức
chân dung của ông là sự minh hoạ theo ý nghĩa riêng của lời nói, là vật liệu
để luyện tập phân tích lịch sử - văn hoá, con người ở ông, giống như âm vị,
được hình thành từ những dấu hiệu khác biệt, trong đó, tất cả các mã văn hoá
giao cắt lẫn nhau đều có thể chia tách, và tác giả không làm như thế chỉ để
người đọc cẩn trọng tự mình nhẩm tính chúng trong đầu. Ở đây, quan niệm là
cái chính yếu, hình tượng chỉ có ý nghĩa bổ trợ.
|
Каждая эпоха пересматривает классиков с собственной точки
зрения, применительно к своим запросам и потребностям; каждый читатель
создает себе "моего Пушкина", по собственному образу и подобию, это
его индивидуальное творчество на фоне общего творчества человечества - писательского
и читательского. Лотману было интереснее противоположное: воссоздать
истинного, уникального Пушкина и взглянуть на мир его глазами.
|
Mỗi thời đại bao giờ cũng xét lại các tác gia kinh điển theo
quan điểm riêng, phù hợp với nhu cầu và khát vọng riêng; mỗi người đọc lại
tạo ra cho bản thân một “Pushkin của mình” theo hình ảnh và kiểu mẫu của cá
nhân, đó là sự sáng tạo mang tính cá nhân của anh ta trên cái nền sáng tạo
chung của nhân loại - của giới nhà văn và công chúng độc giả. Lotman hứng thú
hơn với điều ngược lại: tái tạo một Pushkin đích thực, hy hữu và nhìn thế
giới bằng đôi mắt của ông.
|
Когда читаешь историко-культурные портреты Лотмана, то нет
ощущения, будто это ты оцениваешь историю, - скорее, есть ощущение, будто это
история оценивает тебя, и оценивает сурово. Умение встать на чужую,
исторически далекую точку зрения - это и есть гуманистическое обогащение
культуры, в этом нравственный смысл гуманитарных наук. Взглянуть не на
историю из современности, а на современность из истории - это значит считать
себя и свое окружение не конечной целью истории, а лишь одним из множества ее
потенциальных вариантов.
|
Khi đọc các bức chân dung văn hoá- lịch sử của Lotman, ta
không có cảm giác tựa như mình đang đánh giá lịch sử, mà có cảm giác, giống
như là lịch sử đang đánh giá bản thân, và đánh giá một cách nghiêm khắc. Biết
đứng trên lập trường của người khác, lập trường của quá khứ lịch sử - đó là
sự làm giàu có thêm văn hoá theo tinh thần nhân văn chủ nghĩa, ý nghĩa đạo
đức của các khoa học xã hội chính là ở đấy. Không nhìn vào lịch sử từ đôi mắt
hiện tại, mà nhìn vào hiện tại bằng đôi mắt lịch sử - điều đó cũng có nghĩa
là xem bản thân và môi trường của mình không phải là mục đích tối hậu của
lịch sử, mà chỉ là một trong vô số phương án tiềm tàng của nó.
|
Мысль о несбывшихся возможностях истории была для Лотмана
не только игрой диалектического ума. Это был еще и опыт двух поколений нашего
века: тех, кто в 1930-е годы расставался с неиспользованными возможностями
1920-х годов и в послевоенные годы с несбывшимися надеждами военных лет.
Молодых коллег, склонных в русской культуре прошлого замечать намеки на
неприятности настоящего, Лотман не поощрял. Но свою последнюю книгу
"Культура и взрыв" он кончил именно соображениями о перестроечном
настоящем - о возможности перехода от бинарного строя русской культуры к
тернарному - европейской: "Пропустить эту возможность было бы
исторической катастрофой".
|
Với Lotman, tư tưởng về những khả năng lịch sử không được
sử dụng không chỉ là trò chơi của đầu
óc biện chứng. Đó còn là kinh nghiệm của hai thế hệ ở thế kỷ của chúng ta:
của những người vào những năm 1930 phải chia tay với những khả năng không
được sử dụng vào những năm 1920 và vào những năm sau chiến tranh phải chia
tay với những hy vọng chưa được thực hiện của những năm chiến tranh. Lotman
không khuyến khích các đồng nghiệp trẻ tuổi nhìn vào văn hoá quá khứ của nước
Nga chỉ thấy các ám dụ về những chuyện phiền lòng của hiện tại. Nhưng cuốn
sách cuối cùng của đời mình: Văn hoá và sự bùng nổ, Lotman đã kết thúc bằng
những hình dung về cái hiện tại được cải tổ, về khả năng chuyển đổi từ cấu
trúc nhị phân của văn hoá Nga sang cấu trúc tam quyền phân lập của văn hoá
châu Âu: “Bỏ qua khả năng ấy sẽ là một thảm hoạ lịch sử”.
|
Казалось бы, мы далеко отвлеклись от вопроса "Лотман
и марксизм". На самом деле нет. Говорить об "истинном" Пушкине
в противоположность "моему" Пушкину - это значит верить в истину -
не абсолютную, но объективную истину, ради которой существует наука.
"Единственное, чем наука, по своей природе, может служить человеку, -
это удовлетворять его потребности в истине", - писал Лотман все в той же
статье о литературоведении как науке. Это не банальность: в XX веке, который
начался творческим самовозвеличением декаданса и кончается творческой
игривостью деструктивизма, вера в истину и науку - не аксиома, а жизненная
позиция. Эту веру, выработанную человечеством, советская культура приняла из
рук марксизма. Марксизм возник на переломе от утопизма романтиков к
позитивизму постромантиков, метод его был научным, идеология - утопической.
Отказываться от научного метода ради идеологической догмы или ради
деструктивистского произвола - разница невелика. Лотман был верен научному
методу. Он не объявлял себя ни марксистом, ни антимарксистом - он был ученым.
