MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Friday, February 27, 2015

MIND THE GAP CÁCH BIỆT VĂN HÓA


MIND THE GAP

CÁCH BIỆT VĂN HÓA

By Jay Ogilvy

Jay Ogilvy
Global Affairs JANUARY 28, 2015
Global Affairs, 28/1/2015


The Charlie Hebdo attack and its aftermath in the streets and in the press tempt one to dust off Samuel Huntington's 1996 book, The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order. Despite the criticisms he provoked with that book and his earlier 1993 article in Foreign Affairs, recent events would seem to be proving him prescient.
Or was he?

Cuộc tấn công vào tờ báo trào phúng Charlie Hebdo ở Pháp và hậu quả của nó trên các đường phố cũng như trên các cơ quan truyền thông đã làm cho người ta có ý muốn phủi bụi để xem lại cuốn sách xuất bản năm 1996 của Samuel Huntington “Sự Đụng Độ Giữa Các Nền Văn Minh và Tái Xây Trật Tự Thế Giới”. Mặc dù ông đã gây ra những chỉ trích do từ cuốn sách này cũng như những bài báo ông viết trước đó vào năm 1993 trong tạp chí Foreign Affairs, các sự kiện gần đây có vẻ như chứng minh lời tiên tri của ông.
Có phải vậy không?


While I am not about to deny the importance of religion and culture as drivers of geopolitical dynamics, I will argue that, more important than the clashes among the great civilizations, there is a clash within each of the great civilizations. This is the clash between those who have "made it" (in a sense yet to be defined) and those who have been "left behind" — a phrase that is rich with ironic resonance.

Trong khi tôi không có ý phủ nhận tầm quan trọng của tôn giáo và văn hóa như là những lực đẩy của động tính địa chính trị, tôi sẽ cho rằng, cái điều quan trọng hơn, so với sự đụng độ giữa các nền văn minh lớn, là sự đụng độ ở bên trong của mỗi nền văn minh lớn. Đây là sự đụng độ giữa những người “tiến nên” (trong cái ý nghĩa vẫn còn chưa định rõ) và những người bị “bỏ lại phía sau”  một mệnh đề giàu âm hưởng trái ngang.

Before I make my argument, I warn that the point I'm trying to make is fairly subtle. So, in the interest of clarity, let me lay out what I'm not saying before I make that point. I am not saying that Islam as a whole is somehow retrograde. I am not agreeing with author Sam Harris' October 2014 remark on "Real Time with Bill Maher" that "Islam is the mother lode of bad ideas." Nor am I saying that all religions are somehow equal, or that culture is unimportant. The essays in the book Culture Matters, which Huntington helped edit, argue that different cultures have different comparative advantages when it comes to economic competitiveness. These essays build on the foundation laid down by Max Weber's 1905 work, The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism. It is only the "sulfuric odor of race," as Harvard historian David Landes writes on the first page of the first essay in Culture Matters, that has kept scholars from exploring the under-researched linkages between culture and economic performance.

Trước khi tôi lập luận, tôi muốn báo truớc rằng luận điểm mà tôi muốn trình bày thì tương đối hơi khó hiểu. Vì vậy, để giúp cho sự rõ ràng, tôi muốn nêu ra những gì tôi không nói, trước khi tôi trình bày quan điểm của tôi. Tôi không cho rằng đạo Hồi như một tổng thể thì có vẻ như là thoái hóa. Tôi không đồng ý với quan điểm của tác giả Sam Harris hôm tháng Muời 2014, trong “Tương Tác với Bill Maher” (Real Time with Bill Maher), rằng “Hồi giáo là nguồn cơn của những ý tưởng xấu.” Tôi cũng không nói rằng tất cả các tôn giáo, một cách nào đó đều bình đẳng, hay văn hóa không quan trọng. Các bài viết trong quyển sách “Chính Là Văn Hoá” (Culture Matters), mà Huntington giúp chỉnh sửa, cho rằng các nền văn hóa khác nhau có lợi thế riêng khác nhau, khi đi vào cạnh tranh kinh tế. Những bài tiểu luận này được xây dựng trên nền tảng của Max Weber đặt ra trong công trình nghiên cứu năm 1905 “Nền Luân Lý Tin Lành và Tinh Thần Của Chủ Nghĩa Tư Bản” (The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism). Nó chỉ là “mùi hôi lưu huỳnh của chủng tộc”, như sử gia David Landes của Harvard viết lời tựa cho bài tiểu luận đầu tiên trong cuốn “Chính Là Văn Hoá”, nó làm cho các học giả giữ khoảng cách với các mối quan hệ chưa được nghiên cứu đủ sâu giữa văn hóa và hoạt động kinh tế.

