|
|
||
五毛初级培训教材
|
The Fifty Cents
Party Training Manual
|
Cẩm nang huấn luyện
Ngũ Mao Đảng (Ngũ
mao sơ cấp bồi huấn giáo tài)
|
This post has been
making the rounds on the intertubes, the version we're translating comes from
Anti-CNN. It's a satirical guide for prospective Fifty Cents Party members on
the many methods they can use to respond to criticism:
|
Bài đăng này đã được lưu hành nội bộ, phiên bản chúng tôi đang dịch đến từ Anti-CNN. Đó là một
hướng dẫn phản công cho thành viên Ngũ Mao Đảng về nhiều
phương pháp mà họ có thể sử dụng để
chống lại những lời chỉ trích:
|
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:隔壁家那鸭蛋更难吃,你咋不说呢?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The duck egg next door is even worse tasting,
how could you not mention this?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cái trứng vịt ở tiệm kế bên còn dở hơn, sao mày
không chê?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:请拿出建设性的意见来,有本事你下个好吃的蛋来。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Please make a constructive comment, if you've
got talent then lay a better tasting egg yourself.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Làm ơn còm sao cho có tính xây dựng, nếu giỏi
thì mày tự đẻ trứng luôn đi.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:下蛋的是一只勤劳勇敢善良正直的鸡。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This egg was laid by an industrious, courageous,
good, kind, honest, and upright chicken!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng này do một đồng chí hảo kê cần cù, dũng
cảm, lương thiện và chính trực đẻ đó!
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:比前年的蛋已经进步很多了。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: It's way better than last year's egg.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Vẫn còn ngon hơn nhiều so với trứng năm ngoái.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:你就是吃这鸡蛋长大的,你有什么权力说这蛋不好吃?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You grew up [by] eating this egg, what right do
you have to say it tastes bad?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày lớn lên nhờ ăn trứng này, mày có quyền gì mà
chê trứng dở?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:你这么说是什么居心什么目的?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: What intentions are you harboring to make you
say this?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày có ý đồ gì mà chê bai vậy chớ?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:自己家鸡下的蛋都说不好吃,你还是不是中国人
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You criticize the eggs that come from your own
chicken, are you or are you not Chinese?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đến cả trứng do chính gà của mày đẻ mà mày còn
chê, mày có phải là người Trung Quốc không dzậy?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:tmd,我怀疑你是轮子
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Fuck, I suspect you are a “wheel” [liar, or
probably more likely FLG member?].
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mịa, tao nghi mày là phường Pháp Luân Công nói
điêu. [i]
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:光抱怨有什么用,有这个时间还不如努力去赚钱
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Just complaining is useless, if you have extra
time you'd be better off working hard to earn money.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Chê ỏng chê eo chỉ vô ích thôi, nếu mày dư thời
gian, sao không chăm chỉ làm ăn kiếm tiền đi chớ.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:台湾网T,gun,这里不欢迎你
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Taiwanese netizen, fuck off, we don't welcome
you here.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cái thằng cư dân mạng Đài Loan, biến mẹ nó đi
cho ông nhờ, chẳng ai mời mày vào đây.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:幼右心理阴暗,连鸡蛋不好吃也要发牢骚
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Aw, Youyou's mentality is so gloomy, even has to
grouse about bad-tasing eggs!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Ôi dào, tâm lý ấu trĩ sao mà quá bi quan, đến
phải than vãn về trứng dở.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:该鸡蛋被一小撮不会下蛋的母鸡煽动导致变臭
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The egg is bad because the hen who laid this egg
was incited by some [bad] hens who can't lay eggs.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Trứng dở vì con gà đẻ trứng này bị một số con gà
[thuộc phần tử xấu] không biết đẻ trứng xúi giục.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:该用户发言已被管理员屏蔽
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This comment has already been screened by the
moderator.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Còm này đã bị quản lý diễn đàn sàng lọc.
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.中国的鸡蛋就难吃,美国的鸡蛋就好吃?卖国贼!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: So China's eggs all taste bad, and America's
eggs all taste good? Traitor!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Vậy trứng Trung Quốc
toàn dở, còn trứng Mỹ toàn ngon à? Đồ phản quốc!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.台湾的鸡蛋好吃,你去呀,看不核平了你!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Taiwan's eggs are good, go there why don't you,
see if you don't get leveled by a nuclear bomb*
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Trứng Đài Loan ngon há, sao không qua bển ở luôn
đi, để coi mày có bị bom nguyên tử san bằng không.
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.中国的鸡蛋已经可以打败美国的鸭蛋,自豪!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: China's eggs can already defeat America's eggs,
be proud!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng Trung Quốc đã đánh bại trứng Mỹ rồi, phải
biết tự hào đi chớ!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.祖国的鸡生的蛋,再难吃我也不嫌弃!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: I won't avoid eggs from the motherland no matter
how bad they are!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Tui sẽ không tránh né trứng của tổ quốc bất luận
dở cỡ nào đi nữa!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.外国主子给你多少钱,你在这儿胡说?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You dare to say the eggs from our chicken farm
taste bad? What position are you speaking from?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Trứng từ trại gà của chúng ta mà mày dám chê dở
à? Mày lấy tư cách gì mà nói dzậy?
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.你竟敢说我们养鸡场的鸡蛋难吃?你站在谁的立场上说话?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Carrying a bowl to eat eggs, then putting down
the chopsticks to curse, you don't know what's good for you, ungrateful,
shameless and brazen!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Cầm chén ăn trứng xong buông đũa rồi chửi, mày
chẳng biết cái gì đáng quý đáng trọng, đồ vô ơn, vô liêm sỉ, trơ trẽn!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.端起碗吃蛋,放下筷子骂娘,不知好歹,忘恩负义,无耻!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Bad tasting eggs are a tiny minority, the
majority of eggs are good, excellent, and stand up to testing!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng dở chỉ là thiểu số rất nhỏ, đại đa số
trứng đều ngon, tuyệt hảo, và qua được kiểm định!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.难吃的鸡蛋是极少数,绝大多数鸡蛋是好的,是优秀的,是经得起考验的!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is a small group of criminals deceiving the
unaware-of-the-truth masses!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Đây là một thiểu số phần tử phi pháp lường gạt
quần chúng không hiểu rõ sự thật!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.这是少数不法分子在蒙蔽不明真相的群众!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is having an ulterior motive and inciting
[others], what are you trying to do?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Cái này đích thị là có động cơ ngầm và xúi giục
[người khác], mày định làm gì dzậy?
