MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, June 30, 2012

Cyber War and Peace Chiến tranh và hòa bình trên không gian mạng




Cyber War and Peace

Chiến tranh và hòa bình trên không gian mạng

Joseph S. Nye
Joseph S. Nye
Apr. 10, 2012
Apr. 10/4/2012


CAMBRIDGE – Two years ago, a piece of faulty computer code infected Iran’s nuclear program and destroyed many of the centrifuges used to enrich uranium. Some observers declared this apparent sabotage to be the harbinger of a new form of warfare, and United States Secretary of Defense Leon Panetta has warned Americans of the danger of a “cyber Pearl Harbor” attack on the US. But what do we really know about cyber conflict?

CAMBRIDGE – Hai năm trước một đoạn mã máy tính sai đã thâm nhập vào chương trình hạt nhân của Iran và phá hủy nhiều máy li tâm chuyên dùng cho việc làm giàu uranium. Một số nhà quan sát tuyên bố rằng vụ phá hoại hiển nhiên này là điềm báo của một hình thức chiến tranh mới và ông Leon Panetta, Bộ trưởng quốc phòng Mĩ, đã cảnh báo về nguy cơ của một cuộc tấn công “Chân Trâu cảng trên không gian ảo” vào nước Mĩ. Nhưng chúng ta biết gì về cuộc xung đột trên không gian ảo? 


The cyber domain of computers and related electronic activities is a complex man-made environment, and human adversaries are purposeful and intelligent. Mountains and oceans are hard to move, but portions of cyberspace can be turned on and off by throwing a switch. It is far cheaper and quicker to move electrons across the globe than to move large ships long distances.


Không gian ảo của máy tính và những hoạt động liên quan đến lĩnh vực điện tử là môi trường phức tạp do con người tạo ra, còn kẻ thù của họ là những người thông minh và hoạt động một cách có chủ đích. Rời non và lấp biển là việc khó, nhưng chỉ cần tắt-mở một cái công tắc là ta có thể chuyển rời một phần không gian ảo rồi. Chuyển mấy hạt điện tử chạy vòng quanh trái đất thì dễ và rẻ hơn rất nhiều so với chuyển những chiếc tàu thủy lớn đi một đoạn đường dài.


The costs of developing those vessels – multiple carrier task forces and submarine fleets – create enormous barriers to entry, enabling US naval dominance. But the barriers to entry in the cyber domain are so low that non-state actors and small states can play a significant role at low cost.


Giá thành sản xuất của những con tàu đó – những chiếc hàng không mẫu hạm và hạm đội tàu ngầm đa chức năng – gây ra những rào cản đáng kể, không phải nước nào cũng đủ sức vượt qua, tạo điều kiện cho Mĩ giữ địa vị thống trị trong lĩnh vực này. Nhưng rào cản đối với không gian ảo quá thấp; với chi phí không đáng kể, những kẻ hoạt động bên ngoài nhà nước và các quốc gia nhỏ có thể có vai trò quan trọng.


In my book The Future of Power, I argue that the diffusion of power away from governments is one of this century’s great political shifts. & Cyberspace is a perfect example. Large countries like the US, Russia, Britain, France, and China have greater capacity than other states and non-state actors to control the sea, air, or space, but it makes little sense to speak of dominance in cyberspace. If anything, dependence on complex cyber systems for support of military and economic activities creates new vulnerabilities in large states that can be exploited by non-state actors.

Trong tác phẩm Tương lai của quyền lực, tôi khẳng định rằng việc chính phủ mất dần quyền lực là một trong những thay đổi vĩ đại nhất về mặt chính trị trong thế kỉ này. Không gian ảo là thí dụ tuyệt vời minh họa cho điều đó. Những nước lớn như Mĩ, Nga, Anh, Pháp và Trung Quốc có nhiều khả năng kiểm soát biển, trời và vũ trụ hơn những nước nhỏ và các đối tượng hoạt động bên ngoài nhà nước, nhưng nói về quyền bá chủ trong không gian ảo là việc làm vô nghĩa. Dù sao mặc lòng, việc những hoạt động kinh tế và chính trị phụ thuộc vào hệ thống phức tạp trên không gian ảo đã tạo ra những khu vực dễ bị tổn thương trong những nước lớn, đấy cũng là những khu vực dễ bị những đối tượng hoạt động bên ngoài nhà nước lợi dụng.


Four decades ago, the US Department of Defense created the Internet; today, by most accounts, the US remains the leading country in terms of its military and societal use. But greater dependence on networked computers and communication leaves the US more vulnerable to attack than many other countries, and cyberspace has become a major source of insecurity, because, at this stage of technological development, offense prevails over defense there.


Bộ quốc phòng Mĩ tạo ra Internet cách đây bốn mươi năm; hiện nay, đa số các đánh giá đều cho rằng Mĩ vẫn là nước dẫn đầu trong việc sử dụng Internet cho nhu cầu quân sự và xã hội. Nhưng việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống máy tính nối mạng và thông tin trên mạng làm cho Mĩ dễ bị tấn công hơn nhiều nước khác, và không gian ảo trở thành nguồn gốc nguy hiểm lớn nhất, vì trong giai đoạn phát triển công nghệ hiện nay, kĩ thuật tấn công đang áp đảo kĩ thuật phòng vệ


The term “cyber attack”covers a wide variety of actions, ranging from simple probes to defacing Web sites, denial of service, espionage, and destruction. Similarly, the term “cyber war” is used loosely to cover a wide range of behaviors, reflecting dictionary definitions of war that range from armed conflict to any hostile contest (for example, “war between the sexes” or “war on drugs”).


Thật ngữ “tấn công trên không gian ảo” bao gồm một loạt hoạt động, từ đơn giản là tìm cách thay đổi giao diện của Web sites, đến từ chối dịch vụ, hoạt động gián điệp và phá hoại. Tương tự như thế, thuật ngữ “chiến tranh trên không gian ảo” được sử dụng một cách tương đối tùy tiện để nói về một loạt hành vi, thể hiện trong định nghĩa của các cuốn từ điển về chiến tranh, từ xung đột vũ trang đến những hành động thù địch khác (thí dụ, “chiến tranh giữa hai phái (nam-nữ)” hay “chiến tranh chống tệ nạn buôn lậu ma túy”).


