MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, March 5, 2011

Acne 2 – Mụn trứng cá 2



Acne 2 – Women and Acne – Phụ nữ và Mụn trứng cá


Most young women and men will have at least a few pimples over the course of their lives. But acne seems to affect men and women in different ways. Young men are more likely to have a more serious form of acne. Acne in young women tends to be more random and linked to hormone changes, such as the menstrual cycle.

Hầu hết nam và nữ thanh niên sẽ bị ít nhất một vài mụn trong đời. Nhưng dường như mụn trứng cá ảnh hưởng đến nam giới và nữ giới theo những cách khác nhau. Nam thanh niên có nhiều khả năng bị mụn dạng nghiêm trọng hơn. Mụn ở phụ nữ trẻ có khuynh hướng bị ngẫu nhiên nhiều hơn và liên quan tới những biến đổi hoóc môn, chẳng hạn như chu kỳ kinh nguyệt.

As women get older, acne often gets better. But some women have acne for many years. Some women even get acne for the first time at age 30 or 40.

Khi phụ nữ có tuổi, mụn trứng cá thường dễ chịu hơn. Nhưng một số phụ nữ bị mụn trứng cá trong nhiều năm. Một số phụ nữ thậm chí bị mụn trứng cá lần đầu tiên ở tuổi 30 hoặc 40.

For many women, acne can be an upsetting illness. Women may have feelings of depression, poor body image, or low self-esteem. But you don’t have to wait to outgrow acne or to let it run its course. Today, almost every case of acne can be resolved. Acne also can, sometimes, be prevented. Talk with your doctor or dermatologist (a doctor who specializes in treating skin problems) about how you can help prevent acne and if treatment would help you.

Đối với nhiều phụ nữ, mụn trứng cá có thể là một căn bệnh khó chịu. Phụ nữ có thể có cảm giác trầm cảm, hình ảnh cơ thể xấu, hoặc tự ti. Nhưng bạn không phải chờ đợi để lớn lên sẽ hết mụn hoặc để cho mụn tự nó diễn biến. Ngày nay, hầu hết các trường hợp bị mụn trứng cá đều có thể được giải quyết. Đôi khi, mụn cũng có thể dự phòng. Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn hoặc chuyên gia da liễu (bác sĩ chuyên điều trị các vấn đề về da) về cách có thể giúp bạn ngăn ngừa mụn trứng cá và hỏi liệu điều trị có tác dụng với bạn hay không.

Many things can trigger acne in women:

* Hormone changes during puberty. During puberty, girls have an increase in male sex hormones called androgens. This increase causes the glands to get larger and make more sebum.

* Hormone changes as an adult. The menstrual cycle is one of the most common acne triggers. Acne lesions tend to form a few days before the cycle begins and go away after the cycle is completed. Other hormone changes, such as pregnancy and menopause, improve acne in some women. But some women have worse acne during these times. Stopping use of birth control pills can play a role as well.

* Medicines. Certain medicines, such as those used to treat epilepsy and types of depression.

* Make-up.

* Pressure or friction on the skin. Friction caused by bike helmets or backpacks can make acne worse.

* Family history. If other people in your family have acne, there is a greater chance you will have it.

Nhiều yếu tố có thể gây ra mụn trứng cá ở phụ nữ:

Hormone thay đổi trong tuổi dậy thì. Ở tuổi dậy thì, bạn gái có sự gia tăng hormone giới tính gọi là androgen. Sự gia tăng này làm cho các tuyến trở nên lớn hơn và làm cho bã nhờn nhiều hơn.

Hormone thay đổi ở người trưởng thành. Chu kỳ kinh nguyệt là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây ra mụn trứng cá . Mụn thương tổn có xu hướng hình thành một vài ngày trước khi chu kỳ bắt đầu và biến mất sau khi chu kỳ kết thúc. Sự thay đổi nội tiết tố khác, chẳng hạn như mang thai và thời kỳ mãn kinh, cải thiện mụn trứng cá ở một số phụ nữ. Nhưng một vài phụ nữ lại có mụn trứng cá trầm trọng hơn trong những thời gian này. Ngừng sử dụng thuốc tránh thai cũng có thể đóng vai trò tốt.

* Các loại thuốc. Một số loại thuốc, chẳng hạn như những loại sử dụng để điều trị bệnh động kinh và một số dạng trầm cảm.

* Trang điểm.

* Áp lực hay ma sát trên da. Ma sát gây ra bởi mũ bảo hiểm xe đạp hoặc ba lô có thể làm cho mụn trứng cá nặng hơn.

* Tiền sử gia đình. Nếu những người khác trong gia đình của bạn có mụn trứng cá, thì khả năng bạn bị mụn trứng cá sẽ lớn hơn.