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.这是别有用心的煽动,你想干什么?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: That is a rumor, I can responsibly say that all
eggs are up to quality standards!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Đó là tin đồn, tôi
có thể phát biểu rất trách nhiệm là tất cả trứng đều bảo đảm tiêu chuẩn chất
lượng!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.这是谣言,我可以负责任地说,我们的鸡蛋都是合格的!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: There is no basis to this, I hope the media can
report objectively!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Nói chẳng có căn cứ
gì hết, tui hy vọng báo chí có thể đưa tin khách quan!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.这是没有根据的,希望媒体能客观报道。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: I think some people's eggs aren't that great,
our eggs are five times better!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Theo tớ, trứng của một số người không ngon đến
thế, trứng của chúng ta ngon gấp năm lần!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.我看,有些人的鸡蛋不怎么样,我们的鸡蛋好五倍!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The correct orientation is the happiness of our
chicken farm, the erroneous orientation is the misfortune of our chicken
farm.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Định hướng đúng đắn là niềm hạnh phúc của trại
gà chúng ta, định hướng sai lầm là nỗi bất hạnh của trại gà chúng ta.
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.正确的导向是我们养鸡场之福,错误的导向是我们养鸡场之祸!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Our chicken farm is still in the early stages,
we must persist [on this course] for the next twenty years without wavering!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trại gà chúng ta vẫn còn trong giai đoạn sơ
khai, chúng ta phải kiên trì [theo đường lối này] trong hai mươi năm sắp đến
mà không dao động!
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.我们养鸡场处于初级阶段,必须坚持基本养鸡方法二十年不动摇!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: We want to found a chicken farm with our own
special characteristics, and have our hens lay eggs with their own special
characteristics.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Chúng ta muốn lập trại gà với những đặc điểm
riêng của chúng ta, và để gà của mình đẻ trứng với những đặc điểm riêng của
chúng.
|
A.这鸡蛋真难吃。
B.我们要建设有自己特色的养鸡场,让母鸡下出有自己特色的蛋!
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Although the taste is a bit worse, it has
benefits for our health, if you import an American egg without authorization,
your digestive system and stomach, perhaps even your entire endocrine system,
will collapse. –Leftist Scholar of Reason
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Dù ăn hơi dở, trứng này có lợi cho sức khỏe
chúng ta, nếu anh nhập trứng Mỹ trái phép, hệ tiêu hóa và bao tử, và có lẽ
toàn bộ hệ nội tiết của anh sẽ tiêu tùng. – Học giả Lý tính tả phái
|
A,这只鸡蛋真难吃。
B,虽然口感差了点,但对我们的身体是有益的,如果擅自引进一只美国蛋,我们的吸收系统和胃的承受力乃至整个内分泌,恐怕都会崩溃的。——理性左派学者。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The chicken egg tasting bad is not related to
the earthquake. –Earthquake expert
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng gà dở không liên quan đến trận động đất. –
Chuyên gia động đất
|
A,这只鸡蛋真难吃。
B,这只鸡蛋难吃和地震无关——地震专家。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: There are hostile foreign powers gossiping about
our eggs without authorization – Liu Jianchao
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Có những thế lực thù địch nước ngoài đồn thổi
trái phép về trứng của chúng ta. – Lưu Kiến Siêu (nguyên là người phát ngôn
Bộ Ngoại giao Trung Quốc, hiện là đại sứ Trung Quốc tại Philippines)
|
A,这只鸡蛋真难吃。
B,有国外敌对势力擅自对我国鸡蛋说三道四——刘建超。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Chinese chickens, come on! –Patriotic youth
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Gà Trung Quốc, gắng lên! – Thanh niên Trung Quốc
yêu nước
|
A,这只鸡蛋真难吃。
B,中国鸡,加油!——中国爱国青年。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Because of the Beijing customer willfully
stirring up trouble and saying the egg is bad, we have gone to the capital
twice to mediate, without result. –Shanghai police
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Vì thực khách Bắc Kinh này cố tình gây rối và
chê trứng dở, chúng tôi đã lên thủ đô hai lần để thuyết phục khuyên răn,
nhưng vô hiệu. – Cảnh sát Thượng Hải
|
A,这只鸡蛋真难吃。
B,鉴于北京食客无理取闹地说鸡蛋难吃,我们两次赴京说服劝解,无效。——上海警方
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is a recent rumor started by people on the
internet.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đây là tin đồn thất thiệt gần đây do thiên hạ
tung ra trên internet.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:这是近日网上有人别有用心的造谣。
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: You are part of the small minority who is
unaware of the truth, how could the egg taste bad?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Mày thuộc thiểu số nhỏ không hiểu rõ sự thật,
làm sao trứng có thể dở được?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:你是少数不明真相的人,怎么可能难吃呢?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: The nation is prosperous and the people are
strong, why aren't you just eating chicken meat?
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Nước đã giàu, dân đã mạnh, sao mày không ăn thịt
gà cho tao nhờ?
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:国福民强,你杂不换鸡肉吃?
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: No egg is perfect, so you have no right to
gossip about this egg!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như
hạch.
Phản còm: Không có trứng nào hoàn hảo cả, vậy mày không có
quyền đồn nhảm về cái trứng này nhá!
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:没有一只蛋是十全十美的,所以就无权对蛋说三道四!
A:这鸡蛋真难吃。
B:大清的蛋好不好吃,清朝人 民最清楚
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Whether eggs from the Qing dynasty tasted good
or not, only people from the Qing dynasty know.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Trứng đời nhà Thanh ngon hay dở thì chỉ có người
đời nhà Thanh biết.
|
A:这鸡蛋真难吃。
B:想想旧社会,穷人连饭都吃不上,每天咽糠吃野菜, 今天的幸福生活是无数先烈用生命和鲜血换来的, 你要好好珍惜啊
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: Think of the old society, poor people didn't
even have rice to eat, every day eating chaff and wild herbs, today's happy
life was paid for with the lives and blood of countless martyrs, you must
treasure it!
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Có nhớ xã hội cũ không, người nghèo lúc đó đến
gạo cũng chẳng có mà ăn, mỗi ngày đành phải ăn trấu và cây cỏ dại, cuộc sống
hạnh phúc ngày nay phải trả giá bằng sinh mạng và máu của vô số liệt sĩ, mày
phải biết trân trọng chứ!
|
A;此鸡蛋真难吃
B;这是鸡下蛋的初级阶段,要吃好鸡蛋,要到高级阶段,这初级阶段是一个很漫长的过程
|
Comment: This chicken egg tastes disgusting.