|
Có vẻ như chúng ta đã đi lạc rất xa ra ngoài vấn đề
“Lotman và chủ nghĩa Mác”. Thực ra không phải như vậy. Nói về Pushkin “đích
thực” trong sự đối lập với Pushkin “của tôi” - điều đó cũng có nghĩa là còn tin vào chân
lý: không phải chân lý tuyệt đối, mà là chân lý khách quan, khoa học tồn tại
chính là vì nó. “Điều duy nhất mà với nó, từ trong bản chất, khoa học có thể
phục vụ con người - đó là thoả mãn nhu cầu tìm kiếm chân lý của nó”. Lotman
đã viết như thế trong bài về nói về nghiên cứu văn học như một khoa học. Đó
không phải là tính nhị phân: ở thế kỷ XX, thế kỷ được mở ra bằng sự tự tán
dương sáng tạo của chủ nghĩa suy đồi và khép lại bằng trò chơi sáng tạo của
chủ nghĩa giải cấu trúc, niềm tin vào chân lý và khoa học không còn là một
tiên đề, mà là quan điểm sống. Niềm tin ấy, nhân loại đã sáng tạo ra, văn hoá
xô - viết đã tiếp nhận từ tay của chủ nghã Mác. Chủ nghĩa mác xuất hiện ở
bước ngoặt chuyển từ chủ nghĩa không tưởng của những nhà lãng mạn sang chủ
nghĩa thực chứng của các nhà hậu lãng mạn, phương pháp của nó là khoa học, hệ
tư tưởng của nó mang tính chất ảo tưởng. Cự tuyệt phương pháp khoa học vì
giáo điều tư tưởng hệ hay vì sự võ đoán giải cấu trúc - sự khác biệt chỉ rất nhỏ mà thôi. Lotman tin vào phương
pháp khoa học. Ông không tuyên bố mình là người mác-xít hay phản mác-xit, ông
là một học giả.
|
Многие историко-культурные антитезы, казавшиеся
современникам разительно непримиримыми, оказываются для потомков мнимыми.
Романтизм изо всех сил противопоставлял себя классицизму, а реализм -
романтизму. Но умные люди видели и понимали: и классицизм имел на своих
полках и полочках достаточно гнезд, чтобы разложить в них все романтические
новации, и реализм представлял собой не что иное, как неимоверно разросшуюся
ветвь от ствола романтизма: тоже экзотика, только не историческая или
географическая, а социальная и психологическая. Происходило простое сужение
(и углубление, конечно) поля экспериментов - то самое отсечение
неиспользованных возможностей, которое так интересовало Лотмана. Точно так же
и марксистский метод в социальных науках был достаточно широк, чтобы вместить
те подходы, которые сложились потом в структурализм. Лотман помнил об этом и
не считал нужным, говоря по-пушкински, кусать груди кормилицы оттого, что
зубки прорезались.
|
Rất nhiều phản đề lịch sử - văn hoá, với người đương thời,
có vẻ như không thể hoá giải, nhưng với hậu thế, chúng hoá ra chỉ chuyện hư
ảo, tầm phào. Chủ nghĩa lãng mạn dốc toàn lực chống lại chủ nghĩa cổ điển,
chủ nghĩa hiện thực cũng dốc toàn lực chống lại chủ nghĩa lãng mạn. Nhưng
nhân loại thông minh đã nhìn thấy và hiểu ra: chính chủ nghĩa cổ điển đã có
tất cả ván, vách đủ làm tổ để khai triển trong đó mọi cách tân của chủ nghĩa
lãng mạn, và cả chủ nghĩa hiện thực cũng chẳng phải là gì khác ngoài một cái
cành cực lớn mọc lên từ thân cây của chủ nghĩa lãng mạn: đều là ngoại lai,
chỉ hiềm nỗi thiếu cơ sở lịch sử, hay địa lý, mà chỉ là hiện tượng xã hội và
tâm lý. Diễn ra sự thu hẹp giản đơn (tất nhiên, cũng có đào sâu) lãnh địa
hoạt động thực nghiệm - đó cũng chính là sự chặt chém không thương tiếc những
khả năng chưa được được sử dụng mà Lotman rất đỗi quan tâm. Trong các khoa
học xã hội, tình hình cũng hệt như vậy,
phương pháp luận mác - xít hoàn toàn đủ rộng để có chỗ cho mọi hướng tiếp cận mà sau này
được hình thành trong chủ nghĩa cấu trúc. Lotman nhớ kỹ điều đó và ông thấy
không cần, diễn đạt theo Puskhin, cắn
vào bầu vú sữa của nhũ mẫu nữa, bởi vì hàm răng đã nhú lên.
|
[1] Tynhianov Iu.N. (1894-1943):
Nhà văn, nhà viết kịch, nhà nghiên cứu - phê bình văn học. Tiểu thuyết Cái
chết của Mazir-Mukhatar được ông hoàn thành vào năm 1928, viết về những năm
cuối đời của A.S.Griboedov(1795-1829), tác giả của vở kịch bất hủ Khổ vì trí
tuệ
|
|
Доклад на Третьих
Лотмановских чтениях
РГГУ, декабрь 1995
|
Translated by Lã
Nguyên
|
http://www.referat.wwww4.com/view-text-63314
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Thursday, May 3, 2012
Лотман и марксизм Lotman và chủ nghĩa Mác
The Resistible Rise of Asia? Sự trỗi dậy có thể cưỡng lại ở châu Á?
|
|
|
|
The Resistible Rise
of Asia?
|
Sự trỗi dậy có thể
cưỡng lại ở châu Á?
|
|
Brahma Chellaney
|
Brahma Chellaney
|
|
May. 1, 2012
|
01-05-2012
|
|
NEW DELHI – A favorite theme in international debate
nowadays is whether Asia’s rise signifies the West’s decline. But the current
focus on economic malaise in Europe and the United States is distracting
attention from the many serious challenges that call into question Asia’s
continued success.
|
NEW DELHI – Một chủ đề được ưa chuộng trong tranh luận
quốc tế hiện nay là, liệu sự trỗi dậy của châu Á có nghĩa là sự suy yếu của
phương Tây. Tuy nhiên, hiện nay tập trung vào tình trạng bất ổn kinh tế ở
châu Âu và Hoa Kỳ đang làm xao lãng sự chú ý tới nhiều thách thức nghiêm
trọng, làm nảy sinh câu hỏi về sự thành công tiếp tục của châu Á.
|
|
To be sure, today’s ongoing global power shifts are
primarily linked to Asia’s phenomenal economic rise, the speed and scale of
which have no parallel in world history. With the world’s fastest-growing
economies, fastest-rising military expenditures, fiercest resource
competition, and most serious hot spots, Asia obviously holds the key to the
future global order.
|
Để chắc chắn, sự thay đổi quyền lực toàn cầu đang diễn ra
hiện nay, chủ yếu liên quan đến hiện tượng tăng trưởng kinh tế của châu Á,
tốc độ và quy mô của nó không giống như trong lịch sử thế giới. Với tốc độ
phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới, chi tiêu quân sự gia tăng mạnh nhất,
sự cạnh tranh nguồn tài nguyên dữ dội nhất, và là điểm nóng nghiêm trọng
nhất, rõ ràng là châu Á đang nắm giữ chìa khóa cho trật tự toàn cầu trong
tương lai.
|
|
But Asia faces major constraints. It must cope with
entrenched territorial and maritime disputes, such as in the South China Sea;
harmful historical legacies that weigh down its most important interstate
relationships; increasingly fervent nationalism; growing religious extremism;
and sharpening competition over water and energy.
