MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, December 11, 2011

President Ronald Reagan: 1981 Inaugural Address Ronald Reagan: Diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng 1 năm 1981




President Ronald Reagan: 1981 Inaugural Address

Ronald Reagan: Diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng 1 năm 1981

Senator Hatfield, Mr. Chief Justice, Mr. President, Vice President Bush, Vice President Mondale, Senator Baker, Speaker O'Neill, Reverend Moomaw, and my fellow citizens:

Thưa thượng nghị sỹ Hatfield, ngài chánh án, ngài tổng thống, phó tổng thống Bush, phó tổng thống Mondale, thượng nghị sỹ Baker, người phát ngôn O’Neill, Cha Moomaw và quốc dân đồng bào.

To a few of us here today this is a solemn and most momentous occasion, and yet in the history of our nation it is a commonplace occurrence. The orderly transfer of authority as called for in the Constitution routinely takes place, as it has for almost two centuries, and few of us stop to think how unique we really are. In the eyes of many in the world, this every 4-year ceremony we accept as normal is nothing less than a miracle.

Đối với một số ít chúng ta tại nơi này ngày hôm nay, đây là một dịp long trọng và nhiều ý nghĩa nhất. Tuy nhiên, trong lịch sử của quốc gia chúng ta, nó là một sự kiện thông thường. Việc chuyển giao có trật tự quyền lực như Hiến pháp yêu cầu vẫn xảy ra thường xuyên, như trong gần hai thế kỷ vừa qua, và ít người trong số chúng ta chịu nhìn lại xem chúng ta đặc biệt như thế nào. Duới con mắt của nhiều người trên thế giới, cái nghi lễ bốn năm một lần này, cái mà chúng ta coi là bình thường, không kém gì một điều thần kỳ.

Mr. President, I want our fellow citizens to know how much you did to carry on this tradition. By your gracious cooperation in the transition process, you have shown a watching world that we are a united people pledged to maintaining a political system which guarantees individual liberty to a greater degree than any other, and I thank you and your people for all your help in maintaining the continuity which is the bulwark of our Republic.

Thưa ngài tổng thống, tôi muốn quốc dân đồng bào biết rằng ngài đã nỗ lực thế nào để truyền thống này được duy trì. Qua việc hợp tác đầy thân ái, ngài đã cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc thống nhất, có cam kết duy trì một hệ thống chính trị bảo đảm quyền tự do cá nhân ở một mức độ lớn hơn tất thảy mọi hệ thống khác. Tôi xin cám ơn ngài và cộng sự của ngài vì sự giúp đỡ của các ngài trong việc duy trì tính liên tục, cái bảo vệ nền cộng hòa của chúng ta.

The business of our nation goes forward. These United States are confronted with an economic affliction of great proportions. We suffer from the longest and one of the worst sustained inflations in our national history. It distorts our economic decisions, penalizes thrift, and crushes the struggling young and the fixed-income elderly alike. It threatens to shatter the lives of millions of our people.

Công việc của quốc gia chúng ta sẽ tiếp tục tiến lên phía trước. Hợp chúng quốc chúng ta đang phải đối mặt với một mối họa kinh tế ở tầm vóc rất lớn. Chúng ta đang trải qua một thời kỳ dai dẳng nhất về lạm phát trong lịch sử của mình. Nó đã làm méo mó các quyết định kinh tế của chúng ta, trừng phạt hành vi tiết kiệm và bóp nghẹt tầng lớp thanh niên đang đấu tranh sinh tồn cùng tầng lớp người già với khoản thu nhâp cố định. Nó đe dọa đến cuộc sống của hàng triệu người trong dân tộc của chúng ta.

Idle industries have cast workers into unemployment, human misery, and personal indignity. Those who do work are denied a fair return for their labor by a tax system which penalizes successful achievement and keeps us from maintaining full productivity.

Các ngành công nghiệp trì trệ đã làm cho công nhân mất việc, đẩy con người vào những điều kiện khốn cùng và mất đi nhân phẩm. Những người đang làm việc thì lại bị chối từ phần thù lao xứng đáng với lao động của mình bởi một hệ thống thuế trừng phạt mọi thành quả của thành công và làm cho chúng ta không duy trì được năng suất lao động đích thực.

But great as our tax burden is, it has not kept pace with public spending. For decades we have piled deficit upon deficit, mortgaging our future and our children's future for the temporary convenience of the present. To continue this long trend is to guarantee tremendous social, cultural, political, and economic upheavals.

Nhưng mặc dù gánh nặng thuế khóa mà chúng ta đang mang nhiều đến đâu thì nó cũng không theo kịp mức chi tiêu của chính phủ. Những thập kỷ qua, chúng ta đã chồng chất thâm hụt chi tiêu thập kỷ này lên thâm hụt chi tiêu thập kỷ khác, cầm cố tương lai của chúng ta và con cháu của chúng ta cho tiện lợi tạm thời của thực tại. Tiếp tục xu thế này là bảo đảm cho sự xảy ra những biến động khôn lường về mặt xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế.

You and I, as individuals, can, by borrowing, live beyond our means, but for only a limited period of time. Why, then, should we think that collectively, as a nation, we're not bound by that same limitation? We must act today in order to preserve tomorrow. And let there be no misunderstanding: We are going to begin to act, beginning today.

Các bạn và tôi, với tư cách là những cá nhân, bằng vay mượn có thể sống vượt quá khối tài sản thực của mình. Nhưng chuyện này chỉ có thể làm trong một giới hạn thời gian. Vậy thì tại sao chúng ta lại nghĩ rằng toàn bộ chúng ta, với tư cách là một quốc gia, sẽ không bị ràng buộc bởi một giới hạn thời gian tương tự? Chúng ta phải hành động hôm nay để bảo vệ ngày mai. Và để tránh có sự hiểu lầm [tôi xin nói] chúng ta sẽ bắt đầu hành động ngay từ ngày hôm nay.

The economic ills we suffer have come upon us over several decades. They will not go away in days, weeks, or months, but they will go away. They will go away because we as Americans have the capacity now, as we've had in the past, to do whatever needs to be done to preserve this last and greatest bastion of freedom.

Những bệnh tật của nền kinh tế chúng ta đang chịu đã đến với chúng ta từ vài thập kỷ vừa qua. Nó sẽ không biến mất ngay trong một vài ngày, một vài tuần hay vài tháng nhưng nó sẽ biến mất. Nó sẽ biến mất bởi vì chúng ta, là những người Mỹ, hiện tại cũng như trong quá khứ, có khả năng làm bất kỳ những gì cần phải làm để duy trì thành trì tự do cuối cùng và vĩ đại nhất này.

In this present crisis, government is not the solution to our problem; government is the problem. From time to time we've been tempted to believe that society has become too complex to be managed by self-rule, that government by an elite group is superior to government for, by, and of the people. Well, if no one among us is capable of governing himself, then who among us has the capacity to govern someone else? All of us together, in and out of government, must bear the burden. The solutions we seek must be equitable, with no one group singled out to pay a higher price.

Trong cuộc khủng hoảng hiện tại này, chính phủ không phải là giải pháp cho vấn đề khó khăn của chúng ta mà chính phủ chính là vấn đề khó khăn. Từ thời này sang thời khác chúng ta đã bị quyến rũ để tin rằng xã hội đã trở nên quá phức tạp để có thể được quản lý bằng cơ chế tự quản, rằng điều hành do một nhóm người ưu tú thì hơn là điều hành vì dân, do dân và của dân. Vâng, nếu không ai trong chúng ta có thể quản lý được bản thân mình thì ai trong số chúng ta có khả năng quản lý được người khác? Tất cả chúng ta, những người trong và ngoài chính phủ, phải cùng nhau gánh trọng trách này. Những giải pháp chúng ta tìm kiếm phải công bằng, không một nhóm nhất định nào bị bắt trả một giá cao hơn.

We hear much of special interest groups. Well, our concern must be for a special interest group that has been too long neglected. It knows no sectional boundaries or ethnic and racial divisions, and it crosses political party lines. It is made up of men and women who raise our food, patrol our streets, man our mines and factories, teach our children, keep our homes, and heal us when we're sick—professionals, industrialists, shopkeepers, clerks, cabbies, and truck drivers. They are, in short, "We the people," this breed called Americans.

Chúng ta đã nghe nhiều về các nhóm lợi ích đặc biệt. Vâng, mối quan tâm của chúng ta nay phải dành cho một nhóm lợi ích đặc biệt đã bị lãng quên quá lâu. Nhóm này không có ranh giới cục bộ hay chia rẽ dân tộc, chủng tộc và nó vượt lên trên đường lối chính trị đảng phái. Nó được hình thành bởi những người nam nữ mang lại cho chúng ta lương thực, những người tuần hành trên đường phố, làm việc tại các khu mỏ và nhà xưởng, dậy dỗ trẻ em, giữ nhà và chữa trị cho chúng ta khi chúng ta ốm yếu – những nhà chuyên gia, nhà công nghiệp, chủ hiệu, thư ký, người lái xe. Họ là, nói ngắn gọn, “chúng ta, những người dân”, [3] thuộc dòng giống được gọi là người Mỹ.

Well, this administration's objective will be a healthy, vigorous, growing economy that provides equal opportunities for all Americans, with no barriers born of bigotry or discrimination. Putting America back to work means putting all Americans back to work. Ending inflation means freeing all Americans from the terror of runaway living costs. All must share in the productive work of this "new beginning," and all must share in the bounty of a revived economy. With the idealism and fair play which are the core of our system and our strength, we can have a strong and prosperous America, at peace with itself and the world.

Vâng, mục tiêu của chính phủ này là một nền kinh tế lành mạnh, khỏe khoắn và phát triển, nơi cung cấp các cơ hội công bằng cho mọi người dân Mỹ mà không có rào cản tạo bởi thành kiến hay phân biệt đối xử. Để nước Mỹ trở lại làm việc có nghĩa là để tất cả người dân Mỹ trở lại làm việc. Chấm dứt lạm phát có nghĩa là xóa bỏ nỗi khiếp sợ về chi phí đời sống bất kham trong mọi người dân Mỹ. Tất cả chúng ta phải chung sức trong công việc sản xuất của “sự bắt đầu” này và tất cả phải được chia chung từ phần thưởng của nền kinh tế được phục hồi. Với tinh thần lạc quan và tuân thủ luật chơi chung, những cốt lõi của hệ thống chúng ta và sức mạnh của chúng ta, chúng ta có thể có được một nước Mỹ vững chắc và phồn thịnh, hòa bình trong nội tại và với thế giới bên ngoài.

