|
|
|
|
Cyber War and Peace
|
Chiến tranh và hòa
bình trên không gian mạng
|
|
Joseph S. Nye
|
Joseph S. Nye
|
|
Apr. 10, 2012
|
Apr. 10/4/2012
|
|
|
|
|
CAMBRIDGE – Two years ago, a piece of faulty computer code
infected Iran’s nuclear program and destroyed many of the centrifuges used to
enrich uranium. Some observers declared this apparent sabotage to be the
harbinger of a new form of warfare, and United States Secretary of Defense
Leon Panetta has warned Americans of the danger of a “cyber Pearl Harbor”
attack on the US. But what do we really know about cyber conflict?
|
CAMBRIDGE – Hai năm trước một đoạn mã máy tính sai đã thâm
nhập vào chương trình hạt nhân của Iran và phá hủy nhiều máy li tâm chuyên
dùng cho việc làm giàu uranium. Một số nhà quan sát tuyên bố rằng vụ phá hoại
hiển nhiên này là điềm báo của một hình thức chiến tranh mới và ông Leon
Panetta, Bộ trưởng quốc phòng Mĩ, đã cảnh báo về nguy cơ của một cuộc tấn
công “Chân Trâu cảng trên không gian ảo” vào nước Mĩ. Nhưng chúng ta biết gì
về cuộc xung đột trên không gian ảo?
|
|
The cyber domain of computers and related electronic
activities is a complex man-made environment, and human adversaries are
purposeful and intelligent. Mountains and oceans are hard to move, but
portions of cyberspace can be turned on and off by throwing a switch. It is
far cheaper and quicker to move electrons across the globe than to move large
ships long distances.
|
Không gian ảo của máy tính và những hoạt động liên quan
đến lĩnh vực điện tử là môi trường phức tạp do con người tạo ra, còn kẻ thù
của họ là những người thông minh và hoạt động một cách có chủ đích. Rời non
và lấp biển là việc khó, nhưng chỉ cần tắt-mở một cái công tắc là ta có thể
chuyển rời một phần không gian ảo rồi. Chuyển mấy hạt điện tử chạy vòng quanh
trái đất thì dễ và rẻ hơn rất nhiều so với chuyển những chiếc tàu thủy lớn đi
một đoạn đường dài.
|
|
The costs of developing those vessels – multiple carrier
task forces and submarine fleets – create enormous barriers to entry,
enabling US naval dominance. But the barriers to entry in the cyber domain
are so low that non-state actors and small states can play a significant role
at low cost.
|
Giá thành sản xuất của những con tàu đó – những chiếc hàng
không mẫu hạm và hạm đội tàu ngầm đa chức năng – gây ra những rào cản đáng
kể, không phải nước nào cũng đủ sức vượt qua, tạo điều kiện cho Mĩ giữ địa vị
thống trị trong lĩnh vực này. Nhưng rào cản đối với không gian ảo quá thấp;
với chi phí không đáng kể, những kẻ hoạt động bên ngoài nhà nước và các quốc
gia nhỏ có thể có vai trò quan trọng.
|
|
In my book The Future of Power, I argue that the diffusion
of power away from governments is one of this century’s great political
shifts. & Cyberspace is a perfect example. Large countries like the US,
Russia, Britain, France, and China have greater capacity than other states
and non-state actors to control the sea, air, or space, but it makes little sense
to speak of dominance in cyberspace. If anything, dependence on complex cyber
systems for support of military and economic activities creates new
vulnerabilities in large states that can be exploited by non-state actors.
|
Trong tác phẩm Tương lai của quyền lực, tôi khẳng định
rằng việc chính phủ mất dần quyền lực là một trong những thay đổi vĩ đại nhất
về mặt chính trị trong thế kỉ này. Không gian ảo là thí dụ tuyệt vời minh họa
cho điều đó. Những nước lớn như Mĩ, Nga, Anh, Pháp và Trung Quốc có nhiều khả
năng kiểm soát biển, trời và vũ trụ hơn những nước nhỏ và các đối tượng hoạt
động bên ngoài nhà nước, nhưng nói về quyền bá chủ trong không gian ảo là
việc làm vô nghĩa. Dù sao mặc lòng, việc những hoạt động kinh tế và chính trị
phụ thuộc vào hệ thống phức tạp trên không gian ảo đã tạo ra những khu vực dễ
bị tổn thương trong những nước lớn, đấy cũng là những khu vực dễ bị những đối
tượng hoạt động bên ngoài nhà nước lợi dụng.
|
|
Four decades ago, the US Department of Defense created the
Internet; today, by most accounts, the US remains the leading country in
terms of its military and societal use. But greater dependence on networked
computers and communication leaves the US more vulnerable to attack than many
other countries, and cyberspace has become a major source of insecurity, because,
at this stage of technological development, offense prevails over defense
there.
|
Bộ quốc phòng Mĩ tạo ra Internet cách đây bốn mươi năm;
hiện nay, đa số các đánh giá đều cho rằng Mĩ vẫn là nước dẫn đầu trong việc
sử dụng Internet cho nhu cầu quân sự và xã hội. Nhưng việc phụ thuộc quá
nhiều vào hệ thống máy tính nối mạng và thông tin trên mạng làm cho Mĩ dễ bị
tấn công hơn nhiều nước khác, và không gian ảo trở thành nguồn gốc nguy hiểm
lớn nhất, vì trong giai đoạn phát triển công nghệ hiện nay, kĩ thuật tấn công
đang áp đảo kĩ thuật phòng vệ
|
|
The term “cyber attack”covers a wide variety of actions,
ranging from simple probes to defacing Web sites, denial of service,
espionage, and destruction. Similarly, the term “cyber war” is used loosely
to cover a wide range of behaviors, reflecting dictionary definitions of war
that range from armed conflict to any hostile contest (for example, “war
between the sexes” or “war on drugs”).
|
Thật ngữ “tấn công trên không gian ảo” bao gồm một loạt
hoạt động, từ đơn giản là tìm cách thay đổi giao diện của Web sites, đến từ
chối dịch vụ, hoạt động gián điệp và phá hoại. Tương tự như thế, thuật ngữ “chiến
tranh trên không gian ảo” được sử dụng một cách tương đối tùy tiện để nói về
một loạt hành vi, thể hiện trong định nghĩa của các cuốn từ điển về chiến
tranh, từ xung đột vũ trang đến những hành động thù địch khác (thí dụ, “chiến
tranh giữa hai phái (nam-nữ)” hay “chiến tranh chống tệ nạn buôn lậu ma
túy”).
