MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, February 29, 2012

Russian Sixth Generation Warfare and Recent Developments NHỮNG PHÁT TRIỂN VŨ KHÍ GẦN ĐÂY VÀ CUỘC “CHIẾN TRANH THẾ HỆ THỨ SÁU” CỦA NGA


Russian Sixth Generation Warfare and Recent Developments

NHỮNG PHÁT TRIỂN VŨ KHÍ GẦN ĐÂY VÀ CUỘC “CHIẾN TRANH THẾ HỆ THỨ SÁU” CỦA NGA

Eurasia Daily Monitor Volume: 9 Issue: 17

January 25, 2012

Eurasia Daily Monitor

January 25, 2012

While press attention on developments in Russia focused on the disputed parliamentary elections and the following protests, which seemed to revive political activism in Moscow and other urban centers, there have been some military developments that deserve some attention. One such theme is an old topic, sixth generation warfare and its impact upon the nuclear threshold – do advanced conventional systems, which approach nuclear effects, blur the line on nuclear deterrence? The Russian press has had several recent articles that suggest this issue is becoming more acute.

Trong khi sự chú ý của báo chí về sự phát triển ở Nga chỉ tập trung vào các cuộc bầu cử quốc hội và các cuộc biểu tình sau đó, dường như đang làm sống lại hoạt động chính trị tích cực ở Moscow và các trung tâm đô thị khác, thì đã có một số phát triển quân sự đáng được chú ý. Một trong những chủ đề chủ đề đã cũ, chiến cụ thế hệ thứ sáu và tác động của nó lên ngưỡng hạt nhân – liệu hệ thống vũ khí thông thường tiên tiến, mà có tác dụng suýt soát vũ khí hạt nhân, làm mờ đi ranh giới ngăn chặn hạt nhân? Báo chí Nga đã có một số bài báo gần đây cho thấy vấn đề này ngày càng trở nên gay gắt hơn.

In the aftermath of Desert Storm in 1991, the late Major-General Vladimir Slipchenko coined the phrase “sixth generation warfare” to refer to the “informatization” of conventional warfare and the development of precision strike systems, which could make the massing of forces in the conventional sense an invitation to disaster and demand the development of the means to mass effects through depth to fight systems versus systems warfare. Slipchenko looked back at Ogarkov’s “revolution in military affairs” with “weapons based on new physical principles” and saw “Desert Storm” as a first indication of the appearance of such capabilities. He did not believe that sixth generation warfare had yet manifested its full implications (Vladimir Slipchenko, Voina budushchego. Moscow: Moskovskii Obshchestvennyi Nauchnyi Fond, 1999).

Sau Chiến dịch Bão táp Sa mạc của Mỹ năm 1991, cố Thiếu tướng Vladimir Slipchenko đã đưa ra nhóm từ “chiến tranh thế hệ thứ sáu” để đề cập đến các vấn đề của cuộc chiến tranh thông thường và sự phát triển của các hệ thống tấn công chính xác có thể tiêu diệt hàng loạt đối phương và yêu cầu phát triển các phương tiện gây ảnh hưởng toàn diện có chiều sâu nhằm đối phó với cuộc chiến tranh của các hệ thống vũ khí. Slipchenko đánh giá lại "cuộc cách mạng hoạt động quân sự" Ogarkov với "vũ khí dựa trên các nguyên tắc vật lý mới" và "Bão táp sa mạc" như là một dấu hiệu đầu tiên của sự xuất hiện của các khả năng đó. Ông không tin rằng chiến tranh thế hệ 6 đã thể hiện hết tác dụng đầy đủ của nó

However, Slipchenko did believe that sixth generation warfare would replace fifth generation warfare, which he identified as thermonuclear war, and had evolved into a strategic stalemate, making nuclear first use an inevitable road to destruction (from the end of the Soviet Union until his death in 2005, he had analyzed combat experience abroad to further refine his conception until he began to speak of the emergence of “no-contact warfare” as the optimal form for sixth generation warfare; Vladimir Slipchenko, Beskontaktnye voiny. Moscow: Izdatel’skii dom: Gran-Press,” 2001). In his final volume, Slipchenko redefined sixth generation warfare as involving the capacity to conduct distant, no-contact operations and suggested that such conflict would demand major military reforms. Slipchenko made a compelling case for the enhanced role of C4ISR in conducting such operations (Vladimir Slipchenko, Voina novogo pokoleniia: Distantsionnye i beskontaktaktnye, Moscow: OLMA-Press, 2004).

Tuy nhiên, tướng Slipchenko đã xem xét cuộc cách mạng về vấn đề quân sự của cựu Nguyên soái Ogarkov với các loại vũ khí được dựa trên cơ sở các nguyên tắc vật chất mới và nhận thấy Bão táp Sa mạc là dấu hiệu đầu tiền của những khả năng như vậy. Ông không tin cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu” đã bộc lộ đầy đủ các tác động của nó, nhưng ông tin nó thay thế “cuộc chiến tranh thê hệ thứ năm” được ông xác định là cuộc chiến tranh hạt nhân và phát triển thành một sự bế tắc chiến lược, từ đó buộc phải sử dụng đòn tấn công hạt nhân đầu tiên- một biện pháp chắc chắn dẫn đến hủy diệt. Trong tài liệu cuối cùng, Tướng Slipchenko đánh giá lại cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu” là sự phát triển khả năng tiến hành các chiến dịch quân sự không tiếp xúc, ở khoảng cách xa và cuộc xung đột như vậy sẽ đòi hỏi quân đội phải tiến hành các cải cách lớn, ông đề nghị thúc đẩy vai trò của C4ISR (Hệ thống chỉ huy kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính tình báo, giám sát và do thám) để tiến hành các chiến dịch như vậy.

There was considerable debate among Russian specialists about sixth generation warfare and the applicability of the term. General Makhmut Gareev and Slipchenko even debated its utility in 2005 (Makhmut Gareev and Vladimir Slipchenko, Budushchaia voina, Moscow; OGI, 2005). Since Slipchenko’s death it has continued to be used and refined. In 2010, the term was employed by Mikhail Rastopshin to criticize those demanding higher combat readiness when the Russian Armed Forces were not even close to being prepared to conduct modern combat operations. The US and NATO forces were armed with the instruments of sixth generation warfare and Russia’s were not. Rastopshin accused Voennaya Mysl’, the leading military publication on military theory, of being behind the times, not appreciating the demands of sixth generation warfare and providing poor advice to the Russian General Staff as it sought to bring the “new look” to life (Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye, March 12, 2010).

Các chuyên gia Nga tranh luận nhiều về cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu” và khả năng áp dụng của nhóm từ đó. Thậm chí năm 2005, Tướng Makhmut Gareev và Tướng Slipchenko đã tranh cãi với nhau về tính thực tiễn của nó. Sau khi ông Slipchenko từ trần, cụm từ tiếp tục được sử dụng và cải tiến. Năm 2010, ông Mikhail Rastopshin sử dụng cụm từ để chi trích những người yêu cầu việc sẵn sàng chiến đấu cao hơn trong khi Lực lượng Vũ trang Nga gần như không chuẩn bị tiến hành các hoạt động tác chiến hiện đại. Lực lượng Mỹ và NATO đã được trang bị các công cụ của cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu”, trong khi đó lực lượng vũ trang Nga thì không. Ông Rastopshin tố cáo ông Voennaya Mysl, giám đốc nhà xuất bản quân sự hàng đầu của Nga về học thuyết quân sự, không đánh giá đúng các đề nghị cua cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu” và không gửi các kiến nghị sáng suốt cho Bộ Tổng tham mưu Nga khi cơ quan này tìm cách áp dụng “cái nhìn mới” vào hoạt động quân sự.

