Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom
|
Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom - Aung San Suu Kyi: Đệ nhất phu nhân của Tự do ở Burma
|
By HANNAH BEECH | HANNAH BEECH |
The special branch had chased us across the city for hours, through the haunted, betel-nut-stained streets of old Rangoon, past street-side tailors hunched over ancient sewing machines and open-air bookstalls selling worm-eaten copies of Orwell and Kipling. Unable to shake the latest batch of state security men following us by foot, we jumped into a wheezing taxi of mid-20th century vintage. The young driver's eyes widened at the foreigners who hurled themselves in the back and ordered the car to move — fast. As we lurched into motion, he showed us where he stood by reaching into his shirt pocket and pulling out a laminated picture. It was, of course, of the Lady.
|
Bọn mật vụ này đã săn đuổi chúng tôi khắp thành phố trong nhiều giờ qua những đường phố ma ám, bết đầy quết trầu của Rangoon cổ, lướt qua trước mặt những thợ may vỉa hè đang gập cong người trên những chiếc máy khâu cổ lỗ và qua những giá sách ngoài trời chất đầy những sách mọt gặm, những Orwell và Kipling. Chẳng làm sao giũ nổi lũ đuôi cuối cùng - bọn an ninh quốc gia - theo sát chân chúng tôi, chúng tôi nhảy sang một chiếc taxi khò khè, kiểu cổ lỗ sĩ giữa thế kỷ 20. Người lái xe trẻ mở to mắt nhìn những người nước ngoài ném mình vào sau xe và quát bảo xe chạy - nhanh!. Khi xe đã lao đi, anh ta cho chúng tôi biết lập trường của anh ta bằng cách rút ra từ trong túi áo sơ mi một tấm hình mỏng. Tất nhiên, đó là bức hình Phu nhân.
|
Aung San Suu Kyi, the 65-year-old Burmese Nobel Peace Prize laureate who was released from house arrest on Nov. 13, was not in the taxi with my two colleagues and me. But she is always carried in the hearts — and her image in the pockets, lockets and secret hiding places — of millions of Burmese. Among the most oppressed and impoverished people on the planet, they draw sustenance from this graceful woman who, armed only with the principle of nonviolent resistance, dares to stand up to the generals who have controlled Burma for nearly five decades. For 15 of the past 21 years, the military regime kept her locked up. But if the generals wished for Suu Kyi to fade into obscurity, they failed. Continued confinement turned her into the world's most famous political prisoner. Emerging from her most recent stint of seven years in detention, she is just as determined to fight for the civil liberties of Burma's 50 million people. "What we are calling for is revolutionary change through peaceful means," she told me when we recently met in Rangoon. "I'm not afraid to say it, and I'm not afraid to ask for all the help I can get." (See photos of Aung San Suu Kyi's freedom.)
|
Aung San Suu Kyi, người đàn bà Burma 65 tuổi đoạt giải Nobel Hòa bình, được giải thoát khỏi quản thúc tại gia hôm 13 tháng 11, không có mặt trong xe với hai đồng nghiệp của chúng tôi và tôi. Nhưng bà luôn được mang trong trái tim - và ảnh bà trong túi áo, trong mề đay( ) và trong những nơi cất giấu bí mật - của hàng triệu người dân Burma. Nằm trong số những dân tộc nghèo khổ nhất và bị áp bức nhất trên thế giới, tâm hồn họ được nuôi dưỡng bởi hình ảnh người phụ nữ duyên dáng này, người chỉ có những nguyên tắc phản kháng bất bạo động làm vũ khí, đã dám đứng lên đối đầu với những tướng lĩnh kiểm soát Burma trong gần năm thập kỷ. Mười lăm năm trong số 21 năm qua, chế độ quân phiệt luôn giữ bà trong vòng giam hãm. Nhưng nếu những viên tướng này muốn Suu Kyi lu mờ đi trong quên lãng thì chúng đã thất bại. Những năm tháng dài giam hãm đã biến bà thành người tù chính trị nổi tiếng nhất thế giới. Nổi lên từ bảy năm giam cầm gần đây nhất, bà quyết định chiến đấu cho các quyền tự do công dân của 50 triệu dân Burma. “Điều chúng tôi kêu gọi là thay đổi cách mạng bằng phương pháp hòa bình” bà nói với tôi trong cuộc gặp gần đây ở Rangoon. “Tôi không sợ nói ra điều đó, tôi không sợ yêu cầu mọi sự giúp đỡ mà tôi có thể có được.”
|
The extent to which the junta has gone to try to foil the Lady, as Suu Kyi is fondly and universally known in Burma, is remarkable. For refusing to participate in a rigged election in November that the junta's proxy party won, Suu Kyi's party, the National League for Democracy (NLD), was stripped of its political rights. The NLD overwhelmingly won at the polls in 1990, which presumably would have made Suu Kyi the nation's Prime Minister. But the junta ignored the people's verdict then, and a new constitution contains clauses specifically designed to keep her from ever serving as Burma's leader.
|
Phạm vi mà bọn quân phiệt cố gắng ngăn chặn Phu nhân, như Suu Kyi được mọi người ở mọi nơi biết nói đến một cách trìu mến, là đáng kể. Vì từ chối tham gia vào một cuộc bầu cử lừa đảo hồi tháng 11 trong đó đảng thân giới quân phiệt đã thắng cử, đảng của Suu Kyi - Liên minh Dân tộc vì Dân chủ (NLD) - đã bị tước đi các quyền chính trị. NLD đã thắng áp đảo trong các cuộc trưng cầu dân ý năm 1990, thắng lợi lẽ ra đã khiến Suu Kyi trở thành Thủ tướng của đất nước. Nhưng khi đó nhóm tướng lĩnh quân phiệt đã phớt lờ phán quyết của nhân dân, và một hiến pháp mới trong đó có những điều khoản được đặc biệt soạn ra để vĩnh viễn đẩy bà xa khỏi cương vị lãnh đạo của Burma.
|
Since 1962, Burma's battle-hardened generals have faced down communist insurgents, ethnic armies, even the Western governments that impose economic sanctions on the regime. But they still act as if there is no greater enemy than this slight woman with flowers in her hair. Their fear of Suu Kyi is not entirely misplaced. "We think our leader is the ideal woman, not just for Burma but for the whole world," says Aye Aye Nyein, a teacher and member of the NLD's youth wing. "We Burmese live in a prison. She teaches us how to fight for our freedom." And the public's desire for freedom, of course, is why security agents were hunting us, snapping pictures with telephoto lenses fit for Hollywood paparazzi. Earlier that day, a total of at least a dozen special-branch officers trailed us, calling in our movements on their cell phones. (See photos in "The Two Burmas.")
|
Từ năm 1962, các tướng lĩnh dạn dày chiến trận đã đánh bại những người cộng sản khởi nghĩa, những đội quân của các sắc dân thiểu số, và ngay cả các chính phủ phương Tây áp đặt lệnh cấm vận kinh tế lên chế độ này. Nhưng họ vẫn hành động như thể không có kẻ thù nào lớn hơn người phụ nữ mảnh mai này, với đóa hoa cài trên mái tóc. Nỗi sợ hãi Suu Kyi của họ không phải hoàn toàn không đúng chỗ. “Chúng tôi nghĩ lãnh tụ của chúng tôi là người phụ nữ lý tưởng, không chỉ cho Burma mà còn cho toàn thế giới,” Aye Aye Nyein, một giáo viên và đảng viên cánh trẻ NLD nói. “Người Burma chúng tôi sống trong một nhà tù. Bà dạy chúng tôi cách chiến đấu cho tự do.” Và tất nhiên, niềm khao khát tự do chung ấy là lý do khiến bọn an ninh săn lùng chúng tôi, chụp trộm hình chúng tôi bằng những máy ảnh có ống kính têlê dùng cho bọn paparazzi Hollywood. Sáng sớm hôm nay, ít nhất có đến hàng chục tên sĩ quan đặc vụ săn lùng chúng tôi, gọi vào máy điện thoại di động của chúng báo đường đi của chúng tôi.
|
It took the taxi driver only a couple of minutes to figure out we had a tail. Pointing back at a car practically on our bumper, he grinned and gunned the engine. For more than half an hour, our high-speed chase wound through the streets of Burma's moldering former capital, past the carcasses of Victorian-era government buildings abandoned when the junta mysteriously moved the seat of power to a remote redoubt five years ago. We circumnavigated the massive golden spire of Shwedagon pagoda, Burma's holiest site, and careened by the hulk of Insein prison, where Suu Kyi was once jailed and where some of the country's 2,200 political prisoners still languish.
|
Người tài xế taxi chỉ cần vài phút là hình dung ra chúng tôi có đuôi bám theo. Quay lại chỉ vào chiếc xe con đằng sau gần như tông vào xe chúng tôi, anh ta cười toác miệng và dấn ga. Trong hơn nửa giờ, cuộc săn đuổi cao tốc của chúng tôi vòng vèo qua các đường phố của thủ đô cũ mốc meo của Burma, qua những xác nhà của các tòa dinh thự chính phủ phong cách Victoria bị bỏ không khi bọn quân phiệt bí mật dời trụ sở chính quyền về những đồn lũy xa xôi cách đây năm năm. Chúng tôi chạy vòng quanh ngọn tháp vàng đồ sộ của ngôi chùa Shwedagon, một địa điểm linh thiêng nhất của Burma, và lao nhanh qua bên cạnh cái bóng to đùng của nhà tù Insein, nơi Suu Kyi đã có lần bị tù và là nơi mà một số trong 2200 tù chính trị của nước này vẫn đang héo mòn trong đó.
|
Dusk was falling. Screeching through an open-air market, the taxi finally shook our pursuers. Gratefully, we bid our driver goodbye. He reached into his pocket again, offering me Suu Kyi's picture as a gift. I was touched, but it was his talisman to cherish. I could leave Burma. He needed the Lady to keep him safe.
|
Trời chạng vạng tối. Gầm rít lao vào một chợ họp ngoài trời, chiếc taxi cuối cùng cũng giũ bỏ được bọn đuổi theo chúng tôi. Với lòng biết ơn, chúng tôi nói lời chào tạm biệt anh lái xe. Một lần nữa anh lại thò tay vào túi áo, lấy ra tấm hình Suu Kyi đưa tặng tôi như một món quà. Tôi cảm động, bởi vì đây là lá bùa mà anh ấp ủ. Tôi có thể rời Burma. Anh ấy cần Bà để bảo hộ cho anh an toàn.
|
An Unending Struggle
|
Cuộc đấu tranh không hồi kết
|
Her carriage is regal, her English accent impeccable. The blossoms she customarily wears in her hair never seem to wilt, even as everything else droops in Burma's sullen heat. In the NLD office, with its intermittent electricity and maps of mildew spread across concrete walls, Suu Kyi floats like some otherworldly presence, calm and cool as others are flushed and frenetic. Ever since she was released in mid-November, Suu Kyi's days have been divided and subdivided into one-hour or 15-minute increments, during which she has met a dizzying array of people: foreign diplomats, AIDS patients, NGO directors, local economists, U.N. officials and the families of political prisoners. She even chatted by phone in December with former First Lady Laura Bush, who had championed the Burmese cause.
|
Chiếc xe ngựa của bà vương giả. Giọng tiếng Anh của bà không chê vào đâu được, những bông hoa bà thường xuyên cài trên mái tóc dường như không bao giờ héo, ngay cả dưới cái nóng hầm hập của Burma làm cho mọi thứ khác như rũ xuống. Trong văn phòng của NLD, với anh điện chập chờn lúc có lúc không, và những tấm bản đồ mốc meo treo khắp các bức tường bê tông, Suu Kyi lướt đi như sự hiện diện của một người từ cõi khác, bình thản và điềm tĩnh khi những người khác xúc động đến cuồng lên. Kể từ khi bà được trả tự do khỏi quản thúc tại gia vào giữa tháng 11, ngày của Suu Kyi bị chia nhỏ và nhỏ nữa, thành những đoạn một giờ và mười lăm phút, trong đó bà gặp hàng đoàn người nhiều đến chóng mặt, những nhà ngoại giao nước ngoài, những bệnh nhân AIDS, những giám đốc các tổ chức phi chính phủ, các nhà kinh tế địa phương, các quan chức Liên Hiệp Quốc và những thân nhân tù chính trị. Thậm chí tháng 12 bà còn trò chuyện qua điện thoại với cựu đệ nhất phu nhân Laura Bush, người đã ủng hộ sự nghiệp của nhân dân Burma.
|
But even as the world watches Burma with renewed interest in the wake of Suu Kyi's release, she has not yet met the people with whom she most wants to talk. The regime has ignored her repeated offers for national reconciliation dialogue. Since releasing her, the junta has dealt with Suu Kyi by acting as if she didn't exist, expunging mentions of her from the local press and hoping that, despite her busy calendar and the huge crowds that gather wherever she goes, she will somehow dwindle into irrelevance. "I wish I could have tea with them every Saturday, a friendly tea," Suu Kyi says of the generals, who refused to allow her dying husband one last visit to Burma in 1999. And if they turn down a nice cup of tea? "We could always try coffee," she says wryly.
|
Nhưng ngay cả khi thế giới quan sát Burma với sự quan tâm mới, sau khi Suu Kyi được trả tự do, thì bà vẫn chưa được gặp những người mà bà muốn nói chuyện nhiều nhất. Chế độ đã phớt lờ những đề nghị lặp lại nhiều lần của bà về đối thoại hòa giải dân tộc. Từ khi trả tự do cho bà, nhóm tướng lĩnh đối xử với bà như thể bà không tồn tại, không nhắc đến tên bà trên báo chí trong nước, và mặc dầu lịch làm việc của bà bận rộn và những đám đông khổng lồ vây bọc bà mỗi nơi bà đến, họ hy vọng rằng bà sẽ thu nhỏ mình lại cách nào đó để trở nên không thích hợp nữa. “Tôi muốn tôi có thể ngồi uống trà với họ mỗi buổi chiều thứ bẩy, một cách thân mật” bà nói về các viên tướng, những kẻ đã không cho phép người chồng sắp chết của bà đến Burma lần cuối vào năm 1999. Và nếu họ từ chối một tách trà ngon? “Thì chúng tôi vẫn có thể thử mời cà phê,” bà nói một cách thất vọng.
|
Far from being a simple morality tale of good vs. evil, the Lady against the generals, what happens in Burma carries global significance. Jammed between Asia's two emerging powers, China and India, Burma is strategically sensitive, a critical piece in the new Great Game of global politics. This is no totalitarian backwater like North Korea. Even though many Western governments have imposed sanctions on Burma's military regime for its atrocious human-rights record, a new competition is unfolding in this crossroads nation: regional powers are scrambling for access to Burma's plentiful natural gas, timber and minerals. Already, resource-strapped China is building oil and gas pipelines across Burma to create another vital artery to feed its economic engine. Beijing's cozy ties with Burma have spooked democratic India, which has exchanged earlier condemnation of the junta for trade missions — a stance that earned President Barack Obama's public disapproval when he visited India in November. For Burma's top brass — who have at their disposal a 400,000-strong military corps and a record of institutionalized rape, torture and forced labor — democratic reform would mean not only ceding political supremacy but also surrendering the opportunity to siphon wealth from ever growing state coffers. (See photos of Burma's slowly shifting landscape.)