Birth Control and Acne

For women who break out mainly around their menstrual cycle, some birth control pills can help. Research shows that these pills can clear acne by slowing down overactive oil glands in the skin. Sometimes, birth control pills are used along with a drug called spironolactone to treat acne in adult females. This medication lowers levels of the hormone androgen in the body. Androgen stimulates the skin’s oil glands. Side effects of this drug include irregular menstruation, breast tenderness, headache and fatigue. Spironolactone is not appropriate therapy for all patients.

Thuốc tránh thai và Mụn.

Đối với những phụ nữ nổi mụn chủ yếu quanh thời kỳ kinh nguyệt của họ, thì một số thuốc tránh thai có thể giúp ích. Nghiên cứu cho thấy rằng những thuốc tránh thai này có thể loại bỏ mụn trứng cá bằng cách làm chậm lại các tuyến bã nhờn ở da hoạt động quá mức. Đôi khi, thuốc tránh thai được sử dụng cùng với một loại thuốc tên là spironolactone để điều trị mụn trứng cá ở phụ nữ trưởng thành. Thuốc này làm giảm nồng độ của hormone androgen trong cơ thể. Androgen kích thích tuyến dầu của da. Tác dụng phụ của thuốc này bao gồm kinh nguyệt không đều, đau vú, đau đầu và mệt mỏi. Spironolactone không thích hợp để điều trị cho tất cả bệnh nhân.

Translated by Phan vũ Cao Quang- Group 3 - Class Y2D

phcaoquang@yahoo.com.vn

Dịch giả: Phan vũ Cao Quang - Nhóm 3 - Lớp Y2D

phcaoquang@yahoo.com.vn




Acne 1 – Mụn trứng cá 1



Acne 1

Mụn trứng cá 1

Acne vulgaris (commonly called acne) is a common skin condition, caused by changes in pilosebaceous units, skin structures consisting of a hair follicle and its associated sebaceous gland, via androgen stimulation. It is characterized by noninflammatory follicular papules or comedones and by inflammatory papules, pustules, and nodules in its more severe forms. Acne vulgaris affects the areas of skin with the densest population of sebaceous follicles; these areas include the face, the upper part of the chest, and the back. Severe acne is inflammatory, but acne can also manifest in noninflammatory forms. Acne lesions are commonly referred to as pimples, blemishes, spots, zits, or simply acne.

Mụn vulgaris (thường được gọi là mụn trứng cá) là một tình trạng da phổ biến, gây ra bởi những thay đổi trong các đơn pilosebaceous, cấu trúc da bao gồm một nang lông và kết hợp với tuyến bã nhờn, thông qua sự kích thích nội tiết tố androgen. Nó được đặc trưng bởi mụn nang không viêm hoặc mụn đầu đen và bởi mụn viêm, mụn mủ, và các nốt sần (nhân giáp) là dạng trầm trọng hơn của nó. Mụn vulgaris ảnh hưởng đến các vùng da có các nang bã nhờn với số lượng dày đặc nhất, các khu vực này bao gồm mặt, phần trên của ngực, và lưng. Mụn trứng cá nghiêm trọng gây viêm, nhưng mụn trứng cá cũng có thể biểu hiện bằng các hình thức không viêm. Mụn trứng cá là các thương tổn thường được gọi tên là mụn nhọt, khuyết điểm da, mụn điểm, mụn, hoặc đơn giản là mụn trứng cá.

Acne is most common during adolescence, affecting more than 89% of teenagers, and frequently continues into adulthood. The cause in adolescence is generally an increase in male sex hormones, which people of both genders accrue during puberty. For most people, acne diminishes over time and tends to disappear - or at the very least decrease - after one reaches one's early twenties. There is, however, no way to predict how long it will take to disappear entirely, and some individuals will carry this condition well into their thirties, forties and beyond.

Mụn phổ biến nhất trong thời thanh niên, ảnh hưởng đến hơn 89% thanh thiếu niên, và tiếp tục xảy ra vào tuổi trưởng thành. Nguyên nhân ở tuổi vị thành niên thong thường là do sự gia tăng kích thích tố sinh dục nam, trong đó cả hai giới đều tích luỹ trong tuổi dậy thì. Đối với hầu hết mọi người, mụn trứng cá giảm theo thời gian và có xu hướng biến mất - hoặc ít nhất là giảm bớt - sau khi đến hai mươi tuổi. Tuy nhiên không có cách nào để dự đoán bao lâu nó sẽ biến mất hoàn toàn, và một số cá nhân chịu đựng tình trạng này đến tuổi ba mươi, bốn mươi và xa hơn nữa.

The face and upper neck are the most commonly affected, but the chest, back and shoulders may have acne as well. The upper arms can also have acne, but lesions found there are often keratosis pilaris, not acne. Typical acne lesions are comedones, inflammatory papules, pustules and nodules. Some of the large nodules were previously called "cysts" and the term nodulocystic has been used to describe severe cases of inflammatory acne.