In the absence of advanced conventional systems to conduct “distant, no-contact warfare” the Russian military has placed greater reliance on non-strategic nuclear weapons to de-escalate local wars on Russia’s periphery. Recent press coverage has brought the issue of sixth generation warfare back into public attention. Viktor Miasnikov, defense correspondent with Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye, published a year-end column on the ten major military events of 2011. Among the events he listed, Miasnikov included a wide range of topics of a political-military and technical nature, including: the changes in regimes loyal to the US in association with the Arab Spring; the War in Libya and NATO’s role in it; problems affecting US/NATO-Russia relations with regard to the deployment of European Missile Defense; Russia’s completion of the deployment of GLONASS (Global Navigation Satellite System); the end of the civil war in the Ivory Coast; the beginning of the reform of the Bundeswehr, involving a shift to a volunteer force prepared to conduct anti-terrorist and expeditionary operations; the US successful tests of its first hyper-sonic weapon, the Falcon HTV-2; the prisoner exchange that freed Israeli Corporal Gilad Schalit for 1,027 Palestinian prisoners; US Special Forces liquidating Osama bin Laden; and Iran’s capturing the US advanced reconnaissance drone – RQ-170.

Do thiếu các hệ thống vũ khí thông thường hiện đại để tiến hành cuộc chiến tranh không tiếp xúc, khoảng cách xa, quân đội Nga chủ yếu dựa vào các vũ khí hạt nhân phi chiến lược để ngăn chặn các cuộc chiến tranh khu vực ảnh hưởng đến phạm vi lãnh thổ của Nga. Gần đây, các phương tiện truyền thông của Nga đã thu hút sự quan tâm của dư luận về cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu”. Phóng viên quân đội Viktor Miasnikov đã liệt kê 10 sự kiện quân sự lớn trong năm 2011 trên một tạp chí quân sự, trong đó có cả những thay đổi của các chế độ lâu nay vẫn trung thành với Mỹ trong Mùa Xuân Arập; cuộc chiến tranh tại Libi và trò của NATO trong cuộc chiến; những vấn đề ảnh hưởng đến mối quan hệ Mỹ/NATO-Nga liên quan đến kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa châu Âu; Nga hoàn thành kế hoạch triển khai hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GLONASS); chấm dứt cuộc nội chiến ở Cốtđivoa; bắt đầu chương trình cải cách của Bundeswehr, liên quan đến sự chuyển đổi thành lực lượng tự nguyện sẵn sàng tiến hành các chiến dịch viễn chinh và chống khủng bố; các cuộc thử nghiệm thành công loại vũ khí bay nhanh hơn tiếng động 5 lần đầu tiên của Mỹ: Falcon HTV-2; việc trao đổi tù nhân giữa Hạ sĩ Gilad Schalit cua quân đội Ixraen lấy 1.027 tù nhân Palextin; lực lượng đặc nhiệm Mỹ bao vây tiêu điệt Osama bin Laden; và Iran bắt được máy bay trinh sát điện tử. không người lái hiện đại của Mỹ: RQ-170.

With regard to future war, missile defense, GLONASS, hypersonic global strike weapons, and the captured drone all are aspects of sixth generation warfare. Missile defense has been billed by its proponents as dealing with early ballistic missiles in the hands of rogue states, but Russian objections speak of the use of such a system to undermine the deterrent value of Russian offensive strategic nuclear weapons. The successful completion of GLONASS and its modernization, which had been a high priority of the Putin administration, finally put Russia on the road to having a global positioning system to support precision-strike systems. The successful testing of Falcon HTV-2, a hypersonic vehicle deploying from a ballistic missile, engaging in hypersonic maneuver and delivering a conventional precision-strike package on target was an important step toward the US Conventional Prompt Global Strike capability, the very embodiment of distant, no-contact warfare. On the Iranian capture of the RQ-170 reconnaissance drone “Sentinel,” Miasnikov noted that the drone had been brought down by non-kinetic means, while the Iranians intended to study the drone’s systems, and that it could not be excluded that Russian and Chinese experts would gain access to what the Iranians discover.

Về cuộc chiến tranh tương lai: chương trình phòng thủ tên lửa, GLONASS, các vũ khí tấn công toàn cầu bay nhanh hơn tiếng động 5 lần, và máy bay không người lái bị bắt giữ, tất cả là các lĩnh vực của cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu”. Mỹ đề nghị thúc đẩy chương trình phòng thủ tên lửa nhằm đối phó với tên lửa đạn đạo của các nước kẻ thù, nhưng Nga phản đối sử dụng hệ thống như vậy vì sợ phá hủy giá trị răn đe của các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược của nước này Hoàn thành và hiện đại hóa GLONASS, một trong những ưu tiên cao của Chính quyền Putin, đã mang lại cho Nga khả năng định vị toàn cầu nhằm hỗ trợ các hệ thống vũ khí tấn công chính xác. Thử nghiệm thành công vũ khí Falcon HTV-2 của Mỹ, một vũ khí nhanh hơn tiếng động 5 lần được triển khai từ một tên lửa đạn đạo và phóng một số vũ khí tấn công chính xác thông thường vào mục tiêu là một bước quan trọng tiến tới khả năng Tấn công Toàn cầu Nhanh chóng Thông thường của Mỹ-biểu hiện của cuộc chiến tranh không tiếp xúc, ớ khoảng cách xa. về việc bắt giữ chiếc máy bay trinh sát không người lái RQ-170 của Iran, ông Miasnikov cho biết, các phương tiện không động lực đã bắn rơi chiếc máy bay không người lái và Iran có ý định cùng với Nga và Trung Quốc nghiên cứu các hệ thống của loại máy bay này.

Miasnikov wrote an extended column on GLONASS’s completion. He had written an article on the status of the program in late 2007, and saw it as more hope than reality. Then there were only 18 satellites in place, and of those only 13 were functioning. Miasnikov said at that time that GLONASS had no boss, no program for the development of the land-based components of GLONASS and that no one was responsible for it. Four years later, GLONASS has deployed 31 satellites of which 23 are functioning. Its ground systems are fully operational, and GLONASS now provides global coverage. As Miasnikov makes clear, progress was not slow and steady. The appearance of a more advanced satellite, the GLONASS-K, extended satellite life expectancy and greatly reduced the mass that had to be placed in orbit. While there was much attention to the deployment of the satellites, there was less focus on the development of the ground-based systems, and who would be the system’s consumers. One of the major obstacles was the penchant for security, which made marketing the capability slow until the project’s director, Yury Urlichich, began to press for the development of a market for navigational services. This involved embracing the mass media to develop demand (Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye, December 30, 2011).

Miasnikov đã viết một bài báo mở rộng về việc hoàn thành GLONASS. Ông đã viết một bài về tình trạng của chương trình vào cuối năm 2007, và thấy nó nhiều hy vọng hơn là thực tế. Lúc đó, chỉ có 18 vệ tinh địa tĩnh, ​​trong đó chỉ có 13 hoạt động. Miasnikov cho biết tại thời điểm đó, GLONASS không có chiy huy, không có chương trình cho sự phát triển của các thành phần trên đất liền của GLONASS và không ai chịu trách nhiệm về nó. Bốn năm sau đó, GLONASS đã triển khai 31 vệ tinh trong đó có 23 hoạt động. Hệ thống mặt đất của nó hoạt động đầy đủ, và GLONASS bây giò bao phủ toàn cầu. Như Miasnikov nói rõ, tiến bộ là không chậm và ổn định. Sự xuất hiện của một vệ tinh tiên tiến hơn, GLONASS-K, kéo dài tuổi thọ vệ tinh và làm giảm rất nhiều khối lượng phải được đặt trong quỹ đạo. Trong khi có nhiều sự quan tâm đến việc triển khai các vệ tinh, có ít cú ý tập trung vào sự phát triển của các hệ thống trên mặt đất, và ai sẽ là người tiêu dùng của hệ thống. Một trong những trở ngại chính là thiên hướng dành cho an ninh, khả năng tiếp thị chậm cho đến khi Giám đốc của dự án là Yury Urlichich, bắt đầu nhấn mạnh phát triển một thị trường cho các dịch vụ dẫn đường. Điều này kéo theo các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển nhu cầu

Miasnikov concludes that: “An open information policy became an important factor in the success of the entire GLONASS Program.” Moreover, Urlichich pressed for an approach that emphasized system integration and reliability. The competition was the existing US GPS system and the target was to make GLONASS truly competitive, and Miasnikov considers GLONASS well on the way to that objective (Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye, December 30, 2011).