So, as we begin, let us take inventory. We are a nation that has a government—not the other way around. And this makes us special among the nations of the Earth. Our government has no power except that granted it by the people. It is time to check and reverse the growth of government, which shows signs of having grown beyond the consent of the governed.

Vì thế, tại thời điểm bắt đầu này chúng ta hãy kiểm kê xem. Chúng ta là một quốc gia có một chính phủ - chứ không phải là ngược lại. Và điều này làm cho chúng ta đặc biệt hơn so với các quốc gia khác trên quả đất. Chính phủ của chúng ta không có quyền trừ những gì đã được trao bởi người dân. Đây là thời điểm để kiểm tra và đảo ngược lại việc mở rộng của chính phủ, nơi đang có tín hiệu về mức độ phát triển vượt quá sự đồng ý của những người bị trị.

It is my intention to curb the size and influence of the Federal establishment and to demand recognition of the distinction between the powers granted to the Federal Government and those reserved to the States or to the people. All of us need to be reminded that the Federal Government did not create the States; the States created the Federal Government.

Đó là ý định của tôi để kiềm chế lại kích cỡ và tầm ảnh hưởng của thiết chế liên bang và để yêu cầu việc công nhận sự khác biệt giữa những quyền lực được trao cho chính quyền liên bang và những quyền được dành cho tiểu bang hay cho dân chúng. Tất cả chúng ta cần phải được nhắc nhở rằng chính phủ liên bang không tạo ra các tiểu bang; mà các tiểu bang đã tạo ra chính phủ liên bang.

Now, so there will be no misunderstanding, it's not my intention to do away with government. It is rather to make it work--work with us, not over us; to stand by our side, not ride on our back. Government can and must provide opportunity, not smother it; foster productivity, not stifle it.

Bây giờ, để tránh hiểu lầm, tôi nói ý định của tôi không phải là xóa bỏ chính phủ. Ngược lại, để nó làm việc—làm việc với chúng ta, chứ không phải trên chúng ta; sát cánh với chúng ta chứ không phải cưỡi trên lưng chúng ta. Chính phủ có thể và phải cung cấp cơ hội, chứ không phải bóp nghẹt chúng; thúc đẩy năng suất chứ không phải kiềm chế nó.

If we look to the answer as to why for so many years we achieved so much, prospered as no other people on Earth, it was because here in this land we unleashed the energy and individual genius of man to a greater extent than has ever been done before. Freedom and the dignity of the individual have been more available and assured here than in any other place on Earth. The price for this freedom at times has been high, but we have never been unwilling to pay that price.

Nếu chúng ta nhìn vào các câu trả lời vì sao trong bao nhiêu năm chúng ta đã đạt được nhiều đến thế, phồn thịnh hơn tất bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới, đó chính bởi vì chính tại mảnh đất này chúng ta đã khơi mở cho năng lực và thiên tư cá nhân con người đến một mức độ lớn hơn bất kỳ nơi nào khác đã làm. Tự do và nhân phẩm cá nhân đã được hiện diện và được bảo đảm ở nơi đây hơn bất kỳ nơi nào khác trên trái đất. Giá của sự tự do này nhiều khi rất cao nhưng chúng ta chưa bao giờ không sẵn lòng trả.

It is no coincidence that our present troubles parallel and are proportionate to the intervention and intrusion in our lives that result from unnecessary and excessive growth of government. It is time for us to realize that we're too great a nation to limit ourselves to small dreams. We're not, as some would have us believe, doomed to an inevitable decline. I do not believe in a fate that will fall on us no matter what we do. I do believe in a fate that will fall on us if we do nothing. So, with all the creative energy at our command, let us begin an era of national renewal. Let us renew our determination, our courage, and our strength. And let us renew our faith and our hope.

Không phải ngẫu nhiên mà những rắc rối hiện tại lại đi song hành và tỷ lệ với mức độ can thiệp và xâm nhập vào đời sống của chúng ta, một hậu quả của sự phát triển không cần thiết và thái quá của chính phủ. Đây là thời điểm để chúng ta nhận ra rằng chúng ta là một quốc gia quá vĩ đại để tự giới hạn mình vào những giấc mơ nhỏ bé. Chúng ta không, như là một số người muốn chúng ta tin, bị hủy diệt trong sự suy thoái tất yếu. Tôi không tin là một định mệnh nào đó sẽ rơi vào chúng ta dù chúng ta có làm gì chăng nữa. Tôi tin là một định mệnh sẽ rơi vào chúng ta nếu chúng ta không làm gì. Vì thế, với năng lực sáng tạo sẵn có, chúng ta hãy bắt đầu một kỷ nguyên tái thiết quốc gia. Chúng ta hãy tái thiết lại quyết tâm, lòng dũng cảm và sức mạnh của mình. Và chúng ta hãy tái thiết lại đức tin và hy vọng của mình.

We have every right to dream heroic dreams. Those who say that we're in a time when there are not heroes, they just don't know where to look. You can see heroes every day going in and out of factory gates. Others, a handful in number, produce enough food to feed all of us and then the world beyond. You meet heroes across a counter, and they're on both sides of that counter. There are entrepreneurs with faith in themselves and faith in an idea who create new jobs, new wealth and opportunity. They're individuals and families whose taxes support the government and whose voluntary gifts support church, charity, culture, art, and education. Their patriotism is quiet, but deep. Their values sustain our national life.

Chúng ta có đầy đủ quyền mơ đến những giấc mơ hào hùng. Những người nói rằng chúng ta đang ở thời điểm không có anh hùng thật sự đã không biết nơi cần nhìn. Các bạn có thể nhìn thấy những người anh hùng hàng ngày đi vào và ra các cổng nhà máy. Những người khác, một con số ít thôi, sản xuất ra đủ lương thực để nuôi tất cả chúng ta và hơn nữa là thế giới bên ngoài. Các bạn có thể gặp những người anh hùng phía bên kia quầy hàng và họ ở cả hai bên của quầy hàng đó. Họ là những thương nhân với niềm tin bản thân và niềm tin trong một ý tưởng ai sẽ tạo ra công ăn việc làm mới, tài sản và cơ hội mới. Họ là những cá nhân và gia đình mà số thuế họ đóng đã giúp duy trì chính phủ và số quà của họ đã giúp duy trì nhà thờ, hội từ thiện, văn hóa, nghệ thuật và giáo dục. Lòng yêu nước của họ là thầm lặng, nhưng sâu. Giá trị của họ giúp duy trì cuộc sống quốc gia của chúng ta.

Now, I have used the words "they" and "their" in speaking of these heroes. I could say "you" and "your," because I'm addressing the heroes of whom I speak—you, the citizens of this blessed land. Your dreams, your hopes, your goals are going to be the dreams, the hopes, and the goals of this administration, so help me God.

Tôi đã sử dụng từ “họ” và “của họ” khi nói về những người anh hùng này. Tôi có thể nói “các bạn” và “của các bạn” bởi vì tôi đang phát biểu với những người anh hùng mà tôi đề cập—các bạn, công dân của miền đất được ban phước. Giấc mơ của các bạn, hy vọng và mục tiêu của các bạn sẽ là giấc mơ, hy vọng và mục tiêu của chính quyền này, xin Chúa giúp tôi.

We shall reflect the compassion that is so much a part of your makeup. How can we love our country and not love our countrymen; and loving them, reach out a hand when they fall, heal them when they're sick, and provide opportunity to make them self-sufficient so they will be equal in fact and not just in theory?

Chúng ta phải phản ánh lòng trắc ẩn, cái rất rõ là một phần bản chất của các bạn. Làm sao chúng ta có thể yêu nước mình mà lại không yêu đồng bào mình; và yêu họ, làm sao có thể không đưa tay khi họ ngã, chữa chạy khi họ ốm yếu và tạo cơ hội cho họ có thể tự lực cánh sinh để họ có thể bình đẳng trên thực tế chứ không chỉ trên lý thuyết?

Can we solve the problems confronting us? Well, the answer is an unequivocal and emphatic "yes." To paraphrase Winston Churchill, I did not take the oath I've just taken with the intention of presiding over the dissolution of the world's strongest economy.

Liệu chúng ta có thể giải quyết được vấn đề khó khăn mà chúng ta đang đối diện? Vâng, câu trả lời là “có thể”, một cách rõ ràng và dứt khoát. Để nhắc lại ý của Winston Churchill, tôi không tuyên thệ với ý định trông nom sự tan rã của nền kinh tế mạnh nhất thế giới.

In the days ahead I will propose removing the roadblocks that have slowed our economy and reduced productivity. Steps will be taken aimed at restoring the balance between the various levels of government. Progress may be slow, measured in inches and feet, not miles, but we will progress. It is time to reawaken this industrial giant, to get government back within its means, and to lighten our punitive tax burden. And these will be our first priorities, and on these principles there will be no compromise.

Trong những ngày tới đây, tôi sẽ đề nghị loại bỏ những rào chắn làm chậm chạp nền kinh tế và kìm hãm năng suất lao động của chúng ta. Sẽ có những bước được tiến hành nhằm mục tiêu khôi phục sự cân bằng giữa các cấp chính quyền. Tiến bộ có thể nhìn thấy chậm, đo bằng in-sơ và fút, [4] chứ không phải là dặm nhưng chúng ta sẽ có tiến bộ. Đây là thời điểm đánh thức lại người khổng lồ công nghiệp này, để chính phủ trở lại trong phạm vi tài chính của nó và giảm nhẹ gánh nặng thuế khóa có tính chất trừng phạt. Đây là những ưu tiên hàng đầu của chúng ta và theo những nguyên tắc này sẽ không có bất kỳ nhượng bộ nào cả.

On the eve of our struggle for independence a man who might have been one of the greatest among the Founding Fathers, Dr. Joseph Warren, president of the Massachusetts Congress, said to his fellow Americans, "Our country is in danger, but not to be despaired of . . . . On you depend the fortunes of America. You are to decide the important questions upon which rests the happiness and the liberty of millions yet unborn. Act worthy of yourselves."