At the other extreme, some experts use a narrow definition of cyber war: a “bloodless war” among states that consists solely of electronic conflict in cyberspace. But this avoids the important interconnections between the physical and virtual layers of cyberspace. As the Stuxnet virus that infected Iran’s nuclear program showed, software attacks can have very real physical effects.


Nhưng một số chuyên gia lại có quan điểm khác hẳn, họ sử dụng định nghĩa hẹp về chiến tranh trên không gian ảo: đấy là “cuộc chiến không có đổ máu” giữa các quốc gia, chỉ là xung đột trong lĩnh vực điện tử trên không gian ảo mà thôi. Nhưng định nghĩa này đã bỏ qua những tương tác quan trọng giữa tầng ảo và tầng vật chất trong không gian kĩ thuật số. Con virus Stuxnet – virus nhiễm vào chương trình hạt nhân của Iran - cho thấy rằng những cuộc tấn công vào phần mềm có thể gây ra những ảnh hưởng nặng nề về mặt vật chất.


A more useful definition of cyber waris hostile action in cyberspace whose effects amplify or are equivalent to major physical violence. In the physical world, governments have a near-monopoly on large-scale use of force, the defender has an intimate knowledge of the terrain, and attacks end because of attrition or exhaustion. Both resources and mobility are costly.


Sẽ có ích hơn nếu ta định nghĩa chiến tranh trên không gian ảo là: hành động thù địch làm gia tăng hay tương đương với một vụ bạo hành lớn trên bình diện vật chất. Trong thế giới vật chất, các chính phủ hầu như được độc quyền trong những vụ trấn áp có sử dụng những lực lượng mạnh, bên phòng thủ có kiến thức sâu sắc về khu vực và cuộc tấn công sẽ chấm dứt vì bị tiêu hao sinh lực hay kiệt sức. Nhưng người ta phải trả giá đắt cho các nguồn lực và khả năng vận động.


In the cyber world, by contrast, actors are diverse (and sometimes anonymous), physical distance is immaterial, and some forms of offense are cheap. Because the Internet was designed for ease of use rather than security, attackers currently have the advantage over defenders. Technological evolution, including efforts to “reengineer” some systems for greater security, might eventually change that, but, for now, it remains the case. The larger party has limited ability to disarm or destroy the enemy, occupy territory, or use counterforce strategies effectively.


Ngược lại, chủ thể hành động trong không gian ảo là rất đa dạng (đôi khi còn ẩn danh nữa), khoảng cách không phải là vấn đề quan trọng, một số hình thức tấn công lại rất rẻ. Mạng Internet được thiết kế với mục đích dễ dàng cho người dùng chứ không phải vì mục đích an toàn, cho nên những kẻ tấn công có lợi thế hơn bên phòng thủ. Sự phát triển về công nghệ, trong đó có những cố gắng nhằm “xây dựng lại” một số hệ thống nhằm làm gia tăng mức độ an toàn, cuối cùng có thể thay đổi được điều đó, nhưng hiện này tình hình đúng là như thế. Bên lớn hơn cũng chỉ có những khả năng rất hạn chế trong việc giải giới hay hủy diệt đối phương, chiếm đóng lãnh thổ hay áp dụng chiến lược đối phó một cách hữu hiệu.




Cyber war, though only incipient at this stage, is the most dramatic of the potential threats. Major states with elaborate technical and human resources could, in principle, create massive disruption and physical destruction through cyber attacks on military and civilian targets. Responses to cyber war include a form of interstate deterrence through denial and entanglement, offensive capabilities, and designs for rapid network and infrastructure recovery if deterrence fails. At some point, it may be possible to reinforce these steps with certain rudimentary norms and arms control, but the world is at an early stage in this process.


Mặc dù mới ở dạng phôi thai, nhưng chiến tranh trên không gian ảo là một trong những mối đe dọa tiềm tàng nguy hiểm nhất. Về nguyên tắc, bằng những cuộc tấn công trên không gian ảo nhắm vào những mục tiêu quân sự và dân sự, những nước lớn, với nguồn lực về con người và trình độ kĩ thuật tinh xảo, có thể gây ra những vụ đổ vỡ trên diện rộng và thiệt hại nặng nề về mặt vật chất. Có thể đáp trả chiến tranh trên không gian ảo bằng những biện pháp phòng thủ liên quốc gia như cấm đoán và cản trở, tăng cường khả năng tấn công, và khi không thể ngăn chặn được thì phải có phương tiện phục hồi mạng lưới và cơ sở hạ tầng một cách nhanh chóng. Đến một lúc nào đó có thể gắn những bước đi này vào những tiêu chuẩn và kiểm soát vũ khí đang còn phôi thai như hiện nay, nhưng thế giới mới ở giai đoạn đầu của tiến trình này mà thôi.


If one treats so-called “hacktivism” by ideological groups as mostly a disruptive nuisance at this stage, there remain four major categories of cyber threats to national security, each with a different time horizon: cyber war and economic espionage are largely associated with states, and cyber crime and cyber terrorism are mostly associated with non-state actors. For the US, the highest costs currently stem from espionage and crime, but over the next decade or so, war and terrorism could become greater threats than they are today.


Nếu hiện nay mối đe dọa của hoạt động tin tặc của những nhóm người theo những hệ tư tưởng nào đó chỉ gây ra sự phiền toái thì đối với an ninh quốc gia có bốn mối đe dọa chính sau đây: chiến tranh trên không gian ảo và gián điệp kinh tế - liên quan chủ yếu đến các quốc gia – tội phạm và khủng bố trên không gian ảo - liên quan chủ yếu đến những chủ thể hoạt động bên ngoài nhà nước. Mĩ bị thiệt hại nhiều nhất từ hoạt động gián điệp và tội phạm, nhưng trong thập niên sau hoặc lâu hơn một chút, chiến tranh và khủng bố có  thể trở thành mối đe dọa lớn hơn so với hiện nay.


Moreover, as alliances and tactics evolve, the categories may increasingly overlap. In the view of Admiral Mike McConnell, America’s former director of national intelligence, “Sooner or later, terror groups will achieve cyber-sophistication. It’s like nuclear proliferation, only far easier.”