Miasnikov kết luận rằng: "Một chính sách thông tin mở đã trở thành một yếu tố quan trọng trong sự thành công của toàn bộ Chương trình GLONASS" Hơn nữa, Urlichich áp đặt cách tiếp cận nhấn mạnh tích hợp hệ thống và độ tin cậy. Sự cạnh tranh đến từ hệ thống GPS của Mỹ hiện tại và mục tiêu là làm cho GLONASS có khả năng cạnh tranh thực sự, và Miasnikov đánh giá GLONASS đang tiến bước tới mục tiêu đó.

Miasnikov in addition to his column on the ten major military events of the past year also authored a book review of Andrei Kokshin’s Problemy obespecheniia strategicheskoi stabil’nosti: Teoreticheskie i prikladnye voprosy [Problems of Strategic Stability: Theoretical and Practical Issues]. In his introduction, Miasnikov pointed to the underlying reality of nuclear deterrence: “the most expensive weapons are not intended for use in a real war.” Miasnikov points to Kokoshin’s credentials as a defense scholar and statesman and attributed to him the development of Topol M and the R-29MU2 “Lainer” multiple warhead, liquid-fueled SLBM, which was successfully tested in 2011 (Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye, December 30, 2011).

Ngoài việc liệt kê những sự kiện quân sự lớn trong năm 2011, ông Miasnikov còn xem xét tài liệu “Những vấn đề ổn định chiến lược” của ông Andrei Kokoshin. Ông khẳng định, thực tiễn quan trọng của răn đe hạt nhân là: “Các loại vũ khí đắt giá nhất sẽ không được sử dụng trong một cuộc chiến tranh “thực sự”. Ông cho biết, ông Kokoshin là một học giả quân sự và một chính khách đã góp phần phát triển tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, sử dụng nhiên liệu lỏng, trang bị đầu đạn đa năng R-29MU2 “Lainer” và Topol M, đã được thử thành công năm 2011.

Kokoshin, like most other strategic thinkers, views nuclear weapons as a major component of strategic stability in the contemporary world. They cannot be used in practice as military means to achieve political ends, but only virtually to deter others from acting. The chief risks associated with nuclear weapons are accidental or unsanctioned use. “The cost of a mistake in such situations assumed a global scale,” Kokoshin notes after examining all aspects of the nuclear issues facing humanity and engaging in a forecast of various scenarios for the development of nuclear weapons and the ways that could be used to neutralize their negative tendencies. This includes the threat of terrorist use of nuclear weapons or nuclear materials.

Cũng như hầu hết các nhà nghiên cứu chiến lược khác, ông Kokoshin coi các vũ khí hạt nhân là yếu tố quan trọng của sự ổn định chiến lược trong thế giới hiện nay. Chúng không thể được sử dụng trong tác chiến như các phương tiện nhằm đạt được các mục đích quân sự, mà chỉ để răn đe các nước khác không phát động chiến tranh. Những nguy cơ chủ yếu của các loại vũ khí hạt nhân là sử dụng bất ngờ hoặc bừa bãi. Ông nhấn mạnh sau khi xem xét tất cả các lĩnh vực liên quan đến các vấn đề hạt nhân đối với con người: “Một sai lầm có thế gây thiệt hại trên phạm vi toàn cầu”. Kết luận này bao gồm cả mối đe dọa khi bọn khủng bố sử dụng các loại vũ khí hạt nhân hoặc các nhiên liệu hạt nhân.

Kokoshin’s chapter XV is devoted to “Reflections on Some Hypothetical Measures for the Modernization of the Structure and Composition of Russia’s S[trategic] N[uclear] F[orces] and the Improvement of Their Combat Survivability.” Since strategic stability involves both multilateral and individual actions by states, Kokoshin called on Russian science and expert opinion to work out on a conceptual basis various models for the use of armed forces by all sides and political-military relations, interacting without the direct use of military power. One example of such a course of action was the asymmetric decision to develop Topol-M in response to the US Strategic Defense Initiative. Topol-M was a breakthrough weapon developed under the most difficult circumstances, and involves major innovations in ICBM technology. Its flight-test program was one of steady successes. Kokoshin emphasizes the advanced technologies that make Topol-M into a weapon to counter missile defense systems, including the capacity of its warhead to engage in terminal phase maneuvers. Similar progress in quieting submarines increased their survivability and reduced the value of US ASW sonar barriers. Likewise the small, solid-fueled, multi-warhead, mobile ICBM Kur’er prototype of the 1980s, which provided the basis for the short-range ballistic missile Iskander and the development, could now be developed as an ICBM. Russia could also re-examine at the Kop’e-R small, liquid-fueled, multiple-warhead ICBM developed by Iuzhnoe Design Bureau. Kokoshin also sees room for Russia to retain a small number of heavy, liquid-fueled, ICBMs with maneuvering warheads in well-protected silos with the construction of additional dummy silos to confuse the enemy. One more component Kokoshin considered ready for development were air-launched ICBMs, which could be taken aloft aboard transport aviation.

Ông Kokoshin dành toàn bộ chương 15 để đề cập đến: “Suy nghĩ về một số biện pháp nhằm hiện đại hóa cơ cấu tổ chức và thành phần của lực lượng hạt nhân chiến lược của Nga và phát triển khả năng tồn tại trong tác chiến cua lực lượng này”. Do ổn định chiến lược liên quan đến hành động đơn phương và đa phương của nhiều nước ông Kokoshin kêu gọi các nhà khoa học và các chuyên gia đưa ra các hình thức khác nhau về việc sử dụng lực lượng vũ trang của tất cả các bên và mối quan hệ chính trị-quân sự, liên kết hành động mà không trực tiếp sử dụng sức mạnh quân sự. Một ví dụ của tiến trình hanh động như vậy là quyết định phát triển loại vũ khí Topol-M để đối phó vài Sáng kiến phóng thử tên lửa chiến lược của Mỹ. Vũ khí Topol-M là bước đột phá được phát triển trong điều kiện khó khăn nhất và liên quan đến các đổi mới quan trọng về công nghệ của ICBM (tên lửa đạn đạo xuyên lục địa). Chương trình thử nghiệm chuyến bay của nó là một trong những thành công vững chắc. Ông Kokoshin cho biết các công nghệ hiện đại đã biến Topol-M thành một vũ khí chống các hệ thống phòng thủ tên lửa. Tiến bộ tương tự trên các tàu ngầm yên lặng đã làm tăng khả năng tồn tại của chúng và giảm bớt giá trị của các thiết bị phát hiện tàu ngầm trong Chiến tranh chống ngầm của Mỹ (US ASW). Tương tự, mẫu đầu tiên trong thập kỷ 1980 của ICBM Kur cơ động, nhiều đầu đạn, sử dụng nhiên liệu rắn, loại nhỏ, tạo cơ sở cho tên lửa đạn đạo tầm ngắn Iskander hiện có thể được phát triển như một ICBM. Nga cũng có thể xem xét lại loại ICBM mang nhiều đầu đạn, sử dụng nhiên liệu lỏng, loại nhỏ e- R của Kop do Cục thiết kế Iuzhnoe phát triển. Ông Kokoshin cũng đề nghị Nga duy trì một số tên lửa ICBM, sử dụng nhiên liệu lỏng, hạng nặng, trang bị các đầu đạn cơ động, cất giấu trong các hầm được bảo vệ kiên cố kèm theo các hầm giả để đánh lừa đối phương. Một thành phần nữa mà ông Kokoshin xem xét để chuẩn bị phát triển là các tên lửa ICBM phóng từ trên không.

Miasnikov stated that the book will appeal to Russian and foreign developers of nuclear weapons and delivery systems, as well as military leaders and stated that readers would be particularly impressed by the large collection of illustrations covering strategic nuclear weapons systems, missile complexes, including air defense and anti-missile defense systems. What ties all these themes together is the notion of the transformation of warfare.

Miasnikov nói rằng cuốn sách sẽ hấp dẫn các nhà phát triển Nga và nước ngoài cũng như các nhà lãnh đạo quân sự về vũ khí hạt nhân và hệ thống phóng, và nói rằng độc giả sẽ được đặc biệt ấn tượng bởi bộ sưu tập lớn các hình minh họa bao gồm các hệ thống vũ khí hạt nhân chiến lược, khu phức hợp tên lửa, bao gồm phòng không và hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Cái liên kết tất cả các chủ đề này với nhau là khái niệm về chuyển đổi của chiến cụ.

