MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, January 20, 2013

Cẩm nang huấn luyện Ngũ Mao Đảng - 五毛初级培训教材





 五毛初级培训教材
The Fifty Cents Party Training Manual

Cẩm nang huấn luyện Ngũ Mao Đảng (Ngũ mao sơ cấp bồi huấn giáo tài)





This post has been making the rounds on the intertubes, the version we're translating comes from Anti-CNN. It's a satirical guide for prospective Fifty Cents Party members on the many methods they can use to respond to criticism:

Bài đăng này đã được lưu hành nội bộ, phiên bản chúng tôi đang dịch đến từ Anti-CNN. Đó là một hướng dẫn phản công cho thành viên Ngũ Mao Đảng về nhiều phương pháp họ thể sử dụng để chống lại những lời chỉ trích:
A这鸡蛋真难吃。
B:隔壁家那鸭蛋更难吃,你咋不说呢?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The duck egg next door is even worse tasting, how could you not mention this?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cái trứng vịt ở tiệm kế bên còn dở hơn, sao mày không chê?

A这鸡蛋真难吃。
B请拿出建设性的意见来,有本事你下个好吃的蛋来。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Please make a constructive comment, if you've got talent then lay a better tasting egg yourself.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Làm ơn còm sao cho có tính xây dựng, nếu giỏi thì mày tự đẻ trứng luôn đi.

A这鸡蛋真难吃。
B:下蛋的是一只勤劳勇敢善良正直的鸡。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This egg was laid by an industrious, courageous, good, kind, honest, and upright chicken!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng này do một đồng chí hảo kê cần cù, dũng cảm, lương thiện và chính trực đẻ đó!

A这鸡蛋真难吃。
B:比前年的蛋已经进步很多了。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: It's way better than last year's egg.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Vẫn còn ngon hơn nhiều so với trứng năm ngoái.

A这鸡蛋真难吃。
B:你就是吃这鸡蛋长大的,你有什么权力说这蛋不好吃?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You grew up [by] eating this egg, what right do you have to say it tastes bad?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày lớn lên nhờ ăn trứng này, mày có quyền gì mà chê trứng dở?


A这鸡蛋真难吃。
B:你这么说是什么居心什么目的?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: What intentions are you harboring to make you say this?


Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày có ý đồ gì mà chê bai vậy chớ?


A这鸡蛋真难吃。
B:自己家鸡下的蛋都说不好吃,你还是不是中国人

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You criticize the eggs that come from your own chicken, are you or are you not Chinese?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đến cả trứng do chính gà của mày đẻ mà mày còn chê, mày có phải là người Trung Quốc không dzậy?

A这鸡蛋真难吃。
Btmd,我怀疑你是轮子

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Fuck, I suspect you are a “wheel” [liar, or probably more likely FLG member?].

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mịa, tao nghi mày là phường Pháp Luân Công nói điêu. [i]

A这鸡蛋真难吃。
B:光抱怨有什么用,有这个时间还不如努力去赚钱

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Just complaining is useless, if you have extra time you'd be better off working hard to earn money.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Chê ỏng chê eo chỉ vô ích thôi, nếu mày dư thời gian, sao không chăm chỉ làm ăn kiếm tiền đi chớ.

A这鸡蛋真难吃。
B:台湾网Tgun这里不欢迎你

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Taiwanese netizen, fuck off, we don't welcome you here.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cái thằng cư dân mạng Đài Loan, biến mẹ nó đi cho ông nhờ, chẳng ai mời mày vào đây.


A这鸡蛋真难吃。
B:幼右心理阴暗,连鸡蛋不好吃也要发牢骚

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Aw, Youyou's mentality is so gloomy, even has to grouse about bad-tasing eggs!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Ôi dào, tâm lý ấu trĩ sao mà quá bi quan, đến phải than vãn về trứng dở.
A这鸡蛋真难吃。
B该鸡蛋被一小撮不会下蛋的母鸡煽动导致变臭

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The egg is bad because the hen who laid this egg was incited by some [bad] hens who can't lay eggs.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng dở vì con gà đẻ trứng này bị một số con gà [thuộc phần tử xấu] không biết đẻ trứng xúi giục.
A这鸡蛋真难吃。
B该用户发言已被管理员屏蔽

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This comment has already been screened by the moderator.


Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Còm này đã bị quản lý diễn đàn sàng lọc.
A.这鸡蛋真难吃。
B.中国的鸡蛋就难吃,美国的鸡蛋就好吃?卖国贼!
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: So China's eggs all taste bad, and America's eggs all taste good? Traitor!


Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Vậy trứng Trung Quốc toàn dở, còn trứng Mỹ toàn ngon à? Đồ phản quốc!

A.这鸡蛋真难吃。
B.台湾的鸡蛋好吃,你去呀,看不核平了你!
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Taiwan's eggs are good, go there why don't you, see if you don't get leveled by a nuclear bomb*

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng Đài Loan ngon há, sao không qua bển ở luôn đi, để coi mày có bị bom nguyên tử san bằng không.
A.这鸡蛋真难吃。
B.中国的鸡蛋已经可以打败美国的鸭蛋,自豪!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: China's eggs can already defeat America's eggs, be proud!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng Trung Quốc đã đánh bại trứng Mỹ rồi, phải biết tự hào đi chớ!


A.这鸡蛋真难吃。
B.祖国的鸡生的蛋,再难吃我也不嫌弃!
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: I won't avoid eggs from the motherland no matter how bad they are!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Tui sẽ không tránh né trứng của tổ quốc bất luận dở cỡ nào đi nữa!
A.这鸡蛋真难吃。
B.外国主子给你多少钱,你在这儿胡说?
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You dare to say the eggs from our chicken farm taste bad? What position are you speaking from?


Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng từ trại gà của chúng ta mà mày dám chê dở à? Mày lấy tư cách gì mà nói dzậy?
A.这鸡蛋真难吃。
B.你竟敢说我们养鸡场的鸡蛋难吃?你站在谁的立场上说话?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Carrying a bowl to eat eggs, then putting down the chopsticks to curse, you don't know what's good for you, ungrateful, shameless and brazen!


Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cầm chén ăn trứng xong buông đũa rồi chửi, mày chẳng biết cái gì đáng quý đáng trọng, đồ vô ơn, vô liêm sỉ, trơ trẽn!

A.这鸡蛋真难吃。
B.端起碗吃蛋,放下筷子骂娘,不知好歹,忘恩负义,无耻!
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Bad tasting eggs are a tiny minority, the majority of eggs are good, excellent, and stand up to testing!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng dở chỉ là thiểu số rất nhỏ, đại đa số trứng đều ngon, tuyệt hảo, và qua được kiểm định!

A.这鸡蛋真难吃。
B.难吃的鸡蛋是极少数,绝大多数鸡蛋是好的,是优秀的,是经得起考验的!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is a small group of criminals deceiving the unaware-of-the-truth masses!
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đây là một thiểu số phần tử phi pháp lường gạt quần chúng không hiểu rõ sự thật!

A.这鸡蛋真难吃。
B.这是少数不法分子在蒙蔽不明真相的群众!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is having an ulterior motive and inciting [others], what are you trying to do?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cái này đích thị là có động cơ ngầm và xúi giục [người khác], mày định làm gì dzậy?
A.这鸡蛋真难吃。
B.这是别有用心的煽动,你想干什么?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: That is a rumor, I can responsibly say that all eggs are up to quality standards!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đó là tin đồn, tôi có thể phát biểu rất trách nhiệm là tất cả trứng đều bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng!

A.这鸡蛋真难吃。
B.这是谣言,我可以负责任地说,我们的鸡蛋都是合格的!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: There is no basis to this, I hope the media can report objectively!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Nói chẳng có căn cứ gì hết, tui hy vọng báo chí có thể đưa tin khách quan!

A.这鸡蛋真难吃。
B.这是没有根据的,希望媒体能客观报道。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: I think some people's eggs aren't that great, our eggs are five times better!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Theo tớ, trứng của một số người không ngon đến thế, trứng của chúng ta ngon gấp năm lần!

A.这鸡蛋真难吃。
B.我看,有些人的鸡蛋不怎么样,我们的鸡蛋好五倍!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The correct orientation is the happiness of our chicken farm, the erroneous orientation is the misfortune of our chicken farm.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Định hướng đúng đắn là niềm hạnh phúc của trại gà chúng ta, định hướng sai lầm là nỗi bất hạnh của trại gà chúng ta.


A.这鸡蛋真难吃。
B.正确的导向是我们养鸡场之福,错误的导向是我们养鸡场之祸!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Our chicken farm is still in the early stages, we must persist [on this course] for the next twenty years without wavering!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trại gà chúng ta vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, chúng ta phải kiên trì [theo đường lối này] trong hai mươi năm sắp đến mà không dao động!


A.这鸡蛋真难吃。
B.们养鸡场处于初级阶段,必须坚持基本养鸡方法二十年不动摇!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: We want to found a chicken farm with our own special characteristics, and have our hens lay eggs with their own special characteristics.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Chúng ta muốn lập trại gà với những đặc điểm riêng của chúng ta, và để gà của mình đẻ trứng với những đặc điểm riêng của chúng.

A.这鸡蛋真难吃。
B.们要建设有自己特色的养鸡场,让母鸡下出有自己特色的蛋!

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Although the taste is a bit worse, it has benefits for our health, if you import an American egg without authorization, your digestive system and stomach, perhaps even your entire endocrine system, will collapse. –Leftist Scholar of Reason

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Dù ăn hơi dở, trứng này có lợi cho sức khỏe chúng ta, nếu anh nhập trứng Mỹ trái phép, hệ tiêu hóa và bao tử, và có lẽ toàn bộ hệ nội tiết của anh sẽ tiêu tùng. – Học giả Lý tính tả phái

A这只鸡蛋真难吃。
B虽然口感差了点,但对我们的身体是有益的,如果擅自引进一只美国蛋,我们的吸收系统和胃的承受力乃至整个内分泌,恐怕都会崩溃的。——理性左派学者。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The chicken egg tasting bad is not related to the earthquake. –Earthquake expert

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng gà dở không liên quan đến trận động đất. – Chuyên gia động đất

A这只鸡蛋真难吃。
B这只鸡蛋难吃和地震无关——地震专家。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: There are hostile foreign powers gossiping about our eggs without authorization – Liu Jianchao

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Có những thế lực thù địch nước ngoài đồn thổi trái phép về trứng của chúng ta. – Lưu Kiến Siêu (nguyên là người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, hiện là đại sứ Trung Quốc tại Philippines)


A这只鸡蛋真难吃。
B,有国外敌对势力擅自对我国鸡蛋说三道四——刘建超。


Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Chinese chickens, come on! –Patriotic youth

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Gà Trung Quốc, gắng lên! – Thanh niên Trung Quốc yêu nước

A这只鸡蛋真难吃。
B,中国,加油!——中国爱国青年。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Because of the Beijing customer willfully stirring up trouble and saying the egg is bad, we have gone to the capital twice to mediate, without result. –Shanghai police

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Vì thực khách Bắc Kinh này cố tình gây rối và chê trứng dở, chúng tôi đã lên thủ đô hai lần để thuyết phục khuyên răn, nhưng vô hiệu. – Cảnh sát Thượng Hải


A这只鸡蛋真难吃。
B鉴于北京食客无理取闹地说鸡蛋难吃,我们两次赴京说服劝解,无效。——上海警方

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is a recent rumor started by people on the internet.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đây là tin đồn thất thiệt gần đây do thiên hạ tung ra trên internet.


A这鸡蛋真难吃。
B这是近日网上有人别有用心的造谣。

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You are part of the small minority who is unaware of the truth, how could the egg taste bad?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày thuộc thiểu số nhỏ không hiểu rõ sự thật, làm sao trứng có thể dở được?


A这鸡蛋真难吃。
B:你是少数不明真相的人,怎么可能难吃呢?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The nation is prosperous and the people are strong, why aren't you just eating chicken meat?

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Nước đã giàu, dân đã mạnh, sao mày không ăn thịt gà cho tao nhờ?
A这鸡蛋真难吃。
B:国福民强,杂不换鸡肉吃?