|
|
At the other extreme, some experts use a narrow definition
of cyber war: a “bloodless war” among states that consists solely of
electronic conflict in cyberspace. But this avoids the important
interconnections between the physical and virtual layers of cyberspace. As
the Stuxnet virus that infected Iran’s nuclear program showed, software
attacks can have very real physical effects.
|
Nhưng một số chuyên gia lại có quan điểm khác hẳn, họ sử
dụng định nghĩa hẹp về chiến tranh trên không gian ảo: đấy là “cuộc chiến
không có đổ máu” giữa các quốc gia, chỉ là xung đột trong lĩnh vực điện tử
trên không gian ảo mà thôi. Nhưng định nghĩa này đã bỏ qua những tương tác
quan trọng giữa tầng ảo và tầng vật chất trong không gian kĩ thuật số. Con
virus Stuxnet – virus nhiễm vào chương trình hạt nhân của Iran - cho thấy
rằng những cuộc tấn công vào phần mềm có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề
về mặt vật chất.
|
|
A more useful definition of cyber waris hostile action in
cyberspace whose effects amplify or are equivalent to major physical
violence. In the physical world, governments have a near-monopoly on
large-scale use of force, the defender has an intimate knowledge of the
terrain, and attacks end because of attrition or exhaustion. Both resources
and mobility are costly.
|
Sẽ có ích hơn nếu ta định nghĩa chiến tranh trên không
gian ảo là: hành động thù địch làm gia tăng hay tương đương với một vụ bạo
hành lớn trên bình diện vật chất. Trong thế giới vật chất, các chính phủ hầu
như được độc quyền trong những vụ trấn áp có sử dụng những lực lượng mạnh,
bên phòng thủ có kiến thức sâu sắc về khu vực và cuộc tấn công sẽ chấm dứt vì
bị tiêu hao sinh lực hay kiệt sức. Nhưng người ta phải trả giá đắt cho các
nguồn lực và khả năng vận động.
|
|
In the cyber world, by contrast, actors are diverse (and
sometimes anonymous), physical distance is immaterial, and some forms of
offense are cheap. Because the Internet was designed for ease of use rather
than security, attackers currently have the advantage over defenders.
Technological evolution, including efforts to “reengineer” some systems for
greater security, might eventually change that, but, for now, it remains the
case. The larger party has limited ability to disarm or destroy the enemy,
occupy territory, or use counterforce strategies effectively.
|
Ngược lại, chủ thể hành động trong không gian ảo là rất đa
dạng (đôi khi còn ẩn danh nữa), khoảng cách không phải là vấn đề quan trọng,
một số hình thức tấn công lại rất rẻ. Mạng Internet được thiết kế với mục
đích dễ dàng cho người dùng chứ không phải vì mục đích an toàn, cho nên những
kẻ tấn công có lợi thế hơn bên phòng thủ. Sự phát triển về công nghệ, trong
đó có những cố gắng nhằm “xây dựng lại” một số hệ thống nhằm làm gia tăng mức
độ an toàn, cuối cùng có thể thay đổi được điều đó, nhưng hiện này tình hình
đúng là như thế. Bên lớn hơn cũng chỉ có những khả năng rất hạn chế trong
việc giải giới hay hủy diệt đối phương, chiếm đóng lãnh thổ hay áp dụng chiến
lược đối phó một cách hữu hiệu.
|
|
|
|
|
Cyber war, though only incipient at this stage, is the
most dramatic of the potential threats. Major states with elaborate technical
and human resources could, in principle, create massive disruption and
physical destruction through cyber attacks on military and civilian targets.
Responses to cyber war include a form of interstate deterrence through denial
and entanglement, offensive capabilities, and designs for rapid network and
infrastructure recovery if deterrence fails. At some point, it may be
possible to reinforce these steps with certain rudimentary norms and arms
control, but the world is at an early stage in this process.
|
Mặc dù mới ở dạng phôi thai, nhưng chiến tranh trên không
gian ảo là một trong những mối đe dọa tiềm tàng nguy hiểm nhất. Về nguyên
tắc, bằng những cuộc tấn công trên không gian ảo nhắm vào những mục tiêu quân
sự và dân sự, những nước lớn, với nguồn lực về con người và trình độ kĩ thuật
tinh xảo, có thể gây ra những vụ đổ vỡ trên diện rộng và thiệt hại nặng nề về
mặt vật chất. Có thể đáp trả chiến tranh trên không gian ảo bằng những biện
pháp phòng thủ liên quốc gia như cấm đoán và cản trở, tăng cường khả năng tấn
công, và khi không thể ngăn chặn được thì phải có phương tiện phục hồi mạng
lưới và cơ sở hạ tầng một cách nhanh chóng. Đến một lúc nào đó có thể gắn
những bước đi này vào những tiêu chuẩn và kiểm soát vũ khí đang còn phôi thai
như hiện nay, nhưng thế giới mới ở giai đoạn đầu của tiến trình này mà thôi.
|
|
If one treats so-called “hacktivism” by ideological groups
as mostly a disruptive nuisance at this stage, there remain four major
categories of cyber threats to national security, each with a different time horizon:
cyber war and economic espionage are largely associated with states, and
cyber crime and cyber terrorism are mostly associated with non-state actors.
For the US, the highest costs currently stem from espionage and crime, but
over the next decade or so, war and terrorism could become greater threats
than they are today.
|
Nếu hiện nay mối đe dọa của hoạt động tin tặc của những
nhóm người theo những hệ tư tưởng nào đó chỉ gây ra sự phiền toái thì đối với
an ninh quốc gia có bốn mối đe dọa chính sau đây: chiến tranh trên không gian
ảo và gián điệp kinh tế - liên quan chủ yếu đến các quốc gia – tội phạm và
khủng bố trên không gian ảo - liên quan chủ yếu đến những chủ thể hoạt động
bên ngoài nhà nước. Mĩ bị thiệt hại nhiều nhất từ hoạt động gián điệp và tội
phạm, nhưng trong thập niên sau hoặc lâu hơn một chút, chiến tranh và khủng
bố có thể trở thành mối đe dọa lớn hơn
so với hiện nay.
|
|
Moreover, as alliances and tactics evolve, the categories
may increasingly overlap. In the view of Admiral Mike McConnell, America’s
former director of national intelligence, “Sooner or later, terror groups
will achieve cyber-sophistication. It’s like nuclear proliferation, only far
easier.”