Ngoài ra, khi các liên minh và chiến thuật tiến triển thêm thì những mối đe dọa bên trên có thể chồng lấn lên nhau. Đô đốc Mike McConnell, cựu giám đốc cơ quan tình báo quốc gia nói rằng “Trước sau gì thì những nhóm khủng bố cũng thành thạo kĩ thuật mạng. Nó cũng giống như việc phổ biến vũ khí hạt nhân thôi, nhưng dễ dàng hơn nhiều”.


The world is only just beginning to see glimpses of cyber war – in the denial-of-service attacks that accompanied the conventional war in Georgia in 2008, or the recent sabotage of Iranian centrifuges. States have the greatest capabilities, but non-state actors are more likely to initiate a catastrophic attack. & A “cyber 9/11” may be more likely than the often-mentioned “cyber Pearl Harbor.” It is time for states to sit down and discuss how to limit this threat to world peace.
Thế giới mới chỉ nhìn thấy những nét lờ mờ của cuộc chiến tranh trên không gian ảo mà thôi – đấy là những cuộc tấn công gây ra phản ứng từ chối dịch vụ diễn ta song song với cuộc tấn công thông thường ở Georgia vào năm 2008 hay vụ phá hoại máy li tâm của Iran trong thời gian gần đây. Quốc gia là những tác nhân có tiềm năng lớn nhất, nhưng những tác nhân hoạt động bên ngoài nhà nước có vẻ như sẽ là những kẻ gây ra những vụ tấn công đầy thảm họa. “Cuộc tấn công trên không gian ảo 11/9” có vẻ như dễ xảy ra hơn là “Chân Trâu cảng trên không gian ảo” như đã nói tới bên trên. Đây là lúc các nước phải ngồi lại và thảo luận những biện pháp nhằm làm giảm thiểu mối đe dọa này đối với hòa bình thế giới.



Joseph S. Nye, a former US assistant secretary of defense and chairman of the US National Intelligence Council, is a professor at Harvard University and one of the world’s foremost scholars of inte…

Joseph S. Nye, là cựu trợ lí của Bộ trưởng quốc phòng và hội đồng tình báo quốc gia Hoa Kỳ, giáo sư đại học Harvard và là một trong những học giả nổi bật nhất về quan  hệ quốc tế.




Translated by Phạm Nguyên Trường



http://www.project-syndicate.org/commentary/cyber-war-and-peace

Великая образовательная держава Интеллектуалы и власть Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục




Великая образовательная держава Интеллектуалы и власть
Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục



Рэндалл Коллинз

Collinz Randall
Главная сила университетов Америки заключается в том, что их много, они разнообразны и имеют сложную организацию и различные источники финансирования.


Sức mạnh chủ yếu của hệ thống giáo dục đại học Mĩ là có nhiều trường, các trường rất đa dạng và có tổ chức phức tạp và có nguồn tài chính khác nhau.

В отличие от многих других стран, в США нет центральных государственных университетов. Многие университеты получают денежные гранты от федеральных властей, но в основном они присуждаются отдельным ученым за их исследовательские проекты, благодаря чему университет получает часть выделенных средств на административные расходы. Это делает известных профессоров очень влиятельными. И когда они переходят из одного университета в другой, их влиятельность позволяет им рассчитывать на достойное отношение.


Khác với nhiều quốc gia khác, Mĩ không có các trường đại học quốc gia trực thuộc trung ương. Nhiều trường nhận được tài trợ từ chính phủ liên bang, nhưng đa số các khoản tài trợ này là dành cho các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhờ đó mà nhà trường được dành một phần cho công tác quản lí. Điều đó làm cho một số chuyên gia nổi tiếng có ảnh hưởng rất lớn. Và khi họ chuyển từ trường này sang trường kia, ảnh hưởng đó làm cho người ta tin rằng họ sẽ được đối xử một cách xứng đáng.

Государственные университеты есть во всех штатах, между ними существует конкуренция. Обычно каждый штат хочет иметь несколько видов государственных университетов: а) элитный государственный университет, ориентированный на исследовательскую работу, – например, университет штата Калифорния, университет штата Мичиган; б) массовые неэлитные университеты; в) каждый из этого множества университетов имеет многочисленные филиалы – например, Калифорнийский университет в Лос-Анджелесе, Калифорнийский университет в Беркли, Калифорнийский университет в Сан-Диего; г) муниципальные университеты – например, Сити-колледж Нью-Йорка; д) колледжи с двухгодичными образовательными программами для студентов, не добирающих баллов, достаточных для поступления в более престижные университеты. Все эти различные виды университетов обеспечивают рабочие места преподавателям (которые обычно получают свои степени в более элитных университетах). Таким образом, неэлитные университеты косвенно поддерживают элитные.


Tất cả các bang đều có trường đại học công lập, giữa những trường này cũng có sự cạnh tranh. Thường thì mỗi bang đều muốn có mấy loại hình trường đại học công lập: a) trường đại học tinh hoa, hướng vào công tác nghiên cứu - thí dụ như trường đại học của bang California, trường đại học của bang Michigan; b) những trường đại học giành cho đại chúng, không phải tinh hoa; c) mỗi trường lại có rất nhiều phân hiệu - thí dụ như đại học California ở Los-Angeles, đại học California ở Berkeley, đại học California ở San-Diego; d) trường cao đẳng với chương trình học tập kéo dài hai năm, dành cho những họcsinh không đủ điểm vào những trường đại học có uy tín hơn. Tất cả những loại hình trường lớp này bảo đảm công ăn việc làm cho các giáo viên (những người thường tốt nghiệp các trường ưu tú). Như vậy là những trường đại học bình thường gián tiếp ủng hộ những trường ưu tú.

Подобным образом обстоит дело с религиозными университетами. Поскольку в США нет государственной церкви, различные конфессии стремятся открыть свои собственные университеты. Такие университеты есть во всех штатах, и их содержат практически все конфессии.

Các trường đại học tôn giáo cũng có tình hình tương tự. Vì Mĩ không có tôn giáo của nhà nước cho nên các tôn giáo khác nhau đều tìm cách mở trường đại học của riêng mình. Bang nào cũng có những trường như thế và hầu như tôn giáo nào cũng có trường riêng.