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: No egg is perfect, so you have no right to gossip about this egg!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Không có trứng nào hoàn hảo cả, vậy mày không có quyền đồn nhảm về cái trứng này nhá!

A这鸡蛋真难吃。
B:没有一只蛋是十全十美的,所以就无权对蛋说三道四!

A这鸡蛋真难吃。
B:大清的蛋好不好吃,清朝人 民最清楚
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Whether eggs from the Qing dynasty tasted good or not, only people from the Qing dynasty know.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng đời nhà Thanh ngon hay dở thì chỉ có người đời nhà Thanh biết.
A这鸡蛋真难吃。
B:想想旧社会,穷人连饭都吃不上,每天咽糠吃野菜, 今天的幸福生活是无数先烈用生命和鲜血换来的, 你要好好珍惜啊

Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Think of the old society, poor people didn't even have rice to eat, every day eating chaff and wild herbs, today's happy life was paid for with the lives and blood of countless martyrs, you must treasure it!

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Có nhớ xã hội cũ không, người nghèo lúc đó đến gạo cũng chẳng có mà ăn, mỗi ngày đành phải ăn trấu và cây cỏ dại, cuộc sống hạnh phúc ngày nay phải trả giá bằng sinh mạng và máu của vô số liệt sĩ, mày phải biết trân trọng chứ!

A;此鸡蛋真难吃
B这是鸡下蛋的初级阶段,要吃好鸡蛋,要到高级阶段,这初级阶段是一个很漫长的过
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is the first stage of chickens laying eggs, if you want to eat good eggs you must wait until the higher stage, this early stage is a very long process.

Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình gà đẻ trứng, nếu mày muốn ăn trứng ngon, mày phải đợi đến giai đoạn cao cấp hơn, giai đoạn ban đầu này là một quá trình rất dài.


February 18, 2010
Translated into English by C. Custer

Translated from English by Phạm Vũ Lửa Hạ







* Not sure how to translate the last part of this sentence, “看不核平了你” . And of course, the real harmonious comment would be that the egg tastes yakexi!


[i] Người dịch tiếng Anh (C. Custer) không dám chắc chắn về cách dịch từ lóng 轮子[ luân tử ] trong nguyên bản tiếng Trung, mà chỉ gợi ý là “liar” [kẻ nói dối] hoặc “FLG member” [hội viên Pháp Luân Công]. (ND)



Gold and Economic Freedom Vàng và Tự do kinh tế




Gold and Economic Freedom

Vàng và Tự do kinh tế
by Alan Greenspan



An almost hysterical antagonism toward the gold standard is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense — perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of laissez-faire — that gold and economic freedom are inseparable, that the gold standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires the other.

Dù có những quan điểm khác nhau, nhưng tất cả những người ủng hộ vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế (statist [1]) đều có một đặc điểm chung, đặc điểm này đã đoàn kết họ lại, đó là sự cự tuyệt bản vị vàng [2] tới mức cuồng tín. Dường như họ đã nhận ra – thậm chí là rõ rệt và tinh vi hơn so với nhóm bảo vệ chủ thuyết thị trường tự do (laissez-faire [1]) – rằng vàng và tự do kinh tế là hai phạm trù không thể tách rời, rằng vàng là công cụ bổ trợ cho thị trường tự do, cái này mặc nhiên dẫn đến cái kia và cả hai đều là điều kiện cần phải có của nhau.

In order to understand the source of their antagonism, it is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.

Để hiểu nguồn gốc của sự cự tuyệt trên, trước hết chúng ta cần làm rõ vai trò đặc biệt của vàng trong một xã hội tự do.


Money is the common denominator of all economic transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of market value and as a store of value, ie, as a means of saving.

Tiền tệ là mẫu số chung của mọi giao dịch kinh tế. Chính nhờ vai trò là hàng hóa trao đổi trung gian trong giao dịch, tiền được chấp nhận là một công cụ thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ bởi tất cả chủ thể tham gia vào nền kinh tế trao đổi, nên do đó có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn xác định giá trị thị trường cũng như công cụ dự trữ của cải (ví dụ tiền là phương thức để tiết kiệm).


The existence of such a commodity is a precondition of a division of labor economy. If men did not have some commodity of objective value which was generally acceptable as money, they would have to resort to primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value, ie, to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.


Sự hiện diện của loại hàng hóa đặc biệt trên là điều kiện cần thiết để hình thành một nền kinh tế có sự phân chia lao động. Nếu không có một loại hàng hóa mang giá trị khách quan được chấp nhận rộng rãi như tiền tệ, con người sẽ phải phụ thuộc vào phương thức trao đổi hàng-đổi-hàng, hoặc buộc phải tự cung tự cấp bằng tư liệu sản xuất cá nhân và chấp nhận mất đi lợi thế không thể tính toán được của chuyên môn hóa. Nếu con người không có một phương thức để dự trữ của cải (như gửi tiết kiệm chẳng hạn), hoạt động trao đổi và lên kế hoạch lâu dài sẽ là bất khả thi.


What medium of exchange will be acceptable to all participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus to store. But where store-of-value considerations are important, as they are in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and, therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable. Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society. Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value, such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a half-ton of pig iron.

