| THE SIXTH LETTER | BỨC THƯ THỨ SÁU |
| Rome My dear Mr. Kappus, | Rome, ngày 23 tháng chạp, năm 1903 Ông Kappus thân ái, |
| I don't want you to be without a greeting from me when Christmas comes and when you, in the midst of the holiday, are bearing your solitude more heavily than usual. But when you notice that it is vast, you should be happy; for what (you should ask yourself) would a solitude be that was not vast; there is only one solitude, and it is vast, heavy, difficult to bear, and almost everyone has hours when he would gladly exchange it for any kind of sociability, however trivial or cheap, for the tiniest outward agreement with the first person who comes along, the most unworthy. But perhaps these are the very hours during which solitude grows; for its growing is painful as the growing of boys and sad as the beginning of spring. But that must not confuse you. What is necessary, after all, is only this: solitude, vast inner solitude. To walk inside yourself and meet no one for hours - that is what you must be able to attain. To be solitary as you were when you were a child, when the grownups walked around involved with matters that seemed large and important because they looked so busy and because you didn't understand a thing about what they were doing. | Không lẽ nào tôi lại không gửi đến ông lời chào mừng nhân dịp lễ giáng sinh sắp tới, khi mà giữa cuộc lễ vui ông lại còn cưu mang nỗi cô đơn của ông nặng nề hơn bao giờ cả. Nếu lúc ấy ông cảm thấy rằng nỗi cô đơn của ông quá lớn lao thì ông hãy vui hưởng nỗi cô đơn mênh mông ấy. Ông hãy tự nhủ: nỗi cô đơn sẽ là gì, khi đó không phải là nỗi cô đơn lớn lao nhỉ? Nỗi cô đơn chỉ là một, là độc nhất: tận nơi bản thể thì nỗi cô đơn đều lớn lao và nặng chĩu. Hầu hết mọi người đều trải qua những giờ giấc mà họ sẵn sàng đổi chác để lấy cho được một cuộc giao du nào dù tầm thường nông cạn đi chăng nữa cũng được, đổi lấy bất cứ hình thức giả vờ nào có vẻ tương thuận hời hợt nhất với bất cứ kẻ nào chợt đến, dù là kẻ không xứng đáng với mình nhất… Song có lẽ những giờ phút cô tịch kia chính là những giờ phút mà nỗi cô đơn của ông được tăng trưởng cao lớn và sự lớn mạnh kia thì thực là đau đớn như tuổi lớn của trẻ con và trầm buồn như trời sắp lập xuân. Xin ông đừng chộn rộn. Chỉ có một điều là cần thiết: đó là nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn cao lớn bên trong tâm hồn. Ông hãy đi sâu vào tâm hồn ông và đừng gặp mặt bất cứ ai suốt những giờ đằng đẵng lê thê, đó là điều mình phải đạt tới. Mình phải cô đơn như trẻ con trơ trọi một mình lúc người lớn đi qua đi lại trong nhà, lao đao lận đận bận bịu líu díu với những sự việc dường như to lớn đối với trẻ con và dường như quan trọng chỉ vì những người lớn chộn rộn và trẻ con thì không hiểu nổi những sự việc bề bộn kia của những người lớn tuổi. |
| And when you realize that their activities are shabby, that their vocations are petrified and no longer connected with life, why not then continue to look upon it all as a child would, as if you were looking at something unfamiliar, out of the depths of your own world, from the vastness of your own solitude, which is itself work and status and vocation? Why should you want to give up a child's wise not-understanding in exchange for defensiveness and scorn, since not understanding is, after all, a way of being alone, whereas defensiveness and scorn are a participation in precisely what, by these means, you want to separate yourself from. | Một ngày nào đó khi mình chợt thấy rằng những lo âu chộn rộn của người lớn quả thực là xót xa cơ cực, những công ăn việc làm của họ thì nguội lạnh và không can hệ gì với đời sống, lúc ấy là lúc mình khó lòng không nhìn họ như trẻ con nhìn họ, nghĩa là một cái gì xa lạ hẳn người đời, một cái nhìn từ tận lòng thế giới riêng biệt của mình, tận nỗi cô đơn bao la, một nỗi cô đơn đồng thời cũng là sự lao tác, thuận vị và thiên chức? Tại sao mình lại chịu đổi cái vô tri khôn ngoan của trẻ con để lấy sự cạnh tranh và rẻ rúng thị phi bởi vì sự vô tri kia chính là thuận chịu cô đơn và cạnh tranh sự rẻ rúng thị phi kia chỉ là những cách lối tham dự vào chính những sự việc mà người ta không muốn biết tới? |
| Think, dear Sir, of the world that you carry inside you, and call this thinking whatever you want to: a remembering of your own childhood or a yearning toward a future of your own - only be attentive to what is arising within you, and place that above everything you perceive around you. What is happening in your innermost self is worthy of your entire love; somehow you must find a way to work at it, and not lose too much time or too much courage in clarifying your attitude toward people. Who says that you have any attitude at all? l know, your profession is hard and full of things that contradict you, and I foresaw your lament and knew that it would come. | Ông thân ái, xin ông hãy áp dụng những tư duy của ông vào thế giới nội tâm mà ông cưu mang trong hồn, hảy gọi dậy những tư duy này như sở vọng của mình. Nhưng dù đó là hoài niệm về chính tuổi nhỏ của ông hoặc về nhu cầu say đắm của việc thể hiện thành đạt đời mình thì ông hãy tập trung tinh thần vào tất cả những gì bừng dậy trong hồn ông, hãy để tất cả những cái ấy vượt lướt qua trước tất cả những gì ông quan sát ở thế giới bên ngoài. Những biến cố nội tâm của ông rất xứng đáng thụ hưởng tất cả lòng thương yêu của ông. Ông phải làm việc phụng sự cho chúng, đừng đánh mất quá nhiều thời giờ, đừng làm mất quá nhiều sinh lực để soi rọi những mối tương giao của ông với những kẻ khác. Hơn nữa ai lại bảo ông rằng ông phải cần như thế chứ? – Tôi thừa hiểu, nghề nghiệp của ông hiện nay quả là vất vả gian nan và va chạm phiền lụy ông nhiều, tôi đã đoán trước những lời kêu than của ông; tất nhiên ông sẽ kêu than. |
| Now that it has come, there is nothing I can say to reassure you, I can only suggest that perhaps all professions are like that, filled with demands, filled with hostility toward the individual, saturated as it were with the hatred of those who find themselves mute and sullen in an insipid duty. The situation you must live in now is not more heavily burdened with conventions, prejudices, and false ideas than all the other situations, and if there are some that pretend to offer a greater freedom, there is nevertheless none that is, in itself, vast and spacious and connected to the important Things that the truest kind of life consists of. | Giờ thì ông đã kêu than rồi, tôi không làm thế nào trấn an ông được. Những gì tôi có thể làm được là chỉ khuyên ông nên tự vấn: không phải tất cả nghề nghiệp đều như vậy sao, nghĩa là đầy mọi yêu sách, chống trở đối nghịch lại với nhân thể, dường như thấm nhiễm đầy lòng oán ghét của những kẻ đuối lý gắt gỏng trước bổn phận trơ trọi. Sinh phận mà hiện nay ông phải chịu quen thuộc không hẳn là nặng đầy những công thức ước lệ, những thành kiến lỗi lầm hơn là bất cứ một sinh phận nào khác. Nếu có những người nào đó dường như có vẻ bảo toàn được sự tự do thì không ai có đủ những khai vực kích thước cần phải có cho những sự việc vĩ đại làm thành đời sống trung thực nhất. |
| Only the individual who is solitary is placed under the deepest laws like a Thing, and when he walks out into the rising dawn or looks out into the event-filled evening and when he feels what is happening there, all situations drop from him as if from a dead man, though he stands in the midst of pure life. What you, dear Mr. Kappus, now have to experience as an officer, you would have felt in just the same way in any of the established professions; yes, even if, outside any position, you had simply tried to find some easy and independent contact with society, this feeling of being hemmed in would not have been spared you. | Song con người sống với nỗi cô đơn chính là một sinh thể nhu thuận theo những lề luật sâu thẳm nhất của đời sống. và mội khi con người cô đơn này bước ra trong buổi rạng đông đang bừng dậy hoặc mỗi khi hắn ngước nhìn vào đêm tối đang rơi xuống, giờ phút tràn đầy những nứt nụ đơm trái này, nếu hắn cảm được những gì đang thành tựu trong đó thì lúc ấy hắn lột bỏ tất cả mọi sinh phận điều kiện, giống như một người đang sắp chết, mặc dù chính lúc ấy là lúc hắn đang bước vào đời sông chân thực nhất. Về những nỗi khó khăn gian nan của binh nghiệp, hỡi ông Kappus thân ái, ông cũng sẽ gặp những khổ nạn ấy trong tất cả nghề nghiệp nào khác. Dù ông đã tìm mọi cách để tạo ra giữa ông và xã hội những mối tương giao uyển chuyển và thoải mái, xa cách hẳn tất cả nghề nghiệp thì ngay cả lúc ấy ông cũng cảm thấy không tránh khỏi cảm giác đàn áp đè nặng trong tâm tư mình. |