Making It in the Modern World

The issue of the comparative advantages or disadvantages of different cultures is complicated and getting more so because with modernity and globalization, our lives are getting more complicated. We are all in each other's faces today in a way that was simply not the case in earlier centuries. Whether through travel or telecommunications or increasingly ubiquitous and inexpensive media, each and every one of us is more aware of the cultural other than in times past. This is obvious. What is not so obvious are the social and psychological consequences of the inevitable comparisons this awareness invites us to make: How are we measuring up, as individuals and as civilizations?

Thành công trong thế giới hiện đại

Về vấn đề những lợi thế riêng hay những nhược điểm của các nền văn hóa khác nhau thì rất phức tạp và càng ngày càng phức tạp hơn bởi vì với sự hiện đại và sự toàn cầu hóa, cuộc sống của chúng ta đang trở nên phức tạp hơn. Tất cả chúng ta ngày nay có thể gặp mặt với nhau, điều mà những thế kỷ trước không thể có được. Dù là qua ngã du lịch hay viễn thông hay các phương tiện truyền thông ngày càng phổ biến và rẻ tiền, mỗi một người trong chúng ta đều có ý thức văn hóa hơn so với các thời kỳ của quá khứ. Điều này thì hiển nhiên. Những gì không hiển nhiên là những hệ quả xã hội và tâm lý của những sự so sánh không thể tránh khỏi của nhận thức này mời gọi chúng ta: Làm sao chúng ta đo đếm được, như những cá nhân cũng như những nền văn minh?


In the modern world, the development of the individual human, which is tied in part to culture, has become more and more important. If you think of a single human life as a kind of footrace — as if the developmental path from infancy to maturity were spanning a certain distance — then progress over the last several millennia has moved out the goal posts of maturity. It simply takes longer to learn the skills it takes to "make it" as an adult. Surely there were skills our Stone Age ancestors had to acquire that we moderns lack, but they did not have to file income taxes or shop for insurance. Postmodern thinkers have critiqued the idea of progress and perhaps we do need a concept that is forgivingly pluralistic. Still, there have been indisputable improvements in many basic measures of human progress. This is borne out by improved demographic statistics such as birth weight, height and longevity, as well as declining poverty and illiteracy. To put it very simply, we humans have come a long way.

Trong thế giới hiện đại, sự phát triển của cá nhân con người, mà một phần gắn liền với văn hóa, ngày càng trở nên quan trọng hơn. Nếu ta nghĩ cuộc sống của một con người như là một cuộc thi đua chạy bộ – tựa như như sự phát triển từ trẻ thơ đến truởng thành là một khoảng cách nhất định – thì sự phát triển qua nhiều ngàn năm qua đã di chuyển những trụ cây số của sự trưởng thành ra xa hơn. Nói đơn giản là phải mất nhiều thời gian hơn để học hỏi những kỹ năng để “thành công” như một người lớn. Chắc chắn là có những kỹ năng mà tổ tiên ta trong Thời Kỳ Đồ Đá có được mà chúng ta ngày nay không có, nhưng họ không phải khai thuế lợi tức hay tìm mua bảo hiểm. Những nhà tư tưởng hậu hiện đại đã chỉ trích cái ý tưởng về tiến bộ, và có lẽ chúng ta nên cần có một khái niệm khoan dung đa nguyên. Tuy nhiên, đã có những cải tiến không thể chối cãi trong nhiều cách đo căn bản về sự tiến bộ của con người. Điều này có được từ sự cải thiện các thống kê về nhân khẩu học như trọng luợng khi sinh ra, chiều cao và tuổi thọ, cũng như sự giảm nghèo và mù chữ. Để nói cho đơn giản hơn, như là con người, chúng ta đã đi một chặng đường dài.