|
Nhưng châu Á đối mặt với những khó khăn quan trọng. Châu Á
phải đối phó với các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp trên biển, chẳng hạn
như trên biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam), các di sản lịch sử tai hại, đè
nặng các mối quan hệ quan trọng nhất giữa các nước, gia tăng chủ nghĩa dân
tộc nồng nhiệt, phát triển chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và sự tranh giành trên
biển và năng lượng càng trầm trọng hơn.
|
|
Moreover, Asia’s political integration badly lags behind
its economic integration, and, to compound matters, it has no security
framework. Regional consultation mechanisms remain weak. Differences persist
over whether a security architecture or community should extend across Asia,
or be confined to an ill-defined “East Asia.”
|
Hơn nữa, hội nhập chính trị ở châu Á bị tụt hậu thê thảm
so với hội nhập kinh tế ở châu Á, và đối với các vấn đề phức tạp, châu Á
không có một khuôn khổ an ninh. Cơ chế tham vấn trong khu vực còn yếu. Sự
khác biệt vẫn còn tồn tại về việc liệu có cần một cấu trúc an ninh hay cộng
đồng mở rộng khắp châu Á, hoặc bị hạn chế trong một định nghĩa mập mờ là
“Đông Á”.
|
|
One central concern is that, unlike Europe’s bloody wars
of the first half of the twentieth century, which made war there unthinkable
today, the wars in Asia in the second half of the twentieth century only
accentuated bitter rivalries. Several interstate wars have been fought in
Asia since 1950, when both the Korean War and the annexation of Tibet
started, without resolving the underlying Asian disputes.
|
Một mối lo ngại chính đó là, không giống như cuộc chiến
tranh đẫm máu ở châu Âu trong nửa đầu thế kỷ 20, cuộc chiến ở đó mà ngày nay
không thể tưởng tượng được, thì các cuộc chiến ở châu Á trong nửa cuối thế kỷ
20 chỉ nhấn mạnh đến sự đối đầu cay đắng. Một số cuộc chiến giữa các nước
đánh nhau ở châu Á kể từ năm 1950, khi cả hai cuộc chiến tranh Triều Tiên và
sự sáp nhập Tây Tạng bắt đầu, đã không giải quyết các tranh chấp cơ bản ở
châu Á.
|
|
To take the most significant example, China staged
military interventions even when it was poor and internally troubled. A 2010
Pentagon report cites Chinese military preemption in 1950, 1962, 1969, and
1979 in the name of strategic defense. There was also China’s seizure of the
Paracel Islands from Vietnam in 1974, and the 1995 occupation of Mischief
Reef in the Spratly Islands, amid protests by the Philippines. This history
helps to explain why China’s rapidly growing military power raises important
concerns in Asia today.
|
Lấy ví dụ quan trọng nhất, Trung Quốc tổ chức can thiệp
quân sự ngay cả khi họ là một nước nghèo và nội bộ đang gặp khó khăn. Một báo
cáo của Lầu Năm Góc năm 2010 trích dẫn, đòn phủ đầu quân sự của Trung Quốc
vào năm 1950, 1962, 1969, và năm 1979 với tên gọi là phòng thủ chiến lược.
Cũng có sự cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc từ tay Việt Nam vào
năm 1974, và chiếm Đá Vành Khăn (Mischief Reef) thuộc quần đảo Trường Sa năm
1995, trong lúc bị Philippines phản đối. Lịch sử này giúp giải thích lý do vì
sao Trung Quốc nhanh chóng phát triển sức mạnh quân sự, làm gia tăng mối lo
ngại quan trọng ở châu Á hiện nay.
|
|
Indeed, not since Japan rose to world-power status during
the reign of the Meiji Emperor (1867-1912) has another non-Western power
emerged with such potential to shape the global order. But there is an
important difference: Japan’s rise was accompanied by the other Asian
civilizations’ decline. After all, by the nineteenth century, Europeans had
colonized much of Asia, leaving in place no Asian power that could rein in
Japan.
|
Thật vậy, không chỉ kể từ khi Nhật Bản trỗi dậy thành
cường quốc thế giới trong thời gian trị vì của Thiên Hoàng Minh Trị
(1867-1912) đã có một sức mạnh không thuộc phương Tây trỗi dậy với tiềm năng
như thế để định hình trật tự toàn cầu. Nhưng có một khác biệt quan trọng đó
là, sự trỗi dậy của Nhật Bản đi kèm với sự suy yếu của các nước văn minh châu
Á khác. Cuối cùng thì, đến thế kỷ 19, phần lớn châu Á đã trở thành thuộc địa
của người châu Âu, để rồi không có một nước châu Á nào có thể kiềm chế Nhật
Bản.
|
|
Today, China is rising alongside other important Asian
countries, including South Korea, Vietnam, India, and Indonesia. Although
China now has displaced Japan as the world’s second largest economy, Japan
will remain a strong power for the foreseeable future. On a per capita basis,
Japan remains nine times richer than China, and it possesses Asia’s largest
naval fleet and its most advanced high-tech industries.
|
Hiện nay, Trung Quốc đang trỗi dậy bên cạnh các nước châu
Á quan trọng, gồm Hàn Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, và Indonesia. Mặc dù Trung Quốc
hiện đã thay thế Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Nhật
Bản sẽ vẫn là một cường quốc mạnh mẽ trong tương lai gần. Tính trên căn bản
bình quân đầu người, thì Nhật vẫn giàu hơn gấp chín lần so với Trung Quốc, và
Nhật có hạm đội hải quân lớn nhất châu Á và có các ngành công nghiệp công nghệ
cao, tiên tiến nhất.
|
|
When Japan emerged as a world power, imperial conquest
followed, whereas a rising China’s expansionist impulses are, to some extent,
checked by other Asian powers. Militarily, China is in no position to grab
the territories that it covets. But its defense spending has grown almost
twice as fast as its GDP. And, by picking territorial fights with its
neighbors and pursuing a muscular foreign policy, China’s leaders are
compelling other Asian states to work more closely with the US and each
other.
|
Khi Nhật Bản nổi lên như một cường quốc thế giới, sự chinh
phục đế quốc theo sau, trong khi sự thôi thúc bành trướng của nước Trung Quốc
đang trỗi dậy là, ở một mức độ nào đó, bị các nước châu Á khác kiểm tra. Về
mặt quân sự, Trung Quốc chẳng có cách gì để lấy các vùng lãnh thổ mà họ thèm
muốn. Nhưng chi tiêu quốc phòng của họ đã tăng gần gấp đôi nhanh, tăng nhanh
như GDP của họ. Và bằng cách chọn các cuộc tranh đấu lãnh thổ với các nước
láng giềng và theo đuổi chính sách ngoại giao cơ bắp, các lãnh đạo Trung Quốc
đang thúc đẩy các nước châu Á khác gần gũi nhau hơn, cũng như làm việc chặt
chẽ hơn với Mỹ.