Phương tiện trao đổi nào sẽ được tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế chấp nhận không phải được xác định một cách tùy tiện. Trước hết, phương tiện trao đổi phải có độ bền cao. Trong thời kỳ sơ khai khi xã hội còn khan hiếm của cải, lúa mì có thể được xem là phương tiện trao đổi tồn tại đủ lâu cho quá trình trao đổi, do quá trình đó chỉ diễn ra trong và ngay sau vụ gặt, và cũng không có giá trị thặng dư để dự trữ. Tuy nhiên ở các xã hội giàu có, văn minh hơn – nơi việc dữ trữ của cải đóng vai trò quan trọng – phương tiện trao đổi phải là vật có độ bền cao. Thông thường sẽ là kim loại, bởi chúng có tính đồng đều và có thể phân chia được: mỗi đơn vị đều giống hệt nhau và có thể kết hợp lẫn tạo ra bất kỳ số lượng nào mong muốn. Ngược lại, đá quý lại không có tính chất đồng đều và phân chia được. Quan trọng hơn, vật được chọn làm phương tiện thanh toán phải có giá trị cao. Khao khát của con người đối với các vật xa xỉ là không có giới hạn, do đó, hàng hóa xa xỉ luôn được xã hội chấp nhận rộng rãi và có nhu cầu cao. Nếu như các xã hội thiếu thốn lương thực xem lúa mì là hàng hóa xa xỉ thì nó lại không có nhiều giá trị trong các xã hội thịnh vượng. Bình thường thuốc lá không được xem là tiền, nhưng trong thời kỳ hậu thế chiến thứ Hai ở châu Âu, nó là một loại hàng hóa xa xỉ. Cụm từ “hàng hóa xa xỉ” ám chỉ sự khan hiếm và giá trị đơn vị cao. Chính nhờ giá trị đơn vị cao, hàng hóa đó với số lượng ít nhưng có giá trị lớn nên dễ dàng di chuyển. Ví dụ: một ounce vàng tương đương đến nửa tấn gang đúc thổi.


In the early stages of a developing money economy, several media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences on what to hold as a store of value will shift to the most widely acceptable commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an incalculably wider scale.


Trong các giai đoạn đầu của nền kinh tế tiền tệ, có khá nhiều phương tiện trao đổi được sử dụng bởi khi đó không ít các vật liệu có thể đáp ứng điều kiện về phương tiện trao đổi đã nói ở trên. Tuy nhiên, theo thời gian, một trong số các loại vật liệu đó sẽ thay thế dần các loại còn lại khi được chấp nhận ngày càng rộng rãi. Lựa chọn về công cụ dự trữ giá trị cũng sẽ hướng đến loại phương tiện trao đổi đang được chấp nhận rộng rãi nhất, và theo đó càng làm phương tiện đó càng trở nên phổ biến. Xu hướng dịch chuyển tiếp tục diễn ra cho đến khi chỉ còn tồn tại một phương tiện trao đổi duy nhất. Việc sử dụng duy nhất một phương tiện trao đổi cũng có lý do tương đương vì sao nền kinh tế tiền tệ ưu việt hơn nền kinh tế trao đổi hàng-đổi-hàng: giúp cho hoạt động giao dịch khả thi trên quy mô rộng lớn hơn rất nhiều.


Whether the single medium is gold, silver, seashells, cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being relatively scarce, has significant advantages over all other media of exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole international standard of exchange. If all goods and services were to be paid for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization. Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the development of a banking system and credit instruments (bank notes and deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.


Tùy thuộc vào bối cảnh và mức độ phát triển của một nền kinh tế, phương tiện trao đổi duy nhất đó có thể là vàng, bạc, vỏ sò, gia súc hay thuốc lá. Trên thực tế, tất cả đối tượng nêu trên đều đã được xem là phương tiện trao đổi trong quá khứ. Thậm chí ở thế kỷ hiện tại, hai trong số loại hàng hóa trung gian trao đổi lớn nhất, vàng và bạc đã được sử dụng làm phương tiện trao đổi quốc tế - với vàng là phương tiện chiếm áp đảo. Vàng, sở hữu giá trị sử dụng lẫn tính thẩm mỹ cao, đồng thời là một kim loại tương đối hiếm, nhìn chung chiếm ưu thế hơn hẳn so với các phương tiện trao đổi còn lại. Từ đầu thế chiến thứ nhất cho đến nay, vàng gần như được xem là phương tiện trao đổi tiêu chuẩn duy nhất của thế giới. Tuy nhiên, nếu toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được chi trả bằng vàng, các phi vụ thanh toán có giá trị lớn sẽ rất khó để thực hiện, đồng thời điều này có thể hạn chế mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa của xã hội. Do đó, một giải pháp hợp lý cho mặt bất cập của phương tiện trao đổi này là hình thành một hệ thống ngân hàng và công cụ tín dụng (giấy bạc ngân hàng và hạn mức giữ vàng) có vai trò thay thế nhưng đồng thời cũng có thể chuyển đổi thành vàng.


A free banking system based on gold is able to extend credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to the production requirements of the economy. Individual owners of gold are induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against which they can draw checks). But since it is rarely the case that all depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits). But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.


Một hệ thống ngân hàng tự do dựa trên vàng sẽ có khả năng mở rộng tín dụng, và qua đó phát hành giấy bạc ngân hàng (tiền tệ) và dự trữ vàng, dựa trên nhu cầu sản xuất của nền kinh tế. Các cá nhân sở hữu vàng trong xã hội được khuyến khích, thông qua lãi suất được ngân hàng chi trả, gửi vàng vào ngân hàng (và ký séc dựa trên số vàng gửi giữ). Vì khả năng tất cả người gửi giữ đồng loạt rút vàng của họ ra khỏi ngân hàng vào cùng một thời điểm là rất hiếm, ngân hàng chỉ cần giữ lại một phần trong tổng số vàng ký gửi của khách hàng làm mức dự trữ bắt buộc. Điều này cho phép ngân hàng cho vay vượt mức dự trữ vàng của mình (như vậy có nghĩa ngân hàng đang nắm quyền sở hữu đối với vàng nhiều hơn là ý nghĩa vàng giữ vai trò đảm bảo an toàn cho mức dự trữ). Dẫu vậy, mức cho vay của ngân hàng cũng không thể tùy tiện: ngân hàng phải cân nhắc mức này trong mối liên hệ với lượng vàng dự trữ và “sức khỏe” các dự án đầu tư của nó.


When banks loan money to finance productive and profitable endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be generally available. But when the business ventures financed by bank credit are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to improve their profitability before they can obtain credit for further expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the protector of an economy's stability and balanced growth. When gold is accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free international gold standard serves to foster a world-wide division of labor and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all are defined in terms of gold the economies of the different countries act as one — so long as there are no restraints on trade or on the movement of capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns in all countries. For example, if banks in one country extend credit too liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the "easy money" country, inducing tighter credit standards and a return to competitively higher interest rates again.