|
Chuyện vị Phu nhân chống lại các viên tướng hoàn toàn không phải là câu chuyện đơn giản về cái thiện thắng cái ác, điều đang xảy ra ở Burma có ý nghĩa toàn cầu. Bị kẹp giữa hai cường quốc mới trỗi dậy, Trung Hoa và Ấn Độ, Burma nhạy cảm về mặt chiến lược, là một mảng cực kỳ quan trọng trong Trò chơi mới của chính trị toàn cầu. Đây không phải một chế độ toàn trị tù đọng như Bắc Triều Tiên. Mặc dầu nhiều chính phủ phương Tây đã áp đặt lệnh cấm vận lên chế độ quân phiệt vì hồ sơ nhân quyền tồi tệ của nó, một cuộc tranh đua mới đang bộc lộ ra trên đất nước nằm ở giao lộ này: các cường quốc khu vực tranh nhau để tiếp cận đến nguồn khí tự nhiên, gỗ và khoáng sản phong phú của Burma. Trung Hoa, vốn kẹt tài nguyên, đang xây dựng những đường ống dẫn dầu và khí xuyên qua Burma để tạo ra đường huyết mạch cung cấp nhiên liệu cho động cơ kinh tế của nó. Các quan hệ nồng ấm của Bắc Kinh với Burma đã làm kinh hãi nước Ấn Độ dân chủ, nước này đã đổi những lời lên án bọn quân phiệt trước đây lấy các sứ mệnh thương mại, một lập trường đã khiến tổng thống Barach Obama mất lòng công chúng khi ông đến thăm Ấn Độ vào tháng 11. Đối với nhóm quân sự chóp bu của Burma - những kẻ có trong tay một quân đội 400.000 người, và một hồ sơ nhân quyền đầy hiếp chóc, tra tấn và lao động cưỡng bức, các cải cách dân chủ không chỉ có nghĩa là xóa bỏ uy quyền chính trị tối cao, mà còn là từ bỏ những cơ hội bòn rút của cải từ kho bạc đang không ngừng lớn lên của nhà nước.
|
Unlike South Africa's apartheid government when Nelson Mandela was released from prison, Burma's dictatorship is not in its death throes. If anything, because of burgeoning foreign investment in Burma, especially over the past five years, the junta is even more entrenched than when Suu Kyi was last free, in 2003. Two previous attempts at popular protest have ended with the crackle of gunfire and the silence of a cowed populace. The most recent tragedy came in 2007 when soldiers ended weeks of monk-led protests by mowing down dozens of unarmed civilians.
|
Không giống như chính phủ apartheid của Nam Phi khi Nelson Mandela ra khỏi nhà tù, nền độc tài Burma ngày nay không phải đang giẫy chết. Nếu có gì khác, thì nhờ đầu tư nước ngoài đang tăng vọt ở Burma, đặc biệt trong vòng năm năm qua, bọn quân phiệt bây giờ thậm chí còn vững vàng hơn khi Suu Kyi được trả tự do lần trước vào năm 2003. Hai cuộc biểu tình phản kháng của quần chúng trước đây đã kết thúc bằng tiếng súng nổ và sự im lặng của quần chúng bị đe dọa làm cho sợ hãi. Bi kịch gần đây nhất xảy ra năm 2007, khi binh lính dập tắt cuộc biểu tình phản đối kéo dài mấy tuần lễ do các sư sãi dẫn đầu bằng cách bắn gục hàng chục thường dân không một tấc sắt trong tay.
|
The other foiled democracy movement was in 1988, when Suu Kyi found herself literally thrust on the political stage. The daughter of assassinated independence hero Aung San, she spent much of her early life overseas in India, the U.S., Japan, Bhutan and England. In the 1980s she was content to focus on academic research and serve as the mother of two sons and the wife of a British academic at Oxford. On picnics in the English countryside, Suu Kyi wore shorts and drank soda; she gave little hint of the democracy icon she would become. (See Suu Kyi in TIME's top 10 political prisoners.)
|
Một phong trào dân chủ khác bị đánh bại là năm 1998, khi Suu Kyi thấy bản thân bà quả thật đang lao vào sân khấu chính trị. Là con gái của Aung San, một anh hùng trong phong trào độc lập bị ám sát, bà đã sống phần lớn những năm tuổi trẻ ở nước ngoài: Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nhật, Bhutan và Anh. Trong những năm 1980 bà tập trung tất cả vào việc học và làm mẹ của hai đứa con và vợ của một nhà học giả Anh ở Oxford. Khi đi picnic ở vùng nông thôn nước Anh, Suu Kyi mặc soóc và uống xô đa, chẳng có dấu hiệu gì của một biểu tượng dân chủ mà bà sẽ trở thành.
|
In 1988 the dutiful Asian daughter went home to care for her ill mother. That Rangoon summer grew into Burma's version of a Prague spring. The generals' mismanagement had turned what was once one of Asia's breadbaskets into an economic basket case, and students, monks and workers gathered by the hundreds of thousands to call for the regime's downfall. The army fired on the protesters, some of whom tried to fight back. As the child of the revered general who had vanquished the colonial British, Suu Kyi thought she might have the authority to prevent further clashes. In front of half a million people, she made her first public address, mixing Buddhist values with Gandhian principles of nonviolent resistance. Less than a month after Suu Kyi's plea for peace, the army unleashed another crackdown, killing hundreds. Two years later, the electoral victory of the NLD, the party she helped found, was disregarded. It was as if time stopped in Burma.
|
Năm 1988 người con gái Á châu có hiếu này về nhà để chăm sóc bà mẹ đang ốm. Mùa hè Rangoon ấy đã lớn lên thành một phiên bản Burma của mùa xuân Praha. Sự quản lý tồi tệ của nhóm quân phiệt đã biến Burma từ một trong những vựa lúa của châu Á thành một nền kinh tế què cụt, và sinh viên, sư sãi, công nhân tập hợp hàng trăm nghìn để kêu gọi lật đổ chế độ. Quân đội bắn vào những người biểu tình, một số người trong số họ cố gắng đánh lại. Là con gái của vị tướng được tôn sùng, người đã đánh bại thực dân Anh, Suu Kyi nghĩ bà có đủ uy tín để ngăn ngừa cuộc đụng độ tiếp diễn. Trước mặt nửa triệu người, bà nói chuyện trước công chúng lần đầu tiên, pha trộn những giá trị Phật giáo với các nguyên tắc phản kháng bất bạo động của Gandhi. Chưa đầy nửa tháng trời sau khi Suu Kyi kêu gọi hòa bình, quân đội mở một cuộc đàn áp thẳng tay khác, giết chết hàng trăm người. Hai năm sau, thắng lợi bầu cử của NLD, đảng mà bà giúp thành lập, bị lờ đi. Dường như thời gian ngừng lại ở Burma.
|
Multiple Fronts
Today, despite Suu Kyi's release and the influx of foreign investment that has brought the occasional Hummer and day spa to Rangoon, Burma is still a country preserved in amber. Tropical totalitarianism is deceptive. In North Korea, the broad, desolate avenues and drably dressed citizens make for a perfect tableau of authoritarianism. Burma's sprays of bougainvillea, its gilded pagodas and the sway of schoolgirls dressed in the sarongs called longyis all create a false sense of contentment. But life in Burma is not easy. Roughly 40% of the national budget is spent on the army, while just around 1% each is reserved for health and education. The new capital in Naypyidaw, which means "abode of the kings," was built with billions of dollars, even as nearly a third of Burmese live below the poverty line. For farmers, a hand-to-mouth existence is made worse by routine land seizures and orders to work without pay for the military. Even in Rangoon, power outages are as common as junta informants; both leave the populace in the dark. In a sign of just how removed the generals are from their subjects, confidential U.S. embassy cables released by WikiLeaks refer to the junta lavishing money on a nuclear program with alleged help from North Korea, while junta supremo Than Shwe pondered spending $1 billion on Manchester United at the behest of his soccer-loving grandson.
|
Trên nhiều mặt trận.
Hôm nay, mặc dù Suu Kyi đã được trả tự do và đầu tư nước ngoài đang tràn ngập đã mang Hummer và day spa đến Rangoon, Burma vẫn còn là một đất nước bưng bít. Chế độ độc tài toàn trị nhiệt đới này có vẻ ngoài lừa dối. Ở Bắc Triều tiên, những đại lộ rộng lớn và hoang tàn, những người dân ăn mặc buồn tẻ làm thành bức tranh hoàn hảo của chế độ toàn trị. Nhưng ở Burma những chùm hoa bougainvillea, những ngôi chùa mạ vàng của nó, và các cô nữ sinh mặc xa rông được gọi là longyi đung đưa bước đi, tất cả tạo ra cảm giác sai lầm về sự hài lòng thỏa mãn. Nhưng cuộc sống ở Burma không dễ dàng. Khoảng 40% ngân sách nhà nước được chi cho quân đội, trong khi dành cho y tế và giáo dục mỗi ngành chỉ có khoảng 1%. Thủ đô mới ở Naypyidaw có nghĩa là “hành dinh của các vua” được xây bằng nhiều tỷ đô la, trong khi gần một phần ba dân chúng Burma sống dưới mức nghèo khổ. Đối với nông dân, những người sống trong tình cảnh “vắt mũi bỏ miệng” thì còn khổ hơn bởi đất đai thường xuyên bị cướp đoạt, và những lệnh lao dịch không công cho quân đội. Ngay ở Rangoon, sự mất điện cũng phổ biến như bọn chỉ điểm của chế độ, cả hai đều làm cho cuộc sống của dân chúng trở nên tối tăm. Về dấu hiệu cho thấy các viên tướng cách biệt với thần dân của chúng như thế nào, những bức mật điện của đại sứ Hoa Kỳ do WikiLeaks tiết lộ có nhắc đến những món tiền hậu hĩ của bọn quân phiệt nhờ chương trình hạt nhân được biết là có sự giúp đỡ của Bắc Triều Tiên, trong khi lãnh đạo tối cao của tập đoàn quân phiệt Than Shwe cân nhắc chi một tỉ đô la cho Manchester United theo lệnh đứa cháu nội mê bóng đá của ông ta.
|
Although Suu Kyi's moral imprimatur helped bring Western sanctions against the regime, the fact that many ordinary Burmese also feel their effects hasn't escaped her. "I am ready to reconsider my support of sanctions if it's for the benefit of all of us," she told me with surprising vehemence, countering critics who think her too unyielding. "I'm not afraid to consider change." Her openness will surely ignite further debate in Washington, where there is a growing recognition that sanctions on Burma, despite their moral appeal, have not worked.
|
Mặc dù sự tán thành về mặt đạo đức của Suu Kyi đã giúp mang đến lệnh cấm vận của phương Tây đối với chế độ này, nhưng sự việc là những người dân thường Burma cũng cảm thấy tác động của nó đã khiến bà băn khoăn. “Tôi sẵn sàng xem xét lại sự ủng hộ của tôi đối với lệnh cấm vận nếu điều đó mang lại lợi ích cho tất cả chúng tôi,” bà nói với tôi một cách sôi nổi đáng ngạc nhiên, trái ngược với những người phê bình bà quá lạnh lùng cứng rắn. “Tôi không ngại xem xét lại những thay đổi.” Sự thẳng thắn của bà chắc chắn sẽ dấy lên một cuộc tranh cãi mới ở Washington, ở đó ngày càng nhiều người nhận ra rằng cấm vận đối với Burma, cho dù có ý nghĩa kêu gọi về mặt đạo đức, trong thực tế lại không có tác dụng.
|
But the most immediate revolution is needed within Suu Kyi's party. Ever since the unfair outcome of the 1990 elections, the NLD has been stuck in a time warp, endlessly arguing over arcane policy and political theory even as many of its leaders get grayer and more stooped. There is a strange parallel between Burma's geriatric opposition leaders, known as the Uncles, and the junta's clutch of aged generals. In a 2008 cable released by WikiLeaks, an American diplomat in Rangoon bemoaned, "The way the Uncles run the NLD indicates the party is not the last great hope for democracy and Burma." Since then, a leadership reshuffle has reinvigorated the party to a certain extent, and Suu Kyi's release has galvanized a new generation of political youth. But it's no wonder that a younger NLD faction called the National Democratic Force defied the NLD's (and Suu Kyi's) call for an electoral boycott and contested the November polls. Suu Kyi says she's not worried about a possible split in the opposition. "We are all fighting for democracy," she says. "Our goals are the same." (See more on Suu Kyi's fight for freedom.)
|
Nhưng sự thay đổi cách mạng cấp thiết nhất lại cần ngay bên trong đảng của Suu Kyi. Ngay từ khi kết quả bất công của những cuộc bầu cử 1990, đảng NLD đã bị kẹt trong một thời kỳ lệch lạc, tranh cãi triền miên về chính sách bí truyền và lý thuyết chính trị trong khi nhiều lãnh đạo của nó trở nên ngày càng mờ nhạt ảm đạm và xuống tinh thần. Có một sự tương đồng kỳ lạ giữa các nhà lãnh đạo đối lập già nua của Burma (được gọi là các Bác) với nhóm quân phiệt gồm những viên tướng lớn tuổi. Trong một bức mật điện năm 2008 được WikiLeaks tiết lộ, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Rangoon than thở: “Cái cách mà các Bác điều hành NLD cho thấy đảng này không phải là niềm hy vọng lớn lao cuối cùng cho dân chủ và Burma.” Từ đó, một cuộc cải tổ lãnh đạo đã mang lại sinh khí cho đảng đến một chừng mực nào đó, và việc Suu Kyi được giải thoát đã khiến cho một thế hệ mới các nhà chính trị trẻ tuổi phấn khởi. Nhưng không có gì đáng ngạc nhiên rằng một cánh trẻ hơn trong NLD gọi là Lực lượng Dân chủ Dân tộc chống lại việc NLD (và Suu Kyi) kêu gọi tẩy chay tuyển cử và không chấp nhận kết quả bầu cử tháng 11. “Tất cả chúng tôi đều đang đấu tranh cho dân chủ,” bà nói. “Mục tiêu của chúng tôi là một.”
|
Suu Kyi, a woman who first used a cell phone on the day of her release, says she's committed to nurturing a new generation of technologically savvy political youth. "The advantage is they're very electronic. They can communicate with the world," she says, referring to the NLD youth wing's members who use Facebook to debate politics when there's enough electricity to power computers. "Everything goes on the Internet. Did you know that?" The equalizing power of the digital revolution ties in nicely with the philosophy that has inspired Suu Kyi, that of Czech dissident and fellow Peace Prize laureate Vaclav Havel, who wrote of "the power of the powerless." "My very top priority is for people to understand that they have the power to change things themselves," she says. "Then we can do it together. Then we'll be home and dry."