Наиболее престижными университетами в США считаются частные – Гарвард, Йельский, Принстонский, Стэнфордский, Чикагский университет, Университет Дьюка, Университет Пенсильвании (несмотря на название, этот университет частный – крупный государственный университет в штате называется Государственный университет Пенсильвании).

Các trường tư thục như Harvard University, Yale, Princeton, Stanford, Duke University, Chicago, Pennsylvania (mặc dù gọi là trường University of Pennsylvania, nhưng đây là trường tư, còn trường đại học quốc gia ở bang này lại có tên lên Pennsylvania State University) là những trường có uy tín nhất.

Их престиж обусловлен и тем, что это старейшие университеты в стране, и тем, что они изначально были связаны с высшим классом, и поэтому преемственность элитного статуса задается составом студентов. На протяжении многих десятилетий они могли привлекать на работу самых выдающихся профессоров. Они также успешно привлекали исследовательские гранты и становились центрами бюджетного финансирования.


Uy tín của các trường này là do đấy là những trường lâu đời nhất, khởi kì thủy là do các giai cấp trên xây dựng lên và thành phần sinh viên quyết định tính kế thừa địa vị tinh hoa của chúng. Trong suốt hàng chục năm ròng, các trường này có thể lôi kéo những giáo sư tài ba nhất đến làm việc ở đấy. Các trường này cũng thường xuyên tìm được tài trợ cho các công trình nghiên cứu và trở thành những trung tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Коммерческие университеты. Они появились относительно недавно, их авторитет невысок. Например, Университет Феникса – своего рода недорогая вечерняя школа для студентов, которые хотят получить определенные профессиональный навыки.


Các trường mang tính thương mại. Đây lả những trường xuất hiện chưa lâu, uy tín không cao. Thí dụ như University of Phoenix – đây là loại trường buổi tối, giá rẻ, giành cho những sinh viên muốn có một số nghề nghiệp nhất định.

Различные виды университетов – государственные, религиозные, частные – периодически стремятся подражать друг другу. Например, католические университеты не так сильно упирают на вопросы религии и нанимают профессоров, которые не являются католиками. Многие традиционные протестантские университеты стремятся стать светскими.


Những kiểu trường đại học khác nhau - quốc gia, tôn giáo, tư thục - thường xuyên tìm cách bắt chước nhau. Thí dụ như các trường Thiên chúa giao không quá lệ thuộc vào những vấn đề tôn giáo và có thuê các các giáo sư không phải là người Thiên chúa giáo. Nhiều trường đại học Tin lành tìm cách chuyển thành các trường thế tục.

Американские университеты могут обеспечить свою независимость, потому что у них есть многочисленные источники финансирования:

– государственные гранты (прямое государственное финансирование государственных университетов, а также исследовательские гранты и гранты на стипендию студентам);


Các trường đại học Mĩ có thể bảo đảm được quyền tự chủ là vì họ có nhiều nguồn cung cấp tài chính:

– tài trợ của nhà nước (nhà nước trực tiếp cung cấp tài chính cho các trường đại học quốc gia, cũng như tài trợ cho công tác nghiên cứu và học bổng cho sinh viên);

– студенческие взносы, которые также помогают обеспечить определенную независимость от государственного контроля;


– đóng góp của sinh viên, những khoản đóng góp này cũng góp phần bảo đảm sự tự chủ khỏi việc kiểm soát của nhà nước;

– благотворительные пожертвования – от состоятельных людей, корпораций, выпускников. Для богатых людей это вопрос престижа – выделять деньги университетам. Наиболее известным университетам присвоены имена их основателей (Гарвард, Йель, Стэнфорд, Дьюк). В других случаях имя богатого спонсора увековечивают, называя его именем один из корпусов университета;


– đóng góp mang tính từ thiện – từ những người giàu có, các công ty và sinh viên đã ra trường. Cung cấp tiền cho các trường đại học là vấn đề uy tín. Những trường đại học nổi tiếng nhất thường mang tên người sáng lập  (Harvard, Yale, Stanford, Duke). Đôi khi người ta tìm cách vinh danh những người bảo trợ giàu có bằng cách gắn tên tuổi của họ với một trong những tòa nhà của trường;

– довольно распространенным источником средств является спорт. В XX веке вдруг оказалось, что университет может стать знаменитым, имея успешную футбольную или баскетбольную команду. Университет может получить огромные доходы от продажи билетов на игры, от продажи прав на телевизионную трансляцию, от продажи одежды со спортивной символикой и т.д. За пределами США спорт отделен от школы. Поэтому такой источник доходов больше нигде не существует. Неожиданным следствием этого оказался тот факт, что в США наиболее популярными университетами стали не те, где высокий уровень образования, а те, у которых наиболее успешные спортивные команды.

* * *

– thể thao cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Trong thế kỉ XX, trường đại học có thể trở thành nổi tiếng nếu có một đội bóng đá hay bóng rổ mạnh. Trường có thể có thu nhập khá lớn từ bán vé các trận đấu, bán quyền truyền hình và bán quần áo thể thao với biểu tượng của đội... Ở các nước khác, thể thao thường tách khỏi nhà trường. Vì vậy mà không ở đâu có nguồn thu như thế. Kết quả thật bất ngờ là những trường nổi tiếng nhất không phải là những trường có trình độ giáo dục cao nhất mà lại là những trường có đội thể thao thành công nhất.

* * *

В силу множества источников дохода ни бизнес, ни правительство не контролируют университеты в полной мере. В этом залог автономности университетов. Как это преобразуется в интеллектуальную продуктивность и интеллектуальное доминирование в мире? Во многих областях американские университеты борются за привлечение самых известных и продуктивных профессоров, и, как правило, они в состоянии предлагать им большее жалование и большую независимость для реализации своих идей.