Trong đêm trước của cuộc đấu tranh cho độc lập của chúng ta, một người mà có thể là một trong những người lập quốc vĩ đại nhất, bác sỹ Joseph Warren, chủ tịch lưỡng viện Massachusetts, đã nói với quốc dân đồng bào của mình rằng: “đất nước của chúng ta đang lâm nguy, nhưng không tuyệt vọng... dựa trên niềm tin của các bạn vào tiền đồ của nước Mỹ. Các bạn sẽ quyết định câu hỏi quan trọng nhất, cái nắm trong nó hạnh phúc và tự do của hàng triệu những sinh linh chưa ra đời. Hãy hành động sao cho có ích cho các bạn.”

Well, I believe we, the Americans of today, are ready to act worthy of ourselves, ready to do what must be done to ensure happiness and liberty for ourselves, our children, and our children's children. And as we renew ourselves here in our own land, we will be seen as having greater strength throughout the world. We will again be the exemplar of freedom and a beacon of hope for those who do not now have freedom.

Vâng, tôi tin chúng ta, những công dân Mỹ hôm nay đang sẵn sàng hành động có ích cho bản thân, con và cháu chúng ta. Và khi chúng ta làm mới lại mình trên mảnh đất của mình, chúng ta sẽ được nhìn trên khắp thế giới như đang có sức mạnh lớn hơn. Chúng ta sẽ một lần nữa là tấm gương của tự do và cột mốc của hy vọng cho những ai hiện tại vẫn chưa có tự do.

To those neighbors and allies who share our freedom, we will strengthen our historic ties and assure them of our support and firm commitment. We will match loyalty with loyalty. We will strive for mutually beneficial relations. We will not use our friendship to impose on their sovereignty, for our own sovereignty is not for sale.

Với những nước láng giềng và đồng minh cùng chung giá trị tự do, chúng ta sẽ tăng cường hơn nữa các mối quan hệ lịch sử và bảo đảm với họ sự hỗ trợ và cam kết nghiêm túc của chúng ta. Chúng ta sẽ lấy lòng trung thành tương xứng với lòng trung thành. Chúng ta sẽ nỗ lực cho các mối quan hệ các bên cùng có lợi. Chúng ta sẽ không sử dụng tình bạn hữu để áp đặt lên chủ quyền của họ vì chủ quyền của riêng chúng ta cũng không phải là cái để mua bán.

As for the enemies of freedom, those who are potential adversaries, they will be reminded that peace is the highest aspiration of the American people. We will negotiate for it, sacrifice for it; we will not surrender for it, now or ever.

Đối với những kẻ thù của tự do, với những đối thủ có tiềm lực, họ sẽ được nhắc nhở rằng hòa bình là khát vọng cao nhất của dân tộc Mỹ. Chúng ta sẽ đàm phán cho điều này, hy sinh cho nó; nhưng chúng ta sẽ không đầu hàng cho nó, bây giờ hay bất kỳ bao giờ.

Our forbearance should never be misunderstood. Our reluctance for conflict should not be misjudged as a failure of will. When action is required to preserve our national security, we will act. We will maintain sufficient strength to prevail if need be, knowing that if we do so we have the best chance of never having to use that strength.

Sự nhẫn nhịn của chúng ta không nên được hiểu lầm. Sự dè dặt của chúng ta đối với xung đột không nên được đánh giá là thất bại của ý chí. Khi được yêu cầu hành động để gìn giữ an ninh của chúng ta, chúng ta sẽ hành động. Chúng ta sẽ duy trì đủ sức mạnh để chiến thắng khi cần, và hiểu rằng nếu chúng ta làm thế, chúng ta đã có cơ hội tốt nhất để không phải sử dụng đến sức mạnh đó.

Above all, we must realize that no arsenal or no weapon in the arsenals of the world is so formidable as the will and moral courage of free men and women. It is a weapon our adversaries in today's world do not have. It is a weapon that we as Americans do have. Let that be understood by those who practice terrorism and prey upon their neighbors.

Trên hết, chúng ta phải nhận thấy rằng không đạn dược hay vũ khí nào trong các kho vũ khí trên thế giới đáng sợ hơn ý chí và lòng can đảm bắt nguồn từ đạo đức của những người tự do. Nó là vũ khí mà đối thủ của chúng ta trong thế giới hôm nay không có. Nó là vũ khí mà chúng ta, những người Mỹ, có. Hãy để điều này cho những kẻ đang tiến hành khủng bố và truy đuổi hàng xóm của mình hiểu.

I'm told that tens of thousands of prayer meetings are being held on this day, and for that I'm deeply grateful. We are a nation under God, and I believe God intended for us to be free. It would be fitting and good, I think, if on each Inaugural Day in future years it should be declared a day of prayer.

Tôi được biết rằng hàng chục nghìn các buổi lễ cầu nguyện đang được tiến hành hôm nay và vì thế tôi thấy rất biết ơn. Chúng ta là một quốc gia được che chở bởi Chúa trời và tôi tin rằng ý người muốn chúng ta tự do. Tôi nghĩ sẽ thật phù hợp và thật phước lành nếu ngày nhậm chức trong tương lai được tuyên bố là ngày cầu nguyện.

This is the first time in our history that this ceremony has been held, as you've been told, on this West Front of the Capitol. Standing here, one faces a magnificent vista, opening up on this city's special beauty and history. At the end of this open mall are those shrines to the giants on whose shoulders we stand.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta, nghi lễ nhậm chức được tổ chức, như các bạn được biết, tại mặt Tây của tòa nhà Quốc hội. Đứng ở đây, người ta trực diện với quang cảnh nguy nga, mở ra vẻ đẹp và lịch sử đặc biệt của thành phố. Nằm cuối con đường mở này là khu thánh tích của những người khổng lồ, những người mà chúng ta đang đứng trên vai họ.

Directly in front of me, the monument to a monumental man, George Washington, father of our country. A man of humility who came to greatness reluctantly. He led America out of revolutionary victory into infant nationhood. Off to one side, the stately memorial to Thomas Jefferson. The Declaration of Independence flames with his eloquence. And then, beyond the Reflecting Pool, the dignified columns of the Lincoln Memorial. Whoever would understand in his heart the meaning of America will find it in the life of Abraham Lincoln.

Ngay đối diện với tôi là tượng đài mang tên người đàn ông vĩ đại, George Washington, người lập quốc. Người đàn ông khiêm nhường trở nên vĩ đại một cách bất đắc dĩ. Ông đã lãnh đạo người dân Mỹ từ cuộc chiến thắng cách mạng đến khi thành lập quốc gia non trẻ của chúng ta. Xa về một phía là nhà tưởng niệm Thomas Jefferson trang nghiêm. Bản tuyên ngôn độc lập của chúng ta cháy sáng với tài hùng biện của người. Và sau Hồ phản chiếu là dãy cột tôn kính của nhà tưởng niệm Lincoln. Bất cứ ai muốn hiểu bằng trái tim mình ý nghĩa của nước Mỹ sẽ tìm thấy câu trả lời tại tiểu sử của Abraham Lincoln.

Beyond those monuments to heroism is the Potomac River, and on the far shore the sloping hills of Arlington National Cemetery, with its row upon row of simple white markers bearing crosses or Stars of David. They add up to only a tiny fraction of the price that has been paid for our freedom.

Sau những tượng đài của chủ nghĩa anh hùng là sông Potomac và sâu về phía đất liền là những quả đồi dốc của Nghĩa trang quốc gia Arlington với hàng nối hàng các mộ chí có màu trắng giản dị và mang trên mình nó dấu thánh giá hay Ngôi sao David. [5] Những ngôi mộ này chỉ là một phần nhỏ của cái giá chúng ta đã trả cho tự do của mình. Mỗi một ngôi mộ là một tượng đài của chủ nghĩa anh hùng tôi nói trên đây.

Each one of those markers is a monument to the kind of hero I spoke of earlier. Their lives ended in places called Belleau Wood, The Argonne, Omaha Beach, Salerno, and halfway around the world on Guadalcanal, Tarawa, Pork Chop Hill, the Chosin Reservoir, and in a hundred rice paddies and jungles of a place called Vietnam.

Cuộc đời của họ kết thúc tại những nơi mang tên rừng Belleau, [6] rừng Argonne, [7] bờ biển Omaha, [8] vịnh Salerno, [9] và cách đó một nửa vòng trái đất là tại đảo Guadalcanal, [10] Tawara, [11] tiền đồn Pork Chop Hill, [12] đập giữ nước Chosin, [13] và trong hàng trăm cánh đồng hay rừng rậm của nơi mang tên Việt Nam.

Under one such marker lies a young man, Martin Treptow, who left his job in a small town barbershop in 1917 to go to France with the famed Rainbow Division. There, on the western front, he was killed trying to carry a message between battalions under heavy artillery fire.

Trong một ngôi mộ đó có thanh niên Martin Treptow, người đã rời bỏ công việc thợ cắt tóc tại một thị trấn nhỏ để đến Pháp và gia nhập vào sư đoàn Cầu vồng danh tiếng năm 1917. Ở đó, tại mặt trận miền Tây, anh đã hy sinh trong khi cố gắng chuyển bức điện cho tiểu đoàn khác dưới làn bom đạn ác liệt.

We're told that on his body was found a diary. On the flyleaf under the heading, "My Pledge," he had written these words: "America must win this war. Therefore I will work, I will save, I will sacrifice, I will endure, I will fight cheerfully and do my utmost, as if the issue of the whole struggle depended on me alone."

Chúng ta đã tìm thấy trên thi thể của anh một cuốn nhật ký. Tại trang 3, dưới dòng tiêu đề “Lời thề”, anh đã viết những câu sau: “Nước Mỹ phải chiến thắng trong cuộc chiến này. Vì thế tôi sẽ làm việc, sẽ cứu giúp, sẽ hy sinh, sẽ chịu đựng, sẽ sẵn lòng chiến đấu và làm hết sức mình, như thể công việc của toàn bộ cuộc chiến này dựa vào mình tôi.”

The crisis we are facing today does not require of us the kind of sacrifice that Martin Treptow and so many thousands of others were called upon to make. It does require, however, our best effort and our willingness to believe in ourselves and to believe in our capacity to perform great deeds, to believe that together with God's help we can and will resolve the problems which now confront us.

Cuộc khủng hoảng chúng ta đang đối diện hôm nay không yêu cầu chúng ta phải hy sinh như kiểu của Martin Treptow và nhiều ngàn chiến sỹ khác. Tuy nhiên, nó yêu cầu chúng ta có nỗ lực cao nhất và niềm tin vào bản thân và niềm tin vào khả năng thực hiện những công việc vĩ đại, niềm tin rằng cùng với ơn Chúa chúng ta có thể và sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn đang ở trước mặt chúng ta.