| It is like this everywhere; but that is no cause for anxiety or sadness; if there is nothing you can share with other people, try to be close to Things; they will not abandon you; and the nights are still there, and the winds that move through the trees and across many lands; everything in the world of Things and animals is still filled with happening, which you can take part in; and children are still the way you were as a child, sad and happy in just the same way and if you think of your childhood, you once again live among them, among the solitary children, and the grownups are nothing, and their dignity has no value. | Ở đâu rồi cũng như thế, nhưng đó không phải là một lý do để bồn chồn áy náy và buồn rầu sầu thảm. nếu không không tìm được sự giao cảm dung nhập giữa ông và những người đời, vậy ông hãy cố gắng sống gần gũi với những sự vật: những sự vật không bao giờ từ bỏ ông đâu. Những đêm tối khơi vơi vẫn còn đó kìa, những cơn gió lay động lá cành vẫn còn đó kìa, những cơn gió chạy ri1y băng qua trên những cọi miền hun nút. Trong thế giới của những sự vật và trong thế giới của những thú vật, tất cả đều tràn đầy những biến cố cơ sự ,mà ông có thể tham dự dung nhập. Những trẻ con luôn luôn giống như tuổi thơ dại ngày trước của ông: nghĩa là vừa buồn vừa vui; và nếu ông nghĩ tới tuổi thơ của ông, ông sẽ được sống lại với những trẻ con, sống giữa những đứa bé bí mật. những con người lớn tuổi chẳng là gì cả, phẩm cách của họ không cung ứng với cái gì cả. |
| And if it frightens and torments you to think of childhood and of the simplicity and silence that accompanies it, because you can no longer believe in God, who appears in it everywhere, then ask yourself, dear Mr. Kappus, whether you have really lost God. Isn't it much truer to say that you have never yet possessed him? For when could that have been? Do you think that a child can hold him, him whom grown men bear only with great effort and whose weight crushes the old? Do you suppose that someone who really has him could lose him like a little stone? Or don't you think that someone who once had him could only be lost by him? But if you realize that he did not exist in your childhood, and did not exist previously, if you suspect that Christ was deluded by his yearning and Muhammad deceived by his pride - and if you are terrified to feel that even now he does not exist, even at this moment when we are talking about him - what justifies you then, if he never existed, in missing him like someone who has passed away and in searching for him as though he were lost? | Nếu ông cảm thấy xao xuyến bồn chồn day dứt mỗi khi khơi dậy tuổi thơ dại của ông, khôi dậy tất cả những gì chất phác và bí ẩn trong tuổi thơ, vì ông không thể tin tưởng gì nữa nơi Linh thể ngày xưa thường hiện hữu nơi từng bước chân của trẻ dại, lúc ấy, hỡi ông Kappus thân ái, ông hãy tự hỏi rằng có thực sự ông đã đánh mất Linh thể? Đúng hơn: phải chăng ông chưa bao giờ thụ nhận được Linh thể? Thực ra khi nào thì ông mới thụ nhận? Ông có tin rằng trẻ thơ có thể ôm giữ Linh thể trong tay nó, Linh thể mà con người trưởng thành cưu mang với đầy khốn khổ cơ cực; Linh thể mà trọng lực đè bẹp kẻ già nua tuổi tác? Ông có cho rằng kẻ nào đã thụ nhận được Linh thể rồi có thể đánh mất Linh thể như người ta đánh mất một hòn sỏi? Ông không nghĩ rằng kẻ nào đó đã thu nhận Linh thể chỉ là dễ bị Linh thể đánh mất? – Nhưng nếu ông nhận rằng Linh thể đã không hiện hữu trước ông, nếu ông linh cảm rằng Christ đã bị lừa bởi tình thương của ngài, cũng như Mahomet đã bị lừa bởi tính kiêu ngạo, nếu ông cảm thấy kinh hãi ngay trong giây phút chúng ta nói về Linh thể, cảm thấy Linh thể không hiện hữu, thế thì làm thế nào ông cảm thấy thiếu vắng Linh thể như thiếu vắng quá khư; vì Linh thể chưa từng hiện hữu, và tại sao ông lại tìm kiếm Linh thể như là ông đã đánh mất Linh thể? |
| Why don't you think of him as the one who is coming, who has been approaching from all eternity, the one who will someday arrive, the ultimate fruit of a tree whose leaves we are? What keeps you from projecting his birth into the ages that are coming into existence, and living your life as a painful and lovely day in the history of a great pregnancy? Don't you see how everything that happens is again and again a beginning, and couldn't it be His beginning, since, in itself, starting is always so beautiful? If he is the most perfect one, must not what is less perfect precede him, so that he can choose himself out of fullness and superabundance? Must he not be the last one, so that he can include everything in himself, and what meaning would we have if he whom we are longing for has already existed? | Tại sao không nghĩ rằng Linh thể là kẻ sẽ hiện đến, kẻ phải hiện đến từ trường cửu, rằng Linh thể là tương lai, trái chín muồi của một cây mà chúng ta là những chiếc lá? Cái gì đã ngăn ông lại vậy, không cho ông phóng hiện trước sự hiện đến của Linh thể trong dòng lưu chuyển và sống đời sống ông như sống giữa những ngày đau đớn và đẹp đẽ của một mối hoài thai cao thượng? Ông không thấy rằng tất cả những gì hiện đến đều luôn luôn là một sự bắt đầu? Ôi biết bao là diễm sắc trong tất cả những gì mới bắt đầu. Vì chính Linh thể là điều kiện hoàn thiện, thế thì chẳng phải Linh thể cần được hiệnđến trước những thành tựu mong manh nhất, để mà Linh thể có thể rút lấy cốt chất tràn trề sung mãn của mình? Không phải Linh thể cần đến sau tất cả mọi sự để dung nhiếp tất cả mọi sự? Sự tìm kiếm của chúng ta còn có được ý nghĩa gì nữa nếu người mà chúng ta tìm kiếm đã thuộc về dĩ vãng rồi? |
| As bees gather honey, so we collect what is sweetest out of all things and build Him. Even with the trivial, with the insignificant (as long as it is done out of love) we begin, with work and with the repose that comes afterward, with a silence or with a small solitary joy, with everything that we do alone, without anyone to join or help us, we start Him whom we will not live to see, just as our ancestors could not live to see us. And yet they, who passed away long ago, still exist in us, as predisposition, as burden upon our fate, as murmuring blood, and as gesture that rises up from the depths of time. | Giống y như những con ong, chúng ta xây dựng Linh thể với những gì dịu mềm nhất trong mỗi một sự vật. Bất cứ điều gì nhỏ nhiệm nhất, phơn phớt nhất, khi xuất phát từ tình yêu, đều trở thành chất liệu cho chúng ta để thảo phác Linh thể. Chúng ta bắt đầu phác thảo Linh thể trong công việc, trong sự an nghỉ theo sao đó, trong sự im lặng, trong đà vui đột phát ngắn ngủi bên trong. Chúng ta bắt đầu phác thảo Linh thể trong tất cả những việc làm đơn độc của chúng ta, không có sự trợ giúp nào, không có sự tham gia của những kẻ khác. Chúng ta sẽ không biết được Linh thể trong cuộc sống của chúng ta, như những tổ tiên của chúng ta cũng đã không biết được Linh thể trong cuộc sống của họ. Tuy thế những sinh thể của dĩ vãng vẫn sống trong chúng ta, trong tận đáy lòng của những khuynh hướng chúng ta, trong nhịp đập của giòng máu chúng ta: những sinh thể ấy là cử chỉ thoát từ sự sâu thẳm của thời gian. |
| Is there anything that can deprive you of the hope that in this way you will someday exist in Him, who is the farthest, the outermost limit? | Vậy thì cái gì có thể tước đoạt mất niềm hy vọng của chúng ta rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ được sống nơi Linh thể, vượt ra ngoài tất cả mọi giới hạn ngăn cách? |
| Dear Mr. Kappus, celebrate Christmas in this devout feeling, that perhaps He needs this very anguish of yours in order to begin; these very days of your transition are perhaps the time when everything in you is working at Him, as you once worked at Him in your childhood, breathlessly. Be patient and without bitterness, and realize that the least we can do is to make coming into existence no more difficult for Him than the earth does for spring when it wants to come. And be glad and confident. Yours, Rainer Maria Rilke | Hãy làm lẽ Giáng sinh, ông Kappus thân ái, trong niềm cảm hoài thánh thiện. Để mà khởi sự nơi lòng ông, phải chăng Linh thể cũng sẽ cần tới nỗi xao xuyến ưu tư của ông trước đời sống? Những ngày gian nan trở ngại gần đây có lẽ là lúc mà tất cả mọi sự trong người ông đang tác động phụng hướng cho Linh thể. Khi còn thơ ấu, ông đã phụng hướng cho Linh thể và chỉ ngắn hơi. Ông hãy kiên nhẫn và đầy thiện chí lân mẫn. Ít nhất điều ông có thể làm được là đừng chống chế cầm cự với Linh thể, cũng như Mặt Đất không cầm cự với Mùa Xuân, lúc mùa xuân hiện đến. Hãy yêu đời và đầy tin tưởng. Thân ái, RAINER MARIA RILKE |
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Wednesday, June 29, 2011
Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 6 Thư gởi nhà thơ trẻ 6
Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 5 Thư gởi nhà thơ trẻ 5
| THE FIFTH LETTER | BỨC THƯ THỨ NĂM |
| Rome Dear Sir, | Rome, ngày 29 tháng mười, năm 1903. Ông thân ái, |
| I received your letter of August 29 in Florence, and it has taken me this long two months to answer. Please forgive this tardiness, but I don't like to write letters while I am traveling because for letter-writing I need more than the most necessary tools: some silence and solitude and a not too unfamiliar hour. | Bức thư ông gửi ngày 29 tháng tám đã tới tay tôi tại Florence, và bây giờ, sau hai tháng trời biền biệt, tôi mới nhắc tới bức thư đó. Xin ông thứ lỗi cho sự chậm trễ này, sở dĩ thế là vì tôi không thích viết thư khi lên đường. Vì muốn viết thư, đối với tôi, không phải chỉ cần vật dụng cần thiết thôi mà lại cần cả đôi chút im lặng biệt lập và một giờ thuận tiện cho tinh thần kết nụ. |