Khi ngân hàng cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh hiệu quả và mang lại lợi nhuận, ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi lại các khoản cho vay của mình, nhờ vậy tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng và luôn có sẵn ở mức an toàn. Nhưng khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả, ít lợi nhuận và chậm thanh toán các khoản vay, một thời gian không lâu sau ngân hàng nhận thấy dư nợ vượt hơn lượng vàng dự trữ. Lúc này, ngân hàng bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động cho vay của nó – thông thường bằng cách tăng lãi suất cho vay. Kết quả là nguồn vốn dành cho các hoạt động kinh doanh sẽ thu hẹp lại, đồng thời các con nợ hiện tại buộc phải cải thiện hiệu quả kinh doanh trước khi có thể tiếp cận thêm nguồn vốn trong tương lai. Do đó, dưới cơ chế bản vị vàng, hệ thống các ngân hàng tự do sẽ đóng vai trò là người bảo đảm cho sự ổn định và phát triển cân bằng của nền kinh tế. Một khi vàng được công nhận là phương tiện trao đổi ở hầu hết hay toàn bộ các quốc gia trên thế giới, một hệ thống tiêu chuẩn tự do và không bị can thiệp của vàng có tác dụng hỗ trợ quá trình phân công lao động trên toàn cầu và mở rộng thông thương quốc tế. Mặc dù đơn vị trao đổi (đô-la Mỹ, bảng Anh, đồng franc Pháp, vv…) thay đổi ở mỗi nước, trong điều kiện tất cả đều được xác định bởi vàng, nền kinh tế của mọi quốc gia đều vận hành như nhau – miễn là không có rào cản nào đối với thương mại hay sự tách nghẽn dòng lưu thông vốn. Tín dụng, lãi suất, và giá cả có xu hướng giống nhau ở tất cả các quốc gia. Ví dụ, nếu ngân hàng của một nước có chính sách tín dụng quá lỏng lẻo, lãi suất ở quốc gia đó sẽ hạ, qua đó khiến người sở hữu vàng sẽ chuyển sang ngân hàng ở quốc gia có mức lãi suất cao hơn để gửi giữ vàng. Sự chuyển dịch này sẽ nhanh chóng dẫn đến một tình trạng thiếu hụt vàng dự trữ ở quốc gia có chính sách tín dụng lỏng lẻo, lúc này buộc nó phải thắt chặt tín dụng để có thể lấy lại mức lãi suất cao có khả năng cạnh tranh với quốc gia khác.


A fully free banking system and fully consistent gold standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking system in the United States (and in most of the world) was based on gold and even though governments intervened occasionally, banking was more free than controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before they could develop into the post-World War I type of disaster. The readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a sound basis to resume expansion.


Thế giới vẫn chưa thành lập được một hệ thống ngân hàng tự do đầy đủ và một cơ chế bản vị vàng ổn định. Tuy nhiên, trước Thế chiến thứ nhất, hệ thống ngân hàng ở Mỹ (và ở hầu hết các nơi khác trên thế giới) đều dựa trên vàng; và mặc dù thỉnh thoảng vẫn có sự can thiệp của nhà nước, nhìn chung ngành ngân hàng vẫn tự do nhiều hơn là bị kiểm soát. Sau một thời gian nhất định, do tăng trưởng tín dụng quá nhanh, dư nợ chạm mốc giới hạn của mức dự trữ vàng, các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất cho vay lên cao, tín dụng bị cắt giảm, và hệ quả là nền kinh tế bước vào một giai đoạn khủng hoảng sâu tạm thời (so với cuộc khủng hoảng năm 1920 và 1932, tình trạng suy thoái trước Thế chiến thứ nhất ít nghiêm trọng hơn hẳn). Chính nhờ mức giới hạn của lượng vàng dự trữ mà các hoạt động mở rộng kinh doanh mất cân đối đã được kìm hãm lại trước khi chúng trở nên trầm trọng hơn và có thể dẫn đến một thảm họa như hậu Thế chiến thứ nhất. Giai đoạn để các ngân hàng điều chỉnh lại hoạt động tín dụng của chúng tương đối ngắn, do đó nền kinh tế nhanh chóng khôi phục lại một nền tảng ổn định để tiếp tục phát triển.


But the process of cure was misdiagnosed as the disease: if shortage of bank reserves was causing a business decline — argued economic interventionists — why not find a way of supplying increased reserves to the banks so they never need be short! If banks can continue to loan money indefinitely — it was claimed — there need never be any slumps in business. And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of the federal government. Technically, we remained on the gold standard; individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay depositors.

Tuy nhiên, “bài thuốc” chữa trị cũng sai như chính cách căn bệnh được chẩn đoán: nếu sự thiếu hụt lượng vàng dự trữ ở ngân hàng là nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế - theo lập luận của các học giả kinh tế thuộc chủ thuyết can thiệp (economic interventionists) – vậy tại sao không tìm cách nâng mức dự trữ ở các ngân hàng lên để không còn xảy ra tình trạng thiếu hụt? Họ cho rằng nếu các ngân hàng có thể cấp tín dụng không giới hạn, khi đó hoạt động kinh doanh sẽ không bao giờ trì trệ. Và thế là Hệ thống Dự trữ Liên bang đã ra đời vào năm 1913. Hệ thống này được tạo nên bởi 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang vùng, trên danh nghĩa thuộc sở hữu tư nhân nhưng thực tế do nhà nước cấp vốn, kiểm soát và hỗ trợ. Hoạt động cung cấp tín dụng ở các ngân hàng này trên thực tế (tuy không được quy định bằng văn bản pháp lý) có nguồn cung ứng từ tiền thuế của nhà nước liên bang. Về cơ bản, chúng ta vẫn sử dụng bản vị vàng; cá nhân vẫn có thể tự do sở hữu vàng, đồng thời vàng vẫn tiếp tục được dùng làm công cụ dự trữ tại các ngân hàng. Nhưng mặt khác, giờ đây song song với vàng, tín dụng do nhóm ngân hàng Dự trữ Liên bang cung cấp (“dự trữ bằng giấy tờ có giá” – “paper reserves” ) đã trở thành nguồn thanh toán hợp pháp cho các khách hàng gửi giữ vàng.