|
|
In fact, China seems to be on the same path that made
Japan an aggressive, militaristic state, with tragic consequences for the
region – and for Japan. The Meiji Restoration created a powerful military
under the slogan “Enrich the country and strengthen the military.” The
military eventually became so strong that it could dictate terms to the
civilian government. The same could unfold in China, where the Communist
Party is increasingly beholden to the military for retaining its monopoly on
power.
|
Thật vậy, Trung Quốc dường như trên cùng một con đường đã
làm cho Nhật trở thành một chính phủ quân phiệt, hiếu chiến, với những hậu
quả bi thảm cho khu vực và cho cả Nhật Bản. Thời Minh Trị Duy Tân đã tạo ra
một quân đội hùng mạnh với khẩu hiệu: “Làm giàu đất nước và tăng cường quân
đội“. Cuối cùng thì quân đội trở nên quá mạnh mẽ đến nỗi quân đội có thể đưa
ra các mệnh lệnh cho chính phủ dân sự. Chuyện tương tự có thể diễn ra ở Trung
Quốc, nơi mà Đảng Cộng sản ngày càng phụ thuộc vào quân đội để duy trì sự độc
quyền.
|
|
More broadly, Asia’s power dynamics are likely to remain
fluid, with new or shifting alliances and strengthened military capabilities
continuing to challenge regional stability. For example, as China, India, and
Japan maneuver for strategic advantage, they are transforming their mutual
relations in a way that portends closer strategic engagement between India
and Japan, and sharper competition between them and China.
|
Nói rộng hơn, sự cân bằng quyền lực ở châu Á có khả năng
thay đổi, với các liên minh mới hoặc chuyển dịch các liên minh và tăng cường
khả năng quân sự tiếp tục thách thức sự ổn định trong khu vực. Ví dụ như
Trung Quốc, Ấn Độ, và Nhật Bản diễn tập cho lợi thế chiến lược, họ đang biến
đổi mối quan hệ lẫn nhau của họ, theo cách báo hiệu sự tham gia chiến lược
gần gũi hơn giữa Ấn Độ và Nhật Bản, và sự tranh đua gay gắt hơn giữa họ và
Trung Quốc.
|
|
The future will not belong to Asia merely because it is
the world’s largest, most populous, and fastest-developing continent. Size is
not necessarily an asset. Historically, small, strategically oriented states
have wielded global power.
|
Tương lai sẽ không chỉ thuộc về châu Á do nó lớn nhất thế
giới, đông dân nhất, và phát triển nhanh nhất châu lục. Kích thước không nhất
thiết là giá trị. Trong lịch sử, các nước nhỏ có định hướng chiến lược đã nắm
quyền toàn cầu.
|
|
In fact, with far fewer people, Asia would have a better
balance between population size and available natural resources, including
water, food, and energy. In China, for example, water scarcity has been
officially estimated to cost roughly $28 billion in annual industrial output,
even though China, unlike several other Asian economies, including India, South
Korea, and Singapore, is not listed by the United Nations as a country facing
water stress.
|
Thật ra, nếu có ít người hơn, châu Á sẽ có được sự cân
bằng tốt hơn giữa quy mô dân số và tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nước,
thực phẩm và năng lượng. Ví dụ như ở Trung Quốc, sự khan hiếm nước đã được chính
thức ước tính mất khoảng 28 tỷ đô sản lượng công nghiệp hàng năm, mặc dù
Trung Quốc, không giống một số nền kinh tế châu Á khác, như Ấn Độ, Hàn Quốc,
và Singapore, không được Liên Hiệp Quốc liệt kê là một nước đối mặt với căng
thẳng do thiếu nước.
|
|
In addition to its growing political and natural-resource
challenges, Asia has made the mistake of overemphasizing GDP growth to the
exclusion of other indices of development. As a result, Asia is becoming more
unequal, corruption is spreading, domestic discontent is rising, and
environmental degradation is becoming a serious problem. Worse, while many
Asian states have embraced the West’s economic values, they reject its
political values.
|
Thêm vào những thách thức về chính trị và tài nguyên thiên
nhiên đang gia tăng, châu Á mắc phải sai lầm do đặt tăng trưởng GDP làm trọng
tâm để loại bỏ các chỉ số phát triển khác. Kết quả là, châu Á đang ngày
càng trở nên bất bình đẳng hơn, tham nhũng đang lan rộng, sự bất mãn trong
nước đang gia tăng, và suy thoái môi trường đang trở thành một vấn đề nghiêm
trọng. Tệ hại hơn nữa, trong khi nhiều nước châu Á đã chấp nhận các giá trị
kinh tế phương Tây, thì chính họ lại từ chối các giá trị chính trị của nó.
|
|
So make no mistake. Asia’s challenges are graver than
those facing Europe, which embodies comprehensive development more than any
other part of the world. Despite China’s aura of inevitability, it is far
from certain that Asia, with its pressing internal challenges, will be able
to spearhead global growth and shape a new world order.
|
Không nên mắc sai lầm. Những thách thức ở châu Á nghiêm
trọng hơn so với các thách thức mà Châu Âu đang đối mặt, gồm sự phát triển
toàn diện hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Mặc dù ánh hào quang từ
Trung Quốc thì không thể tránh khỏi, không chắc rằng châu Á, với những thách
thức nội bộ thúc bách, sẽ có thể dẫn đầu về tăng trưởng toàn cầu và định hình
một trật tự thế giới mới.
|
|
Brahma Chellaney,
Professor of Strategic Studies at the New Delhi-based Center for Policy
Research, is the author of Asian Juggernaut and Water: Asia’s New
Battleground
|
Brahma Chellaney, là
giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, có trụ sở
ở New Delhi. Ông còn là tác giả của Sự tàn phá châu Á và nước: chiến trường
mới ở châu Á.
|
|
|
Translated by Dương
Lệ Chi
|
|
|
|
|
http://www.project-syndicate.org/commentary/the-resistible-rise-of-asia-
|
|
Wednesday, May 2, 2012
New life for China's political reformers Cuộc sống mới cho những nhà cải cách chính trị ở Trung Quốc
|
New life for China's
political reformers
|
Cuộc sống mới cho
những nhà cải cách chính trị ở Trung Quốc
|
|
By Kent Ewing
|
Kent Ewing
|
|
|
01-05-2012
|
|
HONG KONG - As the wreckage from the spectacular fall of
Bo Xilai, the darling of China's increasingly marginalized leftists, is swept
away, the country's political reformers find themselves standing in the
clearing.