| We arrived in Rome about six weeks ago, at a time when it was still the empty, the hot, the notoriously feverish Rome, and this circumstance, along with other practical difficulties in finding a place to live, helped make the restlessness around us seem as if it would never end, and the unfamiliarity lay upon us with the weight of homelessness. In addition, Rome (if one has not yet become acquainted with it) makes one feel stifled with sadness for the first few days: through the gloomy and lifeless museum atmosphere that it exhales, through the abundance of its pasts, which are brought forth and laboriously held up (pasts on which a tiny present subsists), through the terrible overvaluing, sustained by scholars and philologists and imitated by the ordinary tourist in Italy, of all these disfigured and decaying Things, which, after all, are essentially nothing more than accidental remains from another time and from a life that is not and should not be ours. Finally, after weeks of daily resistance, one finds oneself somewhat composed again, even though still a bit confused, and one says to oneself: No, there is not more beauty here than in other places, and all these objects, which have been marveled at by generation after generation, mended and restored by the hands of workmen, mean nothing, are nothing, and have no heart and no value; but there is much beauty here, because every where there is much beauty. | Chúng tôi đã đến Rome cách đây sáu tuần lễ vào một mùa mà thành phố hãy còn trống trải, nóng bức, như bị trời phạt vạ vì phải cơn sốt thiêu đốt. Những hoàn cảnh như thế, lại thêm những sự khó khăn gian nan trong việc thu xếp ăn ở cho an ổn, đã khiến chúng tôi phải lao xao chộn rộn không ngừng. Rồi lại chơ vơ lạ nước lạ non, đất khách quê người đè nặng chúng tôi với lòng sầu viễn xứ. Cũng nên thêm rằng thành phố Rome (khi mình chưa quen biết nó lắm) xô đẩy khách lạ mấy ngày đầu vào trong một nỗi sầu tiêu sái, một ý chí tiêu trầm thoát ra từ hơi hám nhạt nhẽo khô chết, bốc ra từ những bảo tàng viện, thoát ra từ bao nhiêu quá khứ của thành phố mà người ta khai quật và lưu tồn một cách gian nan (hiện tại tầm thường nuôi sống từ đó), thoát ra sự đánh giá quá cao mà những nhà bác học thông thái khảo cổ đã đặt vào những sự vật hư nát, và theo đuổi họ là những du khách truyền thống của Ý đại lợi. Tất cả những sự vật này thực ra chỉ là những tàn tích xuất hiện ngẫu nhiên ở đó, thuộc vào một thời đại khác, vào một đời sống khác hẳn đời sống chúng ta và không thể là đời sống của chúng ta được. Sau cùng, trải qua bao tuần chịu đựng ở thế thủ, mình mới tìm lại con đường trở về nội tâm mình, dù hơi bỡ ngỡ sửng sốt đôi chút. Lúc ấy mình mới tự nhủ: không, ở đây, nơi thành phố này, cũng chẳng có gì đẹp hơn nơi khác. Tất cả những di phẩm ở đây, mà bao nhiêu thế hệ liên tiếp đã sùng bái ca tụng, mà bao nhiêu tay thợ đã vá víu tu bổ, thực ra chúng chẳng có ý nghĩa gì cả, chẳng có đời sống gì cả, không hồn, không giá trị gì hết. Nếu ở đây có nhiều cảnh tượng đẹp đẽ thì ở mọi nơi khác cũng có nhiều cảnh tượng đẹp đẽ như vậy. |
| Waters infinitely full of life move along the ancient aqueducts into the great city and dance in the many city squares over white basins of stone and spread out in large, spacious pools and murmur by day and lift up their murmuring to the night, which is vast here and starry and soft with winds. And there are gardens here, unforgettable boulevards, and stair cases designed by Michelangelo, staircases constructed on the pattern of downward-gliding waters and, as they descend, widely giving birth to step out of step as if it were wave out of wave. Through such impressions one gathers oneself, wins oneself back from the exacting multiplicity, which speaks and chatters there (and how talkative it is!), and one slowly learns to recognize the very few Things in which something eternal endures that one can love and something solitary that one can gently take part in. | Nước chảy lai láng, tràn trề sự sống, chảy đến thành phố qua những thủy lộ lâu đời, nhảy múa trong những vành đựng nước bằng đá trắng trên vô số công trường của thành phố, chảy lan ra trong những chậu nước rộng và sâu. Tiếng nước chảy róc rách ban ngày dâng lên thành bài ca vất vưởng vào ban đêm khuya khoắt, ở nơi thành phố này đêm trở nên linh trọng và trời đầy sao, đêm dịu dàng mơn trớn dưới sự vuốt ve nhè nhẹ của những cơn gió thoảng qua. Nơi đây có những khuôn trang, những lối đi khó quên, những bậc thang do Michel Ange thai nghén tạo thành rập theo hình thể của dòng nước chảy xiết, ào ạt đổ trào, mỗi một bước thang thoát ra từ một nấc thang khác, như từng cơn sóng lũ lượt thoát từ cơn sóng khác. Nhờ những xúc động cảm khái kia mình mới thu phối được tâm tư, thu lòng, tập trung tinh thần lại để thoát khỏi đám đông xâm lấn ba hoa ồn ào (ở Ý đại lợi này, đám đông ba hoa, ăn nói huyên thuyên quá đỗi!) Chầm chậm dần hồi mình bắt đầu tập nhận ra những sự việc vô cùng hy hữu mà Thiên Thu còn trì cửu, mà mình có thể thương yêu lưu luyến, mình tập nhận ra nỗi cô đơn mà chúng mình có thể tham dự vào đó trong niềm im lặng chơi vơi. |
| I am still living in the city, on the Capitol, not far from the most beautiful equestrian statue that has come down to us from Roman art - the statue of Marcus Aurelius; but in a few weeks I will move into a quiet, simple room, an old summerhouse, which lies lost deep in a large park, hidden from the city, from its noises and incidents. There I will live all winter and enjoy the great silence, from which I expect the gift of happy, work-filled hours... | Tôi vẫn còn đang ở trong thành phố, trên điện chiến thần Capitole, không xa kỵ mã tượng đẹp nhất mà nghệ thuật La Mã còn truyền lại cho chúng ta: đó là bức tượng Marc-Aurèle. Trong vài tuần nữa tôi sẽ di chuyển đến một chỗ ở đơn giản tĩnh lặng, ngôi nhà mùa hạ nằm hút tận lòng một công viện to lớn, đóng kín mất khỏi những tiếng ồn ào động đậy của thị tứ. Tôi sẽ sống suốt mùa đông ở đó, thụ hưởng niềm im lặng mênh mông, chờ đợi tặng phẩm của những giờ phút tràn đầy thơ mộng… |
| From there, where I will be more at home, I will write you a longer letter, in which I win say something more about what you wrote me. Today I just need to tell you (and perhaps I am wrong not to have done this sooner) that the book you sent me (you said in your letter that it contained some works of yours) hasn't arrived. Was it sent back to you, perhaps from Worpswede? (They will not forward packages to foreign countries.) This is the most hopeful possibility, and I would be glad to have it confirmed. I do hope that the package hasn't been lost - unfortunately, the Italian mail service being what it is, that would not be anything unusual. | Sống nơi đó, tôi sẽ cảm thấy thoải mái hơn, sẽ viết nhiều hơn nữa cho ông và tôi sẽ trả lời tiếp về bức thư cuối cùng của ông. Hôm nay tôi cần cho ông biết (đáng lẽ ông cho tôi biết sớm hơn) rằng tác phẩm ông nói trong thư, gồm một số sáng tác của ông, chưa tới tay tôi. Có lẽ người ta đã hồi lại ông từ Worpswede (vì họ không thể gửi lại theo địa chỉ mới của người nhận ở hải ngọai), Nếu họ đã hồi lại ông thì quí biết bao, tôi muốn ông xác nhận cho tôi rõ điều ấy. |
| I would have been glad to have this book (as I am to have anything that comes from you); and any poems that have arisen in the meantime I will always (if you entrust them to me) read and read again and experience as well and as sincerely as I can. With greetings and good wishes, Yours, Rainer Maria Rilke | Tôi mong rằng nó không lạc (bưu điện Ý đại lợi thì đáng ngờ lắm, thực là không may). Tôi rất sung sướng khi nào nhận lại được tác phẩm kia, cũng như nhận được bất cứ sáng tác nào của ông; về những vần thơ ông làm sau đó, tôi cũng thích thú đọc chúng nếu ông phó thác chúng cho tôi, tôi sẽ đọc lại chúng, sống với chúng bằng tất cả chân tình của lòng mình. Chào mến chúc. Thân ái, RAINER MARIA RILKE |
LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10
Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 4 Thư gởi nhà thơ trẻ 4
| THE FOURTH LETTER | BỨC THƯ THỨ TƯ |
| Worpswede, near Bremen July 16, 1903 About ten days ago I left Paris, tired and quite sick, and traveled to this great northern plain, whose vastness and silence and sky ought to make me well again. But I arrived during a long period of rain; this is the first day it has begun to let up over the restlessly blowing landscape, and I am taking advantage of this moment of brightness to greet you, dear Sir. | Lưu trú tại Worpswede, gần Brême, Ngày 16, tháng bảy, năm 1903. Tôi đã rời Paris cách đây chừng mươi ngày, thân xác rã rời đau ốm và mệt nhoài. Tôi đến vùng bình nguyên bao la ở miền Bắc này; vùng rộng thênh thang, sự im lặng thanh thản và vòm trời ở đây chắc sẽ làm tôi bình phục lại. Nhưng tôi ở vào một cơn mưa lê thê, chỉ mới hôm nay trời được quang đãng trên vùng đất lộng gió không yên – Lợi dụng trời quang đãng hôm nay, tôi biên đôi lời chào thăm ông. |