Russia is not a passive observer of these developments. The importance of the US testing the Falcon HTV-2 is that it provides proof for the concept of hypersonic weapons with advanced conventional warheads. Russia is also moving in that direction. In July 2011, an article addressing naval innovation in research and development of weapons identified kinetic-strike and hypersonic weapons as a key research field (Morskoi Sbornik, No. 7, July 2011).

Nga không phải một nhà quan sát thụ động các phát triển. Tầm quan trọng của cuộc thử nghiệm vú khí Falcon HTV-2 của Mỹ cho thấy bằng chứng về khái niệm của các vũ khí siêu thanh được trang bị các đầu đạn thông thường hiện đại. Nga cũng đang phát triển theo hướng đó. Tháng 7/2011, một tài liệu của Nga đề cập đến vấn đề đổi mới của hải quân trong nghiên cứu và phát triển các loại vũ khí xác định các vũ khí nhanh hơn tiếng động 5 lần và tấn công động năng là lĩnh vực nghiên cứu cơ bản.

At the same time, Russia and India have been working jointly on the development of an advanced version of the stealth, supersonic Brahmas cruise missile. BrahMos-2, which is to have a speed of 6,000 km/hour and a range of 290 km, will be designed for air launch by the advanced Su-30 fighter. In October 2011, Russian sources reported that the first flight tests are scheduled to take place this year (Vzglyad, October 10, 2011). In December 2011, the Skolkovo Fund identified one of its first development projects with clear military implications for an innovation award: “Experimental Approbation of a Plasma Method of Rapid Ignition of Hypersonic Air-Hydrocarbon Streams,” which refers to the development a hypersonic engine for a hypersonic cruise missile. The author points out that the only current applications for hypersonic flight are military and involve speeds in excess of 5,000 km/hour (Izvestiya, December 15, 2011).

Đồng thời Nga và Ấn Độ đã và đang hợp tác phát triển tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân tầm thấp BrahMos siêu thanh và tàng hỉnh. Tên lửa BrahMos- 2, có tốc độ bay 6.000 km/giờ và tầm bắn 290 km, sẽ được thiết kế để phóng từ trên không bằng máy bay chiến đấu hiện đại Su-30. Tháng 10/2011, các nguồn của Nga cho biết các chuyến bay thử đầu tiên của tên lửa BrahMos-2 sẽ được tiến hành trong năm 2012. Tháng 12/2011, Quỹ Skolkovo xác định một trong những dự án phát triển đầu tiên có tác động quân sự rõ ràng theo hướng đổi mới là: phát triển một động cơ siêu thanh cho loại tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân tầm thấp. Tác giả chỉ ra rằng các ứng dụng hiện hành duy nhất dành cho các chuyến bay siêu thanh lá ứng dụng quân sự và liên quan đến tốc độ vượt quá 5.000 km / giờ (Izvestiya, 15 Tháng Mười Hai năm 2011).

The news about the possible sharing by Iran of the technology from the RQ-170 stealth drone, which they captured, can mean accelerated progress for both Russia and China in this field. Finally, the full deployment GLONASS to provide global coverage means that Russia’s aerospace defense force has its own global navigation system, something which the US achieved with the deployment of Navstar GPS, which became fully operational in 1994. From a Russian military perspective, 2011 carried sixth generation warfare several steps forward. Russia seems committed to investing in these areas, which will define strategic stability in this new era.

Việc Iran có khả năng chia sẻ với Nga và Trung Quốc công nghệ của máy bay không người lái tàng hình RQ-170 sẽ giúp hai nước thúc đẩy các tiến bộ trên lĩnh vực này. Cuối cùng, việc triển khai GLONASS để tạo khả năng quan sát toàn cầu của Nga cho thấy lực lượng phòng thủ không gian vũ trụ của Nga đã có hệ thống định vị toàn cầu mà Mỹ đạt được sau khi triển khai công cụ Navstar GPS và đưa vào hoạt động đầy đủ năm 1994. Rõ ràng, trong năm 2011, Nga đã thúc đẩy một số biện pháp của cuộc “chiến tranh thế hệ thứ sáu”. Nga dường như cam kết đầu tư hơn nữa vào các lĩnh vực này nhằm đạt được sự ổn định chiến lược trong kỷ nguyên mới./.

http://www.jamestown.org/programs/edm/single/?tx_ttnews[tt_news]=38926&cHash=2da97e307823618aa7c45191ac729ddf

Why to Forget UNCLOS Tại sao quên UNCLOS?



Why to Forget UNCLOS

Tại sao quên UNCLOS?

By Dan Blumenthal & Michael Mazza

February 17, 2012

By Dan Blumenthal & Michael Mazza

17-2-2012

The Obama administration seems determined to put political science theories to the test by “binding” China into the rules-based order over which the United States presides. Only this time, China is already a signatory to the rules in question. The Obama administration seems to think it is the United States that needs the binding.

The timing of this new push over the U.N. Convention on the Law of Sea, signed by President Bill Clinton and then defeated by the Senate in 1994, is curious. One need only scan the past three years of Chinese activities in the South China, East China, and Yellow seas to find evidence that China intends to change the maritime status quo in ways detrimental to U.S. interests. Despite ratifying UNCLOS, China’s maritime behavior in East Asia runs contrary to international law and custom as they have been commonly understood for centuries.

Chính quyền Obama dường như quyết tâm đưa các lý thuyết khoa học chính trị vào thử nghiệm bằng việc “ràng buộc” Trung Quốc vào một trật tự trên cơ sở luật pháp mà Hoa Kỳ cầm đầu. Riêng lần này, Trung Quốc lại là bên sẵn sàng ký vào các luật lệ liên quan. Có vẻ như chính quyền Obama nghĩ rằng chính Hoa Kỳ mới cần được ràng buộc.

Thời gian có thúc đẩy mới về Công ước LHQ về Luật Biển, Tổng thống Bill Clinton đã ký và sau đó bị Thượng viện bác bỏ vào năm 1994, thật đáng tò mò. Người ta chỉ nhìn qua hoạt động của Trung Quốc trong ba năm qua ở Nam Trung Quốc, Đông Trung Quốc và vùng biển Hoàng Hải là thấy ngay bằng chứng Trung Quốc dự định để thay đổi hiện trạng hàng hải theo những cách gây phương hại đến lợi ích của Mỹ. Mặc dù đã phê chuẩn UNCLOS, hành vi của hàng hải của Trung Quốc tại Đông Á trái với luật pháp quốc tế và tùy tiện như họ đã thường làm trong nhiều thế kỷ.



Where customary international law has protected the traditionally expansive understanding of freedom of the seas – allowing open access to all but narrow bands of territorial waters along national coastlines – China is trying to curtail that access, fence off its peripheral waters, and deny to other maritime nations the freedom of navigation they have long and lawfully enjoyed. What’s the argument for signing UNCLOS when China itself doesn’t adhere to the law? When it turns out that the letter of the law is less clear than its proponents think? Given these problems, U.S. ratification of UNCLOS won’t resolve Sino-U.S. disagreements; it will only lead to endless legal and diplomatic wrangling.

Trong khi luật pháp quốc tế thông thường đều bảo vệ cách hiểu khá rộng, theo truyền thống, về tự do hàng hải – tức là cho phép tất cả các biển đều mở, trừ những dải hẹp chạy dọc theo bờ biển của một quốc gia – thì Trung Quốc lại đang cố sức phong tỏa đường đi lối lại, dựng hàng rào quanh các vùng biển ngoại vi, và không cho các quốc gia có sử dụng biển khác hưởng quyền tự do hàng hải mà họ từ lâu vẫn được hưởng một cách hợp pháp. Vậy lập luận nào khiến họ ký UNCLOS trong khi bản thân họ không tuân thủ luật pháp? Khi nào thì mọi sự vỡ ra rằng văn bản luật này lại không rõ ràng như những người khởi xướng ra nó tưởng? Trong tình hình này, việc Mỹ phê chuẩn UNCLOS cũng sẽ không giải quyết được những bất đồng giữa Trung Quốc và Mỹ; mà sẽ chỉ dẫn tới cãi cọ bất tận về pháp lý và ngoại giao thôi.