Response: This is the first stage of chickens laying eggs,
if you want to eat good eggs you must wait until the higher stage, this early
stage is a very long process.
|
Còm: Cái trứng gà này dở như hạch.
Phản còm: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình gà đẻ
trứng, nếu mày muốn ăn trứng ngon, mày phải đợi đến giai đoạn cao cấp hơn,
giai đoạn ban đầu này là một quá trình rất dài.
|
February 18, 2010
Translated into
English by C. Custer
|
Translated from
English by Phạm Vũ Lửa Hạ
|
|
* Not sure how to translate the last part of this
sentence, “看不核平了你” . And of course, the real
harmonious comment would be that the egg tastes yakexi!
|
[i] Người dịch tiếng Anh (C. Custer) không dám chắc chắn
về cách dịch từ lóng 轮子[ luân tử ] trong nguyên bản tiếng Trung, mà chỉ gợi ý là
“liar” [kẻ nói dối] hoặc “FLG member” [hội viên Pháp Luân Công]. (ND)
|
|
|
|
||
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, January 20, 2013
Cẩm nang huấn luyện Ngũ Mao Đảng - 五毛初级培训教材
Gold and Economic Freedom Vàng và Tự do kinh tế
|
|
|
|
Gold and Economic
Freedom
|
Vàng và Tự do kinh
tế
|
|
by Alan Greenspan
|
|
|
|
|
|
An almost hysterical antagonism toward the gold standard
is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense —
perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of
laissez-faire — that gold and economic freedom are inseparable, that the gold
standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires
the other.
|
Dù có những quan điểm khác nhau, nhưng tất cả những người
ủng hộ vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế (statist [1]) đều có một
đặc điểm chung, đặc điểm này đã đoàn kết họ lại, đó là sự cự tuyệt bản vị
vàng [2] tới mức cuồng tín. Dường như họ đã nhận ra – thậm chí là rõ rệt và
tinh vi hơn so với nhóm bảo vệ chủ thuyết thị trường tự do (laissez-faire
[1]) – rằng vàng và tự do kinh tế là hai phạm trù không thể tách rời, rằng
vàng là công cụ bổ trợ cho thị trường tự do, cái này mặc nhiên dẫn đến cái
kia và cả hai đều là điều kiện cần phải có của nhau.
|
|
In order to understand the source of their antagonism, it
is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.
|
Để hiểu nguồn gốc của sự cự tuyệt trên, trước hết chúng ta
cần làm rõ vai trò đặc biệt của vàng trong một xã hội tự do.
|
|
Money is the common denominator of all economic
transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is
universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment
for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of
market value and as a store of value, ie, as a means of saving.
|
Tiền tệ là mẫu số chung của mọi giao dịch kinh tế. Chính
nhờ vai trò là hàng hóa trao đổi trung gian trong giao dịch, tiền được chấp
nhận là một công cụ thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ bởi tất cả chủ thể
tham gia vào nền kinh tế trao đổi, nên do đó có thể được sử dụng làm tiêu
chuẩn xác định giá trị thị trường cũng như công cụ dự trữ của cải (ví dụ tiền
là phương thức để tiết kiệm).
|
|
The existence of such a commodity is a precondition of a
division of labor economy. If men did not have some commodity of objective
value which was generally acceptable as money, they would have to resort to
primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the
inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value,
ie, to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.
|
Sự hiện diện của loại hàng hóa đặc biệt trên là điều kiện
cần thiết để hình thành một nền kinh tế có sự phân chia lao động. Nếu không
có một loại hàng hóa mang giá trị khách quan được chấp nhận rộng rãi như tiền
tệ, con người sẽ phải phụ thuộc vào phương thức trao đổi hàng-đổi-hàng, hoặc
buộc phải tự cung tự cấp bằng tư liệu sản xuất cá nhân và chấp nhận mất đi
lợi thế không thể tính toán được của chuyên môn hóa. Nếu con người không có
một phương thức để dự trữ của cải (như gửi tiết kiệm chẳng hạn), hoạt động
trao đổi và lên kế hoạch lâu dài sẽ là bất khả thi.
|
|
What medium of exchange will be acceptable to all
participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium
of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat
might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would
occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus
to store. But where store-of-value considerations are important, as they are
in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable
commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is
homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can
be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are
neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a
medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and,
therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable.
Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society.
Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World
War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury
good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value,
such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a
half-ton of pig iron.
|
Phương tiện trao đổi nào sẽ được tất cả các chủ thể tham
gia vào nền kinh tế chấp nhận không phải được xác định một cách tùy tiện.
Trước hết, phương tiện trao đổi phải có độ bền cao. Trong thời kỳ sơ khai khi
xã hội còn khan hiếm của cải, lúa mì có thể được xem là phương tiện trao đổi
tồn tại đủ lâu cho quá trình trao đổi, do quá trình đó chỉ diễn ra trong và
ngay sau vụ gặt, và cũng không có giá trị thặng dư để dự trữ. Tuy nhiên ở các
xã hội giàu có, văn minh hơn – nơi việc dữ trữ của cải đóng vai trò quan
trọng – phương tiện trao đổi phải là vật có độ bền cao. Thông thường sẽ là
kim loại, bởi chúng có tính đồng đều và có thể phân chia được: mỗi đơn vị đều
giống hệt nhau và có thể kết hợp lẫn tạo ra bất kỳ số lượng nào mong muốn.
Ngược lại, đá quý lại không có tính chất đồng đều và phân chia được. Quan
trọng hơn, vật được chọn làm phương tiện thanh toán phải có giá trị cao. Khao
khát của con người đối với các vật xa xỉ là không có giới hạn, do đó, hàng
hóa xa xỉ luôn được xã hội chấp nhận rộng rãi và có nhu cầu cao. Nếu như các
xã hội thiếu thốn lương thực xem lúa mì là hàng hóa xa xỉ thì nó lại không có
nhiều giá trị trong các xã hội thịnh vượng. Bình thường thuốc lá không được
xem là tiền, nhưng trong thời kỳ hậu thế chiến thứ Hai ở châu Âu, nó là một
loại hàng hóa xa xỉ. Cụm từ “hàng hóa xa xỉ” ám chỉ sự khan hiếm và giá trị
đơn vị cao. Chính nhờ giá trị đơn vị cao, hàng hóa đó với số lượng ít nhưng
có giá trị lớn nên dễ dàng di chuyển. Ví dụ: một ounce vàng tương đương đến
nửa tấn gang đúc thổi.