Mặt và cổ trên là thường bị mắc nhiều nhất, nhưng ngực, lưng và vai cũng có thể có mụn trứng cá. Phía trên cánh tay cũng có thể có mụn trứng cá, nhưng các thương tổn tìm thấy ở đó thường là sừng pilaris (bệnh da gà), mà không phải mụn trứng cá. Mụn trứng cá điển hình là mụn đầu đen, mụn viêm, mụn mủ và các nốt sần. Một số các nốt sần lớn trước đây được gọi là "u nang" và thuật ngữ nodulocystic (mụn bọc) đã được sử dụng để mô tả trường hợp nghiêm trọng của mụn viêm.

Aside from scarring, its main effects are psychological, such as reduced self-esteem and, according to at least one study, depression or suicide. Acne usually appears during adolescence, when people already tend to be most socially insecure. Early and aggressive treatment is therefore advocated by some to lessen the overall impact to individuals.

Ngoài sẹo ra, các tác động chính của nó là tâm lý, chẳng hạn như giảm tự tin, và, có ít nhất một nghiên cứu cho rằng có trầm cảm hoặc tự sát. Mụn trứng cá thường xuất hiện trong thời vị thành niên, khi người ta hầu hết đã có xu hướng thiếu yên tâm trong tiếp xúc xã hội. Do đó, điều trị sớm và tích cực được tán thành bởi một số người để làm giảm bớt tác động tổng thể cho các cá nhân.

Though it's often portrayed as a scourge of the teen years, acne can affect people of all ages. According to the National Institutes of Health (NIH), about 80 percent of people between the ages of 11 and 30 have outbreaks of the skin disorder at some point. "Many see their acne go away by the time they reach their 30s," says Jane Liedtka, a medical officer at the Food and Drug Administration's (FDA) Center for Drug Evaluation and Research (CDER). "But for some, acne persists into their 40s and 50s.”

Mặc dù nó thường được mô tả như là một tai họa của những năm thiếu niên, mụn trứng cá vẫn có thể ảnh hưởng đến mọi người thuộc mọi lứa tuổi. Theo Viện Y tế Quốc gia (NIH), khoảng 80 phần trăm số người trong độ tuổi từ 11 đến 30 có sự bùng phát của các rối loạn da tại một số thời điểm. "Nhiều người nhận thấy mụn trứng cá của họ biến mất theo thời gian khi họ đạt độ tuổi 30", một nhân viên y tế tại Trung tâm Nghiên cứu và đánh giá thuốc (CDER) của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), ông Jane Liedtka phát biểu. "Nhưng đối với một số người, mụn trứng cá vẫn tiếp diễn ở tuổi 40 và 50 của họ."

Translated by Phan Vũ Cao Quang - Nhóm 3 - Y2Dphcaoquang@yahoo.com.vn

Dịch giả: Phan Vũ Cao Quang - Nhóm 3 - Y2Dphcaoquang@yahoo.com.vn

The Ancient Secrets of Japanese Skincare Revealed – Bật mí bí mật chăm sóc da của Nhật Bản


The Ancient Secrets of Japanese Skincare Revealed – Bật mí bí mật chăm sóc da của Nhật Bản

The Ancient Secrets of Japanese Skincare Revealed

Bật mí bí mật chăm sóc da của người Nhật Bản

Today, the tittle of my video is The Ancient Secrets of Japanese Skincare Revealed. And for years Japanese skincare and general health secrets are highly sought after. In fact, the life expectancy for Japanese citizens is an average of 81.25 years, (women's expectancy is 86, and men 79) that's actually one of the highest in the world.

Hôm nay, video nhỏ này của tôi sẽ nói về các bí mật cổ đại của người Nhật Bản trong việc bày tỏ cách chăm sóc da. Và sau nhiều năm, việc chăm sóc da của người Nhật Bản cũng như là các bí mật về sức khẻ nói chung đều đã được đánh giá rất cao khi tìm ra. Thực tế, tuổi thọ trung bình của người Nhật Bản là 81,25 năm, (của phụ nữ là 86 tuổi, và đàn ông là 79 tuổi) và đó thực sự là một trong những nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.

Nearly 20% of the population of Japan is over the age of 65. Worldwide, the average lifespan is 66. So you can tell Japan has substantially higher expectancy. But according to the World Health Organization reports, Japanese people can expect to live 75 or more years, free of disease and disability.

Gần 20% dân số của Nhật Bản là trên 65 tuổi. Trên thế giới, tuổi thọ trung bình là 66 tuổi. Vì vậy, ta có thể thấy tuổi thọ trung bình của nước Nhật Bản cao hơn đáng kể so với thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, người dân Nhật Bản có thể sống đến 75 tuổi hay cao hơn nữa mà không có bệnh tật và ốm yếu.