Do có nhiều nguồn thu cho nên cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều không thể kiểm soát được hoàn toàn trường học. Đấy là bảo đảm cho sự tự chủ của nhà trường. Làm thế nào mà chuyện đó có thể nâng cao được năng suất trong lĩnh vực trí tuệ và làm cho Mĩ trở thành nước giữ thế thượng phong về mặt trí tuệ trên thế giới? Các trường đại học tìm cách mời những giáo sư nổi tiếng nhất và có năng suất cao nhất và thường thì các trường của Mĩ cũng có điều kiện trả họ mức lương cao hơn và sự tự chủ để các giáo sư có thể thực hiện được những ý tưởng của mình.


Другой ключевой момент – внутренняя структура: американские университеты имеют множество профессоров в каждой области. Это отличается от традиционной европейской системы – «на каждую специальность по одному профессору». Американские университеты стремятся создавать крупные кафедры со многими профессорами в одной области: это смещает центр власти от руководства университета к кафедрам. Таким образом, кафедры становятся центрами инноваций.


Một tác nhân quan trọng khác - cơ cấu bên trong, các trường đại học Mĩ có rất nhiều giáo sư trong từng lĩnh vực. Đấy là sự khác biệt với hệ thống giáo dục truyền thống của châu Âu – nơi "mỗi ngành chỉ có một giáo sư". Các trường đại học Mĩ thường tìm cách thành lập những khoa lớn với nhiều giáo sư trong mỗi lĩnh vực, điều đó đã chuyển trung tâm quyền lực lãnh đạo của trường xuống các khoa. Như vậy nghĩa là các khoa trở thành trung tâm cải tiến. 

Американская система заняла лидирующие позиции в мире после Второй мировой войны. Отчасти это произошло из-за уничтожения университетов Германии (нацистами и войной). Соединенные Штаты извлекли из этого выгоду, приняв на работу лучших профессоров-эмигрантов. Многие сегодняшние американские профессора являются их учениками.


Từ sau Thế chiến II, hệ thống giáo dục Mĩ đã chiếm được những vị trí đầu tầu trên thế giới. Một phần là do sự suy sụp của các trường đại học ở Đức (chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã). Mĩ đã được lợi vì nước này thu nhận những giáo sư-nhập cư tài giỏi nhất vào các trường đại học của mình. Nhiều giáo sư hiện nay là học trò của những người di dân thuở nào. 


Но 1945 год был также тем временным рубежом, когда образование в американских университетах стало массовым: процент молодежи, обучающейся в университетах, возрос с 10 до 60 процентов на сегодняшний день. Это обусловило потребность в большем количестве университетов, преподавателей и, следовательно, в структурах, поощряющих инновации. В противоположность этому, например, французские университеты были ограничены централизованной структурой. А британские университеты, хотя и обладали большой долей внутренней автономии, попадали под все большее давление правительства как едва ли не монопольного источника финансирования.

Năm 1945 cũng là thời điểm mà giáo dục đại học Mĩ trở thành đại chúng: tỉ lệ thanh niên theo học đại học từ 10 phần trăm đã tăng dần và hiện chiếm tới lên 60 phần trăm. Điều này làm gia tăng nhu cầu số lượng trường đại học, giáo viên và kết quả là gia tăng những cơ cấu khuyến khích sáng kiến. Ở Pháp thì lại khác, các trường đại học ở nước này bị giới hạn bởi cơ cấu của trung ương. Các trường ở Anh, tuy có được khá nhiều quyền tự chủ, nhưng càng ngày càng bị chính phủ áp lực vì họ hầu như chỉ có một nguồn tài trợ duy nhất là ngân sách.
* * *

Американские университеты сейчас испытывают некоторые кратковременные затруднения. С тех пор, как элитные университеты стали получать немалые денежные пожертвования от частных лиц, они стали крупными игроками на фондовом рынке; поэтому в связи с рыночным спадом экономического кризиса последних двух лет, многие университеты стали составлять более консервативные бюджеты. Но так как это только один из источников доходов, я не думаю, что это сильно повлияет на их автономность.

* * *

Hiện nay các trường đại học Mĩ cũng gặp một số khó khăn tạm thời. Từ khi các trường tinh hoa nhận được nhiều tiền quyên góp của các cá nhân thì họ cũng trở thành những tay chơi có máu mặt trên thị trường chứng khóan, vì vậy mà cùng với sự suy thoái kinh tế trong hai năm vừa qua, họ đã phải đưa ra những kế hoạch tài chính mang tính bảo thủ hơn. Nhưng đây chỉ là một trong những nguồn thu cho nên tôi nghĩ rằng nó cũng không có ảnh hưởng lớn đối với tính tự chủ của họ.

В естественных науках существовало тесное сотрудничество между бизнесом и университетами в деле реализации специфических исследовательских проектов. Некоторые критики возмущались, что это заставило университеты забыть об идеалах стремления к знаниям, и толкнуло их в стяжательство. Такое давление существует, но есть и уравновешивающие факторы: важность удержания известных профессоров на одном факультете, что благоприятствует чисто интеллектуальной деятельности. Тем более, что великое открытие или теория все еще является лучшим способом приобрести известность. Также многие университетские профессора проявляют собственную инициативу найти своим открытиям коммерческое применение. Пример этому: бум биотехнологий последних лет. Поэтому не следует считать, что исследовательская деятельность университетов целиком и полностью определяется запросами бизнеса. Более того, многие высокотехнологичные предприятия стали напоминать университетские городки. Они имитируют университетский стиль.

Trong các môn khoa học tự nhiện, có sự hợp tác gắn bó giữa giới doanh nghiệp và các trường thực hiện những dự án nghiên cứu đặc thù. Một số nhà phê bình phàn nàn rằng điều đó sẽ buộc các trường phải quên đi lí tưởng là tìm kiếm kiến thức và làm cho họ có thói hám lợi. Áp lực là có, nhưng cũng có những tác nhân cân bằng khác: tầm quan trọng của việc giữ các giáo sư nổi tiếng trong cùng một khoa, điều này sẽ thúc đẩy những hoạt động thuần túy trí thức. Tuy nhiên, phát minh vĩ đại hay lí thuyết mới vẫn là phương pháp tạo uy tín tốt nhất. Nhiều giáo sư đại học còn thể hiện sáng kiến riêng bằng cách đưa phát minh của mình ứng dụng vào lĩnh vực thương mại. Thí dụ như sự bùng nổ của công nghệ sinh học trong mấy năm gần đây. Vì vậy mà không được coi hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hoàn toàn là do nhu cầu của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhiều xí nghiệp công nghệ cao lại làm cho người ta liên tưởng tới khuôn viên đại học. Các xí nghiệp này bắt chước cách làm việc của trường đại học.