|
|
In the early stages of a developing money economy, several
media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would
fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will
gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences
on what to hold as a store of value will shift to the most widely acceptable
commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is
progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use
of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money
economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an
incalculably wider scale.
|
Trong các giai đoạn đầu của nền kinh tế tiền tệ, có khá
nhiều phương tiện trao đổi được sử dụng bởi khi đó không ít các vật liệu có
thể đáp ứng điều kiện về phương tiện trao đổi đã nói ở trên. Tuy nhiên, theo
thời gian, một trong số các loại vật liệu đó sẽ thay thế dần các loại còn lại
khi được chấp nhận ngày càng rộng rãi. Lựa chọn về công cụ dự trữ giá trị
cũng sẽ hướng đến loại phương tiện trao đổi đang được chấp nhận rộng rãi
nhất, và theo đó càng làm phương tiện đó càng trở nên phổ biến. Xu hướng dịch
chuyển tiếp tục diễn ra cho đến khi chỉ còn tồn tại một phương tiện trao đổi
duy nhất. Việc sử dụng duy nhất một phương tiện trao đổi cũng có lý do tương
đương vì sao nền kinh tế tiền tệ ưu việt hơn nền kinh tế trao đổi
hàng-đổi-hàng: giúp cho hoạt động giao dịch khả thi trên quy mô rộng lớn hơn
rất nhiều.
|
|
Whether the single medium is gold, silver, seashells,
cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a
given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of
exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and
silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming
the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being
relatively scarce, has significant advantages over all other media of
exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole
international standard of exchange. If all goods and services were to be paid
for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend
to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization.
Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the
development of a banking system and credit instruments (bank notes and
deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.
|
Tùy thuộc vào bối cảnh và mức độ phát triển của một nền
kinh tế, phương tiện trao đổi duy nhất đó có thể là vàng, bạc, vỏ sò, gia súc
hay thuốc lá. Trên thực tế, tất cả đối tượng nêu trên đều đã được xem là phương
tiện trao đổi trong quá khứ. Thậm chí ở thế kỷ hiện tại, hai trong số loại
hàng hóa trung gian trao đổi lớn nhất, vàng và bạc đã được sử dụng làm phương
tiện trao đổi quốc tế - với vàng là phương tiện chiếm áp đảo. Vàng, sở hữu
giá trị sử dụng lẫn tính thẩm mỹ cao, đồng thời là một kim loại tương đối
hiếm, nhìn chung chiếm ưu thế hơn hẳn so với các phương tiện trao đổi còn
lại. Từ đầu thế chiến thứ nhất cho đến nay, vàng gần như được xem là phương
tiện trao đổi tiêu chuẩn duy nhất của thế giới. Tuy nhiên, nếu toàn bộ hàng
hóa và dịch vụ được chi trả bằng vàng, các phi vụ thanh toán có giá trị lớn
sẽ rất khó để thực hiện, đồng thời điều này có thể hạn chế mức độ phân công
lao động và chuyên môn hóa của xã hội. Do đó, một giải pháp hợp lý cho mặt bất
cập của phương tiện trao đổi này là hình thành một hệ thống ngân hàng và công
cụ tín dụng (giấy bạc ngân hàng và hạn mức giữ vàng) có vai trò thay thế
nhưng đồng thời cũng có thể chuyển đổi thành vàng.
|
|
A free banking system based on gold is able to extend
credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to
the production requirements of the economy. Individual owners of gold are
induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against
which they can draw checks). But since it is rarely the case that all
depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need
keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables
the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means
that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits).
But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has
to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.
|
Một hệ thống ngân hàng tự do dựa trên vàng sẽ có khả năng
mở rộng tín dụng, và qua đó phát hành giấy bạc ngân hàng (tiền tệ) và dự trữ
vàng, dựa trên nhu cầu sản xuất của nền kinh tế. Các cá nhân sở hữu vàng
trong xã hội được khuyến khích, thông qua lãi suất được ngân hàng chi trả,
gửi vàng vào ngân hàng (và ký séc dựa trên số vàng gửi giữ). Vì khả năng tất
cả người gửi giữ đồng loạt rút vàng của họ ra khỏi ngân hàng vào cùng một
thời điểm là rất hiếm, ngân hàng chỉ cần giữ lại một phần trong tổng số vàng
ký gửi của khách hàng làm mức dự trữ bắt buộc. Điều này cho phép ngân hàng
cho vay vượt mức dự trữ vàng của mình (như vậy có nghĩa ngân hàng đang nắm
quyền sở hữu đối với vàng nhiều hơn là ý nghĩa vàng giữ vai trò đảm bảo an
toàn cho mức dự trữ). Dẫu vậy, mức cho vay của ngân hàng cũng không thể tùy
tiện: ngân hàng phải cân nhắc mức này trong mối liên hệ với lượng vàng dự trữ
và “sức khỏe” các dự án đầu tư của nó.
|
|
When banks loan money to finance productive and profitable
endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be
generally available. But when the business ventures financed by bank credit
are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans
outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to
curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to
restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to
improve their profitability before they can obtain credit for further
expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the
protector of an economy's stability and balanced growth. When gold is
accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free
international gold standard serves to foster a world-wide division of labor
and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the
dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all
are defined in terms of gold the economies of the different countries act as
one — so long as there are no restraints on trade or on the movement of
capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns
in all countries. For example, if banks in one country extend credit too
liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing
depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other
countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the
"easy money" country, inducing tighter credit standards and a
return to competitively higher interest rates again.
