MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Tuesday, January 3, 2012

Mumu -Turgenev - МуМу. ТУРГЕНЕВ И.


"Mumu" is set in Moscow in the days of serfdom. Gerasim is a deaf and dumb serf of enormous stature and strength, whose owner, an old and tyrannical feudal landowner, has had him brought to the city from the countryside. Unable to express himself in words, Gerasim clumsily woos a peasant girl called Tatyana, also owned by the landowner. On a whim, however, the landowner, a sour and embittered widow who is never named, decides to marry Tatyana off to another of her serfs, a drunken cobbler called Kapiton, thus dashing Gerasim’s hopes.

Truyện "Mumu" lấy bối cảnh ở Mạc Tư Khoa vào thời nông nô. Gerasim là nông nô có vóc người và sức mạnh phi thường nhưng bị câm và điếc, được chủ mình, một địa chủ già và khắc nghiệt, đưa từ quê ra thành phố. Vì không nói ra lời được Gerasim đành vụng về tán tỉnh một thiếu nữ nông dân tên Tatyana, người cũng thuộc quyền sở hữu của cùng điền chủ. Song, địa chủ, một người đàn bà góa tính tình chua ngoa và cay nghiệt, tự nhiên vô cớ, quyết định gả quách Tatyana cho một nông nô khác của bà, một người thợ vá giày hay say sưa tên Kapiton, qua đấy làm vỡ tan bao hy vọng của Gerasim.

Not long after, Gerasim finds a young puppy drowning in a muddy creek. He rescues her and looks after her until she is a healthy, full-grown dog. He calls her Mumu, the nearest he can come to articulating a word, and everyone in the landowner’s Moscow establishment soon knows the dog by that name. Gerasim grows passionately fond of the dog, his only true friend, whom he allows to live with him in his little room, and who follows him everywhere. The dog adores Gerasim.

Không bao lâu sau, Gerasim thấy một con chó con suýt bị chết đắm ở một dòng suối đầy bùn. Hắn cứu con chó và đem về nuôi nấng săn sóc cho đến khi nó khôn lớn và khoẻ mạnh. Hắn gọi nó là Mumu, đó là tiếng gần giống tiếng người nhất mà hắn có thể bật ra được, và mọi người làm công cho địa chủ ở Mạc Tư Khoa liền gọi con chó theo tên ấy. Gerasim càng ngày càng rất yêu thích con chó, người bạn chân thành duy nhất của mình, và hắn cho con chó sống chung với mình trong căn phòng nhỏ, và nó lẽo đẽo đi theo hắn khắp mọi nơi như hình với bóng. Con chó cũng thương hắn vô cùng.

One day the landowner sees Mumu through the window and asks for the dog to be brought to her. But Mumu is afraid of the landowner and bares her teeth to her. The landowner instantly conceives a dislike of the dog and demands that she be gotten rid of. One of the landowner’s servants takes the dog away and sells it to a stranger. Gerasim searches for Mumu frantically but fails to find her. However, Mumu finds her way back to him, to his overwhelming joy.

Ngày nọ nhìn qua cửa sổ bà địa chủ thấy Mumu liền sai người mang con chó đến. Nhưng Mumu sợ bà nên nhe răng gầm gừ. Bà bỗng chợt thấy ghét con chó bèn ra lệnh tống khứ nó đi cho khuất mắt. Một người giúp việc của bà đem con chó đi bán cho người lạ. Gerasim cuống cuồng lên tìm kiếm chó khắp nơi nhưng không thấy. Tuy nhiên, Mumu lần tìm được đường trở về lại với hắn khiến hắn vui mừng khôn xiết.

Unfortunately, Mumu barks on the following night and wakes the landowner, who believes herself to be sorely tried by this interruption of her sleep. She demands that the dog, this time, be destroyed. Her servants go to Gerasim and, by means of signs, pass on her demand. Gerasim, recognizing the inevitable, promises to destroy the dog himself.

Không may vào tối hôm sau Mumu lại cất tiếng sủa khiến bà địa chủ thức giấc. Tin rằng mình khổ sở đau đớn do sự mất ngủ này, bà ra lệnh lần này phải giết con chó. Những người giúp việc cho bà đến gặp Gerasim và ra dấu để truyền đạt mệnh lệnh của chủ. Gerasim, nhận ra kết cục tất yếu, hứa sẽ tự tay mình giết chó.

There follow two passages of almost unbearable pathos. In the first, Gerasim takes Mumu to the local tavern: "In the tavern they knew Gerasim and understood his sign language. He ordered cabbage soup and meat and sat down with his arms on the table. Mumu stood beside his chair, looking at him calmly with her intelligent eyes. Her coat literally shone: clearly she had only recently been combed. They brought Gerasim his cabbage soup. He broke some bread into it, cut up the meat into small pieces and set the bowl down on the floor. Mumu started eating with her customary delicacy, her muzzle hardly touching the food. Gerasim studied her for a long time; two heavy tears rolled suddenly out of his eyes: one fell on the dog’s forehead, the other into the soup. He covered his face with his hand. Mumu ate half the bowl and walked away licking herself. Gerasim stood up, paid for the soup and left."

Sau đây là hai trích đoạn cảm động đến tưởng như đau xé lòng. Ở trích đoạn đầu, Gerasim đưa Mumu đến quán rượu trong vùng: "Trong quán rượu họ biết Gerasim và hiểu được ngôn ngữ ra dấu của hắn. Hắn gọi xúp cải bắp và thịt rồi ngồi đặt hai tay trên bàn. Mumu đứng kế bên cạnh ghế, đưa đôi mắt tinh anh vô tư nhìn hắn. Bộ lông của nó sáng ửng lên: rõ ràng bộ lông nó mới vừa được chải chuốt mượt mà. Họ mang ra cho Gerasim món xúp cải bắp. Hắn bẻ vụn bánh mỳ cho vào xúp, cắt thịt ra từng miếng nhỏ rồi đặt bát xúp xuống dưới nền nhà. Mumu bắt đầu ăn món ăn ngon thường lệ, cái mõm của nó tưởng chừng như không chạm đến thức ăn. Gerasim nhìn chăm chú nó thật lâu; bất ngờ từ khoé mắt hắn ứa lăn ra hai giọt nước mắt nằng nặng: một giọt rơi trên trán con chó, giọt kia rơi vào súp. Hắn lấy hai tay che mặt. Mumu ăn hết nửa bát xúp rồi vừa bỏ đi vừa liếm lông. Gerasim đứng lên, trả tiền bát xúp rồi rời quán."

He takes Mumu down to the river, picking up a couple of bricks en route. At the riverbank, he gets into a boat with Mumu and rows out some distance.

Hắn đưa Mumu đi xuôi về hướng sông, dọc đường nhặt vài cục gạch. Đến bờ sông, hắn xuống thuyền với Mumu rồi chèo ra thật xa.

"Finally Gerasim sat up straight, hurriedly, with a look of sickly bitterness on his face, tied the bricks together with string, made a noose, placed it round Mumu’s neck, lifted her over the river, looked at her for the last time. . . . Trustingly and without fear she looked at him and slightly wagged her tail. He turned away, grimaced and let go. . . . Gerasim heard nothing, neither the whining of the falling Mumu, nor the heavy splash in the water; for him the noisiest day was still and soundless, as not even the quietest night can be soundless for us; and when he again opened his eyes the little waves were as ever hurrying along the river’s surface, as if racing after each other, as ever they rippled against the sides of the boat, and only far behind one or two broad rings rippled towards the bank."

