MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Thursday, August 25, 2011

A Dialogue between Confucius and Dr. John Dewey Cuộc Đàm Luận giữa Khổng Tử và Tiến Sĩ John Dewey

Dr. John Dewey
Khổng Tử
A Dialogue between Confucius and Dr. John Dewey
Cuộc Đàm Luận giữa Khổng Tử và Tiến Sĩ John Dewey
Time: December 7, 1951.
Place: Confucius' hometown, Chi-Fu, San-Dong, China.
Thời gian: 7 tháng 12, 1951.
Không gian: Quê hương của Khổng Tử, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa
Dr. Lih-Ching Chen Wang
LGT: Một cuộc đàm luận lý thú giữa Khổng Tử và John Dewey, dĩ nhiên trong tưởng tượng, nhưng qua đó tác giả đã nêu lên được những điểm tương đồng cũng như khác biệt trong triết lý giáo dục giữa hai nhà giáo dục hàng đầu của Trung Hoa và Hoa Kỳ. Điều thú vị là những lời đối đáp của Khổng Tử đều rút ra từ các sách Đại Học và Luận Ngữ.[1]
Confucius: Welcome, Dr. Dewey! Is it not delightful to have friends coming from distant quarters?1
Khổng Tử: Cung ­Thỉnh, Tiến sĩ Dewey! "Có những bằng hữu ham mộ đạo lý, nghe tiếng mình là người học cao đức lớn, chẳng ngại đường xa đến viếng mình, há không lấy đó làm vui sao?"[2]
Dewey: Indeed, it is delightful, Master. It is a change of pace from my daily life in the United States.
Dewey: Thưa Phu Tử, thật là vui thú lắm. Đây cũng là một sự thay đổi trong những việc thường ngày của tại hạ tại Mỹ.
Confucius: According to the research done by my disciples, you are called one of the most influential philosophers and educators in the United States. I am honored that you can come to visit my humble house.
Khổng Tử: Theo những đệ tử của ta nghiên cứu thì ngài là một trong những triết gia và nhà giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất của Mỹ quốc. Ta rất hân hạnh được ngài ghé thăm tệ xá.
Dewey: To borrow your own words, fine words and an insinuating appearance are seldom associated with true virtue.2 Hah, hah, hah, just kidding.
Dewey: Xin mượn lời của Phu Tử: "Kẻ nào miệng nói lời hoa mỹ, còn mặt mày thì trau chuốt, hình dạng thì kiểu cách, áo quần thì lòe loẹt, kẻ ấy hẳn kém lòng nhân."[3] Ha ha... Xin đùa Sư Phụ một chút.
Confucius: I am almost offended. If the scholar be not grave, he will not call forth any veneration, and his learning will not be solid... Have no friends not equal to yourself.3 Even my student, Tsang, said, "I daily examine myself,... , whether, in intercourse with friends, I may have been not sincere.4"
Khổng Tử: Ta cũng xuýt nữa thì nổi giận rồi đó. "Bậc quân tử nếu chẳng tự trọng, thì chẳng được oai nghiêm, người ta không kính nể, rồi ra sự học vấn của mình không được kiên cố...Chẳng nên làm bạn với kẻ chẳng như mình."[4] Ngay cả đệ tử của ta là Tăng Tử còn nói: "Hằng ngày ta tự xét mình,..., làm việc với ai ta có hết lòng hay chăng?"[5]
Dewey: Thank you, sir. You are too grave to have humor. Let me ask you a sincere question, then: What is the Great Learning? That is, what is higher education for?
Dewey: Xin cám ơn Sư Phụ. Ngài nghiêm trang quá, không có tính khôi hài tí nào. Vậy thì tại hạ xin hỏi ngài một chuyện thành thật, nghiêm túc: Đại học là cái gì? Nghĩa là, mục đích của đại học là để làm gì?
Confucius: What the Great Learning teaches, is to illustrate illustrious virtue; to renovate the people; and to rest in the highest excellence.5
Khổng Tử: Đại học dạy như vầy: "Trước hết phải làm sáng tỏ cái đức của mình, rồi dùng cái đức đó cải cách cho mọi người, rồi nên nhắm mức trọn lành mà theo và ở yên nơi mức ấy."[6]
Dewey: Could you elaborate further?
Confucius: The ancients who wished to illustrate illustrious virtue throughout the kingdom, first ordered well their own states. Wishing to order well their states, they first regulated their families. Wishing to regulate their families, they first cultivated their persons. Wishing to cultivate their persons, they first rectified their hearts. Wishing to rectify their hearts, they first sought to be sincere in their thoughts. Wishing to be sincere in their thoughts, they first extended to the utmost their knowledge. Such extension of knowledge lay in the investigation of things.6
Dewey: Xin ngài khai triển thêm.
Khổng Tử: "Các vị vua thuở xưa muốn làm cho cái đức của mình tỏ sáng ra trong thiên hạ, trước phải lo sửa trị nước mình. Muốn sửa trị nước mình, thì phải tề gia trước. Muốn tề gia thì phải tu thân trước. Muốn tu thân thì phải làm cho ý mình trở nên thành thật. Muốn làm cho ý mình trở nên thành thật phải có tri thức chu đáo. Muốn có tri thức chu đáo ắt phải nghiên cứu sự vật."[7]
Dewey: Yes, extension of knowledge lays in the investigation of things. And then?
Confucius: Things being investigated, knowledge became complete. Their knowledge being complete, their thoughts were sincere. Their thoughts being sincere, their hearts were then rectified. Their hearts being rectified, their persons were cultivated. Their persons being cultivated, their families were regulated. Their families being regulated, their states were rightly governed. Their states being rightly governed, the whole kingdom was made tranquil and happy.7
Dewey: Đúng vậy, tri thức được mở rộng nằm ở chỗ nghiên cứu sự vật. Thế còn gì nữa, thưa Phu tử?
Khổng Tử: "Khi đã nghiên cứu sự vật, cái tri thức mới được chu đáo. Cái tri thức được chu đáo, cái ý mình mời thành thật. Cái ý mình đã thành thật, lòng dạ mình mới ngay thẳng. Lòng dạ mình đã ngay thẳng mới tu tập lấy mình được. Đã tu tập lấy mình được, thì mới sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề. Nhà cửa đã chỉnh tề, thì mới sửa trị nước được. Nước đã sửa trị, thiên hạ mới bình an."[8]
Dewey: So the conclusion is...
Confucius: From the Son of Heaven down to the mass of the people, all must consider the cultivation of the person the root of everything besides.8
Dewey: Như vậy thì kết luận là...
Khổng Tử: "Từ bậc Thiên tử lần xuống chí hạng bình dân, ai nấy đều phải lấy sự tu tập lấy mình làm gốc."[9]
Dewey: Very philosophical. (Big grin.) As pragmatic as I am, I preach on more practical learning.
Confucius: When you know a thing, to hold that you know it; and when you do not know a thing, to allow that you do not know it; this is knowledge.9 Please state your position, Dr. Dewey.
Dewey: Thật là triết lý cao thâm. (Mở miệng cười toe). Tại hạ là một người thực tiễn. Tại hạ dạy những điều có tính cách thực tế hơn.
Khổng Tử: "Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết. Như vậy mới là biết thật."[10] Tiến sĩ Dewey, xin cho biết cao kiến.
Dewey: One of our central themes of pragmatism is that philosophy should attempt to solve human problems rather than being occupied with speculative metaphysics. Truth is tentative, a warranted assertion rather than universal and absolute.
Confucius: Sounds like I am talking. (Grin.)
Dewey: Một trong những chủ đề của chủ nghĩa thực dụng cho rằng triết học nên chú trọng vào giải quyết những vấn đề của con người hơn là cứ loay hoay với những suy luận siêu hình. [Cái gọi là] chân lý chỉ có tính cách phỏng đoán, một sự xác định đã được kiểm chứng chứ không có tính chất tuyệt đối và phổ quát.
Khổng Tử: Nghe giống y chang như ta đang nói vậy. (Cười).
Dewey: (Chuckle.) No, no, no, listen further, Master. I believe that truth is derived from human experience. It involves the testing or verification of an idea by acting upon it and determining if the consequences of such action resolve the particular problem.
Confucius: Do you also call it Great Learning?
Dewey: (Tặc lưỡi). Không, không, không phải đâu, thưa Sư phụ, xin nghe tại hạ nói thêm. Tại hạ tin rằng chân lý được rút ra từ kinh nghiệm của con người. Nó gồm có việc thử nghiệm hay xác minh một ý tưởng bằng cách áp dụng ý tưởng này để xem kết quả của sự áp dụng này có giải quyết được cái vấn nạn của ta hay không.
Khổng Tử: Thế ngài không gọi cái đó là Đại Học hay sao?
Dewey: No, Master. It is experimentalism. We examine institutions and values in terms of their response to the changing circumstances of American life. We argue that no longer could institutions and values rest on traditionalism and maintenance of the status quo.
Confucius: I can see I am in trouble here. You completely reject my traditionalism. Five thousand years of Chinese culture go down the drain. (Sigh!)
Dewey: Không, thưa Sư phụ. Cái đó gọi là chủ nghĩa thực nghiệm. Chúng tôi xem xét những định chế và giá trị dựa trên sự tương tác của chúng với những tình huống đang thay đổi trong đời sống Mỹ. Chúng tôi lập luận rằng những định chế và giá trị xã hội không còn có thể dựa vào cái chủ nghĩa truyền thống và giữ nguyên hiện trạng có sao giữ vậy.
Khổng Tử: Điều ngài nói là cho ta cảm thấy lúng túng. Ngài phủ nhận hoàn toàn cái chủ nghĩa truyền thống của ta. Năm ngàn năm văn hóa Trung Hoa trôi tuột xuống cống, mất sạch. (Thở dài!)
Dewey: I am sorry for that. That is what I see and what I believe. I have lived through a series of momentous events that shaped the patterns of modern life. It is not easy to be a ninety-three-year-old man.