|
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh
hiệu quả và mang lại lợi nhuận, ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi lại các
khoản cho vay của mình, nhờ vậy tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng và
luôn có sẵn ở mức an toàn. Nhưng khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả, ít
lợi nhuận và chậm thanh toán các khoản vay, một thời gian không lâu sau ngân
hàng nhận thấy dư nợ vượt hơn lượng vàng dự trữ. Lúc này, ngân hàng bắt đầu
điều chỉnh lại hoạt động cho vay của nó – thông thường bằng cách tăng lãi
suất cho vay. Kết quả là nguồn vốn dành cho các hoạt động kinh doanh sẽ thu
hẹp lại, đồng thời các con nợ hiện tại buộc phải cải thiện hiệu quả kinh doanh
trước khi có thể tiếp cận thêm nguồn vốn trong tương lai. Do đó, dưới cơ chế
bản vị vàng, hệ thống các ngân hàng tự do sẽ đóng vai trò là người bảo đảm
cho sự ổn định và phát triển cân bằng của nền kinh tế. Một khi vàng được công
nhận là phương tiện trao đổi ở hầu hết hay toàn bộ các quốc gia trên thế
giới, một hệ thống tiêu chuẩn tự do và không bị can thiệp của vàng có tác
dụng hỗ trợ quá trình phân công lao động trên toàn cầu và mở rộng thông
thương quốc tế. Mặc dù đơn vị trao đổi (đô-la Mỹ, bảng Anh, đồng franc Pháp,
vv…) thay đổi ở mỗi nước, trong điều kiện tất cả đều được xác định bởi vàng,
nền kinh tế của mọi quốc gia đều vận hành như nhau – miễn là không có rào cản
nào đối với thương mại hay sự tách nghẽn dòng lưu thông vốn. Tín dụng, lãi
suất, và giá cả có xu hướng giống nhau ở tất cả các quốc gia. Ví dụ, nếu ngân
hàng của một nước có chính sách tín dụng quá lỏng lẻo, lãi suất ở quốc gia đó
sẽ hạ, qua đó khiến người sở hữu vàng sẽ chuyển sang ngân hàng ở quốc gia có
mức lãi suất cao hơn để gửi giữ vàng. Sự chuyển dịch này sẽ nhanh chóng dẫn
đến một tình trạng thiếu hụt vàng dự trữ ở quốc gia có chính sách tín dụng
lỏng lẻo, lúc này buộc nó phải thắt chặt tín dụng để có thể lấy lại mức lãi
suất cao có khả năng cạnh tranh với quốc gia khác.
|
|
A fully free banking system and fully consistent gold
standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking
system in the United States (and in most of the world) was based on gold and
even though governments intervened occasionally, banking was more free than
controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks
became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose
sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but
short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the
pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold
reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before
they could develop into the post-World War I type of disaster. The
readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a
sound basis to resume expansion.
|
Thế giới vẫn chưa thành lập được một hệ thống ngân hàng tự
do đầy đủ và một cơ chế bản vị vàng ổn định. Tuy nhiên, trước Thế chiến thứ
nhất, hệ thống ngân hàng ở Mỹ (và ở hầu hết các nơi khác trên thế giới) đều
dựa trên vàng; và mặc dù thỉnh thoảng vẫn có sự can thiệp của nhà nước, nhìn
chung ngành ngân hàng vẫn tự do nhiều hơn là bị kiểm soát. Sau một thời gian
nhất định, do tăng trưởng tín dụng quá nhanh, dư nợ chạm mốc giới hạn của mức
dự trữ vàng, các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất cho vay lên cao, tín dụng
bị cắt giảm, và hệ quả là nền kinh tế bước vào một giai đoạn khủng hoảng sâu
tạm thời (so với cuộc khủng hoảng năm 1920 và 1932, tình trạng suy thoái
trước Thế chiến thứ nhất ít nghiêm trọng hơn hẳn). Chính nhờ mức giới hạn của
lượng vàng dự trữ mà các hoạt động mở rộng kinh doanh mất cân đối đã được kìm
hãm lại trước khi chúng trở nên trầm trọng hơn và có thể dẫn đến một thảm họa
như hậu Thế chiến thứ nhất. Giai đoạn để các ngân hàng điều chỉnh lại hoạt
động tín dụng của chúng tương đối ngắn, do đó nền kinh tế nhanh chóng khôi
phục lại một nền tảng ổn định để tiếp tục phát triển.
|
|
But the process of cure was misdiagnosed as the disease:
if shortage of bank reserves was causing a business decline — argued economic
interventionists — why not find a way of supplying increased reserves to the
banks so they never need be short! If banks can continue to loan money
indefinitely — it was claimed — there need never be any slumps in business.
And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of
twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but
in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by
these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of
the federal government. Technically, we remained on the gold standard;
individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as
bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal
Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay
depositors.
|
Tuy nhiên, “bài thuốc” chữa trị cũng sai như chính cách
căn bệnh được chẩn đoán: nếu sự thiếu hụt lượng vàng dự trữ ở ngân hàng là
nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế - theo lập luận của các học giả kinh tế
thuộc chủ thuyết can thiệp (economic interventionists) – vậy tại sao không
tìm cách nâng mức dự trữ ở các ngân hàng lên để không còn xảy ra tình trạng
thiếu hụt? Họ cho rằng nếu các ngân hàng có thể cấp tín dụng không giới hạn,
khi đó hoạt động kinh doanh sẽ không bao giờ trì trệ. Và thế là Hệ thống Dự
trữ Liên bang đã ra đời vào năm 1913. Hệ thống này được tạo nên bởi 12 ngân
hàng Dự trữ Liên bang vùng, trên danh nghĩa thuộc sở hữu tư nhân nhưng thực
tế do nhà nước cấp vốn, kiểm soát và hỗ trợ. Hoạt động cung cấp tín dụng ở
các ngân hàng này trên thực tế (tuy không được quy định bằng văn bản pháp lý)
có nguồn cung ứng từ tiền thuế của nhà nước liên bang. Về cơ bản, chúng ta
vẫn sử dụng bản vị vàng; cá nhân vẫn có thể tự do sở hữu vàng, đồng thời vàng
vẫn tiếp tục được dùng làm công cụ dự trữ tại các ngân hàng. Nhưng mặt khác,
giờ đây song song với vàng, tín dụng do nhóm ngân hàng Dự trữ Liên bang cung
cấp (“dự trữ bằng giấy tờ có giá” – “paper reserves” ) đã trở thành nguồn
thanh toán hợp pháp cho các khách hàng gửi giữ vàng.
|
|
When business in the United States underwent a mild
contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the
hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous,
however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had
been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest
rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable).