"Cuối cùng vẻ mặt buồn thảm cay đắng, Gerashim ngồi thẳng lên,vội vã lấy dây buộc những viên gạch lại với nhau thành cái thòng lọng, tròng nó quanh cổ của Mumu, bế con chó lên trên mặt nước, nhìn nó lần cuối cùng ...Đầy tin tưởng và chẳng sợ hãi nó nhìn hắn và vẫy nhẹ đuôi. Hắn nhăn mặt quay đi rồi buông ra ...Gerashim không nghe gì, không nghe tiếng rên rỉ của Mumu khi rơi xuống, hay tiếng rơi tõm nặng nề trên mặt nước; đối với hắn ngày ồn ào nhất vẫn là ngày yên ắng chẳng mảy may âm thanh gì, còn hơn cả đêm yên tĩnh nhất có thể không có tiếng động nào đối với ta; rồi khi hắn mở mắt ra lại những làn sóng nhỏ vẫn luôn luôn chảy vội vã trên mặt nước, như thể đuổi bắt nhau, như thể chúng vẫn luôn luôn vỗ nhẹ vào mạn thuyền, và xa tít đằng sau một hay hai vòng tròn lớn đang lan toả vào bờ."

We learn that after Mumu’s death Gerasim runs away back to his village, where he works like a slave in the fields: but never again does he form a close attachment to man or dog.

Chúng ta biết sau khi Mumu chết Gerashim bỏ trốn về lại làng cũ, nơi hắn làm việc quần quật ngoài đồng như một nô lệ: nhưng từ đấy hắn không bao giờ gắn bó thân thiết với người hay chó nữa.

When the cultivated, aristocratic, revolutionary Russian exile Alexander Herzen read the story, he trembled with rage. Thomas Carlyle said it was the most emotionally affecting story he had ever read. John Galsworthy said of it that "no more stirring protest against tyrannical cruelty was ever penned." And one of Turgenev’s relatives, to whom the author read "Mumu," wrote afterward, "What a humane and good man one must be to understand and give expression to the experience and torments of another’s heart in that way!"

Khi nhà cách mạng Nga lưu vong Alexander Herzen, vốn là người uyên bác thuộc dòng dõi quý tộc, đọc truyện này, ông giận run lên. Thomas Carlyle khẳng định đây là truyện xúc động nhất ông đã từng đọc. Còn John Galsworthy khi bàn về truyện đã thốt lên "chưa từng có ai viết ra được những lời xúc động nao lòng người hơn thế để lên án sự độc ác hà khắc." Và một người bà con của Turgenev, người được tác giả đọc "Mumu" cho, sau này viết, "Phải là một người rất tốt và nhân ái lắm mới thấu hiểu và diễn đạt được cảnh ngộ và bao đau đớn ở trong lòng người khác như thế."

The story is autobiographical, and the tyrannical, captious, arbitrary, and selfish landowner is the author’s mother, Varvara Petrovna Turgeneva. Widowed early, she was an absolute monarch on her estate. Many stories have come down to us of her cruelty, though not all have been authenticated: for example, that she had two serfs sent to Siberia for having failed to make their obeisances to her as she passed—because they did not see her. And the model for Gerasim was a deaf and dumb serf belonging to Varvara Petrovna called Andrei.

Truyện có tính tự sự, và địa chủ cay nghiệt, xét nét, độc đoán, và ích kỷ ấy chính là mẹ tác giả, Varvara Petrovna Turgeneva. Chồng mất sớm, bà thành lãnh chúa tuyệt đối ở điền trang của mình. Nhiều câu chuyện về sự độc ác của bà vẫn còn lưu truyền đến chúng ta, tuy rằng không phải tất cả đều thật: chẳng hạn, bà đày hai nông nô lên Siberia chỉ vì cái tội không cúi đầu chào bà khi bà đi ngang qua - vì họ không thấy bà. Còn nhân vật Gerasim thật sự ngoài đời là một nông nô bị câm và điếc tên Andrei thuộc về Varvara Petrovna.

Clearly "Mumu" is an impassioned protest against the exercise of arbitrary power of one person over another, but it is not politically schematic. Though it is obviously directed against serfdom, the story does not suggest that cruelty is the prerogative of feudal landowners alone, and that if only serfdom were abolished, no vigilance against such cruelty would be necessary. If power is a permanent feature of human relationships—and surely only adolescents and certain kinds of intellectuals, Marx included, could imagine that it is not—then "Mumu" is a permanent call to compassion, restraint, and justice in its exercise. That is why "Mumu" does not lose its power to move 140 years after the abolition of serfdom in Russia; while it refers to a particular place at a particular time, it is also universal.

Rõ ràng "Mumu" là tiếng kêu bi thương phẫn uất chống lại sự thực thi quyền lực độc đoán giữa người với người, nhưng sự lên án ấy không nhằm mục tiêu chính trị. Dù sự lên án ấy hiển nhiên nhắm vào chế độ nông nô, nhưng truyện không ám chỉ rằng tàn nhẫn là đặc quyền chỉ riêng của những địa chủ phong kiến, và rằng giá như chế độ nông nô bị xoá bỏ đi thì ta không còn cần thiết phải cảnh giác với sự độc ác như thế. Nếu quyền lực là một đặc trưng mãi mãi hiện diện trong các mối quan hệ của con người - dẫu chắc chắn chỉ có tuổi mới lớn và những loại trí thức nào đấy, trong đó có cả Marx, mới mơ tưởng quyền lực tiêu vong - thì "Mumu" là lời kêu gọi bất tử thúc giục ta nên nhân ái, tự chủ, và công bằng khi thực thi quyền lực. Vì lẽ ấy 140 năm sau khi xoá bỏ chế độ nông nô ở Nga "Mumu" vẫn không mất đi sức mạnh làm lay động lòng người; dù truyện diễn ra ở nơi chốn cụ thể vào thời gian cụ thể, truyện cũng mang tính phổ quát.

In making his general point, Turgenev does not suggest that his characters are anything but individuals, with their own personal characteristics. He does not see them just as members of a group or class, caused by oppression to act in predetermined ways like trams along their rails: and his careful observation of even the humblest of them is the most powerful testimony possible to his belief in their humanity. Grand aristocrat that he was, and acquainted with the greatest minds of Europe, he did not disdain to take seriously the humblest peasant, who could not hear or speak. Turgenev’s oppressed peasants were fully human beings, endowed with free will and capable of moral choice.

Khi đưa ra quan điểm chung của mình, Turgenev không gợi ý rằng các nhân vật của ông hoàn toàn không phải là những cá nhân với những đặc điểm riêng của mỗi người. Ông không xem họ chỉ là những thành viên của tập thể hay giai cấp, do bị áp bức nên hành động theo những cách đã định trước tựa như những tàu điện luôn luôn chạy trên những đường ray định sẵn: cho nên nhận xét tinh tế của ông về nhân vật thậm chí hèn mọn nhất vẫn là lời chứng thực có thể hùng hồn nhất cho niềm tin của ông về nhân tính của họ. Tuy là nhà đại quý tộc, và quen biết với những tâm hồn lỗi lạc nhất của Châu Âu, ông chẳng khinh khi xem thường người nông dân hèn mọn nhất, ngưòi mà không thể nghe và nói được. Những người nông dân bị đè nén của Turgenev hoàn toàn là những con người, được tạo hoá phú cho ý chí tự do và khả năng biết chọn giữa thiện và ác.

He contrasts Gerasim’s tenderness toward Mumu with the landowner’s selfish fractiousness. "Why should that dumb man have a dog?" she asks, without the thought entering her head for a moment that "that dumb man" might have interests and feelings of his own. "Who allowed him to keep a dog out in my yard?"