But these historic achievements have come at a price. It is not simple for individuals to master this elaborate structure we call modern civilization with its buildings and institutions and culture and history and science and law. A child can't do it. Babies born into this world are biologically very similar to babies born 10,000 years ago; biological evolution is simply too slow and cannot equip us to manage this structure. And childhood has gotten ever longer. "Neoteny" is the technical term for the prolongation of the period during which an offspring remains dependent on its parent. In some species, such as fish or spiders, newborns can fend for themselves immediately. In other species — ducks, deer, dogs and cats — the young remain dependent on their mothers for a period of weeks. In humans, the period of dependency extends for years. And as the generations and centuries pass, especially recently, that period of dependency keeps getting longer.

Nhưng những thành tựu lịch sử này phải trả bằng một cái giá. Nó thật không dễ cho những cá nhân để am tuờng các cấu trúc phức tạp này mà chúng ta gọi là nền văn minh hiện đại với các cơ sở và các định chế, văn hóa, lịch sử, khoa học và pháp luật. Một đứa trẻ không thể làm được việc này. Một em bé sinh ra trong thế giới ngày hôm nay, về sinh học rất giống với một em bé sinh ra cách đây 10.000 năm trước; sự tiến hóa sinh học đơn giản là quá chậm và không thể trang bị cho chúng ta để quản lý nỗi cái cấu trúc này. Và giai đoạn thơ ấu càng ngày càng dài ra. “Chưa dứt sửa” là thuật ngữ sinh học để diễn tả việc kéo dài thời gian mà con cái vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ. Ở một số sinh vật, như cá hay nhện, các con mới sinh có thể tự lo cho nó ngay lập tức. Trong các sinh vật khác – như vịt, hươu, chó và mèo – những con mới sinh lệ thuộc vào mẹ của chúng chỉ trong vài tuần. Ở con người, thời kỳ lệ thuộc kéo dài trong nhiều năm. Và khi những thế hệ và những thế kỷ trôi qua, đặc biệt là gần đây, giai đoạn lệ thuộc tiếp tục kéo dài ra hơn.

As French historian Philippe Aries informed us in Centuries of Childhood, "in medieval society, the idea of childhood did not exist." Prior to modernity, young people were adults in miniature, trying to fit in wherever they could. But then childhood got invented. Child labor laws kept children out of the factories and truancy laws kept them in public schools. For a recent example of the statutory extension of childhood known as neoteny, consider U.S. President Barack Obama's announcement that he intends to make community college available for free to any high school graduate, thus extending studenthood by two years.

Như sử gia Pháp Philippe Aries cho chúng ta biết trong “Những Thế Kỷ Của Tuổi Thơ”, “trong xã hội thời Trung cổ, ý tưởng về thời thơ ấu không hiện hữu.” Trước hiện đại, những người trẻ là những người lớn trong cái khung nhỏ, cố gắng để thích hợp với bất cứ nơi nào mà chúng có thể. Nhưng rồi tuổi thơ đã được tạo tác ra. Luật lao động trẻ em giữ chúng bên ngoài các hãng xuởng, và luật về trốn học giữ chúng bên trong các trường công lập. Dẫn một ví dụ gần đây về việc luật cho gia hạn thời thơ ấu, còn được gọi là chưa dứt sửa, đó là tuyên bố của Tổng thống Mỹ Barack Obama rằng ông dự định sẽ cho đại học cộng đồng dạy miễn phí bất kỳ ai tốt nghiệp trung học, do đó kéo dài tuổi học trò thêm hai năm.