Confucius: Talk about turbulent life. You should have been in the era after my life -- the warring nations and factions in the later Chou Dynasty.
Dewey: Tại hạ xin lỗi Phu Tử về chuyện này. Nhưng đó thật sự là những gì tại hạ thấy và tin tưởng. Tại hạ đã sống qua một chuỗi những biến cố quan trọng và những biến cố này đã tạo nên hình thái và khuôn mẫu của đời sống hiện đại. Sống tới 93 tuổi thật cũng chẳng phải là một điều dễ dàng.
Khổng Tử: Nói về thời hỗn loạn, ngài nên ở vào thời đại sau khi ta chết như Thời Chiến quốc và tranh chấp dưới đời Nhà Chu.
Dewey: Listen to this. In my life, I have seen two World Wars, not to mention the American Civil War when I was a toddler. I saw the United States went through a great transformation from a predominantly rural and agricultural economy to one that was industrial and technological.
Confucius: I envy you that you live in a great country in its prime time.
Dewey: Xin thưa cho ngài rõ. Trong đời tại hạ đã chứng kiến hai cuộc Thế chiến, đó là chưa kể đến trận Nội chiến khi tại hạ còn là một đứa tiểu nhi. Tại hạ đã thấy nước Mỹ trải qua một cuộc đại hóa thân từ một xã hội và kinh tế nông nghiệp sang một xã hội công nghiệp và kỹ thuật.
Khổng Tử: Ta thật ganh tỵ với ngài vì ngài được sống trong một đất nước vĩ đại còn đang ở trong tuổi thanh xuân.
Dewey: Indeed, no doubt about it. I have lived through the major political transformations of the progressive movement, the Great Depression, and the New Deal. Right now the United States is one of two great world powers in the age of nuclear weapons and energy.
Confucius: Look at what the Communists have done to the great people of China! I can see the Chinese culture is on the edge of a disaster.
Dewey: Đúng vậy. Tại hạ đã sống qua những cuộc chuyển biến chính trị trọng yếu từ phong trào cấp tiến sang đến Đại Khủng hoảng kinh tế, rồi đến Chính sách Giao ước Mới.[11] Hiện nay, nước Mỹ là một trong hai đại cường quốc trong thời đại vũ khí năng lượng và nguyên tử.
Khổng Tử: Hãy xem những điều người Cộng sản đang gây ra cho dân tộc Trung Hoa! Ta có thể thấy nền văn hóa Trung Hoa đang ở trên bờ diệt vong.
Dewey: Back to my progressive learning. Education is a process of intelligently solving problems using the scientific method rather than the study and mastery of bodies of knowledge organized into subjects.
Confucius: Interesting ideas indeed. But isn't it true that, in some schools, teachers just skimmed the surface of your philosophy? It was said that they took certain key words and phrases such as "learning by doing," "the activity method," "problem solving," and "children's interests and needs" and designed units and lessons around them. These educators found a certain liberating appeal in these specific parts of your work without accepting your whole philosophy.
Dewey: Xin hãy trở lại với triết lý giáo dục cấp tiến của tại hạ. Giáo dục là một tiến trình giải quyết những vấn đề của con người một cách thông minh, sử dụng phương pháp khoa học thay vì chỉ dựa vào việc học cho nhuần nhuyễn những khối lượng kiến thức được sắp xếp thành từng môn học.
Khổng Tử: Những ý tưởng này thật là thú vị. Nhưng chẳng phải là tại một số trường học của quý quốc, thầy cô chỉ mới có chạm được tới bề mặt của triết học của ngài thôi hay sao? Họ chỉ dùng một số từ ngữ quan trọng như là "học qua thực tập," "học qua sinh hoạt," "giải quyết vấn đề," rồi thì "nhu cầu và quyền lợi của trẻ em" để soạn bài giảng cho học sinh. Những thầy cô này chỉ lựa một phần nào trong triết học của ngài mà họ thấy hứng thú, chứ đâu có chấp nhận triết lý của ngài đâu.
Dewey: It is sad to say that it is true. But these things happen when your ideas are implemented widely. Isn't it also true that the rulers throughout the Chinese history used your traditionalism to defend their status of quo?
Confucius: (Sad face.) It was true. I used to say that to rule a country of a thousand chariots, there must be reverent attention to business, and sincerity; economy in expenditure, and love for men; and the employment of the people at the proper seasons.10
Dewey: Thật là buồn khi phải công nhận đây là sự thật. Nhưng những điều này vẫn thường xảy ra khi tư tưởng của mình được áp dụng rộng rãi. Chẳng phải những nhà cầm quyền trong suốt lịch sử của Trung quốc cũng đã dùng chủ nghĩa truyền thống của Sư phụ để bảo vệ địa vị của họ hay sao?
Khổng Tử: (Nét mặt buồn rầu). Đúng thế. Ta thường nói rằng "muốn cai trị một nước cỡ một ngàn cỗ xe, thì phải thận trọng trong mọi việc, đừng thất hứa, dùng của cải cho có tiết độ, đừng lãng phí, thương yêu tất cả mọi người trong nước, khi khiến dân làm việc công ích thì phải tùy thời (tránh lúc dân phải cày bừa, cấy gặt).[12]
Dewey: There you go!
Confucius: They always quoted my saying, like, "He who exercises government by means of his virtue may be compared to the north polar star, which keeps its place and all the stars turn toward it."11
Dewey: Đúng thế!
Khổng Tử: Chúng nó còn dẫn lời của ta như: "Kẻ cầm quyền chính trị mà biết đem cái đức mình bổ hóa ra, thì mọi người đều tùng phục theo. Tỷ như ngôi sao Bắc Đẩu ở một chỗ mà có mọi vì sao chầu theo."[13]
Dewey: You advocate an emperor state.
Confucius: I understand that you advocate a democratic society as an environment most conducive for the application of the scientific method and for the creation of a truly sharing community. But you have to realize the era of my time. And you cannot deny that if the people be led by laws, and uniformity sought to be given them by punishments, they will try to avoid the punishment, but have no sense of shame. If they be led by virtue, and uniformity sought to be given them by the rules of propriety, they will have the sense of shame, and, moreover, will become good.12
Dewey: Ngài ủng hộ cho một nước quân chủ.
Khổng Tử: Ta cũng hiểu là ngài chủ trương [xây dựng] một xã hội dân chủ, một môi trường thích hợp nhất cho việc áp dụng phương pháp khoa học cũng như cho việc kiến tạo một cộng đồng mà mọi người thực sự chia sẻ với nhau. Nhưng ngài phải hiểu cho thời đại của ta. Và ngài cũng không thể phủ nhận là "Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy muốn dắt dẫn dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn được cảm hóa mà trở nên tốt lành."[14]
Dewey: You are absolutely right. People that are as famous as us are bound to be misquoted sometimes. (Both sigh at the same time.)
Confucius: Can I say that your experimentalism and pragmatism in a certain degree lead to the materialism in the United States?
Dewey: Ngài nói thiệt là đúng. Những người nổi tiếng như chúng ta chắc chắn là cũng có khi bị người ta trích dẫn sai. (Cả hai cùng thở dài).
Khổng Tử: Thế ta có thể nói rằng chủ nghĩa thực dụng và thực nghiệm của ngài, ở một mức độ nào đó, đã dẫn đến chủ nghĩa tôn sùng vật chất ở nước Mỹ không?
Dewey: I protest. It is misquotation and definitely a misconception. People tend to forget that my philosophy goes back to the ideas of Plato and company. In my book, The Quest for Certainty, I examined Western philosophy's tendency to structure reality into two dimensions. One was perfect and unchanging and the other was temporary and changing. Philosophers such as Plato concentrated on the perfect world but neglected the world of human experience. Plato argued that reality was based on the form of good, from which all ideas were derived. I may say that Plato and you are twins in another life. (Big grin.) Anyway, based upon this belief in two worlds, philosophy in the Western world emphasized the perfect world, which was beyond human experience, and ignored the reality of the world of everyday life. I just redirect it to the empirical world of everyday experience and advised human beings to deal with the problems of life there. Is it materialistic, Master?
Dewey: Tại hạ phản đối. Đó là một sự trích dẫn sai và chắc chắn là một sự hiểu sai triết học của tại hạ. Người ta vẫn thường quên là triết học của tại hạ bắt nguồn từ tư tưởng của Plato và những tư tưởng gia đồng thời với ông ta. Trong quyển sách, Truy tầm sự Chân xác, tại hạ đã phân tích cái khuynh hướng xây dựng thực tại vào hai chiều của triết học Tây phương. Một chiều là thế giới hoàn hảo, bất biến, còn chiều kia là một thế giới đầy biến động và phù du. Những triết gia như Plato chú trọng vào thế giới hoàn hảo mà bỏ quên thế giới của những kinh nghiệm của con người. Plato lập luận rằng thực tại được đặt trên căn bản của một "cái tốt" và từ đó mọi ý tưởng phát sinh. Tại hạ có thể nói rằng cả hai ngài chắc là anh em song sinh trong kiếp trước. (Cười lớn). Dù sao, dựa trên niềm tin là có hai thế giới, triết học của Tây phương chú trọng vào thế giới hoàn hảo, một thế giới vượt quá kinh nghiệm của con người, và bỏ qua cái thực tại của thế giới thường ngày của đời sống. Tại hạ chí chuyển hướng sự chú tâm này vào cái thế giới thực nghiệm của những kinh nghiệm hàng ngày và khuyên con người nên chú trọng tới việc giải quyết những vấn nạn trong đời thường. Như vậy có phải là tôn sùng vật chất không, thưa Phu tử?