Ông tương phản tình thương dịu dàng Gerasim dành cho Mumu với tính tình khó chịu ích kỷ của địa chủ. "Thằng câm đó mà cũng có chó sao?" bà hỏi, mà không chợt nghĩ thoáng qua trong đầu là biết đâu "thằng câm đó" cũng có niềm vui và yêu thương riêng của hắn. "Ai cho phép nó nuôi chó trong sân nhà tao?"

Turgenev does not suggest that the landowning widow’s quasi-absolute power is in any way enviable. Although religious in a superficial and sententious way, she regards God as a servant, not a master, and she acknowledges no limits, either God’s or the law’s, to the exercise of her will. The result for her is misery, a permanent state of irritation, dissatisfaction, and hypochondria. The satisfaction of her whims brings no pleasure, precisely because they are whims rather than true desires; and—used as she is to obedience, and deserving of it as she believes herself to be—she experiences all resistance, even that of time, as intolerable.

Turgenev không gợi ý rằng quyền lực gần như tuyệt đối của bà địa chủ goá chồng dù gì nữa cũng đáng mơ ước cho bao người. Tuy mộ đạo theo cách hời hợt và hay răn dạy kiểu kẻ cả, bà coi Chúa là kẻ hầu, chứ không phải là chủ, và bà không thừa nhận bất kỳ giới hạn nào, dù của Chúa hay của luật pháp, cho sự thực thi ý muốn của mình. Kết quả là bà đau khổ, tâm trạng lúc nào cũng khó chịu, không bao giờ được vừa lòng, và sinh ra bệnh tưởng. Những ý muốn thất thường của bà dù có được thoả mãn nhưng vẫn không mang lại cho bà niềm vui, chính xác chỉ vì đó là những ý muốn thất thường chứ không phải là những mong muốn thật sự; và -vì quen với sự phục tùng, và vì tin mình xứng đáng nhận được sự phục tùng - nên khi gặp phản kháng, dù phản kháng của thời gian, bà thấy không chịu đựng được.

For example, when Mumu is brought in, the landowner talks to her in a syrupy, ingratiating manner; but when the dog fails to respond, she changes her tune. "Take her away! A disgusting little dog!" Unlike Gerasim, who has nurtured Mumu with tender devotion, the landowner wants the dog to love her immediately, just because she is who she is.

Ví dụ, khi Mumu được đưa đến cho bà xem, bà địa chủ nói với nó bằng giọng vuốt ve, ngọt lịm nhưng khi con chó hờ hững không tỏ vẻ gì, bà liền đổi giọng ngay."Đưa nó đi cho khuất mắt! Đồ cái thứ chó nhỏ thấy phát tởm!" Khác với Gerasim chăm bẳm nuôi nấng nó với tất cả sự tận tuỵ dịu dàng, bà địa chủ lại muốn con chó phải yêu bà ngay lập tức, chỉ vì bà là người có quyền lực.

Her power renders her dishonest and incapable of introspection. When Gerasim disappears after drowning Mumu, "she flew into a temper, shed tears, ordered him to be found no matter what happened, avowed that she’d never ordered the dog to be destroyed and finally gave [her steward] a dressing down." Her denial of responsibility is breathtaking. Power corrupts, Turgenev knows; and the failure to accept any limitation to one’s thoughtless wishes makes happiness impossible. But no set of social arrangements, he understands, will eliminate these dangers altogether.

Quyền lực khiến bà trở thành dối trá và không có khả năng tự xét lại mình. Khi Gerasim biến mất sau khi dìm chết Mumu, "bà đùng đùng nổi giận, khóc lóc, ra lệnh dù xảy ra chuyện gì chăng nữa cũng phải tìm ra hắn, thề thốt rằng bà không bao giờ ra lệnh giết con chó rồi cuối cùng quay sang quở trách người quản gia." Bà chối bỏ trách nhiệm một cách trắng tợn không ngờ. Quyền lực làm cho con người đồi bại, Turgenev biết; và vì không chấp nhận bất kỳ hạn chế nào cho các ước muốn tàn nhẫn của mình nên hạnh phúc là điều không thể nào có được. Tuy nhiên, ông hiểu, không có chế độ xã hội nào sẽ loại bỏ hoàn toàn những nguy cơ này.

Nor does Turgenev believe that the people who are subject to the power of the landowner are, by virtue of their oppression, noble. They are scheming and conniving and sometimes thoughtlessly cruel, too. Their mockery of Gerasim is limited only by their fear of his physical strength, and they do not sympathize in the least with his predicament. When Gavrila, the landowner’s steward, goes at the head of a delegation of serfs to tell Gerasim that he must get rid of Mumu once and for all, he bangs on Gerasim’s door and shouts "’Open up!’ There came the sound of smothered barking; but no answer. ’I’m telling you to open up!’ he repeated.

Turgenev cũng không tin rằng, do bị áp bức, nên những người dưới quyền của địa chủ trở thành cao thượng. Họ cũng mưu mô xảo trá và đôi khi còn tàn nhẫn vô tâm. Chỉ vì họ sợ sức mạnh thể chất của Gerasim nên họ mới không dám chế giễu hắn một cách quá đáng, và họ chẳng mảy may cảm thông với tình cảnh của hắn. Khi Gavrila, người quản gia của địa chủ, dẫn đầu đám nông nô kéo đến báo cho Gerasim biết hắn phải trừ khử cho được con chó, gã vừa đập mạnh cửa phòng Gerasim vừa kêu to "Mở cửa ra!" Từ bên trong vọng ra tiếng sủa nghèn nghẹn; nhưng không có tiếng trả lời." Tao bảo mày mở cửa ra!" gã lập lại.

"’Gavrila Andreich,’ remarked Stepan from below, ’he’s deaf, he doesn’t hear.’ Everyone burst out laughing."

"'Ông Gavrila Andreich ơi,' từ phía dưới Stepan nói vọng lên, ' Nó bị điếc sao nó nghe được.' Mọi người bật cười rộ."

There is no compassion in their laughter, not then and not at any other time in the story. Cruelty is not the province only of the landowner, and the heartlessness of the serfs toward Gerasim always reminds me of a scene from my childhood, when I was about 11 years old. I had gone to line up for tickets to a soccer match—in those days, for reasons I can no longer recapture, I was enthusiastic about the game. The line was long, and there was at least a two-hour wait. An old blind man with an accordion passed along the line, singing "The Man Who Broke the Bank at Monte Carlo," while a companion held out a cap for alms. They passed some young working-class men who had a radio, and who turned the volume up to drown out his song. They laughed loudly at his bewilderment as his companion led him away, reduced to silence.

Trong tiếng cười của họ không có lòng trắc ẩn, không có ở lúc đó và cũng không có ở bất kỳ lúc nào khác trong truyện. Ác độc đâu chỉ riêng người địa chủ mới có, và cảnh những nông nô đối xử tàn nhẫn với Gerasim luôn luôn gợi tôi nhớ lại một cảnh tượng ngày thơ ấu, khi tôi độ 11 tuổi. Có lần tôi đứng xếp hàng mua vé xem bóng đá - vào thời đó, vì những lý do giờ đây tôi không còn nhớ rõ, tôi say mê môn thể thao này. Hàng thì dài, phải chờ ít nhất đến hai tiếng đồng hồ. Một ông lão mù với cây phong cầm đi dọc lần theo hàng người, vừa đi vừa hát bản nhạc" Người đàn ông đánh bài thắng lớn ở Monte Carlo", trong khi người bạn đường với ông chìa cái mũ ra để xin tiền. Họ đi ngang qua đám mấy người trẻ thuộc tầng lớp lao động, bọn này có sẵn chiếc radio liền vặn nó thật to lên để át tiếng hát của ông lão. Cả đám thấy vẻ bối rối của ông liền cười vang lên còn người bạn đường không nói gì lặng lẽ dắt tay ông bước đi.