|
Suu Kyi, một phụ nữ dùng điện thoại di động lần đầu tiên vào ngày bà được trả tự do, nói bà tha thiết ủng hộ một thế hệ mới các nhà chính trị trẻ tuổi có hiểu biết về công nghệ cao. “Lợi thế là họ rất sành điện tử. Họ có thể liên lạc với cả thế giới,” bà nói khi nhắc đến các thành viên cánh trẻ của NLD dùng Facebook để tranh luận về chính trị khi có đủ điện để cắm máy tính. “Mọi thứ có trên Internet. Bạn có biết điều ấy không?” Sức mạnh san bằng của cuộc cách mạng số gắn liền một cách thú vị với triết lý đã truyền cảm hứng cho Suu Kyi, triết lý của nhà bất đồng chính kiến Czech và người cùng được giải Nobel Hòa bình Vaclav Havel, người đã viết “quyền lực của sự vô quyền.” “Ưu tiên cao nhất của tôi là làm cho nhân dân hiểu được rằng tự bản thân họ có khả năng thay đổi mọi vật” bà nói. “Như thế chúng tôi có thể cùng nhau làm việc đó. Khi đó chúng tôi sẽ xuôi chèo mát mái.”
|
A Heavy Burden
It's a lot to ask of one woman: rejuvenate her banned party, persuade the generals to talk, make the cause of Burma a global priority, minister to the sick, comfort the families of political prisoners. Serving as an icon of democracy is hard enough, without having to deal with the nitty-gritty of everyday political life. Add to that the real worry that Suu Kyi may be operating on borrowed time. "Our people are in and out of prison all the time," she says. "All I have to say is, 'Is so-and-so in or out?' and they know exactly what I mean."
|
Một gánh nặng
Như thế là đòi hỏi quá nhiều ở một người phụ nữ: làm trẻ lại đảng bị cấm của bà, thuyết phục các tướng đối thoại, biến sự nghiệp của Burma thành một vấn đề ưu tiên của thế giới, chăm sóc những người bệnh, an ủi các gia đình tù chính trị. Làm một biểu tượng của dân chủ đã đủ khó khăn rồi, không phải xử lý những vấn đề của đời sống chính trị hàng ngày. Thêm vào đó là nỗi lo rằng có thể Suu Kyi đang hoạt động trong thời gian đi mượn. “Nhân dân chúng tôi ra vào tù như cơm bữa,” bà nói, “Tôi chỉ cần nói ‘Ông ấy ông nọ đang ở trong hay ở ngoài’ là họ biết tôi muốn nói gì rồi.”
|
For now, she is out. But there's little doubt that if the junta sees in her any realistic challenge to its authority, she will be sent in again on whatever spurious charge the military can concoct. "I want to do as much as I can while I'm free," she says. "I don't want to tire myself out, but we never know how much time we have." (See photos of decades of dissent in Burma.)
|
Bây giờ thì bà đang ở ngoài. Nhưng không nghi ngờ gì rằng nếu giới quân phiệt thấy ở bà bất kỳ thách thức thực tế nào đối với quyền lực của nó, bà sẽ bị tống ngay vào, với bất cứ cáo buộc giả mạo nào mà quân đội có thể nặn ra. “Tôi muốn làm hết những gì tôi muốn làm trong khi tôi còn tự do,” bà nói. Tôi không muốn làm cho mình mệt mỏi, nhưng ai biết được chúng tôi còn có bao nhiêu thời gian nữa?”
|
Beyond the possibility of rearrest, Suu Kyi's safety is an even more fundamental concern. The army has shown it is quite prepared both to lock her up and to endanger her life. On three occasions, Suu Kyi and her supporters have been attacked by mysterious thugs, with resulting fatalities. "She is like her father in that she has no qualms about losing her life," says Win Htein, an NLD elder who was released in July after 14 years in jail. Suu Kyi gasps when I ask her whether she would consider wearing a bulletproof vest. "I wouldn't dream of it," she says. "Then it would look like I'm trying to protect myself from the people who support me."
|
Ngoài khả năng bị bắt lại, sự an toàn của Suu Kyi còn là một nỗi lo cơ bản hơn. Quân đội đã cho thấy nó đã sẵn sàng cả hai: giam bà lại và đe dọa tính mạng của bà. Đã ba lần, Suu Kyi và những người ủng hộ bà bị tấn công bởi những bọn côn đồ giấu mặt, với những cái chết thảm thiết. “Bà ấy giống cha về chỗ không lo sợ cho tính mạng của mình.” Win Htein, một đảng viên già của NLD đã được phóng thích hồi tháng Bẩy sau 14 năm tù nói. Suu Kyi há cả miệng ra khi tôi hỏi bà có bao giờ nghĩ đến việc mặc một chiếc gi lê chống đạn không. “Tôi chẳng bao giờ mơ đến chuyện đó,” bà nói. “Như vậy khác nào tôi cố gắng phòng thủ bản thân mình trước những người ủng hộ tôi.”
|
Suu Kyi may cherish her interactions with ordinary Burmese, but there is a distant quality to her, a sense that she lives most comfortably in her head, not among the crowds. Part of her remove is born of circumstance. She speaks proudly of being her father's favorite child, yet he was assassinated by political rivals when she was just 2. For so much of her recent life, Suu Kyi has been sequestered from normal human contact; noble ideas and fine words have kept her company. While under house arrest, she obsessively read books ranging from biographies to spy thrillers. "People think that I had nothing to do [while in detention]," she says. "But I spent five or six hours listening to the radio every day. If you're under house arrest and you miss one item, there's no one there to tell you about it, so I listened very carefully." Even her taste in classical music speaks to her sense of discipline and composure. Mozart, she says, makes her happy, which is all well and good. But she prefers Bach. "He makes me calm," she says. "I need calm in my life."
|
Suu Kyi có thể khao khát tiếp xúc với những người dân Burma bình thường, nhưng ở bà có một vẻ xa cách, một cảm giác rằng bà sống thoải mái nhất trong đầu của bà, chứ không phải giữa đám đông. Sự xa cách của bà có phần do từ hoàn cảnh. Bà nói một cách tự hào về việc bà là đứa con cưng của cha bà, tuy nhiên ông bị kẻ thù chính trị ám sát khi bà mới 2 tuổi. Trong cuộc sống của bà thời kỳ gần đây, quá nhiều thời gian Suu Kyi đã bị cách ly khỏi sự tiếp xúc bình thường với con người, bà chỉ có những tư tưởng cao quý và những ngôn từ đẹp làm bầu bạn. Trong khi bị quản thúc tại gia, bà mải mê đọc sách, từ những quyển tiểu sử đến những truyện trinh thám ly kỳ. “Người ta nghĩ tôi không có việc gì để làm [trong khi bị giam giữ],” bà nói, “nhưng tôi để năm hay sáu tiếng mỗi ngày nghe radio. Nếu anh bị quản thúc và anh bỏ lỡ mất một điều gì, thì không có ai ở đó để bảo cho anh biết, do đó tôi nghe rất cẩn thận.” Ngay cả sở thích nghe nhạc cổ điển cũng liên hệ với cảm giác về kỷ luật và sự điềm tĩnh của bà. Bà nói Mozart khiến bà cảm thấy hạnh phúc, trong đó mọi thứ đều tốt đẹp. Nhưng bà thích Bach hơn. “”Ông ấy làm cho tôi thấy thanh thản,” bà nói. “Trong cuộc sống của tôi tôi cần thanh thản.”
|
Right now, Suu Kyi is in the eye of a storm, a place of deceptive tranquility. Rangoon is a city of whispers, and while the people I met there used different words — a honeymoon, a window, a reprieve — their hushed intent was the same: this, they felt, was the calm before the crackdown. The November elections were part of what the generals call a transition to a "discipline-flourishing democracy." One thing is certain: when the fig leaf of civilian government arrives in 2011, there will be no place in it for the Lady.
|
Ngay lúc này đây, Suu Kyi đang ở trong mắt bão, một nơi có vẻ yên tĩnh đánh lừa. Rangoon là một thành phố của những lời đồn, và trong khi mọi người tôi gặp ở đây dùng những từ khác nhau - một tuần trăng mật, một cửa sổ, một ân xá - hàm ý mà họ không nói ra là một: họ cảm thấy cái này là sự yên tĩnh trước đợt đàn áp không nương tay. Những cuộc bầu cử tháng 11 là một phần của cái mà các tướng lĩnh gọi là sự quá độ sang một “nền dân chủ trong kỷ luật.” Có một điều chắc chắn là: khi chiếc lá nho của chính phủ dân sự xuất hiện vào năm 2011, sẽ không có chỗ nào trong đó dành cho Phu nhân.
|
Still, for all her years of imprisonment and whatever travails may come, Suu Kyi considers herself lucky. It's not because of the people's adoration of her but because of their respect — a value she believes stems from a generosity of spirit. "In my life, I have been showered with kindness," she says. "More than love, I value kindness. Love comes and goes, but kindness remains." When her son Kim was in Rangoon to see her for the first time in a decade, his kindness came in the form of a gift, a puppy to keep her company. "He's my guard dog," she jokes, even though the tiny mutt hasn't shown much bark or bite. "He has an active tail and lets me know when someone is coming. That should be enough, don't you think? A little wag of the tail?"
|
Trong tất cả những năm tù đày và có gặp khó khăn vất vả đến mấy Suu Kyi vẫn cảm thấy bà là may mắn. Đó không phải là vì nhân dân ngưỡng mộ bà, mà vì sự tôn trọng của họ - một giá trị mà bà tin rằng xuất phát từ một sự khoan dung của tinh thần. “Trong đời tôi, tôi đã được ngập trong sự ân cần, tử tế” bà nói. “Hơn cả tình yêu, tôi đánh giá cao sự ân cần. Tình yêu đến rồi đi, nhưng sự ân cần còn lại mãi.” Khi Kim con trai bà đến Rangoon thăm bà lần đầu sau một thập niên, sự ân cần của anh dưới dạng một món quà, một con chó con để làm bạn với bà. “”Nó là con chó giữ nhà cho tôi” bà nói đùa, như thể con chó con ấy không biết sủa hoặc cắn. “Nó có một chiếc đuôi luôn ngoe nguẩy và báo cho tôi biết khi có ai đến. Như thế là đủ, phải không anh? Chỉ một cái vẫy đuôi nhỏ?”
|
Translated by Hiếu Tân
| |
http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,2040197,00.html
| |
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Wednesday, September 14, 2011
Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom - Aung San Suu Kyi: Đệ nhất phu nhân của Tự do ở Burma
Наша демократия несовершенна, мы это прекрасно понимаем. Но мы идем вперёд Nền dân chủ của chúng ta chưa hòan thiện, chúng ta hiểu rất rõ điều đó.
Наша демократия несовершенна, мы это прекрасно понимаем. Но мы идем вперёд
|
Nền dân chủ của chúng ta chưa hòan thiên, chúng ta hiểu rất rõ điều đó. Nhưng chúng ta đang tiến lên phía trước
|
Д.МЕДВЕДЕВ
|
Tổng thống Dmitry Medvedev
|
Lời ban biên tập Tạp chí Nga (russ.ru). Gần một năm trước, tổng thống Dmitry Medvedev công bố bài báo mang tính cương lĩnh: Nước Nga tiến lên!, trong đó ông trình bày quan điểm của mình về tương lai của đất nước chúng ta. Ông không chỉ nói mà cón kêu gọi nhân dân Nga, kêu gọi những người công dân tích cực, những người quan tâm đến số phận của nước Nga, tiến lên. Hôm qua, ngày 23 tháng 11, qua videoblog Tổng thống lại đưa ra một thông điệp chính trị mới. Ông nói về tình hình dân chủ ở nước Nga, về những vấn đề cấp bách cũng như những việc đã làm được kể từ khi khởi động công cuộc cải cách chính trị. Tạp chí Nga xin đăng lại bản ghi lời phát biểu này.
| |
Дорогие друзья!
В течение двух последних лет мы поэтапно реализуем программу преобразования российской политической системы. Цели этого преобразования ясны. Я об этом неоднократно говорил. Что мы хотим сделать? Мы хотим сделать нашу политическую систему просто более справедливой. Более гибкой, более динамичной, более открытой к обновлению и развитию. Она должна пользоваться большим доверием наших избирателей. Не секрет, что с определённого периода в нашей политической жизни стали появляться симптомы застоя, возникла угроза превращения стабильности в фактор стагнации. А такой застой одинаково губителен и для правящей партии, и для оппозиционных сил. Если у оппозиции нет ни малейшего шанса выиграть в честной борьбе – она деградирует и становится маргинальной. Но если у правящей партии нет шансов нигде и никогда проиграть, она просто «бронзовеет» и в конечном счёте тоже деградирует, как любой живой организм, который остаётся без движения.
|
Các bạn thân mến!
Trong hai năm vừa qua chúng ta đã lần lượt thực hiện cương lĩnh cải tạo hệ thống chính trị của nước Nga. Mục tiêu là rõ ràng. Tôi đã nói nhiều lần rồi Chúng ta muốn gì? Chúng ta muốn làm cho hệ thống chính trị của chúng ta đơn giản là trở nên công chính hơn. Mềm dẻo hơn, năng động hơn, cởi mở hơn đối với sự cải tiến và phát triển. Phải được cử tri tin cậy hơn. Không phải là bí mật khi nói rằng từ một giai đọan nhất định trong hệ thống chính trị của chúng ta đã xuất hiện triệu chứng trì trệ, xuất hiện nguy cơ biến sự ổn định thành tác nhân của sự đình đốn. Sự trì trệ như thế có hại cho cả đảng cầm quyền lẫn các lực lượng đối lập. Nếu phe đối lập không có một chút hi vọng nào rằng họ sẽ thắng trong cuộc đấu tranh trung thực thì họ sẽ thóai hóa và sẽ trở thành lực lượng đứng bên lề. Nhưng nếu đảng cầm quyền không bao giờ và không thua ở bất kì đâu thì đơn giản là nó cũng “vàng vọt”, và cuối cùng cũng sẽ thóai hóa, tương tự như mọi cơ thể sống mà không vận động vậy.
|
Поэтому возникла необходимость поднять уровень политической конкуренции.
|
Vì vậy mà cần phải nâng mức độ cạnh tranh lên.
|
Но главная наша задача, задача любой демократии, – повысить качество народного представительства. Сделать так, чтобы политическое большинство не было просто статическим. А точнее, чтобы оно не стало большинством, состоящим из статистов и исполнителей. Чтобы правящая партия имела и права, и обязанности, а не просто служила приложением к исполнительной власти. Чтобы она могла полновесно участвовать в формировании этой самой исполнительной власти. И это нужно не потому, чтобы правящая партия себя хорошо чувствовала. Партия – это средство, политический инструмент представительства. Партия представляет своих избирателей. Но в случае правящей партии – это большинство избирателей, и реализация их прав, уважение к их мнению – это фундаментальный принцип демократии.
|
Nhưng nhiệm vụ chính của chúng ta, nhiệm vụ chính của mọi chế độ dân chủ là nâng cao chất lượng của các cơ quan đại diện của nhân dân. Làm mọi cách để đa số về mặt chính trị không phải chỉ là con số thống kê. Chính xác hơn, để cho nó không trở thành đa số những người chỉ biết thực hiện. Để đảng cầm quyền có quyền và trách nhiệm chứ không chỉ là tổ chức đi kèm bên cạnh chính quyền hành pháp. Để nó có thể tham gia một cách đầy đủ vào việc hình thành chính quyền hành pháp. Và cần làm điều đó không phải là để cho đảng cầm quyền cảm thấy thỏai mái. Đảng là phương tiện, là công cụ chính trị của chế độ đại diện. Đảng đại diện cho các cử tri. Còn trong trường hợp đảng cầm quyền thì là đại diện cho đa số cử tri, và thực hiện quyền của họ, tôn trọng ý kiến của họ - đấy là nguyên tắc nền tảng của chế độ dân chủ.