|
HỒNG KÔNG – Khi đống đổ nát từ sự sụp đổ lạ lùng của ông
Bạc Hy Lai, một người ngày càng được giới cánh tả yêu mến, bị quét sạch, thì
các nhà cải cách chính trị Trung Quốc tìm thấy chỗ đứng cho chính họ trong sự
rõ ràng, minh bạch.
|
|
Bo's loss of his position as Chinese Communist Party (CCP)
chief of Chongqing last month has, at least for now, proved to be their gain,
and it is fair to say that reformers have not been more hopeful since the
crackdown on the student-led pro-democracy movement on June 4, 1989.
|
Việc ông Bạc Hy Lai, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, bị mất
chức hồi tháng trước, ít nhất là cho tới bây giờ, đã chứng minh rằng họ (các
nhà cải cách) đã giành thắng lợi, và công bằng mà nói thì các nhà cải cách
này không hy vọng nhận được nhiều [thắng lợi như vậy] kể từ cuộc đàn áp phong
trào ủng hộ dân chủ do sinh viên dẫn đầu vào ngày 4 tháng 6 năm 1989.
|
|
On that day, when People's Liberation Army tanks rolled
into Tiananmen Square, hundreds, if not thousands, were killed, along with
any dialogue about the democratization of China.
|
Ngày hôm đó, khi xe tăng của Quân Giải phóng Nhân dân
Trung Quốc lăn xích vào quảng trường Thiên An Môn, hàng trăm, nếu không phải
hàng ngàn người, đã bị giết, cũng như đã giết chết bất kỳ cuộc đối thoại về
dân chủ nào ở Trung Quốc.
|
|
Now that dialogue may be set to resume - but don't expect
anything like a Western-style democracy to emerge as a result. Unlike in
1989, China's debate about democracy in 2012 refers strictly to enhancing
accountability and participation in decision-making within the Communist
Party - or so-called "intra-party" democracy.
|
Bây giờ cuộc đối thoại đó có thể được tiếp tục trở lại,
nhưng đừng mong đợi sẽ có bất cứ sự thay đổi nào giống như kiểu dân chủ kiểu
phương Tây có thể xảy ra. Không giống như năm 1989, cuộc tranh luận ở Trung
Quốc về dân chủ năm 2012 có liên quan một cách nghiêm ngặt đến việc nâng cao
trách nhiệm và tham gia vào các quyết sách bên trong Đảng Cộng sản, hoặc cái
gọi là dân chủ “nội bộ”.
|
|
Even if the reformers win, China will still be a one-party-
and, from a Western point of view, undemocratic - state. But that one party
could quite possibly be much more open and transparent (and therefore less
corrupt) than the communist colossus we see today.
|
Ngay cả khi các nhà cải cách giành chiến thắng, Trung Quốc
vẫn sẽ là chính phủ độc đảng và, theo quan điểm của phương Tây, một chính phủ
phi dân chủ. Nhưng chính phủ độc đảng đó có thể cởi mở và minh bạch hơn (và
do đó tham nhũng ít hơn) so với cái mà chúng ta thấy hiện nay.
|
|
Indeed, this is the kind of change that Premier Wen Jiabao
has been advocating for years, with no positive response from anyone else,
including President Hu Jintao, among China's ruling clique. With both Wen and
Hu on their way out in October after 10 years in power, Bo's sensational
demise has provided an opening for political reform to receive a prominent
place on the agenda of the 18th party congress, whose autumn meeting will
endorse the next generation of leaders.
|
Thật vậy, đây là loại thay đổi mà Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã
chủ trương nhiều năm, nhưng không nhận được một phản ứng tích cực từ bất cứ
người nào trong số phe nhóm cầm quyền ở Trung Quốc, kể cả Chủ tịch Hồ Cẩm
Đào. Cả hai ông Ôn Gia Bảo và Hồ Cẩm Đào đang chuẩn bị nghỉ hưu vào tháng 10 [năm
nay] sau 10 năm nắm quyền, sự ra đi bất thường của ông Bạc đã mở đường cho
cải cách chính trị để nhận được chỗ đứng nổi bật trong chương trình nghị sự
Đại hội Đảng lần thứ 18, phiên họp vào mùa thu tới đây sẽ thông qua các vị
lãnh đạo của thế hệ kế tiếp.
|
|
The weekend revelation that blind legal activist Chen
Guangcheng staged a dramatic escape last week from house arrest in his home
village in eastern Shandong province and has reportedly taken refuge in the
US Embassy in Beijing should also provide ammunition for reformers.
|
Sự kiện về nhà hoạt động pháp lý khiếm thị, ông Trần Quang
Thành, đã tổ chức trốn thoát ngoạn mục hồi cuối tuần qua trong khi bị quản
chế ở ngôi nhà của ông ở ngôi làng thuộc miền đông tỉnh Sơn Đông và tin tức
cho biết ông đang ẩn náu tại Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh, cũng cung cấp thêm
đạn cho các nhà cải cách.
|
|
Chen, one of China's most internationally recognized
dissidents, was jailed in 2006 after accusing Shandong officials of forcing
at least 7,000 women to undergo sterilization or late-term abortions in
adherence to China's one-child policy. In the end, he was convicted of
"organizing a crowd to disrupt traffic" and "damaging public
property".
|
Ông Trần, một trong những nhà bất đồng chính kiến Trung
Quốc nổi tiếng nhất thế giới, đã bị bắt giam năm 2006 sau khi ông cáo buộc
các quan chức Sơn Đông đã ép buộc ít nhất 7.000 phụ nữ phải triệt sản hoặc
phá thai ở giai đoạn cuối để tuân theo chính sách một con của Trung Quốc.
Cuối cùng thì ông bị kết tội “tổ chức đám đông để làm gián đoạn giao thông”
và “hủy hoại tài sản công cộng”.
|
|
Chen, who claims that he and his wife have been severely
beaten by local officials over the past year, had been under house arrest in
Dongshigu village since his release from prison in 2010. Following his
escape, he posted a video online directly appealing to Wen, the lonely voice
of reform among the present leadership.
|
Ông Trần cho biết, ông và vợ ông đã bị các quan chức địa
phương đánh đập trong năm qua, bị quản thúc tại ngôi nhà ở làng Dongshigu kể
từ khi ông được thả khỏi tù hồi năm 2010. Sau khi trốn thoát, ông cho đăng
tải một video trên mạng, trực tiếp thỉnh cầu thủ tướng Ôn Gia Bảo, một người
kêu gọi cải cách đơn độc trong số các lãnh đạo hiện nay.
|
|
Chen's video makes three demands of the premier - that the
local officials who allegedly assaulted him are prosecuted, that his family's
safety is guaranteed and that corruption in general in China is honestly
addressed and punished under the law.