No one intervened or told the young men how abominably they had behaved; I was too cowardly to do so. But in that little scene, I saw man’s permanent capacity for inhumanity to man, a capacity that transcends social condition, class, or education.

Không ai can thiệp hay nói cho đám thanh niên ấy biết họ đã xử xự thật tàn tệ; tôi quá hèn nhát nên chẳng dám nói năng gì. Nhưng trong cái cảnh tượng thoáng qua nhỏ nhoi ấy, tôi thấy con người luôn luôn có khả năng gây ra điều ác cho nhau, một khả năng vượt qua địa vị xã hội, giai cấp, hay giáo dục.

An incident when I practiced medicine many years later on an island in the Pacific Ocean reinforced this lesson. Next to the small psychiatric hospital, with its yard enclosed by a high wire fence, was the leper colony. Every afternoon, the lepers would gather at the fence to mock the lunatics as they were let out for their exercise, performing their strange dances and shouting at unseen persecutors.

Nhiều năm về sau khi tôi hành nghề y trên một đảo ở Thái bình Dương một chuyện xảy ra càng khẳng định sâu sắc hơn bài học này. Kế bên bệnh viện tâm thần nhỏ có hàng rào lưới cao bao quanh sân là khu dành riêng cho người cùi. Khi chiều xuống, những người cùi xúm lại bên ngoài hàng rào bệnh viện để chọc ghẹo những người điên lúc họ được đưa ra sân đi dạo, vào những lúc này những người điên thường nhảy múa kỳ lạ và la to với những kẻ khuất mặt hành hạ họ.

The victory over cruelty is never final, but, like the maintenance of freedom, requires eternal vigilance. And it requires, as in "Mumu," the exercise of the sympathetic imagination.

Chiến thắng sự tàn nhẫn không bao giờ là chiến thắng cuối cùng, nên, giống như sự giữ gìn tự do, chúng ta cần phải mãi mãi cảnh giác. Và, như trong "Mumu", chúng ta cũng cần thực thi những mơ tưởng nhân ái.



http://www.city-journal.org/html/11_3_urbanities-how_and_how_no.html

Freedom to Create Tự do để Sáng tạo


Persecuted Chinese artist Liu Xia’s photographs are being shown for the first time.

19 October 2011

Những bức ảnh của nghệ sĩ Trung Quốc bị bức hại, Lưu Hà, đang được triển lãm lần đầu tiên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2011

Freedom to Create

Tự do để Sáng tạo

Guy Sorman

Guy Sorman

Liu Xia, widely recognized and admired by the artistic and intellectual community in Beijing, may be the most important photographer in China today. She is also, however, a forbidden artist. Six of her photographs, shown below, never received the Chinese government’s permission to leave China; they had to be smuggled out. Liu Xia herself disappeared this past January, placed under house arrest somewhere in Beijing by police without so much as an indictment, much less a trial. Nobody knows where she is.

Được rất nhiều người trong cộng đồng nghệ sĩ và trí thức ở Bắc Kinh thừa nhận và khâm phục, Lưu Hà có lẽ là nghệ sĩ nhiếp ảnh quan trọng nhất ở Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên, chị cũng là một nghệ sĩ bị cấm đoán. Sáu bức ảnh của chị, chụp lại ở dưới, không bao giờ được nhận giấy phép rời Trung Quốc. Bản thân Lưu Hà bị mất tích suốt từ tháng Giêng đến nay, chị bị công an quản thúc tại gia ở đâu đó tại Bắc Kinh mà không có đến một bản cáo trạng chứ đừng nói đến một vụ xử ở toà. Chẳng ai biết hiện nay chị ở đâu.

Why such censorship for rather abstract photos? Why do they make the Chinese government so angry? Not because Liu Xia is a political activist; like most artists, she longs for freedom, but she isn’t an active dissident. No, the repression has only one explanation: Liu Xia is the wife of Liu Xiaobo, the 2010 Nobel Peace Prize recipient, jailed for 11 years for threatening the security of the state. His only crime was to have written a petition—an act permitted by the Chinese constitution, by the way—asking for dialogue with the Communist Party in order to organize a transition toward democracy. This petition, circulated on the Web, was signed by several thousand Chinese scholars and artists.

Tại sao lại kiểm duyệt đến như thế đối với những bức ảnh khá trừu tượng? Tại sao những bức ảnh này khiến chính quyền Trung Quốc rất giận dữ ? Không phải vì Lưu Hà là nhà hoạt động chính trị; giống như hầu hết các nghệ sĩ, chị ao ước tự do, nhưng chị không phải là nhà bất đồng chính kiến tích cực. Không, sự trấn áp này chỉ có một lời giải thích: Lưu Hà là vợ của Lưu Hiểu Ba. Tội duy nhất của ông là viết hiến chương - tuy một việc làm được hiến pháp Trung Quốc cho phép. Hiến chương, lưu hành trên mạng, được mấy ngàn học giả và nghệ sĩ Trung Quốc ký tên.

When Liu Xia is asked why she has shaved her hair, she answers that she will let it grow again when China is free. She wonders, too, why the West doesn’t support Chinese democrats as it once supported Russian dissidents. “Aren’t we human?” she asks. “Or are you waiting until all democrats in China are exterminated—and then you will cry for us?”

Khi Lưu Hà được hỏi tại sao chị xuống tóc, chị trả lời rằng chị sẽ để tóc trở lại khi Trung Quốc tự do. Chị cũng băn khoăn tại sao Phương tây không ủng hộ các nhà hoạt động dân chủ Trung Quốc như Phương tây đã từng ủng hộ các nhà bất đồng chính kiến Nga. " Chẳng lẽ chúng tôi không phải là con người sao?" chị hỏi."Hay các vị chờ đợi cho đến khi họ tiêu diệt sạch hết tất cả các nhà hoạt động dân chủ ở Trung Quốc - rồi lúc đấy mới khóc than cho chúng tôi?"

Today, an exhibit of Liu Xia’s photographs opens in the Boulogne Museum, near Paris. This is the first time that the photos are being shown in public; until now, they could be seen only in private, either at Liu Xia’s apartment or circulated among enlightened amateurs in Beijing. The exhibit, The Silent Strength of Liu Xia, highlights the artist’s use of black and white—an homage to the ancient art of calligraphy, the source of all the arts in China. In Liu Xia’s work, we see the strange puppets that she calls her “ugly babies” wandering like ghosts in Beijing. The idea, sadly irrelevant in the end, was that the censors wouldn’t be as alarmed at photos of dolls as at photos of real people. In the final photograph, though, we do see Liu Xiaobo.

Hôm nay, cuộc triễn lãm ảnh của Lưu Hà khai mạc tại Bảo tàng Boulogne, gần Paris. Đây là lần đầu tiên các bức ảnh được triễn lãm cho công chúng xem, từ trước đến nay, chúng chỉ được xem tại nhà riêng hoặc ở căn hộ của Lưu Hà hay lưu hành trong giới thưởng thức tài tử tại Bắc Kinh. Cuộc triến lãm, dưới tên Sức mạnh lặng lẽ của Lưu Hà, nhấn mạnh sự xử dụng màu trắng và đen của người nghệ sĩ - để tỏ lòng trân trọng nghệ thuật thư pháp lâu đời, nguồn gốc của tất cả các nghệ thuật ở Trung Quốc. Trong tác phẩm của Lưu Hà, chúng ta thấy những con búp bê kỳ lạ mà chị gọi là những "em bé xấu xí" của mình đi lang thang vất vưởng như những bóng ma ở Bắc Kinh. Ý tưởng, buồn thay cuối cùng không quan trọng, là những người kiển duyệt sẽ không hoảng sợ nhiều trước những bức ảnh búp bê như trước những bức ảnh người thật. Tuy vậy, trong bức ảnh cuối cùng chúng ta được thấy Lưu Hiểu Ba.