When business in the United States underwent a mild contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous, however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable). The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates in the United States would fall to a level comparable with those in Great Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political embarrassment of having to raise interest rates. The "Fed" succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of the world, in the process. The excess credit which the Fed pumped into the economy spilled over into the stock market, triggering a fantastic speculative boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by 1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the 1930's.

Khi hoạt động kinh doanh ở Hoa Kỳ thu hẹp nhẹ trong năm 1927, Cục Dự trữ Liên bang đã tạo ra phương thức dự trữ bằng giấy tờ có giá với hi vọng có thể tránh được một tình trạng thiếu hụt dự trữ có thể xảy ra cho các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn, Cục Dự trữ Liên bang còn trợ giúp Anh Quốc – nước vào thời điểm đó đang để mất vàng về tay chúng ta vì Ngân hàng nước Anh nhất quyết không tăng lãi suất theo đúng quy luật thị trường (vì điều này không có lợi về mặt chính trị). Lập luận của những người đứng đầu như sau: nếu Cục Dự trữ Liên bang bơm một lượng lớn dự trữ giấy tờ có giá vào các ngân hàng ở Mỹ, lãi suất trong nước sẽ hạ xuống một mức tương thích với mức lãi suất ở Anh; điều này sẽ giúp nước Anh không để mất vàng nữa, đồng thời tránh được một phen bẽ mặt chính trị vì phải nâng mức lãi suất lên cao. Và “Cục” đã thành công; nước Anh không còn mất vàng, nhưng ngược lại nền kinh tế của cả thế giới đã gần như bị hủy hoại. Lượng tín dụng thừa thãi mà Cục Dự trữ bơm vào nền kinh tế bắt đầu tràn qua thị trường chứng khoán, để rồi tạo ra tâm lý đầu cơ khắp nơi. Một cách muộn màng, các quan chức của Cục Dự trữ Liên bang cố gắng giảm đi lượng dự trữ dư thừa, cuối cùng họ cũng thành công trong việc kìm hãm làn sóng nở rộ của hoạt động đầu cơ. Tuy nhiên mọi chuyện đã quá trễ: đến năm 1929, bất ổn do hoạt động đầu cơ gây ra là quá lớn đến nỗi động thái kiểm soát lượng dự trữ như trên của Cục chỉ làm trầm trọng thêm xu hướng cắt giảm chi tiêu và hệ quả kéo theo là niềm tin đối với hoạt động kinh doanh bốc hơi. Kết cục, nền kinh tế Mỹ sụp đổ hoàn toàn. Tình hình ở Anh còn nghiêm trọng hơn nữa. Thay vì chấp nhận khắc phục hậu quả của những sai sót trước kia, nước này bãi bỏ hoàn toàn cơ chế bản vị vàng vào năm 1931- một quyết định đã xé tan tành những hi vọng còn sót lại và gây nên sự đổ vỡ dây chuyền của các hệ thống ngân hàng toàn cầu. Kinh tế thế giới rơi vào cuộc Đoại Suy thoái trong suốt những năm 1930.


With a logic reminiscent of a generation earlier, statists argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed gold standard"; yet it is gold that took the blame.)

Bằng một lập luận tương tư với thế hệ trước đó, một nhà nghiên cứu tin rằng bản vị vàng chính là nguyên nhân chính gây ra bê bối tín dụng để rồi đến lượt nó dẫn đến cuộc Đại Suy thoái. Họ cho rằng nếu bản vị vàng không tồn tại, khi Anh Quốc bãi bỏ việc thanh toán bằng vàng vào năm 1931, hệ thống ngân hàng của cả thế giới đã không bị sụp đổ như vậy (Điều mỉa mai là, kể từ năm 1913 cho đến nay, thứ chúng ta sử dụng không chỉ có mỗi bản vị vàng, mà đó là sự pha trộn bản vị vàng với các tiêu chuẩn khác; thế nhưng chỉ có vàng mới đáng bị lên án mà thôi.)

But the opposition to the gold standard in any form — from a growing number of welfare-state advocates — was prompted by a much subtler insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which governments confiscate the wealth of the productive members of a society to support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to recognize that if they wished to retain political power, the amount of taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive deficit spending, ie, they had to borrow money, by issuing government bonds, to finance welfare expenditures on a large scale.

Tuy nhiên, dù ở bất kỳ hình thức nào, sự cự tuyệt đối với vàng từ số lượng các tiếng nói đang ngày một lớn dần ủng hộ nhà nước phúc lợi đều xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa khó nhìn thấy hơn: đó là việc họ đã nhận ra bản vị vàng và thâm hụt ngân sách (dấu hiệu đặc trưng của nhà nước phúc lợi) là hai phạm trù không thể đi đôi với nhau. Bỏ qua hết các thuật ngữ bác học, một nhà nước phúc lợi về bản chất không khác gì một cơ chế mà chính phủ sử dụng nhằm tịch thu của cải do các thành viên có ích của xã hội làm ra để cung ứng cho các chương trình phúc lợi. Một số lượng lớn của cải tịch thu đến từ việc đánh thuế. Nhưng những người ủng hộ nhà nước phúc lợi cũng nhanh chóng nhận ra rằng nếu muốn duy trì quyền lực chính trị, các sắc thuế buộc phải hạn chế và do đó, lúc này chính phủ buộc phải chi tiêu thâm hụt ngân sách lớn, như vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ để có thể tài trợ cho các chương trình phúc lợi trên quy mô lớn.