|
Ngoài ra, khi các liên minh và chiến thuật tiến triển thêm
thì những mối đe dọa bên trên có thể chồng lấn lên nhau. Đô đốc Mike
McConnell, cựu giám đốc cơ quan tình báo quốc gia nói rằng “Trước sau gì thì
những nhóm khủng bố cũng thành thạo kĩ thuật mạng. Nó cũng giống như việc phổ
biến vũ khí hạt nhân thôi, nhưng dễ dàng hơn nhiều”.
|
|
The world is only just beginning to see glimpses of cyber
war – in the denial-of-service attacks that accompanied the conventional war
in Georgia in 2008, or the recent sabotage of Iranian centrifuges. States
have the greatest capabilities, but non-state actors are more likely to
initiate a catastrophic attack. & A “cyber 9/11” may be more likely than
the often-mentioned “cyber Pearl Harbor.” It is time for states to sit down
and discuss how to limit this threat to world peace.
|
Thế giới mới chỉ nhìn thấy những nét lờ mờ của cuộc chiến
tranh trên không gian ảo mà thôi – đấy là những cuộc tấn công gây ra phản ứng
từ chối dịch vụ diễn ta song song với cuộc tấn công thông thường ở Georgia
vào năm 2008 hay vụ phá hoại máy li tâm của Iran trong thời gian gần đây.
Quốc gia là những tác nhân có tiềm năng lớn nhất, nhưng những tác nhân hoạt
động bên ngoài nhà nước có vẻ như sẽ là những kẻ gây ra những vụ tấn công đầy
thảm họa. “Cuộc tấn công trên không gian ảo 11/9” có vẻ như dễ xảy ra hơn là
“Chân Trâu cảng trên không gian ảo” như đã nói tới bên trên. Đây là lúc các
nước phải ngồi lại và thảo luận những biện pháp nhằm làm giảm thiểu mối đe
dọa này đối với hòa bình thế giới.
|
|
|
|
|
Joseph S. Nye, a
former US assistant secretary of defense and chairman of the US National
Intelligence Council, is a professor at Harvard University and one of the
world’s foremost scholars of inte…
|
Joseph S. Nye, là
cựu trợ lí của Bộ trưởng quốc phòng và hội đồng tình báo quốc gia Hoa Kỳ,
giáo sư đại học Harvard và là một trong những học giả nổi bật nhất về
quan hệ quốc tế.
|
|
|
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
|
|
|
http://www.project-syndicate.org/commentary/cyber-war-and-peace
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Saturday, June 30, 2012
Cyber War and Peace Chiến tranh và hòa bình trên không gian mạng
Великая образовательная держава Интеллектуалы и власть Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục
|
|
|
Великая
образовательная держава Интеллектуалы и власть
|
Mĩ: siêu cường trong
lĩnh vực giáo dục
|
Рэндалл Коллинз
|
Collinz Randall
|
Главная сила университетов Америки заключается в том, что
их много, они разнообразны и имеют сложную организацию и различные источники
финансирования.
|
Sức mạnh chủ yếu của hệ thống giáo dục đại học Mĩ là có
nhiều trường, các trường rất đa dạng và có tổ chức phức tạp và có nguồn tài
chính khác nhau.
|
В отличие от многих других стран, в США нет центральных
государственных университетов. Многие университеты получают денежные гранты
от федеральных властей, но в основном они присуждаются отдельным ученым за их
исследовательские проекты, благодаря чему университет получает часть выделенных
средств на административные расходы. Это делает известных профессоров очень
влиятельными. И когда они переходят из одного университета в другой, их
влиятельность позволяет им рассчитывать на достойное отношение.
|
Khác với nhiều quốc gia khác, Mĩ không có các trường đại
học quốc gia trực thuộc trung ương. Nhiều trường nhận được tài trợ từ chính
phủ liên bang, nhưng đa số các khoản tài trợ này là dành cho các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học, nhờ đó mà nhà trường được dành một phần cho
công tác quản lí. Điều đó làm cho một số chuyên gia nổi tiếng có ảnh hưởng
rất lớn. Và khi họ chuyển từ trường này sang trường kia, ảnh hưởng đó làm cho
người ta tin rằng họ sẽ được đối xử một cách xứng đáng.
|
Государственные университеты есть во всех штатах, между
ними существует конкуренция. Обычно каждый штат хочет иметь несколько видов
государственных университетов: а) элитный государственный университет,
ориентированный на исследовательскую работу, – например, университет штата
Калифорния, университет штата Мичиган; б) массовые неэлитные университеты; в)
каждый из этого множества университетов имеет многочисленные филиалы –
например, Калифорнийский университет в Лос-Анджелесе, Калифорнийский
университет в Беркли, Калифорнийский университет в Сан-Диего; г)
муниципальные университеты – например, Сити-колледж Нью-Йорка; д) колледжи с
двухгодичными образовательными программами для студентов, не добирающих
баллов, достаточных для поступления в более престижные университеты. Все эти
различные виды университетов обеспечивают рабочие места преподавателям
(которые обычно получают свои степени в более элитных университетах). Таким
образом, неэлитные университеты косвенно поддерживают элитные.
|
Tất cả các bang đều có trường đại học công lập, giữa những
trường này cũng có sự cạnh tranh. Thường thì mỗi bang đều muốn có mấy loại
hình trường đại học công lập: a) trường đại học tinh hoa, hướng vào công tác
nghiên cứu - thí dụ như trường đại học của bang California, trường đại học
của bang Michigan; b) những trường đại học giành cho đại chúng, không phải
tinh hoa; c) mỗi trường lại có rất nhiều phân hiệu - thí dụ như đại học
California ở Los-Angeles, đại học California ở Berkeley, đại học California ở
San-Diego; d) trường cao đẳng với chương trình học tập kéo dài hai năm, dành
cho những họcsinh không đủ điểm vào những trường đại học có uy tín hơn. Tất
cả những loại hình trường lớp này bảo đảm công ăn việc làm cho các giáo viên
(những người thường tốt nghiệp các trường ưu tú). Như vậy là những trường đại
học bình thường gián tiếp ủng hộ những trường ưu tú.
|
Подобным образом обстоит дело с религиозными
университетами. Поскольку в США нет государственной церкви, различные
конфессии стремятся открыть свои собственные университеты. Такие университеты
есть во всех штатах, и их содержат практически все конфессии.
|
Các trường đại học tôn giáo cũng có tình hình tương tự. Vì
Mĩ không có tôn giáo của nhà nước cho nên các tôn giáo khác nhau đều tìm cách
mở trường đại học của riêng mình. Bang nào cũng có những trường như thế và
hầu như tôn giáo nào cũng có trường riêng.