So, what are they doing right? Diet is obviously one important factor. They have the lowest rate of obesity of any industrialized country. Only 3% are obese, as opposed to 32% and growing of all Americans. Some of their preferred foods are also Japanese skincare secrets.

Vậy, họ đã làm như thế nào để dược như vậy? Chế độ ăn uống rõ ràng là một yếu tố quan trọng. Trong các nước công nghiệp thì Nhật Bản là nước có tỉ lệ người mắc bệnh béo phì thấp nhất. Chỉ có 3% dân số mắc bệnh béo phì, so với nước Mỹ là 32% và ngày càng gia tăng. Một số loại thức ăn ưa thích của người Nhật Bản cũng có thể có khả năng chăm sóc da.

Referred to as a "beauty preserver", Wakame kelp is actually one of those foods. It's a kind of seaweed that is cultivated in Japan, Korea and now France.

Được gọi là một "người duy trì vẻ đẹp”, tảo bẹ Wakame thực sự là một trong những loại thực phẩm tốt. Đó là một loại rong biển được trồng ở Nhật Bản, Hàn Quốc và bây giờ còn có mặt ở Pháp.

There are studies at Hokkaido University (and) that have shown that eating the kelp helps burn fatty tissue. In traditional Oriental medicine, it was used to purify the blood and strengthen the intestines, as well as the skin and hair.

Đã có nhiều nghiên cứu tại trường Đại học Hokkaido chỉ ra rằng ăn tảo bẹ giúp phân hủy các mô mỡ. Trong y học phương Đông truyền thống, nó được sử dụng để lọc máu và làm đường ruột khỏe lên, cũng như da và tóc.

Wakame is one of the best vegetarian sources of calcium. It is also very rich in sodium, iron, potassium and the B vitamins. The B vitamins naturally reduce inflammation in the skin. Now, while all of these things are great, the most important role that this Japanese skincare formula plays has to do with its anti-aging activity.

Tảo bẹ Wakame là một trong những nguồn thức ăn chay tốt nhất mà rất giàu canxi. Nó cũng rất giàu natri, sắt, kali và các vitamin B. Các vitamin B tự nhiên nếu giảm sẽ gây viêm da. Bây giờ, trong khi tất cả những điều này là rất quan trọng thì vai trò quan trọng nhất mà công thức chăm sóc da của người Nhật Bản mang lại là chống lão hóa

See, as we get older, the levels of hyaluronic acid in our skin becomes lower and lower. You'll see many products on the market that contain hyaluronic acid, a protein, but no matter how much you try to supplement, levels continue to fall with the age.

Hãy xem, khi chúng ta lớn tuổi, mức độ acid hyaluronic trong da chúng ta trở nên thấp hơn. Bạn sẽ thấy nhiều sản phẩm trên thị trường có chứa axit hyaluronic, protein, nhưng bất kể có bao nhiêu thứ bạn thử để bổ sung thì mức độ đó vẫn tiếp tục giảm theo độ tuổi.

The cause is an enzyme called hyaluronaise. The enzyme breaks down the protein. A loss of hyaluronic acid leads to loss of elasticity, smoothness and tone. It also causes dark circles, beneath and around the eyes.

Nguyên nhân là do một enzyme có tên là hyaluronaise. Đây là một trong những enzym phân hủy protein. Sự giảm axit hyaluronic dẫn đến mất độ trơn, độ đàn hồi và rắn chắc. Nó cũng gây ra những vòng tròn tối, bên dưới và xung quanh mắt.

Now the good news is Wakame has been shown to inhibit the activity of the enzyme, so the protein levels once again begin to rise, eventually reaching those of a much younger person. Topically applied creams that contain this Japanese skincare solution have been proven clinically to work effectively.

Giờ đây, tin tốt cho thấy là tảo bẹ Wakame có thể ức chế hoạt động của enzyme hyaluronaise, vì thế các mức protein một lần nữa lại bắt đầu tăng lên, cuối cùng đạt được mức độ như của một người trẻ hơn nhiều. Các loại kem có chứa giải pháp chăm sóc da này của người Nhật Bản đã được áp dụng và đã được chứng minh về phương diện lâm sàng là có hiệu quả.

Some skin care companies don't stop with Wakame and that is really where the power comes in. They use protein peptides, coenzyme Q10, vitamin B5, vitamin E and several other nourishing ingredients to help you look younger and actually stay younger looking. It's like a little fountain of youth in a bottle.

Một số công ty chăm sóc da không dừng lại với tảo bẹ Wakame và thực sự đó là nơi mà sức mạnh bắt đầu. Họ sử dụng peptide protein, coenzyme Q10, vitamin B5, vitamin E và một số thành phần bổ dưỡng khác để giúp bạn trông trẻ hơn và thực sự đây là điều mà các bạn trẻ đang tìm kiếm. Nó giống như suối nguồn tươi trẻ của tuổi thanh xuân đựng trong một chiếc lọ.