Liu Xia is not the only major Chinese artist punished for failing to serve the Party. Gao Xingjian, a Nobel laureate for literature, has been exiled and lives in France. Ai Weiwei, whose sculptures have been shown in New York, was jailed this year for two months without explanation; today, in Beijing, he isn’t allowed to talk to foreigners. One might expect the Communist Party to celebrate the Chinese cultural renaissance being created by the country’s world-recognized artists. Since it doesn’t, the obvious conclusion is that the Party fears the creativity of its own subjects—a common feature of all doomed oppressive regimes.

Lưu Hà không chỉ là nghệ sĩ lớn bị trừng phạt vì không phục vụ Đảng. Cao Hành Kiện, người đoạt giải Nobel văn chương, đã phải bôn ba lưu vong nhiều năm trời và hiện sống ở Pháp. Ngãi Vị Vị, có những tác phẩm điêu khắc được triễn lãm ở New York, bị bắt giam hai tháng trong năm nay mà không một lời giải thích; ngày nay, ở Bắc Kinh, ông không được phép nói chuyện với người nước ngoài. Ta có thể tưởng đâu Đảng CSTQ mừng vui trước sự phục hưng văn hoá Trung Quốc đang được sáng tạo bởi các nghệ sĩ được cả thế giới công nhận. Vì Đảng không mừng vui, nên kết luận rõ ràng là Đảng sợ sự sáng tạo của chính những người dân mình -một đặc điểm chung của tất cả các chế độ áp bức nhất định phải tiêu vong.


Guy Sorman, a City Journal contributing editor, is the author of Empire of Lies: The Truth about China in the Twenty-First Century, Economics Does Not Lie, and many other books.

Guy Sorman, biên tập viên Tạp chí Thành phố, là tác giả của Empire of Lies (Đé Quốc Dối Trá): Sự thật về Trung Quốc trong thế kỷ XXI, Kinh tế học Không nói dối, và nhiều cuốn sách khác.




Translated by Trần Quốc Việt

Blueprint for a revolution Bản vẽ cho cuộc cách mạng

Otpor Logo Recycle Logo

Canvas Logo

Blueprint for a revolution

Bản vẽ cho cuộc cách mạng

By Janine di Giovanni

Janine di Giovanni

In October 2000, a group of students from Belgrade University with a yearning to live a democratic life helped to overthrow the rule of Europe’s most bloody dictator, Slobodan Milosevic.

Vào tháng Mười năm 2000, với lòng khao khát được sống một cuộc sống dân chủ một nhóm sinh viên trường đại học tổng hợp Belgrade đã góp phần lật đổ ách cai trị của nhà độc tài khát máu nhất ở Châu Âu, Slobodan Milosevic.

Their influences were Gandhi, Martin Luther King, and the work of the American academic and guru of non-violent resistance, Gene Sharp. They employed simple but effective tactics: using mobile phones, slogans and Monty Python-style street humour. But their secret was their methodology: unity, planning and non-violent discipline. Using this trio of tactics, they managed to pull together a politically divided Serbia.

Ảnh hưởng lên họ là Gandhi, Martin Luther King, và công trình nghiên cứu của giáo sư đại học Mỹ và bậc thầy về phản kháng bất bạo động, Gene Sharp. Họ áp dụng những chiến thuật đơn giản nhưng hiệu quả: dùng điện thoại di động, khẩu hiệu và sự hài hước đường phố kiểu Monty Phython. Nhưng bí quyết của họ chính là phương pháp: đoàn kết, kế hoạch và tuân thủ bất bạo động. Dùng chiến thuật bộ ba này, họ đã đoàn kết được một nước Serbia vốn chia rẽ về chính trị để cùng nhau hợp tác cho mục tiêu chung.

The legendary activists – who called themselves Otpor, the Serb word for “resistance” – are not students any more and they are no longer sitting in cafes “pissing off the government”. Some are now MPs; others are government ministers. But a group of them have gone on to found the Centre for Applied NonViolent Strategies, better known as Canvas, an organisation that trains activists around the world in how to successfully overthrow a dictatorship.

Những nhà hoạt động dân chủ huyền thoại này -những người gọi mình là Otpor, tiếng Serbia nghĩa là "phản kháng"- đã qua thời sinh viên và cũng qua thời ngồi trong quán cà phê "châm chọc chính quyền". Hôm nay nhiều người trong số họ thành nghị sĩ; nhiều người khác là bộ trưởng. Nhưng một số người trong nhóm sinh viên ngày xưa ấy đã tiếp tục lập ra Trung tâm Chiến lược Bất bạo động Ứng dụng, còn thường gọi là Canvas, một tổ chức hướng dẫn các nhà hoạt động dân chủ trên khắp thế giới cách thức lật đổ thành công chế độ độc tài.

The young Serbs’ revolution has become a textbook standard for non-violent, peaceful struggle. Canvas only works with groups with no history of violence: for example, they have refused to work with Hamas or Hizbollah. But they count Georgia, Ukraine and the Maldives (where they helped dissidents end the 30-year rule of Maumoon Abdul Gayoom) as success stories, and work with activists from nearly 50 other countries, including ­Iran, Zimbabwe, Burma, Venezuela, Belarus and, recently, Tunisia and Egypt.

Cuộc cách mạng của lớp trẻ Serbia đã trở thành tiêu chuẩn mẫu mực cho cuộc đấu tranh ôn hoà bất bạo động. Canvas chỉ làm việc với những nhóm không có lịch sử bạo động: chẳng hạn, họ từ chối làm việc với Hamas hay Hizbollah. Nhưng họ coi Georgia, Ukraine và Maldives (nơi họ giúp các nhà bất đồng chính kiến chấm dứt 30 năm cai trị của Maumoon Abdul Gayoom) là những câu chuyện thành công, và làm việc với các nhà hoạt động dân chủ từ gần 50 quốc gia, bao gồm Iran, Zimbabwe, Miến Điện, Venezuela, Belarus và, gần đây, Tunisia và Ai Cập.

Canvas is run by two best friends from the Otpor days, Srdja Popovic, 38, and Slobodan Djinovic, 36. They are the most unlikely duo. Popovic is lanky and nervous; a freshwater biologist by training: “A shark moves when it sleeps, if it stops moving, it dies,” he says. “Sharks only move forward. You have to keep the momentum of revolutions going.”

Canvas được điều hành bởi đôi bạn thân nhất từ những ngày Otpor, Srdja Popovic, 38 tuổi, và Slobodan Djinovic, 36 tuổi. Khó có ai nghĩ rằng họ là cặp bài trùng. Popovic là người cao gầy và rụt rè, được đào tạo thành nhà sinh vật học nước ngọt:"Cá mập bơi khi nó ngủ, nếu nó ngừng bơi, nó chết," anh nói."Cá mập chỉ bơi tới. Ta phải làm sao cho các cuộc cách mạng không ngừng tiến lên."

Djinovic is a good-looking former basketball player with an MA in international relations from The Fletcher School of Law and Diplomacy in the US, and has a self-possessed, confident air. He founded Serbia’s first wireless internet provider and could be a Silicon Valley mogul if he wanted to, but instead he gives half of what he earns to keep Canvas afloat. (The other half comes from various NGOs and the UN.) “I could be that guy in a suit, going to clubs, which is what my mother and wife want,” Djinovic says, “but I just can’t. Not after seeing and doing what we did.”