Confucius: I may be wrong there, but to correct the society ills in the modern American life, can the American take some advices from us?
Dewey: Please enlighten me.
Khổng Tử: Ta có thể lầm lẫn ở điểm này, nhưng để chữa những tệ nạn xã hội trong đời sống hiện đại của Mỹ, không biết người Mỹ có chịu nghe lời khuyên của chúng ta hay không?
Dewey: Xin cho nghe cao kiến.
Confucius: The current problems of American society were created by social choices. They are not individual moral dilemmas but results from the failures of society's institutions. My notion of "li," which means ritual, also refers to the everyday way one relates to others in the world. If we see that the forms of social life have a kind of ritual element to them, we view institutions differently. Americans on the whole don't have that sense. Everything for Americans tends to be viewed as utilitarian, or may I say, pragmatistic.
Dewey: Are you attacking me again? (Reluctant grin.)
Khổng Tử: Những vấn nạn hiện nay trong xã hội Mỹ được tạo nên bởi những chọn lựa xã hội. Những vấn đề này không phải là những nan đề đạo đức cá nhân mà là kết quả của những sự thất bại của những định chế xã hội. Khái niệm "Lễ" của ta, có nghĩa là lễ nghi, cũng đề ra cách thức con người nên cư xử với nhau. Nếu ta thấy rằng những dạng thức của đời sống xã hội đều có hàm chứa một thành tố lễ nghi nào đó, thì ta sẽ có quan niệm khác về những định chế xã hội. Người Mỹ nói chung, không nhận thức điều đó. Người Mỹ luôn nhìn mọi điều dưới lăng kính lợi lộc, hay còn được gọi là thực dụng.
Dewey: Có phải ngài lại châm chích tại hạ nữa không? (Cười gượng).
Confucius: May I continue? Although there was also a counter-cultural belief that any social form or ritual is constraining and must be knocked down, that very rejection of social forms is itself a social form. It's hard for Americans to see, for instance, that in order for a friendship to be maintained it has to have a kind of ritual form to it. Otherwise, it's so easy to be exploitive. The American society has some social rituals and forms, but relative to Chinese societies, the Americans don't value or cultivate them.
Dewey: Hmm... , I shall give it some thoughts.
Khổng Tử: Ta nói tiếp được chứ? Mặc dù có một niềm tin phản-văn hóa là bất kỳ dạng thức nào của nghi lễ xã hội cũng đều mang tính trói buộc và phải bị đạp đổ, thì chính sự phủ nhận những dạng thức xã hội đó đã tự nó là một dạng thức xã hội rồi. Người Mỹ khó thấy điều này lắm, tỷ dụ, để cho tình bạn được bền vững, nó phải có một nghi thức nào đó. Nếu không, nó sẽ rất dễ dàng bị lợi dụng. Xã hội Mỹ có một số những lễ nghi xã hội, nhưng chưa so được với Trung Hoa, Người Mỹ không coi trọng và chịu khó chăm bón những nghi thức này.
Dewey: Hmm...Tại hạ sẽ phải suy nghĩ thêm về điểm này. Hmm...
Confucius: Please do, Dr. Dewey. As I like to preach, "Learning without thought is labor lost; thought without learning is perilous."13
Dewey: I have learned today from you, Master. We shall get together and chat more another time.
Khổng Tử: Đúng vậy, thưa Tiến Sĩ Dewey, xin ngài hãy suy nghĩ thêm. Cũng như ta vẫn thường dạy: "Học mà chẳng chịu suy nghĩ thì chẳng được thông minh. Suy nghĩ mà chẳng chịu học, thì lòng dạ chẳng yên ổn."[15]
Dewey: Hôm nay, tại hạ đã học được nhiều điều từ nơi ngài, thưa Sư phụ. Chúng ta sẽ gặp lại và nói chuyện thêm vào dịp khác.
(And the legends of Confucius and Dr. John Dewey continue... )
Và huyền thoại về Khổng Tử và John Dewey tiếp tục...
Notes:
Confucius (551-479 B.C.)
Dr. John Dewey (1859-1952)
Reference:
1 Confucian Analects Analects, Chapter 1, Section 1.
"Is it not delightful to have friends coming from distant quarters?"
Read the original Chinese text
2 Confucian Analects Analects, Chapter 1, Section 3.
"Fine words and an insinuating appearance are seldom associated with true virtue."
Read the original Chinese text
3 Confucian Analects Analects, Chapter 1, Section 8.
"If the scholar be not grave, he will not call forth any veneration, and his learning will not be solid . . . Have no friends not equal to yourself."
Read the original Chinese text
4 Confucian Analects Analects, Chapter 1, Section 4.
"I daily examine myself, . . . , whether, in intercourse with friends, I may have been not sincere."
Read the original Chinese text
5 The Great Learning Great Learning, Prelude (attributed to Confucius), paragraph 1.
"What the Great Learning teaches, is to illustrate illustrious virtue; to renovate the people; and to rest in the highest excellence."
Read the original Chinese text
6 The Great Learning Great Learning, Prelude (attributed to Confucius), paragraph 4.
"The ancients who wished to illustrate illustrious virtue throughout the kingdom, first ordered well their own states. Wishing to order well their states, they first regulated their families. Wishing to regulate their families, they first cultivated their persons. Wishing to cultivate their persons, they first rectified their hearts. Wishing to rectify their hearts, they first sought to be sincere in their thoughts. Wishing to be sincere in their thoughts, they first extended to the utmost their knowledge. Such extension of knowledge lay in the investigation of things."
Read the original Chinese text
7 The Great Learning Great Learning, Prelude (attributed to Confucius), paragraph 5.
"Things being investigated, knowledge became complete. Their knowledge being complete, their thoughts were sincere. Their thoughts being sincere, their hearts were then rectified. Their hearts being rectified, their persons were cultivated. Their persons being cultivated, their families were regulated. Their families being regulated, their states were rightly governed. Their states being rightly governed, the whole kingdom was made tranquil and happy."
Read the original Chinese text
8 The Great Learning Great Learning, Prelude (attributed to Confucius), paragraph 6.
"From the Son of Heaven down to the mass of the people, all must consider the cultivation of the person the root of everything besides."
Read the original Chinese text
9 Confucian Analects Analects, Chapter 2, Section 17.
"When you know a thing, to hold that you know it; and when you do not know a thing, to allow that you do not know it; this is knowledge."
Read the original Chinese text
10 Confucian Analects Analects, Chapter 1, Section 5.
"To rule a country of a thousand chariots, there must be reverent attention to business, and sincerity; economy in expenditure, and love for men; and the employment of the people at the proper seasons."
Read the original Chinese text
11 Confucian Analects Analects, Chapter 2, Section 1.
"He who exercises government by means of his virtue may be compared to the north polar star, which keeps its place and all the stars turn toward it."
Read the original Chinese text
12 Confucian Analects Analects, Chapter 2, Section 3.
"If the people be led by laws, and uniformity sought to be given them by punishments, they will try to avoid the punishment, but have no sense of shame. If they be led by virtue, and uniformity sought to be given them by the rules of propriety, they will have the sense of shame, and, moreover, will become good."
Read the original Chinese text
13 Confucian Analects Analects, Chapter 2, Section 15.
"Learning without thought is labor lost; thought without learning is perilous."
[1] Bản dịch Việt ngữ của Tứ Thư của dịch giả Đoàn Trung Còn, Nhà Xuất bản Thuận Hóa, 2006.
[2] Luận Ngữ 1.1. "Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?"
[3] Luận Ngử 1.3. "Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hỹ nhân."
[4] Luận Ngữ 1.8. "Quân tử bất trọng, tắc bất oai, học tắc bất cố. Chủ trung tín. Vô hữu bất như kỷ giả..."
[5] Luận Ngữ 1.4. "Tăng Tử viết: Ngô nhật tam tỉnh ngộ thân: vi nhơn mưu, nhi bất trung hồ? Dữ bằng hữu giao, nhi bất tín hồ? Truyền, bất tập hồ?"
[6] Đại Học, phần dẫn nhập, câu 2: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện."
[7] Đại Học, phần dẫn nhập, câu 5: "Cổ chi dục minh minh dức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trì kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri. Trí tri tại cách vật."
[8] Đại Học, phần dẫn nhập, câu 6: "Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình."
[9] Đại Học, phần dẫn nhập, câu 8: "Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn."
[10] Luận Ngữ 2.17: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri. Thị tri giã."
[11] Chính sách Giao ước Mới (the New Deal) được tổng thống Franklin Roosevvelt áp dụng nhằm giải quyết cuộc Đại Khủng hoảng Kinh tế toàn cầu năm 1933.
[12] Luận ngữ, 1.5: "Tử viết: Đáo thiên thặng chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhơn, sử dân dĩ thì."
[13] Luận ngữ, 2.1.: "Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần cư kỳ sở, nhi chúng tinh củng chi."
[14] Luận ngữ, 2.3: "Tử viết: Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách."
[15] Luận ngữ, 2.15: "Học nhi bất tư, tắc võng; tư nhi bất học, tắc đãi."
http://wang.ed.csuohio.edu/learning_center/confucius.dewey.dialogue.html