Under a gold standard, the amount of credit that an economy can support is determined by the economy's tangible assets, since every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created paper reserves in the form of government bonds which — through a complex series of steps — the banks accept in place of tangible assets and treat as if they were an actual deposit, ie, as the equivalent of what was formerly a deposit of gold.
Dưới sự điều chỉnh của bản vị vàng, lượng tín dụng mà một nền kinh tế có thể cung cấp được quyết định bởi các tài sản hữu hình của nền kinh tế đó, vì mọi công cụ tín dụng xét cho cùng đều là tuyên bố nắm giữ tài sản hữu hình. Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ không được xác định bởi tài sản hữu hình mà chúng chỉ là lời hứa sẽ chi trả cho người nắm giữ trái phiếu bằng tiền thuế của chính phủ, đồng thời chúng cũng không được thị trường tài chính dễ dàng đón nhận. Chính phủ chỉ có thể bán trái phiếu với số lượng lớn ra công chúng trong điều kiện lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất ngân hàng. Do đó, khi bản vị vàng hiện diện, tình trạng thâm hụt ngân sách được hạn chế xuống mức rất thấp. Ngược lại, việc bãi bỏ bản vị vàng sẽ tạo điều kiện cho phía ủng hộ nhà nước phúc lợi thông qua hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng không giới hạn. Để thực hiện mục tiêu trên, họ đã tạo ra công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá, mà cụ thể là trái phiếu chính phủ. Qua nhiều thủ tục phức tạp, các ngân hàng sẽ chấp nhận loại giấy tờ này như một tài sản gửi giữ thay thế cho vàng.


The holder of a government bond or of a bank deposit created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset. But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets. The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy, prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods purchased by the government for welfare or other purposes with the money proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.


Những người nắm giữ trái phiếu chính phủ hoặc tài khoản gửi giữ (bank deposit) được tạo ra bởi công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá tin rằng họ đang có quyền sở hữu đối với một tài sản thực tế. Tuy nhiên, sự thật là lúc này số lượng giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại vượt hơn rất nhiều so với tài sản thực tế. Con người không thể thao túng quy luật tự nhiên của cung và cầu. Khi nguồn cung vốn (từ các giấy tờ sở hữu) tăng lên tương đối so với nguồn cung các tài sản hữu hình trong nền kinh tế, giá cả cuối cùng sẽ đội lên, khiến cho thu nhập của các thành viên làm ra của cải trong xã hội sụt giảm giá trị so với hàng hóa. Sau khi nền kinh tế đã cân bằng trở lại, người ta nhận thấy rằng giá trị đã mất lúc này nằm ở lượng hàng hóa được chính phủ mua lại thông qua chương trình phúc lợi hoặc một số chương trình khác bằng tiền lãi thu được từ các khoản cho vay của nhóm ngân hàng được tài trợ bởi trái phiếu chính phủ.


In the absence of the gold standard, there is no way to protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store of value. If there were, the government would have to make its holding illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example, to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits would lose their purchasing power and government-created bank credit would be worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.


Khi không có sự điều chỉnh của bản vị vàng, sẽ không có cách nào bảo vệ thu nhập của xã hội khỏi tình trạng tịch thu của cải từ chính phủ trong thời kỳ lạm phát, cũng như sẽ không có một công cụ dự trữ giá trị an toàn. Giả sử nếu có, chính phủ rồi sẽ buộc phải bãi bỏ nó như đã làm với vàng. Đặt trường hợp nếu tất cả mọi người quyết định chuyển đổi tài khoản gửi giữ của mình thành bạc, đồng đỏ hay một loại hàng hóa nào khác và sau đó từ chối chấp nhận séc thanh toán cho hàng hóa, khi ấy tài khoản gửi giữ sẽ mất đi khả năng thanh toán, còn tín dụng ngân hàng do chính phủ tạo ra sẽ không còn giá trị đối với hàng hóa. Chính sách tài khóa của một nhà nước phúc lợi luôn đi đôi với tình trạng thiếu biện pháp tự bảo vệ của các chủ sở hữu của cải trong xã hội.


This is the shabby secret of the welfare statists' tirades against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in understanding the statists' antagonism toward the gold standard.

Đây chính là bí mật xấu xí của phe ủng hộ nhà nước phúc lợi và cự tuyệt vàng. Nói một cách đơn giản, chính sách chi tiêu thâm hụt ngân sách là một cơ chế tịch thu của cải xã hội. Vàng chính là vật cản ngăn chặn quá trình ngấm ngầm này, đồng thời nó cũng đóng vai trò bảo vệ cho quyền sở hữu. Nếu hiểu được điều này, sẽ không khó để một người nhìn ra nguyên nhân vì sao nhà nước phúc lợi lại nhất quyết “không đội trời chung” với vàng đến thế.




Published in Ayn Rand's "Objectivist" newsletter in 1966, and reprinted in her book, Capitalism: The Unknown Ideal , in 1967.

Bài viết được in trong thư ngỏ “Chủ nghĩa khách quan” của Ayn Rand vào năm 1966 và được tái bản trong tác phẩm Capitalism: The Unknown Ideal của bà vào năm 1967.


Translated by Alex Truong and edited by Nguyễn Công Huân






Ghi chú của nhóm dịch giả

[1] "Statist" là những người theo chủ nghĩa nhà nước ( statism ). Những người này ủng hộ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, và họ cho rằng nhà nước phải kiểm soát và có những kế hoạch đối với nền kinh tế. Ngược lại với chủ nghĩa nhà nước là những chủ nghĩa thị trường tự do (laissez-faire), những người theo chủ nghĩa thị trường tự do ủng hộ một thị trường tự điều chỉnh mà không có sự can thiệp của nhà nước.

[2] Bản vị vàng (gold standard) là hệ thống tiền tệ sử dụng vàng làm đơn vị tiền tệ gốc, tiêu chuẩn.





Saturday, January 19, 2013

Red riding hood Cô gái áo choàng đỏ





Red riding hood

Cô gái áo choàng đỏ

Je suis Caroline, photographe et rêveuse. Bienvenue sur mon blog où je partage mes travaux récents: voyages imaginaires dans le monde de l'enfance, explorations du féminin, et bonheurs du quotidien... Entrez, prenons une tasse de thé, et rêvons!

“Once upon a time there was a girl who lived on the outskirts of the forest. She was lively and bright, and she wore a red cloak, for that way if she ever went astray she would always stand out against the trees and the bushes. As the years went by, and she became more woman than girl, she grew more and more beautiful. many men wanted her for their bride, but she turned them all down. None was good enough for her, for she was cleverer than every man she met and they presented no challenge to her.

I am Caroline, photographer and dreamer. Welcome to my blog where I share my recent work: imaginary travels into the world of childhood, explorations of feminity, and daily happiness. Come in, let's have a cup of tea and dream together!