Djinovic từng là cựu cầu thủ bóng rỗ, điển trai, có bằng thạc sĩ về quan hệ quốc tế ở phân khoa Luật pháp và Ngoại giao Fletcher tại Mỹ, có vẻ tự chủ và tự tin. Anh thành lập công ty cung cấp dịch vụ internet không dây đầu tiên ở Serbia và có thể trở thành trùm Silicon Valley ở Serbia nếu anh muốn, nhưng thay vì thế anh cho phân nửa tiền kiếm được để duy trì Canvas (Nửa kia được các tổ chức phi chính phủ và Liên hiệp Quốc tài trợ.) "Tôi có thể là đại gia cỡ như thế diện côm lê, lui tới các câu lạc bộ như mong muốn của mẹ tôi và vợ, " Djinovic thổ lộ," nhưng tôi không thể như thế. Sau khi nhìn thấy và làm được điều chúng tôi đã làm."

Like most of the Otpor generation, the two were brought up in the good old Tito days, a time of “socialism lite”, when they wore blue jeans, drank Coca-Cola and went on trips to Greece. They were 18 and 16 when the savage Yugoslav wars began in 1991, old enough to know that they needed to get rid of Milosevic. Now, they want to take their knowledge and pass it on to the world.

Giống như đa phần những người thuộc thế hệ Otpor, đôi bạn lớn lên trong thời Tito thanh bình ngày xưa, thời "chủ nghĩa xã hội nhẹ" khi họ mặc quần jean xanh, uống Coca-Cola và có những chuyến du lịch sang Hy Lạp. Khi các cuộc chiến tranh khốc liệt ở Nam Tư bắt đầu vào năm 1991 họ ở vào lứa tuổi 18 và 16, độ tuổi đủ chín chắn để biết họ phải cần loại bỏ Milosevich. Ngày nay, họ muốn đem kiến thức của mình truyền bá ra khắp thế giới.

This is done with a staff of “four and a half”, dozens of trainers around the world and an office on Gandhiova (as in Gandhi) Street in New Belgrade. In one corner sits a Canvas worker who has just returned from a fact-finding mission to Tunisia aimed at helping the new leaders into a peaceful transition post-Ben Ali. Djinovic is wandering around, eating a sandwich and talking about targeting weak pillars in society to bring down governments. Someone else is talking about Mohamed Adel, the Egyptian April 6 activist who took lessons in Belgrade from the Canvas crowd in 2009. There is a whiteboard listing places they are targeting next, and Talking Heads music plays quietly in the background.

Hoài bão này được thực hiện với đội ngũ gồm "bốn người rưỡi", hàng chục giảng viên trên khắp thế giới và một văn phòng ở đường Gandhiova (theo tên Ghandi) ở đô thị Belgrade Mới. Người ngồi trong góc phòng là nhân viên Canvas vừa mới trở về sau chuyến đi đến Tunisia thu thập dữ liệu để nhằm giúp đỡ những nhà lãnh đạo mới trong thời kỳ quá độ sau Ben Ali. Djinovic đi lại trong văn phòng, vừa ăn sandwich vừa nói về việc nhắm vào các trụ cột yếu trong xã hội để giật sập các chính quyền độc tài. Có người nào đấy đang nói về Mohamed Adel, nhà hoạt động dân chủ Ai Cập thuộc tổ chức Ngày 6 tháng Tư, người đã đến Belgrade để theo học với nhóm Canvas vào năm 2009. Trong phòng có bảng trắng liệt kê những nơi họ đang nhắm đến kế tiếp, và từ đâu đó phát ra trầm lắng tiếng nhạc của băng nhạc Talking Heads.

It looks more like a Seattle coffeehouse than a revolutionaries’ hive. How, I ask them, have they managed to spread the word from this tiny space to Tahrir Square? Why are people talking about them in Yemen and Algeria?

Tưởng chừng như ta đang ở trong một quán cà phê ở Seattle chứ không ở trong văn phòng nhộn nhịp của những nhà cách mạng. Tôi hỏi họ làm thế nào họ đã báo tin từ nơi tí tẹo này đến Quảng trường Tahrir? Tại sao những người ở tận Yemen và Algeria đang nói về họ?

“When people hear the Serbs are coming,” laughs Popovic, “they want to see us, they want to hear how we did it. We can tell them what worked with us, what did not work in Georgia, what worked in Ukraine. We feel a responsibility to share our knowledge.”

"Khi mọi người nghe tin những người Serbia đến," Popovic cười,"họ muốn gặp chúng tôi, họ muốn biết làm thế nào chúng tôi thành công. Chúng tôi có thể kể họ nghe những gì đã thành công đối với chúng tôi, những gì đã không thành công ở Georgia, những gì đã thành công ở Ukraine. Chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm chia sẽ kiến thức của mình."

He jokes that he sees himself as Frodo from The Lord of the Rings: “I didn’t ask for the Ring but I have it and we must deliver it,” he deadpans. In his Belgrade apartment, Popovic has a “shrine” to J.R.R. Tolkien and a gold replica of the Ring on a chain – his vision of a democratic world. It sits in a dusty wine glass under a map of Middle-earth. “There is a great line from Tolkien,” he says, sipping rakija, the popular Serb brandy. “Even the smallest creatures can change the world.”

Anh nói đùa rằng anh thấy mình như nhân vật Frodo trong tác phẩm Chúa tể của những chiếc nhẫn: "Tôi không đòi là mình phải có chiếc Nhẫn nhưng khi tôi có nó chúng tôi phải giao nó," anh nói đùa với vẻ mặt trang nghiêm. Trong căn hộ của mình ở Belgrade, Popovic có một nơi "thờ phụng" tác giả J. R. R. Tolkien và một chiếc Nhẫn vàng tương tự móc vào sợi dây chuyền - hình tượng của anh về một thế giới dân chủ. Chiếc nhẫn nằm trong ly uống rượu bám đầy bụi dưới tấm bản đồ Middle- earth. " Tolkien có viết một câu rất hay," anh nhắp rakija, loại rượu Serb mạnh được ưa chuộng, và nói." Ngay cả những người nhỏ bé nhất cũng có thể thay đổi thế giới."

Slobodan Homen, another former Otpor member whose life was for ever changed by the experience, left the group and went into the current Serbian government under President Boris Tadic as deputy justice minister.

Slobodan Homen, một cựu thành viên Otpor khác mà cuộc đời đã mãi mãi thay đổi sau khi dấn thân vào phong trào, đã rời nhóm và gia nhập chính quyền đương thời dưới sự lãnh đạo của tổng thống Boris Tadic với cương vị thứ trưởng bộ tư pháp.

“Ah, the shiny happy days of Otpor,” laughs Homen, slugging back a Coke Zero. Homen does not look like any minister I have ever met. He’s wearing a diamond earring, a rumpled shirt, no tie and is smoking Marlboro Lights in a public building that clearly says “No smoking” (by law, there’s a hefty fine). It’s this kind of “question authority” attitude that toppled Milosevic.

"À, những ngày hạnh phúc tươi sáng của Otpor," Homen cười và uống một hơi Coke Zero. Homen không giống như bất kỳ bộ trưởng nào tôi đã có dịp gặp. Anh đeo bông tai kim cương, áo sơ mi nhàu nát, không cà vạt và hút thuốc Marlboro Lights trong toà nhà công cộng mà ghi rõ ràng "Không hút thuốc" (theo luật, tiền phạt nặng). Đây chính gần như là thái độ "thách thức quyền lực" đã lật đổ Milosevich.