"Be not afraid: Justice Thomas on courage and civic principles" Đừng Sợ: Lòng Can Đảm và Những Nguyên Tắc Đạo Đức Công Dân


"Be not afraid:
Justice Thomas on courage and civic principles"
Đừng Sợ: Lòng Can Đảm và Những Nguyên Tắc Đạo Đức Công Dân
By Justice Clarence Thomas
The Washington Times
16 February 2001
Clarence Thomas
Thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ
16 tháng Hai 2001
Editor's note: The following is excerpted from the speech given by Supreme Court Justice Clarence Thomas on Tuesday, 6 February 2001 at the American Enterprise Institute annual dinner at which he received the Francis Boyer Award.
Lời Giới Thiệu: Bài viết sau đây được trích từ diễn văn của Clarence Thomas, Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao, đọc ngày thứ Ba mùng 6 tháng 2 năm 2001 trong bữa dạ tiệc hàng năm tại Học viện American Enterprice, nơi ông nhận lãnh giải thưởng Francis Boyer.
Alexander Hamilton wrote in Federalist 78, "It would require an uncommon portion of fortitude in the judges to do their duty as faithful guardians of the Constitution where legislative invasion of it have been instigated by the major voice of the community." This point is rarely stressed. The trait that Hamilton singles out, fortitude, is fundamental to my philosophy of life both as a judge and, more fundamentally, as a citizen of this great nation...
Alexander Hamilton[1] đã viết trong Luận cương Liên bang số 78 "Các quan tòa cần phải có một nghị lực phi thường để làm tròn bổn phận là người bảo hộ trung tín của Hiến Pháp hầu chống lại sự lạm quyền của cơ quan lập pháp, một sự lạm quyền dựa vào tiếng nói đa số của cộng đồng." Điểm này hiếm khi được chú trọng. Đức tính mà Hamilton chọn ra, nghị lực, là căn bản cho triết lý sống của tôi cả trong cương vị của một quan tòa, và căn bản hơn nữa là trong cương vị một người công dân của đất nước tuyệt vời này.
On July 1, 1991, when I arrived at President Bush's home in Kennebunkport, he invited me to join him in the sitting area of his bedroom. During that brief meeting, he asked me only two questions. First, could my family and I endure the confirmation process? Not knowing what was in store for us, I answered yes. The second question was simply whether I could call it as I saw it when I became a member of the court, whether I could rule on the law and not my personal opinions. To that, I also answered yes.
Ngày 1 tháng 7 năm 1991, khi tôi đến nhà Tổng Thống Bush ở Kennebunkport, ông mời tôi vào gặp trong phòng riêng. Trong suốt lần gặp ngắn ngủi đó, ông chỉ hỏi tôi hai điều. Thứ nhất, liệu tôi và gia đình có chịu đựng nổi [áp lực] trong quá trình xác minh lý lịch? Tôi đã trả lời: được, tuy chưa biết điều gì đang chờ đón. Câu hỏi thứ hai chỉ đơn giản rằng khi tôi trở thành một thẩm phán của toà án tối cao, không biết tôi có thể thấy sao thì nói vậy, cũng như không biết tôi có thể phán quyết theo luật pháp chứ không phải theo quan điểm cá nhân? Về câu hỏi này, tôi cũng trả lời: được.
In a perfect world, the second question would be the only one members of the court should ever have to answer either to a president or to the legislators who confirm their appointments. Judges could then focus their energies on the substance of their decisions which is more than enough to occupy anyone's spirit or intellect. I wish it were that simple.
Trong một thế giới hoàn hảo, câu hỏi thứ hai này sẽ là câu hỏi duy nhất mà các thành viên tòa án tối cao phải trả lời cho tổng thống hoặc cho các nhà lập pháp, là những người quyết định sự bổ nhiệm của họ. Các quan tòa, sau đó có thể tập trung năng lực vào thực chất của những quyết định của họ, đó là những điều chiếm hữu hầu hết trí tuệ hay tâm hồn của bất cứ một ai... Tôi mong rằng nó chỉ đơn giản như vậy.
In my humble opinion, those who come to engage in debates of consequence and who challenge accepted wisdom should expect to be treated badly. Nevertheless, they must stand, undaunted. That is required, and that should be expected, for it is bravery that is required to secure freedom...
Theo thiển ý, những người đến để tham dự vào những cuộc tranh luận quan trọng và những người dám thách thức những kinh nghiệm đã được thừa nhận nên biết rằng mình sẽ bị xử tệ. Tuy nhiên, họ phải đứng vững, phải kiên cường. Đó là điều cần thiết, đó là một thái độ phải có, vì đó chính là sự dũng cảm cần thiết để bảo đảm tự do.
It goes without saying that we must participate in the affairs of our country if we think they are important and have an impact on our lives. But how are we to do that? In what manner should we participate? Today there is much talk about moderation. It reminds me of a former colleague of mine at EEOC who often joked that he was a "gun-totin' moderate," a curiously oxymoronic perspective. Just think of that -- dying over half a loaf...
Không cần được nhắc, chúng ta cũng biết phải tham gia vào quốc sự nếu thấy rằng những công việc ấy quan trọng và có ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. Nhưng ta sẽ tham gia bằng cách nào? Ngày nay ta nghe nói nhiều đến sự ôn hòa. Điều này nhắc tôi nhớ về một đồng nghiệp cũ tại EEOC,[2] người thường nói đùa rằng anh ta là một người "ôn hòa nhưng có súng," thật là một cách biểu thị mâu thuẫn lạ lùng. Hãy nghĩ về điều ấy xem-cứ như là liều chết vì những chuyện không đáng...
This tendency, in large part, results from an over-emphasis on civility. None of us should be uncivil in our manners as we debate issues of consequence. No matter how difficult it is, good manners should be routine. However, in the effort to be civil in conduct, many who know better actually dilute firmly held views to avoid appearing judgmental. They curb their tongues, not only in form but also in substance.
Trên bình diện rộng, khuynh hướng này là kết quả của sự quá chú trọng về phương diện lịch sự. Không ai trong chúng ta có thể tỏ ra bất lịch sự khi tranh luận về những vấn đề quan trọng. Bất kể khó khăn đến đâu, thái độ lịch sự luôn cần thiết. Tuy nhiên, trong sự cố gắng cư xử cho lịch sự, nhiều người nghĩ rằng tốt hơn hết là làm dịu bớt những quan điểm cứng rắn của mình và tránh bị nhận xét là người hay chỉ trích. Họ kiềm chế lời nói của họ, không phải chỉ ở hình thức mà còn ở nội dung.
The insistence on our civility in the form of our debates has the perverse effect of cannibalizing our principles, the very essence of a civil society. That is why civility cannot be the governing principle of citizenship or leadership. As [Gertrude] Himmelfarb observed in her book, "One Nation, Two Cultures," "To reduce citizenship to the modern idea of civility, the good-neighbor idea, is to belittle not only the political role of the citizen but also the virtues expected of the citizen, the civic virtues as they were known in antiquity and in early republican thought."
Sự đòi hỏi thái độ lịch sự khi tranh luận có một tác dụng sai lầm là làm hủy hoại hết những nguyên tắc của chúng ta, những nguyên tắc căn bản của một xã hội dân sự. Điều này cho thấy tại sao lịch sự không thể là một nguyên tắc chủ đạo của tính cách công dân hay sự lãnh đạo. Như (Gertrude) Himmelfarb đã nhận định trong cuốn sách của bà, cuốn Một Quốc gia, Hai Văn hóa (One Nation, Two Culture): "So sánh tính cách công dân với ý tưởng hiện đại về lịch sự, tức là để đạt những mối giao hảo êm đẹp, là xem thường không những vai trò chính trị của công dân mà còn là coi thường những đức tính mà người công dân phải có, những đức tính công dân đã được biết đến trong thời cổ đại và trong những ý tưởng cộng hoà thuở ban đầu."
These are the virtues that Aristotle thought were necessary to govern one's self like a free man, that Montesquieu referred to as "the spring which sets the republican government in motion," and that the Founding Fathers thought provided the dynamic combination of conviction and self-discipline necessary for self-government.
Đây là những đức tính mà Aristotle cho rằng cần thiết để sống như một người tự do, những đức tính mà Montesquieu đã so sánh như " Cái lò xo thúc đẩy sự hoạt động của một chính quyền cộng hòa," và là những điều mà tư tưởng của các vị khai sáng nước Mỹ đã tạo nên một sự kết hợp sinh động giữa niềm tin sâu xa và kỷ kuật tự giác, những điều cần thiết của một chế độ do chính mình cai trị.