|
Наиболее престижными университетами в США считаются
частные – Гарвард, Йельский, Принстонский, Стэнфордский, Чикагский
университет, Университет Дьюка, Университет Пенсильвании (несмотря на
название, этот университет частный – крупный государственный университет в
штате называется Государственный университет Пенсильвании).
|
Các trường tư thục như Harvard University, Yale,
Princeton, Stanford, Duke University, Chicago, Pennsylvania (mặc dù gọi là
trường University of Pennsylvania, nhưng đây là trường tư, còn trường đại học
quốc gia ở bang này lại có tên lên Pennsylvania State University) là những
trường có uy tín nhất.
|
Их престиж обусловлен и тем, что это старейшие
университеты в стране, и тем, что они изначально были связаны с высшим
классом, и поэтому преемственность элитного статуса задается составом
студентов. На протяжении многих десятилетий они могли привлекать на работу
самых выдающихся профессоров. Они также успешно привлекали исследовательские
гранты и становились центрами бюджетного финансирования.
|
Uy tín của các trường này là do đấy là những trường lâu
đời nhất, khởi kì thủy là do các giai cấp trên xây dựng lên và thành phần
sinh viên quyết định tính kế thừa địa vị tinh hoa của chúng. Trong suốt hàng
chục năm ròng, các trường này có thể lôi kéo những giáo sư tài ba nhất đến
làm việc ở đấy. Các trường này cũng thường xuyên tìm được tài trợ cho các
công trình nghiên cứu và trở thành những trung tâm đầu tư từ ngân sách nhà
nước.
|
Коммерческие университеты. Они появились относительно
недавно, их авторитет невысок. Например, Университет Феникса – своего рода
недорогая вечерняя школа для студентов, которые хотят получить определенные
профессиональный навыки.
|
Các trường mang tính thương mại. Đây lả những trường xuất
hiện chưa lâu, uy tín không cao. Thí dụ như University of Phoenix – đây là
loại trường buổi tối, giá rẻ, giành cho những sinh viên muốn có một số nghề
nghiệp nhất định.
|
Различные виды университетов – государственные,
религиозные, частные – периодически стремятся подражать друг другу. Например,
католические университеты не так сильно упирают на вопросы религии и нанимают
профессоров, которые не являются католиками. Многие традиционные
протестантские университеты стремятся стать светскими.
|
Những kiểu trường đại học khác nhau - quốc gia, tôn giáo,
tư thục - thường xuyên tìm cách bắt chước nhau. Thí dụ như các trường Thiên
chúa giao không quá lệ thuộc vào những vấn đề tôn giáo và có thuê các các
giáo sư không phải là người Thiên chúa giáo. Nhiều trường đại học Tin lành
tìm cách chuyển thành các trường thế tục.
|
Американские университеты могут обеспечить свою
независимость, потому что у них есть многочисленные источники финансирования:
– государственные гранты (прямое государственное финансирование
государственных университетов, а также исследовательские гранты и гранты на
стипендию студентам);
|
Các trường đại học Mĩ có thể bảo đảm được quyền tự chủ là
vì họ có nhiều nguồn cung cấp tài chính:
– tài trợ của nhà nước (nhà nước trực tiếp cung cấp tài
chính cho các trường đại học quốc gia, cũng như tài trợ cho công tác nghiên
cứu và học bổng cho sinh viên);
|
– студенческие взносы, которые также помогают обеспечить
определенную независимость от государственного контроля;
|
– đóng góp của sinh viên, những khoản đóng góp này cũng
góp phần bảo đảm sự tự chủ khỏi việc kiểm soát của nhà nước;
|
– благотворительные пожертвования – от состоятельных
людей, корпораций, выпускников. Для богатых людей это вопрос престижа –
выделять деньги университетам. Наиболее известным университетам присвоены
имена их основателей (Гарвард, Йель, Стэнфорд, Дьюк). В других случаях имя
богатого спонсора увековечивают, называя его именем один из корпусов
университета;
|
– đóng góp mang tính từ thiện – từ những người giàu có,
các công ty và sinh viên đã ra trường. Cung cấp tiền cho các trường đại học
là vấn đề uy tín. Những trường đại học nổi tiếng nhất thường mang tên người
sáng lập (Harvard, Yale, Stanford,
Duke). Đôi khi người ta tìm cách vinh danh những người bảo trợ giàu có bằng
cách gắn tên tuổi của họ với một trong những tòa nhà của trường;
|
– довольно распространенным источником средств является
спорт. В XX веке вдруг оказалось, что университет может стать знаменитым,
имея успешную футбольную или баскетбольную команду. Университет может
получить огромные доходы от продажи билетов на игры, от продажи прав на
телевизионную трансляцию, от продажи одежды со спортивной символикой и т.д.
За пределами США спорт отделен от школы. Поэтому такой источник доходов
больше нигде не существует. Неожиданным следствием этого оказался тот факт,
что в США наиболее популярными университетами стали не те, где высокий
уровень образования, а те, у которых наиболее успешные спортивные команды.
* * *
|
– thể thao cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Trong thế kỉ
XX, trường đại học có thể trở thành nổi tiếng nếu có một đội bóng đá hay bóng
rổ mạnh. Trường có thể có thu nhập khá lớn từ bán vé các trận đấu, bán quyền
truyền hình và bán quần áo thể thao với biểu tượng của đội... Ở các nước
khác, thể thao thường tách khỏi nhà trường. Vì vậy mà không ở đâu có nguồn
thu như thế. Kết quả thật bất ngờ là những trường nổi tiếng nhất không phải
là những trường có trình độ giáo dục cao nhất mà lại là những trường có đội thể
thao thành công nhất.