Arguments for UNCLOS ratification now are even more bizarre given that international law and the balance of power favor the United States. To ratify the treaty at this time would be to signal approval to other states of faulty interpretations of international law while committing the United States to endless dispute resolution in international bodies that haven’t historically favored its interests. Washington would put itself in a position where it might have to ignore the treaty’s dispute resolution clauses to further its interests. Why sign a treaty we will have to violate? In doing so, wouldn’t Washington cede the moral high ground it now holds by simply following established custom?

Giờ đây các lập luận ủng hộ phê chuẩn UNCLOS thậm chí nghe còn kỳ quặc hơn, khi mà cả luật pháp quốc tế và cán cân quyền lực đều có lợi cho Mỹ. Phê chuẩn công ước vào thời điểm này sẽ là đồng ý với các quốc gia khác về cách diễn giải sai lạc luật pháp quốc tế, trong khi đó lại kéo Mỹ vào việc giải quyết những tranh cãi bất tận trong những cơ quan quốc tế vốn chưa từng ủng hộ lợi ích của họ. Washington sẽ tự đặt mình vào một vị thế mà ở đó, họ có thể phải phớt lờ các điều khoản giải quyết tranh chấp trong công ước – vì lợi ích của mình. Tại sao lại ký một công ước mà chúng ta sẽ phải vi phạm? Khi ký như thế, chẳng phải là Mỹ đã nhượng bỏ cơ sở đạo đức cao mà hiện họ đang nắm giữ, chỉ bằng cách tuân theo những thông lệ đã được xác lập sẵn hay sao?



No, ratification of UNCLOS will not help Washington and Beijing resolve their maritime disputes. Rather, resolution lies in the United States’ continued exercise of its rights in international waters, diplomatic negotiations with China and American friends and allies, and continued military supremacy.

Through military and diplomatic pressure and “lawfare” China is trying to carve out a sphere of control in most of the South China Sea and parts of the East and Yellow Seas. Consider the following incidents:

Không. Ký phê chuẩn UNCLOS sẽ không giúp Washington và Bắc Kinh giải quyết được tranh chấp trên biển. Thay vì thế, cách giải quyết nằm ở việc Mỹ tiếp tục thực thi các quyền của mình trên những vùng biển quốc tế, tiếp tục đàm phán ngoại giao với Trung Quốc, với các bạn và đồng minh của Mỹ, và tiếp tục duy trì thế trên cơ về quân sự.

Thông qua áp lực quân sự, ngoại giao và “luật pháp”, Trung Quốc đang cố tạo ra một vùng ảnh hưởng trên phần lớn Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải. Hãy xem các vụ việc sau:

- In 2001, a Chinese J-8 fighter collided with an unarmed U.S. EP-3 surveillance aircraft over international waters in China’s exclusive economic zone, forcing an emergency landing on Hainan island and putting at risk the lives of American servicemen and women.

– Năm 2001, một máy bay phản lực J-8 của Trung Quốc va chạm với một máy bay trinh sát không vũ trang của Hoa Kỳ, EP-3, trên vùng biển quốc tế thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, buộc máy bay Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp trên đảo Hải Nam, đe dọa mạng sống của phi công Mỹ (cả nam và nữ).

- In 2009, China harassed unarmed U.S. naval vessels in the Yellow Sea and South China Sea, including the USNS Impeccable.

– Năm 2009, Trung Quốc quấy rối một số tàu hải quân không vũ trang của Mỹ trên Hoàng Hải và Biển Đông, trong đó có tàu USNS Impeccable.

- Last year, China unilaterally declared a fishing ban in parts of the South China Sea that China doesn’t own.

– Năm ngoái, Trung Quốc đơn phương ban lệnh cấm đánh bắt cá tại nhiều vùng trong khu vực Biển Đông, mà không thuộc chủ quyền Trung Quốc.

- Also in 2011, a Chinese fishing boat cut the survey cables of a PetroVietnam ship in an area more than 1,000 kilometers (622 miles) from China’s Hainan island.

– Cũng trong năm 2011, một tàu đánh cá Trung Quốc cắt cáp của tàu Petro Vietnam tại một khu vực cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 1.000 km (622 dặm).

- Beijing has also been asserting its territorial claims close to the Philippines’ Palawan Province, which lies near the Spratlys, a potentially oil- and gas-rich chain of islands, disputed by China, the Philippines, Taiwan, Vietnam, Malaysia and Brunei. Last March, two Chinese vessels tried to drive away a Philippine oil exploration ship from Reed Bank, another area west of Palawan. Two Philippine air force planes were deployed, but the Chinese vessels had disappeared by the time they reached the submerged bank.

– Bắc Kinh cũng đã và đang khẳng định yêu sách chủ quyền trên các vùng biển gần tỉnh Palawan của Philippines, tỉnh này nằm gần Trường Sa – một chuỗi đảo rất có tiềm năng về dầu khí, đang là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Brunei. Tháng ba năm ngoái, hai tàu Trung Quốc tìm cách đuổi một tàu thăm dò dầu khí của Philippines khỏi Bãi Cỏ Rong – một khu vực khác, nằm ở phía tây Palawan. Hai máy bay của không quân Philippines được triển khai tới, nhưng tàu Trung Quốc đã biến mất trước khi máy bay đến được bãi ngầm.

This inventory of incidents reveals that China is relying on military pressure to accomplish its two primary goals in its peripheral waters: halting U.S. military activities that centuries of custom have deemed lawful and realizing its expansionist territorial claims.

Bản tóm tắt các sự kiện trên đây cho thấy Trung Quốc lấy sức ép quân sự để đạt hai mục tiêu chính trên các vùng biển ngoại vi của họ: ngăn chặn những hoạt động quân sự của Mỹ – mà thông lệ hàng thế kỷ đã coi đó là hợp pháp – và thực hiện các yêu sách bành trướng về chủ quyền của họ.

Though China has ratified UNCLOS, it has proceeded to undermine it. For example, its statements that the United States is acting illegally in conducting surveillance in China’s exclusive economic zone (EEZ) are inconsistent with the custom that maritime nations enjoy high seas rights in all but a coastal state’s territorial waters (which extend only 12 nautical miles from a country’s shores). The EEZ is a creation of UNCLOS meant to protect coastal states’ rights to economic resources in an area up to 200 nautical miles from the coast. U.S. military activities in China’s EEZ, such as naval exercises or surveillance flights, are not prejudicial to China’s exploitation of resources there. In other words, they are lawful.

Mặc dù Trung Quốc đã phê chuẩn UNCLOS, nhưng họ vẫn tiếp tục phá hoại công ước. Chẳng hạn, họ tuyên bố Mỹ đang hành động bất hợp pháp khi tiến hành hải giám trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc. Tuyên bố này không phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó, các quốc gia có biển được hưởng các quyền trên biển khơi (high seas right) ở tất cả các vùng biển, chỉ trừ vùng nước thuộc chủ quyền của một nước ven biển (mà chỉ mở rộng 12 hải lý, tính từ bờ biển của nước đó). EEZ là sáng tạo của UNCLOS nhằm bảo vệ quyền của các nước ven biển – quyền khai thác các nguồn lực kinh tế trong một khu vực rộng tới 200 hải lý tính từ bờ biển. Hoạt động quân sự của Mỹ trong EEZ của Trung Quốc, như là tập trận hải quân hay bay trinh sát, không làm tổn hại gì đến việc Trung Quốc khai thác nguồn lực ở đó. Nói cách khác, những hoạt động đó là hợp pháp.

The U.S. relies on customary international law as well as those UNCLOS provisions that are consistent with customary international law to guide its military activities. Specifically, Article 58 of UNCLOS, provides that in the EEZ “all states, whether coastal or land-locked, enjoy, subject to the relevant provisions of this convention, the freedoms…of navigation and overflight…and other internationally lawful uses of the sea related to these freedoms, such as those associated with the operation of ships [and] aircraft.”