| My dear Mr. Kappus: I have left a letter from you unanswered for a long time; not because I had forgotten it - on the contrary: it is the kind that one reads again when one finds it among other letters, and I recognize you in it as if you were very near. It is your letter of May second, and I am sure you remember it. As I read it now, in the great silence of these distances, I am touched by your beautiful anxiety about life, even more than when I was in Paris, where everything echoes and fades away differently because of the excessive noise that makes Things tremble. Here, where I am surrounded by an enormous landscape, which the winds move across as they come from the seas, here I feel that there is no one anywhere who can answer for you those questions and feelings which, in their depths, have a life of their own; for even the most articulate people are unable to help, since what words point to is so very delicate, is almost unsayable. But even so, I think that you will not have to remain without a solution if you trust in Things that are like the ones my eyes are now resting upon. | Ông Kappus rất thân ái, lâu rồi, tôi vẫn chưa hồi âm cho ông. Không phải là tôi đã quên thư ông đâu; thư ấy thuộc vào những bức thư mà người ta phải đọc đi đọc lại luôn luôn những lúc tìm gặp lại chúng. Tôi đã nhìn thấy ông rất gần qua bức thư đó. Tôi muốn nói đến bức thư ông viết vào ngày 2 tháng 5, chắc ông còn nhớ. Hôm nay khi đọc lại bức thư đó trong sự tĩnh lặng bao la của vùng xa xôi này, tôi thấy rằng mối ưu tư đẹp đẽ của ông về đời sống làm xúc động tôi hơn cả lúc còn ở Paris, vì ở đó mọi sự mang âm hưởng khác hẳn và chìm mất trong tiếng động huyên náo làm lay chuyển mọi sự. Ở đây, vùng đất cao cường vây phủ tôi, nơi mà từng cơn gió biển kéo lê thê, tôi cảm thấy không ai có thể trả lời được cho ông về những vấn đề và những tình cảm này, những điều này có một đời sống riêng lẻ trong tận đáy sâu thẳm của chúng. Ngay những bậc cao minh nhất cũng phải lầm lẫn trong những tiếng lời của họ khi họ đòi hỏi những tiếng lời ấy diễn tả những sự việc tế nhị, những sự việc đôi khi bất khả diễn đạt. Dù sao tôi cũng cho rằng ông sẽ không phải chịu bất hồi âm nếu ông sống với những sự việc đang hồi động thị quan tôi hiện nay. |
| | |
| If you trust in Nature, in what is simple in Nature, in the small Things that hardly anyone sees and that can so suddenly become huge, immeasurable; if you have this love for what is humble and try very simply, as someone who serves, to win the confidence of what seems poor: then everything will become easier for you, more coherent and somehow more reconciling, not in your conscious mind perhaps, which stays behind, astonished, but in your innermost awareness, awakeness, and knowledge. You are so young, so much before all beginning, and I would like to beg you, dear Sir, as well as I can, to have patience with everything unresolved in your heart and to try to love the questions themselves as if they were locked rooms or books written in a very foreign language. Don't search for the answers, which could not be given to you now, because you would not be able to live them. And the point is, to live everything. Live the questions now. | Nếu ông sống sát với thiên nhiên, với những gì đơn giản trong thiên nhiên, những gì nhỏ nhặt, mà gần như không ai lưu ý, những gì thình lình trở nên vô cùng lớn lao, vô lượng, khi ông xòe trải tình yêu của ông cho tất cả hiện thể, khi ông cố gắng một cách khiêm tốn để thu phục, như một kẻ đầy tớ, lòng tín cẩn của những gì có vẻ khốn đốn cơ cực thì lúc ấy mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn, ông sẽ được bình hành trong tâm hồn hơn và có được tinh thần thỏa hiệp hơn, nếu có thể nói thế, không phải trong trí thuật của ông, vì có lẽ trí thuật chỉ lê lết ngạc nhiên tỉm hiểu ở đàng sau, nhưng ở trong ý thức sâu thẳm nhất của ông, sự tỉnh thức và trực thức của ông. Ông hãy còn quá trẻ, vì thế trước mọi sự khởi đầu, tôi muốn van xin ông hết lòng, ông thân ái, xin ông hãy kiên nhẫn với tất cả những gì chưa an định, chưa dứt khoát trong lòng ông và cố gắng yêu thương chính những câu hỏi như là yêu thương những gian phòng đóng kín, như là yêu thương những quyển sách được viết ra trong một ngôn ngữ ngoại quốc xa lạ. Thôi đừng tìm kiếm những câu trả lời, ông không thể nhận được những câu trả lời bởi vì ông sẽ không thể sống nổi với những câu trả lới ấy, và vấn đề là phải sống tất cả mọi sự, phải sống mọi kinh nghiệm. Hãy sống tất cả câu hỏi, thể nghiệm những câu hỏi hiện giờ. |
| Perhaps then, someday far in the future, you will gradually, without even noticing it, live your way into the answer. Perhaps you do carry within you the possibility of creating and forming, as an especially blessed and pure way of living; train yourself for that but take whatever comes, with great trust, and as long as it comes out of your will, out of some need of your innermost self, then take it upon yourself, and don't hate anything. Sex is difficult; yes. But those tasks that have been entrusted to us are difficult; almost everything serious is difficult; and everything is serious. If you just recognize this and manage, out of yourself, out of your own talent and nature, out of your own experience and childhood and strength, to achieve a wholly individual relation to sex (one that is not influenced by convention and custom), then you will no longer have to be afraid of losing yourself and becoming unworthy of your dearest possession. | Có lẽ dần hồi một ngày xa xôi nào đó, ngoài sự lưu ý của ông, ông sẽ được bất ngờ sống vào bên trong câu trả lời. Có lẽ ông thực sự mang thiên chức khả tính hun đúc hóa thành bản thân như là một đường lối thuần túy hạnh phúc một cách đặc thù – nhưng ông hãy nhận lấy bất cứ sự việc nào xảy đến cho ông với tất cả lòng tín thành cao cả; ông hãy tự luyện mình mở đón khả tính ấy, và nếu cơ sự hiện đến phát từ ý muốn riêng biệt của ông, từ một sự cần thiết nào đó thoát từ bản thể sâu thẳm thầm kín nhất của ông thì ông hãy nhận lãnh nó, cưu mang nó, và đừng thù ghét gì cả. Tình dục là điều khó khăn; đúng thế. Nhưng đó là những điều khó khăn mà chúng ta phải nhận lấy cưu mang; gần như tất cả mọi sự trang trọng đều khó khăn, và tất cả mọi sự đều trang trọng cả. Nếu ông chỉ tri nhận được điều này, và từ bản thể của ông, từ nơi chính bản tính độc đáo của người ông, những đường lối cá biệt của ông, từ nơi kinh nghiệm riêng tư và tuổi thơ và sức lực của ông, ông hãy cố gắng làm sao đạt cho tới được một sự tương giao hoàn toàn độc sáng của chính ông đối với tình dục (chứ không bị ảnh hưởng bởi công thức ước lệ và tập quán phong tục) thì lúc ấy ông không cần phải sợ hãi đánh mất bản thân ông và trở nên không xứng đáng với sở hữu thể quí đẹp nhất của ông. |
| Bodily delight is a sensory experience, not any different from pure looking or the pure feeling with , which a beautiful fruit fills the tongue; it is a great, an infinite learning that is given to us, a knowledge of the world, the fullness and the splendor of all knowledge. And it is not our acceptance of it that is bad; what is bad is that most people misuse this learning and squander it and apply it as a stimulant on the tired places of their lives and as a distraction rather than as a way of gathering themselves for their highest moments. | Khoái cảm thân xác là một kinh nghiệm nhục cảm không khác với sự năng kiến thuần túy hoặc cảm giác thuần túy mà một trái ngon ngọt thấm vào lưỡi ông; nó là một kinh nghiệm cao cả vô tận mà chúng ta đã được trao tặng, một cách tìm biết thế giới, sự tràn đầy huy hoàng của tất cả mọi sự hiểu biết. Và không phải việc chúng ta chấp nhận nó là xấu; điều xấu xa là phần đông người đời đều lạm dụng và phung phí kinh nghiệm này, dùng nó như một kích thích tố vào những lúc họ rã rời mệt mỏi, dùng nó như một sự giải trí, thay vì dùng nó như một sự triệu hồi thu tập để hướng tới những khoảnh khắc đê mê tuyệt thế. |
| People have even made eating into something else: necessity on the one hand, excess on the other; have muddied the clarity of this need, and all the deep, simple needs in which life renews itself have become just as muddy. But the individual can make them clear for himself and live them clearly (not the individual who is dependent, but the solitary man). He can remember that all beauty in animals and plants is a silent, enduring form of love and yearning, and he can see the animal, as he sees plants, patiently and willingly uniting and multiplying and growing, not out of physical pleasure, not out of physical pain, but bowing to necessities that are greater than pleasure and pain, and more powerful than will and withstanding. If only human beings could more humbly receive this mystery which the world is filled with, even in its smallest Things, could bear it, endure it, more solemnly, feel how terribly heavy it is, instead of taking it lightly. | Ngay đến việc ăn uống, loài người cũng đã làm việc ấy trở thành một cái gì khác hẳn: một đằng là nhu cầu, một đằng khác là sự thừa thãi, cả hai đã làm lu mờ nhạt phai đi sự phân biệt của nhu cầu này, và tất cả những nhu cầu đơn giản sâu thẳm mà đời sống được phục hồi lại sinh khí mới lạ trong đó cũng phải trở thành mờ nhạt như vậy. Nhưng cá thể có khả năng giải minh những nhu cầu ấy cho chính mình và sống những như cầu ấy một cách sáng suốt (nếu không là cá thể, vì cá thể lại quá lệ thuộc thì ít nhất cũng là con người cô đơn). Con người cô đơn có thể nhớ rằng tất cả vẻ đẹp trong những thú vật và cây cỏ là một hình thể kiên trì lặng lẽ của tình yêu và khát vọng, và hắn có thể nhìn thấy rằng những con thú, cũng như hắn nhìn thấy những cây cỏ, đều kết hợp, tăng trưởng, sinh sôi nẩy nở phát triển một cách kiên trì và hứng thú, không phải vì mê cảm thân xác, không phải vì đau khổ thân xác, mà nhu thuận theo những nhu cầu tất yếu cao lớn hơn khoái cảm và đau khổ, mạnh mẽ hơn ý chí và khí khái. |