* * *
|
В силу множества источников дохода ни бизнес, ни
правительство не контролируют университеты в полной мере. В этом залог
автономности университетов. Как это преобразуется в интеллектуальную
продуктивность и интеллектуальное доминирование в мире? Во многих областях
американские университеты борются за привлечение самых известных и
продуктивных профессоров, и, как правило, они в состоянии предлагать им
большее жалование и большую независимость для реализации своих идей.
|
Do có nhiều nguồn thu cho nên cả doanh nghiệp lẫn chính
phủ đều không thể kiểm soát được hoàn toàn trường học. Đấy là bảo đảm cho sự
tự chủ của nhà trường. Làm thế nào mà chuyện đó có thể nâng cao được năng
suất trong lĩnh vực trí tuệ và làm cho Mĩ trở thành nước giữ thế thượng phong
về mặt trí tuệ trên thế giới? Các trường đại học tìm cách mời những giáo sư
nổi tiếng nhất và có năng suất cao nhất và thường thì các trường của Mĩ cũng
có điều kiện trả họ mức lương cao hơn và sự tự chủ để các giáo sư có thể thực
hiện được những ý tưởng của mình.
|
Другой ключевой момент – внутренняя структура:
американские университеты имеют множество профессоров в каждой области. Это
отличается от традиционной европейской системы – «на каждую специальность по
одному профессору». Американские университеты стремятся создавать крупные
кафедры со многими профессорами в одной области: это смещает центр власти от
руководства университета к кафедрам. Таким образом, кафедры становятся
центрами инноваций.
|
Một tác nhân quan trọng khác - cơ cấu bên trong, các
trường đại học Mĩ có rất nhiều giáo sư trong từng lĩnh vực. Đấy là sự khác
biệt với hệ thống giáo dục truyền thống của châu Âu – nơi "mỗi ngành chỉ
có một giáo sư". Các trường đại học Mĩ thường tìm cách thành lập những
khoa lớn với nhiều giáo sư trong mỗi lĩnh vực, điều đó đã chuyển trung tâm
quyền lực lãnh đạo của trường xuống các khoa. Như vậy nghĩa là các khoa trở
thành trung tâm cải tiến.
|
Американская система заняла лидирующие позиции в мире
после Второй мировой войны. Отчасти это произошло из-за уничтожения
университетов Германии (нацистами и войной). Соединенные Штаты извлекли из
этого выгоду, приняв на работу лучших профессоров-эмигрантов. Многие
сегодняшние американские профессора являются их учениками.
|
Từ sau Thế chiến II, hệ thống giáo dục Mĩ đã chiếm được
những vị trí đầu tầu trên thế giới. Một phần là do sự suy sụp của các trường
đại học ở Đức (chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã). Mĩ đã được lợi vì nước này
thu nhận những giáo sư-nhập cư tài giỏi nhất vào các trường đại học của mình.
Nhiều giáo sư hiện nay là học trò của những người di dân thuở nào.
|
Но 1945 год был также тем временным рубежом, когда
образование в американских университетах стало массовым: процент молодежи,
обучающейся в университетах, возрос с 10 до 60 процентов на сегодняшний день.
Это обусловило потребность в большем количестве университетов, преподавателей
и, следовательно, в структурах, поощряющих инновации. В противоположность
этому, например, французские университеты были ограничены централизованной
структурой. А британские университеты, хотя и обладали большой долей
внутренней автономии, попадали под все большее давление правительства как
едва ли не монопольного источника финансирования.
|
Năm 1945 cũng là thời điểm mà giáo dục đại học Mĩ trở
thành đại chúng: tỉ lệ thanh niên theo học đại học từ 10 phần trăm đã tăng
dần và hiện chiếm tới lên 60 phần trăm. Điều này làm gia tăng nhu cầu số
lượng trường đại học, giáo viên và kết quả là gia tăng những cơ cấu khuyến
khích sáng kiến. Ở Pháp thì lại khác, các trường đại học ở nước này bị giới
hạn bởi cơ cấu của trung ương. Các trường ở Anh, tuy có được khá nhiều quyền
tự chủ, nhưng càng ngày càng bị chính phủ áp lực vì họ hầu như chỉ có một
nguồn tài trợ duy nhất là ngân sách.
|
* * *
Американские университеты сейчас испытывают некоторые
кратковременные затруднения. С тех пор, как элитные университеты стали
получать немалые денежные пожертвования от частных лиц, они стали крупными
игроками на фондовом рынке; поэтому в связи с рыночным спадом экономического
кризиса последних двух лет, многие университеты стали составлять более
консервативные бюджеты. Но так как это только один из источников доходов, я
не думаю, что это сильно повлияет на их автономность.
|
* * *
Hiện nay các trường đại học Mĩ cũng gặp một số khó khăn
tạm thời. Từ khi các trường tinh hoa nhận được nhiều tiền quyên góp của các cá
nhân thì họ cũng trở thành những tay chơi có máu mặt trên thị trường chứng
khóan, vì vậy mà cùng với sự suy thoái kinh tế trong hai năm vừa qua, họ đã
phải đưa ra những kế hoạch tài chính mang tính bảo thủ hơn. Nhưng đây chỉ là
một trong những nguồn thu cho nên tôi nghĩ rằng nó cũng không có ảnh hưởng
lớn đối với tính tự chủ của họ.
|
В естественных науках существовало тесное сотрудничество
между бизнесом и университетами в деле реализации специфических
исследовательских проектов. Некоторые критики возмущались, что это заставило
университеты забыть об идеалах стремления к знаниям, и толкнуло их в
стяжательство. Такое давление существует, но есть и уравновешивающие факторы:
важность удержания известных профессоров на одном факультете, что
благоприятствует чисто интеллектуальной деятельности. Тем более, что великое
открытие или теория все еще является лучшим способом приобрести известность.
Также многие университетские профессора проявляют собственную инициативу
найти своим открытиям коммерческое применение. Пример этому: бум
биотехнологий последних лет. Поэтому не следует считать, что
исследовательская деятельность университетов целиком и полностью определяется
запросами бизнеса. Более того, многие высокотехнологичные предприятия стали
напоминать университетские городки. Они имитируют университетский стиль.
|
Trong các môn khoa học tự nhiện, có sự hợp tác gắn bó giữa
giới doanh nghiệp và các trường thực hiện những dự án nghiên cứu đặc thù. Một
số nhà phê bình phàn nàn rằng điều đó sẽ buộc các trường phải quên đi lí
tưởng là tìm kiếm kiến thức và làm cho họ có thói hám lợi. Áp lực là có,
nhưng cũng có những tác nhân cân bằng khác: tầm quan trọng của việc giữ các
giáo sư nổi tiếng trong cùng một khoa, điều này sẽ thúc đẩy những hoạt động
thuần túy trí thức. Tuy nhiên, phát minh vĩ đại hay lí thuyết mới vẫn là
phương pháp tạo uy tín tốt nhất. Nhiều giáo sư đại học còn thể hiện sáng kiến
riêng bằng cách đưa phát minh của mình ứng dụng vào lĩnh vực thương mại. Thí dụ
như sự bùng nổ của công nghệ sinh học trong mấy năm gần đây. Vì vậy mà không
được coi hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hoàn toàn là do nhu cầu
của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhiều xí nghiệp công nghệ cao lại làm cho người ta
liên tưởng tới khuôn viên đại học. Các xí nghiệp này bắt chước cách làm việc
của trường đại học.