Mỹ sử dụng luật lệ quốc tế cũng như vào các điều khoản của UNCLOS phù hợp với luật và thông lệ quốc tế để điều chỉnh hoạt động quân sự của họ. Cụ thể, Điều 58 UNCLOS, theo đó, trong EEZ, “tất cả các quốc gia, cho dù là ven biển hay trong lục địa, đều được hưởng, theo những điều khoản tương ứng trong công ước này, quyền tự do… về hàng hải và bay qua… và quyền sử dụng biển – một cách hợp pháp theo luật quốc tế – liên quan đến những quyền tự do đó, như là các quyền liên quan đến hoạt động của tàu biển [và] máy bay”.

China alleges that these activities constitute a use of force and that the U.S. is “preparing the battlefield” by conducting such activity. The Chinese claim that these actions undermine China’s security. This is a mischievous interpretation of UNCLOS and one that’s indicative of a larger challenge: this kind of clever lawyering pokes holes in UNCLOS. In so doing, China is attempting to rewrite long-established and accepted international law.

Trung Quốc buộc tội Mỹ, rằng các hoạt động của Mỹ cấu thành việc sử dụng vũ lực và Mỹ “đang chuẩn bị chiến trường” khi hành động như vậy. Trung Quốc cho rằng các hoạt động ấy phá hoại an ninh của Trung Quốc. Đây là một sự diễn giải có tính xuyên tạc UNCLOS, và hàm chứa một thách thức lớn hơn: kiểu giải thích luật khôn ranh này chọc thủng UNCLOS. Làm như thế, Trung Quốc đã nỗ lực viết lại luật pháp quốc tế – vốn được thiết lập và công nhận từ lâu.

Such lawyering was on display in the dispute over the USNS Bowditch surveying operations in the Yellow Sea in the early 2000s. The unarmed Bowditch was conducting hydrographic surveys in the Yellow Sea, including acoustic data tests that are useful to detect submarines. The U.S. has argued that naval hydrographic and oceanographic surveys shouldn’t be considered “marine scientific research” (as such surveys are not for scientific purposes), an activity that coastal states are allowed to regulate in their EEZs under UNCLOS.

Kiểu giải thích luật đó đã được (Trung Quốc) thể hiện trong tranh chấp xoay quanh chuyện tàu USNS Bowditch tiến hành hoạt động khảo sát trên Hoàng Hải vào đầu những năm 2000. Tàu Bowditch không có vũ trang, đang khảo sát thủy văn trên Hoàng Hải, thực hiện cả những khảo sát âm học cần thiết cho việc phát hiện tàu ngầm. Mỹ lập luận rằng không thể coi khảo sát thủy văn và hải dương học là “nghiên cứu khoa học trên biển” (bởi lẽ các khảo sát đó không nhằm mục đích khoa học), là hoạt động mà theo UNCLOS, các quốc gia ven biển được phép ra quy định và điều chỉnh trong phạm vi EEZ của họ.

China doesn’t agree, and has won some international sympathy for its position. Now some in and out of China claim that because information collected by a foreign military may have economic and scientific value, UNCLOS permits coastal states to restrict such military surveys in their EEZs.

Trung Quốc không tán thành, và họ cũng đã giành được sự ủng hộ của quốc tế cho lập trường của mình. Hiện nay một số ý kiến trong và ngoài Trung Quốc cho rằng, do thông tin thu thập bởi quân đội nước ngoài có thể có giá trị kinh tế và khoa học, cho nên UNCLOS nên cho phép các quốc gia ven biển hạn chế các hoạt động khảo sát quân sự trong phạm vi EEZ của họ.

The Chinese justified their claim that the Bowditch was conducting what UNCLOS calls “marine scientific research” in its EEZ by referring to UNCLOS Article 258. This provision states: “the deployment and use of any type of scientific research installations or equipment in any area of the marine environment shall be subject to the same conditions as prescribed in this Convention for the conduct of marine scientific research in any such area.” The Bowditch deployed scientific equipment, the Chinese argue, and thus needed Chinese permission before it began its work.

Giải thích cho lập luận của mình, Trung Quốc bảo rằng Bowditch đang tiến hành cái mà UNCLOS gọi là “nghiên cứu khoa học trên biển” trong vùng EEZ của Trung Quốc. Họ tham chiếu tới Điều 258 của UNCLOS. Điều khoản này nêu: “Việc triển khai và sử dụng bất kỳ thiết bị nghiên cứu khoa học nào trong bất kỳ khu vực nào của môi trường biển đều phải tuân theo những điều kiện được quy định trong Công ước này về việc tiến hành nghiên cứu khoa học trên biển tại bất kỳ khu vực biển nào như thế”. Trung Quốc lý luận rằng tàu Bowditch đã đưa thiết bị khoa học đến hiện trường, và do đó, cần phải được Trung Quốc cho phép thì mới được bắt đầu công việc.

Traditionally the freedom of the high seas has included the use of the seas for military maneuvers or exercises, including the use of weapons. This freedom – including the freedom to operate in EEZs – was supposed to be incorporated into UNCLOS[AJH1] . But the language in the provisions pertaining to conduct of military activity in EEZs leaves far too much wriggle room for mischief.

Theo truyền thống, quyền tự do hàng hải trên biển khơi bao gồm việc sử dụng biển cho các hoạt động thao diễn, tập trận quân sự, kể cả có sử dụng vũ khí. Quyền tự do này – trong đó có cả tự do hoạt động trong phạm vi EEZ – đã được đưa vào UNCLOS [AJH1]. Nhưng ngôn ngữ trong các điều khoản liên quan đến việc tiến hành các hoạt động quân sự trong EEZ thì lại tạo ra quá nhiều khoảng trống để tranh cãi và chơi khôn lỏi.

For example, China says that foreign warships must obtain its approval before they can do anything but pass through its exclusive economic zone. A Chinese Defense Ministry spokesman, Senior Col. Geng Yansheng, stated in 2010: “We will, in accordance with the demands of international law, respect the freedom of passage of ships or aircraft from relevant countries which are in compliance with international law” (emphasis added). Chinese officials are trying to limit U.S. naval activity in China’s EEZ’s to “passage” from one destination to another.

Chẳng hạn, Trung Quốc bảo rằng chiến hạm của nước ngoài phải được họ cho phép thì mới được làm gì đó – bất kỳ điều gì trừ việc đi qua vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Năm 2010, phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Đại hiệu (Senior Colonel, tương tự như đại tá, tiếng Trung gọi là đại hiệu – ND) Cảnh Nhạn Sinh (Geng Yansheng), tuyên bố: “Theo yêu cầu của luật pháp quốc tế, chúng tôi sẽ tôn trọng quyền qua lại của tàu bè hoặc máy bay từ những quốc gia phù hợp, những quốc gia mà cũng tuân thủ luật pháp quốc tế” (tác giả nhấn mạnh). Quan chức Trung Quốc đang cố giới hạn hoạt động hải quân của Mỹ trong EEZ của Trung Quốc chỉ còn lại ở việc “đi lại” từ điểm này đến điểm kia.

This means that the Chinese are claiming that heretofore lawful activities(task-force maneuvering, flight operations, military exercises, weapons testing and firing, surveillance and reconnaissance operations and other intelligence-gathering activities, and military marine data collection or military surveys)conducted in EEZs should now be treated as prejudicial to Chinese rights, including China’s duty to protect the marine environment. If these interpretations gain currency, UNCLOS will prove prejudicial to the rights of maritime nations such as the United States. Law should provide clarity, but UNCLOS is unclear as to what military activities are allowed in a country’s EEZ. China is cynically exploiting the law’s vagaries to further its political goals and its desire to project power.