And after all, why shouldn't we believe that? We are Americans.

Và xét cho cùng thì tại sao chúng ta lại không tin vào điều đó? Chúng ta là những người Mỹ.

God bless you, and thank you.

Chúa phù hộ các bạn và cám ơn các bạn!

Note: The President spoke at 12 noon from a platform erected at the West Front of the Capitol. Immediately before the address, the oath of office was administered by Chief Justice Warren E. Burger.

In his opening remarks, the President referred to Rev. Donn D. Moomaw, senior pastor, Bel Air Presbyterian Church, Los Angeles, California.

The address was broadcast live on radio and television.

Chú thích: Tổng thống phát biểu lúc 12 giờ trưa từ một bục phát biểu dựng ở phía Tây tòa nhà Capitol. Ngay trước khi đọc diễn văn, lễ tuyên thệ nhậm chức được điều hành bởi Chánh án Warren E. Burger.

Trong bài phát biểu khai mạc, Tổng thống đề cập đến Rev Donn D. Moomaw, mục sư cao cấp, Bel Air Giáo hội Trưởng lão, Los Angeles, California.

Diễn văn được phát sóng trực tiếp trên đài phát thanh và truyền hình.


Translated by Thanh Khê


[1]Câu nói trong diễn văn nhậm chức của tổng thống Kennedy ngày 20 tháng 1 năm 1961. Nguyên văn “ask not what your country can do for you—ask what you can do for your country.” Sang Việt Nam không hiểu chuyển ngữ thế nào mà trợ động từ “có thể” ở thì tương lai biến thành “đã” ở thì quá khứ. Tức là: “đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho Tổ quốc.”

[2]Lưu ý: có thể bài diễn văn đăng trên trang web này mang một lỗi đánh máy nhỏ. Đó là “... Arlington National Cemetery, with its row upon row of simple white markers bearing crosses of Stars of David.” Tham khảo một số tài liệu khác thì đoạn này được viết là “… Arlington National Cemetery, with its row upon row of simple white markers bearing crosses or Stars of David.” Dịch giả đã lựa chọn nguồn tài liệu thứ hai này vì thấy nó phù hợp hơn.

[3]Cụm từ mở đầu của Hiến pháp Mỹ (ND).

[4]Những đơn vị đo lường theo hệ thống Anh – Mỹ (ND).

[5]Ngôi sao David (hay còn gọi Ngôi sao Do thái) là ngôi sao biểu tượng cho chủ nghĩa hay bản sắc Do thái. Ngôi sao này nằm trong cờ Israel (ND).

[6]Nằm tại thị trấn Chateau-Thierry phía bắc nước Pháp. Nơi đây xảy ra giao tranh giữa quân Mỹ, với tư cách quân đồng minh, và Đức trong chiến tranh thế giới lần I vào năm 1918 (ND).

[7]Giao tranh khác giữa Mỹ và Đức năm 1918 tại Pháp (ND).

[8]Một điểm đổ bộ của quân Mỹ trong các đợt đổ bộ Normandy tại Pháp trong chiến tranh thế giới lần II vào năm 1944 (ND).

[9]Thành phố miền nam nước Ý (ND).

[10]Đảo lớn nhất trong quần đảo Solomon phía Nam Thái Bình Dương. Trong 2 năm 1942 – 1943 quân Mỹ và Nhật giao tranh dữ dội để chiếm đảo này và cuối cùng phần thắng thuộc về Mỹ (ND).

[11]Thủ đô của Kiribati Tây Thái Bình Dương. Cũng trong hai năm 42 và 43 thế kỷ trước Mỹ đã giao tranh và chiến thắng trước Nhật tại đây (ND).

[12]Một địa danh tại Triều Tiên trong cuộc chiến tranh Nam – Bắc Triều Tiên (ND).

[13]Nơi diễn ra giao tranh giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên tại miền Bắc Triều Tiên (ND).



http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=43130#axzz1gFapqwq3



PROCLAMATION 2667 OF SEPTEMBER 28, 1945 POLICY OF THE UNITED STATES WITH RESPECT TO THE NATURAL RESOURCES OF THE SUBSOIL AND SEA BED OF THE CONTINENTA




PROCLAMATION 2667 OF SEPTEMBER 28, 1945 POLICY OF THE UNITED STATES WITH RESPECT TO THE NATURAL RESOURCES OF THE SUBSOIL AND SEA BED OF THE CONTINENTAL SHELF

TUYÊN BỐ 2667 NGÀU 28 THÁNG 9 NĂM 1945 CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN DƯỚI ĐÁY BIỂN VÀ THỀM LỤC ĐỊA
Acronym: Truman Proclamation
Viết tắt: Tuyên bố Truman
Citation: 10 Fed. Reg. 12,305 (1945).
Trích yếu: 10 Fed. Reg. 12,305 (1945).
Codified as Executive Order 9633 of September 28, 1945.
Luật hóa thành Sắc lệnh 9633 ngày 28 tháng 9 năm 1945.
Executive Purpose:
The Proclamation and Order extend U.S. jurisdiction over the submerged lands and subsoil of the Outer
Continental Shelf.

Mục đích điều hành
Công bố và Sắc lệnh này mở rộng thẩm quyền của Mỹ trên các vùng đất ngập nước và lòng đất thuộc các thềm lục địa ngoài.
Summary:
The Truman Proclamation extends the U.S. claim to submerged lands and offshore resources of the Outer Continental Shelf (OCS) in the interest of conservation and prudent development of the natural resources of the seabed. For administrative purposes, it places the natural resources of the subsoil and sea bed of the continental shelf under the control of the Secretary of the Interior. When the continental shelf extends to waters that are controlled by another state, the boundaries of the jurisdiction and control are to be negotiated and settled between the United States and the other state.

Tóm tắt:
Tuyên bố Truman mở rộng tuyên bố chủ quyền của Hoa Kỳ đến những vùng đất ngập nước và tài nguyên ngoài khơi của thềm lục địa ngoài (OCS) nhằm quan tâm bảo tồn và phát triển thận trọng nguồn tài nguyên thiên nhiên của đáy biển. Đối với mục đích hành chính, tuyên bố đặt các nguồn tài nguyên tự nhiên của lòng đất, đáy biển thềm lục địa dưới sự kiểm soát của Bộ trưởng Nội vụ. Khi các thềm lục địa mở rộng vùng biển được kiểm soát bởi nhà nước khác, ranh giới của thẩm quyền và kiểm soát được đàm phán và giải quyết giữa Hoa Kỳ và nhà nước khác.
The Truman Proclamation was codified by the Outer Continental Shelf Lands Act (OCSLA) which affirmed the United States’ exclusive jurisdiction over its continental shelf resources and created authority for the Department of the Interior to encourage discover and development of oil through a leasing program. The Proclamation specifically retains the right to free and unimpeded navigation on the high seas of the waters above the continental shelf.


Tuyên bố Truman đã được soạn theo Luật về đất thềm lục địa ngoài (OCSLA) khẳng định quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ về tài nguyên thềm lục địa của nó và tạo ra quyền cho Sở Nội vụ để khuyến khích khám phá và phát triển dầu mỏ thông qua một chương trình cho thuê. Tuyên bố đặc biệt giữ lại quyền tự do hàng hải và không bị cản trở trên biển của vùng nước phía trên thềm lục địa.
This proclamation was issued at the same time as Proclamation 2668 entitled the “Policy of the United
States with Respect to Coastal Fisheries in Certain Areas of the High Seas” and they are often referred to together as the “Truman Proclamations.” Although the development of the proclamations and Executive
Order substantially occurred under President Roosevelt, it was issued under President Truman and is known under his name.


Tuyên bố này đã được ban hành cùng một lúc với Tuyên bố 2668 tựa đề "Chính sách của HoaKỳ về Thuỷ sản ven biển tại một số khu vực biển khơi" và họ thường được gọi là "Tuyên bố Truman". Mặc dù sự phát triển của Tuyên bố và Sắc lênh này diễn raphần lớn dưới thời Tổng thống Roosevelt nhưng nó đã được ban hành dưới thời Tổng thống Truman nên được gọi theo tên tổng thống Truman.
FEDERAL REGISTER Proclamation 2667 of September 28, 1945
Title 3 - The President Continental Shelf of United States 64 Fed. Reg. 48,701 September 28, 1945
A Proclamation Policy of the United States with Respect to the National Resources of the Subsoil and Sea Bed of the Continental Shelf


ĐĂNG KÝ LIÊN BANG Tuyên bố 2667 ngày 28 tháng 9 năm 1945
Tiêu đề 3 – Tuyên bố của Tổng thống về thềm lục địa của Hoa Kỳ 64 Fed. Reg. 48701 ngày 28 năm 1945
Chính sách của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa.
WHEREAS the Government of the United States of America, aware of the long range world-wide need
for new sources of petroleum and other minerals holds the view that efforts to discover and make available new supplies of these resources should be encouraged; and
XÉT RẰNG Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với nhận thức về nhu cầu dài hạn của toàn thế giới đối với các nguồn dầu khí và khoáng sản, giữ quan điểm rằng những nỗ lực khám phá và tạo ra các nguồn dự trữ mới của các nguồn tài nguyên này cần được khuyến khích và


WHEREAS its competent experts are of the opinion that such resources underlie many parts of the continental shelf off the coasts of the United States of America, and the with modern technological progress their utilization is already practicable or will become so at an early date and;
NHẬN THẤY RẰNG các chuyên gia có thẩm quyền của Hoa Kỳ cho rằng các nguồn tài nguyên đó nằm dưới rất nhiều tầng của thềm lục địa ngoài bờ biển của Hoa Kỳ, và với sự tiến bộ của công nghệ hiện đại thì việc sử dụng các nguồn tài nguyên này có thể thực hiện được hoặc sẽ trở thành như vậy vào một ngày không xa;


WHEREAS recognized jurisdiction over these resources is required in the interest of their conservation and prudent utilization when and as development is undertaken; and
Ý THỨC RẰNG việc công nhận thẩm quyền đối với các nguồn tài nguyên này là cần thiết vì lợi ích của việc bảo tồn và sử dụng thận trọng chúng ngay khi chúng được phát hiện; và