|
Video của ông Trần yêu cầu Thủ tướng ba điều, rằng các
quan chức địa phương, những người bị cho là đã hành hung ông, phải bị truy
tố, rằng sự an toàn của gia đình ông phải được bảo đảm, và rằng tham nhũng
nói chung ở Trung Quốc phải được xử lý một cách trung thực và phải bị trừng
phạt theo quy định của pháp luật.
|
|
Embarrassingly, reports that Chen is now under US
protection in Beijing come as US Secretary of State Hillary Clinton and
Treasury Secretary Timothy Geithner are scheduled to fly into the Chinese
capital this week for annual talks as part of the ongoing China-US Strategic
and Economic Dialogue.
|
Xấu hổ thay, tin tức nói rằng ông Trần hiện đang được [Đại
sứ quán] Mỹ ở Bắc Kinh bảo vệ, điều này xảy ra khi Ngoại trưởng Mỹ, bà
Hillary Clinton và ông Timothy Geithner, Bộ trưởng Tài chánh, lên lịch trình
bay tới thủ đô Trung Quốc trong tuần này để hội đàm hàng năm, như là một phần
của Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Trung – Mỹ sắp diễn ra.
|
|
It is hard to imagine the Chen case not coming up as
Clinton and Geithner sit down with their Chinese counterparts; it is equally
hard to imagine champions of political reform in the CCP not doing their best
to use the embarrassment of this case to push harder for their agenda.
|
Khó có thể tưởng tượng trường hợp của Trần không được đưa
ra [thảo luận] khi bà Clinton và ông Geithner ngồi xuống nói chuyện với những
người đồng nhiệm Trung Quốc. Và cũng khó có thể tưởng tượng nếu những người
đang dẫn đầu cải cách chính trị trong Đảng Cộng sản Trung Quốc không làm hết
sức mình để sử dụng sự kiện rắc rối này đẩy mạnh thêm nghị trình của họ.
|
|
These will be the last Sino-American talks under this band
of Chinese leaders.
At this point, barring any further political upheaval, it
is expected that current Vice President Xi Jinping will assume the presidency
next year and that Vice Premier Li Keqiang will take over for Wen. So far,
how they feel about a more open, transparent party is unknown, but there is
no doubt that they have grasped the significance of Bo's fall from grace in
Chongqing, a sprawling southwestern municipality of more than 30 million
people.
|
Đây sẽ là cuộc đàm phán Trung – Mỹ cuối cùng với ban lãnh
đạo hiện tại của Trung Quốc.
Đến lúc này, nếu ngăn không để cho bất kỳ biến động chính
trị nào xảy ra thêm nữa, thì dự kiến ông Tập Cận Bình, Phó Chủ tịch hiện tại,
sẽ đảm nhận chức chủ tịch trong năm tới và ông Lý Khắc Cường, Phó Thủ tướng,
sẽ thay thế ông Ôn Gia Bảo. Đến giờ vẫn chưa rõ họ cảm thấy một đảng cởi mở
hơn, minh bạch hơn như thế nào, nhưng rõ ràng là họ đã nắm được tầm quan
trọng về cú ngã ngựa của Bạc Hy Lai từ ân sủng ở Trùng Khánh, thành phố mở
rộng về phía tây nam với hơn 30 triệu người.
|
|
Until his removal as Chongqing boss and, subsequently,
from the ruling politburo, the popular and charismatic Bo, 62, was considered
a prime candidate for elevation to the all-powerful nine-member Politburo
Standing Committee at the autumn party congress.
|
Cho đến khi bị loại bỏ khỏi chức vụ đứng đầu Trùng Khánh,
và sau đó là bộ chính trị cầm quyền, ông Bạc 62 tuổi, nổi tiếng và có sức lôi
cuốn, được xem như một ứng viên hàng đầu vào chức ủy viên Ban Thường vụ Bộ
Chính trị đầy quyền lực, có chín người, tại Đại hội Đảng trong mùa thu tới.
|
|
During his five-year reign in Chongqing, Bo attracted
international attention for his tough and highly successful (critics said
ruthless and patently extralegal) war on crime in a city that had become
notorious for its powerful triads and for a corrupt officialdom in their
thrall.
|
Trong 5 năm lãnh đạo Trùng Khánh, ông Bạc đã thu hút sự
chú ý quốc tế nhờ cuộc chiến cứng rắn và thành công lớn (các nhà phê bình nói
đó sự tàn nhẫn và rõ ràng là đứng trên luật pháp) chống tội phạm ở một thành
phố khét tiếng với Hội Tam Hoàng hùng mạnh và giới chức bị lệ thuộc vào tham
nhũng.
|
|
Bo's naked populism and revival of revolutionary Maoist
rhetoric added to his fame and - whether Bo's exploitation of Mao Zedong's
legacy was a Machiavellian ploy to whip up popular support or a genuine
embrace of the Great Helmsman's communist ideals - it quickly made him the
poster boy for party leftists disgruntled by China's 30-year love affair with
capitalism, which has created a huge wealth gap in the country.
|
Chủ nghĩa dân túy thuần túy của ông Bạc và sự hồi sinh
ngôn từ cách mạng Mao-ít đã tạo thêm danh tiếng cho ông và liệu việc ông Bạc
khai thác di sản của Mao Trạch Đông là một thủ đoạn xảo quyệt để đi lên nhờ
sự ủng hộ đông đảo hay là ông thật sự đi theo lý tưởng cộng sản của Người Cầm
lái Vĩ đại (tức Mao Trạch Đông), đã làm cho ông nhanh chóng trở thành người
điển hình cho những người cánh tả trong đảng, những người đã bất bình vì mối
tình 30 năm của Trung Quốc với chủ nghĩa tư bản, đã tạo ra một khoảng cách
giàu nghèo rất lớn ở trong nước.
|
|
Meanwhile, Chongqing's gross domestic product growth of
16.4% was tops in China in 2011, further enhancing Bo's reputation and
political ambitions. Heading into 2012, the "Chongqing model" was
being held up as a paradigm for the nation, and Bo hoped to ride that
paradigm into China's charmed circle of leadership.
|
Trong khi đó, tổng sản phẩm quốc nội của Trùng Khánh tăng
trưởng 16,4%, được xếp vào loại tăng trưởng hàng đầu ở Trung Quốc trong năm
2011, làm tăng thêm tiếng tăm và tham vọng chính trị của ông Bạc. Hướng về
năm 2012, “mô hình Trùng Khánh” đã được tổ chức như là một mô hình kiểu mẫu
trên cả nước, và ông Bạc hy vọng cưỡi mô hình đó vào giới lãnh đạo bị mê hoặc
của Trung Quốc.