"Nghe kể rằng ngày xưa xưa lắm có một cô gái sống nơi ven rừng. Cô gái trông sống động, tươi sáng, và luôn mặc một chiếc áo choàng màu đỏ, nhờ cách đó nếu cô có đi đi lạc lối, cô cũng sẽ luôn luôn nổi bật lên trên màu cây lá. Nhiều năm trôi qua, và khi cô đã ra dáng phụ nữ nhiều hơn con gái, thì càng ngày càng xin đẹp hơn, nhiều chàng muốn có cô làm cô dâu, nhưng cô từ chối tất cả bọn họ. Không ai xứng đáng với , vì cô thông minh hơn tất cả những người đàn ông cô đã gặp và họ đã không thể hiện chút bản lĩnh nào trước cô cả.



Her grandmother lived in a cottage in the forest, and the girl would visit her often, bringing her baskets of bread and meat and staying with her for a time. While her grandmother slept, the girl would wander among the trees, tasting the wild berries and strange fruits of the woods. One day, as she walked in a dark grove, a wolf came.
Bà ngoại cô sống trong một ngôi nhà nhỏ trong rừng, và cô gái thường tới thăm bà đều đặn, mang theo giỏ bánh mì và thịt và ở lại với bà một thời gian. Trong khi bà ngoại ngủ, cô gái hay đi lang thang giữa rừng, nếm các loại quả dại và trái cây kỳ lạ trong rừng. Một ngày nọ, khi cô bước vào một khu rừng tối, một con chó sói xuất hiện.



It was wary of her and tried to pass without being seen, but the girl’s senses were too acute. She saw the wolf, and looked into its eyes and fell in love with the strangeness of it.

Con sói cảnh giác trước gái đã tìm cách đi qua không bị cô gái phát hiện, nhưng các giác quan của cô gái đã quá tinh nhạy. thấy chàng sói, nhìn vào đôi mắt của và ngay lập tức yêu cái dáng vẻ kì lạ của .



When it turned away, she followed it, traveling deeper into the forest than she had ever gone before. The wolf tried to lose her in places where there were no trails to follow, no paths to be seen, but the girl was too quick for it, and mile after mile the chase continued. At last, the wolf grew weary of the pursuit, and it turned to face her. It bared its fangs and growled a warning, but she was not afraid.


Khi quay đi, cô gái đi theo sau,đi sâu vào rừng tới những nơi chưa từng biết. Con sói đã cố gắng để thoát khỏi cô gái ở những nơi có không con đường mòn nào để đi theo, không dấu chân để lần theo, nhưng cô gái đã quá nhanh chóng học được điều đó, và từ dặm đường này đến dặm đường kia cô tiếp tục đuổi theo. Cuối cùng, sói ta mệt mỏi trước sự săn đuổi của nàng, và nó quay lại đối mặt với nàng. nhe nanh vuốt gầm lên lời cảnh báo, nhưng nàng không hề sợ hãi.



Lovely wolf… she whispered. You have nothing to fear from me.
She reached out her hand and placed it upon the wolf’s head. She ran her fingers through its fur and calmed it. And the wolf saw what beautiful eyes she had (all the better to see him with) , and what gentle hands (all the better to stroke him with). the girl leaned forward, and she kissed the wolf. She cast off her red cloak and put her basket of flowers aside, and she lay with the animal.”

Chàng sói đáng yêu ơi... gái thì thầm. Chàng không có gì phải sợ tôi đâu
Cô đưa tay đặt lên đầu sói. lướt những ngón tay của mình luồn qua lớp lông chàng sói và khiến nó bình tĩnh. chàng sói nhìn thấy đẹp mắt cô gái đẹp ôi là đẹp (nhất là khi đôi mắt ấy lại ngắm nhìn mình), bàn tay nhẹ nhàng biết bao (nhất là khi đôi tay lại vuốt ve mình). cô gái nghiêng người về phía trước, hôn chàng sói. Nàng cởi chiếc áo choàng đỏ của mình và đặt giỏ hoa sang một bên, và thả mình bên chàng sói. "




Ce jour là, le rêve, c’était…
Se lever si tôt que nous étions seuls dans les rues sombres et endormies de Paris.
Partir sur nos vélos, le long du canal, dans le noir et le froid, dans une course avec le soleil, pour arriver avant, pour être les premiers, pour voir la forêt s’éveiller.
Sentir les feuilles, les branches, craquer sous nos pieds. Trouver dans nos sacs cette couverture rouge, voir tout à coup du sens, un clin d’oeil.
Une fois passé le froid, la forêt, nos sourires émerveillés, nos rires, une fois passée l’incongruité, une fois passée l’inspiration. Une fois rentrés.
Voir du sens, après. Se déstabiliser. Penser aux loups de nos vies.
Lire ce passage du roman de John Connoly ( The book of Lost Things, le livre des choses perdues.) et sourire, et penser à elle, à nous, à la forêt et au rouge, penser à notre force, et se demander qui de la jeune fille ou du loup attrappe l’autre dans le filet de son regard.
Penser aux femmes qui courent avec les loups. Penser à la femme sauvage.
Et avoir confiance.
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông, trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua, một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và tự hỏi liệu  có những người thực sự quyến rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy lẫn nhau.



That day the dream was…
To get up so early that we were alone, out in the dark, sleepy streets of Paris.
To leave on our bikes, along the river, in the dark and cold, in a race against the sun, to get there first, to see the forest wake.
Feel the leaves, the twigs, cracking under our feet. Finding the red blanket in our bag and suddenly seeing a tale.
And once the cold was over, once we were done with the forest, with the smiles, with the strangeness and the inspiration. With the exhilaration. Once we were back.
Seeing meaning then, feeling uneasy. Thinking of the wolves in our lives, how they’d crept in.
Coming across this passage in John Connoly’s novel (the book of lost things), and smiling, and thinking of her, of us, of the forest and of the red, thinking of our strength.
Thinking of the girl and the wolf, and wonder who really catches the other with their eyes.
Thinking of women running with wolves.
Thinking of the wild woman.
Trusting ourselves and each other.
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông, trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua, một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và tự hỏi liệu  có những người thực sự quyến rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy lẫn nhau.