Điều đó có nghĩa là Trung Quốc đang ra yêu sách rằng các hoạt động cho đến nay là hợp pháp (diễn tập của lực lượng đặc nhiệm, bay, tập trận quân sự, thử và sử dụng vũ khí, trinh sát và do thám cùng các hoạt động thu thập thông tin tình báo khác, thu thập dữ liệu hàng hải quân sự hoặc khảo sát quân sự) tiến hành trong EEZ thì bây giờ phải được coi là có gây thiệt hại cho quyền của Trung Quốc, kể cả trách nhiệm bảo vệ môi trường biển của Trung Quốc nữa. Nếu những diễn giải như thế này mà được lưu hành thì chứng tỏ UNCLOS sẽ gây hại đến quyền của những quốc gia có biển như Mỹ. Luật là phải rõ ràng, nhưng UNCLOS lại không rõ ràng khi quy định hoạt động quân sự nào thì là được phép, trong phạm vi EEZ của một quốc gia. Một cách bất cần đạo lý, Trung Quốc đang lợi dụng tính thay đổi của luật pháp để xúc tiến thực hiện những mục tiêu chính trị và khao khát quyền lực của họ.

Herein lies a major danger in U.S. ratification of UNCLOS. In adopting, promoting, and acting on new interpretations of international law, China is attempting to upset the status quo and establish new norms of maritime behavior. By signing up to UNCLOS, the United States might unintentionally signal approval of these errant interpretations.

Ở đây tồn tại một mối nguy lớn nếu Mỹ phê chuẩn UNCLOS. Bằng việc áp dụng, xúc tiến, và hành động theo cách diễn giải mới về luật quốc tế, Trung Quốc đang cố gắng làm đảo lộn hiện trạng và tạo ra những chuẩn mới về ứng xử trên biển. Bằng việc ký UNCLOS, Mỹ có thể – một cách không cố ý – ký phê chuẩn cách diễn giải luật sai lệch đó.

In 2009, China asserted “indisputable sovereignty over the islands of the South China Sea and the adjacent waters” and claimed to “enjoy sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof.” In support of these claims, Beijing submitted to the U.N. Commission on the Law of the Sea a map featuring the now-famous U-shaped line, which encompasses almost the entirety of the South China Sea and skirts the coasts of the Philippines, Malaysia, Brunei, and Vietnam.

Vào năm 2009, Trung Quốc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo trên Biển Đông và vùng nước lân cận” và đòi “hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán tại các vùng biển tương ứng, cũng như tại các thềm lục địa, đáy biển và tầng đất cái kèm theo”. Để củng cố cho những yêu sách này, Bắc Kinh đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Biển một bản đồ, trong đó có đường chữ U – cái mà bây giờ đã trở thành nổi tiếng – bao lấy gần như toàn bộ Biển Đông, bao cả vùng bờ biển của các nước Philippines, Malaysia, Brunei, và Việt Nam.

UNCLOS makes a distinction between islands and other features, such as rocks. An island is defined as “a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide.” Islands are entitled to a 200 nautical mile EEZ. Other features found at sea – including rocks, reefs, islets, and sandbanks – were not given this entitlement: “rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf.” China appears to be claiming a series of “rocks” and “reefs” – calling them islands – so that it can also claim the EEZ’s around them. Call it creeping territorial expansionism. If it works, China will have established the legal basis for claiming most of the South China Sea as its territory.

UNCLOS phân biệt giữa đảo và các cấu trúc khác, chẳng hạn đá. Đảo được định nghĩa là “một khu đất hình thành tự nhiên, có nước bao quanh, và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên”. Đảo được hưởng quy chế EEZ 200 hải lý. Các cấu trúc khác trên biển – như đá, vỉa san hô, đảo nhỏ, và bãi cát – không được hưởng quy chế này: “Đá, không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa”. Trung Quốc có vẻ như đang ra yêu sách đòi một loạt “đá” và “vỉa san hô” – gọi chúng là đảo – để họ cũng có thể đòi hưởng EEZ bao quanh đó. Hãy gọi đây là chủ nghĩa bành trướng dần dần về chủ quyền. Nếu việc này có kết quả, nghĩa là Trung Quốc đã thiết lập được cơ sở pháp lý cho việc đòi sở hữu phần lớn Biển Đông.

China has compelling reasons to claim control over this wide expanse of waters. The South China Sea is thought to be resource-rich. The numbers vary, but high-end Chinese estimates suggest that the sea contains over 200 billion barrels of oil and 2 quadrillion cubic feet of natural gas. The sea is home to rich fishing grounds as well. If Beijing were to succeed in establishing its claims to features throughout the South China Sea, the resulting EEZ would allow China – and China alone – to harvest those resources.

Trung Quốc có nhiều lý do hấp dẫn để đòi kiểm soát cả vùng biển rộng lớn này. Biển Đông được cho là giàu tài nguyên. Số liệu khác nhau nhiều, nhưng các dự báo lạc quan nhất của Trung Quốc cho rằng Biển Đông chứa hơn 200 tỷ thùng dầu và 2 nghìn triệu triệu feet khối khí tự nhiên. Biển này cũng là bãi cá rất giàu. Nếu Bắc Kinh thành công trong việc xác lập chủ quyền của họ đối với các cấu trúc địa lý trên Biển Đông, thì EEZ mà họ có được sẽ cho phép Trung Quốc – và chỉ Trung Quốc thôi – hưởng các nguồn tài nguyên đó.

China likewise has security interests in its extensive South China Sea claims. As noted above, Beijing has reinterpreted international law to assert that it can deny access to its EEZ by foreign military vessels. Successful realization of China’s claims is the first step toward keeping foreign military assets out of those waters. There are three broad reasons why it wishes to do so.

Cũng vậy, Trung Quốc có lợi ích về an ninh trong yêu sách chủ quyền mở rộng trên Biển Đông của họ. Như đã nêu trên, Bắc Kinh đã diễn giải lại luật quốc tế nhằm khẳng định rằng họ có quyền từ chối cho tàu quân sự nước ngoài đi vào EEZ của họ. Thực hiện thành công các yêu sách của mình là bước đầu tiên để Trung Quốc tống khứ tài sản quân sự của nước ngoài ra khỏi những vùng biển đó. Có ba lý do lớn giải thích vì sao Trung Quốc muốn làm thế.

Firstly, sovereignty over the South China Sea would grant China significant, additional strategic depth. At present, from China’s point of view, its coastal cities – key centers of economic activity – are vulnerable to attack from the sea. Keeping foreign warships and military aircraft distant from China’s shores would make it easier for the PLA to defend China’s southern coastline. It would also enable China to more easily project power close to its neighbors’ shores and thus threaten U.S. allies like the Philippines and friends such as Singapore and Indonesia.

Thứ nhất là, chủ quyền trên Biển Đông sẽ tạo cho Trung Quốc thêm một chiều sâu chiến lược rất quan trọng. Hiện tại, từ quan điểm của Trung Quốc, các thành phố duyên hải của họ – các trung tâm kinh tế chính của đất nước – rất dễ bị tấn công từ ngoài biển. Kìm chân các tàu chiến và máy bay quân sự nước ngoài ở cách xa bờ biển Trung Quốc thì sẽ giúp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) dễ dàng bảo vệ bờ biển phía nam hơn. Điều này cũng sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng thể hiện quyền lực ở những nơi gần bờ biển các nước láng giềng, và qua đó đe dọa các đồng minh của Mỹ như là Philippines và các nước bạn như Singapore và Indonesia.

Second, China is highly dependent on resource imports from the Middle East. In 2010, 47 percent of China’s oil imports came from the Middle East; 30 percent came from Africa[AJH2] . These imports pass through chokepoints that China doesn’t control, notably the Malacca Strait, but also the Lombok and Sunda Straits in Indonesian waters. Chinese defense officials have referred to this situation as the “Malacca dilemma.”

Thứ hai là, Trung Quốc phụ thuộc rất mạnh vào các tài nguyên nhập khẩu từ Trung Đông. Năm 2010, 47% lượng dầu nhập khẩu vào Trung Quốc là đi từ Trung Đông; 30% từ châu Phi [AJH2]. Luồng nhập khẩu này đi qua các trạm trung chuyển mà Trung Quốc không kiểm soát được, trong đó đáng chú ý là Eo biển Malacca, và còn cả Eo Lombok, Sunda thuộc vùng biển của Indonesia. Giới chức quốc phòng Trung Quốc gọi tình trạng này là “thế lưỡng nan Malacca”.