|
Не менее важной и даже более сложной является задача обеспечения прав меньшинства. Это также основной демократический принцип. Политическая система любой конфигурации должна быть устроена так, чтобы были хорошо слышны и учитывались мнения всех, в том числе и самых малых социальных групп. А в идеале – чтобы был слышен голос даже одного человека. Система в этом плане должна быть прозрачной, отзывчивой в отношении любого человека. Каждый должен знать, что у него есть единомышленники в представительных органах власти. В этом ведь, кстати, и смысл представительной демократии – когда кто-то представляет интересы значительного числа людей. Есть люди с такими же убеждениями, с такими же взглядами, с такими же интересами. Есть те, кому не всё равно, что происходит. И у этих представителей меньшинства есть возможность критиковать правящее большинство, доносить мнение и предложения меньшинства до бюрократии и до нашей общественности.
|
Đảm bảo quyền của thiểu số là nhiệm vụ không kém phần quan trọng và còn phức tạp hơn. Nhưng đây cũng là nguyên tắc dân chủ căn bản. Hệ thống chính trị phải được xây dựng sao cho nó có thể nghe thấy và tính đến ý kiến của tất cả mọi người, kể cả những nhóm xã hội có ít thành viên nhất. Lí tưởng là nghe được từng người dân một. Hệ thống này phải minh bạch và nhạy cảm đối với mọi người dân. Mỗi người cần phải biết rằng họ có những người có cùng quan điểm trong các cơ quan đại diện. Đấy chính là ý nghĩa của nền dân chủ đại diện – khi có một người nào đó đại diện cho quyền lợi của một nhóm đông người. Có những người có cùng quan điểm, cùng quyền lợi. Có những người không bàng quan với những gì diễn ra xung quanh. Những người đại diện cho thiểu số như thế có cơ hội phê phán đa số cầm quyền, đưa ý kiến và đề nghị của thiểu số lên bộ máy hành chính và đến với dư luận xã hội.
|
И, наконец, я исхожу из того, что политические реформы не должны приводить к хаосу и параличу демократических институтов. Я об этом неоднократно говорил: они должны укреплять демократию, а не разрушать её. Поэтому в своей статье «Россия, вперёд!», которую я в прошлом году написал, я определил метод и стиль этих реформ: реформы должны быть постепенными, но неуклонными.
|
Và cuối cùng, tôi xuất phát từ quan điểm cho rằng cải cách chính trị không được làm cho rối lọan và làm cho tê liệt các định chế dân chủ. Tôi đã nhiều lần nói về vấn đề này: cải cách phải củng cố dân chủ chứ không phải là phá họai nó. Vì vậy mà trong bài báo “Nước Nga tiến lên!”, viết năm ngóai, tôi đã xác định phương pháp và cách thức tiến hành cải cách: cải cách phải được thực hiện từ từ nhưng liên tục.
|
Сегодня могу сказать, что за прошедшие два года мы постепенно, но в то же время неуклонно продвигались к этой цели. И, как мне представляется, мы прилично продвинулись.
|
Hôm nay tôi có thể nói rằng trong hai năm qua chúng ta đã tiến một cách từ từ đồng thời liên tục về phía mục tiêu. Và như tôi thấy, chúng ta đã tiến được khá xa.
|
В начале нынешней, осенней сессии Государственной Думы было наконец завершено принятие целого пакета законопроектов, которые вносились мной в парламент в 2009-м и в 2010 году. О необходимости принятия таких законов я говорил в своих посланиях Федеральному Собранию. В 2009 году вступили в силу законы, которые обеспечивали серьёзную корректировку многопартийной и избирательной системы в общенациональном масштабе, на федеральном уровне. В текущем году аналогичные преобразования были распространены и на уровень субъектов Федерации.
|
Đầu kì họp Duma quốc gia Nga vừa qua, một lọat dự luật đã được thông qua, đấy là những dự luật do tôi đệ trình quốc hội vào năm 2009 và 2010. Tôi đã nói về sự cần thiết phải thông qua những đạo luật này trong thông điệp gửi tới Đại hội Liên Bang. Năm 2009 các đạo luật sửa đổi một cách căn bản hệ thống bầu cử và hệ thống đa đảng trên bình diện quốc gia và liên bang đã có hiệu lực. Năm nay những cải tiến tương tự trên bình diện các chủ thể liên bang cũng sẽ có hiệu lực.
|
Я говорил об этом, поэтому не буду утомлять вас перечислением всех принятых законов, хотя это с профессиональной точки зрения интересно. Их много, и названия их довольно громоздкие, но суть их – или, как говорят юристы, их предмет – должен быть понятен каждому избирателю, каждому гражданину.
Ключевые вещи я сейчас назову.
|
Tôi đã nói về điều đó và sẽ không liệt kê tất cả các đạo luật đã được thông qua vì có thể làm các bạn mệt mỏi, mặc dù về mặt chuyên môn thì đấy là điều thú vị. Nhiều đạo luật, tên gọi cũng khá kêu, nhưng mọi cử tri, mọi công dân phải hiểu được bản chất của chúng.
Tôi xin nói những điểm căn bản nhất
|
Первое, что мы сделали. Мы минимизировали риски манипуляций в ходе выборов. В ходе выборов недопустимы никакие махинации, мы это понимаем. Для этого упорядочены процедуры досрочного голосования и использования открепительных удостоверений (об этом мне неоднократно говорили представители наших оппозиционных партий): за такие [незаконные] действия с открепительными удостоверениями введено уголовное наказание. Именно здесь были самые грубые нарушения.
|
Thứ nhất, chúng ta đã làm được những gì. Chúng ta đã đưa nguy cơ bị lèo lái trong quá trình bầu cử đến mức tối thiểu. Không để xảy gian lận trong bầu cử, chúng ta hiểu chuyện đó. Để làm chuyện đó, đã tiến hành sắp xếp lại thủ tục bầu cử sớm và thủ tục ủy quyền rút tên khỏi danh sách ứng cử (đại diện các đảng đối lập đã nhiều lần nói với tôi về chuyện này): những hành động [phi pháp] trong việc ủy quyền rút tên như thế đã được đưa vào luật hình sự. Ở đây đã xảy ra những vụ vi phạm tồi tệ nhất.
|
Кроме того, мы снижаем роль человеческого фактора при подсчёте голосов. И дальше это будем делать. Уже в этом году электронными устройствами будут обеспечены приблизительно пять процентов участков. Это дорогая затея: к 12-му году – этот показатель составит 15 процентов, а к 15-му – 100 процентов, но это сделает нашу избирательную систему современной. И эти деньги стоят того, что мы предпринимаем. Надеюсь, все налогоплательщики это оценят.
|
Ngòai ra, chúng ta đã giảm vai trò tác nhân của con người trong việc kiểm phiếu. Và chúng ta sẽ tiếp tục làm như thế. Ngay trong năm nay thiết bị điện tử sẽ bảo đảm cho khỏang 5% các khu vực bầu cử. Đây là công việc rất tốn kém: năm 2012 bảo đảm cho 15%, và đến năm 2015 thì 100% các khu vực bầu cử, nhưng nó sẽ làm cho hệ thống bầu cử của chúng ta trở thành hòan thiện hơn. Đáng bỏ ra một số tiền như thế. Hi vọng rằng người đóng thuế đánh giá đúng.
|
Второе. Партиям гарантирован равный доступ к государственным СМИ как на федеральном, так и на региональном уровнях, о чём тоже мне неоднократно говорили представители наших оппозиционных партий. Избирательные комиссии должны контролировать выполнение этих гарантий. Причём равенство это должно быть не декларативным (это и раньше было), а буквальным, измеряемым в часах, минутах и даже секундах эфирного времени. Обеспечивается также и равенство партий в использовании помещений для собраний и агитации. Об этом тоже было много разговоров.
|
Thứ hai. Các đảng đều bình đẳng trong việc xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, cả trên bình diện liên bang lẫn khu vực, đại diện các đảng đối lập đã nói với tôi nhiều lần về chuyện này. Các ủy ban bầu cử phải kiểm tra việc thực hiện. Mà sự bình đẳng không phải trên lời nói (như trước đây) mà là thực chất, tính bằng giờ, bằng phút, thậm chí bằng giây nữa. Các đảng còn có quyền bình đẳng trong việc sử dụng phòng để họp hành và vận động tranh cử. Về vấn đề này cũng đã có rất nhiều chuyện.
|
Третье. Партии, которые имеют большинство в региональных парламентах, получили исключительное право предложить Президенту кандидатуры на посты губернаторов, то есть руководителей областей, краёв, республик. Таким образом, большинство избирателей имеет возможность участия через поддерживаемую им партию в формировании исполнительной власти своего региона. Та партия, за которую ты проголосовал, в конечном счёте и предлагает губернатора для того, чтобы он был наделён полномочиями, Президенту. Тем самым мы наполнили конкретным содержанием права большинства населения – права на формирование местной исполнительной власти.
|
Thứ ba. Các đảng nắm đa số trong các hội đồng khu vực có quyền đề nghị với tổng thống các ứng viên thống đốc, nghĩa là những người đứng đầu các tỉnh, các khu và nước cộng hòa. Như vậy là, thông qua các đảng mà cử tri ủng hộ, cử tri có cơ hội tham gia vào việc hình thành chính quyền hành pháp ở khu vực của mình. Đảng mà bạn bỏ phiếu, cuối cùng sẽ là người đề cử với tổng thống ứng viên thống đốc và giao quyền cho ông ta. Bằng cách đó, chúng ta đã đưa nội dung cụ thể vào quyền của đa số: quyền thành lập chính quyền hành pháp tại địa phương.
|
Четвёртое. Права меньшинства защищены также целым рядом мер. Помимо равного доступа к СМИ, о чём я уже говорил, для оппозиции установлены гарантии замещения руководящих должностей в региональных парламентах. Снижено количество подписей, которые необходимо собирать для участия в выборах.
|
Thứ tư. Quyền của thiểu số được bảo vệ bằng một lọat biện pháp. Ngòai quyền bình đẳng trong việc tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, như tôi đã nói bên trên, phe đối lập còn dược quyền thay thế chức vụ lãnh đạo trong các hội đồng địa phương. Số lượng chữ kí cần phải thu thập để có thể được đưa vào danh sách ứng viên cũng đã giảm.
|
Фактически снижен до пяти процентов барьер для прохождения представителей партии в парламенты всех уровней. Голоса в целом не должны пропадать: те, кто набрал больше пяти, но меньше семи [процентов], должны получить своего представителя. Но мы на этом не ограничимся, мы и дальше будем совершенствовать этот институт и раздвигать эти возможности.
|
Thực tế đại diện các đảng chỉ cần thu được 5% phiếu bầu là đã có chân trong các cơ quan dân cử tất cả các cấp. Nhưng chúng ta sẽ không dừng lại ở đấy, chúng ta sẽ tiếp tục hòan thiện định chế này và mở rộng thêm cơ hội.
|
Пятое. Мы обязали субъекты нашей страны упорядочить численность представительных органов власти. А то у нас в одном регионе один депутат представлял 10 тысяч человек, скажем, в небольшом регионе, а в другом – 300 тысяч человек. Это не пропорционально. Ну и кроме того, слишком много депутатов накладно для местного бюджета. А слишком мало – в этом случае очень трудно учитывать различные мнения избирателей. Я надеюсь, мы нашли баланс на сегодняшний день.
|
Thứ năm. Chúng đã đã buộc các chủ thể của đất nước lập lại trật tự số lượng thành viên trong các cơ quan đại diện. Trước đây có khu vực một người đại biểu đại diện cho 10 ngàn người, đấy là khu vực ít người, còn khu vực khác thì một người đại diện cho 300 ngàn người. Thế là không theo tỉ lệ. Ngòai ra, nhiều đại biểu quá thì sẽ khó khăn cho ngân sách. Còn ít quá thì sẽ khó biết được ý kiến khác nhau của cử tri. Tôi hi vọng rằng chúng ta sẽ tìm được sự cân bằng.
|
Изменились и принципы представительства регионов в Совете Федерации. Теперь членом верхней палаты может стать только депутат, который избран в региональные органы власти и местного самоуправления. То есть членом верхней палаты нашего парламента, Совета Федерации, будет человек, который поддержан в ходе выборов местными жителями, он им известен, они знают его и, с другой стороны, он знает об их нуждах, об их проблемах.
|
Nguyên tắc đại diện trong Hội đồng liên bang cũng đã thay đổi. Bây giờ chỉ có những người đã có chân trong các cơ quan dân cử và tự quản địa phương mới là có thể trở thành đại biểu Thượng viện. Nghĩa là thành viên Hội đồng liên bang phải là người được dân chúng ủng hộ trong các kì bầu cử, dân chúng biết ông ta, và mặt khác, ông ta cũng biết các nhu cầu, biết các vấn đề của họ.
|
Политическая система, я надеюсь, довольно значительно в результате этих изменений скорректирована. Она, и в этом я абсолютно уверен, стала более открытой и более гибкой. В конечном счёте и более справедливой. Региональные выборы, которые прошли в октябре, показали, что нареканий стало гораздо меньше, чем, скажем, полгода назад. И общественность, и оппозиционные партии оценили их сдержаннее, спокойнее.
|
Tôi hi vọng rằng hệ thống chính trị sẽ tốt lên sau những thay đổi như thế. Tôi tuyệt đối tin tưởng rằng hệ thống chính trị sẽ cởi mở hơn và mềm dẻo hơn. Và cuối cùng là công chính hơn. Những cuộc bầu cử vào tháng mười đã cho chúng ta thấy rằng những lời phàn nàn đã ít hơn là cách đây một năm rưỡi. Cả dư luận xã hội lẫn các đảng đối lập đều đưa ra các đánh giá bình tĩnh hơn.
|
Конечно, критика раздавалась, и это нормально, она должна быть. Но всё-таки критических высказываний было существенно меньше. Это обнадёживает.
|
Dĩ nhiên là vẫn còn những lời phê phán, đấy là chuyện bình thường, phải có. Nhưng đã ít hơn. Điều đó tạo cho ta hi vọng.
|
И ещё одна вещь, о которой я недавно говорил. Наша демократия несовершенна, мы это прекрасно понимаем. Но мы в начале пути. И самое главное – мы не стоим на месте. Мы идём вперёд.
|
Và còn một điều nữa, tôi đã nói cách đây chưa lâu. Nền dân chủ của chúng ta chưa hòan thiện, chúng ta biết rõ điều đó. Chúng ta đang ở đọan đầu của con đường. Và cái chính là chúng ta không đứng yên một chỗ. Chúng ta đang tiến lên phía trước.