[Gertrude] Himmelfarb refers to two kinds of virtues. The first are the caring virtues. They include respect, trustworthiness, compassion, fairness, decency. These are the virtues that make daily life pleasant with our families and with those we come in contact. The second are the vigorous virtues. These heroic virtues transcend family and community and may ever, on occasion, violate the conventions of civility. These are the virtues that characterize great leaders, although not necessarily good friends: courage, ambition, creativity.
Himmelfarb nhắc đến hai loại đức tính. Loại thứ nhất là lòng nhân ái nhu thuận. Chúng gồm có sự khả kính, sự khả tín, lòng trắc ẩn, tính công bằng, sự lễ độ. Đây là những đức tính khiến đời sống hàng ngày được êm đẹp bên gia đình và bên những người quen biết. Loại thứ hai là những đức tính cương mãnh. Những đức tính cương mãnh này vượt qua khuôn khổ gia đình và cộng đồng và không chừng, khi có dịp, sẽ xâm phạm đến các tập quán của phép lịch sự. Đây là những đức tính định hình những vị lãnh đạo tài ba, tuy rằng họ không nhất thiết là những người bạn tốt: những người dũng cảm, hoài bão chí lớn và có óc sáng tạo.
She notes that the vigorous virtues have been supplanted by the caring ones, though they are not mutually exclusive or necessarily incompatible. Active citizens and leaders must be governed by the vigorous rather than the caring virtues. We must not allow our desire to be decent and well-mannered people to overwhelm the substance of our principles or our determination t fight for their success. Ultimately, we should seek both caring and vigorous virtues. But above all, we must not allow the former to dominate the latter.
Tác giả ghi chú rằng đức tính cương mãnh đã từng bị đức tính nhu thuận kia thay thế, dẫu rằng những đức tính này không nhất thiết hoàn toàn tách biệt hoặc xung khắc với nhau. Những nhà lãnh đạo và những công dân tích cực phải được hướng dẫn hành động bởi đức tính cương mãnh hơn là bởi đức tính quan tâm. Ta không nên để cho ước muốn trở thành người tử tế và lịch thiệp áp đảo cái bản chất thực của các nguyên tắc, hoặc quyết tâm của ta nhằm bảo vệ những nguyên tắc này. Rốt cuộc, thì ta vẫn nên dùng cả hai đức tính nhu thuận và cương mãnh. Nhưng trên hết, không được để đức tính thứ nhất thống trị đức tính thứ hai.
Again, by yielding to a false form of civility, we sometimes allow our critics to intimidate us. As I have said, active citizens are often subjected to truly vile attacks. They are branded as mean-spirited, racist, Uncle Tom, homophobic, sexist, etcetera. To this we often respond, if not succumb, so as not to be constantly fighting by trying to be to non-judgmental. That is,we censor ourselves. This is not civility. It is cowardice, or well-intentioned self-deception at best.
Thêm nữa, khi chấp nhận cái hình thức giả tạo của lịch sự, thỉnh thoảng chúng ta đã để những lời phê phán hăm dọa mình. Như tôi đã nói, những sự công kích bỉ ổi thường nhắm vào người năng động. Họ bị gán cho những phẩm chất như độc ác, phân biệt chủng tộc, kỳ thị màu da, chống đối đồng tính luyến ái, hạ phẩm giá phụ nữ, vân vân...Vì thế chúng ta thường phản ứng, nếu không là chịu thua, thì cũng là không dám liên tục chống đối, để tỏ ra mình là người vô tư. Vậy là ta đã tự kiểm duyệt chính mình. Điều này không phải là văn minh. Nó là sự hèn nhát hoặc cố ý dối lòng.
Immanuel Kant pointed out that, to escape shame and self-contempt, we must learn to lie to ourselves. These lies create a formidable obstacle to action on behalf of truth. And one of the greatest human accomplishments is to find a way to shatter those lies. We've learned how easy it is to deceive ourselves, even when the truth is luminously clear.
Immanuel Kant đã cho thấy, để thoát khỏi cảm giác xấu hổ hoặc tự khinh, ta phải học cách lừa dối chính ta. Sự lừa dối này tạo thành một chướng ngại đáng sợ cho những hoạt động vì sự thật. Và một trong những thành quả tuyệt diệu nhất của con người là đập tan những điều dối trá đó. Ta đã từng biết dù cho sự thật rành rành, việc tự dối lòng vẫn dễ dàng làm sao!
Listen to the truths that lie within your hearts, and be not afraid to follow them wherever they may lead. Those three little words hold the power to transform individuals and change the world. They supply the quiet resolve and unvoiced courage necessary to endure the inevitable intimidation.
Hãy lắng nghe những sự thật đang hiện hữu trong trái tim ta và đừng sợ khi đi theo con đường mà chân lý dẫn dắt. Hai chữ nhỏ bé này có một sức mạnh biến đổi được cá nhân và làm thay đổi được thế giới. Hai chữ nhỏ bé này tạo cho ta một quyết tâm và lòng can đảm không cần phải khoa trương nhưng cần thiết để chịu đựng được những mối đe dọa trên đường tranh đấu.
Today we are not called upon to risk our lives against some monstrous tyranny. America is not a barbarous country. Our people are not oppressed and we face no pressing international threat to our way of life, such as the Soviet Union once posed. Though the war in which we are engaged is cultural, not civil, it tests whether this nation, conceived in liberty, can long endure.
Ngày nay ta không hô hào liều mạng chống lại những bạo chúa vô nhân. Nước Mỹ không phải là một quốc gia man rợ. Nhân dân chúng ta không bị đàn áp và cuộc sống của ta không phải đối mặt với những sự đe dọa quốc tế, như đã từng có với Liên bang Xô Viết. Mặc dù cuộc chiến chúng ta đang tham dự là một cuộc chiến văn hóa, chứ không phải cuộc chiến về xã hội dân sự, cuộc chiến này cũng thử thách xem đất nước này, một đất nước được thai nghén trong tự do có thể tồn tại lâu dài hay không.
President Lincoln's words do endure. "It is for us, the living, to be here, dedicated to the great task remaining before us, that from these honored dead we take increased devotion to the cause for which they gave the last full measure of devotion, that we here highly resolve that these dead shall not have died in vain, that this nation, under God, shall have a new birth of freedom and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth."
Những lời nói của Tổng thống Lincoln vẫn còn đây: "Chính chúng ta, những người còn sống, chấp nhận hiến thân cho cái nhiệm vụ cao cả còn trước mặt; từ những cái chết vinh quang của những người đã tận tụy và hết lòng phụng sự, chúng ta sẽ tiếp tục phát triển sự tận tụy ấy; đó là nhiệm vụ mà chúng ta tại nơi đây, kiên quyết tiếp tục để cho những cái chết ấy sẽ không bị lãng phí, để cho quốc gia này, dưới sự che chở của Thiên chúa, sẽ đạt được một nền tự do mới và để cái chính phủ của dân, do dân và vì dân này sẽ không bị hủy diệt trên hoàn cầu."
The founders warned us that freedom requires constant vigilance and repeated action. It is said that, when asked what sort of government the Founders had created, Benjamin Franklin replied that they had given us "a republic, if you can keep it." Today, as in the past, we will need a brave civic virtue, not a timid civility, to keep our republic. So this evening, I leave you with the simple exhortation Be not afraid.
God bless you.
Những vị khai sáng đã cảnh báo chúng ta rằng tự do đòi hỏi ta phải có sự cảnh giác thường xuyên và có hành động liên tục. Chuyện được kể rằng, khi được hỏi những nhà khai sáng đã thành lập nên loại chính quyền nào, Benjamin Franklin trả lời: "Các ông ấy đã cho chúng ta một nước cộng hòa với điều kiện ta có thể giữ được nó." Ngày nay, như từng trong quá khứ, chúng ta sẽ cần một loại đức tính công dân dũng cảm, không phải là loại lịch sự nhút nhát, để giữ gìn được đất nước cộng hòa của chúng ta. Vậy buổi chiều hôm nay tôi xin trao lại các bạn một câu khích lệ đơn giản: Đừng sợ hãi!
Xin Chúa phù hộ các bạn.
[1] Alexander Hamilton là một trong 3 tác giả Tuyển tập Luận Cương Liên Bang, gồm 85 bài tham luận nhằm vận động quần chúng phê chuản Bản Hiến Pháp của Mỹ được soạn thảo năm 1787. Hai tác giả khác là James Madison, sau này là tổng thống đời thứ tư của Hoa Kỳ. Luận cương Liên bang được xem là tác phẩm quan trọng về lý thuyết chính trị của chế độ cộng hòa, nói chung và thể chế liên bang, nói riêng.
[2] EEOC, viết tắt của Equal Employment Opportunity Commission (Ủy ban Bảo vệ Quyền Bình đẳng Cơ hội về Việc làm) là một cơ quan liên bang của Hoa Kỳ. Ủy ban này được thành lập năm 1964 để giám sát việc thi hành Đạo luật về Dân quyền.
http://www.newtotalitarians.com/ThomasSpeech.html