|
Не стоит преувеличивать интеллектуальный монополизм
американских университетов в мире. В более интеллектуальных областях, таких
как философия, литература и социология, мировой интеллектуальный центр
последние 50 лет, вероятно, находился в Париже. Так сложилось благодаря
уникальной комбинации элитных французских университетов, издательского и
медиа-бизнеса, политического центра, мира искусств – отсюда знаменитые
«французские мыслители», такие как Сартр, Леви-Стросс, Бурдье, которые
приобрели широкую известность за пределами университетов.
|
Nhưng cũng không nên cường điệu sự độc quyền về trí tuệ
của các trường đại học Mĩ. Trong những lĩnh vực trí tuệ như triết học, văn
học và xã hội học, trung tâm tri thức thế giới trong 50 năm lại đây có lẽ nằm
ở Paris. Chuyện đó xảy ra là do sự kết hợp một cách tài tình những trường đại
học tinh hoa, ngành in ấn và công nghệ truyền thông, trung tâm chính trị và
thế giới nghệ thuật của Pháp - từ đó mới có các "nhà tư tưởng" nổi
tiếng của Pháp như Sartre, Lévi-Strauss vả Bourdieu, những người nổi tiếng cả
ở bên ngoài khuôn viên đại học.
|
Подобной структуры приобретения известности в самых разных
областях нет в США – и американские интеллектуалы часто жалуются на это.
Вашингтон является политическим, но не главным интеллектуальным центром;
Нью-Йорк и Лос-Анджелес являются медиа-центрами, а также там есть несколько
хороших университетов, но эти города – не столицы и не они доминируют в
университетском мире. Крупные университеты расположились в Бостоне, Чикаго,
Сан-Франциско, Филадельфии, и многих меньших по размеру городах, таких как
Принстон или Нью-Хейвен.
|
Mĩ không có cơ chế như thế - các nhà trí thức Mĩ thường
phàn nàn về chuyện đó. Washington là trung tâm chính trị chứ không phải là
trung tâm trí thức; New York và Los-Angeles là trung tâm truyền thông, ở đấy
cũng có một số trường đại học tốt, nhưng các thành phố này không phải là thủ
đô và cũng không giữ thế thượng phong trong thế giới đại học. Các trường đại học lớn nằm ở Boston, Chicago,
San-Fransisco, Philadelphia, và nhiều thành phố nhỏ hơn như Princeton hay
New-Haven.
|
Рэндалл Коллинз - американский социолог,
философ науки. Президент Американской социологической организации. В начале
1970-х годов Коллинз выступает одним из основателей журнала «Theory and
Society». В настоящее время Коллинз преподает в университете Пенсильвании,
является членом редакторского совета журнала «Social Evolution & History».
|
Collinz Randall là
nhà xã hội học, triết học khoa học người Mĩ, chủ tịch hiệp hội xã hội học Mĩ.
Trong những năm 1970 ông là một trong những sáng lập viên tạp chí
"Theory and Society". Hiện nay ông đang dạy tại trường đại học
Pennsylvania và là thành viên ban biên tập tạp chí "Social Evolution & History".
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
|
|
Economics in One Page Kinh tế học trên một trang giấy
|
|
|
|
Economics in One
Page
|
Kinh tế học trên một
trang giấy
|
|
Mark Skousen
|
Mark Skousen
|
|
What makes it
[economics] most fascinating is that its fundamental principles are so simple
that they can be written on one page, that anyone can understand them, and
yet very few do.[1]
—Milton Friedman
|
Điều làm cho nó
[kinh tế học] trở thành môn học hấp dẫn nhất là ở chỗ những nguyên tắc căn
bản của nó đơn giản đến mức có thể viết trên một trang giấy, ai cũng có thể
hiểu, nhưng ít người làm như thế[1].
—Milton Friedman
|
|
The above statement by Friedman got me thinking: Is it
possible to summarize the basic principles of economics in a single page?
After all, Henry Hazlitt gave us a masterful summary of sound principles in
Economics in One Lesson. Could these concepts be reduced to a page?
|
Lời tuyên bố bên trên của Friedman khiến tôi suy nghĩ: Có
thể tóm tắt những nguyên lí cơ bản của môn kinh tế học vào một trang giấy
được không? Xét cho cùng thì Henry Hazlitt đã cung cấp cho chúng ta một bản
tóm tắt đầy sức thuyết phục những nguyên lí nền tảng của môn kinh tế chỉ trong
một bài học [Economics in One Lesson]. Liệu có thể rút những khái niệm này
xuống còn một trang không?
|
|
Friedman himself did not attempt to make a list when he
made this statement in a 1986 interview. After completing a preliminary
one-page summary of economic principles, I sent him a copy. In his reply, he
added a few of his own, but in no way endorses my attempt.
|
Chính Friedman cũng không thử lập danh sách những khái
niệm cơ bản đó khi ông tuyên bố như thế trong một cuộc phỏng vấn vào năm
1986. Sau khi lập được bản tóm tắt trên một trang giấy tôi có gửi cho ông.
Trong bức thư trả lời ông có đưa thêm vài ý, nhưng ông không chịu kí xác nhận
cố gắng của tôi.
|
|
After making this list of basic principles (see the next
page), I have to agree with Friedman and Hazlitt. The principles of economics
are simple: Supply and demand. Opportunity cost. Comparative advantage.
Profit and loss. Competition. Division of labor. And so on.
|
Sau khi lập được danh sách những nguyên lí nền tảng, tôi
buộc phải đồng ý với Friedman và Hazlitt. Những nguyên tắc của môn kinh tế
học là khá đơn giản: Cung và cầu. Chi phí cơ hội. Lợi thế tương đối. Lời và
lỗ. Cạnh tranh. Phân công lao động…v.v..
|
|
In fact, one professor even suggested to me that economics
can be reduced to one word: price. Or maybe, I suggested alternatively, cost.
Everything has a price; everything has a cost.
|
Thậm chí một ông giáo sư còn đề nghị với tôi là môn kinh
tế học có thể rút lại chỉ còn một từ: giá cả. Tôi còn có thể đưa ra một đề
nghị nữa: chi phí. Mọi thứ đều có giá, mọi thứ đều cần chi phí.
|
|
Additionally, sound economic policy is straightforward:
Let the market, not the state, set wages and prices. Keep government’s hands
off monetary policy. Taxes should be minimized. Government should do only
those things private citizens can’t do for themselves. Government should live
within its means. Rules and regulations should provide a level playing field.