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
| |
http://blog.kremlin.ru/post/119/transcript
| |
The Inevitable Superpower: Why China's Dominance Is a Sure Thing Siêu cường tất yếu: Tại sao sự khống chế của TQ là một điều chắc chắn
The Inevitable Superpower: Why China's Dominance Is a Sure Thing
|
Siêu cường tất yếu: Tại sao sự khống chế của TQ là một điều chắc chắn
|
by Arvind Subramanian, Peterson Institute for International Economics
|
Arvind Subramanian – Viện Kinh tế Quốc tế Peterson
|
To debtors, creditors can be like dictators. Governments in financial trouble often turn to the International Monetary Fund as supplicants, and acting at the behest of its own major creditors, the IMF often imposes tough conditions on them. After the Asian financial crisis of the late 1990s, Mickey Kantor, U.S. trade representative under President Bill Clinton, called the organization "a battering ram," because it had served to open up Asian markets to U.S. products. During the 1956 Suez crisis, the United States threatened to withhold financing that the United Kingdom desperately needed unless British forces withdrew from the Suez Canal. Harold Macmillan, who, as the British chancellor of the exchequer, presided over the last, humiliating stages of the crisis, would later recall that it was "the last gasp of a declining power." He added, "perhaps in 200 years the United States would know how we felt."
|
Đối với con nợ, thì chủ nợ có thể giống như nhà độc tài. Những chính phủ gặp phải vấn đề tài chính thường hướng về Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với thái độ van xin, và vì phải hành động theo mệnh lệnh của các chủ nợ quan trọng, IMF thường áp đặt những điều kiện gay gắt lên họ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, Mickey Kantor, đại diện thương mại Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton, gọi tổ chức này là “trục gỗ húc cửa thành” (battering ram), vì nó đã được sử dụng để mở cửa thị trường châu Á cho hàng hóa của Mỹ. Trong cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez năm 1956, Mỹ đe dọa sẽ cắt nguồn tài trợ mà Vương quốc Anh đang khẩn cấp cần đến nếu quân đội Anh không chịu rút khỏi Kinh đào Suez. Bộ trưởng Tài chính Anh lúc bấy giờ, Harold Macmillan, người đã chủ trì những màn thương thuyết nhục nhã cuối cùng của cuộc khủng hoảng, về sau đã nhớ lại rằng đó là “cái thở hắt cuối cùng của một cường quốc đang suy tàn”. Ông viết thêm, “có lẽ trong vòng 200 năm nữa Hoa Kỳ mới hiểu được chúng tôi đã cảm nhận như thế nào”.
|
Is that time already fast approaching, with China poised to take over from the United States? This is an essential question, and yet it has not yet been taken seriously enough in the United States. There, this central conceit still reigns: the United States' economic preeminence cannot be seriously threatened because it is the United States' to lose, and sooner or later, the United States will rise to the challenge of not losing it. China may be on its way to becoming an economic superpower, and the United States may have to share the global stage with it in the future. But, the argument goes, the threat from China is not so imminent, so great, or so multifaceted that it can push the United States out of the driver's seat.
|
Phải chăng cái ngày ấy đã đến quá nhanh, khi Trung Quốc lăm le giành lấy địa vị siêu cường của Hoa Kỳ? Đây là một câu hỏi rất quan trọng, nhưng nó chưa được xét đến một cách nghiêm túc tại Mỹ. Ở đó, sự cao ngạo chủ yếu vẫn còn ngự trị tâm lý con người: sự khống chế kinh tế thế giới của Hoa Kỳ không thể bị đe dọa nghiêm trọng vì chính Hoa Kỳ tự làm cho mình xuống dốc. Sớm muộn gì rồi Hoa Kỳ cũng sẽ vươn dậy đối đầu với cuộc thử thách để khỏi phải thua cuộc hoàn toàn. Trung Quốc có thể đang trên đường trở thành một siêu cường kinh tế, và Mỹ có thể phải chia sẻ sân khấu toàn cầu với TQ trong tương lai. Nhưng, theo lý luận này, mối đe dọa của Trung Quốc chưa phải cận kề, chưa quá lớn, chưa đủ đa diện để có thể đẩy Hoa Kỳ ra khỏi vị trí người cầm lái.
|
Thus, the economist Barry Eichengreen concludes in his recent history of different reserve currencies, Exorbitant Privilege, "The good news, such as it is, is that the fate of the dollar is in our hands, not those of the Chinese." And in December 2010, as he was leaving the White House as President Barack Obama's national economic adviser, Larry Summers said, "Predictions of America's decline are as old as the republic. But they perform a crucial function in driving the kind of renewal that is required of each generation of Americans. I submit to you that as long as we're worried about the future, the future will be better. We have our challenges. But we also have the most flexible, dynamic, entrepreneurial society the world has ever seen." In other words, if the United States can get its economic house in order, it can head off the Chinese threat.
|
Cũng với lý luận này, kinh tế gia Barry Eichengreen trong cuốn lịch sử các trữ kim khác nhau, nhan đề Exorbitant Privilege (Đặc quyền quá đáng) mới được xuất bản, đã kết luận rằng “Điều đáng mừng trong tình huống tồi tệ hiện nay là, số phận đồng đôla vẫn còn nằm trong tay chúng ta, chứ không phải trong tay của Trung Quốc”. Và vào tháng Chạp năm 2010, khi ông từ giả Nhà Trắng trong vai trò cố vấn kinh tế quốc gia cho Tổng thống Barack Obama, ông Larry Summers tuyên bố rằng: “Những tiên đoán về sự suy yếu của Hoa Kỳ cũng có từ lâu, như số tuổi của nước cộng hòa này. Nhưng chúng thể hiện một chức năng quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình đổi mới, luôn luôn được đòi hỏi ở mỗi thế hệ người Mỹ. Tôi xin thưa với quí vị rằng bao lâu mà chúng ta còn ưu tư về tương lai đất nước, thì tương lai ấy sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta có nhiều thách thức. Nhưng chúng ta cũng có một xã hội uyển chuyển, năng động, có đầu óc kinh doanh cao nhất mà thế giới chưa bao giờ thấy”. Nói cách khác, nếu Hoa Kỳ có thể chấn chỉnh được ngôi nhà kinh tế của mình, thì nước này có thể chặn đứng mối đe dọa đến từ TQ.
|
But such views underestimate the probability that China will be economically dominant in 20 years. And they reveal a one-sided, U.S.-centric perspective: that world dominance will be determined mostly by the actions of the United States, not those of China. In fact, the outcome of this race is far more likely to be shaped by China.
|
Nhưng những quan điểm này đã đánh giá thấp một khả năng gần như chắc chắn rằng TQ sẽ khống chế kinh tế thế giới trong vòng 20 năm sắp tới. Và chúng để lộ một quan niệm đơn phương, tự coi Hoa Kỳ là rốn vũ trụ: rằng sự khống chế thế giới sẽ được định đoạt chủ yếu do hành động của Hoa Kỳ, chứ không do hành động của TQ. Thật ra, kết quả của cuộc chạy đua này rất có thể được hình thành bởi phía TQ.
|
THE WORLD IN 2030
Broadly speaking, economic dominance is the ability of a state to use economic means to get other countries to do what it wants or to prevent them from forcing it to do what it does not want. Such means include the size of a country's economy, its trade, the health of its external and internal finances, its military prowess, its technological dynamism, and the international status that its currency enjoys. My forthcoming book develops an index of dominance combining just three key factors: a country's GDP, its trade (measured as the sum of its exports and imports of goods), and the extent to which it is a net creditor to the rest of the world. GDP matters because it determines the overall resources that a country can muster to project power against potential rivals or otherwise have its way. Trade, and especially imports, determines how much leverage a country can get from offering or denying other countries access to its markets. And being a leading financier confers extraordinary influence over other countries that need funds, especially in times of crisis. No other gauge of dominance is as instructive as these three: the others are largely derivative (military strength, for example, depends on the overall health and size of an economy in the long run), marginal (currency dominance), or difficult to measure consistently across countries (fiscal strength).
|
THẾ GIỚI VÀO NĂM 2030
Nói chung, sự khống chế kinh tế là khả năng của một quốc gia dùng các phương tiện kinh tế để buộc các nước khác làm những điều nó muốn hoặc ngăn chặn các nước khác làm những điều nó không muốn. Những phương tiện ấy có thể là kích cỡ nền kinh tế của nước ấy, nền thương mại của nó, tình trạng tài chính của nó ở trong nước và ngoài nước, sức mạnh quân sự của nó, tính năng động công nghệ của nó, và địa vị quốc tế mà tiền tệ của nó chiếm giữ. Cuốn sách sắp xuất bản của tôi sẽ phát triển một chỉ số khống chế (an index of dominance) chỉ kết hợp ba yếu tố then chốt: GDP của một nước, thương mại của nó (được đo bằng tổng số lượng hàng xuất khẩu và lượng hàng nhập khẩu), và tầm mức nó làm một chủ nợ của thế giới còn lại. GDP đóng một vai trò quan trọng vì nó xác định nguồn lực tổng quát mà một nước có thể huy động để phóng chiếu quyền lực chống lại các đối thủ tiềm tàng hay nói cách khác có thể làm theo ý mình. Thương mại, nhất là nhập khẩu, quyết định độ mạnh của đòn bẫy mà một nước có thể vận dụng do việc cho phép hay từ chối các nước khác tiếp cận thị trường của mình. Và việc đóng vai một nhà tài trợ hàng đầu sẽ tạo được ảnh hưởng phi thường lên các nước khác đang cần ngân quĩ, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng. Không có thước đo nào nói lên sức mạnh khống chế rõ ràng như ba yếu tố kể trên: các sức mạnh khác phần lớn bắt nguồn từ đó (sức mạnh quân sự, chẳng hạn, tùy thuộc vào tình trạng tổng quát và kích cỡ của một nền kinh tế trong dài hạn), hoặc chỉ có giá trị ngoại biên (như sự khống chế tiền tệ), hoặc khó đo lường một cách nhất quán khi so sánh các quốc gia (như sức mạnh ngân sách).
|
I computed this index going back to 1870 (focusing on the United Kingdom's and the United States' economic positions then) and projected it to 2030 (focusing on the United States' and China's positions then). The projections are based on fairly conservative assumptions about China's future growth, acknowledging that China faces several major challenges going forward. For starters, its population will begin to age over the coming decade. And its economy is severely distorted in several respects: overly cheap capital has led to excessive investment; the exchange rate has been undervalued, which has led to the overdevelopment of exports; and energy is subsidized, leading to its inefficient use and pollution. Correcting these distortions will impose costly dislocations. To take account of these costs, I project that China's growth will slow down considerably: it will average seven percent a year over the next 20 years, compared with the approximately 11 percent it has registered over the last decade. History suggests that plenty of economies—Germany, Japan, Singapore, South Korea, and Taiwan—grew at the pace I project for China after they reached China's current level of development. Meanwhile, I assume that the U.S. economy will grow at about 2.5 percent per year, as it has over the last 30 years. This is slightly optimistic compared with the Congressional Budget Office's latest long-term growth forecast of 2.2 percent, a forecast that the CBO lowers occasionally because of the negative impact of the country's accumulating public and private debt and sustained high unemployment on the U.S. economy.
|
Tôi đã tính toán chỉ số [mô tả sức mạnh khống chế] này bằng cách đi ngược dòng lịch sử đến năm 1870 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh lúc bấy giờ) và phóng chiếu chỉ số này đến năm 2030 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và TQ vào thời điểm đó). Những dự phóng này chủ yếu dựa vào những giả định tương đối dè dặt về mức tăng trưởng trong tương lai của TQ, nghĩa là nhìn nhận rằng TQ đang đối mặt với nhiều thử thách ở phía trước. Trước hết, dân số TQ sẽ bắt đầu già nua trong vòng một thập kỷ tới. Và kinh tế TQ đang bị méo mó nghiêm trọng dưới nhiều khía cạnh: tiền vốn cho vay với lãi suất quá rẻ (overly cheap capital) đã dẫn đến việc đầu tư quá lố; hối suất đồng nhân dân tệ bị kìm giữ ở mức quá thấp đã dẫn đến sự phát triển quá mức về hàng xuất khẩu; và năng lượng được bao cấp đã dẫn đến sự sử dụng thiếu hiệu quả và ô nhiễm môi trường. Việc điều chỉnh những lạm dụng này nhất định sẽ tạo ra những trục trặc rất tốn kém. Tính luôn cả những tốn kém này, tôi dự đoán rằng mức tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại một cách đáng kể: trung bình 7% mỗi năm trong vòng 20 năm tới, so với khoảng 11% mà TQ đạt được trong thập kỷ vừa qua. Lịch sử cho biết rằng nhiều nền kinh tế -- như Đức, Nhật Bản, Singapore, Nam Hàn, và Đài Loan – đã tăng trưởng theo nhịp độ mà tôi dự đoán cho TQ sau khi họ đạt được một mức phát triển như hiện nay của TQ. Trong khi đó, tôi giả định rằng kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% mỗi năm, như trong 30 năm qua. Dự đoán này là hơi lạc quan so với dự đoán mới nhất là 2,2% của Phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) về mức tăng trưởng dài hạn, một dự đoán mà CBO thỉnh thoảng phải hạ thấp vì tác động tiêu cực lên nền kinh tế Hoa Kỳ do các núi nợ, công cũng như tư, ngày một chồng chất và con số thất nghiệp vừa cao vừa kéo dài.
|
The upshot of my analysis is that by 2030, relative U.S. decline will have yielded not a multipolar world but a near-unipolar one dominated by China. China will account for close to 20 percent of global GDP (measured half in dollars and half in terms of real purchasing power), compared with just under 15 percent for the United States. At that point, China's per capita GDP will be about $33,000, or about half of U.S. GDP. In other words, China will not be dirt poor, as is commonly believed. Moreover, it will generate 15 percent of world trade—twice as much as will the United States. By 2030, China will be dominant whether one thinks GDP is more important than trade or the other way around; it will be ahead on both counts.
|
Kết quả sau cùng trong sự phân tích của tôi là, vào năm 2030 sự suy yếu tương đối của Hoa Kỳ sẽ không tạo ra một thế giới đa cực (multipolar) nhưng là một thế giới gần như đơn cực (near-unipolar) bị TQ khống chế. Sức mạnh kinh tế của TQ sẽ chiếm gần 20% GDP toàn cầu (một nửa đo bằng trị giá đôla và một nửa bằng sức mua thực sự), so với Hoa Kỳ lúc đó chỉ chiếm 15%. Vào thời điểm đó, GDP bình quân đầu người của TQ sẽ vào khoảng 33.000 đôla, hay khoảng một nửa GDP đầu người của Mỹ. Nói thế khác, Trung Quốc sẽ không còn nghèo tả tơi (dirt poor), như người ta thường lầm tưởng. Hơn nữa, TQ sẽ tạo ra 15% mậu dịch thế giới -- gấp đôi Mỹ. Khoảng năm 2030, TQ sẽ ở vị trí khống chế dù cho người ta có nghĩ GDP là quan trọng hơn thương mại hay ngược lại; TQ sẽ vẫn dẫn đầu trong cả hai lãnh vực.
|
According to this index and these projections, China's ascendancy is imminent. Although the United States' GDP is greater than China's today and the two countries' respective trade levels are close, the United States is a very large and vulnerable debtor—it hogs about 50 percent of the world's net capital flows—whereas China is a substantial net creditor to the world. In 2010, the United States' lead over China was marginal: there was less than one percentage point difference between their respective indices of dominance. In fact, if one weighed these factors slightly differently, giving slightly less weight to the size of the economy relative to trade, China was already ahead of the United States in 2010.