Не стоит преувеличивать интеллектуальный монополизм американских университетов в мире. В более интеллектуальных областях, таких как философия, литература и социология, мировой интеллектуальный центр последние 50 лет, вероятно, находился в Париже. Так сложилось благодаря уникальной комбинации элитных французских университетов, издательского и медиа-бизнеса, политического центра, мира искусств – отсюда знаменитые «французские мыслители», такие как Сартр, Леви-Стросс, Бурдье, которые приобрели широкую известность за пределами университетов.


Nhưng cũng không nên cường điệu sự độc quyền về trí tuệ của các trường đại học Mĩ. Trong những lĩnh vực trí tuệ như triết học, văn học và xã hội học, trung tâm tri thức thế giới trong 50 năm lại đây có lẽ nằm ở Paris. Chuyện đó xảy ra là do sự kết hợp một cách tài tình những trường đại học tinh hoa, ngành in ấn và công nghệ truyền thông, trung tâm chính trị và thế giới nghệ thuật của Pháp - từ đó mới có các "nhà tư tưởng" nổi tiếng của Pháp như Sartre, Lévi-Strauss vả Bourdieu, những người nổi tiếng cả ở bên ngoài khuôn viên đại học. 

Подобной структуры приобретения известности в самых разных областях нет в США – и американские интеллектуалы часто жалуются на это. Вашингтон является политическим, но не главным интеллектуальным центром; Нью-Йорк и Лос-Анджелес являются медиа-центрами, а также там есть несколько хороших университетов, но эти города – не столицы и не они доминируют в университетском мире. Крупные университеты расположились в Бостоне, Чикаго, Сан-Франциско, Филадельфии, и многих меньших по размеру городах, таких как Принстон или Нью-Хейвен.

Mĩ không có cơ chế như thế - các nhà trí thức Mĩ thường phàn nàn về chuyện đó. Washington là trung tâm chính trị chứ không phải là trung tâm trí thức; New York và Los-Angeles là trung tâm truyền thông, ở đấy cũng có một số trường đại học tốt, nhưng các thành phố này không phải là thủ đô và cũng không giữ thế thượng phong trong thế giới đại học. Các trường  đại học lớn nằm ở Boston, Chicago, San-Fransisco, Philadelphia, và nhiều thành phố nhỏ hơn như Princeton hay New-Haven. 



Рэндалл Коллинз  - американский социолог, философ науки. Президент Американской социологической организации. В начале 1970-х годов Коллинз выступает одним из основателей журнала «Theory and Society». В настоящее время Коллинз преподает в университете Пенсильвании, является членом редакторского совета журнала «Social Evolution & History».
Collinz Randall là nhà xã hội học, triết học khoa học người Mĩ, chủ tịch hiệp hội xã hội học Mĩ. Trong những năm 1970 ông là một trong những sáng lập viên tạp chí "Theory and Society". Hiện nay ông đang dạy tại trường đại học Pennsylvania và là thành viên ban biên tập tạp chí  "Social Evolution & History".



Translated by Phạm Nguyên Trường



Economics in One Page Kinh tế học trên một trang giấy



Economics in One Page
Kinh tế học trên một trang giấy

Mark Skousen

Mark Skousen
What makes it [economics] most fascinating is that its fundamental principles are so simple that they can be written on one page, that anyone can understand them, and yet very few do.[1]

—Milton Friedman

Điều làm cho nó [kinh tế học] trở thành môn học hấp dẫn nhất là ở chỗ những nguyên tắc căn bản của nó đơn giản đến mức có thể viết trên một trang giấy, ai cũng có thể hiểu, nhưng ít người làm như thế[1].

—Milton Friedman


The above statement by Friedman got me thinking: Is it possible to summarize the basic principles of economics in a single page? After all, Henry Hazlitt gave us a masterful summary of sound principles in Economics in One Lesson. Could these concepts be reduced to a page?

Lời tuyên bố bên trên của Friedman khiến tôi suy nghĩ: Có thể tóm tắt những nguyên lí cơ bản của môn kinh tế học vào một trang giấy được không? Xét cho cùng thì Henry Hazlitt đã cung cấp cho chúng ta một bản tóm tắt đầy sức thuyết phục những nguyên lí nền tảng của môn kinh tế chỉ trong một bài học [Economics in One Lesson]. Liệu có thể rút những khái niệm này xuống còn một trang không?

Friedman himself did not attempt to make a list when he made this statement in a 1986 interview. After completing a preliminary one-page summary of economic principles, I sent him a copy. In his reply, he added a few of his own, but in no way endorses my attempt.

Chính Friedman cũng không thử lập danh sách những khái niệm cơ bản đó khi ông tuyên bố như thế trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1986. Sau khi lập được bản tóm tắt trên một trang giấy tôi có gửi cho ông. Trong bức thư trả lời ông có đưa thêm vài ý, nhưng ông không chịu kí xác nhận cố gắng của tôi.

After making this list of basic principles (see the next page), I have to agree with Friedman and Hazlitt. The principles of economics are simple: Supply and demand. Opportunity cost. Comparative advantage. Profit and loss. Competition. Division of labor. And so on.


Sau khi lập được danh sách những nguyên lí nền tảng, tôi buộc phải đồng ý với Friedman và Hazlitt. Những nguyên tắc của môn kinh tế học là khá đơn giản: Cung và cầu. Chi phí cơ hội. Lợi thế tương đối. Lời và lỗ. Cạnh tranh. Phân công lao động…v.v..

In fact, one professor even suggested to me that economics can be reduced to one word: price. Or maybe, I suggested alternatively, cost. Everything has a price; everything has a cost.

Thậm chí một ông giáo sư còn đề nghị với tôi là môn kinh tế học có thể rút lại chỉ còn một từ: giá cả. Tôi còn có thể đưa ra một đề nghị nữa: chi phí. Mọi thứ đều có giá, mọi thứ đều cần chi phí.