| If only they could be more reverent to ward their own fruitfulness, which is essentially one, whether it is manifested as mental or physical; for mental creation too arises from the physical, is of one nature with it and only like a softer, more enraptured and more eternal repetition of bodily delight. "The thought of being a creator, of engendering, of shaping" is nothing without its continuous great confirmation and embodiment in the world, nothing without the thousand-fold assent from Things and animals - and our enjoyment of it is so indescribably beautiful and rich only because it is full of inherited memories of the engendering and birthing of millions. In one creative thought a thousand forgotten nights of love come to life again and fill it with majesty and exaltation. And those who come together in the nights and are entwined in rocking delight perform a solemn task and gather sweetness, depth, and strength for the song of some future poet, who will appear in order to say ecstasies that are unsayable. | Ồ, ước gì con người có thể cưu mang niềm bí ẩn này, trần gian gồm đầy bí ẩn ở ngay cả nơi những sự vật bé nhỏ nhất, ước gì con người có thể cưu mang sự bí ẩn ấy cho chính mình, cưu mang một cách khiêm cung, chịu đựng sự bí ẩn một cách nhẫn nại, cảm nhận bao nhiêu nan điểm của niềm cơ mật kia, thay vì nhận lấy điều huyền bí kia một cách bộp chộp, khinh suất. Ước gì hắn có thể tỏ ra sùng bái hơn đối với tính cách sinh thực phong nhiêu của tâm hồn hắn, không phân biệt sự sinh thực thuộc thân xác hay thuộc tinh thần, vì cả hai loại sinh thực này đều là một, vì sự sinh tại trí thức tinh thần cũng phát xuất từ sự sinh tạo thể xác, cùng thuộc một bản chất với sự sinh thực thể xác và chỉ là sự lặp lại của niềm khoái cảm đê mê của thể xác, dịu dàng hơn, thoát trần hơn và trường cửu hơn. “Ý tưởng về việc sáng tạo, về sự sinh thực và sư sinh hóa hình thành” không là gì cả nếu không có sự xác chuẩn và sự thể hiện cao cả liên tục ở nơi thế gian, không là gì cả nếu không có hằng ngàn sự thù ứng phù hợp từ những sự vật và những thú vật – và thụ hưởng tính cách sinh thực kia là điều đẹp đẽ và phong phú khôn tả chỉ vì nó chứa đầy những kỷ niệm kế thừa từ sự sinh thực cưu mang cùa hàng triệu con người. Trong một tư tưởng sáng tạo, một ngàn đêm quên lãng của tình yêu được sống lại, làm tràn đầy tình yêu với bao nhiêu cao cả tuyệt thế đê mê. Và những kẻ nào đi đến chung nhau trong đêm tối, ôm siết quấn quít nhau trong niềm mê cảm đu đưa ru mộng, chính những kẻ ấy đang làm một công việc trang trọng, thu nhóm hái gặt sự dịu ngọt triền miên, thu gặt chiều sâu thẳm hun hút và sức mạnh nội tâm cho tiếng hát của một thi nhân nào đó ở ngày mai, thi nhân này sẽ xuất hiện lên để nói lên những cơn thoát trần ngây ngất khôn xiết. |
| And they call forth the future; and even if they have made a mistake and embrace blindly, the future comes anyway, a new human being arises, and on the foundation of the accident that seems to be accomplished here, there awakens the law by which a strong, determined seed forces its way through to the egg cell that openly advances to meet it. Don't be confused by surfaces; in the depths everything becomes law. And those who live the mystery falsely and badly (and they are very many) lose it only for themselves and nevertheless pass it on like a sealed letter, without knowing it. And don't be puzzled by how many names there are and how complex each life seems. Perhaps above them all there is a great motherhood, in the form of a communal yearning. | Tất cả những tình nhân gọi dậy tương lai; dù cho họ có sai đường lạc lối khi ôm nhau một cách mù mịt đi nữa thì tương lai vẫn hiện tới; một con người mới xuất hiện, và từ trên lòng vận thế ngẫu nhiên kia dường như được nung nấy tập thành nơi đây, phát hiện lên lề luật từ đó thai chủng mạnh mẽ cường tráng bứt ra đường đi của nó nó xuyên tới noãn bào mở rộng hướng về nó. Xin ông đừng để những bề mặt nông thiển làm ông bỡ ngỡ bối rối; trong những chiều sâu thẳm, tất cả đều trở nên lề luật – và những kẻ nào sống sự bí ẩn một cách sai lầm xấu xa (biết bao người đã sống như vậy) thì họ chỉ đánh mất sự bí ẩn ấy cho chính riêng họ thôi và họ trao truyền niềm bí ẩn trên cho kẻ khác, trao truyền như trao truyền một phong thư đóng kín, mà không hề biết niềm bí ẩn ấy là gì hết. Xin ông đừng bối rối lúng túng vì bao nhiêu danh hiệu, vì bao nhiêu trường hợp phức tạp. Có lẽ trên tất cả mọi sự vẫn hiện hữu tình mẹ vĩ đại, như lòng khát vọng chung. |
| The beauty of the girl, a being who (as you so beautifully say) "has not yet achieved anything," is motherhood that has a presentiment of itself and begins to prepare, becomes anxious, yearns. And the mother's beauty is motherhood that serves, and in the old woman there is a great remembering. And in the man too there is motherhood, it seems to me, physical and mental; his engendering is also a kind of birthing, and it is birthing when he creates out of his innermost fullness. And perhaps the sexes are more akin than people think, and the great renewal of the world will perhaps consist in one phenomenon: that man and woman, freed from all mistaken feelings and aversions, will seek each other not a opposites but as brother and sister, as neighbors, and will unite as human beings, in order to bear in common, simply, earnestly, and patiently, the heavy sex that has been laid upon them. | Vẻ đẹp của một trinh nữ, một sinh thể (như ông đã diễn tả một cách mỹ lệ) “chưa đạt tới được cái gì cả”, chính là tình mẹ, một thứ tình bắt đầu cảm nhận tự thể và chuẩn bị một cách xao xuyến thao thức, đầy khao khát. Sắc đẹp của người đàn bà, khi làm mẹ, là ở nơi tình mẹ mà người đàn bà đang thể hiện thủ trì: rồi khi nàng tới tuổi già, vẻ đẹp của người đàn bà là ở nơi kỷ niệm cao cả về tình mẹ này, kỷ niệm cao cả ấy vẫn sống nơi người đàn bà. Dường như đối với tôi, người đàn ông cũng có cả thân phận làm mẹ, cả về mặt tinh thần và thể chất; sinh thực cũng là một cách sinh đẻ, sản sinh; đó quả thực là sự sản sinh khi người đàn ông sáng tạo từ nơi sự tràn đầy sâu thẳm nhất. Có lẽ nam tính và nữ tính có liên hệ chặt chẹ hơn chúng ta thường nghĩ, và sự phục hồi sinh lực vĩ đại của thế gian có lẽ là do điều này: người con trai và người con gái, lúc cả hai giải thoát được ra ngoài tất cả những cảm giác sai lầm và những tỵ hiềm miễn cưỡng sai lạc, cả hai sẽ tìm nhau không phải như hai nghịch thể xung đột nhau mà như là anh trai và em gái, như là những kẻ lân cận gần gũi, họ sẽ đến nhau như là những con người, để mà có thể, một cách đơn giản, trang trọng và nhẫn nại, cưu mang chung nhau tính dục thân xác khó khăn mà cả hai đã được giao phó. |
| But everything that may someday be possible for many people, the solitary man can now, already, prepare and build with his own hands, which make fewer mistakes. Therefore, dear Sir, love your solitude and try to sing out with the pain it causes you. For those who are near you are far away, you write, and this shows that the space around you is beginning to grow vast. And if what is near you is far away, then your vastness is already among the stars and is very great; be happy about your growth, in which of course you can't take anyone with you, and be gentle with those who stay behind; be confident and calm in front of them and don't torment them with your doubts and don't frighten them with your faith or joy, which they wouldn't be able to comprehend. | Nhưng tất cả những gì có thể thành hình trong tương lai cho bao nhiêu người thì ngay bây giờ chính con người cô đơn có thể chuẩn bị xây dựng với những bàn tay ít lầm lẫn hơn cả. Vì vậy, ông thân mến, xin ông hãy thương yêu nỗi cô độc của ông và hãy chịu đựng nỗi khổ đau của niềm cô độc với lời ai ca mỹ lệ. Vì những kẻ nào gần gũi ông đều xa xôi, như ông nói, điều ấy tỏ ra bắt đầu lan rộng chung quanh ông và khi những gì gần gũi ông thì xa xôi lúc ấy khoảng cách biệt của ông nằm giữa những vì sao, và đã trải rộng thênh thang rồi; ông hãy sung sướng với sự trưởng thành đi tới của ông; không ai có thể đi theo ông, không ai mà ông có thể mang đi theo với ông được, và ông hãy tỏ ra khoan dung tử tế với những kẻ nào lê lết ở đằng sau, hãy tỏ ra tự tại và bình thản trước mặt họ, đừng hành hạ họ với những mối nghi ngại ngờ vực của ông, đừng làm họ luống cuống sợ hãi trước lòng tin tưởng hoặc nỗi vui lớn của ông, vì họ không thể nào hiểu được những cảm trạng ấy. |