The care and feeding and training of your average human cub have become far greater than the single season that bear cubs require. And it seems to be getting ever longer as more 20-somethings and even 30-somethings find it cheaper to live with mom and dad, whether or not they are enrolled in school or college. The curriculum required to flourish as an adult seems to be getting ever longer, the goal posts of meaningful maturity ever further away from the "starting line," which has not moved. Our biology has not changed at anywhere near the rate of our history. And this growing gap between infancy and modern maturity is true for every civilization, not just Islamic civilization.

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và đào tạo một đứa bé trung bình của chúng ta đã trở nên lớn hơn nhiều, so với chỉ một mùa của những con gấu con. Và nó có vẻ như càng tiếp tục kéo dài ra khi ngày càng nhiều những đứa con hơn 20 và thậm chí hơn 30 tuổi thấy rẻ hơn để sống với cha mẹ, cho dù có hay không có ghi danh đi học trung học hay đại học. Các chương trình đào tạo cần thiết để phát triển như một người lớn dường như lâu dài hơn, những trụ cây số cho sự trưởng thành đúng nghĩa cứ dời xa ra từ “điểm bắt đầu” trong khi điểm bắt đầu này không thay đổi. Cơ thể sinh học của chúng ta đã không khi nào thay đổi kịp để bắt gần với mức thay đổi của lịch sử. Và khoảng cách tiếp tục lớn này giữa thời kỳ thơ ấu và thời kỳ trưởng thành của ngày hôm nay nó xảy ra cho mọi nền văn minh, chứ không chỉ cho văn minh Hồi giáo.


The picture gets complicated, though, because the vexed history of the relationships among the world's great civilizations leaves little doubt about different levels of development along any number of different scales of achievement. Christian democracies have outperformed the economies and cultures of the rest of the world. Is this an accident? Or is there something in the cultural software of the West that renders it better able to serve the needs of its people than does the cultural software called Islam?

Bức tranh bây giờ dĩ nhiên trở nên phức tạp, vì lịch sử đau thương của các mối quan hệ giữa những nền văn minh lớn trên thế giới, rõ ràng để lại những tầng lớp khác nhau của sự phát triển, cùng với những mức độ khác nhau của sự thành công. Các nền dân chủ Kitô giáo đã vượt trội về kinh tế và văn hóa so với phần còn lại của thế giới. Đây có phải là một tai nạn? Hay là vì có một cái gì đó trong phần mềm của văn hóa phương Tây làm cho nó có khả năng tốt hơn trong việc phục vụ các nhu cầu của người dân so với các phần mềm của văn hóa được gọi là Hồi giáo?

Those Left Behind

Clearly there is a feeling among many in the Islamic world that they, as a civilization, have been "left behind" by history. Consider this passage from Snow, the novel by Nobel Prize-winning Turkish author Orhan Pamuk:

Những Người Bị Bỏ Phía Sau

Rõ ràng có một cảm giác trong số rất nhiều nguời trong thế giới Hồi giáo rằng họ, như một nền văn minh, đã bị “bỏ lại phía sau” của lịch sử. Hãy xem đoạn văn sau đây trong tác phẩm “Tuyết”, cuốn tiểu thuyết của tác giả Orhan Pamuk đoạt giải Nobel của Thổ Nhĩ Kỳ:


"We're poor and insignificant," said Fazul, with a strange fury in his voice. "Our wretched lives have no place in human history. One day all of us living now in Kars will be dead and gone. No one will remember us; no one will care what happened to us. We'll spend the rest of our days arguing about what sort of scarf women should wrap around their heads, and no one will care in the slightest because we're eaten up by our own petty, idiotic quarrels. When I see so many people around me leading such stupid lives and then vanishing without a trace, an anger runs through me…"