Additionally, sound economic policy is straightforward: Let the market, not the state, set wages and prices. Keep government’s hands off monetary policy. Taxes should be minimized. Government should do only those things private citizens can’t do for themselves. Government should live within its means. Rules and regulations should provide a level playing field. Tariffs and other barriers to trade should be eliminated as much as possible. In short, government governs best which governs least.


Ngoài ra, chính sách kinh tế đúng đắn là rất rõ ràng: Để cho thị trường, chứ không phải nhà nước xác lập giá cả và tiền lương. Không cho nhà nước can thiệp vào chính sách tiền tệ. Thuế phải thật thấp.  Chính phủ chỉ làm những việc mà các công dân không thể làm được cho mình. Chính phủ phải sống trong khuôn khổ số tiền mà họ có. Luật lệ và qui tắc phải tạo ra sân chơi bình đẳng. Thuế quan và những rào cản đối với ngành thương mại phải bị xóa bỏ càng nhiều càng tốt. Nói ngắn, chính phủ cai trị tốt nhất là chính phủ cai trị ít nhất.


Unfortunately, economists sometimes forget these basic principles and often get caught up in the details of esoteric model-building, high theory, academic research, and mathematics. The dismal state of the profession was expressed recently by Arjo Klamer and David Colander, who, after reviewing graduate studies at major economics departments around the country, asked, Why did we have this gut feeling that much of what went on there was a waste?[2]


Đáng tiếc là đôi khi các nhà kinh tế học lại quên mất những nguyên lí nền tảng này và họ thường sa đà vào những tiểu tiết của những mô hình khó hiểu, những lí thuyết cao xa, những nghiên cứu mang tính kinh viện và toán học. Tình hình đáng chán đến mức Arjo Klamer và David Colander, sau khi xem xét các luận văn tốt nghiệp tại các khoa kinh tế lớn trên khắp cả nước đã hỏi rằng vì sao chúng ta lại linh cảm được rằng tất cả những chuyện này đều là công toi hết?[2]


On the following page is my attempt to summarize the basic principles of economics and sound economic policy. If anyone has any suggested improvements, I look forward to receiving them.


Sau đây là bản tóm tắt những nguyên lí căn bản của kinh tế học và chính sách kinh tế lành mạnh. Nếu ai có bất kì đề nghị cải tiến nào, tôi sẵn sàng chấp nhận.

Economics in One Page

by Mark Skousen

1. Self-interest: The desire of bettering our condition comes with us from the womb and never leaves till we go into the grave (Adam Smith). No one spends someone else’s money as carefully as he spends his own.

Kinh tế học trên một trang giấy

Mark Skousen

1. Lợi ích cá nhân: Ước muốn cải thiện điều kiện sống xuất hiện cùng với chúng ta từ lúc ở trong bụng mẹ và sẽ không rời xa ta cho đến tận lúc xuống mồ (Adam Smith). Không ai chi tiền của người khác cẩn thận bằng chi tiền của chính mình.


2. Economic growth: The key to a higher standard of living is to expand savings, capital formation, education, and technology.

2. Phát triển kinh tế: Bí quyết để có mức sống cao hơn là gia tăng tiết kiệm, tạo vốn, giáo dục và công nghệ.


3. Trade: In all voluntary exchanges, where accurate information is known, both the buyer and seller gain; therefore, an increase in trade between individuals, groups, or nations benefits both parties.

3. Thương mại: Trong tất cả những vụ trao đổi tự nguyện, khi người ta có thông tin chính xác thì cả người mua lẫn người bán đều được lợi; vì vậy mà tăng cường buôn bán giữa các cá nhân, các nhóm người hay các nước làm cho cả hai bên đều có lợi.


4. Competition: Given the universal existence of limited resources and unlimited wants, competition exists in all societies and cannot be abolished by government edict.

4. Cạnh tranh: Nguồn lực của thế giới thì có hạn, còn nhu cầu thì vô hạn, cho nên cạnh tranh hiện diện trong tất cả các xã hội và nhà nước không thể ra sắc lệnh mà hủy bỏ được.


5. Cooperation: Since most individuals are not self-sufficient, and almost all natural resources must be transformed in order to become usable, individuals—laborers, landlords, capitalists, and entrepreneurs—must work together to produce valuable goods and services.


5. Hợp tác: Vì phần lớn người ta không thể tự túc được và vì hầu như tất cả mọi nguồn lực đều phải xử lí thì mới thành khả dụng được cho nên các cá nhân – người lao động, chủ đất, nhà tư bản và doanh nhân – phải cùng nhau làm việc để sản xuất ra các loại hàng hóa và dịch vụ có giá trị.

6. Division of labor and comparative advantage: Differences in talents, intelligence, knowledge, and property lead to specialization and comparative advantage by each individual, firm, and nation.


6. Phân công lao động và lợi thế so sánh: Sự khác nhau về tài năng, trí thông minh, hiểu biết và tài sản dẫn đến quá trình chuyên môn hóa và lợi thế tương đối của các cá nhân, các hãng và các dân tộc.

7. Dispersion of knowledge: Information about market behavior is so diverse and ubiquitous that it cannot be captured and calculated by a central authority.


7. Phân hữu tri thức: Thông tin về phản ứng của thị trường có mặt khắp nơi và rất đa dạng, chính quyền trung ương không thể nắm bắt và tính toán hết được.


8. Profit and loss: Profit and loss are the market mechanisms that guide what should and should not be produced over the long run.


8. Lời và lỗ: Lời và lỗ là cơ chế thị trường, là kim chỉ nam hướng dẫn cho người ta biết nên sản xuất cái gì và không nên sản xuất cái gì.


9. Opportunity cost: Given the limitations of time and resources, there are always trade-offs in life. If you want to do something, you must give up other things you may wish to do. The price you pay to engage in one activity is equal to the cost of other activities you have forgone.


9. Chi phí cơ hội: Vì nguồn lực và thời gian có hạn cho nên trong cuộc sống bao giờ cũng có sự thỏa hiệp. Nếu bạn muốn làm một cái gì đó thì bạn phải từ bỏ, không làm một cái gì đó khác mà bạn có thể muốn làm. Giá bạn trả cho việc tham gia vào hoạt động nào đó đúng bằng với chi phí cho những hoạt động mà bạn từ bỏ.