|
Theo chỉ số và những dự đoán này, sự khống chế của TQ là khá gần kề. Mặc dù hiện nay GDP của Hoa Kỳ vẫn còn lớn hơn GDP của TQ và sức mạnh mậu dịch của hai quốc gia là gần ngang nhau, nhưng Hoa Kỳ là một con nợ rất lớn và có nhiều nhược điểm -- Hoa Kỳ ngốn hết khoảng 50% vốn luân lưu của thế giới – trong khi TQ là một chủ nợ quan trọng đối với thế giới. Năm 2010, sự vượt trỗi của Hoa Kỳ đối với TQ là không đáng kể: sự khác biệt chưa tới 1% giữa chỉ số khống chế (indices of dominance) của hai quốc gia. Thật ra, nếu người ta cân nhắc những yếu tố này một cách hơi khác hơn, bằng cách coi nhẹ kích cỡ của nền kinh tế so với sức mạnh mậu dịch một chút, thì Trung Quốc đã đứng trước Hoa Kỳ vào năm 2010.
|
China's ascendancy in the future will also apply to many more issues than is recognized today. The Chinese economy will be larger than the economy of the United States and larger than that of any other country, and so will its trade and supplies of capital. The yuan will be a credible rival to the dollar as the world's premier reserve currency.
|
Sự khống chế của TQ trong tương lai cũng sẽ được nhìn nhận trong nhiều lãnh vực hơn hiện nay. Kinh tế TQ sẽ lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ và lớn hơn kinh tế của bất cứ quốc gia nào khác; ngoài ra, thương mại và nguồn vốn của TQ cũng sẽ to lớn như thế. Đồng nhân dân tệ cũng sẽ là một đối thủ đáng nể của đồng đôla trong địa vị một trữ kim hàng đầu của thế giới.
|
What is more, the gap between China and the United States will be far greater than expected. In 2010, the U.S. National Intelligence Council assessed that in 2025, "the U.S. will remain the preeminent power, but that American dominance will be much diminished." This is unduly optimistic. My projections suggest that the gap between China and the United States in 2030 will be similar to that between the United States and its rivals in the mid-1970s, the heyday of U.S. hegemony, and greater than that between the United Kingdom and its rivals during the halcyon days of the British Empire, in 1870. In short, China's future economic dominance is more imminent and will be both greater and more varied than is currently supposed.
|
Ngoài ra, khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ sẽ mở rộng hơn dự kiến. Năm 2010, Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ tiên đoán rằng vào năm 2025, “Hoa Kỳ vẫn còn là một siêu cường, nhưng sự khống chế của Hoa Kỳ sẽ bị suy giảm hơn nhiều”. Đánh giá này là lạc quan không hợp lý. Những dự đoán của tôi cho thấy rằng khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ vào năm 2030 sẽ tương tự như khoảng cách giữa Hoa Kỳ và các đối thủ của nó giữa thập niên 1970, thời cao điểm của bá quyền Mỹ, và lớn hơn khoảng cách giữa Vương quốc Anh và các đối thủ của trong thời cao điểm của Đế quốc Anh, vào năm 1870. Tóm lại, việc TQ khống chế kinh tế tương lai là cận kề hơn và sẽ là vừa to lớn vừa đa diện hơn nhiều người đang nghĩ.
|
STRONG LIKE A BULL
Martin Wolf, the Financial Times columnist, has used the term "premature superpower" to describe China's unique ability to wield power despite being poor. According to my projections, however, by 2030, China will not be so badly off. Rather, its GDP per capita (in terms of purchasing power parity) will be more than half that of the United States and greater than the average per capita GDP around the world. Still, China's economic dominance will be singular: unlike in the past, when the dominant powers—the United Kingdom and the United States—were very rich relative to their competitors, China will be just a middle- or upper-middle-income country. And can a country be dominant even when it is not among the richest?
|
MẠNH NHƯ MỘT CON BÒ MỘNG
Martin Wolf, cây viết chuyên đề trên tờ Financial Times (Tài chính thời báo) đã dùng từ “siêu cường nóng vội” (premature superpower) để mô tả khả năng độc đáo của TQ trong việc vận dụng quyền lực mặc dù đang còn là một nước nghèo. Tuy nhiên, theo dự đoán của tôi, vào năm 2030, TQ sẽ không còn nghèo như thế. Trái lại, GDP đầu người của TQ (dựa vào sức mua nội địa) sẽ lớn hơn một nửa GDP đầu người của Hoa Kỳ và lớn hơn GDP đầu người bình quân trên thế giới. Tuy nhiên, sự khống chế kinh tế của TQ sẽ không có tính thuần nhất: khác với quá khứ, trong khi các siêu cường – Vương quốc Anh và Hoa Kỳ -- là rất giàu có so với các địch thủ của mình, thì TQ sẽ là một quốc gia có lợi tức trung lưu hay trên trung lưu. Và câu hỏi đặt ra là, liệu một nước có thể trở thành siêu cường thậm chí cả khi nó không phải là quốc gia giàu có nhất hay không?
|
There are three plausible reasons for thinking that it cannot. First, a relatively poor country might have to subordinate its hopes of projecting power internationally to its need to address more pressing domestic challenges, such as achieving higher standards of living and greater social stability. Second, it might not be able to reliably raise the resources it needs to project power abroad. Military assets, for one thing, have to be financed, and poorer countries have more difficulty taxing their citizens than do rich countries. Third, a poor country can have only so much influence abroad if it does not have soft power, such as democracy, an open society, or pluralistic values. The leadership that comes with dominance lasts only if it inspires followers: only those who stand for something that commands universal or near-universal appeal are inspiring. Likewise, only a rich country—one on the economic and technological edge—can be a fount of ideas, technology, institutions, and practices for others.
|
Có ba lý do khả tín để cho rằng nó không thể trở thành siêu cường. Một là, một nước tương đối nghèo có thể phải đặt tham vọng phóng chiếu quyền lực quốc tế của mình nằm dưới nhu cầu giải quyết các thách thức bức thiết hơn ở trong nước, như phải đạt mức sống cao hơn và ổn định xã hội rộng lớn hơn. Hai là, nước đó có thể không đủ sức huy động nguồn lực cần thiết để phóng chiếu quyền lực của mình ra nước ngoài. Chỉ nội một điều là, phương tiện quân sự cũng cần đến tài chính, và các nước nghèo thường gặp nhiều khó khăn hơn các nước giàu khi bắt người dân đóng thuế. Ba là, một nước nghèo không thể có nhiều ảnh hưởng ở nước ngoài nếu nó không có được quyền lực mềm trong tay, như chế độ dân chủ, xã hội cởi mở, hay những giá trị đa nguyên. Quyền lãnh đạo đi kèm với sức mạnh khống chế chỉ tồn tại khi nào nó còn tạo được động lực cho người theo: chỉ có những ai làm biểu tượng cho một cái gì có sức thu hút rộng lớn hay gần như phổ quát mới gây được cảm hứng. Tương tự như thế, chỉ một nước giàu -- một nước đang nắm lợi thế kinh tế và công nghệ -- mới có thể làm một nguồn ban phát tư tưởng, công nghệ, các định chế, và các lề lối cho nhiều nước khác.
|
That said, even if dominance is generally inconsistent with poverty, one can be dominant without being among the richest countries. Even a middle-income power, which China is likely to be by 2030, can be internally cohesive, raise resources for external purposes (such as military expenditures), and possess some inspiring national ideals. In fact, despite China's relatively low per capita GDP today, it is already dominant in several ways. China convinced the African countries in which it invests heavily to close down the Taiwanese embassies they were hosting. With $3 trillion in foreign reserves, it has offered to buy Greek, Irish, Portuguese, and Spanish debt to forestall or mitigate financial chaos in Europe. ("China is Spain's best friend," said Spanish Prime Minister José Luis Rodríguez Zapatero in April on the occasion of the Chinese president's visit.) China has also used its size to strengthen its trade and financial relationships in Asia and Latin America: for example, trade transactions among several countries in both regions can now be settled in yuan.
|
Như vậy, dù khả năng khống chế không luôn luôn đi liền với sự nghèo khó, một quốc gia vẫn có thể trở thành siêu cường mặc dù nó không thuộc vào những nước giàu có nhất. Thậm chí một nước có lợi tức trung bình, một nước mà Trung Quốc có khả năng trở thành vào năm 2030, có thể giữ đoàn kết nội bộ, huy động được nguồn lực cho những mục đích đối ngoại (như các chi phí quân sự), và nắm được một số lý tưởng dân tộc đủ sức kích động. Thật vậy, dù với GDP đầu người tương đối thấp như hiện nay, TQ đã có sức mạnh khống chế trên nhiều phương diện. TQ đã thuyết phục được nhiều nước chủ nhà tại châu Phi, những nơi mà TQ đã bỏ ra rất nhiều tiền để đầu tư, đóng cửa các đại sứ quán Đài Loan. Với trữ lượng ngoại tệ gồm 3.000 tỉ đôla, TQ đưa ra đề nghị mua lại nợ của Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nhằm chặn đứng hoặc giảm bớt tình trạng hỗn loạn tài chính tại châu Âu. (Trong dịp chủ tịch nước của Trung Quốc đến thăm vào tháng Tư, Thủ tướng Tây Ban Nha, Ông José Luis Rodríguez Zapatero đã nói “Trung Quốc là người bạn tốt nhất của Tây Ban Nha.”) Trung Quốc cũng sử dụng vai vế to lớn của mình để thắt chặt các quan hệ thương mại và tài chính tại châu Á và châu Mỹ La-tinh: chẳng hạn, nhiều thương vụ giữa một số quốc gia trong hai khu vực nói trên hiện nay có thể thanh toán bằng đồng nhân dân tệ.
|
Above all, China's exchange-rate policy has affected economies throughout the world, hurting developing countries as much as the United States: by keeping its currency cheap, China has managed to keep its exports more competitive than those from countries such as Bangladesh, India, Mexico, and Vietnam. Yet these countries have stood on the sidelines, leaving Washington to wage a crusade against Beijing on its own—and for that reason, it has not done so very successfully. China, meanwhile, has been able to buy off the opposition. Although many countries chafe at seeing their competitiveness undermined by an undervalued yuan, they remain silent, either for fear of China's political muscle or because China offers them financial assistance or trading opportunities. Even within the United States, few groups have really been critical. China is a large market for U.S. companies, and so it is the liberal left, not the holders of U.S. capital, that has condemned China's exchange-rate policy, on behalf of U.S. workers.
|
Trước hết, chính sách hối suất của TQ đã ảnh hưởng bất lợi cho các nền kinh tế khắp thế giới, gây tổn thương cho các nước đang phát triển cũng như cho bản thân Hoa Kỳ: bằng cách kìm giá đồng nhân dân tệ ở mức quá rẻ, TQ có thể làm cho hàng xuất khẩu của mình có sức cạnh tranh hơn hàng xuất khẩu từ các nước như Bangladesh, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Việt Nam. Nhưng các nước này cho đến nay vẫn khoanh tay đứng bên lề, để cho Washington một mình tiến hành cuộc thánh chiến chống Bắc Kinh – và do đó, Hoa Kỳ không mấy thành công. Trong khi đó, TQ đủ sức mua chuộc phe chống đối tỉ giá hối suất của TQ. Mặc dù nhiều nước lấy làm bất mãn vì thấy sức cạnh tranh của mình bị phá họai bởi một đồng nhân dân tệ bị kìm giá, họ vẫn giữ thái độ im lặng, hoặc vì khiếp sợ trước cơ bắp chính trị của TQ hoặc vì TQ cống hiến cho họ sự hỗ trợ tài chính hay cơ hội mua bán. Thậm chí trong phạm vi nước Mỹ, ít có nhóm nào thực sự lên tiếng chỉ trích chính sách hối đoái của TQ. TQ là một thị trường rộng lớn cho các công ty Hoa Kỳ, và vì vậy, chính cánh tả tự do (the liberal left) chứ không phải những người nắm giữ vốn của Hoa Kỳ đã lên án chính sách hối đoái của TQ, vì quyền lợi của công nhân Mỹ.
|
Even if China is unlikely to muster anytime soon the kind of dominance that naturally inspires or might be necessary to build international systems and institutions like those the United States created after World War II, Beijing is already exercising other forms of dominance. For example, it can require that U.S. and European firms share their technology with Chinese firms before granting them access to its market. And it can pursue policies that have systemic effects, despite opposition from much of the world. Its policy of undervaluing its exchange rate is a classic beggar-thy-neighbor strategy that undermines the openness of the world's trading and financial systems while also creating the conditions for easy liquidity, which contributed to the recent global economic crisis. Chinese dominance is not looming. In some ways, it is already here.
|
Cho dù trong tương lai rất gần TQ không thể huy động loại hình khống chế có thể tự động thúc đẩy hay xây dựng những hệ thống và cơ chế quốc tế như những tổ chức Hoa Kỳ đã tạo ra sau Thế chiến II, nhưng Bắc Kinh đang sử dụng những hình thức khống chế khác. Chẳng hạn, TQ có thể đòi hỏi các công ty Mỹ và châu Âu chia sẻ công nghệ của họ với các công ty TQ trước khi cho phép họ tiếp cận thị trường TQ. Và TQ có thể theo đuổi các chính sách có hậu quả sâu rộng [mang tính hệ thống], bất chấp sự chống đối của nhiều nước trên thế giới. Chính sách hạ giá hối suất đồng nhân dân tệ là một chiến lược cổ điển gây phương hại cho các đối tác thương mại và làm lợi cho TQ, một chính sách phá hoại tính thông thoáng (openness) của các hệ thống thương mại và tài chính thế giới đồng thời cũng tạo các điều kiện tiếp cận tiền mặt quá dễ dàng (easy liquidity), một hiện tượng đóng góp cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây.
|
DROWNING BY NUMBERS
Can the United States reverse this trend? Its economic future inspires angst: the country has a fiscal problem, a growth problem, and, perhaps most intractable of all, a middle-class problem. Repeated tax cuts and two wars, the financial and economic crisis of 2008–10, the inexorable growth of long-term entitlements (especially related to health), and the possible buildup of bad assets for which the government might eventually be responsible have created serious doubts about the U.S. public sector's balance sheet. High public and private debt and long-term unemployment will depress long-term growth. And a combination of stagnating middle-class incomes, growing inequality, declining mobility, and, more recently, falling prospects for even the college educated has created big distributional problems. The middle class is feeling beleaguered: it does not want to have to move down the skill ladder, but its upward prospects are increasingly limited by competition from China and India.
|
CHẾT ĐUỐI VÌ NHỮNG CON SỐ
Hoa Kỳ có thể đảo ngược xu thế này không? Tương lai kinh tế Mỹ gợi lên nhiều nỗi lo âu: nước này đang kinh qua vấn đề ngân sách, vấn đề tăng trưởng kinh tế, và, có lẽ bất trị hơn tất cả, vấn đề của giai cấp trung lưu. Những đợt giảm thuế liên tục và hai cuộc chiến tranh, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008-10, tình trạng gia tăng không ngừng các quyền lợi an sinh của người già-người nghèo (đặc biệt liên quan đến y tế), và sự gia tăng số tài sản xấu [như nhà bị tịch biên] mà cuối cùng chính phủ có thể phải đứng ra gánh vác -- tất cả những điều này đã tạo ra nghi vấn nghiêm trọng về khả năng quân bình ngân sách trong khu vực công của Hoa Kỳ. Nợ công, nợ tư, và nạn thất nghiệp lâu dài sẽ kềm hãm mức tăng trưởng lâu dài. Và một sự kết hợp bao gồm các yếu tố như mức thu nhập đình trệ của giới trung lưu, cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn, khả năng thăng tiến xã hội bị thoái hóa, và, gần đây, các viễn ảnh tương lai sa sút đối với cả thành phần có giáo dục đại học đã tạo ra những vấn đề to lớn về phân phối lợi tức. Giới trung lưu Mỹ cảm thấy đang bị vây khốn: họ không muốn phải tuột thang kỹ năng, nhưng viễn ảnh thăng tiến của họ ngày một bị hạn chế vì sự cạnh tranh đến từ TQ và Ấn Độ.