Now the interesting is these creams are heavily advertised. Cosmetic companies don't do most of the advertising and they don't have the ingredients in them. Many of them, many of these companies are still using collagen in their products which has been shown for years not to really work effectively.

Hiện nay, điều thú vị là những loại kem này được quảng cáo rất nhiều. Các công ty mỹ phẩm không làm hết tất cả các quảng cáo và các loại kem đó cũng không có hết các thành phần ở trong chúng. Nhiều loại kem của nhiều công ty này vẫn còn sử dụng collagen trong các sản phẩm của họ. Các sản phẩm này đã cho thấy rằng có tác dụng không thực sự hiệu quả trong nhiều năm qua.

The outermost layers of the deeper epidermis have no blood vessels. So it's really hard to get nourishment into the skin. There's one technology that is called nanotechnology. Actually, it's one of technologies that breakdown the cream so that it can penetrate into your skin.

Các lớp ngoài cùng của biểu bì sâu hơn không có mạch máu. Vì vậy, thực sự khó để đưa được chất dinh dưỡng đến da. Có một công nghệ được gọi là công nghệ nano. Trên thực tế, nó là một trong những công nghệ phân nhỏ kem để chúng có thể thấm vào vào da của bạn.

So I hope you found this helpful. I guess the gist of it is that creamy kelp is truly an amazing green a green ingredient for nursing your skin and improve the look of it. So I encourage you to click the link up in the top right hand corner and you commit to my site and see a whole bunch of information on anti-aging skin care, preventing freckles, reducing wrinkles and just general beauty tips for having radiant, glowing skin. Thanks.

Vì vậy, tôi hy vọng bạn đã tìm thấy video này hữu ích. Tôi nghĩ được ý tưởng chính là tảo bẹ thực sự là một loại cây tuyệt vời có các thành phần giúp dưỡng da và cải thiện vẻ đẹp làn da. Vì vậy, tôi khuyến khích bạn nên nhấp vào liên kết ở góc trên cùng bên phải và bạn có thể tham gia đến trang web của tôi và nhìn thấy toàn bộ các thông tin về chống lão hóa, chăm sóc da, ngăn ngừa tàn nhang, giảm nếp nhăn và các bí quyết làm đẹp để có làn da rạng rỡ và tươi tắn. Xin cảm ơn!

Translated by Lê Minh Tình

Group:4, Class Y2B (doctortinh@gmail.com)

Người dịch: Lê Minh Tình

Nhóm:4, lớp Y2B (doctortinh@gmail.com)

Thursday, March 3, 2011

New research provides insight into link between sunlight, vitamin D3, MS risk and severity-Nghiên cứu mới về bệnh đa xơ cứng


New research provides insight into link between sunlight, vitamin D3, MS risk and severity

3. March 2011 05:09

Nghiên cứu mới giúp hiểu rõ mối liên hệ giữa ánh sáng mặt trời, vitamin D, nguy cơ đa xơ cứng và mức độ trầm trọng.

Ngày 3 tháng 3 năm 2011. 05:09

New research into the neurodegenerative disease, Multiple Sclerosis (MS) offers new insight into the link between sunlight, vitamin D3, and MS risk and severity. The research, published in the European Journal of Immunology, studies the relationship between the sunlight-dependent vitamin D3 hormone, immune cells, and the risk and severity of autoimmunity in an experimental model.

Nghiên cứu mới về căn bệnh thoái hóa thần kinh, bệnh đa xơ cứng (bệnh MS) cung cấp hiểu biết mới về sự liên hệ giữa ánh sáng mặt trời, vitamin D3 với nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của bệnh MS. Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Miễn dịch học Châu Âu đề cập đến mối liên hệ giữa hóc-môn vitamin D3 phụ thuộc ánh sáng mặt trời, các tế bào miễn dịch, với nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của tự miễn dịch trong một mô hình thực nghiệm.

Expensive first-line treatments for MS modestly reduce the frequency of autoimmune attacks but do not slow disease progression, when the patient's immune system operates against the body's own tissues. More expensive second-line treatments slow disease progression but carry high risks.

Điều trị lựa chọn đầu tiên mà vốn tốn kém đối với bệnh MS chỉ làm giảm tần suất các đợt tấn công miễn dịch nhưng không làm chậm sự tiến triển của bệnh, khi hệ miễn dịch của bệnh nhân hoạt động chống lại chính các mô của cơ thể. Điều trị chỉ định thứ hai tốn kém hơn thì làm chậm lại tiến triển của bệnh nhưng lại có nguy cơ cao.