TEN ESSENTIAL VIRTUES Mười Đức Tính Thiết Yếu


TEN ESSENTIAL VIRTUES
Mười Đức Tính Thiết Yếu
Parents can only give good advice or put their children on the right path. The final forming of a person’s character lies in their own hands.—Anne Frank
Cha mẹ chỉ có thể đưa ra lời khuyên tốt hay chỉ cho con cái con đường đi đúng. Nhưng, nhân cách của bạn cuối cùng hình thành chính bởi tay bạn. -Anne Frank
Virtues are habits of mind, heart, and behavior. They develop through deliberate practice.
Đức tính thói quen của tinh thần, trái tim hành vi. Đước tính phát triển thông qua thực hành chủ ý.
The ancient Greeks considered wisdom to be the master virtue, the one that directs all the others. Wisdom is good judgment. It enables us to make reasoned decisions that are both good for us and good for others. Wisdom tells us how to put the other virtues into practice—when to act, how to act, and how to balance different virtues when they conflict (as they do, for example, when telling the honest truth might hurt someone’s feelings). Wisdom enables us to discern correctly, to see what is truly important in life, and to set priorities. As the ethicist Richard Gula points out, “We cannot do right unless we first see correctly.”
Người Hy lạp cổ đại cho là có bốn đức tính quan trọng. Họ xem trí là đức tính chủ đạo, đức tính hướng dẫn mọi đức tính khác. Trí là có óc phán đoán đúng đắn, giúp cho ta có thể đưa ra những quyết định mang lại lợi ích cho ta và người khác. Trí cũng giúp ta áp dụng các đức tính khác trong hành động-khi nào thì hành động, hành động ra sao, và làm thế nào để điều hòa giữa các đức tính khác nhau khi gặp xung đột; thí dụ đơn giản như khi phải thật thà nói lên sự thật làm mất lòng kẻ khác. Trí giúp cho chúng ta phân biệt sự kiện được đúng đắn, để thấy đâu là điều thật quan trọng trong đời để còn ấn định những ưu tiên cho phù hợp. Nhà đạo đức học Richard Gula đã nói: "Ta không thể làm đúng nếu trước hết ta không nhìn thấy đúng."


The second virtue named by the Greeks is justice. Justice means respecting the rights of all persons. Since we are persons ourselves, justice also includes self-respect, a proper regard for our own rights and dignity. Schools, in their character education efforts, often center on justice because it includes so many of the interpersonal virtues—civility, honesty, respect, responsibility, and tolerance (correctly understood not as approval of other people’s beliefs or behaviors but as respect for their freedom of conscience as long as they do not violate the rights of others). A concern for justice—and the capacity for moral indignation in the face of injustice—inspires us to work as citizens to build a more just society and world.
Đức tính thứ hai người Hy lạp đề cao là công bình. Công bình nghĩa là tôn trọng quyền của tất cả mọi người. Quy luật Vàng bảo ta rằng hãy làm cho người khác những gì ta muốn họ làm cho ta, là một nguyên tắc của công bình được phổ cập trong mọi văn hóa và tín ngưỡng trên thế giới. Vì chính bản thân chúng ta cũng là con người, công bình cũng bao gồm lòng tự trọng, một nhận thức đúng đắn về nhân cách và quyền của chính mình. Trong các trường học, chương trình đức dục chú trọng vào tính công bình vì đức tính này bao gồm các đức tính khác trong quan hệ giữa con người với nhau như đối đãi với nhau có văn minh, thật thà, có trách nhiệm, và bao dung (bao dung không có nghĩa là chấp nhận niền tin của kẻ khác hay chấp nhận hành vi của họ, nhưng có nghĩa là tôn trọng quyền tự do suy nghĩ và hành xử sao cho không vi phạm đến quyền của kẻ khác). Mối quan tâm về sự công bình cộng với khả năng biết phẫn nộ trước những điều bất công thúc đẩy chúng ta hành xử như một công dân trong việc xây dựng một xã hội và thế giới công bình hơn.


A third, much-neglected virtue is fortitude. Fortitude enables us to do what is right in the face of difficulty. The right decision in life is often the hard one. One high school captures that truth in its motto: “Do the hard right instead of the easy wrong.” A familiar maxim says, “When the going gets tough, the tough get going.” Fortitude, as the educator James Stenson points out, is the inner toughness that enables us to overcome or withstand hardship, defeats, inconvenience, and pain. Courage, resilience, patience, perseverance, endurance, and a healthy self-confidence are all aspects of fortitude. Teen suicide has risen sharply in the past three decades; one reason may be that many young people are unprepared to deal with life’s inevitable disappointments. We need to teach our children that we develop our character more through our sufferings than our successes, that setbacks can make us stronger if we don’t give in to feeling sorry for ourselves.
Đức tính thứ ba, một đức tính rất thường bị bỏ quên là dũng cảm. Dũng cảm giúp cho chúng ta làm đúng khi đối diện với khó khăn. Quyết định đúng trong đời, thường là quyết định khó. Khẩu hiệu của một trường trung học đã nắm được tinh túy này như sau: "Làm điều phải dù khó thay vì làm điều dễ mà sai." Dũng cảm, theo nhà giáo dục James Stenson, là sức mạnh nội tâm giúp ta vượt qua hoặc chịu đựng nổi những khó khăn, thất bại, bất lợi và đau đớn. Can đảm, kiên trì, nhẫn nhục, chịu đựng và một niềm tự tin vững mạnh là các diện của dũng cảm. Hiện tượng trẻ vị thành niên tự tử đang tăng vọt trong 3 thập niên qua đáng cho ta quan tâm; một trong những nguyên nhân có lẽ là các em đã không được chuẩn bị để đương đầu với những thất vọng không thể tránh khỏi trong đời. Chúng ta cần dạy cho các em biết rằng các đức tính được phát triển qua đau khổ nhiều hơn là qua thành công, và những trở lực sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn nếu chúng ta đừng dùng nó làm lý do để ngồi than thở.


The fourth virtue named by the Greeks is self-control (which they called “temperance”). Self-control is the ability to govern ourselves. It enables us to control our temper, regulate our sensual appetites and passions, and pursue even legitimate pleasures in moderation. It’s the power to resist temptation. It enables us to wait—and to delay gratification in the service of higher and distant goals. An old saying recognizes the importance of self-control in the moral life: “Either we rule our desires, or our desires rule us.” Reckless, self-destructive, and criminal behaviors flourish in the absence of self-control.


Đức tính thứ tư là tự chủ. Tự chủ là khả năng kiểm soát lấy chính mình, giúp ta kiểm soát được sự nóng giận, điều hòa những nhu cầu tâm-sinh lý, và theo đuổi những ham thích chính đáng một cách chừng mực. Tự chủ là sức mạnh chống lại các cám dỗ và giúp cho ta khả năng chờ đợi--đình hoãn những khoái lạc hiện tại để tiếp tục tiến tới mục tiêu cao xa hơn. Cách ngôn có câu: "Nếu ta không cai quản được tham vọng, thì tham vọng sẽ cai quản ta." Các hành vi thiếu thận trọng hoặc tội phạm đều nảy sinh từ sự thiếu tự chủ mà ra.
The Greeks covered a lot of the moral territory but by no means all of it. A fifth essential virtue is love. Love goes beyond justice; it gives more than fairness requires. Love is the willingness to sacrifice for the sake of another. A whole cluster of important human virtues—empathy, compassion, kindness, generosity, service, loyalty, patriotism (love of what is noble in one’s country), and forgiveness—make up the virtue of love. In his book With Love and Prayers, F. Washington Jarvis writes: “Love—selfless love that expects nothing back—is the most powerful force in the universe. Its impact on both the giver and the receiver is incalculable.” Love is a demanding virtue. If we really took seriously the familiar injunction to “love your neighbor as yourself,” says an essay on this virtue, would we not make every effort to avoid gossiping about others and calling attention to their faults, given how sensitive we are to such things said about us?
Qua các đức tính trên, người Hy lạp quả đã nói khá đầy đủ về phạm trù đạo đức, nhưng còn thiếu đức tính quan trọng thứ năm. Đó là tình yêu. Tình yêu còn hơn cả công bằng, vì tình yêu khiến cho ta cho đi nhiều hơn cái mà công bằng đòi hỏi. Tình yêu là sự sẵn lòng hy sinh cho kẻ khác. Tất cả các đức tính quan trọng của con người, như thông cảm, trắc ẩn, tử tế, bao dung, phục vụ, trung thành, ái quốc, và tha thứ, tạo nên đức hạnh của tình yêu. F. Washington Jarvis viết trong cuốn sách "Với Yêu thương và Khấn nguyện" rằng: "Tình yêu--một tình yêu vị tha không đòi hỏi đáp đền là nguồn lực mạnh nhất trong vũ trụ. Ảnh hưởng của tình yêu đến kẻ nhận cũng như người cho là điều không thể đo đếm được." Tình yêu là một đức hạnh mang tính cách đòi hỏi và khắt khe. [Bởi vì] Nếu ta thật sự tuân theo lời răn quen thuộc "Hãy yêu láng giềng của ta như thể yêu ta," chắc chắn ta sẽ cố gắng không truyền đi nhừng tin đồn nhảm hay chỉ trích họ, vì biết rằng chính ta cũng cảm thấy khó chịu khi kẻ khác nói về ta như vậy.