|
The United States' continued strength comes from its can-do attitude about fixing its economic problems and its confidence that sound economic fundamentals can ensure its enduring economic dominance. Most notably, the United States affords unique opportunities for entrepreneurship "because it has a favorable business culture, the most mature venture capital industry, close relations between universities and industry, and an open immigration policy," according to the Global Entrepreneurship Monitor, an academic consortium that studies entrepreneurial activity worldwide. In a 2009 survey, GEM ranked the United States first in the world in providing such opportunities. Nearly all the major commercially successful companies that have made technological breakthroughs in the last three decades—Apple and Microsoft, Google and Facebook—were founded and are based in the United States. In fact, it was by finding new and dynamic sources of growth in the 1990s that the United States was able to head off the economic challenge posed by that era's rising power, Japan. Today, optimists argue that the United States can replicate that experience with China. It is true that if the U.S. economy were to grow consistently at a rate of 3.5 percent over the next 20 years, as it did in the 1990s, investor sentiment and confidence in the dollar as a reserve currency could be buoyed.
|
Sức mạnh liên tục của Hoa Kỳ phát xuất từ thái độ dám làm (can-do attitude) trong việc chỉnh sửa các vấn đề kinh tế và từ niềm tin tưởng rằng các yếu tố kinh tế cơ bản lành mạnh có thể đảm bảo sức khống chế lâu dài của nền kinh tế Mỹ. Đáng lưu ý nhất là, Hoa Kỳ có đủ khả năng tạo các cơ hội cho giới doanh nghiệp mà các nước khác không có đựợc (unique opportunities for entrepreurship) “Hoa Kỳ có một văn hóa doanh nghiệp thuận lợi, công nghiệp đầu tư già dặn nhất nhằm giúp vốn cho các công ty mới mẻ, quan hệ chặt chẽ giữa các đại học và công nghiệp, và một chính sách nhập cư cởi mở”, theo Tổ chức Theo dõi Doanh nghiệp Toàn cầu (Global Entrepreurship Monitor, GEM), một tổ chức học thuật chuyên nghiên cứu sinh hoạt kinh doanh toàn cầu. Trong một bản thăm dò năm 2009, GEM đã xếp Hoa Kỳ đứng đầu thế giới trong việc cung ứng những cơ hội như thế. Gần như tất cả các công ty thương mại thành công quan trọng nhờ những phát kiến công nghệ trong ba thập kỷ qua – Apple và Microsoft, Google và Facebook -- đều được thành lập và đặt bản doanh tại Hoa Kỳ. Thật vậy, chính nhờ tìm ra được những nguồn tạo sự tăng trưởng mới mẻ và năng động trong thập niên 1990 mà Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn thách thức kinh tế do một cường quốc đang trỗi dậy của thời đại đó, tức Nhật Bản. Ngày nay, những người lạc quan lý luận rằng Hoa Kỳ có thể lặp lại kinh nghiệm đó với TQ. Thật vậy, nếu kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng đều đặn ở tỉ lệ 3.5% trong vòng 20 năm tới, như đã diễn ra vào thập niên 1990, tinh thần của người đầu tư và sự tin tưởng đặt vào đồng đôla như một trữ kim có thể sẽ được nâng cao.
|
But some key differences today should dampen any such hope. The United States headed into the 1990s with far less government debt than it will have in the future. In 1990, the ratio of public debt to GDP was about 42 percent, whereas the COB's latest projected figure for 2020 is close to 100 percent. The external position of the United States was also less vulnerable two decades ago. For example, in 1990, foreign holdings of U.S. government debt amounted to 19 percent; today, they are close to 50 percent, and a majority are in China's hands. In the 1990s, the country was also considerably further away from the date at which it would have to reckon with the cost of entitlements.
|
Nhưng ngày nay, một số khác biệt then chốt chắc chắn đã giảm bớt niềm hi vọng đó. Hoa Kỳ bước vào thập niên 1990 với số công trái (government debt) nhỏ hơn rất nhiều so với số nợ nước này sẽ mắc trong tương lai. Năm 1990, tỉ lệ công trái so với GDP là vào khoảng 42%, trong khi con số mới nhất mà Văn phòng Ngân sách Quốc hội (COB) dự đoán cho năm 2020 là gần 100%. Hai thập niên về trước, tư thế đối ngoại của Hoa Kỳ cũng ít có nhược điểm như bây giờ. Chẳng hạn, trong năm 1990, nước ngoài chỉ cầm giữ 19% số trái phiếu của chính phủ Hoa Kỳ; ngày nay con số đó đã lên gần 50%, và phần lớn nằm trong tay TQ. Mãi cho đến thập niên 1990, Hoa Kỳ vẫn chưa mấy bận tâm về cái ngày phải lo lắng những chi phí cho quyền lợi của các nhóm đặc biệt (entitlements) như người già, người nghèo.
|
And then there is the United States' beleaguered middle class. Over the last 20 years, several related pathologies that have squeezed the American middle class, such as a stagnating median income, have become more entrenched and more intractable. Even a 3.5 percent growth rate, which would be well above current expectations, may not be adequate to maintain confidence in the U.S. model, which is based on the hope of a better future for many.
|
Và hiện nay, giới trung lưu Mỹ đang bị nhiều vấn đề vây bủa. Trong 20 năm qua, nhiều căn bệnh kinh tế có khả năng bóp nghẹt giới trung lưu Mỹ, như mức thu nhập trung bình bị đình trệ, đã trở nên trầm kha và bất trị hơn xưa. Thậm chí cả tỉ lệ tăng trưởng 3,5%, một tỷ lệ vượt quá những mong đợi hiện nay, có lẽ cũng không đủ sức duy trì sự tin tưởng vào mô hình Mỹ, một mô hình đặt cơ sở trên niềm hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho đại đa số.
|
In other words, the United States cannot escape the inexorable logic of demography and the fact that poor countries, especially China, are catching up with it. China, which is four times as populous as the United States, will be a bigger economy as soon as its average standard of living (measure in per capita GDP) exceeds one-quarter of the United States'. By some measures, including my own, this has already occurred, and as China continues to grow, the gap will only widen. A resurgent United States might be able to slow down that process, but it will not be able to prevent it. Growing by 3.5 percent, rather than 2.5 percent, over the next 20 years might boost the United States' economic performance, social stability, and national mood. But it would not make a significant difference in its position relative to China in the face of, say, a seven percent growth rate there.
|
Nói cách khác, Hoa Kỳ không thể tránh cái lô-gíc không lay chuyển của dân số học và sự kiện là các nước nghèo, nhất là TQ, sắp bắt kịp Hoa Kỳ. TQ, có dân số đông gấp 4 lần Hoa Kỳ, sẽ là một nền kinh tế lớn hơn ngay sau khi mức sống trung bình của người dân TQ (tính theo GDP đầu người) vượt quá 1/4 mức sống trung bình của người Mỹ. Bằng một số cách đo lường, kể cả cách của tôi, sự kiện này đã bắt đầu diễn ra, và nếu kinh tế TQ vẫn tiếp tục tăng trưởng, thì khoảng cách giữa TQ và Hoa Kỳ sẽ chỉ nới rộng ra mà thôi. Một Hoa Kỳ cố vùng lên có thể sẽ trì hoãn tiến trình ấy, nhưng sẽ không thể chặn đứng được nó. Phải tăng trưởng 3,5%, thay vì 2,5% như hiện nay, trong 20 năm tới, may ra Hoa Kỳ mới có thể đẩy mạnh thành tích kinh tế, ổn định xã hội, và nâng cao tinh thần quốc gia. Nhưng khả năng này cũng không thay đổi đáng kể địa vị của Hoa Kỳ đối với TQ nếu nước này duy trì mức tăng trưởng chừng 7%.
|
These projections undermine the dominant belief that the United States' economic preeminence is its own to lose. It is China's actions that will largely determine whether the differential in growth between China and the United States is modest or great. China can radically mess up, for example, if it allows asset bubbles to build or if it fails to stave off political upheaval. Or it can surge ahead by correcting existing economic distortions, especially by moving away from an export-intensive growth strategy toward one that develops demand at home. The United States' range of action is much narrower. If the United States is unlikely to grow significantly slower than by 2.0–2.5 percent, it is even more unlikely to grow faster than by 3.5 percent. This is the curse of being at the frontier of economic development: both the potential downsides and the potential upsides are limited.
|
Những dự đoán này làm lung lay quan niệm chính yếu cho rằng sức mạnh siêu cường kinh tế Mỹ tự nó thoái hóa [chứ không do sứ ép từ ngoài]. Thật ra, chính những hành động của TQ sẽ định đoạt phần lớn sự cách biệt lớn hay nhỏ giữa mức tăng trưởng kinh tế của TQ và Hoa Kỳ. Chẳng hạn, TQ có thể thất bại ghê gớm nếu cứ tiếp tục để cho các bong bóng địa ốc căng to hay nếu không ngăn chặn được các biến động chính trị. Hoặc TQ có thể vươn lên mạnh mẽ hơn bằng cách chỉnh sửa các lệch lạc kinh tế hiện nay, nhất là cần phải tránh xa chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu và tiến tới một chiến lược phát triển nhu cầu trong nước. Phạm vi hoạt động của Hoa Kỳ là hạn hẹp hơn nhiều. Nếu Hoa Kỳ không thể tăng trưởng chậm hơn 2,0-2,5% một cách đáng kể, thì nó lại càng không thể tăng trưởng nhanh hơn 3,5%. Đây là điều không may của một nước đang đứng ở biên cương cuối cùng trong tiến trình phát triển kinh tế: cả tiểm năng đi lên lẫn tiềm năng đi xuống đều bị giới hạn.
|
Even if the United States grows fast—say, by 3.5 percent—other countries, such as China, may grow faster, too, leaving the basic picture of their relative economic power unaffected. In fact, when the pace of technological innovation in leading countries, such as the United States, quickens, the new technologies become quickly available to poorer countries, providing a stimulus to their growth, too. Even more important than producing new technologies is having the human capital and the skills to use them. According to the National Science Foundation, in 2006 there were nearly twice as many undergraduates in science and engineering in China as in the United States. This differential is likely only to grow. Despite having a considerably worse educational system than the United States, China seems well positioned to absorb new technologies. There were six times as many peer-reviewed scientific publications in the United States as in China in 2002—and just 2.5 times as many in 2008. The ability of rich countries to stay ahead in terms of growth is inherently limited because China is better able to absorb and use new technologies. China's technological sophistication is growing: the United States, Europe, and Japan export very few products that China does not also export. More generally, if growth in the United States slows, China's growth might be unaffected, but if it accelerates, China's growth might, too. Either way, the United States cannot pull away.
|
Dù Hoa Kỳ có tăng trưởng nhanh chăng nữa -- chẳng hạn, 3,5 % -- thì những nước khác, như TQ, cũng có thể tăng trưởng nhanh hơn, khiến bức tranh cơ bản về tương quan lực lượng kinh tế không thay đổi. Thật vậy, khi tốc độ cải tiến công nghệ trong những nước tiên tiến, như Hoa Kỳ, tăng nhanh, thì những công nghệ mới của họ cũng nhanh chóng rơi vào tay những nước nghèo, giúp kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở đó. Thậm chí quan trọng hơn cả việc tạo ra các công nghệ mới, đó là khả năng nắm giữ vốn nhân lực (human capital) và những kỹ năng để sử dụng những công nghệ đó. Theo Sáng hội Khoa học Quốc gia (National Science Foundation), vào năm 2006 số sinh viên theo học bốn năm đầu đại học khoa học tại TQ gần gấp đôi tại Hoa Kỳ. Sự cách biệt này chỉ có thể trở nên lớn hơn mà thôi. Mặc dù TQ có một hệ thống giáo dục tồi dở hơn Hoa Kỳ rất xa, nhưng TQ lại tỏ ra rất sẵn sàng hấp thụ công nghệ mới. Vào năm 2002 số tạp chí khoa học đăng bài có sự duyệt xét của chuyên gia cùng ngành (peer-reviewed scientific publications) tại Hoa Kỳ nhiều gấp TQ 6 lần – nhưng vào năm 2008 con số này chỉ còn 2,5 lần. Khả năng dẫn đầu mức tăng trưởng kinh tế của các nước giàu bị hạn chế từ bên trong vì TQ có thể hấp thụ và sử dụng công nghệ mới khôn khéo hơn. Sự tinh vi của công nghệ TQ đang gia tăng: Rất ít có sản phẩm nào Hoa Kỳ, châu Âu, và Nhật Bản xuất khẩu mà TQ không xuất khẩu được. Nói chung, nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ bị chậm lại, thì mức tăng trưởng của TQ có thể không bị ảnh hưởng, nhưng nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ tăng nhanh, thì mức tăng trưởng của TQ cũng có thể sẽ tăng nhanh. Bằng cách nào thì Hoa Kỳ cũng không thể bỏ xa TQ.
|
BACK TO SUEZ
Even a resurgent United States could not exercise power and dominance over a rising China. China is already able to do what the rest of the world does not want it to do. Might it soon be able to get the United States to do what the United States does not want to do? Is another Suez crisis possible?
|
TRỞ LẠI BÀI HỌC KINH ĐÀO SUEZ
Thậm chí một Hoa Kỳ vươn dậy trở lại cũng không thể sử dụng quyền lực và sức khống chế của mình đối với TQ. TQ đã đủ sức để làm những điều mà phần còn lại của thế giới không muốn nó làm. Liệu chẳng bao lâu nữa TQ có đủ sức buộc Hoa Kỳ phải làm cả những điều mà Hoa Kỳ không muốn làm hay không? Liệu một vụ Kinh đào Suez khác có thể xảy ra hay không?
|
In 1956, with sterling under pressure because of Egypt's blockade of the Suez Canal, the United Kingdom turned to the United States for financial assistance, invoking their "special relationship." But U.S. President Dwight Eisenhower refused. He was furious that the British (and the French) had attacked Egypt after President Gamal Abdel Nasser nationalized the canal, just as he was campaigning for reelection as the man of peace who had ended the fighting on the Korean Peninsula. He demanded that the United Kingdom comply with a U.S.-sponsored UN resolution requiring the prompt and unconditional withdrawal of British troops. If it did not, Washington would block the United Kingdom's access to resources from the IMF. But if it did, it would get substantial financial assistance. The United Kingdom agreed, and the United States supported a massive financial package, including an unprecedented IMF loan worth $1.3 billion and a $500 million loan from the U.S. Export-Import Bank.