10. Price theory: Prices are determined by the subjective valuations of buyers (demand) and sellers (supply), not by any objective cost of production; the higher the price, the smaller the quantity purchasers will be willing to buy and the larger the quantity sellers will be willing to offer for sale.


10. Lí thuyết về giá cả: Giá cả được xác định bởi đánh giá mang tính chủ quan của người mua (cầu) và người bán (cung) chứ không phải bằng chi phí khách quan của quá trình sản xuất, giá càng cao thì người mua càng muốn mua ít, còn người bán thì càng muốn bán nhiều.


11. Causality: For every cause there is an effect. Actions taken by individuals, firms, and governments have an impact on other actors in the economy that may be predictable, although the level of predictability depends on the complexity of the actions involved.


11. Quan hệ nhân quả: Có nhân thì có quả. Hành động của các cá nhân, các hãng và các chính phủ bao giờ cũng có ảnh hưởng đối với những chủ thể khác trong nền kinh tế; ảnh hưởng này có thể dự đoán được, mặc dù mức độ chính xác của dự đoán phụ thuộc vào mức độ phức tạp của những hành động có liên quan.


12. Uncertainty: There is always a degree of risk and uncertainty about the future because people are often reevaluating, learning from their mistakes, and changing their minds, thus making it difficult to predict their behavior in the future.

12. Tính bất ổn: Tương lai bao giờ cũng chứa đựng rủi ro và không chắc chắn nào đó, vì người ta thường đánh giá lại, người ta học được từ sai lầm của mình và thay đổi ý kiến, khó mà dự đoán được hành vi của họ trong tương lai.


13. Labor economics: Higher wages can only be achieved in the long run by greater productivity, i.e., applying more capital investment per worker; chronic unemployment is caused by government fixing wage rates above equilibrium market levels.

13. Kinh tế học về sức lao động: Trong dài hạn, lương chỉ tăng khi năng suất lao động gia tăng, nghĩa là vốn đầu tư cho một lao động gia tăng; tiền lương cố định do nhà nước đưa ra cao hơn mức cân bằng của thị trường tạo ra thất nghiệp kinh niên.


14. Government controls: Price-rent-wage controls may benefit some individuals and groups, but not society as a whole; ultimately, they create shortages, black markets, and a deterioration of quality and services. There is no such thing as a free lunch.


14. Kiểm soát của chính phủ: Kiểm soát giá cả-tiền thuê-lương bổng có thể làm cho một số người hay nhóm người được lợi, nhưng không phải cho toàn xã hội; rút cục, việc kiểm soát như thế sẽ tạo ra thiếu hụt, thị trường chợ đen và làm cho chất lượng hàng hóa và dịch vụ kém đi. Không làm gì có bữa ăn miễn phí.


15. Money: Deliberate attempts to depreciate the nation’s currency, artificially lower interest rates, and engage in easy money policies inevitably lead to inflation, boom-bust cycles, and economic crisis. The market, not the state, should determine money and credit.


15. Tiền: Cố tình hạ thấp giá đồng tiền quốc gia, lãi suất thấp một cách giả tạo và chính sách tiền tệ dễ dàng [tăng cung tiền bằng cách hạ lãi suất -ND] chắc chắn sẽ dẫn tới lạm phát, chu kì bùng nổ-suy thoái và khủng hoảng kinh tế. Thị trường, chứ không phải nhà nước, phải quyết định chính sách tiền tệ và tín dụng.


16. Public finance: In all public enterprises, in order to maintain a high degree of efficiency and good management, market principles should be adopted whenever possible: (1) Government should try to do only what private enterprise cannot do; government should not engage in businesses that private enterprise can do better; (2) government should live within its means; (3) cost-benefit analysis: marginal benefits should exceed marginal costs; and (4) the accountability principle: those who benefit from a service should pay for the service.

16. Tài chính công: Muốn có hiệu quả cao và quản lí tốt, thì phải áp dụng các nguyên tắc của thị trường trong các công sở ngay khi điều đó trở thành khả thi: (1) Chính phủ chỉ nên làm những việc mà doanh nghiệp tư nhân không thể làm được, chính phủ không được tham gia làm những việc mà doanh nghiệp tư nhân có thể làm tốt hơn; (2) chính phủ phải sống trong khuôn khổ số tiền mà họ có; (3) phân tích chi phí-lời lãi: lợi ích biên tế phải lớn hơn chi phí biên tế; và (4) nguyên tắc thanh toán: người nhận được lợi ích từ dịch vụ nào thì phải trả tiền cho dịch vụ đó.



Dr. Skousen is an economist at Rollins College, Department of Economics, Winter Park, Florida 32789, and editor of Forecasts & Strategies, one of the largest investment newsletters in the country. The third edition of his book Economics of a Pure Gold Standard has recently been published by FEE.

Tiến sỹ Skousen giảng dạy kinh tế học tại Rollins College, khoa kinh tế học học, Winter Park, Florida 32789, và biên tập viên tờ Forecasts & Strategies, một trong những bản tin định kì chuyên về lĩnh vực đầu tư lớn nhất trong cả nước. Cuốn Economics of a Pure Gold Standard của ông vừa được quĩ FEE xuất bản lần thứ tư.


1.   Quoted in interview, Lives of the Laureates, William Breit and Roger W. Spencer, eds. (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1986), p. 91.

2.   Arjo Klamer and David Colander, The Making of an Economist (Boulder, Colo.: Westview Press, 1990), p. xiv. See also David Colander and Reuven Brenner, Educating Economists (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1992).
[1] Trích dẫn từ bài phỏng vấn trong Lives of the Laureates, do William Breit và Roger W. Spencer biên tập (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1986), trang 91.

[2] Arjo Klamer và David Colander, The Making of an Economist (Boulder, Colo.: Westview Press, 1990), p. xiv. See also David Colander and Reuven Brenner, Educating Economists (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1992).





Translated by Phạm Nguyên Trường


http://www.thefreemanonline.org/columns/economics-in-one-page/#comment-101352