The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal
Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates
in the United States would fall to a level comparable with those in Great
Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political
embarrassment of having to raise interest rates. The "Fed"
succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of
the world, in the process. The excess credit which the Fed pumped into the
economy spilled over into the stock market, triggering a fantastic speculative
boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess
reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by
1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt
precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business
confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared
even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous
folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder
what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of
bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the
1930's.
|
Khi hoạt động kinh doanh ở Hoa Kỳ thu hẹp nhẹ trong năm
1927, Cục Dự trữ Liên bang đã tạo ra phương thức dự trữ bằng giấy tờ có giá
với hi vọng có thể tránh được một tình trạng thiếu hụt dự trữ có thể xảy ra
cho các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn, Cục Dự trữ Liên bang còn trợ
giúp Anh Quốc – nước vào thời điểm đó đang để mất vàng về tay chúng ta vì
Ngân hàng nước Anh nhất quyết không tăng lãi suất theo đúng quy luật thị
trường (vì điều này không có lợi về mặt chính trị). Lập luận của những người
đứng đầu như sau: nếu Cục Dự trữ Liên bang bơm một lượng lớn dự trữ giấy tờ
có giá vào các ngân hàng ở Mỹ, lãi suất trong nước sẽ hạ xuống một mức tương
thích với mức lãi suất ở Anh; điều này sẽ giúp nước Anh không để mất vàng
nữa, đồng thời tránh được một phen bẽ mặt chính trị vì phải nâng mức lãi suất
lên cao. Và “Cục” đã thành công; nước Anh không còn mất vàng, nhưng ngược lại
nền kinh tế của cả thế giới đã gần như bị hủy hoại. Lượng tín dụng thừa thãi
mà Cục Dự trữ bơm vào nền kinh tế bắt đầu tràn qua thị trường chứng khoán, để
rồi tạo ra tâm lý đầu cơ khắp nơi. Một cách muộn màng, các quan chức của Cục
Dự trữ Liên bang cố gắng giảm đi lượng dự trữ dư thừa, cuối cùng họ cũng
thành công trong việc kìm hãm làn sóng nở rộ của hoạt động đầu cơ. Tuy nhiên
mọi chuyện đã quá trễ: đến năm 1929, bất ổn do hoạt động đầu cơ gây ra là quá
lớn đến nỗi động thái kiểm soát lượng dự trữ như trên của Cục chỉ làm trầm
trọng thêm xu hướng cắt giảm chi tiêu và hệ quả kéo theo là niềm tin đối với
hoạt động kinh doanh bốc hơi. Kết cục, nền kinh tế Mỹ sụp đổ hoàn toàn. Tình
hình ở Anh còn nghiêm trọng hơn nữa. Thay vì chấp nhận khắc phục hậu quả của
những sai sót trước kia, nước này bãi bỏ hoàn toàn cơ chế bản vị vàng vào năm
1931- một quyết định đã xé tan tành những hi vọng còn sót lại và gây nên sự
đổ vỡ dây chuyền của các hệ thống ngân hàng toàn cầu. Kinh tế thế giới rơi
vào cuộc Đoại Suy thoái trong suốt những năm 1930.
|
|
With a logic reminiscent of a generation earlier, statists
argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle
which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they
argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused
the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we
had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed
gold standard"; yet it is gold that took the blame.)
|
Bằng một lập luận tương tư với thế hệ trước đó, một nhà
nghiên cứu tin rằng bản vị vàng chính là nguyên nhân chính gây ra bê bối tín
dụng để rồi đến lượt nó dẫn đến cuộc Đại Suy thoái. Họ cho rằng nếu bản vị
vàng không tồn tại, khi Anh Quốc bãi bỏ việc thanh toán bằng vàng vào năm
1931, hệ thống ngân hàng của cả thế giới đã không bị sụp đổ như vậy (Điều mỉa
mai là, kể từ năm 1913 cho đến nay, thứ chúng ta sử dụng không chỉ có mỗi bản
vị vàng, mà đó là sự pha trộn bản vị vàng với các tiêu chuẩn khác; thế nhưng
chỉ có vàng mới đáng bị lên án mà thôi.)
|
|
But the opposition to the gold standard in any form — from
a growing number of welfare-state advocates — was prompted by a much subtler
insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic
deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its
academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which
governments confiscate the wealth of the productive members of a society to
support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the
confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to
recognize that if they wished to retain political power, the amount of
taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive
deficit spending, ie, they had to borrow money, by issuing government bonds,
to finance welfare expenditures on a large scale.
|
Tuy nhiên, dù ở bất kỳ hình thức nào, sự cự tuyệt đối với
vàng từ số lượng các tiếng nói đang ngày một lớn dần ủng hộ nhà nước phúc lợi
đều xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa khó nhìn thấy hơn: đó là việc họ đã
nhận ra bản vị vàng và thâm hụt ngân sách (dấu hiệu đặc trưng của nhà nước
phúc lợi) là hai phạm trù không thể đi đôi với nhau. Bỏ qua hết các thuật ngữ
bác học, một nhà nước phúc lợi về bản chất không khác gì một cơ chế mà chính
phủ sử dụng nhằm tịch thu của cải do các thành viên có ích của xã hội làm ra
để cung ứng cho các chương trình phúc lợi. Một số lượng lớn của cải tịch thu
đến từ việc đánh thuế. Nhưng những người ủng hộ nhà nước phúc lợi cũng nhanh
chóng nhận ra rằng nếu muốn duy trì quyền lực chính trị, các sắc thuế buộc
phải hạn chế và do đó, lúc này chính phủ buộc phải chi tiêu thâm hụt ngân
sách lớn, như vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ để có
thể tài trợ cho các chương trình phúc lợi trên quy mô lớn.
|
|
Under a gold standard, the amount of credit that an
economy can support is determined by the economy's tangible assets, since
every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But
government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise
to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the
financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the
public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit
spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the
gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking
system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created
paper reserves in the form of government bonds which — through a complex
series of steps — the banks accept in place of tangible assets and treat as
if they were an actual deposit, ie, as the equivalent of what was formerly a
deposit of gold.
|
Dưới sự điều chỉnh của bản vị vàng, lượng tín dụng mà một
nền kinh tế có thể cung cấp được quyết định bởi các tài sản hữu hình của nền
kinh tế đó, vì mọi công cụ tín dụng xét cho cùng đều là tuyên bố nắm giữ tài
sản hữu hình. Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ không được xác định bởi tài sản
hữu hình mà chúng chỉ là lời hứa sẽ chi trả cho người nắm giữ trái phiếu bằng
tiền thuế của chính phủ, đồng thời chúng cũng không được thị trường tài chính
dễ dàng đón nhận. Chính phủ chỉ có thể bán trái phiếu với số lượng lớn ra
công chúng trong điều kiện lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất ngân
hàng. Do đó, khi bản vị vàng hiện diện, tình trạng thâm hụt ngân sách được
hạn chế xuống mức rất thấp. Ngược lại, việc bãi bỏ bản vị vàng sẽ tạo điều
kiện cho phía ủng hộ nhà nước phúc lợi thông qua hệ thống ngân hàng mở rộng
tín dụng không giới hạn. Để thực hiện mục tiêu trên, họ đã tạo ra công cụ dự
trữ bằng giấy tờ có giá, mà cụ thể là trái phiếu chính phủ. Qua nhiều thủ tục
phức tạp, các ngân hàng sẽ chấp nhận loại giấy tờ này như một tài sản gửi giữ
thay thế cho vàng.
|
|
The holder of a government bond or of a bank deposit
created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset.