| Seek out some simple and true feeling of what you have in common with them, which doesn't necessarily have to alter when you yourself change again and again; when you see them, love life in a form that is not your own and be indulgent toward those who are growing old, who are afraid of the aloneness that you trust. Avoid providing material for the drama, that is always stretched tight between parent and children; it uses up much of the children's strength and wastes the love of the elders, which acts and warms even if it doesn't comprehend Don't ask for any advice from them and don't expect any understanding; but believe in a love that is being stored up for you like an inheritance, and have faith that in this love there is a strength and a blessing so large that you can travel as far as you wish without having to step outside it. | Hãy tự tìm cách chia xẻ với họ tinh thần cộng hữu đơn giản và trung nghĩa, tinh thần cộng hữu này không nhất thiết phải đổi thay như sự biến đổi khác biệt của chính tâm hồn ông, hãy thương yêu hình thể khác của đời sống thể hiện trong tâm hồn họ. Hãy tỏ ra khoan nhân với những kẻ cuối đường đời sợ hãi nỗi cô đơn mà ông thường tin cậy nuôi dưỡng. hãy tránh làm trầm trọng tấn thảm kịch ngàn đời khẩn trương giữa cha mẹ và con cái. Tấn kịch kia đã ăn mòn bao nhiêu sinh lực của những trẻ thơ, làm suy nhược tình thương yêu đối với cha mẹ già cả; dù có vô tri chăng nữa, tình yêu này cũng đủ sức tác động và sưởi ấm lòng già. Đừng mong họ mang tới cho ông những lời khuyên dạy và cũng đừng mong đợi họ hiểu biết nỗi lòng mình. Nhưng hãy tin tưởng vào một tình thương chất chứa cho ông như một di sản. Hãy tin cậy rằng tình thương ấy chứa đựng một sức mạnh, một ân huệ khả dĩ theo đuổi ông suốt lộ trình xa xôi. |
| It is good that you will soon be entering a profession that will make you independent and will put you completely on your own, in every sense. Wait patiently to see whether your innermost life feels hemmed in by the form this profession imposes. I myself consider it a very difficult and very exacting one, since it is burdened with enormous conventions and leaves very little room for a personal interpretation of its duties. But your solitude will be a support and a home for you, even in the midst of very unfamiliar circumstances, and from it you will find all your paths. All my good wishes are ready to accompany you, and my faith is with you. Yours, Rainer Maria Rilke | Thật là điều may mắn đối với ông, vì hiện nay ông đang theo đuổi một chức nghiệp khiến cho ông được tự lập và trả ông lại hòan toàn với chính bản thân ông, trong mọi ý nghĩa. Hãy kiên nhẫn chờ đợi tìm xem đời sống nội tâm của ông có cảm thấy bưng bít chật vật trong khuôn khổ của chức nghiệp này. Tôi cho rằng chức nghiệp này rất khốn đốn gian nan và đầy cay nghiệt eo sách, nặng chĩu đầy những công thức, không chừa chỗ nào nữa cho nhân cách. Nhưng nỗi cô đơn của ông, ngay trong những hoàn cảnh ngang trái này, vẫn sẽ là nơi lưu trú nâng đỡ cho ông, chính từ nỗi cô đơn này mà ông sẽ tìm thấy tất cả những con đường đi của ông. Tất cả lòng kỳ nguyện của tôi sẵn sàng gửi theo ông, và lòng tín thác của tôi ở nơi ông. Thân ái, RAINER MARIA RILKE |
LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10
Tuesday, June 28, 2011
Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 3 Thư gởi nhà thơ trẻ 3

| THE THIRD LETTER | BỨC THƯ THỨ BA |
| Viareggio, near Pisa (Italy) April 23, 1903
| Viareggio, gần Pisa (Ý đại lợi)
Ngày 23 tháng tư, năm 1903. |
| You gave me much pleasure, dear Sir, with your Easter letter; for it brought much good news of you, and the way you spoke about Jacobsen's great and beloved art showed me that I was not wrong to guide your fife and its many questions to this abundance. | Ông thân mến, bức thư dịp Phục sinh của ông đã khiến lòng tôi sung sướng vô ngần. Thư ấy đã nói cho tôi nhiều điều thú vị tuyệt vời về con người ông. Những gì ông nói về nghệ thuật vĩ đại thâm thiết của Jacobsen đã cho tôi thấy rõ rằng tôi đã không lầm khi hướng cuộc đời ông, và tất cả những vấn đề phức tạp của đời ông, đi về tâm hồn tràn đầy phong phú ấy. |
| Now Niels Lyhne will open to you, a book of splendors and depths; the more often one reads it, the more everything seems to be contained within it, from life's most imperceptible fragrances to the full, enormous taste of its heaviest fruits. In it there is nothing that does not seem to have been understood, held, lived, and known in memory's wavering echo; no experience has been too unimportant, and the smallest event unfolds like a fate, and fate itself is like a wonderful, wide fabric in which every thread is guided by an infinitely tender hand and laid alongside another thread and is held and supported by a hundred others. You will experience the great happiness of reading this book for the first time, and will move through its numberless surprises as if you were in a new dream. But I can tell you that even later on one moves through these books, again and again, with the same astonishment and that they lose none of their wonderful power and relinquish none of the overwhelming enchantment that they had the first time one read them.
| Truyện “Niels Lyhne” giờ sẽ mở ra trước ông, một quyển sách huy hoàng thâm thúy. Mình càng đọc nó nhiều chừng nào, mình càng cảm thấy tất cả mọi sự đều nằm sẵn trong đó: từ mùi thơm nhẹ nhàng nhất của đời sống cho đến mùi vị ngây ngất thoát từ những trái ngọt nặng chĩu nhất của đời sống. Không có gì mà lại không được hiểu, lãnh hội, cảm nhận, tri nhận trong ấy, tri nhận theo âm hưởng rung động của kỷ niêm. Bất cứ biến cố nhỏ bé nào trong ấy đều dàn trải ra như một màn tơ mênh mang huy hoàng mà mỗi sợi tơ đan dệt cùng trăm sợi tơ khác, chằng chịt nhau nhờ một bàn tay dịu mềm vô cùng. Ông sẽ cảm thấy hạnh phúc vô vàn lúc đọc quyển ấy lần đầu tiên. |
| One just comes to enjoy them more and more, becomes more and more grateful, and somehow better and simpler in one's vision, deeper in one's faith in life, happier and greater in the way one lives. And later on, you will have to read the wonderful book of the fate and yearning of Marie Grubbe, and Jacobsen's letters and journals and fragments, and finally his verses which (even if they are just moderately well translated) live in infinite sound. (For this reason I would advise you to buy, when you can, the lovely Complete Edition of Jacobsen's works, which contains all of these. It is in three volumes, well translated, published by Eugen Diederichs in Leipzig, and costs, I think, only five or six marks per volume.)
| Ông sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như là đi trong mộng. Rồi tiếp theo đó, tôi cũng có thể nói rằng lúc đọc những trang ấy ông vẫn bước đi ngỡ ngàng sửng sốt ngạc nhiên như vậy, vì không có trang nào đánh mất không khí diễm ảo thiên thai, huyền lực lạ thường của buổi hội ngộ đầu tiên. Mỗi lần đọc lại là thấy sảng khoái kỳ lạ hơn nữa. Những trang văn ấy khiến ông luôn luôn cảm thấy tri ân, cảm thấy mình tốt đẹp hơn lên, nhìn đời giản dị hơn, sống hạnh phúc hơn và cao lớn hơn. Rồi ông hãy đọc tiếp tác phẩm tuyệt diệu về tính mệnh và những đam mê của Marie Grubbe, đọc những bức thư của Jacobsen, những trang Nhật ký, những đoạn văn rời rạc và sau cùng hãy đọc những vần thơ của ông ấy, mặc dù dịch giả không lột tả hết được tinh thần, những vần thơ vẫn giữ lại những âm hưởng vô hạn. (Sẵn dịp tôi khuyên ông hãy mua luôn trọn vẹn tác phẩm của Jacobsen, ông có thể tìm tất cả mọi sự trong đó – Trọn vẹn tác phẩm được xuất bản thành ba cuốn, được dịch rất đàng hoàng, do nhà Eugène Diederichs ở Leipzig và chẳng tốn kém bao nhiêu).
|
| In your opinion of "Roses should have been here . . ." (that work of such incomparable delicacy and form) you are of course quite, quite incontestably right, as against the man who wrote the introduction. But let me make this request right away: Read as little as possible of literary criticism. Such things are either partisan opinions, which have become petrified and meaningless, hardened and empty of life, or else they are clever word-games, in which one view wins , and tomorrow the opposite view. Works of art are of an infinite solitude, and no means of approach is so useless as criticism. Only love can touch and hold them and be fair to them. Always trust yourself and your own feeling, as opposed to argumentation, discussions, or introductions of that sort; if it turns out that you are wrong, then the natural growth of your inner life will eventually guide you to other insights. Allow your judgments their own silent, undisturbed development, which, like all progress, must come from deep within and cannot be forced or hastened. Everything is gestation and then birthing. To let each impression and each embryo of a feeling come to completion, entirely in itself, in the dark, in the unsayable, the unconscious, beyond the reach of one's own understanding, and with deep humility and patience to wait for the hour when a new clarity is born: this alone is what it means to live as an artist: in understanding as in creating.