“Chúng tôi nghèo và không đáng kể’, Fazul nói, với sự tức giận lạ thuờng trong giọng nói của ông. ‘Các cuộc đời tồi tệ của chúng tôi không có chỗ đứng trong lịch sử loài người. Một ngày nào đó tất cả chúng tôi hiện nay đang sống ở Kars sẽ chết và biến mất. Không ai sẽ nhớ đến chúng tôi; không ai sẽ quan tâm đến những chuyện gì đã xảy ra cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ dành cả ngày để tranh cãi loại khăn gì cho phụ nữ quấn quanh đầu của họ, và không có ai thèm để ý một chút nào, bởi vì chúng tôi bị nuốt bởi những gấu ó vụn vặt riêng và ngu ngốc của chúng tôi. Khi tôi thấy rất nhiều người xung quanh tôi sống một cuộc đời ngu ngốc như vậy và sau đó biến mất không một dấu vết, thì một cơn giận dâng trào trong tôi…”

Earlier I mentioned the ironic resonance of this phrase, "left behind." I think of two other recent uses: first, the education reform legislation in the United States known as the No Child Left Behind Act; the second, the best-selling series of 13 novels by Tim LaHaye and Jerry Jenkins in which true believers are taken up by the Rapture while the sinners are "left behind." In both of these uses, it is clearly a bad thing to be left behind.

Lúc đầu, tôi có đề cập đến một mệnh đề giàu âm huởng trái ngang về những người bị “bỏ lại phía sau”. Tôi nghĩ đến hai ứng dụng khác gần đây: thứ nhất, đạo luật cải tổ giáo dục ở Hoa Kỳ được gọi là “Không Em Bé Nào Bị Bỏ Rơi; thứ hai, loạt 13 tiểu thuyết bán chạy nhất của Tim LaHaye và Jerry Jenkins mà trong đó những người được cứu rỗi (Rapture) là những nguời có đức tin thực sự, trong khi những người tội lỗi là những nguời bị “bỏ lại phía sau.” Trong cả hai truờng hợp áp dụng, rõ ràng là cái xấu bị bỏ lại phía sau.


This growing divide between those who have made it and those who are being left behind is happening globally, in each of the great civilizations, not just Islam. To quote my fellow Stratfor columnist, Ian Morris, from just last week:

Sự chia cách ngày càng tăng này giữa những người thành công và những người bị bỏ lại phía sau đang xảy ra trên toàn cầu, trong mỗi nền văn minh lớn, chứ không phải chỉ có đạo Hồi. Để trích lời Ian Morris, một nhà bình luận đồng nghiệp của tôi trong viện Stratfor, mới trong tuần qua:

Culture is something we can change in response to circumstances rather than waiting, as other animals must, for our genes to evolve under the pressures of natural selection. As a result, though we are still basically the same animals that we were when we invented agriculture at the end of the ice age, our societies have evolved faster and faster and will continue to do so at an ever-increasing rate in the 21st century.

“Văn hóa là cái gì mà chúng ta có thể thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh thay vì chờ đợi, như các sinh vật khác đã phải làm, bởi vì các genes của chúng ta tiến hoá dưới những áp lực của sự chọn lọc tự nhiên. Nó đưa đến hậu quả là, mặc dù chúng ta cơ bản vẫn là sinh vật tương tự như khi chúng ta phát minh ra nông nghiệp vào cuối thời kỳ băng hà, các hoạt cảnh xã hội của chúng ta đã phát triển càng ngày càng nhanh hơn và sẽ tiếp tục như vậy với tốc độ ngày càng gia tăng trong thế kỷ 21″.

And because the fundamental dynamics of this divide are rooted in the mismatch between the pace of change of biological evolution on the one hand (very slow) and historical or technological change on the other (ever faster), it is hard to see how this gap can be closed. We don't want to stop progress, and yet the more progress we make, the further out the goal posts of modern maturity recede and the more significant culture becomes.