The origin of MS attacks remains unknown. However, new research indicates that a patient's vitamin D3 supply (derived mainly from sunlight exposure) is strongly related to disease activity; the fewest attacks and slowest progression occurred in patients with the highest vitamin D3 supplies. This research suggests that increasing vitamin D3 supplies might be a safe, effective and inexpensive therapy for MS.

Nguyên nhân gây ra bệnh MS vẫn chưa rõ. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới chỉ ra rằng sự cung cấp vitamin D3 cho bệnh nhân (chủ yếu là nhờ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời) liên quan mật thiết đến hoạt động của bệnh, bệnh ít có các đợt tấn công nhất, và có tiến triển chậm nhất ở những bệnh nhân được cung cấp vitamin D3 nhiều nhất. Nghiên cứu này gợi ý rằng tăng cường cung cấp vitamin D3 có thể là một liệu pháp an toàn, hiệu quả và không đắt tiền trong điều trị bệnh MS.

"MS is a genetically and immunologically complex disease," said lead author Dr. Colleen Hayes from the University of Wisconsin-Madison. "It is currently incurable, but environmental factors, such as vitamin D3, may hold the key to preventing MS and reducing the impact of the disease in MS patients."

"MS là bệnh phức tạp về mặt di truyền và tự miễn," người đứng đầu nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Colleen Hayes thuộc Đại học Wisconsin-Madison cho biết: "Bệnh này hiện nay không chữa khỏi được, nhưng những yếu tố môi trường, chẳng hạn như vitamin D3, có thể đóng vai trò quan trọng trong ngăn ngừa bệnh MS và giảm thiểu tác động của bệnh ở những bệnh nhân bị bệnh MS."

Dr Hayes' team originally suggested that the sunlight dependent hormone D3 (1,25-dihydroxyvitamin D3) may restrain the autoimmune attacks that cause MS based on the strong negative correlation between sunlight exposure and MS prevalence, the need for UV light to catalyze vitamin D3 formation, and the presence of receptors for the vitamin D3 hormone in T lymphocytes. They proposed that the vitamin D3 hormone might act on these receptors to control the T lymphocytes responsible for autoimmunity.

Nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Hayes ngay từ đầu cho rằng hóc-môn D3 (1,25-dihydroxyvitamin D3) phụ thuộc ánh sáng mặt trời có thể hạn chế các cơn tấn công tự miễn gây ra bệnh MS dựa trên mối tương quan tiêu cực rõ rệt giữa tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và tỷ lệ lưu hành của bệnh MS, nhu cầu về tia UV để xúc tác hình thành vitamin D3, và sự hiện diện của các thụ thể cho hóc-môn vitamin D3 trong tế bào lympho T. Họ cho rằng hóc-môn vitamin D3 có thể hoạt động trên những thụ thể này để kiểm soát tế bào lympho T mà vốn là nguyên nhân của tự miễn.

"Our new study investigated the protective effects of the vitamin D3 hormone in an experimental model of MS when the hormone receptor was either present or absent in T lymphocytes. We found that the hormone's protective effects were only evident when these receptors were present in autoimmune T lymphocytes. Our new data suggest that an action of the vitamin D3 hormone directly on pathogenic T cells leads to elimination of these cells," said Hayes. Actions of the vitamin D3 hormone on other immune cells have not been ruled out, but such actions were not sufficient for protection from autoimmunity if the hormone could not act on the pathogenic T cells.

Bà Hayes nói: "Nghiên cứu mới của chúng tôi điều tra về các tác dụng bảo vệ của hóc-môn vitamin D3 trong một mô hình thực nghiệm bệnh MS khi các thụ thể hóc-môn hiện diện hay vắng mặt trong các tế bào lympho T. Chúng tôi phát hiện thấy tác dụng bảo vệ của hóc-môn chỉ rõ rệt khi các thụ thể có mặt trong tế bào lympho T tự miễn. Dữ liệu mới của chúng tôi gợi ý rằng một tác động của các hóc-môn vitamin D3 trực tiếp lên tế bào T gây bệnh dẫn đến việc loại bỏ những tế bào này." Hoạt động của các hóc-môn vitamin D3 trên các tế bào miễn dịch khác chưa được loại trừ, nhưng hoạt động như vậy chưa đủ để bảo vệ khỏi bệnh tự miễn nếu hormone không thể hoạt động trên các tế bào T gây bệnh.

This information is important because it provides a plausible biological explanation for the negative correlation between UV light exposure and MS disease risk and severity," concluded Hayes. "My research group and others around the world are building the scientific knowledge base needed to devise vitamin D-based strategies to prevent and treat MS" she adds. "There are many uncertainties and unanswered questions. However, understanding how sunlight and vitamin D3 may be working at the molecular level contributes greatly to our knowledge base and brings us closer to the goal of preventing this debilitating disease."