| Nói về “những hoa hồng đáng lẽ phải được cuất hiện như thế này ở nơi đây” (tác phẩm nhạy cảm và được kết cấu qua hình thái rất tài tình), ông hoàn toàn có lý về tác giả bài giới thiệu ấy. Sẵn đây, tôi xin van ông một việc. Đừng nên đọc nhiều loại văn phê bình họăc thẩm mỹ học. Đó chỉ là những sản phẩm của óc bè phái khô cứng như đá, vô nghĩa, thiếu sinh lực; nếu không thì đó chỉ là những ngón chơi chữ tài tình; hôm nay thì học theo ý kiến này, ngày mai, thì ý kiến ngược lại được họ đề cao tán tụng ồn ào. Những tác phẩm nghệ thuật thoát nguồn từ nỗi cô đơn vô hạn của con người; không gì tai hại nguy hiểm bằng sư phê bình văn nghệ. Chỉ có tình yêu, tình thương, là mới đi vào được tác phẩm nghệ thuật, lãnh hội ý nghĩa, bảo tồn, công chính với những tác phẩm ấy. Hãy tin cậy vào tình cảm ông trong việc chống đối với những sự phân tích ấy, những bài bình phẩm đúc kết ấy, những phần giới thiệu phê bình ấy. Dù ông có sai lầm đi nữa, sự trưởng thành tự nhiên của đời sống nội tâm ông sẽ hướng dẫn ông một cách chậm rãi, bình thản, thong dong, đến một trạng thái tri thức khác hẳn. Hãy để những lời bình phẩm của ông được phát triển thích đáng, trầm lặng. Đừng chống đối những khuynh hướng tâm tư mình; vì, giống như tất cả sự tiến triển tâm tư, sự trưởng thành tân hồn ông phải xuất phát từ sâu thẳm con người ông và không nên bức bách nó, hối thúc nó. Chịu đựng cưu mang cho tới cùng, rồi sinh nơ: tất cả mọi sự nằm ở đó. Ông phải để mỗi một ấn tượng, mỗi một mầm mống cảm tình được chím mùi trong hồn ông, chín mùi trong bóng tối, trong vô ngôn, trong vô thức, những cõi vùng đóng kín mà tri thức không thể đi vào được. Hãy chờ đợi một cách khiêm tốn và kiên nhẫn, chờ đợi giờ phút khai sinh ánh sáng rực ngời mới lạ. Nghệ thuật đòi hỏi những người thưởng ngoạn cũng phải như những nhà sáng tạo.
|
| In this there is no measuring with time, a year doesn’t matter, and ten years are nothing. Being an artist means: not numbering and counting, but ripening like a tree, which doesn’t force its sap, and stands confidently in the storms of spring, not afraid that afterward summer may not come. It does come. But it comes only to those who are patient, who are there as if eternity lay before them, so unconcernedly silent and vast. I learn it every day of my life, learn it with pain I am grateful for: patience is everything!
| Ở đây, thời gian không thể làm tiêu chuẩn đo lường. Một năm có kể gì; mười năm không là gì cả; khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là không tính toán, không kể số: khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là nẩy nở như một cây lá không hề bức thúc nhựa cây, đứng vững lại một cách tín thành trong tất cả những ngọn gió lớn của mùa xuân, không hề sợ hãi nao núng rằng mùa hạ không trở lại nữa. Mùa hạ nhất định sẽ đến. Nhưng mùa hạ chỉ đến cho những kẻ nào biết chờ đợi, chờ đợi một cách trầm lặng và cởi mở như là mình đã có cả vĩnh cửu trước mắt mình. Tôi đã học được điều ấy mỗi ngày bằng bao nhiêu cơn đau đớn, bằng bao nhiêu nỗi đau khổ mà tôi vẫn cảm ta: Kiên nhẫn vẫn là tất cả.
|
|
|
|
| Richard Dehmel: My experience with his books (and also, incidentally, with the man, whom I know slightly) is that whenever I have discovered one of his beautiful pages, I am. always afraid that the next one will destroy the whole effect and change what is admirable into something unworthy. You have characterized him quite well with the phrase: "living and writing in heat." And in fact the artist's experience lies so unbelievably close to the sexual, to its pain and its pleasure, that the two phenomena are really just different forms of one and the same longing and bliss. And if instead of "heat" one could say "sex";- sex in the great, pure sense of the word, free of any sin attached to it by the Church, - then his art would be very great and infinitely important. His poetic power is great and as strong as a primal instinct; it has its own relentless rhythms in itself and explodes from him like a volcano. | Richard Dehmel – Khi đọc ông ấy cũng như khi gặp ông ấy (thỉnh thoảng tôi cũng có gặp ông ta) lúc đọc được những trang tuyệt vời, tôi lại lo sợ những trang tiếp theo sau phá hủy tất cả những gì đi trước, biến đổi lại những gì tuyệt vời thành ra xấu xa tệ hại. Ông đã định nghĩa ông ấy rất đúng: “sống và sáng tạo trong tâm thái động tình” – Đúng đấy, đời sống sáng tạo rất gần gũi với đời sống tình dục, gần gũi với những nỗi đau đớn, những cơn khoái lạc và phải nhận thức rằng cả hai hình thức đều cùng một nhu cầu duy nhất, một mê cảm khao khát duy nhất. và nếu thay vì chữ “động tình” mình có thể viết lại chữ “tình dục” trong ý nghĩa thuần khiết, trong sạch, cao đẹp rộng rãi của chữ này, thoát ra ngoài những tỵ hiềm của Giáo hội. Nếu hiểu “tình dục” như thế thì nghệ thuật của Dehmel trở nên cao sâu và nguyên thủy hơn. Sức mạnh thi ca của ông vĩ đại, mãnh liệt như một bản năng. Nó mang những nhịp điệu riêng biệt cuồng dại: nó bắn nước như phun vọt lên từ miệng núi lửa.
|
| But this power does not always seem completely straightforward and without pose. (But that is one of the most difficult tests for the creator: he must always remain unconscious, unaware of his best virtues, if he doesn't want to rob them of their candor and innocence!) And then, when, thundering through his being, it arrives at the sexual, it finds someone who is not so pure as it needs him to be. Instead of a completely ripe and pure world of sexuality, it finds a. world that is not human enough, that is only male, is heat, thunder, and restlessness, and burdened with the old prejudice and arrogance with which the male has always disfigured and burdened love. Because he loves only as a male, and not as a human being, there is something narrow in his sexual feeling, something that seems wild, malicious, time-bound, uneternal, which diminishes his art and makes it ambiguous and doubtful. It is not immaculate, it is marked by time and by passion, and little of it will endure. (But most art is like that!) Even so, one can deeply enjoy what is great in it, only one must not get lost in it and become a hanger-on of Dehmel's world, which is so infinitely afraid, filled with adultery and confusion, and is far from the real fates, which make one suffer more than these time-bound afflictions do, but also give one more opportunity for greatness and more courage for eternity.
| Nhưng rất tiếc là sức mạnh ấy không phải luôn luôn thành thực, nó có cái gì đỏm dáng, làn dáng trong ấy (đó là một trong những thử thách lớn lao nhất của con người sáng tạo: hẳn phải hoàn toàn không biết gì về những tài năng thiên phú của mình, không hề tiên cảm gì cả, vì hẳn dễ đánh rơi mất lòng thuần khiết trong sạch của tài năng mình). Khi sức lực vũ bão đưa ông ấy đối mặt với tình dục, Dehmel không hoàn toàn thuần khiết trong sạch như đáng được mong đợi. Thế giới tình yêu ông không hoàn toàn chín mùi, không hoàn toàn trong sạch, không mang đủ nhân tính lắm; đó chỉ là bản năng của giống đực: đó là động giao, say sưa ngây dại, bất an lo âu, sảng sốt: ông ấy đã mang những thành kiến, những lề lối nào đó mà khiến cho tình yêu không còn giữ nguyên nét mặt trọn vẹn của nó nữa. Bởi vì ông ấy chỉ thể nghiệm tình yêu giống đực, chứ không phải như con người toàn diện; vì thế, trong tình yêu ông ấy, chứa đựng một cái gì chật hẹp, man dại, thù hằn, nhất thời: không có gì vĩnh cửu trong ấy và điều đó đã hạ thấp nghệ thuật ông ta, khiến nghệ thuật ông ta trở nên mơ hồ khả nghi. Nghệ thuật ông ấy không phải hòan toàn không có khuyết điểm: nó mang dấu hiệu của thời thượng và đam mê nhất thời. Rồi đây tác phẩm ấy chẳng còn gì đáng lưu lại nữa. (Hầu hết nghệ thuật chẳng phải thế sao?). Tuy thế ta cũng có thể còn thưởng ngoạn được những gì vĩ đại trong tác phẩm ấy. Nhưng không nên đánh mất mình trong ấy và trở thành tín đố của thế giới Dehmel, một thế giới đầy xao xuyến hãi hùng, đầy trụy dâm ngoại tình, đầu hỗn loạn bất trắc. Thế giới trong tác phẩm của Dehmel xa lìa hẳn những số mệnh thực thụ của kiếp người, đó chỉ là màn kịch tạm bợ chóng qua, trái hẳn những số mệnh thực sự đã từng gây đau đớn hãi hùng cho ta, nhưng tạo dịp cho ta cao lớn và đối mặt với sự trì cửu của thời gian.