Back in the day, it was Homen’s wealthy mother who loaned Otpor her apartment in the centre of Belgrade as the chaotic movement grew from a group of friends to nearly 70,000 people. The Otpor kids worked 12 hours a day, were followed and beaten up by police, and lived on a diet of coffee and cigarettes.

Vào thời ấy, chính người mẹ khá giả của Homen đã cho Otpor mượn căn hộ của bà ở trung tâm Belgrade khi phong trào thiếu sự tổ chức ban đầu phát triễn từ một nhóm nhỏ những người bạn lên đến gần 70.000 người. Luôn bị công an theo dõi và đánh đập, bọn trẻ Otpor làm việc 12 giờ mỗi ngày, và sống chủ yếu nhờ cà phê và thuốc lá.

“Our main goal,” recalls Homen, “was to show the general public that the regime could be changed. We started out by making Milosevic nervous. Then we brought down the system.” They used a combination of clever marketing tools – the famous Otpor and now Canvas fist logo, their unique slogans, edgy TV commercials – and street tactics, such as setting out a huge telescope on the day of the total eclipse and showing Milosevic’s face and the slogan ‘He’s finished!’

"Mục tiêu chính của chúng tôi," Homen hồi tưởng," là phải chỉ cho dân chúng biết rằng họ có thể thay đổi chế độ. Ban đầu chúng tôi làm cho Milosevich lo sợ. Từ đấy chúng tôi tiến đến lật đổ chế độ." Họ dùng đồng thời một loạt những công cụ tiếp thị tài tình- từ lô gô nắm đấm nổi danh trước đây của Otpor giờ được dùng cho Canvas, những khẩu hiệu độc đáo của họ, những cách quảng cáo mới mẻ tân thời trên ti vi -và đến các chiến thuật đường phố, chẳng hạn vào ngày nhật thực toàn phần họ đặt một kính viễn vọng rất lớn và cho người ta thấy khuôn mặt của Milosevich cùng với khẩu hiệu " Đời y tàn rồi!"

The group also realised they had a window of opportunity – which usually marks the debut moment of any revolution. It could be a hike in oil prices, a natural disaster or an assassination that binds the public together in their anger. In their case, Milosevic called elections. Massive demonstrations followed.

Nhóm trẻ cũng nhận thức rằng họ có thời cơ -thường đánh dấu thời điểm xuất hiện của bất kỳ cuộc cách mạng nào. Thời cơ ấy có thể là giá dầu tăng vọt, thiên tai hay vụ ám sát khiến quần chúng do phẫn nộ mà sát cánh với nhau. Trong trường hợp của họ, Milosevich kêu gọi tổ chức bầu cử. Hàng loạt các cuộc đình công lớn diễn ra sau đó.

Homen admits that they never actually thought they could do it – but they did. “Because of our success, I believe it is our responsibility to go around the world and inspire with our example,” says Homen. “But it’s up to each people’s regime. Each region is different.”

Homen thú nhận rằng họ không bao giờ thực sự tin họ có thể thành công - nhưng họ đã thành công. "Nhờ thành công nên hôm nay tôi tin rằng trách nhiệm của chúng tôi là phải đi khắp nơi trên thế giới để khích lệ mọi người qua tấm gương của mình," Homen nói. "Nhưng tuỳ thuộc vào chế độ của mỗi nhân dân. Mỗi khu vực đều khác nhau."

After I leave Homen’s office, I go to see the designer of the fist. In the newspaper that same day, I spotted a photograph of an Egyptian woman carrying the Otpor fist around Tahrir Square, and I ask Duda Petrovic, who is now 37 and a father of two, how he feels about creating such a powerful image.

Sau khi tôi rời văn phòng của Homen, tôi đi gặp người thiết kế lô gô nắm đấm. Cũng ngày hôm ấy tôi nhìn thấy trên báo bức hình chụp một người phụ nữ Ai Cập mang nắm đấm Otpo đi quanh Quảng trường Tahrir, và tôi hỏi Duda Petrovich, bây giờ 37 tuổi và cha của hai con, anh cảm tưởng ra sao khi đã tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ như thế.

“I never knew it would be so important,” he says, stubbing out a cigarette and reaching for another. “I drew it not out of ideals, but because I was in love with the Otpor girl who asked me to do it.” No one went into revolution for money or fame. Petrovic didn’t copyright his fist design, which sells on websites in the US, on T-shirts, mugs, posters.

"Tôi nào có ngờ nó sẽ trở thành quan trọng đến như vậy," anh vừa nói vừa dụi tàn thuốc và đưa tay với lấy điếu khác. "Tôi vẽ nó không phải vì lý tưởng, mà vì tôi yêu cô gái trong nhóm Otpor người đã nhờ tôi vẽ." Không ai dấn thân vào cách mạng vì tiền hay danh vọng. Petrovich đã không đăng ký bản quyền thiết kế nắm đấm của anh, hiện nay hình ảnh ấy đang rao bán trên các trang mạng ở Mỹ, được in trên áo, trên ly tách, áp phích".

“I’m too lazy to sue,” he says. “And I gave it to my best friends. And now it’s used to make freedom. How could I charge for that?”

"Tôi làm biếng kiện cáo," anh tâm sự. "Hơn nữa tôi vẽ nó cho các bạn thân nhất của mình. Và bây giờ hình ảnh ấy được dùng để tranh đấu cho tự do. Ai đời lại đi tính tiền chuyện ấy."

Like everyone I spoke to, Petrovic says Otpor changed his life. “Everything was grim and grey in Serbia. War. Inflation. Sanctions,” he says. “And suddenly out of nowhere came this energy. It’s a beautiful story. It’s the story of my life.”

Giống như những người tôi có dịp trò chuyện, Petrovich cho biết Otpor đã thay đổi đời mình." Trước đây ở Serbia mọi thứ đều thê lương u ám. Nào chiến tranh, lạm phát, nào bị trừng phạt," anh nói." Rồi bất ngờ bỗng dưng xuất hiện sinh lực này. Thật là một câu chuyện đẹp. Một câu chuyện của đời mình."

I remember those victorious days well. I landed at Belgrade airport during the height of the demos and turned on my mobile phone. A message popped up about Milosevic – Gotov je – he’s finished. I laughed because I knew it was from the Otpor kids. I got 10 more messages in the next half hour, all the same. Gotov je.

Tôi cũng nhớ những ngày chiến thắng ấy. Tôi đến phi trường Belgrade vào lúc cao điểm của các cuộc biểu tình và mở điện thoại di động. Hiện lên là tin nhắn về Milosevich -Gotov je -đời y tàn rồi. Tôi bật cười vì tôi biết tin nhắn từ bọn nhóc Otpor. Nửa giờ sau tôi nhận hơn 10 tin nhắn nữa, vẫn cùng nội dung. Gotov je.

After they had forced Milosevic from power, Otpor’s leaders received requests for help from democracy activists in other countries. But eventually Otpor fizzled out as a political party, and Djinovic and Popovic decided to establish Canvas, which sees itself as an educational institution.

Sau khi họ buộc Milosevich rời bỏ quyền lực, các nhà lãnh đạo Otpor nhận được những lời kêu gọi mong được giúp đỡ từ các nhà hoạt động dân chủ ở nhiều nước khác. Nhưng cuối cùng trong vai trò đảng chính trị Otpor tàn lụi dần, nên Djinovic và Popovic quyết định thành lập Canvas, xem nó như là một tổ chức giáo dục

Their training works as follows: activists will hear about Canvas (“It’s a small world, the world of non-violent struggle,” says one worker) and come to Belgrade. In 2009, Mohamed Adel was already working in Cairo with the April 6 movement, but felt he was stagnating. He had seen a pirated copy of Bringing Down a Dictator, a 2001 documentary depicting Otpor’s work, and contacted the Serbs. He spent a few weeks training in Belgrade in April 2009, using “power graphs” (invented by Djinovic) to demonstrate how to spot weakness in government (in the case of Egypt, it was military), how to target media and other institutions, and how to respond with non-violence.