Tariffs and other barriers to trade should be eliminated as much as possible.
In short, government governs best which governs least.
|
Ngoài ra, chính sách kinh tế đúng đắn là rất rõ ràng: Để
cho thị trường, chứ không phải nhà nước xác lập giá cả và tiền lương. Không
cho nhà nước can thiệp vào chính sách tiền tệ. Thuế phải thật thấp. Chính phủ chỉ làm những việc mà các công
dân không thể làm được cho mình. Chính phủ phải sống trong khuôn khổ số tiền
mà họ có. Luật lệ và qui tắc phải tạo ra sân chơi bình đẳng. Thuế quan và
những rào cản đối với ngành thương mại phải bị xóa bỏ càng nhiều càng tốt.
Nói ngắn, chính phủ cai trị tốt nhất là chính phủ cai trị ít nhất.
|
|
Unfortunately, economists sometimes forget these basic
principles and often get caught up in the details of esoteric model-building,
high theory, academic research, and mathematics. The dismal state of the
profession was expressed recently by Arjo Klamer and David Colander, who,
after reviewing graduate studies at major economics departments around the
country, asked, Why did we have this gut feeling that much of what went on
there was a waste?[2]
|
Đáng tiếc là đôi khi các nhà kinh tế học lại quên mất những
nguyên lí nền tảng này và họ thường sa đà vào những tiểu tiết của những mô
hình khó hiểu, những lí thuyết cao xa, những nghiên cứu mang tính kinh viện
và toán học. Tình hình đáng chán đến mức Arjo Klamer và David Colander, sau
khi xem xét các luận văn tốt nghiệp tại các khoa kinh tế lớn trên khắp cả
nước đã hỏi rằng vì sao chúng ta lại linh cảm được rằng tất cả những chuyện
này đều là công toi hết?[2]
|
|
On the following page is my attempt to summarize the basic
principles of economics and sound economic policy. If anyone has any
suggested improvements, I look forward to receiving them.
|
Sau đây là bản tóm tắt những nguyên lí căn bản của kinh tế
học và chính sách kinh tế lành mạnh. Nếu ai có bất kì đề nghị cải tiến nào,
tôi sẵn sàng chấp nhận.
|
|
Economics in One
Page
by Mark Skousen
1. Self-interest: The desire of bettering our
condition comes with us from the womb and never leaves till we go into the
grave (Adam Smith). No one spends someone else’s money as carefully as he
spends his own.
|
Kinh tế học trên một
trang giấy
Mark Skousen
1. Lợi ích cá nhân: Ước muốn cải thiện điều kiện sống
xuất hiện cùng với chúng ta từ lúc ở trong bụng mẹ và sẽ không rời xa ta cho
đến tận lúc xuống mồ (Adam Smith). Không ai chi tiền của người khác cẩn thận
bằng chi tiền của chính mình.
|
|
2. Economic growth: The key to a higher standard of living
is to expand savings, capital formation, education, and technology.
|
2. Phát triển kinh
tế: Bí quyết để
có mức sống cao hơn là gia tăng tiết kiệm, tạo vốn, giáo dục và công nghệ.
|
|
3. Trade: In all voluntary exchanges, where
accurate information is known, both the buyer and seller gain; therefore, an
increase in trade between individuals, groups, or nations benefits both
parties.
|
3. Thương mại: Trong tất cả những vụ trao đổi tự
nguyện, khi người ta có thông tin chính xác thì cả người mua lẫn người bán
đều được lợi; vì vậy mà tăng cường buôn bán giữa các cá nhân, các nhóm người
hay các nước làm cho cả hai bên đều có lợi.
|
|
4. Competition: Given the universal existence of
limited resources and unlimited wants, competition exists in all societies
and cannot be abolished by government edict.
|
4. Cạnh tranh: Nguồn lực của thế giới thì có
hạn, còn nhu cầu thì vô hạn, cho nên cạnh tranh hiện diện trong tất cả các xã
hội và nhà nước không thể ra sắc lệnh mà hủy bỏ được.
|
|
5. Cooperation: Since most individuals are not
self-sufficient, and almost all natural resources must be transformed in
order to become usable, individuals—laborers, landlords, capitalists, and
entrepreneurs—must work together to produce valuable goods and services.
|
5. Hợp tác: Vì phần lớn người ta không thể tự
túc được và vì hầu như tất cả mọi nguồn lực đều phải xử lí thì mới thành khả
dụng được cho nên các cá nhân – người lao động, chủ đất, nhà tư bản và doanh nhân
– phải cùng nhau làm việc để sản xuất ra các loại hàng hóa và dịch vụ có giá
trị.
|
|
6. Division of labor
and comparative advantage: Differences in talents, intelligence, knowledge, and
property lead to specialization and comparative advantage by each individual,
firm, and nation.
|
6. Phân công lao
động và lợi thế so sánh: Sự khác nhau về tài năng, trí thông minh, hiểu biết và tài sản dẫn
đến quá trình chuyên môn hóa và lợi thế tương đối của các cá nhân, các hãng
và các dân tộc.
|
|
7. Dispersion of
knowledge:
Information about market behavior is so diverse and ubiquitous that it cannot
be captured and calculated by a central authority.
|
7. Phân hữu tri
thức: Thông tin
về phản ứng của thị trường có mặt khắp nơi và rất đa dạng, chính quyền trung
ương không thể nắm bắt và tính toán hết được.
|
|
8. Profit and loss: Profit and loss are the market
mechanisms that guide what should and should not be produced over the long
run.
|
8. Lời và lỗ: Lời và lỗ là cơ chế thị trường,
là kim chỉ nam hướng dẫn cho người ta biết nên sản xuất cái gì và không nên
sản xuất cái gì.
|
|
9. Opportunity cost: Given the limitations of time and
resources, there are always trade-offs in life. If you want to do something,
you must give up other things you may wish to do. The price you pay to engage
in one activity is equal to the cost of other activities you have forgone.
|
9. Chi phí cơ hội: Vì nguồn lực và thời gian có hạn cho
nên trong cuộc sống bao giờ cũng có sự thỏa hiệp. Nếu bạn muốn làm một cái gì
đó thì bạn phải từ bỏ, không làm một cái gì đó khác mà bạn có thể muốn làm.