“Thông tin này rất quan trọng vì nó cung cấp một các giải thích sinh học hợp lý đối với các mối tương quan tiêu cực giữa sự tiếp xúc với ánh sáng tia cực tím với nguy cơ mắc phải và mức độ nghiêm trọng của bệnh đa xơ cứng," bà Hayes kết luận. "Nhóm nghiên cứu của tôi và những nhóm khác trên thế giới đang đề ra các cơ sở kiến thức khoa học cần thiết cho việc lấy vitamin D làm giải pháp để ngăn ngừa và điều trị bệnh MS", Bà còn cho biết thêm.

"Vẫn còn nhiều điều chưa chắc chắn và những câu hỏi chưa được trả lời." Tuy nhiên, sự hiểu biết về việc làm thế nào ánh sáng mặt trời và vitamin D3 có thể hoạt động ở cấp độ phân tử đóng góp rất lớn vào cơ sở kiến thức của chúng ta và mang chúng ta đến gần mục tiêu ngăn ngừa căn bệnh suy nhược này. "

Translated by Đặng Bảo Ngọc-class Y2B group

e-mail: anhhunglangquen2000@gmail.com

Người dịch: Đào Đặng Bảo Ngọc-lớp Y2B

e-mail: anhhunglangquen2000@gmail.com

Wednesday, March 2, 2011

Pot Use in Youth Ups Risk of Psychotic Symptoms in Later Life Sử dụng cần sa lúc trẻ tăng nguy cơ triệu chứng tâm thần lúc lớn tuổi


Pot Use in Youth Ups Risk of Psychotic Symptoms in Later Life

Sử dụng cần sa lúc trẻ tăng nguy cơ triệu chứng tâm thần lúc lớn tuổi


Longer the use, the higher the chance of long-lasting symptoms, study finds

By Amanda Gardner

HealthDay Reporter

Nghiên cứu tìm thấy, sử dụng càng lâu, càng tăng khả năng của các triệu chứng trường diễn.

Theo Amanda Gardner

Phóng viên Health Day

TUESDAY, March 1 (HealthDay News) -- Smoking marijuana as a teenager or young adult raises your risk of having psychotic symptoms later in life, a new Dutch study shows.

Thứ ba, ngày 1 tháng 3 (bản tin Health Day) – Một nghiên cứu mới của Hà Lan cho thấy, hút cần sa lúc thiếu niên hoặc mới trưởng thành làm tăng nguy cơ các triệu chứng tâm thần của bạn lúc lớn tuổi.

"This cements much more firmly the reality that marijuana use in adolescence is a risk factor, along with the other genetic, environmental and socioeconomic risk factors, for developing psychosis," said Dr. Kathryn Kotrla, associate dean and professor of psychiatry and behavioral sciences at the Texas A&M Health Science Center, College of Medicine in Round Rock.

“Điều này khẳng định một cách chắc chắn hơn thực tế là sử dụng cần sa ở tuổi vị thành niên là một yếu tố nguy cơ, cùng với các yếu tố nguy cơ khác cho sự phát triển bệnh tâm thần như di truyền, môi trường sống và kinh tế xã hội”. Tiến sĩ Kathryn Kotrla, hiệu phó, giáo sư Tâm thần học và Khoa học hành vi của Trung tâm khoa học Sức khỏe Texas A&M Đại học Y ở Round Rock phát biểu.

The findings, reported in the March 1 issue of the BMJ, come just weeks after Australian researchers reported on a connection between smoking marijuana and an onset of psychosis 2.7 years earlier than those who hadn't used the drug.

Những phát hiện, được công bố trong số ra ngày 1 tháng 3 của tạp chí Y học Anh BMJ chỉ vài tuần sau khi những nhà nghiên cứu người Úc tuyên bố chính thức mối liên hệ giữa việc hút cần sa và sự khởi phát bệnh tâm thần sớm hơn 2.7 năm so với những người không sử dụng ma túy.

This latest study, led by Jim van Os from Maastricht University, seems to go one step further by showing that marijuana use actually precedes the onset of symptoms, suggesting a possible cause-and-effect relationship.

Some 16 million people in the United States alone use marijuana regularly, and most started smoking in their teens. It is the third most widely used addictive substance after tobacco and alcohol.

Nghiên cứu gần đây nhất, do Jim van Os, Đại học Maastricht chủ trì, dường như tiếp tục đi xa hơn bằng việc chỉ ra rằng sử dụng cần sa thực sự dẫn đến sự khởi phát các triệu chứng, gợi ra một mối quan hệ nhân quả có thể xảy ra.

Chỉ riêng ở Mỹ khoảng 16 triệu người sử dụng cần sa một cách thường xuyên và phần lớn bắt đầu hút vào độ tuổi thanh thiếu niên. Cần sa đứng thứ ba trong các chất gây nghiện được sử dụng rộng rãi nhất, sau thuốc lá và rượu.