But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets.
The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of
claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy,
prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive
members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books
are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods
purchased by the government for welfare or other purposes with the money
proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.
|
Những người nắm giữ trái phiếu chính phủ hoặc tài khoản
gửi giữ (bank deposit) được tạo ra bởi công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá tin
rằng họ đang có quyền sở hữu đối với một tài sản thực tế. Tuy nhiên, sự thật
là lúc này số lượng giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại vượt hơn rất nhiều so
với tài sản thực tế. Con người không thể thao túng quy luật tự nhiên của cung
và cầu. Khi nguồn cung vốn (từ các giấy tờ sở hữu) tăng lên tương đối so với
nguồn cung các tài sản hữu hình trong nền kinh tế, giá cả cuối cùng sẽ đội
lên, khiến cho thu nhập của các thành viên làm ra của cải trong xã hội sụt
giảm giá trị so với hàng hóa. Sau khi nền kinh tế đã cân bằng trở lại, người
ta nhận thấy rằng giá trị đã mất lúc này nằm ở lượng hàng hóa được chính phủ
mua lại thông qua chương trình phúc lợi hoặc một số chương trình khác bằng
tiền lãi thu được từ các khoản cho vay của nhóm ngân hàng được tài trợ bởi
trái phiếu chính phủ.
|
|
In the absence of the gold standard, there is no way to
protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store
of value. If there were, the government would have to make its holding
illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example,
to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and
thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits
would lose their purchasing power and government-created bank credit would be
worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state
requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.
|
Khi không có sự điều chỉnh của bản vị vàng, sẽ không có
cách nào bảo vệ thu nhập của xã hội khỏi tình trạng tịch thu của cải từ chính
phủ trong thời kỳ lạm phát, cũng như sẽ không có một công cụ dự trữ giá trị
an toàn. Giả sử nếu có, chính phủ rồi sẽ buộc phải bãi bỏ nó như đã làm với
vàng. Đặt trường hợp nếu tất cả mọi người quyết định chuyển đổi tài khoản gửi
giữ của mình thành bạc, đồng đỏ hay một loại hàng hóa nào khác và sau đó từ
chối chấp nhận séc thanh toán cho hàng hóa, khi ấy tài khoản gửi giữ sẽ mất
đi khả năng thanh toán, còn tín dụng ngân hàng do chính phủ tạo ra sẽ không
còn giá trị đối với hàng hóa. Chính sách tài khóa của một nhà nước phúc lợi
luôn đi đôi với tình trạng thiếu biện pháp tự bảo vệ của các chủ sở hữu của
cải trong xã hội.
|
|
This is the shabby secret of the welfare statists' tirades
against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of
wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector
of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in
understanding the statists' antagonism toward the gold standard.
|
Đây chính là bí mật xấu xí của phe ủng hộ nhà nước phúc
lợi và cự tuyệt vàng. Nói một cách đơn giản, chính sách chi tiêu thâm hụt
ngân sách là một cơ chế tịch thu của cải xã hội. Vàng chính là vật cản ngăn
chặn quá trình ngấm ngầm này, đồng thời nó cũng đóng vai trò bảo vệ cho quyền
sở hữu. Nếu hiểu được điều này, sẽ không khó để một người nhìn ra nguyên nhân
vì sao nhà nước phúc lợi lại nhất quyết “không đội trời chung” với vàng đến
thế.
|
|
|
|
|
Published in Ayn
Rand's "Objectivist" newsletter in 1966, and reprinted in her book,
Capitalism: The Unknown Ideal , in 1967.
|
Bài viết được in
trong thư ngỏ “Chủ nghĩa khách quan” của Ayn Rand vào năm 1966 và được tái
bản trong tác phẩm Capitalism: The Unknown Ideal của bà vào năm 1967.
|
|
|
Translated by Alex
Truong and edited by Nguyễn Công Huân
|
|
|
|
|
|
Ghi chú của nhóm dịch giả
[1]
"Statist" là những người theo chủ nghĩa nhà nước ( statism ). Những
người này ủng hộ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, và họ cho rằng nhà
nước phải kiểm soát và có những kế hoạch đối với nền kinh tế. Ngược lại với
chủ nghĩa nhà nước là những chủ nghĩa thị trường tự do (laissez-faire), những
người theo chủ nghĩa thị trường tự do ủng hộ một thị trường tự điều chỉnh mà
không có sự can thiệp của nhà nước.
[2] Bản vị vàng
(gold standard) là hệ thống tiền tệ sử dụng vàng làm đơn vị tiền tệ gốc, tiêu
chuẩn.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Saturday, January 19, 2013
Red riding hood Cô gái áo choàng đỏ
|
|
|
Red riding hood
|
Cô gái áo choàng đỏ
|
Je suis Caroline, photographe et rêveuse. Bienvenue sur mon blog où je
partage mes travaux récents: voyages imaginaires dans le monde de l'enfance,
explorations du féminin, et bonheurs du quotidien... Entrez, prenons une tasse de thé, et rêvons!
“Once upon a time there was a girl who lived on the
outskirts of the forest. She was lively and bright, and she wore a red cloak,
for that way if she ever went astray she would always stand out against the
trees and the bushes. As the years went by, and she became more woman than
girl, she grew more and more beautiful. many men wanted her for their bride,
but she turned them all down. None was good enough for her, for she was
cleverer than every man she met and they presented no challenge to her.
|
I am Caroline, photographer and dreamer. Welcome
to my blog where I share my recent work: imaginary travels into the world of
childhood, explorations of feminity, and daily happiness. Come in, let's have a
cup of tea and dream together!