|
| Finally, as to my own books, I wish I could send you any of them that might give you pleasure. But I am very poor, and my books, as soon as they are published, no longer belong to me. I can’t even afford them myself and, as I would so often like to, give them to those who would be kind to them. | Sau hết nói về những quyển sách của tôi viết, tôi đã từng muốn gửi cho ông những gì có thể làm vui lòng ông. Nhưng tôi vốn rất nghèo và những tác phẩm của tôi không còn thuộc về tôi nữa, mỗi khi những quyển ấy đã được xuất bản. Tôi cũng không thể đi mua những quyển ấy nữa, như nhiều lúc tôi muốn làm thế để tặng bạn bè.
|
| So I am writing for you, on another slip of paper, the titles (and publishers) of my most recent books (the newest ones - all together I published perhaps 12 or 13), and must leave to you, dear Sir, to order one or two of them when you can. I am glad that my books will be in your hands. With best wishes, Yours, Rainer Maria Rilke | Thôi, tôi chỉ xin ghi lại một bảng nhan đề (và nhà xuất bản) về những tác phẩm tôi cho xuất bản gần đây (tất cả đã được xuất bản khoảng chừng 12 hoặc 13 quyển). Thôi tôi xin để ông tự lo liệu mua lấy lúc nào tiện dịp. Tôi rất sung sướng nếu biết rằng những quyển sách của tôi nằm trong tay ông. Thân ái, RAINER MARIA RILKE |
|
Richard Dehme | |
Letters To A Young Poet - R. M. Rilke 2 Thư gởi nhà thơ trẻ 2
| THE SECOND LETTER | BỨC THƯ THỨ HAI
|
| Viareggio, near Pisa (Italy) April 5, 1903
| Viareggio, gần Pisa (Ý đại lợi) Ngày 5, tháng tư, năm 1903.
|
| You must pardon me, dear Sir, for waiting until today to gratefully remember your letter of February 24. I have been unwell all this time, not really sick, but oppressed by an influenza-like debility, which has made me incapable of doing anything. And finally, since it just didn't want to improve I came to this southern sea, whose beneficence helped me once before. But I am still not well, writing is difficult, and so you must accept these few lines instead of the letter I would have liked to send. | Ông thân ái, xin ông tha lỗi cho tôi, vì chỉ hôm nay tôi mới nhớ lại bức thư ngày 24 tháng hai của ông, nhớ lại với lòng tri tạ. Trong thời gian gần đây, tôi đã bị đau bệnh liên miên, bệnh hoạn thì không đúng hẳn, mà lại bị bải hoải mệt mỏi kỳ lạ, có lẽ là do bệnh cúm, xui tôi chẳng làm gì ra hồn cả. Sau rồi chẳng có gì đỡ hơn, tôi lại lên đường đến vùng biển miền nam, nơi trước kia đã từng giúp tôi bình phục khá nhiều. Nhưng bây giờ thì tôi chưa lại sức hẳn. Viết lách là một việc quá khó khăn nặng nề với tôi. Thôi xin tạm đọc đôi dòng này dịp khác viết nhiều hơn.
|
| Of course, you must know that every letter of yours will always give me pleasure, and you must be indulgent with the answer, which will perhaps often leave you empty-handed; for ultimately, and precisely n the deepest and most important matters, we are unspeakably alone; and many things must happen, many things must go right, a whole constellation of events must be fulfilled, for one human being to successfully advise or help another. | Trước hết dĩ nhiên ông phải biết rằng những bức thư của ông mang lại cho tôi nhiều sung sướng. Về những sự trả lời này, xin ông cũng khả thứ dung nạp rộng lượng cho. Có thể thường khi những sự trả lời này chẳng đem đến gì cho ông cả, bởi vì, nói cho cùng, những gì chính yếu thâm trầm nhất, đề cập những gì sâu thẳm nhất, chúng ta chỉ im lặng cô độc, cô đơn một cách không thể nói ra được. Muốn khuyên lơn nhau, muốn giúp đỡ nhau phải cần nhiều trùng phùng gặp gỡ, nhiều đúc kết thành tựu. Bao nhiêu là biến cố hội tụ lại mới đưa tới một thành công độc nhất.
|
| Today I would like to tell you just two more things: Irony: Don't let yourself be controlled by it, especially during uncreative moments. When you are fully creative, try to use it, as one more way to take hold of fife. Used purely, it too is pure, and one needn't be ashamed of it; but if you feel yourself becoming too familiar with it, if you are afraid of this growing familiarity, then turn to great and serious objects, in front of which it becomes small and helpless. Search into the depths of Things: there, irony never descends and when you arrive at the edge of greatness, find out whether this way of perceiving the world arises from a necessity of your being. For under the influence of serious Things it will either fall away from you (if it is something accidental), or else (if it is really innate and belongs to you) it will grow strong, and become a serious tool and take its place among the instruments which you can form your art with. | Hôm nay tôi muốn nói hai điều với ông.
Trước hết xin nói về sự mỉa mai. Xin ông đừng bao giờ để sự mỉa mai chế ngự lòng ông, nhất là những giây phút khô khan nhất. Trong những giây phút sáng tạo, ông có thể cố gắng dùng nó như là một phương tiên nữa để lãnh hội cuộc đời. Khi được dùng một cách trong sạch thì nó cũng trở nên trong sạch; đừng hổ thẹn về nó gì cả. Nếu ông cảm thấy quá bị lôi kéo vì nó, nếu ông sợ hãi quá quen thuộc với nó thì ông hãy qui hướng về những sự việc vĩ đại trang trọng; trước những sự việc trang trọng vĩ đại ấy thì nó trỏ nên nhỏ bé và mất mát đi. Hãy đạt tới những sự thâm trầm sâu sắc: sự mỉa mai không thể nào xuống tới được những nơi đó. Nếu sự mỉa mai rỉa rói vẫn theo đuổi ông cho đến nỗi xâm lấn vào sự việc vĩ đại, lúc ấy ông tìm hiểu xem có phải nó đáp ứng được một đòi hỏi nào đó của tâm chất ông. Dưới tác động của những sự việc trang trọng, hoặc là nó sẽ rời bỏ ông (như thế, nó chỉ là ngẫu phát), hoặc là nó sẽ trở thành dụng cụ quí báu của ông, nếu nó vốn thực là phát từ bẩm chất ông, nếu thế thì nó sẽ giữ vai trò cẩn yếu trong toàn thể phương tiện để ông xử dụng trong việc hun đúc nghệ thuật mình.
|
| And the second thing I want to tell you today is this: Of all my books, I find only a few indispensable, and two of them are always with me, wherever I am. They are here, by my side: the Bible, and the books of the great Danish poet Jens Peter Jacobsen. Do you know his works? It is easy to find them, since some have been published in Recalm's Universal Library, in a very good translation. Get the little volume of Six Stories by J. P. Jacobsen and his novel Niels Lyhne, and begin with the first story in the for mer, which is cared "Mogens." A whole world will envelop you, the happiness, the abundance, .the inconceivable vastness of a world. Live for a while in these books, learn from them what you feel is worth learning, but most of &U love them. This love will be returned to you thousands upon thousands of times, whatever your life may become - it will, I am sure, go through the whole fabric of your being, as one of the most important threads among all the threads of your experiences, disappointments, and joys. | Việc thứ hai tôi muốn đề cập là như sau: Trong tất cả những quyển sách tôi đang đọc, chỉ có đôi quyển thực là cần thiết đối với tôi: chỉ trừ hai tác phẩm luôn luôn tôi mang theo bên cạnh, bất cứ lúc nào ở đâu, tôi cũng mang theo người. Đang lúc tôi viết thư này, hai tác phẩm ấy cũng ở bên cạnh tôi: đó là Thánh kinh và tác phẩm của đại văn hào Đan Mạch Jens Peter Jacobsen. Tiện đây, xin hỏi luôn ông có biết những tác phẩm nào của đại văn hào này không. Ông có thể tìm mua những tác phẩm ấy một cách dễ dàng. Một phần đã được dịch và xuất bản, bản dịch rất hay, trong thư lục Reklam. Ông hãy tìm đọc quyển sách nhỏ nhan đề “Sáu tân truyện” và tiểu thuyết nhan đề “Mogens”. Cả một thế giới sẽ vồ chụp lấy ông: sự hạnh phúc, sự giàu sang phong phú, sự cao lớn hùng vĩ khôn lường của một thế giới. Hãy sống một thời gian trong những quyển sách ấy, học những gì đáng học trong ấy, theo bản tính mình, nhưng trước nhất vẫn là thương yêu những quyển sách đó. Tình yêu ấy sẽ được đáp trả lại ngàn lần; dù đời sống ông có trở thành gì đi nữa, tình yêu ấy sẽ ngự chuyển qua trong canh cửi tổ thành thể chất tâm hồn ông như một tiêm chính yếu hòa lẫn với những tơ sợi của những thử thách cam go, những thất bại chua cay và những niềm vui, những khoái cảm của ông.
|
| If I were to say who has given me the greatest experience of the essence of creativity, its depths and eternity, there are just two names would mention: Jacobsen, that great, great poet, and Auguste Rodin, the sculptor, who is without peer among all artists who are alive today. And all success upon your path! Yours, Rainer Maria Rilke | Nếu cần nói cho ông biết nhờ ai tôi đã học được đôi điều về thiên chất sáng tạo, nguồn gốc của nó, lề luật vĩnh cửu của nó, tôi phải kể hai tên, chỉ hai tên thôi: đó là Jacobsen, đại, ồ đại thi hào, và Auguste Rodin, điêu khắc gia mà không có một nghệ sĩ nào hiện nay đáng sánh ngang hàng.
Mong ông thành công mọi sự trên những đường ông đi. Thân ái,
RAINER MARIA RILKE |

Jens Peter Jacobsen.
LETTER1 LETTER2 LETTER3 LETTER4 LETTER5 LETTER6 LETTER7 LETTER8 LETTER9-10