WHEREAS it is the view of the Government of the United States that the exercise of jurisdiction over the natural resources of the subsoil and sea bed of the continental shelf by the contiguous nation is reasonable and just, since the effectiveness of measures to utilize or conserve these resources would be contingent upon cooperation and protection from the shore, since the continental shelf may be regarded as an extension of the land-mass of the coastal nation and thus naturally appurtenant to it, since these resources frequently form a seaward extension of a pool or deposit lying within the territory, and since self-protection compels the coastal nation to keep close watch over activities off its shores which are of the nature necessary for utilization of these resources;


XÉT THẤY RẰNG Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho rằng việc thực hiện thẩm quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên của lòng đất, đáy biển của thềm lục địa bởi quốc gia ven biển kế cận là hợp lý và công bằng, vì hiệu quả của các biện pháp sử dụng hoặc bảo tồn các nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác và bảo vệ từ phía đất liền, vì thềm lục địa được coi như sự mở rộng lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển và do vậy gắn liền một cách tự nhiên vào các quốc gia này, vì những nguồn tài nguyên này thường xuyên tạo thành một phần mở rộng hướng ra biển của một mỏ dầu hoặc mỏ khoáng sản nằm trong phạm vi lãnh thổ, và vì vấn đề tự vệ buộc các quốc gia ven biển phải kiểm soát chặt chẽ các hoạt động ngoài khơi vốn mang tính cần thiết cho việc tận dụng các nguồn tài nguyên này;
NOW THEREFORE. I, HARRY S. TRUMAN, President of the United States of America, do hereby
proclaim the following policy of the United States of America with respect to the natural resources of the subsoil and sea bed of the continental shelf.


Do đó, bây giờ, Tôi, Harry S. Truman, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, công bố chính sách sau đây của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa.
Having concern for the urgency of conserving and prudently utilizing its natural resources, the Government of the United States regards the natural resources of the subsoil and sea bed of the continental shelf beneath the high seas but contiguous to the coasts of the United States, subject to jurisdiction and control. In cases where the continental shelf extends to the shores of another State, or is shared with an adjacent State, the boundary shall be determined by the United States and the Sate concerned in accordance with equitable
principles. The character as high seas of the waters above the continental shelf and the right to their free and unimpeded navigation are in no way thus affected.
Nhận thấy tính cấp thiết đối với việc bảo tồn và sử dụng một cách thận trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ coi các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đáy biển lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa, nhưng tiếp giáp với bờ biển của Hoa Kỳ thuộc về Hoa Kỳ, thuộc thẩm quyền và kiểm soát của Hoa Kỳ. Trong trường hợp thềm lục địa kéo dài tới bờ biển của một quốc gia khác, hoặc là chồng lấn với quốc gia lân cận, ranh giới sẽ được xác định bởi Hoa Kỳ và quốc gia có liên quan phù hợp với nguyên tắc công bằng. Đặc tính biển cả của các vùng nước nằm phía trên thềm lục địa cũng như quyền hàng hải tự do và không bị cản trở qua các vùng biển đó sẽ không hề bị ảnh hưởng.


IN WITNESS WHEREOF, I have hereunto set my hand and caused the seal of the United States of America to be affixed.
DONE at the City of Washington this 28th day of September, in the year of our Lord nineteen hundred and forty-five, and of the Independence of the United States of America on the one hundred and Seventieth Anniversary.
HARRY S. TRUMAN
TRƯỚC SỰ CHỨNG KIẾN TẠI ĐÂY, tôi đã đặt tay và đóng con dấu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ lên văn bản này.
THỰC HIỆN tại thành phố Washington ngày 28 tháng Chín, năm 1945, và lần độc lập thứ 170 của Hoa Kỳ.


Harry S.Truman








Saturday, December 10, 2011

THINK AGAIN: WAR Nghĩ lại về chiến tranh


THINK AGAIN: WAR

Nghĩ lại về chiến tranh

World peace could be closer than you think

Hòa bình thế giới có thể gần hơn bạn nghĩ

JOSHUA S. GOLDSTEIN

JOSHUA S. GOLDSTEIN



"The World Is a More Violent Place Than It Used to Be."

"Thế giới ngày nay là nơi nhiều bạo lực hơn trước?"

No way. The early 21st century seems awash in wars: the conflicts in Afghanistan and Iraq, street battles in Somalia, Islamist insurgencies in Pakistan, massacres in the Congo, genocidal campaigns in Sudan. All in all, regular fighting is taking place in 18 wars around the globe today. Public opinion reflects this sense of an ever more dangerous world: One survey a few years ago found that 60 percent of Americans considered a third world war likely. Expectations for the new century were bleak even before the attacks of Sept. 11, 2001, and their bloody aftermath: Political scientist James G. Blight and former U.S. Defense Secretary Robert McNamara suggested earlier that year that we could look forward to an average of 3 million war deaths per year worldwide in the 21st century.

Không hề. Đầu thế kỷ 21 dường như ngập trong những cuộc chiến tranh: Những cuộc xung đột ở Afghanistan và Iraq, những trận đánh trên đường phố ở Somalia, người Islamist nổi dậy ở Pakistan, những vụ tàn sát ở Congo, những chiến dịch diệt chủng ở Sudan. Nhìn chung, ngày nay đánh nhau diễn ra liên miên trong 18 cuộc chiến tranh trên khắp toàn cầu. Công luận nghĩ về chiều hướng này như một thế giới nguy hiểm hơn bao giờ hết: trong cuộc điều tra ý kiến cách đây mấy năm, 60 phần trăm người Mỹ coi chiến tranh thế giới thứ ba là có thể xảy ra. Những hy vọng cho một thế kỷ mới là ảm đạm thậm chí trước cả những cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín 2001 và hậu quả đẫm máu của nó: nhà khoa học chính trị James G. Blight và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara hồi đầu năm ấy cho rằng chúng ta có thể đợi thấy trên toàn thế giới trung bình mỗi năm 3 triệu người chết vì chiến tranh trong thế kỷ 21.

So far they haven't even been close. In fact, the last decade has seen fewer war deaths than any decade in the past 100 years, based on data compiled by researchers Bethany Lacina and Nils Petter Gleditsch of the Peace Research Institute Oslo. Worldwide, deaths caused directly by war-related violence in the new century have averaged about 55,000 per year, just over half of what they were in the 1990s (100,000 a year), a third of what they were during the Cold War (180,000 a year from 1950 to 1989), and a hundredth of what they were in World War II. If you factor in the growing global population, which has nearly quadrupled in the last century, the decrease is even sharper. Far from being an age of killer anarchy, the 20 years since the Cold War ended have been an era of rapid progress toward peace.

Cho đến nay chúng vẫn chưa kết thúc. Thật ra thập kỷ vừa qua đã thấy số người chết vì chiến tranh ít hơn bất kỳ thập kỷ nào khác trong vòng 100 năm qua, dựa trên những số liệu do các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo, Bethany Lacina và Nils Petter Gleditsch, biên soạn. Trên toàn thế giới những cái chết gây ra bởi bạo lực trực tiếp liên quan đến chiến tranh trong thế kỷ mới trung bình là 55.000 người một năm, chỉ bằng nửa con số những năm 1990 (100.000 người mỗi năm) một phần ba con số của chiến tranh lạnh (180.000 mỗi năm từ 1950 đến 1989) và một phần trăm trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Nếu bạn tính đến sự tăng dân số toàn cầu, trong thế kỷ qua tăng gần gấp bốn lần, thì sự giảm tỉ lệ còn mạnh hơn nữa. Khác xa với một thời đại chém giết vô chính phủ, hai mươi năm sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt đã là một thời đại tiến bộ nhanh chóng đạt tới hòa bình.

Armed conflict has declined in large part because armed conflict has fundamentally changed. Wars between big national armies all but disappeared along with the Cold War, taking with them the most horrific kinds of mass destruction. Today's asymmetrical guerrilla wars may be intractable and nasty, but they will never produce anything like the siege of Leningrad. The last conflict between two great powers, the Korean War, effectively ended nearly 60 years ago. The last sustained territorial war between two regular armies, Ethiopia and Eritrea, ended a decade ago. Even civil wars, though a persistent evil, are less common than in the past; there were about a quarter fewer in 2007 than in 1990.

Xung đột vũ trang đã giảm phần lớn bởi vì xung đột vũ trang đã thay đổi về cơ bản. Những cuộc chiến tranh giữa các nước thù địch lớn gần như đã biến mất cùng với Chiến tranh Lạnh, mang đi theo chúng các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khủng khiếp. Ngày nay những cuộc chiến tranh du kích không cân sức có thể là khó trị và hiểm ác, nhưng chúng sẽ không bao giờ còn tạo ra những gì giống như cuộc bao vây Leningrad. Cuộc xung đột cuối cùng giữa hai cường quốc lớn, Chiến tranh Triều Tiên, thật sự đã kết thúc cách nay gần 60 năm. Cuộc chiến tranh khủng bố kéo dài liên tục giữa hai kẻ thù truyền kiếp, Ethiopia và Eritrea, đã kết thúc cách nay một thập kỷ. Ngay cả các cuộc nội chiến, mặc dầu là tai họa dai dẳng, cũng ít thường xuyên hơn so với trong quá khứ; năm 2007 ít hơn một phần tư so với năm 1990.

If the world feels like a more violent place than it actually is, that's because there's more information about wars -- not more wars themselves. Once-remote battles and war crimes now regularly make it onto our TV and computer screens, and in more or less real time. Cell-phone cameras have turned citizens into reporters in many war zones. Societal norms about what to make of this information have also changed. As Harvard University psychologist Steven Pinker has noted, "The decline of violent behavior has been paralleled by a decline in attitudes that tolerate or glorify violence," so that we see today's atrocities -- though mild by historical standards -- as "signs of how low our behavior can sink, not of how high our standards have risen."