"Nghe kể rằng
ngày xưa xưa lắm có một cô gái sống nơi ven rừng. Cô gái trông sống động, tươi sáng, và luôn
mặc một chiếc áo choàng màu đỏ, nhờ cách đó
nếu cô có đi đi lạc lối, cô cũng
sẽ luôn luôn nổi bật lên trên màu cây lá. Nhiều năm trôi qua, và khi cô đã ra dáng phụ nữ nhiều hơn
con gái, thì càng ngày càng xin đẹp hơn, nhiều chàng muốn
có cô làm cô dâu, nhưng cô từ chối tất cả bọn họ. Không ai xứng đáng với cô, vì cô thông minh hơn
tất cả những người đàn ông cô đã gặp và họ
đã không thể hiện chút bản lĩnh nào trước cô cả.
|
|
|
|
Her grandmother lived in a
cottage in the forest, and the girl would visit her often, bringing her baskets
of bread and meat and staying with her for a time. While her grandmother
slept, the girl would wander among the trees, tasting the wild berries and
strange fruits of the woods. One day, as she walked in a dark grove, a wolf
came.
|
Bà ngoại cô sống
trong một ngôi nhà nhỏ trong rừng, và cô gái thường tới thăm
bà đều đặn, mang theo giỏ bánh mì và thịt
và ở lại với bà một thời gian. Trong khi
bà ngoại ngủ, cô
gái hay đi lang thang giữa rừng, nếm các loại quả dại và trái
cây kỳ lạ trong rừng. Một ngày
nọ, khi cô bước vào một khu rừng tối, một
con chó sói xuất hiện.
|
|
|
|
It was wary of her and tried
to pass without being seen, but the girl’s senses were too acute. She saw the
wolf, and looked into its eyes and fell in love with the strangeness of it.
|
Con sói cảnh giác trước cô gái và đã tìm cách đi qua mà không bị cô gái phát hiện,
nhưng các giác quan của cô gái đã quá tinh nhạy. Cô thấy chàng sói, và
nhìn vào đôi mắt của nó và ngay lập
tức yêu cái dáng vẻ kì lạ của nó.
|
|
|
|
When it turned away, she
followed it, traveling deeper into the forest than she had ever gone before.
The wolf tried to lose her in places where there were no trails to follow, no
paths to be seen, but the girl was too quick for it, and mile after mile the
chase continued. At last, the wolf grew weary of the pursuit, and it turned to face
her. It bared its fangs and growled a warning, but she was not afraid.
|
Khi nó quay đi, cô gái đi theo sau, cô đi sâu vào rừng
tới những nơi chưa từng biết. Con sói
đã cố gắng để thoát khỏi cô gái ở những
nơi có không có con đường mòn nào để đi theo, không có dấu chân
để lần theo, nhưng cô gái đã quá nhanh chóng học được điều đó,
và từ dặm đường này đến dặm đường kia cô tiếp tục đuổi theo. Cuối
cùng, sói ta mệt mỏi trước
sự săn đuổi của nàng, và nó quay lại
đối mặt với nàng. Nó nhe nanh vuốt và
gầm lên lời cảnh báo, nhưng nàng không hề sợ hãi.
|
|
|
|
Lovely wolf… she whispered.
You have nothing to fear from me.
She reached out her hand and
placed it upon the wolf’s head. She ran her fingers through its fur and
calmed it. And the wolf saw what beautiful eyes she had (all the better to
see him with) , and what gentle hands (all the better to stroke him with).
the girl leaned forward, and she kissed the wolf. She cast off her red cloak
and put her basket of flowers aside, and she lay with the animal.”
|
Chàng sói đáng
yêu ơi... cô gái thì
thầm. Chàng không có
gì phải sợ tôi đâu
Cô đưa tay đặt
lên đầu sói. Cô lướt những ngón tay của mình luồn qua lớp lông
chàng sói và khiến nó bình tĩnh. Và chàng sói nhìn thấy
đẹp mắt cô gái đẹp ôi là đẹp (nhất
là khi đôi mắt ấy lại ngắm nhìn mình), và bàn tay nhẹ nhàng biết bao (nhất là khi đôi tay lại vuốt ve mình). cô
gái nghiêng người về phía trước, và cô hôn chàng sói. Nàng cởi chiếc áo choàng đỏ
của mình và đặt
giỏ hoa sang
một bên, và cô thả mình bên chàng
sói. "
|
|
|
|
Ce jour là, le rêve, c’était…
Se lever si tôt que nous
étions seuls dans les rues sombres et endormies de Paris.
Partir sur nos vélos, le long
du canal, dans le noir et le froid, dans une course avec le soleil, pour
arriver avant, pour être les premiers, pour voir la forêt s’éveiller.
Sentir les feuilles, les
branches, craquer sous nos pieds. Trouver dans nos sacs cette couverture
rouge, voir tout à coup du sens, un clin d’oeil.
Une fois passé le froid, la
forêt, nos sourires émerveillés, nos rires, une fois passée l’incongruité,
une fois passée l’inspiration. Une fois rentrés.
Voir du sens, après. Se
déstabiliser. Penser aux loups de nos vies.
Lire ce passage du roman de
John Connoly ( The book of Lost Things, le livre des choses perdues.) et
sourire, et penser à elle, à nous, à la forêt et au rouge, penser à notre
force, et se demander qui de la jeune fille ou du loup attrappe l’autre dans
le filet de son regard.
Penser aux femmes qui courent
avec les loups. Penser à la femme sauvage.
Et avoir confiance.
|
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra
chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của
Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông,
trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai
sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành
cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột
nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua,
một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí
và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt
cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng
đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong
tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm
cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh
của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và
tự hỏi liệu có những người thực sự quyến
rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo
những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại
ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy
lẫn nhau.
|
|
|
|
That day the dream was…
To get up so early that we
were alone, out in the dark, sleepy streets of Paris.
To leave on our bikes, along
the river, in the dark and cold, in a race against the sun, to get there
first, to see the forest wake.
Feel the leaves, the twigs,
cracking under our feet. Finding the red blanket in our bag and suddenly
seeing a tale.
And once the cold was over,
once we were done with the forest, with the smiles, with the strangeness and
the inspiration. With the exhilaration. Once we were back.
Seeing meaning then, feeling
uneasy. Thinking of the wolves in our lives, how they’d crept in.
Coming across this passage in
John Connoly’s novel (the book of lost things), and smiling, and thinking of
her, of us, of the forest and of the red, thinking of our strength.
Thinking of the girl and the
wolf, and wonder who really catches the other with their eyes.
Thinking of women running with
wolves.
Thinking of the wild woman.
Trusting ourselves and each
other.
|
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra
chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của
Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông,
trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai
sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành
cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột
nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua,
một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí
và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt
cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng
đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong
tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm
cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh
của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và
tự hỏi liệu có những người thực sự quyến
rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo
những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại
ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy
lẫn nhau.
|
|
|
|
|
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)