Chinese sovereignty over the South China Sea would allow it to more easily project power into those straits and, on the flip side, make it more difficult for the United States to do so. This would make it more difficult for the United States to conduct operations in these vital waters against China, while making it easier for China to operate against the United States – and our allies Japan, South Korea, and Taiwan. It would also enable the Chinese navy to more easily project power into the Indian Ocean, where American and Indian vessels have long operated unimpeded.

Chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông sẽ cho phép họ dễ dàng thể hiện quyền lực hơn ở những eo biển như vậy, và, mặt khác, khiến cho Mỹ khó làm như thế hơn. Điều ấy sẽ làm Hoa Kỳ gặp khó khăn hơn trong hoạt động chống lại Trung Quốc ở những vùng biển có tính chất quan trọng sống còn, mà lại giúp Trung Quốc dễ hoạt động chống lại Hoa Kỳ hơn – cũng như chống các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Ngoài ra, còn giúp cho hải quân Trung Quốc có thể thể hiện sức mạnh trên Ấn Độ Dương, nơi tàu bè Mỹ và Ấn Độ từ lâu vốn đã hoạt động thoải mái, không bị cản trở gì.

Third, Chinese control over the South China Sea would make it easier for the PLA Navy to project power into the Pacific Ocean. Such control would, in particular, make it more difficult for the United States to monitor Chinese submarines deploying from their underground base at Hainan Island. A Chinese Navy that can more easily sail into the Pacific is one that can more easily threaten U.S. assets and U.S. territories in the region.

Thứ ba là, kiểm soát được Biển Đông sẽ giúp cho Hải quân của PLA thể hiện quyền lực đối với toàn Thái Bình Dương. Đặc biệt, sự kiểm soát đó của Trung Quốc sẽ khiến Mỹ khó mà giám sát được những tàu ngầm Trung Quốc triển khai từ căn cứ ngầm dưới biển ở đảo Hải Nam. Hải quân Trung Quốc, một khí có thể dễ dàng tiến vào Thái Bình Dương, thì sẽ dễ dàng đe dọa tài sản của Mỹ, chủ quyền của Mỹ, trong khu vực.

The United States clearly has an interest in seeing China fail to make its South China claims a reality – even if it somehow did so without resorting to force. The question is, how does the United States succeed?

Rõ ràng là Hoa Kỳ sẽ có lợi nếu Trung Quốc không hiện thực hóa được các yêu sách của họ trên Biển Đông – ngay cả dẫu rằng Trung Quốc không sử dụng vũ lực để làm việc đó. Vấn đề là, Mỹ sẽ thành công đến đâu?

Proponents of UNCLOS ratification claim that the United States can’t counter China’s claims without ratifying UNCLOS itself. Yet the United States already acts in accordance with international law and custom, whereas China, which has ratified UNCLOS, uses UNCLOS to flaunt the law.

Những người ủng hộ việc phê chuẩn UNCLOS nói rằng Mỹ không thể đối đầu với các yêu sách của Trung Quốc nếu bản thân họ không phê chuẩn UNCLOS. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã hành động theo luật pháp và thông lệ quốc tế rồi, trong khi đó, Trung Quốc – đã phê chuẩn UNCLOS – thì lại sử dụng UNCLOS để phô diễn luật


(nguyên văn: flaunt the law, nghĩa là biểu diễn cái không có thực chất, và còn một nghĩa hiếm hơn là coi thường, xem thường luật – ND).

By twisting the UNCLOS into pretzels, China is changing the rules of the game. The liberal order made rules to accommodate the rights and interests of those who decided to participate in it. It turns out China doesn’t much like those rules and is attempting to overturn them – especially those rules that protect freedom of navigation and those that make it difficult for China to pursue its territorial ambitions in Asia. Ratifying UNCLOS isn’t an effective way to combat that effort. These disputes are about power politics and neither China nor the United States will allow them to be settled in court – UNCLOS approved or otherwise.

Bằng việc bóp méo UNCLOS, Trung Quốc đang thay đổi luật chơi. Trật tự tự do giúp cho luật lệ thỏa mãn được các quyền và lợi ích của những người muốn tham gia trật tự đó. Nhưng hóa ra Trung Quốc không thích các luật lệ ấy lắm và đang nỗ lực lật đổ chúng – đặc biệt những luật nào bảo vệ quyền tự do hàng hải và khiến cho Trung Quốc khó lòng theo đuổi tham vọng chủ quyền của họ ở châu Á. Phê chuẩn UNCLOS không phải là cách hiệu quả để chống lại những âm mưu đó của Trung Quốc. Các cuộc tranh cãi giờ đây đang là về chính trị, quyền lực, và cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều không muốn giải quyết tranh chấp ở tòa án – UNCLOS được phê chuẩn hoặc là không.

Rather, the United States must continue doing what it has always done. It should continue to operate naval vessels in international waters – including in other countries’ EEZs – where and when it wants to do so. Operations should run the gamut of peaceful activities – surveillance activities, exercises, and so on.

Thay vì phê chuẩn UNCLOS, Mỹ cần phải duy trì những gì họ đã luôn làm. Họ nên tiếp tục cho tàu hải quân hoạt động trên các vùng biển quốc tế – kể cả trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác – vào thời điểm và địa điểm mà họ muốn. Hoạt động nên bao gồm tất cả những hành động nào có tính chất ôn hòa, hòa bình – từ khảo sát đến tập trận, v.v.

And Washington must clearly state its intention to continue abiding by centuries-old customary international law pertaining to freedom of the seas including provisions of UNCLOS that are consistent with those practices. In interactions with Chinese counterparts, American diplomats should repeatedly and consistently restate the American position – there should be no question as to where the United States stands.

Và Washington phải tuyên bố rõ ý định của họ, là tiếp tục tuân thủ những luật pháp và thông lệ quốc tế đã tồn tại hàng thế kỷ qua, liên quan đến quyền tự do trên biển, trong đó có cả những điều khoản của UNCLOS mà phù hợp với những hoạt động của họ. Trong mối bang giao với đối tác Trung Quốc, các nhà ngoại giao Mỹ cần tái khẳng định lập trường của Mỹ – một cách liên tục và nhất quán – không để ai thắc mắc về lập trường của phía Mỹ.

As it does so, the U.S. should engage China in diplomacy, pointing out – among other matters – that China itself conducts military activity in other countries’ EEZs. We need rules of the road with China to manage competition, not wishful thinking about what U.N. bodies can resolve.

Khi làm như thế, Mỹ sẽ lôi kéo Trung Quốc vào ngoại giao, và chỉ ra cho Trung Quốc thấy – giữa muôn ngàn vấn đề – rằng chính Trung Quốc đang tiến hành hoạt động quân sự trong EEZ của các nước khác. Chúng ta cần có với Trung Quốc những luật giao thông để kiểm soát việc tranh chấp, chứ không phải ngồi băn khoăn về việc các cơ quan LHQ có thể giải quyết được những gì.

It has always been practice that has determined international law of the oceans. China understands this, and is working to shift law and custom through its own practices. Only by continuing to act on the high seas as it always has can the United States hope to maintain a system of international rules that serves its own interests. Ratifying UNCLOS could very well have the opposite effect.

Xưa nay, luôn là thực tiễn quyết định luật pháp quốc tế trên biển. Trung Quốc hiểu điều này, và đang cố sức thay đổi luật lệ thông qua hành động thực tiễn của họ. Chỉ có bằng cách tiếp tục hành động trên biển cả – như đã luôn hành động – thì Mỹ mới có thể hy vọng duy trì một hệ thống luật pháp quốc tế phục vụ lợi ích của chính mình. Phê chuẩn UNCLOS rất có thể sẽ mang đến kết quả ngược lại.

Dan Blumenthal director of Asian Studies at the American Enterprise Institute. Michael Mazza is a Senior Research Associate in Foreign & Defense Policy Studies at AEI.

Dan Blumenthal là giám đốc bộ phận Nghiên cứu châu Á, Viện Doanh nghiệp Mỹ. Michael Mazza là nghiên cứu viên cao cấp ở khoa Nghiên cứu Chính sách Quốc phòng và Đối ngoại của Viện trên.


Translated by Thủy Trúc

http://the-diplomat.com/flashpoints-blog/2012/02/17/why-to-forget-unclos/