Nếu thế giới cho ta cảm giác có nhiều bạo lực hơn thực tế, vì rằng chính nó có nhiều thông tin hơn về chiến tranh – chứ không phải có nhiều cuộc chiến tranh hơn. Những cuộc chiến và những tội ác chiến tranh xưa kia ở những nơi xa xôi thì nay thường xuyên xuất hiện trên TV và trên màn hình máy tính của chúng ta, và ít nhiều gần với thời gian chúng xảy ra trong thực tế. Máy ảnh trên điện thoại di động đã biến các công dân thành những phóng viên trong nhiều vùng chiến sự. Những qui phạm xã hội về việc tạo ra cái gì từ những thông tin ấy cũng đã thay đổi. Như nhà tâm lý học Steven Pinker đã nhận xét, "Việc giảm hành vi bạo lực diễn ra song song với sự suy giảm trong thái độ dung túng hoặc tôn vinh bạo lực," do đó chúng ta thấy tính hung bạo ngày nay – dù đã mềm đi bởi những tiêu chuẩn lịch sử - như những dấu hiệu về cách hành xử của chúng ta đã tụt xuống thấp đến thế nào, không phải những tiêu chuẩn của chúng ta đã được nâng lên đến mức nào."

"America Is Fighting More Wars Than Ever."

"Nước Mỹ đang đánh nhiều cuộc chiến tranh hơn bao giờ hết"

Yes and no. Clearly, the United States has been on a war footing ever since 9/11, with a still-ongoing war in Afghanistan that has surpassed the Vietnam War as the longest conflict in American history and a pre-emptive war in Iraq that proved to be longer, bloodier, and more expensive than anyone expected. Add the current NATO intervention in Libya and drone campaigns in Pakistan, Somalia, and Yemen, and it's no wonder that U.S. military spending has grown more than 80 percent in real terms over the last decade. At $675 billion this year, it's now 30 percent higher than what it was at the end of the Cold War.

Đúng và không. Rõ ràng là Hoa Kỳ đã bước vào một tình trạng chiến tranh kể từ sự kiện11/9, với một cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn ở Afghanistan đã vượt qua Chiến tranh Việt Nam như cuộc xung đột dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, và cuộc chiến tranh chặn trước ở Iraq tỏ ra còn kéo dài hơn, đẫm máu hơn và tốn kém hơn chờ đợi của bất cứ ai. Cộng thêm sự can thiệp hiện tại của NATO vào Libya và những cuộc xâm phạm của máy bay không người lái vào Pakistan, Somalia, và Yemen, và không có gì đáng ngạc nhiên rằng chi phí quân sự của Mỹ đã tăng lên hơn 80% theo giá thực trong thập kỷ qua. Với 675 tỉ $ năm nay, nó đã cao hơn 30% so với cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

But though the conflicts of the post-9/11 era may be longer than those of past generations, they are also far smaller and less lethal. America's decade of war since 2001 has killed about 6,000 U.S. service members, compared with 58,000 in Vietnam and 300,000 in World War II. Every life lost to war is one too many, but these deaths have to be seen in context: Last year more Americans died from falling out of bed than in all U.S. wars combined.

Nhưng mặc dầu những cuộc xung đột của thời kỳ sau ngày 11/9 có thể dài hơn những cuộc xung đột của các thế hệ trước, chúng cũng nhỏ hơn nhiều và làm chết ít người hơn. Một thập kỷ chiến tranh của Mỹ kể từ 2001 đã giết chết khoảng 6.000 người so với 58.000 ở Việt Nam và 300.000 trong Thế Chiến II. Mỗi cuộc đời mất đi vì chiến tranh là tổn thất quá lớn, nhưng những cái chết ấy phải được nhìn trong bối cảnh: Năm ngoái số người Mỹ chết do ngã từ trên giường xuống nhiều hơn trong tất cả các cuộc chiến tranh của Mỹ cộng lại.|1|


[1] Đây là một căn bệnh về rối loạn giấc ngủ, người bệnh ngã từ trên giường xuống trong khi ngủ.

And the fighting in Iraq and Afghanistan has taken place against a backdrop of base closures and personnel drawdowns elsewhere in the world. The temporary rise in U.S. troop numbers in South Asia and the Middle East, from 18,000 to 212,000 since 2000, contrasts with the permanent withdrawal of almost 40,000 troops from Europe, 34,000 from Japan and South Korea, and 10,000 from Latin America in that period. When U.S. forces come home from the current wars -- and they will in large numbers in the near future, starting with 40,000 troops from Iraq and 33,000 from Afghanistan by 2012 -- there will be fewer U.S. troops deployed around the world than at any time since the 1930s. President BarackObama was telling the truth in June when he said, "The tide of war is receding."

Và cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan đã diễn ra trong bối cảnh đóng cửa các căn cứ và rút bớt nhân viên ở các nơi khác trên thế giới. Việc tăng tạm thời quân số Hoa Kỳ ở Nam Á và Trung Đông, từ 18.000 lên 212.000 từ năm 2000 đi ngược với việc rút vĩnh viễn gần 40.000 quân khỏi châu Âu, 34.000 khỏi Nhật Bản và Nam Triều Tiên, và 10.000 khỏi châu Mỹ Latin trong thời kỳ này. Khi các lực lượng Mỹ về nhà từ những cuộc chiến tranh hiện tại – và một số lớn họ sẽ về trong tương lai gần, bắt đầu từ 40.000 lính từ Iraq và 33.000 từ Afghanistan vào năm 2012 – số lính Mỹ được triển khai trên toàn thế giới sẽ ít hơn bất kỳ thời gian nào kể từ những năm 1930. Tháng Sáu Tổng thống Barack Obama đã đúng khi ông nói "Cơn thủy triều chiến tranh đang rút xuống."

"War Has Gotten More Brutal for Civilians."

Hardly. In February 2010, a NATO airstrike hit a house in Afghanistan's Marja district, killing at least nine civilians inside. The tragedy drew condemnation and made the news, leading the top NATO commander in the country to apologize to Afghan President Hamid Karzai. The response underscored just how much has changed in war. During World War II, Allied bombers killed hundreds of thousands of civilians in Dresden and Tokyo not by accident, but as a matter of tactics; Germany, of course, murdered civilians by the millions. And when today's civilians do end up in harm's way, more people are looking out for them. The humanitarian dollars spent per displaced person rose in real terms from $150 in the early 1990s to $300 in 2006. Total international humanitarian assistance has grown from $2 billion in 1990 to $6 billion in 2000 and (according to donor countries' claims) $18 billion in 2008. For those caught in the crossfire, war has actually gotten more humane.

"Chiến tranh đã man rợ hơn đối với dân thường?"

Khắc nghiệt hơn. Tháng Hai 2010, một máy bay không kích của NATO bắn trúng một ngôi nhà ở quận Marja của Afghanistan, giết ít nhất chín thường dân trong ngôi nhà đó. Tấn thảm kịch đó đã kéo theo lời buộc tội và tạo nên tin tức, dẫn đến chỉ huy tối cao của NATO trong nước này phải xin lỗi Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai. Phản ứng này cho thấy rõ chiến tranh đã thay đổi như thế nào. Trong Thế Chiến II, quân đồng minh ném bom giết hàng trăm nghìn dân thường ở Dresden và Tokyo không phải do tình cờ, mà là một vấn đề chiến thuật; Đức, tất nhiên, giết hàng triệu dân thường. Và ngày nay khi dân thường gặp nguy hiểm, thì có nhiều người lo lắng cho họ hơn. Số tiền nhân đạo chi cho việc sơ tán tính theo đầu người đã lên theo giá thực từ 150 $ vào đầu những năm 1990 đến 300$ vào năm 2006. Tổng số viện trợ nhân đạo quốc tế đã tăng từ 2 tỉ $ năm 1990 lên 6 tỉ $ năm 2000 (theo tuyên bố của các nước viện trợ) và 18 tỉ $ năm 2008. Đối với những người bị kẹt trong cảnh giao tranh, chiến tranh ngày nay đã nhân đạo hơn trước.

Yet many people insist that the situation is otherwise. For example, authoritative works on peacekeeping in civil wars (Roland Paris's award-winning At War's End and Michael Doyle and Nicholas Sambanis's Making War and Building Peace), as well as gold-standard reports on conflict from the World Bank and the Carnegie Commission on Preventing Deadly Conflict, tell us that 90 percent of today's war deaths are civilian while just 10 percent are military -- the reverse of a century ago and "a grim indicator of the transformation of armed conflict" in the late 20th century, as political scientist Kalevi Holsti put it.

Tuy nhiên nhiều người vẫn khăng khăng cho rằng tình hình là ngược lại. Chẳng hạn, các công trình có căn cứ vững chắc về gìn giữ hòa bình trong các cuộc nội chiến (công trình được giải thưởng của Roland Paris Vào lúc kết thúc chiến tranh và Chiến tranh và Xây dựng Hòa bình của Michael Doyle và Nicholas Sambanis) cũng như những báo cáo tiêu-chuẩn-vàng về xung đột từ Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Carnegie về Phòng ngừa Xung đột Chết người, cho chúng ta biết 90 phần trăm những người chết trong các cuộc chiến tranh ngày nay là thường dân trong khi mười phần trăm là quân đội – nghịch đảo với cách đây một thế kỷ và "một dấu chỉ độc ác về sự biến dạng của xung đột vũ trang" cuối thế kỷ 20, như nhà khoa học chính trị Kalevi Holsti diễn tả.

Grim indeed -- but, fortunately, untrue. The myth originates with the 1994 U.N. Human Development Report, which misread work that Swedish researcher Christer Ahlström had done in 1991 and accidentally conflated war fatalities in the early 20th century with the much larger number of dead, wounded, and displaced people in the late 20th century. A more careful analysis done in 1989 by peace researcher William Eckhardt shows that the ratio of military to civilian war deaths remains about 50-50, as it has for centuries (though it varies considerably from one war to the next). If you are unlucky enough to be a civilian in a war zone, of course, these statistics are little comfort. But on a worldwide scale, we are making progress in helping civilians afflicted by war.

Tất nhiên là độc ác – nhưng may mắn là nó không đúng. Huyền thoại này xuất phát từ Báo cáo Phát triển con người của LHQ năm 1994, nó đã hiểu sai công trình mà nhà nghiên cứu Thụy điển Christer Ahlström đã làm năm 1991 và ảnh hưởng nguy hại của chiến tranh vào đầu thế kỷ 20 được cô đúc lại một cách ngẫu nhiên với số người chết, bị thương và phải tản cư nhiều hơn nhiều ở cuối thế kỷ 20. Một phân tích thận trọng hơn năm 1999 của nhà nghiên cứu William Eckhardt cho thấy tỉ lệ quân đội chết so với dân thường là 50-50, như trong nhiều thế kỷ (mặc dầu có sự khác nhau giữa các cuộc chiến tranh). Nếu bạn không may là một dân thường trong một vùng chiến sự thì tất nhiên những thống kê này không dễ chịu cho lắm. Nhưng trên quy mô toàn thế giới, chúng ta đang có tiến bộ trong việc giúp cho những người dân thường bị hại vì chiến tranh.