Giá bạn trả cho việc tham gia vào hoạt động nào đó đúng bằng với chi phí cho
những hoạt động mà bạn từ bỏ.
|
|
10. Price theory: Prices are determined by the
subjective valuations of buyers (demand) and sellers (supply), not by any
objective cost of production; the higher the price, the smaller the quantity
purchasers will be willing to buy and the larger the quantity sellers will be
willing to offer for sale.
|
10. Lí thuyết về giá
cả: Giá cả được
xác định bởi đánh giá mang tính chủ quan của người mua (cầu) và người bán
(cung) chứ không phải bằng chi phí khách quan của quá trình sản xuất, giá
càng cao thì người mua càng muốn mua ít, còn người bán thì càng muốn bán
nhiều.
|
|
11. Causality: For every cause there is an
effect. Actions taken by individuals, firms, and governments have an impact
on other actors in the economy that may be predictable, although the level of
predictability depends on the complexity of the actions involved.
|
11. Quan hệ nhân
quả: Có nhân thì
có quả. Hành động của các cá nhân, các hãng và các chính phủ bao giờ cũng có
ảnh hưởng đối với những chủ thể khác trong nền kinh tế; ảnh hưởng này có thể
dự đoán được, mặc dù mức độ chính xác của dự đoán phụ thuộc vào mức độ phức
tạp của những hành động có liên quan.
|
|
12. Uncertainty: There is always a degree of risk
and uncertainty about the future because people are often reevaluating,
learning from their mistakes, and changing their minds, thus making it
difficult to predict their behavior in the future.
|
12. Tính bất ổn: Tương lai bao giờ cũng chứa đựng
rủi ro và không chắc chắn nào đó, vì người ta thường đánh giá lại, người ta
học được từ sai lầm của mình và thay đổi ý kiến, khó mà dự đoán được hành vi
của họ trong tương lai.
|
|
13. Labor economics: Higher wages can only be achieved
in the long run by greater productivity, i.e., applying more capital
investment per worker; chronic unemployment is caused by government fixing
wage rates above equilibrium market levels.
|
13. Kinh tế học về
sức lao động: Trong
dài hạn, lương chỉ tăng khi năng suất lao động gia tăng, nghĩa là vốn đầu tư
cho một lao động gia tăng; tiền lương cố định do nhà nước đưa ra cao hơn mức
cân bằng của thị trường tạo ra thất nghiệp kinh niên.
|
|
14. Government
controls:
Price-rent-wage controls may benefit some individuals and groups, but not
society as a whole; ultimately, they create shortages, black markets, and a
deterioration of quality and services. There is no such thing as a free
lunch.
|
14. Kiểm soát của
chính phủ: Kiểm
soát giá cả-tiền thuê-lương bổng có thể làm cho một số người hay nhóm người
được lợi, nhưng không phải cho toàn xã hội; rút cục, việc kiểm soát như thế
sẽ tạo ra thiếu hụt, thị trường chợ đen và làm cho chất lượng hàng hóa và
dịch vụ kém đi. Không làm gì có bữa ăn miễn phí.
|
|
15. Money: Deliberate attempts to depreciate
the nation’s currency, artificially lower interest rates, and engage in easy
money policies inevitably lead to inflation, boom-bust cycles, and economic
crisis. The market, not the state, should determine money and credit.
|
15. Tiền: Cố tình hạ thấp giá đồng tiền
quốc gia, lãi suất thấp một cách giả tạo và chính sách tiền tệ dễ dàng [tăng
cung tiền bằng cách hạ lãi suất -ND] chắc chắn sẽ dẫn tới lạm phát, chu kì
bùng nổ-suy thoái và khủng hoảng kinh tế. Thị trường, chứ không phải nhà
nước, phải quyết định chính sách tiền tệ và tín dụng.
|
|
16. Public finance: In all public enterprises, in
order to maintain a high degree of efficiency and good management, market
principles should be adopted whenever possible: (1) Government should try to
do only what private enterprise cannot do; government should not engage in
businesses that private enterprise can do better; (2) government should live
within its means; (3) cost-benefit analysis: marginal benefits should exceed
marginal costs; and (4) the accountability principle: those who benefit from
a service should pay for the service.
|
16. Tài chính công: Muốn có hiệu quả cao và quản lí
tốt, thì phải áp dụng các nguyên tắc của thị trường trong các công sở ngay
khi điều đó trở thành khả thi: (1) Chính phủ chỉ nên làm những việc mà doanh
nghiệp tư nhân không thể làm được, chính phủ không được tham gia làm những
việc mà doanh nghiệp tư nhân có thể làm tốt hơn; (2) chính phủ phải sống
trong khuôn khổ số tiền mà họ có; (3) phân tích chi phí-lời lãi: lợi ích biên
tế phải lớn hơn chi phí biên tế; và (4) nguyên tắc thanh toán: người nhận
được lợi ích từ dịch vụ nào thì phải trả tiền cho dịch vụ đó.
|
|
|
|
|
Dr. Skousen is an
economist at Rollins College, Department of Economics, Winter Park, Florida 32789,
and editor of Forecasts & Strategies, one of the largest investment
newsletters in the country. The third edition of his book Economics of a Pure
Gold Standard has recently been published by FEE.
|
Tiến sỹ Skousen
giảng dạy kinh tế học tại Rollins College, khoa kinh tế học học, Winter Park,
Florida 32789, và biên tập viên tờ Forecasts & Strategies, một trong
những bản tin định kì chuyên về lĩnh vực đầu tư lớn nhất trong cả nước. Cuốn
Economics of a Pure Gold Standard của ông vừa được quĩ FEE xuất bản lần thứ
tư.
|
|
1. Quoted in interview, Lives of the
Laureates, William Breit and Roger W. Spencer, eds. (Cambridge, Mass.: MIT
Press, 1986), p. 91.
2. Arjo Klamer and David Colander, The Making
of an Economist (Boulder, Colo.: Westview Press, 1990), p. xiv. See also
David Colander and Reuven Brenner, Educating Economists (Ann Arbor:
University of Michigan Press, 1992).
|
[1] Trích dẫn từ bài
phỏng vấn trong Lives of the Laureates, do William Breit và Roger W. Spencer
biên tập (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1986), trang 91.
[2] Arjo Klamer và
David Colander, The Making of an Economist (Boulder, Colo.: Westview Press,
1990), p. xiv. See also David Colander and Reuven Brenner, Educating
Economists (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1992).
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
|
|
|
http://www.thefreemanonline.org/columns/economics-in-one-page/#comment-101352
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)