A positive attitude is a sixth essential virtue. If you have a negative attitude in life, you’re a burden to yourself and others. If you have a positive attitude, you’re an asset to yourself and others. The character strengths of hope, enthusiasm, flexibility, and a sense of humor are all part of a positive attitude. All of us, young and old, need to be reminded that our attitude is something we choose. “Most people,” Abraham Lincoln said, “are about as happy as they make up their minds to be.” Said Martha Washington: “I have learned from experience that the greater part of our happiness or misery depends on our dispositions and not on our circumstances. We carry the seeds of the one or the other with us in our minds wherever we go.”
Thái độ tích cực là đức tính quan trọng thứ sáu. Nếu ta có thái độ tiêu cực trong đời, thì ta là gánh nặng cho chính ta và người khác. Nếu ta có thái độ tích cực, thì ta là một tài sản của chính ta và cho người khác. Hy vọng, phấn khởi, linh động, và óc hài hước là những thuộc tính của một thái độ tích cực. Tất cả chúng ta, dù già hay trẻ, cần nhớ rằng thái độ của chúng ta là do chính ta lựa chọn. Abraham Lincoln nói: "Hạnh phúc của hầu hết chúng ta là do ý tưởng của ta quyết định." Martha Washington cũng nói: "Tôi học được từ kinh nghiệm bản thân rằng hầu hết những hạnh phúc hay đau khổ tùy vào thái độ của ta chứ không vào hoàn cảnh. Ta mang theo mầm hạnh phúc hay khổ đau với ta trên mọi bước đường."


Old-fashioned hard work is a seventh indispensable virtue. There is no substitute in life for work. “I challenge you,” says the great basketball coach John Wooden, “to show me one single solitary individual who achieved his or her own personal greatness without lots of hard work.” Hard work includes initiative, diligence, goal-setting, and resourcefulness.
Chuyên Cần (hard working) là đức tính thứ bảy, một đức tính không thể thiếu được. Không thể sống trong đời mà không làm việc, và không thể nào đạt được thành quả nếu thiếu chuyên cần. Vị huấn luyện viên bóng rổ lừng danh John Wooden từng nói: " Tôi thách các bạn có thể chỉ cho tôi một người đạt được thành quả xuất sắc trong đời họ mà không phải làm việc cật lực." Chuyên cần gồm có sáng tạo, siêng năng, biết đặt mục tiêu và tháo vát.


An eighth essential virtue is integrity. Integrity is adhering to moral principle, being faithful to moral conscience, keeping our word, and standing up for what we believe. To have integrity is to be “whole,” so that what we say and do in different situations is consistent rather than contradictory. Integrity is different from honesty, which tells the truth to others. Integrity is telling the truth to oneself. “The most dangerous form of deception,” says author Josh Billings, “is self-deception.” Self-deception enables us to do whatever we wish and find a reason to justify our actions.
Đức tính quan trọng thứ tám là liêm chính. Liêm chính là luôn tuân theo các nguyên tắc đạo đức, lương tâm, giữ lời nói, và dám bảo vệ những gì ta tin tưởng. Có đức tính liêm chính tức là "toàn vẹn," do đó những việc ta làm luôn nhất quán trong những trường hợp khác nhau. Liêm chính khác với thành thực ở chỗ thành thực là nói thật với người khác, còn liêm chính là thành thật với chính mình. Josh Billings, một nhà văn nói: "Hình thức lừa dối nguy hiểm nhất là lừa dối chính mình." Tự lừa dối nguy hiểm ở chỗ nó cho phép ta làm theo ý thích của mình rồi tìm các lý lẽ để biện minh cho các hành động ấy.


Gratitude is a ninth essential virtue. “Gratitude, like love, is not a feeling but an act of the will,” observes writer Anne Husted Burleigh. “We choose to be thankful, just as we choose to love.” Gratitude has been described as the secret of a happy life. It reminds us that we all drink from wells we did not dig. It moves us to count our everyday blessings. Asked what was the biggest lesson he learned from drifting 21 days in a life raft lost in the Pacific, the war hero Eddie Rickenbacker answered: “That if you have all the fresh water you want to drink and all the food you want to eat, you ought never to complain about anything.”
Lòng biết ơn là đức tính thứ chín. Văn sĩ Anne Husted Burleigh nhận xét: "Lòng biết ơn cũng giống như lòng yêu thương không phải là một cảm xúc mà là một hành động của ý chí. Chúng ta chọn xem có biết ơn không, cũng như chọn xem có nên yêu hay không." Lòng biết ơn thường được xem như bí mật của một đời sống hạnh phúc; nó nhắc cho ta nhớ rằng ta đang cùng uống nước từ một cái giếng mà ta chưa bao giờ đào; nó nhắc ta nhớ để đếm những phước hạnh ta nhận được mỗi ngày. Anh hùng quân đội Eddie Rickenbacker khi được hỏi anh học được bài học nào lớn nhất khi trôi giạt 21 ngày trên một chiếc bè giữa Thái Bình Dương, đã trả lời: "Nếu bạn có nước uống tha hồ, thức ăn thừa mứa, thì bạn đừng nên than phiền về bất cứ điều gì nữa."


Humility, the final essential virtue, can be considered the foundation of the whole moral life. Humility is necessary for the acquisition of the other virtues because it makes us aware of our imperfections and leads us to try to become a better person. “Humility,” writes the educator David Isaacs, “is recognizing both our inadequacies and abilities and pressing our abilities into service without attracting attention or expecting applause.” “Half the harm that is done in the world,” said T. S. Eliot, “is due to people who want to feel important.” “Every virtue turns worthless,” writes the philosopher Dietrich von Hildebrand, “if pride creeps into it—which happens whenever we glory in our goodness.” Without humility, observes another writer, we keep all our defects; they are only crusted over with pride, which conceals them from ourselves. Humility enables us to take responsibility for our faults and failings (rather than blaming someone else), apologize for them, and seek to make amends. The psychiatrist Louis Tartaglia, in his book Flawless! The Ten Most Common Character Flaws and What You Can Do About Them, says that in more than 20 years as a therapist he has found the most common character flaw to be “addiction to being right.” (“Do you find yourself discussing disagreements,” he asks, “long after they are finished, just to prove you were right?”) The key to character growth in therapy and life, he says, is simply the humble willingness to change.
Khiêm nhượng là đức tính cuối cùng và cũng có thể được xem là nền tảng của đời sống đạo đức. Khiêm nhượng là điều cần thiết giúp ta sở đắc những đức tính khác vì nó cho ta biết được sự bất toàn của mình mà cố gắng để trở nên người tốt hơn. Nhà giáo David Isaacs viết: "Khiêm nhượng là nhận thức được những khiếm khuyết của mình và cố gắng hết khả năng để phục vụ mà không cần đến được vinh danh hay tán thưởng." Đại thi sĩ T. S. Eliot cũng nói: "Một nửa những điều tệ hại xảy ra cho thế giới này là do những người muốn được cảm thấy ta đây là quan trọng gây ra." Triết gia Dietrich von Hildebrand cũng viết: "Mọi đức hạnh đều chẳng có giá trị gì hết nếu ta để lòng kiêu len lỏi đi vào-điều này xảy ra mỗi khi ta cảm thấy hãnh diện về lòng tốt của mình." Một tác giả khác nhận xét rằng không có lòng khiêm nhượng, ta sẽ giữ những khuyết điểm của mình vì sự kiêu hãnh khiến cho ta không nhận ra chúng nữa. Lòng khiêm nhượng giúp ta nhận lấy trách nhiệm về những lỗi lầm do ta gây ra, và sửa đổi chúng. Louis Tartaglia, một bác sĩ về tâm thần, viết trong cuốn sách mang tựa đề "Không lầm lỗi! Mười khuyết điểm thường gặp trong cá tính và Ta có thể làm gì?" rằng, trong suốt 20 năm hành nghề, ông nhận ra khuyết điểm thường gặp nhất là bệnh "ghiền phải là người đúng." Ông hỏi: "Có khi nào bạn nhận ra là lại đang thảo luận về sự bất đồng ý ngay cả khi chuyện đó xong lâu rồi, chỉ để chứng minh là mình đúng?" Chìa khóa để xây dựng đức tính trong trị liệu cũng như trong đời sống là lòng khiêm nhượng để thay đổi.
Thomas Lickona

1. Which of these ten virtues are your strong points?
2. Which ones are challenges for you—areas where you have the most room for improvement? Choose one and set a goal. Share your plan with a partner.
1.Trong mười đức tính này, những điểm mạnh của bạn là gì?
2. Những đức tính nào còn là thách thức với bạn – chính là những khu vực, bạn còn có thể cải thiện? Chọn một đước tính và thiết lập một mục tiêu. Chia sẻ kế hoạch của bạn với một người bạn.