"Wars Will Get Worse in the Future."

Probably not. Anything is possible, of course: A full-blown war between India and Pakistan, for instance, could potentially kill millions of people. But so could an asteroid or -- perhaps the safest bet -- massive storms triggered by climate change. The big forces that push civilization in the direction of cataclysmic conflict, however, are mostly ebbing.

"Các cuộc chiến tranh sẽ tồi tệ hơn trong tương lai?"

Có thể không. Tất nhiên, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Một cuộc chiến tranh đang phát triển mạnh giữa Pakistan và Ấn Độ chẳng hạn có thể có tiềm năng giết hàng triệu người. Nhưng như vậy một tiểu hành tinh hay – có lẽ dự đoán an toàn nhất – những trận bão khổng lồ do biến đổi khí hậu gây ra cũng có thể làm được như thế. Tuy nhiên, những lực lượng lớn thúc đẩy các nền văn minh theo hướng xung đột thảm họa thì hầu như đang giảm xuống.

Recent technological changes are making war less brutal, not more so. Armed drones now attack targets that in the past would have required an invasion with thousands of heavily armed troops, displacing huge numbers of civilians and destroying valuable property along the way. And improvements in battlefield medicine have made combat less lethal for participants. In the U.S. Army, the chances of dying from a combat injury fell from 30 percent in World War II to 10 percent in Iraq and Afghanistan -- though this also means the United States is now seeing a higher proportion of injured veterans who need continuing support and care.

Những thay đổi công nghệ trong thời gian gần đây đã làm cho chiến tranh đỡ man rợ hơn. Những máy bay không người lái ngày nay tấn công các mục tiêu mà trong quá khứ cần đến một cuộc xâm lược với hàng nghìn binh lính vũ trang nặng, di dời số lớn thường dân và phá hủy những tài sản có giá trị trên dường đi của nó. Một sự cải thiện về thuốc men ở chiến trường đã làm cho các trận đánh ít tử vong hơn cho các bên tham chiến. Trong quân đội Mỹ, tỉ lệ chết do vết thương chiến tranh đã giảm từ 30 % trong Thế Chiến II xuống 10% trong chiến tranh Iraq và Afghanistan – mặc dù điều đó cũng có nghĩa rằng Hoa Kỳ ngày nay đang thấy một tỉ lệ cao hơn những cựu chiến binh thương phế cần tiếp tục giúp đỡ và chăm sóc.

Nor do shifts in the global balance of power doom us to a future of perpetual war. While some political scientists argue that an increasingly multipolar world is an increasingly volatile one -- that peace is best assured by the predominance of a single hegemonic power, namely the United States -- recent geopolitical history suggests otherwise.

Relative U.S. power and worldwide conflict have waned in tandem over the past decade. The exceptions to the trend, Iraq and Afghanistan, have been lopsided wars waged by the hegemon, not challenges by up-and-coming new powers. The best precedent for today's emerging world order may be the 19th-century Concert of Europe, a collaboration of great powers that largely maintained the peace for a century until its breakdown and the bloodbath of World War I.

Những cuộc dịch chuyển cân bằng quyền lực cũng không buộc chúng ta phải chịu một tương lai chiến tranh liên miên không dứt. Trong khi một số nhà khoa học chính trị lập luận rằng một thế giới càng đa cực thì càng bất tường, dễ thay đổi – rằng hòa bình sẽ được bảo đảm tốt nhất bởi uy thế vượt trội của một cường quốc bá chủ duy nhất, tức là Mỹ – lịch sử địa chính trị gần đây cho ta thấy ngược lại.

Quyền lực tương đối của Hoa Kỳ và xung đột trên toàn thế giới trong thập kỷ qua đã lần lượt theo nhau suy yếu. Những ngoại lệ của xu thế này là Iraq và Afghanistan là những cuộc chiến tranh không cân sức do bá quyền phát động chứ không phải bị thách thức bởi những cường quốc mới nổi. Tiền lệ tốt nhất cho trật tự thế giới đang nổi lên hôm nay có thể là Dàn nhạc Châu Âu thế kỷ 19, một sự phối hợp của các cường quốc lớn nói chung đã duy trì được hòa bình trong một thế kỷ cho đến khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất đẫm máu.

What about China, the most ballyhooed rising military threat of the current era? Beijing is indeed modernizing its armed forces, racking up double-digit rates of growth in military spending, now about $100 billion a year. That is second only to the United States, but it is a distant second: The Pentagon spends nearly $700 billion. Not only is China a very long way from being able to go toe-to-toe with the United States; it's not clear why it would want to. A military conflict (particularly with its biggest customer and debtor) would impede China's global trading posture and endanger its prosperity. Since Chairman Mao's death, China has been hands down the most peaceful great power of its time. For all the recent concern about a newly assertive Chinese navy in disputed international waters, China's military hasn't fired a single shot in battle in 25 years.

Còn Trung Hoa thì sao, mối đe dọa quân sự đang lớn lên được quảng cáo rùm beng trong thời kỳ hiện nay? Quả thật Bắc Kinh đã hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của nó, đưa mức tăng chi phí quân sự lên hàng hai chữ số, hiện nay khoảng một trăm tỉ đô la mỗi năm. Nó đứng hàng thứ hai chỉ sau có Mỹ, nhưng là một hàng hai cách xa: Lầu Năm góc chi tiêu mỗi năm gần 700 tỉ. Trung Hoa không chỉ còn rất xa mới ngang hàng với Mỹ, không rõ là tại sao nó lại muốn đứng ngang hàng. Một cuộc xung đột quân sự (đặc biệt là với khách hàng và con nợ lớn nhất của nó) sẽ làm trở ngại tư thế thương mại toàn cầu của Trung Hoa và gây nguy hiểm cho sự phát đạt của nó. Từ khi Mao chết, Trung Hoa đã là cường quốc lớn hòa bình nhất trong thời của nó. Đối với tất cả mối lo ngại gần đây về một hải quân Trung Hoa mới tự khẳng định trong những vùng biển quốc tế có tranh chấp, quân đội Trung Hoa chưa bắn một phát súng nào trên chiến trận trong vòng 25 năm nay.

"A More Democratic World Will Be a More Peaceful One."

Not necessarily. The well-worn observation that real democracies almost never fight each other is historically correct, but it's also true that democracies have always been perfectly willing to fight non-democracies. In fact, democracy can heighten conflict by amplifying ethnic and nationalist forces, pushing leaders to appease belligerent sentiment in order to stay in power. Thomas Paine and Immanuel Kant both believed that selfish autocrats caused wars, whereas the common people, who bear the costs, would be loath to fight. But try telling that to the leaders of authoritarian China, who are struggling to hold in check, not inflame, a popular undercurrent of nationalism against Japanese and American historical enemies. Public opinion in tentatively democratic Egypt is far more hostile toward Israel than the authoritarian government of Hosni Mubarak ever was (though being hostile and actually going to war are quite different things).

"Một thế giới dân chủ hơn sẽ là một thế giới hòa bình hơn?"

Không nhất thiết. Cái nhận xét cũ mèm về những nước dân chủ thật sự hầu như không bao giờ đánh nhau là đúng về mặt lịch sử, nhưng cũng đúng là các nước dân chủ luôn luôn sẵn lòng đánh những nước không dân chủ. Thật ra nền dân chủ có thể đề cao xung đột bằng cách khuếch trương các lực lượng sắc tộc và dân tộc chủ nghĩa của nó khiến các nhà lãnh đạo phải nhượng bộ tình cảm gây hấn để giữ được quyền lực. Cả Thomas Paine và Immanuel Kant đều tin rằng nhưng kẻ chuyên quyền ích kỷ thích gây ra chiến tranh, trong khi người dân thường là người phải chịu chi phí, thì bất đắc dĩ phải đánh nhau. Nhưng hãy thử nói điều đó với các nhà lãnh đạo của một Trung Hoa độc tài đang cố gắng kiềm chế để không khích động một chủ nghĩa dân tộc phổ biến ngấm ngầm chống lại những kẻ thù lịch sử là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Dư luận công chúng trong một nước dân chủ ngập ngừng như Ai Cập tỏ ra thù địch với Israel hơn nhiều so với chính quyền độc tài của Hosni Mubarack (mặc dù có thái độ thù địch và thật sự lao vào chiến tranh là hai việc hoàn toàn khác nhau).

Why then do democracies limit their wars to non-democracies rather than fight each other? Nobody really knows. As the University of Chicago's Charles Lipson once quipped about the notion of a democratic peace, "We know it works in practice. Now we have to see if it works in theory!" The best explanation is that of political scientists Bruce Russett and John Oneal, who argue that three elements -- democracy, economic interdependence (especially trade), and the growth of international organizations -- are mutually supportive of each other and of peace within the community of democratic countries. Democratic leaders, then, see themselves as having less to lose in going to war with autocracies.

Vậy tại sao các nước dân chủ hạn chế các cuộc chiến tranh của họ trong các nước không dân chủ hơn là đánh lẫn nhau? Không ai biết thật sự tại sao. Như Charles Lipson có lần đã châm biếm về khái niệm một nền hòa bình dân chủ "Chúng ta biết nó có tác dụng trong thực tế. Nay chúng ta còn phải xem nó có tác dụng trong lý thuyết hay không!" Lời giải thích tốt nhất là giải thích của các nhà khoa học chính trị Bruce Russett và John Oneal, họ lập luận rằng ba yếu tố - dân chủ, tương thuộc kinh tế (đặc biệt là thương mại) và sự lớn lên của các tổ chức quốc tế - là ủng hộ lẫn nhau và ủng hộ hòa bình bên trong cộng đồng các nước dân chủ. Các nhà lãnh đạo dân chủ tự thấy họ có ít cái để mất hơn trong việc chiến tranh với các chế độ chuyên quyền.

"Peacekeeping Doesn't Work."