|
|
Then the wheels fell
off
It all started to wobble when former Chongqing police
chief and Bo's right-hand man in his war on crime, Wang Lijun, turned up on
February 6 at the US consulate in Sichuan province's capital city of Chengdu,
located 338 kilometers northwest of Chongqing, apparently to request asylum -
another disconcerting example of US involvement in China's affairs.
|
Và rồi xe trật bánh
Và rồi mọi chuyện bắt đầu chao đảo khi ông Vương Lập Quân,
cựu cảnh sát trưởng Trùng Khánh, cũng là cánh tay phải của ông Bạc trong cuộc
chiến chống tội phạm, vào ngày 6 tháng 2 đã chạy vào Lãnh Sự quán Hoa Kỳ ở
Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, cách Trùng Khánh 338 km về phía tây bắc,
rõ ràng là để xin tị nạn, một ví dụ lúng túng khác về sự dính líu của Mỹ tới
các vấn đề của Trung Quốc.
|
|
Bo had "reassigned" Wang to a post overseeing
education and the environment a week prior to his appearance at the consulate
after learning that Wang had gathered evidence implicating Bo's wife, Gu
Kailai, in the alleged murder of British businessman Neil Heywood.
|
Ông Bạc đã “thuyên chuyển” ông Vương qua chức giám sát
giáo dục và môi trường, một tuần trước khi ông Vương xuất hiện tại lãnh sự
quán, sau khi biết rằng ông Vương đã thu thập bằng chứng về sự liên can của
bà Cốc Khai Lai, vợ ông Bạc, trong vụ bà bị cáo buộc giết ông Neil Heywood,
doanh nhân người Anh.
|
|
Wang did not receive asylum from US officials and was picked
up by Chinese security agents after leaving the Chengdu consulate. He has
been in custody ever since.
|
Ông Vương đã không được các quan chức Mỹ cho tị nạn và đã
được các nhân viên an ninh của Trung Quốc đón sau khi rời khỏi lãnh sự quá Mỹ
ở Thành Đô. Ông đã bị giam giữ kể từ đó.
|
|
Bo now stands charged with "serious disciplinary
violations" yet to be specified while Gu is under investigation for the
murder of Heywood, who was reportedly responsible for transferring hundreds
of millions of yuan into foreign accounts for Bo's family.
|
Hiện ông Bạc bị buộc tội “vi phạm kỷ luật nghiêm trọng”
tuy vẫn chưa rõ [ông sẽ bị kỷ luật như thế nào], trong khi bà Cốc Khai Lai
đang bị điều tra về vụ giết ông Heywood, theo tin tức, người chịu trách nhiệm
chuyển giao hàng trăm triệu nhân dân tệ vào tài khoản nước ngoài cho gia đình
ông Bạc.
|
|
This money could have helped to finance the high-flying
lifestyle and top-flight Western education of Bo's son, Bo Guagua, 24, who
attended Britain's famous Harrow School and Oxford University and is
currently a student at Harvard University in the US.
|
Số tiền này có thể giúp cho lối sống đầy tham vọng và nền
giáo dục phương Tây thuộc hàng bậc nhất của con trai ông Bạc Hy Lai là Bạc
Qua Qua, 24 tuổi, đã theo học tại trường Harrow và Đại học Oxford nổi tiếng ở
Anh, và hiện đang là một sinh viên tại trường Đại học Harvard ở Mỹ.
|
|
As Bo's salary as Chongqing party secretary was a modest
10,000 yuan (US$1,586) a month, the reported transfers have led observers to
believe that Bo will be charged with corruption. Moreover, he may yet be
found an accessory to murder.
|
Mức lương khiêm tốn của một bí thư thành ủy Trùng Khánh
như ông Bạc chỉ khoảng 10.000 nhân dân tệ (1,586 đô la Mỹ) một tháng, nên tin
tức cho biết việc chuyển một số tiền lớn này làm cho các nhà quan sát tin
rằng, ông Bạc sẽ bị buộc tội tham nhũng. Hơn nữa, ông có thể bị cáo buộc là
tòng phạm trong vụ giết người.
|
|
Bo apparently also mounted a wiretapping campaign
targeting Chinese officials, including the president, according to a recent
New York Times report citing anonymous sources with party ties.
|
Dường như cũng bị dính đến một chiến dịch nghe trộm nhắm
vào các quan chức, gồm cả chủ tịch Trung Quốc, theo tin tức gần đây của báo
New York Times, trích dẫn các nguồn tin từ những người giấu tên, có mối quan
hệ trong đảng.
|
|
As the reports, rumors and allegations related to Bo and
his family continue to fly and the Chongqing model takes on a new and far
more sinister meaning, reformers are pouncing on the opportunity for
political change. Indeed, the way the party has handled the Bo drama - the
worst political scandal in China for decades - only strengthens their
arguments for greater transparency and accountability.
|
Khi các tin tức, tin đồn và các cáo buộc liên quan đến ông
Bạc và gia đình của ông tiếp tục tung ra và mô hình Trùng Khánh mang ý nghĩa
mới, nham hiểm hơn rất nhiều, các nhà cải cách chụp lấy cơ hội này cho sự
thay đổi chính trị. Thật vậy, cái cách mà đảng xử lý sự kiện ông Bạc đầy kịch
tính, vụ bê bối chính trị tồi tệ nhất ở Trung Quốc trong nhiều thập kỷ, chỉ
làm tăng thêm lập luận của họ về sự minh bạch và trách nhiệm [của đảng] lớn
hơn.
|
|
Since Bo was removed from office on March 15, there has
been no clear and full official account of the allegations against him.
|
Kể từ khi ông Bạc bị cách chức hôm 15 tháng 3, vẫn chưa có
một cáo buộc chính thức nào đầy đủ và rõ ràng chống lại ông.
|
|
Predictably, the dearth of information in such a
sensational case has led to rampant speculation, rumors that quickly go viral
on the Internet (including one particularly unsettling one warning of an
imminent military coup) and lots of anonymous reports like the recent New
York Times story.
|
Có thể tiên đoán rằng, sự thiếu thông tin trong vụ việc
chấn động như vậy đã dẫn đến việc suy đoán tràn lan, các tin đồn lan nhanh
trên Internet (gồm một tin cảnh báo đặc biệt đáng lo ngại về một cuộc đảo
chính quân sự sắp xảy ra) và rất nhiều tin nặc danh như câu chuyện gần đây
của báo New York Times.
|
|
It's nothing short of astonishing that the Wang/Bo scandal
has been allowed to snowball now for nearly three months while party
officials sit silently behind closed doors calculating what to do. The clumsy
handling of the affair and the rumor-mongering engendered by this ineptitude
have embarrassed Beijing in the eyes of the world and raised disturbing
questions about party governance.