Obligations to Self and to Others Bổn Phận Đối Với Bản Thân và Tha Nhân


Obligations to Self and to Others
Bổn Phận Đối Với Bản Thân và Tha Nhân
by Mortimer J. Adler, Ph.D.
Mortimer J. Adler, Ph.D.
The obligation of the individual to act justly toward his fellowmen requires him, "as far as that is possible," to do nothing that inflicts injury on them by depriving them of the things they need in order to make good lives for themselves. This is negative rather than positive. The positive side consists of actions that facilitate or enhance the pursuit of happiness by others, through helping them to obtain goods that they need, but that they cannot obtain wholly by their own efforts.
Bổn phận cư xử công bằng với những người chung quanh đòi hòi một cá nhân phải hết sức tránh làm điều gì gây ra tổn thương cho người khác, như tước đoạt những thứ họ cần có để tạo nên cuộc sống tốt cho bản thân. Nói như vậy nghe tiêu cực hơn là tích cực. Theo mặt tích cực, nghĩa vụ của một con người bao gồm những hành động giúp cho sự mưu cầu hạnh phúc của người khác được thuận tiện hoặc dễ dàng hơn, bằng cách giúp đỡ họ đạt được những thứ họ cần nhưng chẳng thể đạt được trong phạm vi khả năng của họ.
Does justice obligate us positively as well as negatively? Do we have a duty to take steps to benefit our fellowmen as well as to avoid injuring them? My understanding of the difference between love and justice leads me to say "No" to this question. It is love, not justice, that impels us to act benevolently toward those whom we regard as our friends.
Liệu công lý có buộc chúng ta phải có hành động tích cực lẫn tiêu cực đối với tha nhân không? Có phải chúng ta vừa có trách nhiệm mang ích lợi đến cho đồng loại, đồng thời có trách nhiệm tránh làm tổn thương họ không? Sự hiểu biết của tôi về sự khác biệt giữa tình thương và công lý khiến tôi trả lời là "Không." Chúng ta cư xử một cách nhân từ đối với những người chúng ta xem là bạn là do tình thương, chứ không phải là vì công lý.
The duties of justice relate only to the rights of others that we are obliged to respect, and this is but another way of saying that justice requires us not to injure them by depriving them of the things they need. In contrast, love, unlike justice, does not consist in rendering to others what is their due- -- what they have a natural right to. It consists in giving them generously more than is their due- -- in helping them, beyond respecting their rights, to achieve what they cannot achieve for themselves.
Những bổn phận mà công lý đòi hỏi chỉ buộc ta phải tôn trọng quyền lợi của người khác, hay nói khác đi, công lý buộc ta không được gây tổn thương đến người khác bằng cách lấy đi những thứ họ cần. Ngược lại, không giống như công lý, tình yêu thương không bao gồm việc mang lại cho người khác những thứ thuộc về họ-- những thứ thuộc quyền tự nhiên của họ. Tình thương gồm có trao đến cho người khác nhiều hơn cái họ đáng có - là tương trợ họ để họ có được những gì họ không thể tự đạt được một mình, tức là ta đi xa hơn là tôn trọng quyền lợi của họ.
When one understands the friend or loved one as an "alter ego," as another self, one acts positively for that other's ultimate good as one acts for one's own happiness. Just as one who is virtuously disposed to make a good life for himself would do nothing to injure himself, so he would do nothing to injure his friend, and beyond this he would take positive steps to advance his friend's pursuit of happiness, even as he takes such steps to advance his own. This is the meaning of the profoundly wise observation that if all men were friends, justice would not be necessary. But even when they are members of the same community, all men are not friends, and so the restraints of justice are necessary to prevent one man from injuring another.
Khi ta nhận thức rằng người bạn hay người thân của mình chính là bản ngã thứ hai của mình, ta sẽ hành động một cách tích cực để mang lại lợi ích tối đa cho người ấy, như ta làm cho chính bản thân mình. Cũng giống như một người đức hạnh sẽ sống một đời sống tốt lành cho chính mình và không làm điều gì phương hại đến bản thân và danh dự cá nhân của họ, thì người đó cũng sẽ không làm điều gì phương hại đến bạn mình, và còn làm hơn thế nữa để giúp bạn mình đạt được hạnh phúc như thể đang làm cho chính bản thân. Đây là ý nghĩa của lời bình phẩm khôn ngoan sâu sắc rằng nếu tất cả con người là bạn, thì không cần có công lý. Tuy nhiên, ngay cả khi mọi người cùng là thành viên của một cộng đồng, không phải tất cả đều là bạn, do đó công lý là sự kiềm chế cần thiết nhằm tránh không cho người này gây tổn thương cho người khác.
The obligation of the organized community, or of its government, to act justly toward its members or subjects, is both positive and negative. A just government is one that secures, as far as that is possible, the natural rights of all who are subject to it. In other words, it is under the obligation to injure no one. Beyond this, however, a just government is under the positive obligation, as a matter of justice, not of benevolence, to promote the general welfare. What does this mean?
Với một cộng đồng có tổ chức, hoặc một chính quyền, bổn phận hành xử công bằng đối với thành viên hoặc dân chúng bao gồm cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Một chính quyền công bằng sẽ tận sức bảo đảm những quyền tự nhiên của mọi người dân. Nói cách khác, trách nhiệm của chính quyền là không gây tổn thương cho bất cứ người dân nào. Hơn thế nữa, theo khía cạnh công lý, chứ không theo mặt nhân đạo, một chính quyền công bằng có bổn phận tích cực là phát huy phúc lợi cho dân chúng. Nói thế là nghĩa gì?
It means, first, that it ought to preserve and enhance the common good of the community itself -- the bonum commune communitatis -- in which its subjects participate or share, a good that is essential to their making good lives for themselves. In addition, it means that a just government ought to help its subjects obtain the real goods that they cannot obtain wholly by their own individual efforts. As Lincoln observed, a government should do for its people what they, individually, cannot do for themselves.
Thế nghĩa là, trước tiên, chính quyền có bổn phận duy trì và phát huy cái tốt chung trong một cộng đồng - một cộng đồng tốt đẹp - nơi dân chúng tham gia và chia sẻ những điều tốt đẹp thiết yếu để tạo dựng đời sống tốt cho bản thân. Thêm nữa, bổn phận này có nghĩa là một chính quyền công bằng phải giúp đỡ người dân đạt được những điều tốt thật sự mà tự họ không thể đạt được. Như tổng thống Lincoln đã nhận xét, một chính quyền nên mang lại cho người dân những gì mà tự sức riêng của họ không thể đạt được.
This merely repeats what was said earlier about the purposes of human association, especially of the political community. The purpose of the state is to help men not only to live, but also to live well; it is, by its very nature, a means to these ends, and it serves these ends only when it promotes the general welfare by preserving peace and helping its people to obtain the things they need that they cannot obtain by their individual efforts. I would like to add only one further comment.
Đây là lập lại điều đã nêu trên về mục đích của sự liên kết giữa người và người, đặc biệt trong một cộng đồng chính trị. Mục đích của nhà nước là giúp đỡ người dân không phải chỉ để sống, mà còn là sống tốt; nhà nước, bởi vì bản chất của nó, là phương tiện để đạt được cái cứu cánh này, và phương tiện chỉ phục vụ cứu cánh khi nào nhà nước đẩy mạnh phúc lợi cho dân bằng cách bảo tồn hòa bình và trợ giúp dân chúng giành được những thứ họ cần nhưng không thể đạt được bằng sự cố gắng riêng rẽ của từng cá nhân. Tôi xin được nói thêm một điểm nữa.
Since the individual is, as a matter of justice, obligated to work for the good of the community in which he lives, and since that good involves not only the peace of the community but also other aspects of the general welfare, the individual in discharging this obligation acts positively for the ultimate good of others as well as for his own ultimate good. What I said earlier about the individual's not having an obligation, as a matter of justice, to act positively for the good of others is thus qualified.
Bởi vì một cá nhân, về phương diện công lý, có bổn phận đóng góp cho cái tốt chung của cộng đồng nơi người đó sinh sống, và vì cái tốt đó không những liên quan đến sự hòa bình trong cộng đồng mà còn đến những khía cạnh khác của phúc lợi chung; do đó, một cá nhân khi thực thi bổn phận này đã đóng góp một cách tích cực cho cái tốt chung và cho cả bản thân nữa. Điều này chứng minh cho điều tôi đã nêu ở trên, rằng về phương diện công bằng, một cá nhân không có bổn phận, phải hành động tích cực cho ích lợi của người khác.
In other words, the positive steps that he takes to help his friends or those whom he loves, he takes directly on their behalf and out of benevolence. But the positive steps he takes to help those members of the community who are not within the circle of his benevolence, he takes indirectly through discharging his obligation, in justice, to act for the good of the community, in which all its members share. Once again I must repeat that all the foregoing statements carry the qualification "under ideal conditions." No one can be expected to do what, at the time, is impossible; failure to do the impossible is not morally culpable. This, of course, raises a crucial question of fact about what is possible or impossible.
Nói cách khác, những hành vi tích cực mà một người giúp đỡ cho bạn bè hay người thân của mình, là hành động trực tiếp khởi từ tình thương. Tuy nhiên những việc tốt mà người đó làm để giúp những người không thân quen với mình trong cộng đồng, là hành động gián tiếp khởi từ cái bổn phận công bằng của một thành viên trong một cộng đồng, bổn phận mang lại ích lợi cho cả cộng đồng chung hưởng. Một lần nữa, tôi phải nhắc lại rằng mọi điều nêu trên được đặt trong những "điều kiện lý tưởng." Ta không nên kỳ vọng người ta làm được một việc mà vào thời điểm nào đó là một việc bất khả thi; không có gì đáng trách về đạo đức khi ta thất bại vì không làm được điều bất khả thi. Và dĩ nhiên, điều này nêu lên câu hỏi cốt yếu rằng điều gì là khả thi và điều gì là bất khả thi.
http://web.archive.org/web/20080402092903/http://radicalacademy.com/adlerobligations.htm