Công việc giảng dạy của họ như sau: các nhà hoạt động dân chủ sẽ nghe tiếng Canvas (" Đây là một thế giới nhỏ, thế giới của đấu tranh bất bạo động," một nhân viên nhận xét) và đến Belgrade. Vào năm 2009, Mohamed Adel đang hoạt động với phong trào ngày 6 tháng 4 ở Cairo, nhưng cảm thấy bế tắc. Anh đã xem cuốn băng lậu Đánh Gục Nhà độc tài, một cuốn phim tài liệu thực hiện vào năm 2001 mô tả cuộc đấu tranh của Otpor, liền liên lạc với những người Serbia. Anh theo học vài tuần ở Belgrade vào tháng Tư năm 2009, học xử dụng "biểu đồ quyền lực" (do Djinovic nghĩ ra) để tìm ra điểm yếu trong chính quyền (trong trường hợp Ai Cập, điểm yếu ấy là quân đội), làm thế nào nhắm vào truyền thông và các thể chế khác, và làm thế nào để đối phó lại bằng bất bạo động.

When Adel returned to Cairo, he brought more copies of Bringing Down a Dictator subtitled in Arabic, and the Canvas textbooks. He then passed on the word. Shortly before the fall of Mubarak, a pamphlet largely modelled on the Canvas teachings was printed in Cairo, the main point being, as Popovic points out, “to fraternise with police and maintain non-violent discipline”.

Khi Adel về lại Cairo, anh mang theo nhiều cuốn phim Đánh Gục Nhà độc tài kèm phụ đề tiếng Ả Rập, cùng nhiều sách giáo khoa Canvas. Rồi anh phổ biến rộng rãi ra. Ngay trước khi Mubarak sụp đổ, truyền đơn mà chủ yếu dựa theo những điều giảng dạy của Canvas được in ra ở Cairo, nội dung chính là, như Popovic chỉ ra, " kết thân với cảnh sát và duy trì sự tuân thủ bất bạo động".

“It took Gandhi 30 years to overthrow the regime; it took us 10 years; it took the Tunisians a month and a half; and it took the Egyptians 19 days,” says Popovic. “This is democratic blitzkrieg.”

"Gandhi phải mất 30 năm để lật đổ chế độ; chúng tôi mất 10 năm; người Tunisia mất một tháng rưỡi; và người Ai Cập mất 19 ngày," Popovic nói. "Đây quả thật là trận đánh thần tốc của dân chủ."

Later that day, we head to Belgrade University to see the department they are setting up where graduate students will be able to study for an MA in strategy and methods of non-violent social change. Popovic, a visiting professor, drives me to the campus in his cluttered green Mercedes with the licence plate 007.

Sau đó trong ngày hôm ấy, chúng tôi đến trường đại học tổng hợp Belgrade để thăm quan phân khoa họ đang thiết lập nơi những sinh viên sau đại học có thể theo học để lấy bằng thạc sĩ về môn chiến lược và các phương pháp thay đổi xã hội bằng bất bạo động. Popovic, giáo sư thỉnh giảng ở đấy, đưa tôi đến truờng trong chiếc xe Mercedes màu xanh ngổn ngang đồ đạc mang biển số 007.

A friend told me she saw Popovic recently at a friend’s birthday party and he spent the whole night in front of the TV watching the Egyptian demos with a huge smile on his face. When it works, it really works, he tells me.

Một chị bạn kể tôi nghe chị mới đây thấy Popovic tại buổi tiệc sinh nhật của một người bạn và suốt buổi tối ở đấy anh cứ ngồi trước ti vi theo dõi các cuộc biểu tình ở Ai Cập với nụ cười nở rộng trên mặt. Anh nói với tôi một khi thành công là thành công thật sự.

But it’s not the usual career choice: revolutionary. Stuck in the usual heavy Belgrade traffic, I ask him why he does it, spending one-third of the year travelling to remote locations to train activists. Growing up, the child of two journalists, Popovic said he wanted to travel around the world making films about fish. He’s uncharacteristically quiet for a moment while he thinks about his response.

Nhưng đấy là sự chọn lựa nghề nghiệp không bình thường: nhà cách mạng. Lúc bị kẹt trong dòng xe cộ dày dặc thường lệ, tôi hỏi anh tại sao anh đeo đuổi nghề cách mạng ấy, tại sao dành một phần ba của năm lặn lội đến tận những nơi xa xăm để giảng dạy những nhà hoạt động dân chủ. Là người trong gia đình có cha mẹ làm nghề báo, anh từng tâm sự khi lớn lên anh đã muốn đi vòng quanh thế giới để thực hiện những bộ phim về cá. Trái với thường lệ anh trầm tư một lát trong khi suy nghĩ câu trả lời.

“Working with activists is the best job on the planet,” he says. “These risk-takers – people who are not thinking of themselves, but of the lives of their children or future generations…” He cuts up two cars as he moves into the fast lane. “I can’t tell you how much I love it. Seeing people move from fear to enthusiasm, from helplessness to commitment … it’s awesome.”

"Làm việc với các nhà hoạt động dân chủ là công việc tốt đẹp nhất trên hành tinh, " anh đáp." Những người này sẵn sàng chấp nhận biết bao rủi ro -họ không nghĩ về bản thân, mà nghĩ về cuộc đời của con cái họ hay cuộc đời của những thế hệ tương lai..." Anh cắt ngang hai xe khi anh chạy vào làn đường cao tốc. " Tôi không thể nói cho chị hiểu được tôi yêu công việc này biết bao nhiêu. Thấy những người chuyển từ sợ hãi sang say mê, từ tuyệt vọng sang quyết tâm ...thật tuyệt vời."

HOW TO TOPPLE A DICTATOR PEACEFULLY

Five tips from Canvas

1. Do your homework: analyse the pillars of support you want to pull on your side (“pillars” refer to institutions and organisations that are crucial for non-violent social change)

2. Come out with a clear vision and your strategy for your struggle – and don’t listen to foreign advice

3. Build a unity within a movement – unity of purpose, unity of people and unity within the organisation

4. Maintain non-violent discipline – one single act of violence can destroy the credibility of your struggle

5. Keep on the offensive, pick the battles you can win and make sure you know when and how to proclaim the victory

Làm thế nào lật đổ nhà độc tài một cách ôn hoà

Năm lời khuyên của Canvas:

1. Hãy nghiên cứu kỹ: tức phân tích những trụ ủng hộ ta muốn kéo về phía ta ("những trụ" ở đây có nghĩa là những thể chế và tổ chức rất quan trọng cho sự thay đổi xã hội bằng bất bạo động)

2. Đề ra một viễn kiến rõ ràng cùng với chiến lược cho cuộc đấu tranh -đừng lắng nghe lời khuyên từ nước ngoài

3. Xây dựng sự đoàn kết trong phong trào -đoàn kết về mục đích, đoàn kết trong nhân dân, và đoàn kết trong tổ chức

4. Duy trì sự tuân thủ bất bạo động - một hành động bạo động thôi có thể lam mất đi uy tín của cuộc đấu tranh

5. Luôn luôn ở thế tấn công, hãy chọn những trận đánh ta có thể thắng và chắc chắn ta biết khi nào và làm thế nào công bố chiến thắng


Translated by Trần Quốc Việt

www.ft.com/cms/s/2/0ad005b4-5043-11e0-9ad1-00144feab49a.html