It does now. The early 1990s were boom years for the blue helmets, with 15 new U.N. peacekeeping missions launched from 1991 to 1993 -- as many as in the U.N.'s entire history up to that point. The period was also host to peacekeeping's most spectacular failures. In Somalia, the U.N. arrived on a mission to alleviate starvation only to become embroiled in a civil war, and it quickly pulled out after 18 American soldiers died in a 1993 raid. In Rwanda in 1994, a weak U.N. force with no support from the Security Council completely failed to stop a genocide that killed more than half a million people. In Bosnia, the U.N. declared "safe areas" for civilians, but then stood by when Serbian forces overran one such area, Srebrenica, and executed more than 7,000 men and boys. (There were peacekeeping successes, too, such as in Namibia and Mozambique, but people tend to forget about them.)

"Gìn giữ hòa bình không có tác dụng"

Bây giờ nó có tác dụng rồi Đầu những năm 1990 phát triển mạnh những mũ sắt xanh, với 15 phái bộ gìn giữ hòa bình mới của Liên Hiệp Quốc từ 1991 đến 1993 – bằng số lượng của LHQ trong cả lịch sử đến thời gian ấy. Thời kỳ này cũng tiếp nhận những thất bại ngoạn mục nhất của lực lượng gìn giữ hòa bình. Tại Somalia, LHQ đến với sứ mạng làm nhẹ bớt nạn đói nhưng rồi chỉ để lâm vào một cuộc nội chiến và vội vã rút ra sau khi 18 binh sĩ Hoa Kỳ chết trong một cuộc đột kich năm 1993. Ở Rwanda năm 1994, một lực lượng yếu của LHQ không được sự trợ giúp nào của Hội đồng Bảo an đã hoàn toàn thất bại trong việc ngăn ngừa một cuộc diệt chủng giết chết hơn một nửa triệu dân. Ở Bosnia, LHQ tuyên bố "những khu vực an toàn" cho dân thường, nhưng sau đó khi các lực lượng Serbia lúc đó tràn qua một khu vực như thế, Srebrenica, và hành hình hơn 7000 người và trẻ em trai. (Cũng có những thắng lợi của lực lượng gìn giữ hòa bình, như ở Namibia và Mozambique, nhưng người ta dường như muốn quên chúng)

In response, the United Nations commissioned a report in 2000, overseen by veteran diplomat Lakhdar Brahimi, examining how the organization's efforts had gone wrong. By then the U.N. had scaled back peacekeeping personnel by 80 percent worldwide, but as it expanded again the U.N. adapted to lessons learned. It strengthened planning and logistics capabilities and began deploying more heavily armed forces able to wade into battle if necessary. As a result, the 15 missions and 100,000 U.N. peacekeepers deployed worldwide today are meeting with far greater success than their predecessors.

Để đáp lại, LHQ giao viết một báo cáo năm 2000, do nhà ngoại giao kỳ cựu Lakhdar Brahimi giám sát, xem xét các cố gắng của tổ chức này đã trở nên hỏng như thế nào. Khi đó LHQ đã sắp xếp lại nhân sự của lực lượng gìn giữ hòa bình trên khắp thế giới còn 80 phần trăm, nhưng khi nó bành trướng trở lại thì LHQ thích ứng với những bài học đã học được. Nó củng cố các năng lực kế hoạch và hậu cần và bắt đầu triển khai nhiều lực lượng vũ trang nặng có khả năng can thiệp vào các trận địa nếu cần. Kết quả là 15 phái bộ và 100.000 binh lính gìn giữ hòa bình của LHQ được triển khai trên toàn thế giới ngày nay đang đạt được thành công lớn hơn rất nhiều so với những người tiền nhiệm của họ.

Overall, the presence of peacekeepers has been shown to significantly reduce the likelihood of a war's reigniting after a cease-fire agreement. In the 1990s, about half of all cease-fires broke down, but in the past decade the figure has dropped to 12 percent. And though the U.N.'s status as a perennial punching bag in American politics suggests otherwise, these efforts are quite popular: In a 2007 survey, 79 percent of Americans favored strengthening the U.N. That's not to say there isn't room for improvement -- there's plenty. But the U.N. has done a lot of good around the world in containing war.

Nhìn chung, sự hiện diện của các lực lượng gìn giữ hòa bình tỏ ra đã giảm được một cách đáng kể khả năng châm ngòi lại những cuộc chiến tranh sau một hiệp định ngừng bắn. Trong những năm 1990, khoảng một nửa số cuộc ngừng bắn bùng nổ trở lại, nhưng trong thập kỷ qua con số này đã giảm xuống còn 12 phần trăm. Và dù cho địa vị của LHQ chỉ như một cái bung xung muôn thuở trong nền chính trị Hoa Kỳ khiến cho ta nghĩ ngược lại, những cố gắng này rất hợp lòng người: trong năm 2007, 79 phần trăm người Mỹ ủng hộ củng cố Liên Hiệp Quốc. Như thế không phải là nói rằng không còn gì phải cải thiện, thật ra còn rất nhiều. Nhưng LHQ đã làm được nhiều việc tốt trên khắp thế giới trong việc ngăn chặn chiến tranh.

"Some Conflicts Will Never End."

Never say never. In 2005, researchers at the U.S. Institute of Peace characterized 14 wars, from Northern Ireland to Kashmir, as "intractable," in that they "resist any kind of settlement or resolution." Six years later, however, a funny thing has happened: All but a few of these wars (Israel-Palestine, Somalia, and Sudan) have either ended or made substantial progress toward doing so. In Sri Lanka, military victory ended the war, though only after a brutal endgame in which both sides are widely believed to have committed war crimes. Kashmir has a fairly stable cease-fire. In Colombia, the war sputters on, financed by drug revenue, but with little fighting left. In the Balkans and Northern Ireland, shaky peace arrangements have become less shaky; it's hard to imagine either sliding back into full-scale hostilities. In most of the African cases -- Burundi, Rwanda, Sierra Leone, Uganda, the Democratic Republic of the Congo, and Ivory Coast (notwithstanding the violent flare-up after elections there in late 2010, now resolved) -- U.N. missions have brought stability and made a return to war less likely (or, in the case of Congo and Uganda, have at least limited the area of fighting).

"Một số cuộc xung đột không bao giờ kết thúc?"

Không bao giờ nên nói không bao giờ. Năm 2005, các nhà nghiên cứu ở Viện Hòa bình đã mô tả đặc điểm các cuộc chiến tranh từ Bắc Ailen đến Kashmir, là "cứng đầu cứng cổ, trong đó họ chống lại mọi loại dàn xếp và giải pháp." Tuy nhiên, sáu năm sau, một sự việc lạ lùng đã xảy ra: tất cả chỉ trừ một vài trong số các cuộc chiến tranh này (Israel-Palestine, Somalia, và Sudan) đã hoặc kết thúc hoặc có những bước tiến cơ bản đến kết thúc. Ở SriLanka, thắng lợi quân sự kết thúc chiến tranh, mặc dầu chỉ sau một tàn cuộc dã man trong đó cả hai bên bị cho là đã phạm những tội ác chiến tranh. Kashmir đã có một cuộc ngừng bắn khá yên ổn. Ở Colombia, chiến tranh tiếp tục một cách lẻ tẻ, được tài trợ bởi nguồn thu nhập từ ma túy, nhưng còn lại ít những cuộc đụng độ. Ở Balkans và Bắc Ailen, những dàn xếp hòa bình yếu ớt đã trở nên không còn yếu nữa, cũng khó hình dung nó có thể trượt trở lại những hoạt động chiến tranh qui mô lớn. Trong phần lớn các trường hợp ở châu Phi, - Burundi, Rwanda, Sierra Leone, Uganda, Cộng hòa Dân chủ Congo, và Bờ Biển Ngà (mặc dù bạo lực lại bùng lên sau những cuộc bầu cử năm 2010, nay đã được giải quyết) – các phái bộ LHQ đã mang đến ổn định và làm cho tình hình khó trở lại một cuộc chiến tranh hơn (hay như trong trường hợp Congo và Uganda, ít nhất đã có vùng chiến tranh hạn chế)

Could we do even better? The late peace researcher Randall Forsberg in 1997 foresaw "a world largely without war," one in which "the vanishing risk of great-power war has opened the door to a previously unimaginable future -- a future in which war is no longer socially-sanctioned and is rare, brief, and small in scale." Clearly, we are not there yet. But over the decades -- and indeed, even since Forsberg wrote those words -- norms about wars, and especially about the protection of civilians caught up in them, have evolved rapidly, far more so than anyone would have guessed even half a century ago. Similarly rapid shifts in norms preceded the ends of slavery and colonialism, two other scourges that were once also considered permanent features of civilization. So don't be surprised if the end of war, too, becomes downright thinkable.

Chúng ta còn có thể làm được tốt hơn nữa không? Nhà nghiên cứu hòa bình đã quá cố Randall Forsberg năm 1997 đã thấy trước "một thế giới nói chung không có chiến tranh" thế giới trong đó "đang biến mất nguy cơ chiến tranh giữa các cường quốc lớn mở ra cánh cửa vào một tương lai trước đây không thể nào tưởng tượng nổi – một tương lai trong đó chiến tranh không còn được xã hội thừa nhận nữa, và hiếm hoi, ngắn và nhỏ về qui mô." Rõ ràng là chúng ta chưa đi đến đó. Nhưng qua nhiều thập kỷ - và tất nhiên kể từ khi Forsberg đã viết những dòng này những qui phạm về các cuộc chiến tranh và đặc biệt về việc bảo vệ thường dân bị kẹt trong các cuộc chiến tranh đã tiến bộ nhanh chóng hơn nhiều so với bất kỳ ai có thể phán đoán thậm chí cách đây nửa thế kỷ. Tương tự, sự chuyển đổi nhanh chóng trong các qui phạm đã đi trước sự kết thúc chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân, hai tai họa khác mà có lúc đã được coi như những đặc điểm vĩnh viễn của nền văn minh. Vậy cũng đừng ngạc nhiên nếu sự kết liễu chiến tranh cũng trở nên việc có thể nghĩ bàn một cách rõ ràng rành mạch.

Joshua S. Goldstein is professor emeritus of international relations at American University and author of Winning the War on War: The Decline of Armed Conflict Worldwide.

Joshua S. Goldstein là giáo sư danh dự về quan hệ quốc tế tại Đại học Tổng hợp Hoa Kỳ và là tác giả cuốn: Thắng cuộc chiến tranh về chiến tranh: Sự giảm xung đột vũ trang trên toàn thế giới


Translated by Hiếu Tân

Nguồn: http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/08/15/think_again_war