|
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các vụ bê bối Bạc Hy Lai/
Vương Lập Quân được phép tăng nhanh trong gần ba tháng, trong khi các quan
chức đảng lặng lẽ đứng sau cánh cửa đóng kín, tính toán phải làm gì. Việc xử
lý vụng về vụ việc và phổ biến tin đồn gây ra do sự vụng về này, thật xấu hổ
cho Bắc Kinh trong con mắt của thế giới và các câu hỏi đáng lo ngại đã được
đặt ra về sự cầm quyền của đảng.
|
|
Those are questions reformers hope will be addressed ahead
of the party congress later this year, and their calls for change are clearly
resonating. That three leading state-run media outlets have recently
published a series of commentaries urging political reform is a sure sign of
that - and perhaps also a signal that the leadership, both outgoing and
incoming, may have come to some sort of consensus on this issue.
|
Đó là những câu hỏi mà các nhà cải cách hy vọng sẽ đề cập
trước Đại hội Đảng cuối năm nay, và những lời kêu gọi thay đổi của họ, rõ
ràng đã tạo ra tiếng vang. Ba cơ quan truyền thông hàng đầu của chính phủ gần
đây đã công bố một loạt các bài bình luận, kêu gọi cải cách chính trị, là một
dấu hiệu chắc chắn về điều đó và có lẽ cũng là một tín hiệu cho thấy, giới
lãnh đạo, cả lãnh đạo sắp nghỉ hưu lẫn những người sắp nhậm chức, có thể đi
đến một số đồng thuận về vấn đề này .
|
|
Notably, however, those commentaries - in the party
mouthpiece, the People's Daily, the official Xinhua News Agency and the China
Youth Daily - make no mention of Western-style democracy. Instead, they are
so general that it his hard to fathom what they mean by their pleas for a
"restructuring" of China's political system.
|
Tuy nhiên, đặc biệt là những bài bình luận này thuộc các
cơ quan ngôn luận của đảng, tờ Nhân dân Nhật báo, Tân Hoa Xã và Thanh niên
Trung Quốc Nhật báo, đã không đề cập đến dân chủ kiểu phương Tây. Thay vào
đó, họ chỉ nói chung chung, rất khó để hiểu được những gì họ muốn nói, qua
những lời yêu cầu của họ là “tái cơ cấu” hệ thống chính trị ở Trung Quốc.
|
|
A People's Daily article calls for "ensuring the
people are the masters" of China's political fate but offers no
suggestions about how to make this happen. Another People's Daily commentary
trots out this bromide: "Reform has only one purpose, and that is to
serve the people's interest."
|
Một bài báo trên tờ Nhân dân Nhật báo kêu gọi “bảo đảm
người dân được làm chủ” về số phận chính trị của Trung Quốc nhưng không cung
cấp thêm bất cứ đề nghị nào về việc làm sao để điều này xảy ra. Một bài bình
luận khác trên tờ Nhân dân Nhật báo khoe khoang những lời nói nhạt nhẽo như
thế này: “Cải cách chỉ có một mục đích duy nhất, đó là phục vụ lợi ích của
nhân dân“.
|
|
The China Youth Daily invokes the words of former US
president Abraham Lincoln in demanding political change that is "of the
people, by the people and for the people" - whatever that may mean in
China.
|
Thanh niên Trung Quốc Nhật báo thì dẫn lời cố Tổng thống
Mỹ Abraham Lincoln trong việc yêu cầu thay đổi chính trị, đó là “của dân, do
dân và vì dân“, bất cứ điều gì họ muốn nói ở Trung Quốc.
|
|
A Xinhua article uses more forceful language, promoting
political reform as a way of "assaulting fortified positions" but,
again, provides no specific plan or solutions.
|
Một bài báo trên Tân Hoa xã sử dụng ngôn từ mạnh mẽ hơn,
thúc đẩy cải cách chính trị như là một cách “tấn công các vị trí kiên cố”,
nhưng, một lần nữa, không cung cấp một kế hoạch cụ thể hay một giải pháp nào.
|
|
Who knows where these vague but prominent and officially
sanctioned calls for change will lead - or if they will lead anywhere at all.
Perhaps they are simply appeasing sops to the reformist wing of the party,
which will, come autumn, once again see its demands for a significant
overhaul of the party's political structure come to naught.
|
Ai biết được những lời kêu gọi mơ hồ, nhưng những lời kêu
gọi thay đổi nổi tiếng và đã được sự đồng ý chính thức này, sẽ dẫn tới đâu,
hoặc có đi tới đâu hay không. Có lẽ đơn giản là những lời nói này chỉ để mua
vui giới cải cách của đảng, trong đó, mùa thu tới đây, một lần nữa sẽ thấy
nhu cầu về một cuộc đại tu đáng kể đối với cơ cấu chính trị của đảng trở nên
vô nghĩa.
|
|
The Chen case underscores the brutal, deep-seated corruption
at the local level of party affairs, and the Bo scandal lays bare big
problems at the top. Still, however, conservatives appear to hold sway in the
party leadership, and they are resistant to any change that could undermine
their power.
|
Trường hợp ông Trần nhấn mạnh sự thối nát sâu xa, tàn bạo
ở cấp địa phương trong nội bộ đảng, và vụ bê bối của ông Bạc đặt ra các vấn
đề lớn ở cấp lãnh đạo hàng đầu. Tuy nhiên, vẫn còn thấy phe bảo thủ nắm quyền
thống trị trong hàng ngũ lãnh đạo đảng, và họ chống lại bất kỳ sự thay đổi
nào có thể làm cho quyền lực của họ bị suy yếu.
|
|
|
|
|
Let's remember that Hu became general secretary of the
party in 2002 and president one year later amid great hopes and promising
signs that he would be a liberal reformer.
|
Nên nhớ rằng Hồ Cẩm Đào trở thành Tổng Bí thư Đảng năm
2002 và là chủ tịch một năm sau đó, trong lúc có những hy vọng lớn lao và
nhiều dấu hiệu hứa hẹn rằng ông sẽ là một nhà cải cách rộng rãi.
|
|
A decade later, little has changed.
|
Một thập kỷ sau, chẳng có mấy đổi thay.
|
|
Kent Ewing is a Hong
Kong-based teacher and writer. He can be reached at kewing56@gmail.com Follow
him on Twitter: @KentEwing1
|
Kent Ewing là một
giáo viên và là cây bút ở Hồng Kông. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ
email: kewing56@gmail.com hoặc Twitter của ông: @ KentEwing1
|
|
|
Translated by Dương Lệ Chi
|
|
|
|
|
http://www.atimes.com/atimes/China/NE01Ad01.html
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)