|
Năm 1956, trong khi đồng sterling (Anh kim) chịu sức ép nặng nề vì Ai Cập phong tỏa Kinh đào Suez, Vương quốc Anh quay sang Hoa Kỳ để xin hỗ trợ tài chính, dựa vào “tình hữu nghị đặc biệt” của hai nước. Nhưng Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã từ chối. Ông giận dữ vì Anh (và Pháp) đã tấn công Ai Cập sau khi Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser quốc hữu hóa Kinh đào Suez, đúng vào thời điểm Eisenhower đang vận động tái tranh cử với danh nghĩa một con người hòa bình đã chấm dứt cuộc chiến trên Bán đảo Triều Tiên. Ông đòi Vương quốc Anh phải tuân theo một nghị quyết LHQ do Mỹ bảo trợ buộc quân Anh phải rút khỏi Ai Cập tức khắc và vô điều kiện. Nếu Anh không chịu rút quân, Washington sẽ không cho phép Vương quốc Anh tiếp cận các nguồn lực tài chính từ IMF. Nhưng nếu chính phủ Anh chịu rút quân, họ sẽ nhận được sự trợ giúp tài chính quan trọng. Vương quốc Anh đồng ý, và Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho một gói tài trợ to lớn, gồm một khoản cho vay chưa từng có từ IMF đáng giá 1,3 tỉ đôla và một khoản 500 triệu đôla từ Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Hoa Kỳ.
|
Now, imagine a not-so-distant future in which the United States has recovered from the crisis of 2008–10 but remains saddled with structural problems: widening income gaps, a squeezed middle class, and reduced economic and social mobility. Its financial system is still as fragile as before the crisis, and the government has yet to come to grips with the rising costs of entitlements and the buildup of bad assets in the financial system, which the government might have to take over. Inflation is a major global problem because commodity prices are skyrocketing as a result of rapid growth in emerging markets. China has an economy and a trade flow twice as large as the United States'. The dollar has lost its sheen; demand for the yuan as a reserve currency is growing.
|
Bây giờ, ta cứ tưởng tượng một tương lai không xa trong đó Hoa Kỳ đã phục hồi từ cuộc khủng hoảng 2008-2010 nhưng vẫn còn chồng chất nhiều vấn đề kinh tế từ trong cơ cấu: khoảng cách thu nhập (giàu nghèo) ngày càng lớn, một tầng lớp trung lưu chịu nhiều sức ép, và cơ hội thăng tiến kinh tế và xã hội bị suy giảm. Hệ thống tài chính Mỹ vẫn còn mong manh như thời trước khủng hoảng, và chính phủ chưa đối phó được những chi phí ngày càng lớn cho người già - người nghèo và sự gia tăng số tài sản xấu trong hệ thống tài chính, mà chính phủ có thể phải tiếp quản. Nạn lạm phát là một vấn đề toàn cầu vì giá thương phẩm tăng vọt do sự tăng trưởng nhanh chóng tại các thị trường mới nổi (emerging markets). TQ có một nền kinh tế và một luồng mậu dịch lớn gấp đôi Hoa Kỳ. Đồng đôla mất hết vẻ hào nhoáng của nó; mức cầu của đồng nhân dân tệ như một trữ kim ngày càng gia tăng.
|
Much as in 1956, when Washington was suspected of orchestrating massive sales of sterling in New York to force the British government to withdraw its troops from the Suez Canal, rumors are swirling that China is planning to wield its financial power; it has had enough of the United States' naval presence in the Pacific Ocean. Beijing starts selling some of its currency reserves (by then likely to amount to $4 trillion). Investors grow skittish, fearing that the dollar might collapse, and bond markets turn on U.S. government paper. The United States soon loses its AAA credit rating. Auctions for U.S. Treasury bonds find no buyers. To maintain confidence, the U.S. Federal Reserve sharply raises interest rates. Before long, interest rates substantially exceed growth rates, and the United States urgently needs cheap financing. It turns to oil exporters, but the friendly autocrats of yore have been replaced by illiberal democrats of various Islamic persuasions, ranging from moderate to extreme, and all with long memories of U.S. intervention in the Middle East. Much as for Greece, Ireland, and Portugal recently, seeking help from the IMF seems unavoidable: defaulting on U.S. debt obligations would be fatal to the effort to preserve what is left of the United States' global role.
|
Cũng rất giống như năm 1956, khi Washington bị tình nghi là đã đạo diễn các cuộc bán tháo đồng sterling tại New York để buộc chính phủ Anh rút quân khỏi Kinh đào Suez, tin đồn đoán loan truyền khắp nơi là TQ có kế hoạch sử dụng sức mạnh tài chính của mình; TQ không còn chịu đựng thêm nữa sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương. Bắc Kinh bắt đầu bán một phần trữ lượng ngoại tệ (lúc bấy giờ có thể lên tới 4 nghìn tỉ đôla). Các nhà đầu tư bắt đầu giao động, lo sợ đồng đôla có thể suy sụp, và các thị trường trái phiếu bán tháo giấy nợ của chính phủ Hoa Kỳ. Liền sau đó Hoa Kỳ mất điểm tín dụng AAA của mình. Các cuộc bán đấu giá công khố phiếu Hoa Kỳ không tìm được người mua. Để duy trì lòng tin của giới đầu tư, Quĩ Dự trữ Liên bang đưa lãi suất lên rất cao. Chẳng bao lâu, lãi suất vượt quá tỉ lệ tăng trưởng rất xa, và Hoa Kỳ cần tài trợ với lãi suất thấp. Hoa Kỳ hướng đến các nước xuất khẩu dầu hỏa, nhưng các thủ lĩnh độc tài thân thiện với Hoa Kỳ ngày xưa đã bị thay thế bởi những nhà lãnh đạo dân chủ giả hiệu (illiberal democrats) thuộc mọi khuynh hướng Hồi giáo, từ ôn hòa đến cực đoan, tất cả đều mang ký ức lâu dài về bàn tay can thiệp của Mỹ tại Trung Đông. Cũng như đối với Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, và Bồ Đào Nha gần đây, việc tìm kiếm tài trợ từ IMF có vẻ là điều không thể tránh: vì nếu Hoa Kỳ không trả nổi nợ nần của mình, việc này sẽ rất nguy hại cho nỗ lực duy trì những gì còn sót lại trong vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ.
|
But by this time, China, already the world's largest banker since 2000, controls the spigot. Although it, too, deems that an IMF bailout is necessary, it has a precondition: the withdrawal of the United States' naval presence in the western Pacific. The request has bite because China, as the IMF's largest contributor and a benefactor to many of its members, can easily block the United States' request for financing. By then, China may even have acquired veto power thanks to the governance reforms scheduled for 2018.
|
Nhưng vào thời điểm này, TQ, đã là ông chủ ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 2000, đang kiểm soát túi tiền của IMF. Mặc dù TQ cũng nhận thấy việc IMF cứu giúp Hoa Kỳ là cần thiết, nhưng họ đưa ra một điều kiện tiên quyết: Hoa Kỳ phải triệt thoái hải quân ra khỏi Tây Thái Bình Dương. Đòi hỏi này có ảnh hưởng mạnh mẽ vì TQ, trong tư thế là nước đóng góp nhiều nhất cho IMF và là một ân nhân cho nhiều thành viên của IMF, có thể ngăn chặn việc Hoa Kỳ xin tài trợ một cách dễ dàng. Vào lúc đó, TQ thậm chí có thể đã giành được quyền phủ quyết nhờ những cải tổ liên quan việc điều hành IMF được dự trù vào năm 2018.
|
Some will say this scenario is pure fantasy. After all, the United States could easily withhold financing from the United Kingdom in 1956 because doing so had no serious consequences for the dollar or the U.S. economy. But if tomorrow, China sold, or just stopped buying, U.S. Treasury bonds, the dollar would decline and the yuan would appreciate—the very outcome that China has steadfastly been trying to prevent. China is unlikely to suddenly undermine its mercantilist growth strategy and risk large capital losses on its stock of foreign exchange reserves. Others might say that even if China were willing to do so, if the U.S. economy were depressed, the Federal Reserve might be only too happy to buy up any U.S. Treasuries dumped by China.
|
Một số người sẽ cho rằng kịch bản này là hoàn toàn hoang tưởng. Dẫu sao, Hoa Kỳ có thể dễ dàng từ chối tài trợ cho Vương quốc Anh năm 1956 vì có làm như thế cũng không gây hậu quả nghiêm trọng cho đồng đôla hay nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhưng nếu ngày mai, TQ bán, hoặc chỉ chấm dứt mua, công khố phiếu Hoa Kỳ, đồng đôla sẽ xuống giá và đồng nhân dân tệ sẽ lên giá -- một hậu quả mà chính TQ đã và đang cương quyết ngăn chặn. TQ không thể bất thần đạp đổ chiến lược tăng trưởng kinh tế bằng thủ đoạn thương mại (mercantilist growth strategy) và liều mất những số vốn to lớn trong khối dự trữ ngoại hối của TQ. Một số người khác có thể cho rằng thậm chí nếu TQ muốn làm như thế khi kinh tế Hoa Kỳ bị đình đốn, thì Quĩ Dự trữ Liên bang chỉ việc quá sung sướng mua hết bất cứ lượng công khố phiếu Hoa Kỳ nào mà TQ đem bán đổ.
|
But all this leaves out that China's incentives might be very different in the future. Ten years on, China might be less wedded to keeping the yuan weak. If it continues to slowly internationalize its currency, both its ability to maintain a weak yuan and its interest in doing so may soon disappear. And when they do, China's power over the United States will become considerable. In 1956, the United Kingdom's financiers were dispersed across the public and private sectors. But the Chinese government is the largest net supplier of capital to the United States: it holds many U.S. Treasury bonds and finances the U.S. deficit. Leverage over the United States is concentrated in Beijing's hands.
|
Nhưng tất cả dự kiến này không hề xét đến khả năng là, những động cơ của TQ trong tương lai có thể sẽ khác xa với hiện nay. Kể từ 10 năm sau, TQ có thể sẽ giảm bớt quyết tâm kìm giá đồng nhân dân tệ. Nếu TQ tiếp tục từng bước quốc tế hoá tiền tệ của mình, thì cả khả năng kìm giá đồng nhân dân tệ lẫn động lực để TQ làm như vậy có thể sẽ sớm biến mất. Khi cả hai điều này biến mất, thì sức mạnh của TQ đối với Hoa Kỳ sẽ trở thành đáng kể. Nhưng chính phủ TQ là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho Hoa Kỳ: nó giữ nhiều loại trái phiếu của Mỹ và tài trợ để Hoa Kỳ đối phó với nạn thâm thủng ngân sách. Sức mạnh đòn bẫy để điều khiển Hoa Kỳ tập trung trong tay Bắc Kinh.
|
Of course, the prospects of a dollar devaluation would probably be less painful for the United States in this hypothetical future than the prospects of a weakening sterling was for the United Kingdom in 1956. Back then, a devaluation of sterling would have inflicted heavy losses on the currencies of the United Kingdom's former colonies that held large sterling-denominated assets. These colonies would have sold their sterling assets, weakening their economic links with the United Kingdom. Preventing this was important to the government in London in order to preserve what was left of the British Empire. A devaluation of the dollar would be less of a problem partly because the United States' foreign liabilities are denominated in dollars.
|
Hẳn nhiên, những viễn tượng của một đồng đôla mất giá chắc sẽ ít nhức nhối cho Hoa Kỳ trong tương lai giả tưởng này hơn là viễn ảnh của đồng sterling mất giá đối với Vương quốc Anh năm 1956. Lúc bấy giờ, một sự tuột giá của đồng sterling chắc chắn sẽ gây thiệt hại to lớn cho tiền tệ của các cựu thuộc địa Anh, tức những nước đang giữ các tài sản to lớn dựa vào đồng sterling. Những thuộc địa này chắc chắn sẽ bán tài sản bằng đồng sterling của họ, do đó sẽ làm suy yếu thêm những quan hệ kinh tế với Vương quốc Anh. Ngăn chặn hiểm họa này là điều quan trọng đối với chính phủ London trong nỗ lực duy trì những gì còn sót lại của Đế quốc Anh. Một sự tuột giá của đồng đôla sẽ ít gây rắc rối hơn, một phần vì nợ nước ngoài của Hoa Kỳ đều tính bằng đôla.
|
A repeat of the Suez crisis may seem improbable today. But the United States' current economic situation does leave the country fundamentally vulnerable in the face of China's inescapable dominance. The United Kingdom was playing with a weak hand during the Suez crisis not just because it was in debt and its economy was weakening but also because another great economic power had emerged. Today, even as the United States' economy is structurally weak, its addiction to debt has made the country dependent on foreigners, and its prospects for growth are minimal, a strong rival has emerged. China may not quite be an adversary, but it is not an ally, either. Macmillan's 1971 prophecy that the United States might decline "in 200 years" betrayed a mechanical interpretation of history: it projected enduring dominance for the United States, much like his own country had enjoyed. But China could accelerate the patterns of history—and make the United States confront its decline much sooner than Macmillan anticipated or even than most people expect today.
|
Một sự lặp lại kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez có vẻ không thể xảy ra trong thế giới ngày nay. Nhưng tình hình kinh tế hiện nay của Hoa Kỳ thật sự làm cho nước này có nhiều điểm yếu cơ bản khi đối diện với sức mạnh khống chế không thể tránh của TQ. Ngày trước, Vương quốc Anh đã cầm một tay bài kém cỏi trong cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez, không những chỉ vì nước này lâm vào tình trạng nợ nần và nền kinh tế của nó đang suy yếu, nhưng còn vì một cường quốc kinh tế khác đã xuất hiện. Ngày nay, thậm chí khi kinh tế Hoa Kỳ đang suy yếu từ trong cơ cấu (structurally weak), khi cơn nghiện nợ đã làm cho nước này quá lệ thuộc ngoại bang, và khi viễn tượng tăng trưởng kinh tế của nó là tối thiểu, thì một đối thủ hùng mạnh đã lù lù xuất hiện. TQ có thể không hẳn là kẻ địch của Hoa Kỳ, nhưng nó cũng chẳng phải là một đồng minh. Lời tiên đoán của Macmillan năm 1971, rằng Hoa Kỳ có thể suy yếu “trong 200 năm nữa”, đã để lộ một lối giải thích lịch sử máy móc: ông đã tiên đoán một vai trò siêu cường lâu dài cho Hoa Kỳ, tương tự như địa vị siêu cường mà nước ông từng được hưởng. Nhưng TQ có thể thúc đẩy tiến trình các mô hình lịch sử -- và buộc Hoa Kỳ phải đối diện với sự xuống dốc của mình sớm hơn Macmillan tiên đoán rất nhiều hay thậm chí sớm hơn cả hầu hết mọi người dự kiến hiện nay.
|
Arvind Subramanian is senior fellow at the Peterson Institute for International Economics and at the Center for Global Development. This article is adapted from his book Eclipse: Living in the Shadow of China's Economic Dominance (2011).
|
Arvind Subramanian là hội viên nghiên cứu thâm niên tại Viện Peterson về khoa Kinh tế Quốc tế (the Peterson Institute for International Economics) và tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu (the Center for Global Development). Bài báo này dựa vào nội dung cuốn sách sắp xuất bản của ông, cuốn Eclipse: Living in the Shadow of China’s Economic Dominance (Peterson Institute for International Economics, 2011)
|
Translated by Trần Ngọc Cư
| |
http://www.iie.com/publications/papers/paper.cfm?ResearchID=1913
| |
Subscribe to:
Posts (Atom)