The new findings are based on data on about 2,000 individuals in Germany who were 14 to 24 years old when they enrolled in the study, and who were then followed for 10 years.

Những phát hiện mới được dựa trên dữ liệu về khoảng 2000 cá nhân ở Đức, ở độ tuổi từ 14 tới 24 khi họ tham gia vào nghiên cứu này và tiếp tục 10 năm sau đó.

None of the participants had ever tried marijuana before entering the study, nor had any experienced psychotic symptoms.

Không ai trong những người tham gia từng thử cần sa trước khi đi vào cuộc nghiên cứu cũng như chưa từng trải qua bất kì triệu chứng tâm thần nào.

The researchers found that those who started smoking pot during the 10 years of the trial had double the risk of developing psychotic symptoms such as hallucinations, even after adjusting for factors such as age, sex, socioeconomic status, other drug use and other psychiatric diagnoses.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng những người hút cần sa trong 10 năm của cuộc thử nghiệm có gấp đôi nguy cơ trong việc phát triển các triệu chứng tâm thần như các ảo giác, thậm chí sau khi đã điều chỉnh các yếu tố như tuổi, giới tính, tình trạng kinh tế-xã hội, sử dụng loại ma túy khác và các chẩn đoán tâm thần khác.

And the more persistent the use, the more persistent the symptoms.

The researchers did caution about several possible limitations, however, including self-reported data and the lack of direct adjustment for a family history of psychosis.

Và sử dụng càng lâu, triệu chứng càng dai dẳng.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã lưu ý về một số hạn chế có thể có, bao gồm cả dữ liệu tự báo cáo và thiếu điều chỉnh trực tiếp đối với tiền sử gia đình về tâm thần.

Michael Rice, a professor and psychiatric nurse practitioner at the University of Nebraska Medical Center College of Nursing in Omaha, noted that the participants were not actually diagnosed with a psychotic disorder, only symptoms.

Michael Rice, giáo sư và thầy thuốc thực hành điều dưỡng tâm thần tại Trung tâm y tế Đại học Điều dưỡng Nebbraska ở Omaha, nhận thấy rằng, thực sự không chẩn đoán được một rối loạn tâm thần nào ở những người tham gia, mà chỉ có các triệu chứng.

"This is not schizophrenia, but psychotic symptoms [but] it does determine that this is potent stuff that has the effect of eventually creating hallucinatory or psychotic experiences," he said.

“Đây không phải là tâm thần phân liệt, mà là những triệu chứng tâm thần nhưng nó vẫn xác định rằng đây là chất có tác dụng mạnh, mà rốt cuộc có tác dụng tạo ra những trải nghiệm ảo giác hoặc tâm thần,” ông nói.

But, Rice added, "it's still psychosis and it's totally preventable."

Dr. Kathryn Kotrla, associate dean and professor of psychiatry and behavioral sciences at Texas A&M Health Science Center College of Medicine in Round Rock, likened this to a "perfect storm," given that people are more likely to use pot when they're young, which is precisely when their brains are most vulnerable.

Tuy nhiên, Rice nói thêm, “Đó vẫn là bệnh tâm thần và hoàn toàn có thể ngăn ngừa được.”

Tiến sĩ Kathryn Kotrla, hiệu phó, giáo sư Tâm thần học và Khoa học hành vi của Trung tâm khoa học y tế A&M tại Texas thuộc Đại học Y ở Round Rock, so sánh điều này như “một cơn bão hoàn hảo”, cho thấy rằng, nhiều khả năng người ta sử dụng cần sa khi họ còn trẻ, chính xác là khi não họ dễ bị tổn thương nhất.

"We are identifying so many risk factors, the genetics, the child abuse, the complexity of an urban environment, when this adds up you can move towards thinking about particularly vulnerable individuals and thinking about targeted interventions," she said. "If you have a family history of mental illness, using marijuana is not such a great idea."

“Chúng ta đang xác định khá nhiều yếu tố nguy cơ, di truyền, sự ngược đãi trẻ em, sự phức tạp của môi trường đô thị, gộp tất cả những điều này lại, bạn có thể chuyển hướng suy nghĩ về các cá nhân dễ bị tổn thương một cách đặc biệt và xem xét các mục tiêu cần can thiệp,” bà nói. “Nếu gia đình bạn có tiền sử tâm thần thì sử dụng ma túy không phải là một ý kiến hay.”

Translated by Huynh Ngoc Thao Vy classY2B group 4

e-mail:huynhngocthaovy@yahoo.com

Dịch giả: Huỳnh Ngọc Thảo Vy LớpY2B, nhóm 4

e-mail:huynhngocthaovy@yahoo.co

Very good translation

Bài dịch rất tốt

Q