Và bởi vì các động tính nền tảng của sự chia cách này bắt nguồn từ sự so le giữa tốc độ thay đổi của tiến hóa sinh học trên một bình diện (rất chậm) và thay đổi lịch sử hay công nghệ trên một bình diện khác (quá nhanh), rất khó để làm thế nào cho khoảng cách này có thể được đóng lại. Chúng ta không muốn dừng sự tiến bộ, và nếu thế thì chúng ta càng làm cho có sự tiến bộ hơn, thì những trụ cây số của tuổi truởng thành hôm nay sẽ bị dời ra xa hơn, và văn hoá trở nên trọng đại hơn.

There is a link between the "left behind" phenomenon and the rise of the ultra-right in Europe. As the number of unemployed, disaffected, hopeless youth grows, so also does the appeal of extremist rhetoric — to both sides. On the Muslim side, more talk from the Islamic State about slaying the infidels. On the ultra-right, more talk about Islamic extremists. Like a crowded restaurant, the louder the voices get, the louder the voices get.

Có một mối liên hệ giữa hiện tượng “bỏ lại phía sau” và sự trổi dậy của cực hữu ở châu Âu. Khi số lượng những người trẻ thất nghiệp, bất mãn, tuyệt vọng gia tăng, thì sức hấp dẫn của những lời dụ hoặc cực đoan  cũng tăng theo – cho cả hai bên. Về phía người Hồi giáo, có sự lớn tiếng hơn của Nhà Nuớc Hồi Giáo về giết những kẻ ngoại đạo. Bên phía cực hữu, họ to tiếng hơn về những kẻ Hồi Giáo cực đoan. Giống như trong một nhà hàng đông đúc, càng ồn ào những tiếng nói, thì những tiếng nói càng to hơn.

I use this expression, those who have "made it," because the gap in question is not simply between the rich and the poor. Accomplished intellectuals such as Pamuk feel it as well. The writer Pankaj Mishra, born in Uttar Pradesh, India, in 1969, is another rising star from the East who writes about the dilemma of Asian intellectuals, the Hobson's choice they face between recoiling into the embrace of their ancient cultures or adopting Western ways precisely to gain the strength to resist the West. This is their paradox: Either accept the Trojan horse of Western culture to master its "secrets" — technology, organization, bureaucracy and the power that accrues to a nation-state — or accept the role of underpaid extras in a movie, a very partial "universal" history, that stars the West. In my next column, I'll explore more of Mishra's insights from several of his books.
Tôi dùng từ ngữ những người “vượt lên” này, bởi vì cái khoảng cách trong câu hỏi được đặt ra, không chỉ đơn giản là giữa người giàu và người nghèo. Những nhà học giả thành đạt như Pamuk (nói trên) cũng cảm nhận ra nó. Nhà văn Pankaj Mishra, sinh ra ở Uttar Pradesh, Ấn Độ, năm 1969, là một ngôi sao đang lên của Đông Phương, ông viết về thế luỡng nan của các nhà trí thức châu Á, sự lựa chọn Hobson (chỉ có một, cho nên lấy hoặc không) mà họ phải đối mặt giữa việc rút vào trong vòng tay của các nền văn hóa cổ xưa của họ hoặc nhận lấy các phuơng cách của phương Tây, chính yếu là vì muốn có sức mạnh để chống lại phương Tây. Đây là nghịch lý của họ: Hoặc là chấp nhận con ngựa gỗ gài vào thành Troy của văn hóa phương Tây để am tuờng những “bí mật” của nó – công nghệ, tổ chức, bộ máy hành chánh và sức mạnh để hình thành một quốc gia – hoặc chấp nhận vai trò đám đông làm cảnh giá rẽ trong một bộ phim, một lịch sử rất phụ và “phổ thông” giúp phương Tây làm siêu sao chói lọi. Trong bài sau của tôi, tôi sẽ khảo sát nhiều hơn về những kiến thức sâu sắc của Mishra trong các cuốn sách của ông.


Translated by Lê Minh Nguyên
https://www.stratfor.com/weekly/mind-gap#axzz3Py6b0Mnu


No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn