MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN


Monday, August 8, 2011

The Social Contract 4 - Du Contrat Social by Jean-Jacques Rousseau Khế ước xã hội Jean-Jacques Rousseau




BOOK IV

1. That the General Will is Indestructible

AS long as several men in assembly regard themselves as a single body, they have only a single will which is concerned with their common preservation and general well-being. In this case, all the springs of the State are vigorous and simple and its rules clear and luminous; there are no embroilments or conflicts of interests; the common good is everywhere clearly apparent, and only good sense is needed to perceive it. Peace, unity and equality are the enemies of political subtleties. Men who are upright and simple are difficult to deceive because of their simplicity; lures and ingenious pretexts fail to impose upon them, and they are not even subtle enough to be dupes. When, among the happiest people in the world, bands of peasants are seen regulating affairs of State under an oak, and always acting wisely, can we help scorning the ingenious methods of other nations, which make themselves illustrious and wretched with so much art and mystery?

QUYỂN 4

1 Ý chí tập thể không thể bị tiêu diệt

Bất cứ khi nào một nhóm người họp lại và tự xem mình là một đoàn thể duy nhất thì họ chỉ có một ý chí duy nhất hướng về sự bảo tồn và hạnh phúc chung. Trong trường hợp đó, tất cả mọi động lực của quốc gia đều mạnh mẽ và giản dị, và các luật lệ rõ ràng và sáng sủa; không có những rắc rối hay xung đột vì tư lợi; lợi ích chung hiển nhiên ở khắp mọi nơi, và chỉ cần có lương tri là nhận thấy ngay. Hòa bình, đoàn kết, bình đẳng là kẻ thù của những xảo quyệt chính trị. Chính nhờ ở tính tình hồn nhiên mà những người thẳng thắn và đơn giản khó thể bị lừa; những mồi bẫy, những luận thuyết khéo léo không đánh lừa họ được, vì thật ra họ không đủ sắc xảo để bị những xảo ngôn lừa bịp. Khi, trong số các quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới, ta thấy những nhóm nông dân [tụ họp lại để] giải quyết công việc quốc gia dưới gốc cây sồi, và bao giờ họ cũng hành động một cách khôn ngoan, thì làm sao mà ta không khinh miệt các biện pháp tinh xảo của các quốc gia khác, những biện pháp đã làm cho họ trở nên nổi tiếng và [cũng] khốn khổ vì xảo thuật và các điều thần bí?

A State so governed needs very few laws; and, as it becomes necessary to issue new ones, the necessity is universally seen. The first man to propose them merely says what all have already felt, and there is no question of factions or intrigues or eloquence in order to secure the passage into law of what every one has already decided to do, as soon as he is sure that the rest will act with him.

Một quốc gia được cai trị như vậy cần rất ít luật lệ; và khi nào ai cũng thấy cần phải có luật lệ mới thì lúc ấy luật lệ mới sẽ được ban hành. Người đầu tiên đề nghị ban hành các luật lệ ấy chỉ cần nói ra những gì mà tất cả đều nhận thấy, khi người đó chắc chắn rằng mọi người đều sẽ hành động như mình, thì [lúc đó] không cần đến âm mưu, tài hùng biện để thông qua những điều mà mọi người đã quyết ý làm.

Theorists are led into error because, seeing only States that have been from the beginning wrongly constituted, they are struck by the impossibility of applying such a policy to them. They make great game of all the absurdities a clever rascal or an insinuating speaker might get the people of Paris or London to believe. They do not know that Cromwell would have been put to "the bells" by the people of Berne, and the Duc de Beaufort on the treadmill by the Genevese.

Các nhà lý luận bị nhầm lẫn vì chỉ thấy các quốc gia bị tổ chức sai lầm ngay từ đầu, nên không thể áp dụng một chính sách tương tự như thế được. Họ cười khi tưởng tượng đến tất cả những điều rồ dại mà một kẻ ranh mãnh khôn ngoan hay một tay ăn nói khéo léo có thể làm cho dân chúng các thành phố Ba Lê hay Luân Đôn tin tưởng. Nhưng họ không biết rằng Cromwell lẽ ra đã bị dân thành phố Berne "buộc chuông vào cổ"[a] và quận công de Beaufort bị dân thành phố Geneve "buộc vào cái cối xay".[b]

But when the social bond begins to be relaxed and the State to grow weak, when particular interests begin to make themselves felt and the smaller societies to exercise an influence over the larger, the common interest changes and finds opponents: opinion is no longer unanimous; the general will ceases to be the will of all; contradictory views and debates arise; and the best advice is not taken without question.

Nhưng, khi sự đoàn kết xã hội bắt đầu lỏng lẻo và quốc gia bắt đầu suy yếu, khi những quyền lợi riêng tư bắt đầu xuất hiện vì những phe nhóm trong xã hội ảnh hưởng đến xã hội chung, thì lợi ích chung thay đổi và gặp phải những chống đối: không còn có sự đồng ý chung nữa; ý chí tập thể không còn là ý chí của tất cả mọi người; mâu thuẫn và tranh luận xảy ra, và ý kiến hay nhất cũng không được chấp thuận mà không bị tranh cãi.

Finally, when the State, on the eve of ruin, maintains only a vain, illusory and formal existence, when in every heart the social bond is broken, and the meanest interest brazenly lays hold of the sacred name of "public good," the general will becomes mute: all men, guided by secret motives, no more give their views as citizens than if the State had never been; and iniquitous decrees directed solely to private interest get passed under the name of laws.

Cuối cùng, khi quốc gia, trước ngưỡng cửa của sự suy vong, chỉ còn là một hình thức, hão huyền và vô ích, khi trong tâm trí mọi người mối dây liên hệ xã hội đã bị đứt, khi quyền lợi đê tiện nhất đã trơ tráo mang tên cái danh thiêng liêng: "lợi ích công cộng," thì ý chí tập thể im tiếng: mọi người đều bị hướng dẫn bởi những lý do thầm kín, không còn phát biểu ý kiến của mình với tư cách là công dân nữa, làm như là quốc gia không bao giờ hiện hữu; và những sắc lệnh bất công chỉ phục vụ cho quyền lợi riêng tư được thông qua như là những luật lệ.

Does it follow from this that the general will is exterminated or corrupted? Not at all: it is always constant, unalterable and pure; but it is subordinated to other wills which encroach upon its sphere. Each man, in detaching his interest from the common interest, sees clearly that he cannot entirely separate them; but his share in the public mishaps seems to him negligible beside the exclusive good he aims at making his own. Apart from this particular good, he wills the general good in his own interest, as strongly as any one else. Even in selling his vote for money, he does not extinguish in himself the general will, but only eludes it. The fault he commits is that of changing the state of the question, and answering something different from what he is asked. Instead of saying, by his vote, "It is to the advantage of the State," he says, "It is of advantage to this or that man or party that this or that view should prevail." Thus the law of public order in assemblies is not so much to maintain in them the general will as to secure that the question be always put to it, and the answer always given by it.

Từ đó ta có thể cho rằng ý chí tập thể bị tiêu diệt hay bị làm hư hỏng không? Tuyệt đối không: nó luôn luôn bền vững, không thay đổi và trong sạch; nhưng nó bị lệ thuộc vào những ý chí khác mạnh hơn nó. Mỗi cá nhân, khi tách quyền lợi riêng của mình ra khỏi quyền lợi chung nhận thấy mình không thể hoàn toàn tách ra được, nhưng phần [lỗi] của mình trong cái xấu chung dường như không đáng kể, so với cái tốt mà anh ta muốn chiếm làm độc quyền. Ngoài cái tốt riêng rẽ này, ý chí muốn chiếm cái tốt chung để làm của riêng của người này cũng mạnh mẽ như ý chí của các người khác. Ngay cả khi bán lá phiếu của mình để lấy tiền, anh ta không dập tắt ở nơi mình cái ý chí tập thể mà chỉ trốn tránh nó. Cái lỗi anh ta vi phạm là thay đổi bản chất của câu hỏi và trả lời khác đi câu hỏi được đặt cho anh ta. Khi bỏ phiếu, thay vì nói: "lá phiếu này làm lợi cho quốc gia," thì anh ta nói: "lá phiếu này làm lợi cho người này hay đảng này để cho việc này được thông qua." Vậy thì luật về trật tự công cộng trong các buổi họp không phải chính là để gìn giữ ý chí tập thể mà để bảo đảm rằng luôn luôn có câu hỏi được đặt ra và luôn luôn có câu trả lời theo chiều hướng đã được vạch sẵn.


[a] Thành phố Berne có lệ buộc chuông vào cổ những tù nhân được đi làm lao dịch ngoài nhà tù (theo ghi chú của Maurice Cranston).

[b] Thành ngữ của Genève, có nghĩa là kỷ luật dành cho những tên láu cá đang bị nhốt trong tù (theo ghi chú của Maurice Cranston).

I could here set down many reflections on the simple right of voting in every act of Sovereignty — a right which no one can take from the citizens — and also on the right of stating views, making proposals, dividing and discussing, which the government is always most careful to leave solely to its members, but this important subject would need a treatise to itself, and it is impossible to say everything in a single work.

Ở đây, tôi có thể đưa ra nhiều ý tưởng về quyền bỏ phiếu trong mọi hành động của Quyền Tối Thượng - một quyền của công dân mà không ai có thể tước bỏ được - và các quyền phát biểu ý kiến, đưa đề nghị, phân tách và tranh luận, những quyền mà chính quyền luôn luôn cẩn thận chỉ dành cho thành viên của mình. Nhưng cần có một cuốn sách dành riêng cho mục quan trọng này, và tôi không thể nói hết được trong cuốn sách này.

2. Voting

IT may be seen, from the last chapter, that the way in which general business is managed may give a clear enough indication of the actual state of morals and the health of the body politic. The more concert reigns in the assemblies, that is, the nearer opinion approaches unanimity, the greater is the dominance of the general will. On the other hand, long debates, dissensions and tumult proclaim the ascendancy of particular interests and the decline of the State.

2 Sự đầu phiếu

Qua phần trước, ta có thể thấy rằng phương cách điều hành việc công nói lên một cách khá rõ ràng tình trạng thực sự của tinh thần và sức mạnh của cơ cấu chính trị. Càng có sự đồng lòng trong các buổi họp thì ý kiến càng tiến gần đến sự thống nhất và ý chí tập thể càng mạnh. Ngược lại, những sự tranh cãi kéo dài, những sự bất đồng ý kiến và những xáo trộn là dấu hiệu của các quyền lợi riêng tư và sự suy tàn của quốc gia.

This seems less clear when two or more orders enter into the constitution, as patricians and plebeians did at Rome; for quarrels between these two orders often disturbed the comitia, even in the best days of the Republic. But the exception is rather apparent than real; for then, through the defect that is inherent in the body politic, there were, so to speak, two States in one, and what is not true of the two together is true of either separately. Indeed, even in the most stormy times, the plebiscita of the people, when the Senate did not interfere with them, always went through quietly and by large majorities. The citizens having but one interest, the people had but a single will.

Sự việc này ít rõ ràng hơn khi có hai hay nhiều giai cấp ở trong cơ cấu chính trị, ví dụ như giai cấp quý tộc và thường dân ở La Mã; ngay trong những ngày huy hoàng nhất của nền Cộng hòa các cuộc tranh cãi giữa hai giai cấp đó thường xuyên xảy ra và làm rối loạn các buổi hội nghị. Nhưng ngoại lệ đó có tính chất hình thức hơn là sự thực; bởi vì do các khuyết điểm cố hữu thuộc cơ cấu chính trị, có thể nói là La Mã có hai quốc gia trong một quốc gia, điều gì không đúng cho cả hai thì lại đúng cho mỗi quốc gia riêng biệt. Thật vậy, trong những thời kỳ sóng gió nhất, khi Nguyên Lão Thượng Viện không can thiệp, cuộc trưng cầu dân ý luôn luôn diễn ra một cách êm thắm và với một đa số lớn. Các công dân chỉ có một quyền lợi; dân chúng cùng chung một ý chí.

At the other extremity of the circle, unanimity recurs; this is the case when the citizens, having fallen into servitude, have lost both liberty and will. Fear and flattery then change votes into acclamation; deliberation ceases, and only worship or malediction is left. Such was the vile manner in which the senate expressed its views under the Emperors. It did so sometimes with absurd precautions. Tacitus observes that, under Otho, the senators, while they heaped curses on Vitellius, contrived at the same time to make a deafening noise, in order that, should he ever become their master, he might not know what each of them had said.

Ở một thái cực khác, sự thống nhất được lập lại; đây là trường hợp xảy ra khi các công dân bị rơi vào vòng nô lệ và mất cả tự do lẫn ý chí. Lúc đó, sự sợ hãi và sự nịnh bợ biến các cuộc đầu phiếu thành những cuộc hoan hô; không còn có sự nghị luận nữa mà chỉ còn có sự tôn sùng hay nguyền rủa. Nguyên Lão Thượng Viện đã phát biểu ý kiến của mình một cách hèn nhát như vậy dưới thời các Hoàng Đế. Đôi khi việc đó xảy ra với nhiều sự thận trọng lố bịch. Tacitus[c] nhận xét rằng, dưới thời Otho, các lão thượng nghị viên, trong khi vừa nguyền rủa Vitellius thì vừa làm ầm ĩ lên; mục đích là để nếu Vitellius trở nên người cầm đầu thì ông ta không biết ai đã nói gì.

On these various considerations depend the rules by which the methods of counting votes and comparing opinions should be regulated, according as the general will is more or less easy to discover, and the State more or less in its decline.

Từ những nhận xét trên nẩy ra những phương châm mà theo đó người ta quy định các thể thức đếm phiếu và so sánh các ý kiến tùy theo việc nhìn nhận ý chí tập thể một cách dễ hay khó, và tùy theo quốc gia suy kém đến mức nào.

There is but one law which, from its nature, needs unanimous consent. This is the social compact; for civil association is the most voluntary of all acts. Every man being born free and his own master, no one, under any pretext whatsoever, can make any man subject without his consent. To decide that the son of a slave is born a slave is to decide that he is not born a man.

Chỉ có một điều luật, từ bản chất của nó, đòi hỏi mọi người phải nhất trí đồng ý. Đó là khế ước xã hội; bởi vì sự hợp ước dân sự là một hành động có tính cách tự nguyện nhất trong mọi hành động. Mỗi người được sinh ra tự do và tự làm chủ lấy mình; không ai, dưới bất cứ một lý do nào, có thể bắt một kẻ khác phải thần phục mình mà không có sự đồng ý của người đó. Quyết định rằng con của một kẻ nô lệ được sinh ra để làm nô lệ là quyết định rằng kẻ đó không phải được sinh ra để làm người.

If then there are opponents when the social compact is made, their opposition does not invalidate the contract, but merely prevents them from being included in it. They are foreigners among citizens. When the State is instituted, residence constitutes consent; to dwell within its territory is to submit to the Sovereign.[34]

Nếu có những kẻ chống đối khi khế ước xã hội được tạo nên, sự chống đối đó không làm cho khế ước trở nên vô hiệu, mà chỉ ngăn chận không cho những kẻ đó trở thành những phần tử của khế ước. Họ là những người ngoại quốc sống giữa các công dân. Khi quốc gia được hình thành, sự cư trú đồng nghĩa với sự đồng ý: sống trong lãnh thổ là chịu phục tùng Quyền Tối Thượng.1

34 This should of course be understood as applying to a free State; for elsewhere family, goods, lack of a refuge, necessity, or violence may detain a man in a country against his will; and then his dwelling there no longer by itself implies his consent to the contract or to its violation.

[c] Publius Cornelius Tacitus (56-117) là một sử gia nổi tiếng và cũng là Nguyên lão Nghị Viên của Cổ La Mã. Tác phẩm về lịch sử còn lưu lại đến ngày nay là Biên niên Sử và Sử Ký ghi chép lịch sử triều đại của 3 vị Hoàng đế La Mã: Tiberius, Claudius, và Nero; cũng như thời kỳ hỗn loạn Tứ Đế của La Mã sau khi Nero bị buộc phải tự sát. Chỉ trong vòng 1 năm rưỡi từ tháng 6 năm 68 đến tháng 12 năm 69, La Mã trải qua 4 đời vua: Galba, Otho, Vitellius và Vespasian.

1 Điều này chỉ đúng trong các nước tự do, vì trong các nước không có tự do, các yếu tố như hoàn cảnh gia đình, tài sản, bạo lực của chính quyền, hay không có nơi nào khác để di cư có thể khiến một cư dân phải ở lại trong nước đó trái với ý nguyện của mình; trong trường hợp này sự cư ngụ của một người trong đất nước đó không còn đồng nghĩa với sự chấp nhận hay vi phạm khế ước xã hội nữa.

Apart from this primitive contract, the vote of the majority always binds all the rest. This follows from the contract itself. But it is asked how a man can be both free and forced to conform to wills that are not his own. How are the opponents at once free and subject to laws they have not agreed to?

Ngoài khế ước nguyên thủy đó, lá phiếu của đa số luôn luôn bắt buộc tất cả những người còn lại phải tuân theo. Sự kiện này là kết quả của chính khế ước. Nhưng ta có thể hỏi làm sao mà một người vừa có tự do vừa phải thuận theo những ý chí không phải của chính mình? Làm sao mà phe [thiểu số] đối lập vừa tự do vừa phải tuân theo những luật lệ mà họ không chấp thuận?

I retort that the question is wrongly put. The citizen gives his consent to all the laws, including those which are passed in spite of his opposition, and even those which punish him when he dares to break any of them. The constant will of all the members of the State is the general will; by virtue of it they are citizens and free.[35] When in the popular assembly a law is proposed, what the people is asked is not exactly whether it approves or rejects the proposal, but whether it is in conformity with the general will, which is their will. Each man, in giving his vote, states his opinion on that point; and the general will is found by counting votes. When therefore the opinion that is contrary to my own prevails, this proves neither more nor less than that I was mistaken, and that what I thought to be the general will was not so. If my particular opinion had carried the day I should have achieved the opposite of what was my will; and it is in that case that I should not have been free.

Tôi trả lời rằng câu hỏi đó đã được đặt sai. Người công dân chấp thuận mọi luật lệ gồm cả các luật lệ được thông qua dù anh ta không đồng ý, và ngay cả các luật lệ trừng phạt anh ta nếu anh ta vi phạm các luật lệ đó. Ý chí bất biến của tất cả các thành viên của quốc gia là ý chí tập thể; qua ý chí đó, họ là những công dân tự do.2 Khi một đạo luật được đề nghị trong một buổi họp của dân chúng, điều mà người ta hỏi không phải là sự chấp thuận hay bác bỏ đề nghị đó, mà có phải là đề nghị đó thích hợp với ý chí tập thể hay không, tức là ý chí của dân chúng. Mỗi người khi bỏ phiếu là cho ý kiến của mình trên vấn đề đó; và ý chí chung được thể hiện bằng số phiếu đếm được. Do đó, khi mà ý kiến trái với ý kiến của tôi được thông qua, sự việc đó không nói gì khác hơn là tôi đã lầm, và cái mà tôi nghĩ là ý chí tập thể thực sự không phải như vậy. [Trong trường hợp tôi lầm, và] nếu ý kiến của tôi thắng, [thì điều đó có nghĩa là] tôi đã đạt được những gì trái với ý nguyện của tôi; và như vậy là tôi không có tự do.

35 At Genoa, the word Liberty may be read over the front of the prisons and on the chains of the galley-slaves. This application of the device is good and just. It is indeed only malefactors of all estates who prevent the citizen from being free. In the country in which all such men were in the galleys, the most perfect liberty would be enjoyed.

2 Tại Genoa, chữ Libertas (tự do) được đóng trên cửa các nhà tù và trên những cái gông của tội nhân. Việc dùng khẩu hiệu này theo cách nói trên thật là tuyệt hảo và đúng đắn, vì chính những kẻ bất lương đã khiến cho những công dân khác không được tự do. Trong một nước mà tất cả những kẻ bất lương đều bị đóng gông hết, thì mọi người mới được hưởng hoàn toàn tự do.

This presupposes, indeed, that all the qualities of the general will still reside in the majority: when they cease to do so, whatever side a man may take, liberty is no longer possible.

Về việc này, ta phải giả định trước rằng tất cả các đặc tính của ý chí tập thể vẫn ở trong đa số: khi không còn như thế nữa, dù người ta đứng ở phía nào chăng nữa thì vẫn không còn tự do.

In my earlier demonstration of how particular wills are substituted for the general will in public deliberation, I have adequately pointed out the practicable methods of avoiding this abuse; and I shall have more to say of them later on. I have also given the principles for determining the proportional number of votes for declaring that will. A difference of one vote destroys equality; a single opponent destroys unanimity; but between equality and unanimity, there are several grades of unequal division, at each of which this proportion may be fixed in accordance with the condition and the needs of the body politic.

Trước kia, trong phần đề cập đến việc làm sao mà ý chí riêng tư thay thế cho ý chí tập thể trong các cuộc nghị luận công cộng, tôi đã nêu lên đầy đủ thể thức để tránh sự lạm dụng đó, và tôi sẽ có dịp đề cập đến vấn đề ấy sau này. Tôi cũng đã nêu ra các nguyên tắc để xác định tỷ lệ phiếu để chấp thuận ý chí đó. Sự khác biệt của một phiếu làm mất sự cân bằng;[d] một tiếng nói phản đối phá hủy sự đồng thuận; nhưng giữa sự cân bằng và sự đồng thuận, có nhiều thứ bậc phân chia không đồng đều; ở mỗi thứ bậc người ta có thể ấn định một con số tùy theo tình trạng và nhu cầu của cơ cấu chính trị.


[d] Trường hợp hai phe ngang phiếu nhau thì chỉ cần một phiếu cũng thay đổi tình trạng bế tắc này.

There are two general rules that may serve to regulate this relation. First, the more grave and important the questions discussed, the nearer should the opinion that is to prevail approach unanimity. Secondly, the more the matter in hand calls for speed, the smaller the prescribed difference in the numbers of votes may be allowed to become: where an instant decision has to be reached, a majority of one vote should be enough. The first of these two rules seems more in harmony with the laws, and the second with practical affairs. In any case, it is the combination of them that gives the best proportions for determining the majority necessary.

Ta có thể dùng hai điều luật tổng quát để ấn định các tỷ lệ này. Trước hết, vấn đề được tranh luận càng quan trọng thì ý kiến đem đến thắng lợi phải gần sự đồng nhất. Thứ hai, vấn đề tranh luận càng cần được giải quyết mau chóng thì số khác biệt trong tổng số phiếu phải càng nhỏ càng tốt; trong những cuộc tranh luận mà ta cần phải có quyết định ngay tức khắc; đa số hơn một phiếu là đủ. Điều thứ nhất nêu trên thích hợp cho luật pháp; điều thứ hai cho công việc thường ngày. Trong mọi trường hợp, chính là sự hòa hợp của cả hai điều trên cho ta tỷ lệ tốt nhất để ấn định đa số cần thiết.

3. Elections

IN the elections of the prince and the magistrates, which are, as I have said, complex acts, there are two possible methods of procedure, choice and lot. Both have been employed in various republics, and a highly complicated mixture of the two still survives in the election of the Doge at Venice.

3 Bầu cử

Việc bầu cử người cầm quyền và các quan chức là một việc phức tạp như tôi đã nói; có hai cách thức làm: đó là sự lựa chọn và sự rút thăm. Cả hai phương pháp đều được sử dụng ở nhiều nền cộng hòa, và một sự pha trộn hỗn hợp quá rắc rối của cả hai phương pháp này đang còn được sử dụng để bầu quan tổng trấn (doge) thành phố Venice.

"Election by lot," says Montesquieu, "is democratic in nature."E3 I agree that it is so; but in what sense? "The lot," he goes on, "is a way of making choice that is unfair to nobody; it leaves each citizen a reasonable hope of serving his country." These are not reasons.

Montesquieu đã nói: "Bầu cử bằng rút thăm là bản chất của nền dân chủ" (The spirit of laws, II: 2). Tôi đồng ý, nhưng như thế là thế nào? Ông ta nói tiếp: "Rút thăm là một cách lựa chọn không làm buồn phiền ai cả; mọi công dân đều có một hy vọng hợp lý để phục vụ quốc gia." Đó không phải là lý do chính đáng.

If we bear in mind that the election of rulers is a function of government, and not of Sovereignty, we shall see why the lot is the method more natural to democracy, in which the administration is better in proportion as the number of its acts is small.

Nếu ta cho rằng sự bầu cử các người cai trị là một công việc của chính phủ chứ không phải của Hội đồng Tối cao, ta sẽ thấy rằng tại sao sự rút thăm là một phương pháp tự nhiên hơn cho nền dân chủ, trong đó sự cai trị càng tốt nếu số đạo luật càng ít.

In every real democracy, magistracy is not an advantage, but a burdensome charge which cannot justly be imposed on one individual rather than another. The law alone can lay the charge on him on whom the lot falls. For, the conditions being then the same for all, and the choice not depending on any human will, there is no particular application to alter the universality of the law.

Trong mọi nền dân chủ thực sự, chức vụ không phải là một lợi lộc mà là một gánh nặng mà người ta không thể áp đặt một cách hợp lý trên một người này thay vì một người khác. Chỉ có luật pháp mới có quyền áp đặt chức vụ trên người rút thăm trúng. Bởi vì hoàn cảnh mọi người đều như nhau, và sự lựa chọn không tùy thuộc vào ý chí của một người nào cả, cho nên không có một sự đề nghị riêng biệt nào để sửa đổi tính cách phổ thông của luật này.

In an aristocracy, the prince chooses the prince, the government is preserved by itself, and voting is rightly ordered.

Trong nền quý tộc, vị hoàng đế chọn hoàng đế; chính phủ tự tồn tại và đây là chỗ mà các lá phiếu được sử dụng một cách thích đáng.

The instance of the election of the Doge of Venice confirms, instead of destroying, this distinction; the mixed form suits a mixed government. For it is an error to take the government of Venice for a real aristocracy. If the people has no share in the government, the nobility is itself the people. A host of poor Barnabotes never gets near any magistracy, and its nobility consists merely in the empty title of Excellency, and in the right to sit in the Great Council. As this Great Council is as numerous as our General Council at Geneva, its illustrious members have no more privileges than our plain citizens. It is indisputable that, apart from the extreme disparity between the two republics, the bourgeoisie of Geneva is exactly equivalent to the patriciate of Venice; our natives and inhabitants correspond to the townsmen and the people of Venice; our peasants correspond to the subjects on the mainland; and, however that republic be regarded, if its size be left out of account, its government is no more aristocratic than our own. The whole difference is that, having no life-ruler, we do not, like Venice, need to use the lot.

Cuộc bầu cử của tổng trấn thành phố Venice là một ví dụ xác nhận thay vì phủ nhận sự khác biệt nói trên: phương pháp hỗn hợp này thích ứng cho một chính phủ hỗn hợp. Nếu ta cho rằng chính quyền của thành phố Venice là chính quyền quý tộc thì ta lầm. Nếu dân chúng không tham dự phần nào trong chính phủ, giới quý tộc chính là dân chúng. Những người Barnabotes - thành phần quý tộc nghèo ở vùng phố Saint Barnabe - không bao giờ được giữ các chức vụ, và thật ra chỉ mang cái danh trống rỗng là "Điện hạ" và có quyền tham dự vào Đại Hội Đồng. Người tham dự Đại Hội Đồng này cũng đông đảo như trong Tổng Hội Đồng của chúng ta ở Geneve, các thành viên danh tiếng ấy cũng không có quyền hành gì hơn các thường dân ở Geneve. Thật ra thì, ngoài sự khác biệt giữa hai nền cộng hòa, giai cấp tư sản của Geneve thật sự tương đương với giới quý tộc của Venice; thổ dân và cư dân của chúng ta tương đương với dân phố và dân chúng của Venice; các dân quê của ta là các thần dân của Venice. Trừ diện tích ra, nếu ta xét đến cộng hòa Venice dưới khía cạnh nào chăng nữa, chính phủ của thành phố đó cũng không có gì là quý tộc hơn Geneve. Toàn thể sự khác biệt là ở chỗ chúng ta không có người cai trị vĩnh viễn nên chúng ta không cần đến sự bắt thăm.

Election by lot would have few disadvantages in a real democracy, in which, as equality would everywhere exist in morals and talents as well as in principles and fortunes, it would become almost a matter of indifference who was chosen. But I have already said that a real democracy is only an ideal.

When choice and lot are combined, positions that require special talents, such as military posts, should be filled by the former; the latter does for cases, such as judicial offices, in which good sense, justice, and integrity are enough, because in a State that is well constituted, these qualities are common to all the citizens.

Trong một nền dân chủ thật sự, cuộc bầu cử bằng bắt thăm có vài sự bất lợi; vì ở nơi mà ai cũng đồng đều với nhau về tinh thần và tài năng cũng như về nguyên tắc và tài sản, thì người ta gần như hờ hững với sự lựa chọn. Nhưng như tôi đã có nói một nền dân chủ thật sự chỉ là một ý niệm lý tưởng.

Khi có sự bầu cử bằng phiếu và sự bầu cử bằng bắt thăm kết hợp với nhau, các chức vụ đòi hỏi những tài năng đặc biệt, như là các cấp chỉ huy quân đội, phải được bầu ra. Sự bắt thăm có thể dùng cho các chức vụ về tư pháp trong đó cần đến các đức tính như sự khôn ngoan, sự công bằng và tính liêm khiết, và khi một quốc gia được thành lập một cách hoàn hảo thì tất cả các công dân thường có các đức tính ấy.

Neither lot nor vote has any place in monarchical government. The monarch being by right sole prince and only magistrate, the choice of his lieutenants belongs to none but him. When the Abbé de Saint-Pierre proposed that the Councils of the King of France should be multiplied, and their members elected by ballot, he did not see that he was proposing to change the form of government.

Trong một chính phủ quân chủ không thể có sự bắt thăm hoặc sự đầu phiếu. Dựa trên quyền hành của mình, vị vua là người cai trị và quan chức độc nhất; vua là người duy nhất chọn lựa các phụ tá của mình. Khi Abbé de Saint Pierre [e] đề nghị tăng số lượng các Hội Đồng của vua Pháp và các thành viên nên được bầu cử, ông ta không ngờ rằng ông đang đề nghị thay đổi hình thức của chính quyền.


[e] Charles Irénée Castel de Saint Pierre, còn được gọi là Abbé de Saint Pierre, là một triết gia có ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng của Rousseau. Có lẽ ông là người đầu tiên đề nghị thành lập một tổ chức gìn giữ hòa bình thế giới. Dù tên gọi có chữ Abbé (cha giám tỉnh một nhà dòng), nhưng ông không phải là linh mục hay tu sĩ.

I should now speak of the methods of giving and counting opinions in the assembly of the people; but perhaps an account of this aspect of the Roman constitution will more forcibly illustrate all the rules I could lay down. It is worth the while of a judicious reader to follow in some detail the working of public and private affairs in a Council consisting of two hundred thousand men.

Bây giờ tôi đề cập đến thể thức bỏ phiếu và đếm phiếu trong các buổi nghị hội của dân chúng; nhưng có lẽ một ít lịch sử chính trị La Mã về vấn đề này sẽ giải thích rõ rệt hơn những gì mà tôi muốn nói. Độc giả sáng suốt sẽ thấy rằng thì giờ mình bỏ ra là xứng đáng để tìm hiểu thêm về cách giải quyết các công việc công cũng như tư trong một Hội đồng gồm hai trăm ngàn thành viên.

4. The Roman Comitia

WE are without well-certified records of the first period of Rome's existence; it even appears very probable that most of the stories told about it are fables; indeed, generally speaking, the most instructive part of the history of peoples, that which deals with their foundation, is what we have least of. Experience teaches us every day what causes lead to the revolutions of empires; but, as no new peoples are now formed, we have almost nothing beyond conjecture to go upon in explaining how they were created.

4 Những Dân Hội La Mã

Chúng ta không có những tài liệu khả tín về lịch sử đầu tiên của La Mã và dường như phần lớn các chuyện được kể lại là những huyền thoại; thật vậy, những phần ích lợi nhất cho sự hiểu biết lịch sử lập quốc của các dân tộc lại là những phần mà ta thiếu nhiều nhất. Kinh nghiệm hằng ngày dạy ta những nguyên nhân dẫn đến những cuộc cách mạng tại các đế quốc; nhưng vì hiện nay không có những dân tộc mới nào được hình thành nữa, nên chúng ta chỉ dựa vào những phỏng đoán để giải thích sự hình thành các nước này.

The customs we find established show at least that these customs had an origin. The traditions that go back to those origins, that have the greatest authorities behind them, and that are confirmed by the strongest proofs, should pass for the most certain. These are the rules I have tried to follow in inquiring how the freest and most powerful people on earth exercised its supreme power.

Những tục lệ đã được thiết lập cho ta thấy rằng ít nhất các tục lệ đó có một nguồn gốc. Các truyền thống xuất phát từ các nguồn gốc đó, những truyền thống đã được các vị có uy tín nhất ủng hộ, và đã được khẳng định bằng các chứng cớ thiết thực, phải được xem là đáng tin cậy nhất. Đấy là những phương châm mà tôi cố gắng tuân theo khi tìm hiểu thể thức mà một dân tộc tự do nhất và hùng cường nhất trên thế giới sử dụng quyền hành tối cao của mình.

After the foundation of Rome, the new-born republic, that is, the army of its founder, composed of Albans, Sabines and foreigners, was divided into three classes, which, from this division, took the name of tribes. Each of these tribes was subdivided into ten curiæ, and each curia into decuriæ, headed by leaders called curiones and decuriones.

Sau khi đặt nền móng cho La Mã, nền cộng hòa mới lập-bao gồm quân đội của kẻ thành lập gồm có các người gốc Albans, Sabines và người ngoại kiều-được chia ra làm ba giai cấp; từ sự phân chia đó mỗi giai cấp có tên là bộ tộc (tribes). Mỗi bộ tộc được chia ra làm mười tộc đoàn (curiae) và mỗi tộc đoàn lại được chia ra làm nhiều thập đoàn (decuriae) với những người chỉ huy là tộc đoàn trưởng (curiones) và thập đoàn trưởng (decuriones).

Besides this, out of each tribe was taken a body of one hundred Equites or Knights, called a century, which shows that these divisions, being unnecessary in a town, were at first merely military. But an instinct for greatness seems to have led the little township of Rome to provide itself in advance with a political system suitable for the capital of the world.

Thêm vào đó, từ mỗi bộ tộc lại tuyển ra một trăm kỵ sĩ, còn gọi là hiệp sĩ thành một bách kỵ đội. Tất cả các sự phân chia này lúc đầu có tính cách quân sự nhưng sau này không cần thiết cho một thành phố nữa. Nhưng hình như họ có một linh tính là thành phố La Mã nhỏ bé này sẽ có một tương lai huy hoàng nên họ đã tự trang bị sớm để cho thành phố này có một hệ thống chính trị xứng đáng là một kinh đô của thế giới.

Out of this original division an awkward situation soon arose. The tribes of the Albans (Ramnenses) and the Sabines (Tatienses) remained always in the same condition, while that of the foreigners (Luceres) continually grew as more and more foreigners came to live at Rome, so that it soon surpassed the others in strength. Servius remedied this dangerous fault by changing the principle of cleavage, and substituting for the racial division, which he abolished, a new one based on the quarter of the town inhabited by each tribe. Instead of three tribes he created four, each occupying and named after one of the hills of Rome. Thus, while redressing the inequality of the moment, he also provided for the future; and in order that the division might be one of persons as well as localities, he forbade the inhabitants of one quarter to migrate to another, and so prevented the mingling of the races.

Từ sự phân chia khởi đầu này một tình huống rắc rối xảy ra. Các bộ tộc Albans (Ramnenses) và bộ tộc Sabines (Tatienses) luôn luôn giữ nguyên tình trạng của mình, trong khi các bộ tộc ngoại kiều (Luceres) tiếp tục lớn dần và càng ngày càng có đông ngoại kiều đến La Mã cư ngụ, và lắm lúc có phần lấn át hai bộ tộc kia. Servius[f] sửa chữa khuyết điểm nguy hiểm này bằng cách thay đổi sự phân chia theo chủng tộc, và thay vào đó, bằng một sự phân chia mới dựa theo các chỗ cư ngụ của mỗi bộ tộc. Thay vì ba bộ tộc ông tạo ra bốn. Mỗi bộ tộc chiếm cứ một ngọn đồi của thành phố La Mã và mang tên ngọn đồi đó. Làm như thế, Servius sửa chữa sự bất bình đẳng đang có, và dự phòng cho tương lai. Và để cho sự phân chia này không những áp dụng cho nơi cư ngụ mà cả với người dân của bộ tộc đó, dân chúng bị cấm không được di chuyển từ chỗ này qua chỗ kia, và như vậy không cho các chủng tộc trộn lẫn với nhau.

He also doubled the three old centuries of Knights and added twelve more, still keeping the old names, and by this simple and prudent method, succeeded in making a distinction between the body of Knights, and the people, without a murmur from the latter.

Servius tăng gấp đôi số bách kỵ sĩ và tạo thêm mười hai đội khác nữa mà vẫn giữ các tên cũ; bằng phương cách giản dị và thận trọng đó, ông thành công trong sự phân biệt các đội kỵ sĩ với dân chúng mà dân chúng không có một phản ứng nào.


[f] Servius Tulius là vị vua lừng danh của Cổ La Mã, trị vì từ 578-535 BC. Cơ cấu chính trị của Cổ La Mã gồm có nhà vua, cơ quan cố vấn gọi là Senatus, và các loại ủy ban khác gọi là comitia. Nguyên lý chính trị căn bản của Cổ La Mã là pháp trị, tất cả mọi người, kể cả nhà vua đều phải tuân theo luật pháp. Khi Servius lên trị vì, La Mã đã trải qua nhiều thay đổi nhất là về mặt dân số. Một phần là công dân gốc La Mã, phần lớn khác là các di dân đến từ các vùng hay nước lân cận. Các biện pháp cải tổ của Servius mà Rousseau nêu ra trong bài này là để đối phó với vấn nạn dân số bùng nổ và giao lưu dân số đang xảy ra.

To the four urban tribes Servius added fifteen others called rural tribes, because they consisted of those who lived in the country, divided into fifteen cantons. Subsequently, fifteen more were created, and the Roman people finally found itself divided into thirty-five tribes, as it remained down to the end of the Republic.

Thêm vào số bốn bộ tộc sống ở thành thị, Servius tạo thêm mười lăm bộ tộc nữa, gọi là bộ tộc thôn quê vì những bộ tộc này gồm những người dân sống ở vùng quê và được chia làm nhiều tổng, mỗi bộ tộc ở một tổng. Rồi sau đó, thêm nhiều bộ tộc nữa được thành lập, và dân La Mã sau rốt được ra chia làm ba mươi lăm bộ tộc và giữ như vậy cho đến cuối nền Cộng Hòa.

The distinction between urban and rural tribes had one effect which is worth mention, both because it is without parallel elsewhere, and because to it Rome owed the preservation of her morality and the enlargement of her empire. We should have expected that the urban tribes would soon monopolise power and honours, and lose no time in bringing the rural tribes into disrepute; but what happened was exactly the reverse. The taste of the early Romans for country life is well known. This taste they owed to their wise founder, who made rural and military labours go along with liberty, and, so to speak, relegated to the town arts, crafts, intrigue, fortune and slavery.

Sự phân biệt giữa bộ tộc thành phố và bộ tộc thôn quê có một một hệ quả đáng được nêu lên bởi vì không có một sự kiện nào giống như vậy, và vì nhờ đó mà La Mã bảo tồn được nền đạo đức và sự bành trướng đế quốc của mình. Ta có thể nghĩ rằng các bộ tộc thành phố sớm độc quyền chiếm lấy quyền thế và danh vọng, và sẽ làm cho các bộ tộc thôn quê chẳng bao lâu sẽ mất đi tiếng tốt của mình; nhưng sự thật ngược lại. Ai cũng biết là dân La mã thuở lập quốc ưa thích nếp sống thôn dã như thế nào. Sự ưa chuộng này do các nhà lập quốc khôn ngoan bày ra, họ kết hợp việc đồng áng và quân sự với sự tự do, [những thứ] còn lại như nghệ thuật, thủ công nghệ, những mưu mô, những trò may rủi và nô lệ được dành cho thành thị.

Since therefore all Rome's most illustrious citizens lived in the fields and tilled the earth, men grew used to seeking there alone the mainstays of the republic. This condition, being that of the best patricians, was honoured by all men; the simple and laborious life of the villager was preferred to the slothful and idle life of the bourgeoisie of Rome; and he who, in the town, would have been but a wretched proletarian, became, as a labourer in the fields, a respected citizen. Not without reason, says Varro, did our great-souled ancestors establish in the village the nursery of the sturdy and valiant men who defended them in time of war and provided for their sustenance in time of peace. Pliny states positively that the country tribes were honoured because of the men of whom they were composed; while cowards men wished to dishonour were transferred, as a public disgrace, to the town tribes. The Sabine Appius Claudius, when he had come to settle in Rome, was loaded with honours and enrolled in a rural tribe, which subsequently took his family name. Lastly, freedmen always entered the urban, arid never the rural, tribes: nor is there a single example, throughout the Republic, of a freedman, though he had become a citizen, reaching any magistracy.

Vì tất cả những công dân La Mã nổi tiếng nhất sống nơi điền dã và canh tác đất đai, từ đó, dân La Mã có thói quen đi tìm những người rường cột của nền cộng hòa ở thôn quê. Cũng vì các nhà quý tộc danh tiếng nhất và được mọi người tôn trọng chọn nếp sống điền dã; đời sống giản dị và cần cù của dân làng được mến chuộng hơn là đời sống lười biếng và nhàn rỗi của dân tiểu tư sản thành thị; và kẻ nào mà ở thành thị chỉ là một kẻ vô sản khốn khổ thì khi trở về đồng quê làm lụng, sẽ trở thành một công dân được kính nể. Không phải là vô lý khi Varro [g] nói rằng "tổ tiên cao cả của chúng ta đã thiết lập làng xóm trở thành cái nôi đào tạo nên những con người cường tráng và can đảm để bảo vệ họ khi có chiến tranh và nuôi dưỡng họ trong thời bình." Còn Plinius [h] quả quyết rằng các bộ tộc vùng quê được trọng vọng vì chính phẩm chất của người dân ở đó; còn những kẻ hèn nhát mà người ta muốn lăng mạ trước công chúng thì bị đuổi về các bộ tộc thành phố. Khi Appius Claudius thuộc bộ tộc Sabine đến cư ngụ tại La Mã, Claudius được ban thưởng nhiều danh dự và được kết nạp vào một bộ tộc thôn quê mà sau này mang tên ông. Cuối cùng, tất cả các nô lệ sau khi được tự do đều về sống với các bộ tộc thành thị và không bao giờ về sống ở miền quê; và trong suốt nền cộng hòa không có một kẻ nô lệ được tự do nào được giữ một chức vụ gì dù rằng đã trở thành một công dân.


[g] Marcus Terentius Varro là một học giả và văn sĩ nổi tiếng của Cổ La Mã (116 - 27 BC), được Cicero mệnh danh là "nhà thông thái bậc nhất của La Mã." Varro trước tác hơn 400 tác phẩm, nay chỉ còn tồn tại hai tác phẩm còn nguyên vẹn.

[h] Gaius Plinius Secundus, còn được biết đến dưới tên Pliny (23 - 79 AD), vừa là văn gia, triết gia vừa là sĩ quan chỉ huy hải quân và quân đội của La Mã. Plinius là tác giả của cuốn bách khoa Naturalis Historia (Lịch sử Thiên Nhiên).

This was an excellent rule; but it was carried so far that in the end it led to a change and certainly to an abuse in the political system.

Đó là một nguyên tắc tốt nhưng nó được áp dụng một cách quá đáng, đến nỗi cuối cùng đã mang đến một sự thay đổi, và chắc chắn là đến một sự lạm dụng trong hệ thống chính trị.

First the censors, after having for a long time claimed the right of transferring citizens arbitrarily from one tribe to another, allowed most persons to enrol themselves in whatever tribe they pleased. This permission certainly did no good, and further robbed the censorship of one of its greatest resources. Moreover, as the great and powerful all got themselves enrolled in the country tribes, while the freedmen who had become citizens remained with the populace in the town tribes, both soon ceased to have any local or territorial meaning, and all were so confused that the members of one could not be told from those of another except by the registers; so that the idea of the word tribe became personal instead of real, or rather came to be little more than a chimera.

Trước hết các nhà kiểm tra dân số, sau một thời gian dài đã tự cho mình quyền tùy tiện di chuyển công dân từ bộ tộc này qua bộ tộc khác và cho phép một số đông dân chúng tự ghi tên mình vào bộ tộc mà họ thích. Việc cho phép này chắc chắn không mang lại điều gì tốt mà còn làm cho việc kiểm tra dân số mất đi lợi thế cao nhất của mình. Ngoài ra, tất cả các công dân danh tiếng và quyền thế đều ghi tên vào các bộ tộc thôn quê, trong khi các nô lệ được giải phóng và đã trở thành công dân thì phải ở lại với đám tiện dân nghèo khổ trong các bộ tộc thành thị; kết quả của sự việc này là các bộ tộc không còn được gọi đúng theo nơi mình cư ngụ nữa; tất cả mọi người đều phân vân vì số dân của một bộ tộc này không phân biệt được với số dân của bộ tộc kia ngoài cách kiểm kê sổ sách; vậy cho nên từ ngữ bộ tộc trở thành một tên riêng [để chỉ một bộ tộc] thay vì một địa danh, hay nói một cách khác là từ ngữ này chẳng còn mang ý nghĩa gì [của lúc ban đầu] nữa.

It happened in addition that the town tribes, being more on the spot, were often the stronger in the comitia and sold the State to those who stooped to buy the votes of the rabble composing them.

Hơn nữa, các bộ tộc thành phố, vì ở ngay trung tâm, thường thường là phần tử mạnh nhất trong dân hội nhờ vào số đông và dễ tham gia các cuộc nghị hội hơn các bộ tộc thôn quê, nên họ dễ dàng bán quốc gia cho những kẻ hạ mình mua lá phiếu của dân đen là những phần tử cơ bản tạo thành các bộ tộc ấy.

As the founder had set up ten curiæ in each tribe, the whole Roman people, which was then contained within the walls, consisted of thirty curiæ, each with its temples, its gods, its officers, its priests and its festivals, which were called compitalia and corresponded to the paganalia, held in later times by the rural tribes.

Vì nhà sáng lập đã ấn định mười tộc đoàn trong mỗi bộ tộc, nên toàn thể dân La Mã lúc đó sống trong vòng thành quách gồm có ba chục tộc đoàn; mỗi tộc đoàn có đền thờ, các vị thần thánh, các quan chức, các thầy tế và các ngày hội riêng của mình; các ngày hội được gọi là "compitalia," giống như các ngày hội "paganalia" xuất hiện sau này trong các bộ tộc thôn quê.

When Servius made his new division, as the thirty curiæ could not be shared equally between his four tribes, and as he was unwilling to interfere with them, they became a further division of the inhabitants of Rome, quite independent of the tribes: but in the case of the rural tribes and their members there was no question of curiæ, as the tribes had then become a purely civil institution, and, a new system of levying troops having been introduced, the military divisions of Romulus were superfluous. Thus, although every citizen was enrolled in a tribe, there were very many who were not members of a curia.

Khi Servius thực hiện cuộc phân chia mới, vì không thể phân phối đồng đều ba chục tộc đoàn ra bốn bộ tộc, và vì Servius không muốn thay đổi con số này, cho nên các tộc đoàn độc lập trở nên một phần khác của dân La Mã, không liên hệ với các bộ tộc và trở thành một thành phần mới của cư dân La Mã. Nhưng trong trường hợp các bộ tộc vùng quê và các thành viên của họ thì không có việc phân chia ra làm tộc đoàn vì các bộ tộc ấy đã trở thành một tổ chức dân sự, và vì đã có một thể thức mới để tuyển quân lính nên sự phân chia quân sự của Romulus không còn cần thiết nữa. Vậy nên, tuy rằng mỗi công dân là thành viên của một bộ tộc nhưng cũng có nhiều công dân không phải là thành viên của một tộc đoàn nào cả.

Servius made yet a third division, quite distinct from the two we have mentioned, which became, in its effects, the most important of all. He distributed the whole Roman people into six classes, distinguished neither by place nor by person, but by wealth; the first classes included the rich, the last the poor, and those between persons of moderate means. These six classes were subdivided into one hundred and ninety-three other bodies, called centuries, which were so divided that the first class alone comprised more than half of them, while the last comprised only one. Thus the class that had the smallest number of members had the largest number of centuries, and the whole of the last class only counted as a single subdivision, although it alone included more than half the inhabitants of Rome.

Servius còn phân chia dân La Mã theo cách thứ ba, không liên quan gì đến hai sự phân chia đã nói trên, nhưng vì những hệ quả của nó nên lại rất quan trọng. Servius chia toàn bộ dân La Mã ra làm sáu giai cấp, không phân biệt bằng nơi trú ngụ hay bằng nhân cách con người mà bằng tài sản; giai cấp thứ nhất gồm có các nhà giàu; giai cấp chót hết gồm các dân nghèo, và ở giữa là dân có tài sản trung bình. Sáu giai cấp này được phân chia ra làm một trăm chín mươi ba nhóm khác gọi là Bách Nhóm (Century); số nhóm này quá nhiều đến nỗi giai cấp thứ nhất gồm hơn nửa số nhóm, trong khi giai cấp chót chỉ có một nhóm. Vậy giai cấp có số thành viên ít nhất lại có số bách nhóm nhiều nhất và toàn thể giai cấp hạng chót chỉ có một, mặc dù giai cấp đó bao gồm hơn phân nửa dân số thành La Mã.

In order that the people might have the less insight into the results of this arrangement, Servius tried to give it a military tone: in the second class he inserted two centuries of armourers, and in the fourth two of makers of instruments of war: in each class, except the last, he distinguished young and old, that is, those who were under an obligation to bear arms and those whose age gave them legal exemption. It was this distinction, rather than that of wealth, which required frequent repetition of the census or counting. Lastly, he ordered that the assembly should be held in the Campus Martius, and that all who were of age to serve should come there armed.

Để cho dân chúng không thấy kết quả của sự phân chia này, Servius tạo cho nó một lý do quân sự bằng cách đặt hai bách nhóm thợ chế tạo vũ khí vào giai cấp thứ hai, và hai bách nhóm thợ chế tạo quân cụ vào giai cấp thứ tư; ngoài ra, trong mỗi giai cấp, trừ ra giai cấp chót, Servius phân biệt người già và người trẻ với mục đích phân loại ai có thể bị gọi nhập ngũ và ai có thể được miễn dịch một cách hợp pháp vì tuổi tác. Chính sự phân biệt này, chứ không phải lý do giàu nghèo, đã đưa đến sự cần thiết liên tục việc kiểm tra dân số. Sau cùng, Servius ra lệnh rằng buổi nghị hội sẽ được tổ chức tại Trại Martius, và mọi công dân trong tuổi quân dịch khi đi họp phải mang theo vũ khí.

The reason for his not making in the last class also the division of young and old was that the populace, of whom it was composed, was not given the right to bear arms for its country: a man had to possess a hearth to acquire the right to defend it, and of all the troops of beggars who to-day lend lustre to the armies of kings, there is perhaps not one who would not have been driven with scorn out of a Roman cohort, at a time when soldiers were the defenders of liberty.

Lý do tại sao Servius không phân chia trẻ và già trong giai cấp chót là vì đám tiện dân nghèo khổ trong giai cấp đó không được quyền đi quân dịch: [lý do đơn giản là vì] chỉ những người dân nào có một mái nhà mới được quyền bảo vệ nó mà thôi; và trong tất cả các đám ăn mày mà ngày hôm nay đang là những vật trang trí cho các quân đội của các vị vua thời nay, có thể nói là không có kẻ nào mà không bị khinh bỉ và bị đuổi ra khỏi một đội quân La Mã, trong thời kỳ mà quân đội là [tổ chức của] những người bảo vệ cho tự do.

In this last class, however, proletarians were distinguished from capite censi. The former, not quite reduced to nothing, at least gave the State citizens, and sometimes, when the need was pressing, even soldiers. Those who had nothing at all, and could be numbered only by counting heads, were regarded as of absolutely no account, and Marius was the first who stooped to enrol them.

Tuy nhiên trong giai cấp chót này, người ta có thể phân biệt các dân vô sản (proletarians) và những người dân được kiểm tra (capite censi). Loại thứ nhất, không thể nói là không ra gì cả, vì ít nhất họ cũng là những công dân mà khi có nhu cầu cấp bách, cũng có thể đi lính. Loại sau, không có gì cả và chỉ có thể kiểm tra được bằng cách đếm đầu người; bọn người này bị xem như là số không và Marius là người thứ nhất dám hạ mình để tuyển mộ họ.

Without deciding now whether this third arrangement was good or bad in itself, I think I may assert that it could have been made practicable only by the simple morals, the disinterestedness, the liking for agriculture and the scorn for commerce and for love of gain which characterised the early Romans. Where is the modern people among whom consuming greed, unrest, intrigue, continual removals, and perpetual changes of fortune, could let such a system last for twenty years without turning the State upside down? We must indeed observe that morality and the censorship, being stronger than this institution, corrected its defects at Rome, and that the rich man found himself degraded to the class of the poor for making too much display of his riches.

Ở đây, tôi không bàn xem sự phân chia thứ ba tự nó là tốt hay xấu; tôi chỉ có thể nói rằng sự phân chia ấy chỉ thực hiện được nhờ ở các đặc tính của dân tộc Cổ La Mã như phong tục giản dị, sự vô tư, sự ưa chuộng công việc đồng áng và sự khinh miệt nền thương mãi cùng lòng yêu lợi lộc. Một dân tộc thời nay với sự tham lam cùng cực, với sự bất ổn trong tâm hồn, với các mưu đồ xảo trá, lại hay di chuyển liên tục và những sự thay đổi tài sản không ngừng có thể nào giữ cho một hệ thống như vậy kéo dài hai chục năm mà không làm cho quốc gia bị đảo ngược được không? Chúng ta phải công nhận rằng sức mạnh của nền luân lý và cơ quan kiểm tra dân số có khả năng đã sửa chữa được những sai lầm của chính quyền ở La Mã, và một người giàu sẽ tự thấy mình bị hạ giá xuống hàng nghèo khó vì phô trương sự giàu sang của mình một cách quá đáng.

From all this it is easy to understand why only five classes are almost always mentioned, though there were really six. The sixth, as it furnished neither soldiers to the army nor votes in the Campus Martius,[36] and was almost without function in the State, was seldom regarded as of any account.

Qua tất cả các sự việc này, ta dễ dàng hiểu rằng chỉ có năm giai cấp được đề cập đến, tuy rằng trong thực tế có tất cả sáu giai cấp. Giai cấp chót này, vì không cung cấp quân lính cho quân đội và cũng không đi bỏ phiếu ở Trại Martius và gần như không có chức vụ trong quốc gia, nên ít khi được để ý đến.

36 I say "in the Campus Martius" because it was there that the comitia assembled by centuries; in its two other forms the people assembled in the forum or elsewhere; and then the capite censi had as much influence and authority as the foremost citizens.


These were the various ways in which the Roman people was divided. Let us now see the effect on the assemblies. When lawfully summoned, these were called comitia: they were usually held in the public square at Rome or in the Campus Martius, and were distinguished as comitia curiata, comitia centuriata, and comitia tributa, according to the form under which they were convoked. The comitia curiata were founded by Romulus; the centuriata by Servius; and the tributa by the tribunes of the people. No law received its sanction and no magistrate was elected, save in the comitia; and as every citizen was enrolled in a curia, a century, or a tribe, it follows that no citizen was excluded from the right of voting, and that the Roman people was truly sovereign both de jure and de facto.

Đấy là các thể thức phân chia dân La Mã. Bây giờ ta hãy xem tác động của sự phân chia đó trong các buổi họp. Khi được triệu tập theo đúng luật pháp, các buổi họp đó được gọi là các dân hội (comitia): chúng thường xảy ra tại các công trường ở La Mã hay trong Trại Martius. Những buổi họp này được phân chia ra làm dân hội tộc đoàn (Comitia Curiata), dân hội bách đoàn (Comitia Centuriata) và dân hội bộ tộc (Comitia Tributa) tùy theo thể thức theo đó chúng được triệu tập. Các dân hội tộc đoàn được thành lập dưới thời Romulus; các dân hội bách đoàn dưới thời Servius và các dân hội bộ tộc bởi các bảo dân quan. Mọi luật lệ phải được thông qua và mọi chức vụ phải được bầu lên bởi các dân hội. Không có một công dân nào mà lại không ghi tên trong một dân hội tộc đoàn, một dân hội bách đoàn hay một dân hội bộ tộc, và như vậy, tất cả mọi công dân đều có quyền đầu phiếu, và lúc bấy giờ dân La Mã thật sự là Hội đồng Tối cao theo luật pháp và trong thực tế.

For the comitia to be lawfully assembled, and for their acts to have the force of law, three conditions were necessary. First, the body or magistrate convoking them had to possess the necessary authority; secondly, the assembly had to be held on a day allowed by law; and thirdly, the auguries had to be favourable.

Có ba điều cần thiết để cho dân hội được triệu tập một cách hợp pháp và để cho các quyết định họ đưa ra có hiệu lực của một điều luật. Thứ nhất, cơ cấu hoặc quan chức triệu tập buổi họp phải có thẩm quyền; thứ hai, buổi họp phải được triệu tập trong một ngày được luật pháp chấp thuận; và thứ ba, phải có những dấu hiệu thuận lợi qua một cuộc bói toán.

The reason for the first regulation needs no explanation; the second is a matter of policy. Thus, the comitia might not be held on festivals or market-days, when the country-folk, coming to Rome on business, had not time to spend the day in the public square. By means of the third, the senate held in check the proud and restive people, and meetly restrained the ardour of seditious tribunes, who, however, found more than one way of escaping this hindrance.

Lý do của điều kiện thứ nhất không cần phải giải thích; điều kiện thứ hai chỉ là một vấn đề chính sách. Vậy buổi dân hội sẽ không được triệu tập vào các ngày lễ hay các ngày phiên chợ, khi mà dân chúng vùng quê đi vào La Mã vì công việc họ không có thì giờ cho các ngày dân hội. Bằng điều kiện thứ ba, nguyên lão thượng nghị viện kìm hãm một dân tộc kiêu hãnh và năng động, và kiềm chế nhuệ khí của các bảo dân quan thích nổi loạn; nhưng các vị này đã kiếm được nhiều cách để vượt qua chướng ngại đó.

Laws and the election of rulers were not the only questions submitted to the judgment of the comitia: as the Roman people had taken on itself the most important functions of government, it may be said that the lot of Europe was regulated in its assemblies. The variety of their objects gave rise to the various forms these took, according to the matters on which they had to pronounce.

Luật pháp và việc bầu cử các lãnh tụ không phải chỉ là những vấn đề được các dân hội xét đến: dân chúng La Mã đã tự dành cho mình những chức vụ quan trọng nhất trong chính phủ; ta có thể nói rằng vận mệnh của Âu Châu đã được giải quyết trong các buổi họp ấy. Nhiều đề mục như vậy đòi hỏi nhiều hình thức dân hội, tùy theo vấn đề phải được xem xét.

In order to judge of these various forms, it is enough to compare them. Romulus, when he set up curia, had in view the checking of the senate by the people, and of the people by the senate, while maintaining his ascendancy over both alike. He therefore gave the people, by means of this assembly, all the authority of numbers to balance that of power and riches, which he left to the patricians. But, after the spirit of monarchy, he left all the same a greater advantage to the patricians in the influence of their clients on the majority of votes. This excellent institution of patron and client was a masterpiece of statesmanship and humanity without which the patriciate, being flagrantly in contradiction to the republican spirit, could not have survived. Rome alone has the honour of having given to the world this great example, which never led to any abuse, and yet has never been followed.

Muốn xét đoán các hình thức ấy ta chỉ cần so sánh chúng. Romulus, khi thành lập các tộc đoàn có mục đích để dân chúng kiểm soát nguyên lão thượng nghị viện và nguyên lão thượng nghị viện kiểm soát dân chúng, và để mình chế ngự cả hai bên. Cho nên, qua dân hội, Romulus cho dân chúng quyền hành bằng số đông để cân bằng quyền thế và sự giàu sang của giới quý tộc. Nhưng, theo tinh thần của chế độ quân chủ, Romulus dành cho giới quý tộc một lợi thế lớn hơn trong việc ảnh hưởng các tộc viên của mình để chiếm đa số trong các cuộc đầu phiếu bằng cách cho phép giới quý tộc quyền mua sự ủng hộ của các tộc viên. Định chế xuất sắc về quý tộc và tộc viên là một kiệt tác về tài lãnh đạo chính trị và bản chất con người; không có định chế này, giới quý tộc không thể nào tồn tại được vì đi ngược lại với tinh thần của nền cộng hòa. Riêng thành phố La Mã được cái vinh dự đã cho thế giới một tấm gương tốt trong đó không có sự lạm quyền, nhưng không hề có ai noi theo gương đó cả.

As the assemblies by curiæ persisted under the kings till the time of Servius, and the reign of the later Tarquin was not regarded as legitimate, royal laws were called generally leges curiatæ.

Hình thức các dân hội tộc đoàn này kéo dài dưới triều các vị vua cho đến đời Servius, và vì thời đại của Tarquin không được xem như là chính thống, nên các luật pháp của nhà vua thường được gọi là luật của dân hội.

Under the Republic, the curiæ, still confined to the four urban tribes, and including only the populace of Rome, suited neither the senate, which led the patricians, nor the tribunes, who, though plebeians, were at the head of the well-to-do citizens. They therefore fell into disrepute, and their degradation was such, that thirty lictors used to assemble and do what the comitia curiata should have done.

Dưới thời Cộng Hòa, dân hội vẫn còn bị thu hẹp vào bốn bộ tộc thành thị và chỉ gồm có dân số của thành phố La Mã, hình thức này không thích hợp cả với Nguyên Lão Thượng Nghị Viện-được dẫn đầu bởi các nhà quý tộc-lẫn với các bảo dân quan; những bảo dân quan này tuy là thường dân nhưng đứng đầu giới giàu sang. Các dân hội này vì vậy bị mang tai tiếng, và bị giảm giá trị đến nỗi ba chục quan cảnh lại phải thường xuyên họp và đảm nhận công việc của các dân hội tộc đoàn.

The division by centuries was so favourable to the aristocracy that it is hard to see at first how the senate ever failed to carry the day in the comitia bearing their name, by which the consuls, the censors and the other curule magistrates were elected. Indeed, of the hundred and ninety-three centuries into which the six classes of the whole Roman people were divided, the first class contained ninety-eight; and, as voting went solely by centuries, this class alone had a majority over all the rest. When all these centuries were in agreement, the rest of the votes were not even taken; the decision of the smallest number passed for that of the multitude, and it may be said that, in the comitia centuriata, decisions were regulated far more by depth of purses than by the number of votes.

Sự phân chia thành dân hội bách đoàn thuận lợi cho giới quý tộc đến nỗi lúc đầu ta không thể hiểu tại sao Nguyên Lão Thượng Nghị Viện lại không thắng thế trong các dân hội mang danh của mình, trong đó diễn ra các cuộc bầu cử các chấp chính quan, các kiểm tra viên và các quan chức cao cấp khác trong bộ tộc. Thật vậy, trong số một trăm chín mươi ba dân hội bách đoàn họp thành sáu giai cấp của toàn thể dân chúng La Mã, giai cấp thứ nhất gồm chín mươi tám đoàn; và vì số phiếu được đếm theo bách đoàn, giai cấp thứ nhất luôn chiếm đa số phiếu hơn các giai cấp khác. Khi mà tất cả chín mươi tám bách đoàn đồng ý với nhau thì không cần tiếp tục bầu cử nữa; quyết định của thiểu số được nhận làm quyết định của đa số, và ta có thể nói rằng trong các dân hội bách đoàn các quyết định được giải quyết tùy theo túi tiền hơn là theo số phiếu bầu.

But this extreme authority was modified in two ways. First, the tribunes as a rule, and always a great number of plebeians, belonged to the class of the rich, and so counterbalanced the influence of the patricians in the first class.

Nhưng quyền hành cực đoan này được thay đổi qua hai cách. Trước hết, các bảo dân quan thường gồm một số đông đảo thường dân thuộc giai cấp giàu có nên có thể làm cân bằng ảnh hưởng của giới quý tộc trong giai cấp thứ nhất.

The second way was this. Instead of causing the centuries to vote throughout in order, which would have meant beginning always with the first, the Romans always chose one by lot which proceeded alone to the election; after this all the centuries were summoned another day according to their rank, and the same election was repeated, and as a rule confirmed. Thus the authority of example was taken away from rank, and given to the lot on a democratic principle.

Cách thứ hai là, thay vì để cho các dân hội bách đoàn bầu theo thứ tự, nghĩa là luôn luôn bắt đầu bằng đoàn thứ nhất, dân La Mã luôn luôn chọn một bách đoàn bằng cách rút thăm và chỉ có bách đoàn đó bỏ phiếu mà thôi; sau đó tất cả các bách đoàn khác được triệu đến một ngày khác tùy theo thứ bậc của mình và cuộc bầu cử cứ như thế diễn ra và được xác nhận. Như vậy, người ta loại bỏ đi ảnh hưởng của thứ bậc và giao cho sự may rủi theo đúng nguyên tắc dân chủ.

From this custom resulted a further advantage. The citizens from the country had time, between the two elections, to inform themselves of the merits of the candidate who had been provisionally nominated, and did not have to vote without knowledge of the case. But, under the pretext of hastening matters, the abolition of this custom was achieved, and both elections were held on the same day.

Tập quán này cho ta một lợi ích khác. Giữa hai kỳ bầu cử các công dân có thì giờ tìm hiểu về giá trị của ứng viên tạm thời được chỉ định, và không phải đi bỏ phiếu mà không biết gì về ứng viên đó. Nhưng lấy cớ là để cho mau chóng, tập quán này bị hủy bỏ, và cả hai cuộc bầu cử diễn ra cùng một ngày.

The comitia tributa were properly the council of the Roman people. They were convoked by the tribunes alone; at them the tribunes were elected and passed their plebiscita. The senate not only had no standing in them, but even no right to be present; and the senators, being forced to obey laws on which they could not vote, were in this respect less free than the meanest citizens. This injustice was altogether ill-conceived, and was alone enough to invalidate the decrees of a body to which all its members were not admitted. Had all the patricians attended the comitia by virtue of the right they had as citizens, they would not, as mere private individuals, have had any considerable influence on a vote reckoned by counting heads, where the meanest proletarian was as good as the princeps senatus.

Những dân hội bộ tộc mới chính là hội đồng của dân La Mã. Những dân hội này chỉ được các bảo dân quan triệu tập; ở đó các bảo dân quan được bầu ra và được thông qua cuộc trưng cầu dân ý. Nguyên Lão Thượng Nghị Viên không có địa vị gì trong đó cũng không có quyền tham dự; và các nghị viên vì bị bắt buộc tuân theo những luật lệ mà họ không được biểu quyết, xét về phương diện này họ không hưởng được sự tự do như các công dân hèn kém nhất. Sự bất công này không được nhận thức đúng chỗ, và có đủ khả năng để vô hiệu hóa các sắc lệnh của một cơ cấu trong đó tất cả các thành viên không được tham dự. [Tuy nhiên,] nếu tất cả các nhà quý tộc được tham dự dân hội bởi quyền công dân của mình, thì với tư cách như là một công dân thường, họ cũng không có một ảnh hưởng lớn nào trong một cuộc đầu phiếu đếm đầu người, mà ở đó bất cứ một dân vô sản nào cũng có quyền ngang với vị chủ tịch Nguyên Lão Thượng Nghị Viện.

It may be seen, therefore, that besides the order which was achieved by these various ways of distributing so great a people and taking its votes, the various methods were not reducible to forms indifferent in themselves, but the results of each were relative to the objects which caused it to be preferred.

Vậy ta thấy rằng, ngoài cái trật tự do các hệ thống khác nhau được thiết lập để thu nhận các phiếu bầu từ một dân tộc đông đảo như thế, những cách thức khác nhau này không vì sự khác biệt mà trở nên vô nghĩa mà là kết quả đã được lựa chọn ra tùy theo từng mục đích.

Without going here into further details, we may gather from what has been said above that the comitia tributa were the most favourable to popular government, and the comitia centuriata to aristocracy. The comitia curiata, in which the populace of Rome formed the majority, being fitted only to further tyranny and evil designs, naturally fell into disrepute, and even seditious persons abstained from using a method which too clearly revealed their projects. It is indisputable that the whole majesty of the Roman people lay solely in the comitia centuriata, which alone included all; for the comitia curiata excluded the rural tribes, and the comitia tributa the senate and the patricians.

Không cần phải đi sâu vào chi tiết, qua những gì được đề cập đến, ta có thể thấy rằng các dân hội bộ tộc [là mô hình] thích hợp nhất cho các chính quyền dân chủ, và các dân hội bách đoàn cho các chính quyền quý tộc. Các dân hội tộc đoàn, trong đó đám tiện dân nghèo khổ La Mã là đa số, chỉ thích hợp cho nền chuyên chế và các mưu đồ tai hại, nên tự nhiên bị khinh miệt và ngay cả những kẻ âm mưu nổi loạn cũng tránh không dùng bọn ấy hầu tránh cho các mưu mô sớm bị tiết lộ. Ta không thể chối cãi rằng toàn thể vẻ oai nghiêm của dân La Mã chỉ nằm trong các dân hội bách đoàn; các dân hội này bao gồm toàn thể dân chúng La Mã, bởi vì trong các dân hội tộc đoàn không có các bộ tộc thôn quê, và các dân hội bộ tộc không gồm các thành viên của Nguyên Lão Thượng Nghị Viện và giới quý tộc.

As for the method of taking the vote, it was among the ancient Romans as simple as their morals, although not so simple as at Sparta. Each man declared his vote aloud, and a clerk duly wrote it down; the majority in each tribe determined the vote of the tribe, the majority of the tribes that of the people, and so with curiæ and centuries. This custom was good as long as honesty was triumphant among the citizens, and each man was ashamed to vote publicly in favour of an unjust proposal or an unworthy subject; but, when the people grew corrupt and votes were bought, it was fitting that voting should be secret in order that purchasers might be restrained by mistrust, and rogues be given the means of not being traitors.

Còn về phương pháp đếm phiếu bầu cử vào thời Cổ La Mã, phương pháp này cũng giản dị như phong tục của họ, tuy rằng không giản dị như ở Sparta. Mỗi cử tri xướng to lên sự lựa chọn của mình và một thư ký ghi vào sổ; đa số phiếu trong mỗi bộ tộc định đoạt kết quả của bộ tộc mình; đa số phiếu của toàn thể các bộ tộc là kết quả của dân chúng, và với các dân hội tộc đoàn và dân hội bách đoàn cũng như thế. Thể thức này tốt chừng nào mà các công dân còn thật thà và biết cảm thấy hổ thẹn khi công khai bỏ phiếu cho một ý kiến bất công hay một ứng viên bất xứng; nhưng khi mà dân chúng trở nên thối nát và lá phiếu bị mua chuộc, thể thức bỏ phiếu kín thích hợp hơn để cho các kẻ mua phiếu có thể bị hạn chế bởi sự nghi ngờ [không biết kẻ bán phiếu có giữ lời hay không], và người bán lá phiếu lưu manh cũng có cơ hội để không trở thành những kẻ phản bội.

I know that Cicero attacks this change, and attributes partly to it the ruin of the Republic. But though I feel the weight Cicero's authority must carry on such a point, I cannot agree with him; I hold, on the contrary, that, for want of enough such changes, the destruction of the State must be hastened. Just as the regimen of health does not suit the sick, we should not wish to govern a people that has been corrupted by the laws that a good people requires. There is no better proof of this rule than the long life of the Republic of Venice, of which the shadow still exists, solely because its laws are suitable only for men who are wicked.

Tôi biết rằng Cicero[i] lên án sự thay đổi đó, và cho đó là một phần lý do của sự suy tàn của nền Cộng Hòa. Nhưng ở điểm này dù uy tín của Cicero có lớn đến đâu chăng nữa, tôi cũng không đồng ý với nhận định đó; ngược lại tôi cho rằng vì thiếu những sự thay đổi như vậy mà quốc gia mau chóng sụp đổ. Cũng như cách ăn uống của người khỏe mạnh không thích hợp cho một bệnh nhân, chúng ta không thể nào cai trị một dân tộc đã bị thối nát bằng những luật lệ dành cho một dân tộc tốt. Không có gì chứng minh rõ ràng hơn cho sự kiện này bằng sự lâu dài của nền Cộng Hòa Venice, mà nay chỉ còn là một cái bóng của quá khứ, đơn giản chỉ vì luật lệ của thành phố này chỉ thích hợp cho những kẻ xấu xa.


[i] Marcus Tullius Cicero (106-43 BC) là chính trị gia, luật gia, triết gia, và học giả về lý thuyết chính trị của cổ La Mã. Cicero để lại dấu ấn trong lịch sử La Mã như một chính trị gia lỗi lạc, một nhà hùng biện và rất nhiều tác phẩm về luật pháp và nền chính trị cộng hòa. Trong số sách còn sót lại chỉ có 6 cuốn về Tu từ học, và trong số hơn 80 luận thuyết được ghi lại, nay chỉ còn 58 bản.

The citizens were provided, therefore, with tablets by means of which each man could vote without any one knowing how he voted: new methods were also introduced for collecting the tablets, for counting voices, for comparing numbers, etc.; but all these precautions did not prevent the good faith of the officers charged with these functions[37] from being often suspect. Finally, to prevent intrigues and trafficking in votes, edicts were issued; but their very number proves how useless they were.

Vậy người ta cung cấp cho các công dân những tấm thẻ để họ có thể bỏ phiếu mà không ai biết được họ bỏ phiếu như thế nào: thể thức mới được thiết lập để thu hồi các tấm thẻ, để kiểm tra số phiếu, để so sánh các con số, v.v...; nhưng tất cả những biện pháp thận trọng đó cũng không ngăn cản được lòng nghi ngờ đối với các viên chức điều hành cuộc bầu phiếu. Cuối cùng để ngăn chận các mưu đồ và sự buôn bán lá phiếu, người ta ban hành các sắc lệnh, nhưng [cứ nhìn] số lượng các sắc lệnh đó cũng đủ thấy chúng vô hiệu đến chừng nào.

37 Custodes, diribitores, rogatores suffragiorum.


Towards the close of the Republic, it was often necessary to have recourse to extraordinary expedients in order to supplement the inadequacy of the laws. Sometimes miracles were supposed; but this method, while it might impose on the people, could not impose on those who governed. Sometimes an assembly was hastily called together, before the candidates had time to form their factions: sometimes a whole sitting was occupied with talk, when it was seen that the people had been won over and was on the point of taking up a wrong position. But in the end ambition eluded all attempts to check it; and the most incredible fact of all is that, in the midst of all these abuses, the vast people, thanks to its ancient regulations, never ceased to elect magistrates, to pass laws, to judge cases, and to carry through business both public and private, almost as easily as the senate itself could have done.

Về cuối thời Cộng Hòa, người ta thường phải cần đến những phương cách khác thường để bù vào những thiếu sót của luật lệ. Đôi khi người ta phải viện đến phép lạ; nhưng cách này, trong khi có thể đánh lừa dân chúng, lại không đánh lừa được các người cai trị. Nhiều lúc, một buổi họp được triệu tập một cách bất ngờ trước khi các ứng cử viên có thì giờ mua phiếu; đôi khi người ta dành cả một buổi họp chỉ để nói chuyện phiếm [chứ không cho biểu quyết], vì nhận ra rằng dân chúng đã bị mua chuộc và sẵn sàng chấp thuận một quyết định sai lầm. Nhưng cuối cùng, tham vọng [cũng có cách] vượt qua tất cả mọi cố gắng để kiểm soát nó; và điều khó tin nhất là, giữa tất cả các sự lạm dụng đó, đại đa số dân chúng, dựa vào các đạo luật cũ xưa, không bao giờ ngưng bầu cử các viên chức, thông qua các đạo luật, xét xử các vụ kiện và tiếp tục giải quyết các việc công và tư một cách cũng dễ dàng như chính Nguyên Lão Thượng Nghị Viện điều hành.

5. The Tribunate

WHEN an exact proportion cannot be established between the constituent parts of the State, or when causes that cannot be removed continually alter the relation of one part to another, recourse is had to the institution of a peculiar magistracy that enters into no corporate unity with the rest. This restores to each term its right relation to the others, and provides a link or middle term between either prince and people, or prince and Sovereign, or, if necessary, both at once.

5 Pháp Chế Nghị Viện

Khi một tỷ lệ chính xác không thể thiết lập được giữa các bộ phận cấu tạo nên quốc gia, và khi những nguyên nhân không thể tránh được luôn luôn làm thay đổi mối tương quan giữa các bộ phận đó, người ta đặt ra một cơ cấu pháp chế riêng biệt, độc lập với các cơ cấu khác. Việc này mang lại cho mỗi quan hệ sự tương quan thích hợp với các quan hệ khác, và là một mối liên lạc hay là trung gian giữa người cai trị và dân chúng, hay giữa người cai trị và Hội đồng Tối cao, hay nếu cần thiết, giữa cả hai bên cùng một lúc.

This body, which I shall call the tribunate, is the preserver of the laws and of the legislative power. It serves sometimes to protect the Sovereign against the government, as the tribunes of the people did at Rome; sometimes to uphold the government against the people, as the Council of Ten now does at Venice; and sometimes to maintain the balance between the two, as the Ephors did at Sparta.

Cơ chế này, mà tôi gọi là Pháp Chế Nghị Viện, là cơ quan bảo vệ luật pháp và quyền lập pháp. Có lúc, cơ chế này che chở Hội đồng Tối cao đối với [sức ép của] chính quyền giống như các bảo dân quan của dân chúng ở La Mã; có lúc nó ủng hộ chính quyền chống lại [sức ép của] dân chúng như là Hội Đồng Thập Viên hiện nay ở Venice; và đôi khi để giữ mức cân bằng giữa đôi bên như là các Pháp Quan Ephore ở Sparta.

The tribunate is not a constituent part of the city, and should have no share in either legislative or executive power; but this very fact makes its own power the greater: for, while it can do nothing, it can prevent anything from being done. It is more sacred and more revered, as the defender of the laws, than the prince who executes them, or than the Sovereign which ordains them. This was seen very clearly at Rome, when the proud patricians, for all their scorn of the people, were forced to bow before one of its officers, who had neither auspices nor jurisdiction.

Pháp Chế Nghị Viện không phải là thành phần cấu tạo nên quốc gia, và không nên tham dự vào quyền lập pháp hay hành pháp; nhưng chính vì không dính dáng gì đến hai ngành đó mà quyền hành của nó lại to lớn hơn; chỉ vì dù nó không có quyền lập pháp hay thi hành luật pháp, nó có thể ngăn cản mọi việc được thực hiện. Vì là bảo vệ luật pháp, cơ cấu đó thiêng liêng hơn và được trọng vọng hơn người thi hành luật pháp hay hơn Hội Đồng Tối Cao, cơ quan làm ra luật pháp. Đấy là điều ta thấy rõ ở La Mã khi giới quý tộc kiêu hãnh và luôn luôn coi rẻ dân chúng lại bị bắt buộc phải cúi đầu trước một viên chức của dân, tuy rằng viên chức này không có một sự bảo hộ hay quyền pháp lý nào.

The tribunate, wisely tempered, is the strongest support a good constitution can have; but if its strength is ever so little excessive, it upsets the whole State. Weakness, on the other hand, is not natural to it: provided it is something, it is never less than it should be.

Pháp Chế Nghị Viện, nếu được sử dụng một cách khéo léo, là một điểm tựa mạnh mẽ nhất mà một hiến pháp tốt có thể đạt được; nhưng nếu sức mạnh đó hơi quá một chút, nó có thể lật đổ cả quốc gia. Mặt khác, về bản chất, Pháp chế Nghị viện không có một yếu kém nào cả; và khi đã được thành lập thì nó cũng có đủ khả năng để hoạt động.

It degenerates into tyranny when it usurps the executive power, which it should confine itself to restraining, and when it tries to dispense with the laws, which it should confine itself to protecting. The immense power of the Ephors, harmless as long as Sparta preserved its morality, hastened corruption when once it had begun. The blood of Agis, slaughtered by these tyrants, was avenged by his successor; the crime and the punishment of the Ephors alike hastened the destruction of the republic, and after Cleomenes Sparta ceased to be of any account. Rome perished in the same way: the excessive power of the tribunes, which they had usurped by degrees, finally served, with the help of laws made to secure liberty, as a safeguard for the emperors who destroyed it. As for the Venetian Council of Ten, it is a tribunal of blood, an object of horror to patricians and people alike; and, so far from giving a lofty protection to the laws, it does nothing, now they have become degraded, but strike in the darkness blows of which no one dare take note.

Cơ chế này thoái hóa thành chuyên chế khi thay vì điều hòa thì nó lại chiếm quyền hành pháp mà lẽ ra nó phải tiết chế. Chừng nào mà Sparta còn giữ gìn nền đạo đức của mình thì quyền lực bao la của các Pháp Quan Ephore không có hại gì cả [đến quốc gia]; nhưng quyền lực đó lại khiến cho sự thối nát càng xảy ra nhanh hơn khi quốc gia đã bị hủ hóa. Người kế vị Agis đã trả thù cho ông ta khi ông bị những kẻ bạo ngược giết chết; tội ác và sự trừng phạt các Pháp Quan Ephore khiên cho nền cộng hòa bị phá hủy nhanh chóng hơn, và sau thời Cleomenes, Sparta không còn đáng kể nữa. La Mã cũng bị tiêu diệt như vậy; quyền lực quá mức mà các bảo dân quan lần lần chiếm hết cuối cùng được sử dụng với sự trợ giúp của luật pháp, lẽ ra được để bảo vệ tự do, lại được dùng để bảo vệ các ông vua là những người đã tiêu diệt tự do. Hội Đồng Thập Viên của Venice là một tòa án nhuốm máu, một cơ cấu ghê tởm đối với các nhà quý tộc cũng như dân chúng; và Hội đồng này thay vì làm nhiệm vụ cao cả là bảo vệ luật pháp, dù bây giờ chẳng còn giá trị gì nữa, thì lại âm thầm làm những việc xấu xa mà chẳng ai dám nhắc tới.

The tribunate, like the government, grows weak as the number of its members increases. When the tribunes of the Roman people, who first numbered only two, and then five, wished to double that number, the senate let them do so, in the confidence that it could use one to check another, as indeed it afterwards freely did.

Pháp Chế Nghị Viện, cũng giống như chính phủ, trở nên suy yếu khi số thành viên gia tăng. Số Bảo Dân Quan La Mã bắt đầu bằng hai thành viên, rồi gia tăng lên năm; và khi họ có ý muốn tăng lên gấp đôi thì Nguyên Lão Thượng Nghị Viện cứ để cho họ làm, tin tưởng rằng mình có thể dùng kẻ này để kiểm soát kẻ kia, nhưng rồi cũng không xong.



The best method of preventing usurpations by so formidable a body, though no government has yet made use of it, would be not to make it permanent, but to regulate the periods during which it should remain in abeyance. These intervals, which should not be long enough to give abuses time to grow strong, may be so fixed by law that they can easily be shortened at need by extraordinary commissions.

Một phương cách để ngăn chận một sự chiếm quyền đáng sợ như thế - một phương cách mà chưa chính phủ nào dùng đến - là không để cho cơ cấu ấy trở nên vĩnh cửu, mà chỉ hoạt động theo nhiệm kỳ và giữa hai nhiệm kỳ thì cơ cấu này phải bị giải tán. Các nhiệm kỳ này không nên kéo dài quá lâu hầu tránh cho sự nhũng lạm có đủ thời giờ để bắt rễ. Các nhiệm kỳ ấy có thể được luật pháp ấn định rõ để khi cần thiết, có thể rút ngắn lại do những ủy ban đặc biệt.

This method seems to me to have no disadvantages, because, as I have said, the tribunate, which forms no part of the constitution, can be removed without the constitution being affected. It seems to be also efficacious, because a newly restored magistrate starts not with the power his predecessor exercised, but with that which the law allows him.

Theo tôi phương cách này không có gì là bất lợi hết, bởi vì như tôi đã nói, Pháp Chế Nghị Viện không phải là một thành phần của hiến pháp, nên có thể được bỏ đi mà không thiệt hại đến hiến pháp. Theo tôi, dường như nó còn là một phương pháp hữu hiệu, bởi vì một viên chức mới được bổ nhiệm không bắt đầu bằng quyền hành của người tiền nhiệm, mà chỉ với quyền hành do luật pháp ban cho.

6. The Dictatorship

THE inflexibility of the laws, which prevents them from adapting themselves to circumstances, may, in certain cases, render them disastrous, and make them bring about, at a time of crisis, the ruin of the State. The order and slowness of the forms they enjoin require a space of time which circumstances sometimes withhold. A thousand cases against which the legislator has made no provision may present themselves, and it is a highly necessary part of foresight to be conscious that everything cannot be foreseen.

6 Sự độc tài

Tính bất di bất dịch của luật pháp không cho nó thích ứng với các hoàn cảnh khác nhau; sự kiện này trong vài trường hợp có thể làm cho luật pháp trở nên tai hại, và trong cơn khủng hoảng, có thể làm cho quốc gia suy tàn. Thứ tự và tính chậm chạp của các thủ tục pháp lý đòi hỏi một khoảng thời gian mà nhiều khi hoàn cảnh không cho phép. Có vô số tình huống mà các nhà làm luật không tiên liệu nổi, và biết rằng ta không thể tiên liệu được mọi việc cũng là một phần không thể thiếu được khi tiên liệu.

It is wrong therefore to wish to make political institutions so strong as to render it impossible to suspend their operation. Even Sparta allowed its laws to lapse.

Vậy nên thật là sai lầm nếu ta muốn làm cho các định chế chính trị mạnh mẽ đến độ ta không thể đình chỉ được hoạt động của chúng. Ngay cả Sparta đôi khi cũng ngưng thi hành luật pháp.

However, none but the greatest dangers can counterbalance that of changing the public order, and the sacred power of the laws should never be arrested save when the existence of the country is at stake. In these rare and obvious cases, provision is made for the public security by a particular act entrusting it to him who is most worthy. This commitment may be carried out in either of two ways, according to the nature of the danger.

Tuy nhiên, chỉ có những nguy hiểm lớn lao nhất mới cân bằng được mối nguy hiểm làm thay đổi nền trật tự công cộng, và cái quyền thiêng liêng của luật pháp không bao giờ được ngưng thi hành, trừ trường hợp quốc gia đang bị nguy vong. Trong trường hợp hiếm có và hiển nhiên ấy, nền an ninh công cộng sẽ, qua một đạo luật đặc biệt, được ủy thác cho người xứng đáng nhất. Sự ủy thác này có thể được thi hành bằng hai cách tùy theo loại nguy hiểm nào.

If increasing the activity of the government is a sufficient remedy, power is concentrated in the hands of one or two of its members: in this case the change is not in the authority of the laws, but only in the form of administering them. If, on the other hand, the peril is of such a kind that the paraphernalia of the laws are an obstacle to their preservation, the method is to nominate a supreme ruler, who shall silence all the laws and suspend for a moment the sovereign authority. In such a case, there is no doubt about the general will, and it is clear that the people's first intention is that the State shall not perish. Thus the suspension of the legislative authority is in no sense its abolition; the magistrate who silences it cannot make it speak; he dominates it, but cannot represent it. He can do anything, except make laws.

Nếu gia tăng hoạt động của chính quyền là một biện pháp vừa đủ để đối phó với tình trạng đó, quyền hành được tập trung vào tay của một hay hai thành viên: trong trường hợp này, không phải là quyền lực của luật pháp bị thay đổi mà chỉ là [thay đổi] thể thức áp dụng luật. Mặt khác, nếu sự nguy hiểm đến độ mà chính cơ chế luật pháp lại là một chướng ngại cho sự bảo tồn luật pháp, thì phải bổ nhiệm một vị lãnh tụ tối cao: ông ta sẽ ngưng áp dụng toàn bộ hệ thống luật pháp và đình chỉ hành động của Hội đồng Tối cao trong một thời gian. Trong trường hợp như vậy, ý chí tập thể thật là rõ ràng, và hiển nhiên rằng ý muốn đầu tiên của dân chúng là mong muốn quốc gia không bị tiêu diệt. Vậy, việc ngưng quyền lập pháp không phải là hủy bỏ quyền này; [trong vai trò này,] người lãnh đạo tối cao này chỉ có thể làm cho luật pháp lặng tiếng chứ không thể nào lên tiếng thay cho luật pháp được; nhà lãnh đạo tối cao trấn áp luật pháp nhưng không [có quyền] thay mặt cho luật pháp. Nhà lãnh đạo tối cao có thể làm bất cứ điều gì ngoại trừ quyền làm luật.

The first method was used by the Roman senate when, in a consecrated formula, it charged the consuls to provide for the safety of the Republic. The second was employed when one of the two consuls nominated a dictator:[38] a custom Rome borrowed from Alba.

Phương pháp thứ nhất được Nguyên Lão Thượng Nghị Viện La Mã sử dụng khi, bằng một thể thức được thánh hóa, trao cho các bảo dân quan quyền gìn giữ an ninh của nền Cộng Hòa. Phương pháp thứ hai được sử dụng khi một trong hai bảo dân quan bổ nhiệm một nhà độc tài,3 một tục lệ mà La Mã du nhập từ Alba.

38 The nomination was made secretly by night, as if there were something shameful in setting a man above the laws.

3 Sự bổ nhiệm này được thực hiện một cách bí mật vào ban đêm thể như là người ta xấu hổ khi đặt một con người lên trên pháp luật.

During the first period of the Republic, recourse was very often had to the dictatorship, because the State had not yet a firm enough basis to be able to maintain itself by the strength of its constitution alone. As the state of morality then made superfluous many of the precautions which would have been necessary at other times, there was no fear that a dictator would abuse his authority, or try to keep it beyond his term of office. On the contrary, so much power appeared to be burdensome to him who was clothed with it, and he made all speed to lay it down, as if taking the place of the laws had been too troublesome and too perilous a position to retain.

Trong thời kỳ thứ nhất của nền Cộng Hòa, người ta rất nhiều lần cần đến sự chuyên chế, tại vì quốc gia chưa có một nền móng vững chắc để có thể tự bảo tồn bằng sức mạnh của hiến pháp của mình. Vì vào thời đó con người còn rất trọng đạo lý nên các sự phòng ngừa một nhà độc tài có thể lạm dụng quyền của mình hay là muốn kéo dài thời gian cai trị của mình trở nên không cần thiết. Ngược lại, dường như quyền hành to lớn đó lại trở thành một gánh nặng trên người được giao phó quyền này, và nhà độc tài [được chỉ định] tìm cách từ bỏ quyền ấy càng chóng càng tốt, như thể việc đại diện cho luật pháp là một chức vụ vừa quá rắc rối, vừa quá nguy hiểm.

It is therefore the danger not of its abuse, but of its cheapening, that makes me attack the indiscreet use of this supreme magistracy in the earliest times. For as long as it was freely employed at elections, dedications and purely formal functions, there was danger of its becoming less formidable in time of need, and of men growing accustomed to regarding as empty a title that was used only on occasions of empty ceremonial.

Vậy thì điều làm tôi chống đối việc sử dụng thiếu thận trọng cái chức vụ tối cao này không phải là sự nguy hiểm của việc nó bị lạm dụng mà là sự việc làm hạ giá trị của nó. Bởi vì chừng nào mà người ta sử dụng nó một cách vô tội vạ trong các cuộc bầu cử, các buổi khánh thành, trong các nghi lễ, thì ta có thể sợ rằng nó không còn đáng được nể sợ nữa khi cần thiết, và sẽ quen xem nó như là một danh hiệu trống rỗng chỉ được dùng trong những lễ nghi vô nghĩa.

Towards the end of the Republic, the Romans, having grown more circumspect, were as unreasonably sparing in the use of the dictatorship as they had formerly been lavish. It is easy to see that their fears were without foundation, that the weakness of the capital secured it against the magistrates who were in its midst; that a dictator might, in certain cases, defend the public liberty, but could never endanger it; and that the chains of Rome would be forged, not in Rome itself, but in her armies. The weak resistance offered by Marius to Sulla, and by Pompey to Cæsar, clearly showed what was to be expected from authority at home against force from abroad.

Vào cuối thời Cộng Hòa, dân La Mã trở nên thận trọng hơn, và thay vì sử dụng nền chuyên chế một cách quá rộng rãi, thì bây giờ họ lại kiềm chế sự sử dụng nó một cách quá mức. Ta dễ dàng thấy rằng sự lo sợ của họ là vô căn cứ, rằng sự yếu kém của kinh đô La Mã che chở nó chống lại các quan chức đang sống trong đó; rằng một nhà độc tài, trong vài trường hợp, có thể bảo vệ tự do công cộng nhưng không bao giờ có thể làm hại đến nó; và rằng các xiềng xích trói buộc La Mã không phải phát xuất ngay tại Roma mà từ trong quân đội. Sự chống cự yếu ớt của Marius với Sulla, và của Pompey chống Caesar cho ta thấy rõ rằng ta có thể chờ đợi được gì ở các chức quyền tại chỗ để chống với quyền lực đến từ bên ngoài.

This misconception led the Romans to make great mistakes; such, for example, as the failure to nominate a dictator in the Catilinarian conspiracy. For, as only the city itself, with at most some province in Italy, was concerned, the unlimited authority the laws gave to the dictator would have enabled him to make short work of the conspiracy, which was, in fact, stifled only by a combination of lucky chances human prudence had no right to expect.

Sự nhận thức sai lầm này dẫn dân La Mã đến việc phạm nhiều lỗi lầm lớn; ví dụ như là sự thất bại trong việc bổ nhiệm một nhà độc tài trong vụ âm mưu Catalina. Bởi vì sự việc này chỉ ảnh hưởng đến La Mã và một thành phố nào đó ở Ý, nhà độc tài, với quyền lực vô hạn được luật pháp ủy thác cho, có thể dẹp tan dễ dàng vụ âm mưu đó; nhưng vụ âm mưu này chỉ được dẹp tan bởi một sự phối hợp của may mắn mà sự thận trọng của con người không thể ngờ đến.

Instead, the senate contented itself with entrusting its whole power to the consuls, so that Cicero, in order to take effective action, was compelled on a capital point to exceed his powers; and if, in the first transports of joy, his conduct was approved, he was justly called, later on, to account for the blood of citizens spilt in violation of the laws. Such a reproach could never have been levelled at a dictator. But the consul's eloquence carried the day; and he himself, Roman though he was, loved his own glory better than his country, and sought, not so much the most lawful and secure means of saving the State, as to get for himself the whole honour of having done so.[39] He was therefore justly honoured as the liberator of Rome, and also justly punished as a law-breaker. However brilliant his recall may have been, it was undoubtedly an act of pardon.

Thay vì bổ nhiệm một nhà độc tài, Nguyên Lão Thượng Nghị Viện trao trọn quyền hành cho các bảo dân quan; Cicero (một trong những bảo dân quan) vì muốn hành động cho có hiệu quả, đã bị bắt buộc vượt quá quyền hạn của mình trên một điều quan trọng nào đó; và nếu, trong niềm vui đầu tiên, việc làm của ông ta được hoan hô, thì sau đó ông ta bị trách cứ vì máu của dân chúng đã đổ trong vụ vi phạm luật pháp này.[j] [Nếu Cicero đã được bổ nhiệm làm một nhà độc tài,] ta không thể trách cứ một nhà độc tài vì việc xảy ra như vậy. Nhưng tài hùng biện của các bảo dân quan đã thắng; tuy rằng là dân La Mã, ông ta thích vinh quang cá nhân hơn là yêu tổ quốc, và thay vì tìm kiếm một cách hợp pháp nhất và an toàn nhất để cứu quốc gia, ông ta lại muốn đoạt hết vinh quang trong việc này.4 Vì vậy Cicero được tôn vinh một cách chính đáng như là người giải phóng La Mã nhưng cũng lại bị trừng phạt một cách chính đáng vì đã vi phạm luật pháp. Sự triệu hồi ông ta có rực rỡ đến đâu chăng nữa thì chắc chắn đấy chỉ là một hành vi tha tội.

39 That is what he could not be sure of, if he proposed a dictator; for he dared not nominate himself, and could not be certain that his colleague would nominate him.

[j] Hành quyết phạm nhân mà không đưa ra xét xử theo luật pháp.

4 Đây là việc mà ông ta không chắc chắn được nếu ông ta đề nghị bỏ phiếu cho một nhà độc tài, ông ta không dám tự đề nghị mình, và cũng không chắc chắn các đồng nghiệp của ông sẽ bỏ phiếu cho ông.

However this important trust be conferred, it is important that its duration should be fixed at a very brief period, incapable of being ever prolonged. In the crises which lead to its adoption, the State is either soon lost, or soon saved; and, the present need passed, the dictatorship becomes either tyrannical or idle. At Rome, where dictators held office for six months only, most of them abdicated before their time was up. If their term had been longer, they might well have tried to prolong it still further, as the decemvirs did when chosen for a year. The dictator had only time to provide against the need that had caused him to be chosen; he had none to think of further projects.

Dù sự tin cậy quan trọng này được giao phó bằng cách nào chăng nữa việc quan trọng là thời gian ấn định phải rất ngắn và không thể gia hạn. Trong các cuộc khủng hoảng dẫn đến sự chấp nhận một nhà độc tài, quốc gia hoặc là bị tiêu diệt hoặc là được cứu; và qua giai đoạn khẩn cấp, nhà độc tài trở nên hoặc chuyên chế hoặc không còn cần thiết nữa. Tại La Mã, các nhà độc tài chỉ được phép cầm quyền trong thời gian 6 tháng, một số đông từ chức trước khi hết hạn. Nếu thời gian dài hơn, họ có thể bị cám dỗ kéo dài nó hơn nữa như là các Thập Quan Viên đã làm khi được giao quyền trong một năm. Nhà độc tài chỉ có thì giờ làm công việc mà ông ta được giao phó, và không có thì giờ để nghĩ đến các công việc lâu dài hơn.

7. The Censorship

AS the law is the declaration of the general will, the censorship is the declaration of the public judgment: public opinion is the form of law which the censor administers, and, like the prince, only applies to particular cases.

7 Tòa Kiểm duyệt

Cũng giống như ý chí tập thể được công bố qua luật pháp, sự phán xét của công chúng được công bố qua tòa kiểm duyệt: công luận là một hình thức luật pháp được người phụ trách kiểm duyệt thi hành; và cũng như người cai trị, người phụ trách kiểm duyệt chỉ áp dụng luật pháp vào những trường hợp đặc thù mà thôi.

The censorial tribunal, so far from being the arbiter of the people's opinion, only declares it, and, as soon as the two part company, its decisions are null and void.

Tòa kiểm duyệt không phải là trọng tài của công luận; nó chỉ là người nói lên tiếng nói của công luận mà thôi, và khi nó rời xa vai trò này, thì các quyết định của nó đều vô giá trị và không có hiệu quả.

It is useless to distinguish the morality of a nation from the objects of its esteem; both depend on the same principle and are necessarily indistinguishable. There is no people on earth the choice of whose pleasures is not decided by opinion rather than nature. Right men's opinions, and their morality will purge itself. Men always love what is good or what they find good; it is in judging what is good that they go wrong. This judgment, therefore, is what must be regulated. He who judges of morality judges of honour; and he who judges of honour finds his law in opinion.

Thật là vô ích khi muốn phân biệt đạo đức của một quốc gia với đạo đức của dân chúng nước đó; [vì] cả hai đều bắt nguồn từ một nguyên tắc chung, và trộn lẫn vào với nhau. Trong tất cả mọi dân tộc trên trái đất, không phải là thiên nhiên nhưng chính là dư luận đã khiến họ chọn lấy những gì được xem là thú vui. Hãy chỉnh sửa dư luận của con người, và đạo đức của họ sẽ tự thanh lọc lấy. Con người luôn luôn thích những điều tốt đẹp hay cái gì mà họ nghĩ là tốt đẹp; nhưng người ta phạm sai lầm khi phán đoán điều gì là tốt đẹp. Cho nên phải chỉnh sửa lại sự phán đoán đó. Xét đoán về đạo đức chính là xét đoán xem điều gì được tôn trọng; và xét đoán xem điều gì được tôn trọng thì hãy xem công luận nào đã được coi như là luật pháp.

The opinions of a people are derived from its constitution; although the law does not regulate morality, it is legislation that gives it birth. When legislation grows weak, morality degenerates; but in such cases the judgment of the censors will not do what the force of the laws has failed to effect.

Công luận của một dân tộc xuất phát từ hiến pháp của dân tộc đó; tuy rằng luật pháp không quy định đạo đức, nhưng chính sự lập pháp sanh ra đạo đức. Khi sự lập pháp yếu kém thì đạo đức thoái hóa; và trong những trường hợp như vậy, sự phán xét của các người phụ trách kiểm duyệt cũng không làm được gì hơn những gì mà luật pháp đã thất bại.

From this it follows that the censorship may be useful for the preservation of morality, but can never be so for its restoration. Set up censors while the laws are vigorous; as soon as they have lost their vigour, all hope is gone; no legitimate power can retain force when the laws have lost it.

Từ việc đó, ta có thể suy ra rằng sự kiểm duyệt có thể có ích lợi cho sự gìn giữ đạo đức, nhưng không bao giờ có thể phục hồi được nó. Hãy bổ nhiệm những người phụ trách kiểm duyệt khi luật pháp còn mạnh; khi luật pháp đã mất hiệu lực, mọi hy vọng đều biến mất; không một quyền lực hợp pháp nào có thể giữ lại sức mạnh của mình khi mà luật pháp đã mất đi quyền lực của chính nó.

The censorship upholds morality by preventing opinion from growing corrupt, by preserving its rectitude by means of wise applications, and sometimes even by fixing it when it is still uncertain. The employment of seconds in duels, which had been carried to wild extremes in the kingdom of France, was done away with merely by these words in a royal edict: "As for those who are cowards enough to call upon seconds." This judgment, in anticipating that of the public, suddenly decided it. But when edicts from the same source tried to pronounce duelling itself an act of cowardice, as indeed it is, then, since common opinion does not regard it as such, the public took no notice of a decision on a point on which its mind was already made up.

Sự kiểm duyệt duy trì đạo đức bằng cách ngăn ngừa công luận không trở nên đồi bại, bằng cách gìn giữ sự ngay thẳng của nó qua những áp dụng [luật pháp một cách] khôn ngoan, và đôi khi ngay cả bằng cách chấn chỉnh công luận khi nó chưa thành hình. [Như] sự sử dụng các người phụ tá trong các cuộc đấu gươm - một hình thức đấu tranh được thịnh hành quá mức ở nước Pháp - đã bị loại bỏ vì các chữ sau đây trong một sắc chỉ của nhà vua: "Còn về phần những kẻ hèn nhát đã gọi đến người phụ tá." Lời phán đoán này đi trước sự phán đoán của dân chúng và đã tức khắc trở thành công luận [rằng những kẻ khi đấu gươm mà nhờ đến phụ tá là những kẻ hèn nhát]. Nhưng khi các sắc lệnh xuất phát từ cùng một nguồn gốc cho rằng đấu gươm là một hành vi hèn nhát - điều này rất đúng - nhưng vì dư luận quần chúng đã quen với cách thức đấu gươm để giải quyết mâu thuẫn, thì công chúng không thèm để ý đến sắc lệnh này nữa.

I have stated elsewhere[40] that as public opinion is not subject to any constraint, there need be no trace of it in the tribunal set up to represent it. It is impossible to admire too much the art with which this resource, which we moderns have wholly lost, was employed by the Romans, and still more by the Lacedæmonians.

Tôi đã nói ở một chỗ khác rằng vì dư luận công cộng không chịu một sự bó buộc nào,5 nên không cần có sự hiện diện của dư luận trong tòa án được thiết lập để đại diện nó. Ta không thể nào không kính phục sự khéo léo của dân La Mã và của dân Lacedaemonians trong việc sử dụng phương cách ấy, một phương cách mà chúng ta, các dân tộc hiện đại, đã làm mất hoàn toàn.

40 I merely call attention in this chapter to a subject with which I have dealt at greater length in my Letter to M. d'Alembert.

5 Trong phần này tôi chỉ lưu ý đến một đề mục mà tôi đã đề cập đến một cách dài dòng trong bức thư của tôi gởi cho ông D'Alambert.

A man of bad morals having made a good proposal in the Spartan Council, the Ephors neglected it, and caused the same proposal to be made by a virtuous citizen. What an honour for the one, and what a disgrace for the other, without praise or blame of either! Certain drunkards from Samos[41] polluted the tribunal of the Ephors: the next day, a public edict gave Samians permission to be filthy. An actual punishment would not have been so severe as such an impunity. When Sparta has pronounced on what is or is not right, Greece makes no appeal from her judgments.

Xưa kia có một người xấu trình bày một ý kiến tốt cho Hội Đồng thành phố Sparta. Các Bảo dân quan (Ephores) không đếm xỉa gì đến người này và cho một công dân đức hạnh khác đưa ra ý kiến đó. Biết bao vinh hạnh cho người này và biết bao nhục nhã cho người kia, và không có một lời khen hay một lời chê bai cho bất cứ ai! Vài người say rượu từ Samos6 làm ô uế tòa án của các Bảo dân quan: ngày hôm sau, một sắc lệnh cho phép dân Samians được làm như thế. Một sự trừng phạt thật sự có thể là không quá nghiêm khắc hơn là một sự bỏ qua như thế.[k] Khi mà Sparta quyết định rằng cái gì đúng hay sai thì Hy Lạp không chống lại các phán quyết đó.

41 They were from another island, which the delicacy of our language forbids me to name on this occasion.

6 Họ là người của một hòn đảo khác. Nhưng sự tế nhị của tiếng Pháp cấm không cho phép tôi nói tên thật của đảo ấy trong trường hợp này.

[k] Điều này tạo nên một công luận là dân chúng thuộc đảo Samos là những kẻ kém văn minh, phóng uế nơi công cộng.

8. Civil Religion

AT first men had no kings save the gods, and no government save theocracy. They reasoned like Caligula, and, at that period, reasoned aright. It takes a long time for feeling so to change that men can make up their minds to take their equals as masters, in the hope that they will profit by doing so.

8 Tôn giáo dân sự

Thoạt tiên, con người chỉ có thần thánh chứ không có vua chúa, và chỉ có thần quyền thay vì chính quyền. Dân chúng lý luận như Caligula,[l] và vào thời kỳ đó họ lý luận đúng. Phải mất một thời gian dài cho tư tưởng thay đổi để con người đi đến quyết định chấp nhận cho người đồng loại của mình làm người cai trị, và hy vọng rằng họ sẽ có lợi khi làm như vậy.


[l] Caligula là biệt danh của vị hoàng đế lừng danh của cổ La Mã, Gaius Julius Caesar Germanicus. Caligula là người đưa tôn giáo vào chính trị và khi xuất hiện trước công chúng thường ăn mặc như những vị thần chẳng hạn như Hercules, Mercury hay Aopllo. Caligula cũng lập đền thờ chính mình để dân chúng đến thờ phượng như một vị thần. Phế tích của đền thờ này hiện còn ở La Mã.

From the mere fact that God was set over every political society, it followed that there were as many gods as peoples. Two peoples that were strangers the one to the other, and almost always enemies, could not long recognise the same master: two armies giving battle could not obey the same leader. National divisions thus led to polytheism, and this in turn gave rise to theological and civil intolerance, which, as we shall see hereafter, are by nature the same.

Bắt đầu từ sự kiện mỗi xã hội [đã có tổ chức chính trị] tôn sùng một bậc thần thánh, cho nên có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu thần thánh. Hai dân tộc xa lạ nhau và luôn luôn thù nghịch nhau không thể nào cùng công nhận một chúa tể: hai quân đội đang giao chiến với nhau không thể cùng tuân lệnh một vị chỉ huy. Vì vậy, từ sự phân chia ra nhiều quốc gia nẩy ra thuyết nhiều thần thánh, và sự bất khoan dung về thần quyền và về dân sự dĩ nhiên chỉ là một, như sẽ được trình bày sau đây.

The fancy the Greeks had for rediscovering their gods among the barbarians arose from the way they had of regarding themselves as the natural Sovereigns of such peoples. But there is nothing so absurd as the erudition which in our days identifies and confuses gods of different nations. As if Moloch, Saturn, and Chronos could be the same god! As if the Phoenician Baal, the Greek Zeus, and the Latin Jupiter could be the same! As if there could still be anything common to imaginary beings with different names!

Người Hy Lạp nghĩ là họ đã khám phá ra các dân tộc man rợ cũng thờ phượng các thần linh của họ. Điều hoang tưởng này bắt nguồn từ tập quán tự xem mình là chủ tể tự nhiên của các dân tộc này. Nhưng trong thời đại này thật là lố bịch khi các học giả [mất công] phân biệt chân tướng của các vị thần linh của những nước khác nhau, cứ như thể thần Moloch, Saturn và Chronos có thể cùng là một vị, hay thần Baal của dân Phoenician, thần Zeus của dân Hy Lạp và thần Jupiter của dân La Mã cùng là một vị, hay là các thần thánh trong huyền thoại có thể có một điểm chung nào đó, chỉ có tên là khác nhau!

If it is asked how in pagan times, where each State had its cult and its gods, there were no wars of religion, I answer that it was precisely because each State, having its own cult as well as its own government, made no distinction between its gods and its laws. Political war was also theological; the provinces of the gods were, so to speak, fixed by the boundaries of nations. The god of one people had no right over another. The gods of the pagans were not jealous gods; they shared among themselves the empire of the world: even Moses and the Hebrews sometimes lent themselves to this view by speaking of the God of Israel. It is true, they regarded as powerless the gods of the Canaanites, a proscribed people condemned to destruction, whose place they were to take; but remember how they spoke of the divisions of the neighbouring peoples they were forbidden to attack! "Is not the possession of what belongs to your god Chamos lawfully your due?" said Jephthah to the Ammonites. "We have the same title to the lands our conquering God has made his own."[42] Here, I think, there is a recognition that the rights of Chamos and those of the God of Israel are of the same nature.

Nếu ta hỏi rằng tại sao trong thời kỳ đa thần giáo, khi mỗi quốc gia có tôn giáo và thần thánh riêng mà lại không có chiến tranh tôn giáo, thì tôi xin trả lời rằng chính vì mỗi quốc gia có sự thờ phụng cũng như có chính quyền riêng rẽ cho nên không có sự phân biệt giữa các thần thánh và luật pháp. Chiến tranh về chính trị cũng là chiến tranh tôn giáo; có thể nói rằng các lãnh địa của các thần thánh cũng được ấn định bởi các biên giới quốc gia. Thần linh của một dân tộc không có quyền hành gì đối với một dân tộc khác. Các vị thần thánh của các dân dị giáo không có lòng ganh ghét; các vị thần này tự phân chia nhau thế giới để cai quản ngay cả Moses và dân Do Thái đôi khi cũng chấp nhận sự kiện đó khi nói về Đức Chúa của Israel. Thật vậy, [dù] dân Do Thái không chấp nhận quyền uy của các vị thần của dân Canaan, một dân tộc bị đày ải và sắp bị tiêu diệt, để họ chiếm lấy đất đai ấy; nhưng ta hãy nhớ cách họ nói đến các vị thần thánh của những dân tộc láng giềng mà họ không được quyền xâm chiếm. Jephthah nói với dân Ammonites rằng: "Những đất đai của thần Chamos đã cho các người, các người không có quyền chính đáng giữ lấy hay sao? Chúng tôi có những quyền như vậy đối với các đất đai mà thần thánh của chúng tôi đã chiến thắng và giành được".7 Ở đây tôi nghĩ có sự công nhận rằng các quyền của thần Chamos và của Đức Chúa của dân Do Thái đều cùng một bản chất.

42 Nonne ea quœ possidet Chamos deus tuus, tibi jure debentur? (Judges, 11:24.) Such is the text in the Vulgate. Father de Carrières translates: "Do you not regard yourselves as having a right to what your god possesses?" I do not know the force of the Hebrew text: but I perceive that, in the Vulgate, Jephthah positively recognises the right of the god Chamos, and that the French translator weakened this admission by inserting an "according to you," which is not in the Latin.

7 "Các người không xem mình như là có quyền đối với những gì mà thần thánh của các người có ư?" (Gudges, 11:24). Tôi không biết sức mạnh của bản tiếng Do Thái, nhưng tôi nhận thấy rằng trong bản dịch của Cha De Carrieres trong cuốn "Vulgate," Jephthah thực sự nhìn nhận quyền của vị thần Chamos, và người dịch tiếng Pháp đã làm cho nhẹ bớt sự xác nhận này bằng cách thêm các chữ "theo các người" mà bản tiếng La Tinh không có.

But when the Jews, being subject to the Kings of Babylon, and, subsequently, to those of Syria, still obstinately refused to recognise any god save their own, their refusal was regarded as rebellion against their conqueror, and drew down on them the persecutions we read of in their history, which are without parallel till the coming of Christianity.[43]

Nhưng khi dân Do Thái trở thành thần dân của các vị vua Babylon, và vì thế cũng là thần dân của Syria, họ cương quyết từ chối khôngnhìn nhận vị thần thánh nào khác ngoài Đức Chúa của họ, thì sự từ chối đó được xem như là một vụ nổi loạn chống những kẻ đã chinh phục họ, và họ bị khủng bố, ngược đãi như ta đã từng thấy trong lịch sử của họ, một sự kiện chưa từng xảy ra trước khi Cơ-đốc Giáo ra đời.8

43 It is quite clear that the Phocian War, which was called "the Sacred War," was not a war of religion. Its object was the punishment of acts of sacrilege, and not the conquest of unbelievers.

8 Các bằng chứng mới nhất cho thấy rằng trận chiến tranh Phocian mà được gọi là thánh chiến không phải là một cuộc chiến tranh tôn giáo. Mục tiêu của nó là trừng phạt những hành động xúc phạm thần thánh chứ không phải chinh phục những kẻ ngoại đạo.

Every religion, therefore, being attached solely to the laws of the State which prescribed it, there was no way of converting a people except by enslaving it, and there could be no missionaries save conquerors. The obligation to change cults being the law to which the vanquished yielded, it was necessary to be victorious before suggesting such a change. So far from men fighting for the gods, the gods, as in Homer, fought for men; each asked his god for victory, and repayed him with new altars. The Romans, before taking a city, summoned its gods to quit it; and, in leaving the Tarentines their outraged gods, they regarded them as subject to their own and compelled to do them homage. They left the vanquished their gods as they left them their laws. A wreath to the Jupiter of the Capitol was often the only tribute they imposed.

Như vậy, mỗi tôn giáo bị ràng buộc chặt chẽ vào luật pháp của quốc gia nên không có cách nào làm cho một dân tộc thay đổi tín ngưỡng, ngoài cách nô lệ hóa dân tộc đó, và không thể có nhà truyền giáo mà chỉ có kẻ đi chinh phục. Và vì luật pháp của kẻ chiến thắng bắt buộc kẻ bại trận phải đổi tôn giáo, nên cần phải có chiến thắng trước khi đưa ra sự thay đổi đó. Thay vì con người đánh nhau cho thần thánh, thì như trong chuyện của Homer các thần thánh đánh nhau cho con người; mỗi người cầu xin thần thánh cho mình chiến thắng, và trả ơn thần thánh bằng cách thiết lập những bàn thờ mới. Trước khi chiếm một thành phố, dân La Mã kêu gọi các thần thánh từ bỏ thành phố đó: và khi dân La Mã cho phép dân Tarentines giữ lại các thần thánh bị lăng nhục của họ, thì dân La Mã xem các thần thánh đó như là những thần dân của các thần thánh La Mã và bị buộc phải thần phục họ. Kẻ bại trận được giữ lại thần thánh của mình cũng như được giữ lại luật pháp vậy. Một vòng hoa chiến thắng tặng cho thần Jupiter ở điện Capitol thường là vật cống duy nhất mà dân La Mã bắt kẻ bại trận phải nộp.

Finally, when, along with their empire, the Romans had spread their cult and their gods, and had themselves often adopted those of the vanquished, by granting to both alike the rights of the city, the peoples of that vast empire insensibly found themselves with multitudes of gods and cults, everywhere almost the same; and thus paganism throughout the known world finally came to be one and the same religion.

Sau hết, người La Mã đã phổ biến tín ngưỡng và các thần thánh của mình trên đế quốc rộng lớn. Nhiều khi, người La Mã lại cũng thu nhận các dân tộc chiến bại lẫn các thần thánh của họ. Và rồi tất cả các dân tộc sống trong đế quốc mênh mông này, tại bất cứ chỗ nào, thấy mình có cùng vô số thần thánh và tín ngưỡng giống nhau; và đó là lý do tại sao dị giáo trở thành một tôn giáo duy nhất trên toàn thế giới.

It was in these circumstances that Jesus came to set up on earth a spiritual kingdom, which, by separating the theological from the political system, made the State no longer one, and brought about the internal divisions which have never ceased to trouble Christian peoples. As the new idea of a kingdom of the other world could never have occurred to pagans, they always looked on the Christians as really rebels, who, while feigning to submit, were only waiting for the chance to make themselves independent and their masters, and to usurp by guile the authority they pretended in their weakness to respect. This was the cause of the persecutions.

Chính trong các hoàn cảnh đó mà Chúa Jesus thiết đặt trên trái đất một vương quốc tinh thần; sự kiện này, vì tách rời hệ thống thần học ra khỏi hệ thống chính trị, làm cho quốc gia không còn thuần nhất nữa và đem đến những sự chia rẽ nội bộ không bao giờ ngưng làm xáo trộn các dân tộc theo Cơ-đốc giáo. Vì ý niệm mới mẻ này về một vương quốc ở bên kia thế giới không bao giờ được các dân vô đạo [không theo Cơ-đốc giáo] chấp nhận, các dân tộc này luôn luôn xem các giáo dân Cơ-đốc giáo như là những kẻ nổi loạn thật sự, những kẻ chỉ giả vờ phục tùng và chỉ chờ cơ hội để trở nên độc lập và tự chủ; và cuối cùng, nhờ lừa đảo, họ đã cướp quyền hành mà họ giả vờ tôn trọng khi còn yếu kém. Đó là nguyên nhân của những cuộc đàn áp tôn giáo.

What the pagans had feared took place. Then everything changed its aspect: the humble Christians changed their language, and soon this so-called kingdom of the other world turned, under a visible leader, into the most violent of earthly despotisms.

Những gì mà dân dị giáo lo sợ đã xảy ra. Và tất cả mọi việc thay đổi: các giáo dân Cơ-đốc giáo trước khiêm tốn nay thay đổi cách nói, và không lâu sau đó, dưới quyền của một vị lãnh tụ bằng xương bằng thịt, người ta thấy cái gọi là vương quốc ở bên kia thế giới trở thành một nền chuyên chế hung bạo nhất trên thế giới này.

However, as there have always been a prince and civil laws, this double power and conflict of jurisdiction have made all good polity impossible in Christian States; and men have never succeeded in finding out whether they were bound to obey the master or the priest.

Tuy nhiên, vì luôn luôn có một người cai trị và có luật pháp dân sự, sự hiện diện của hai quyền hành và sự xung đột về quyền lực pháp lý làm cho các quốc gia theo Cơ-đốc giáo không thể nào có một chính thể tốt được; và con người không bao giờ tìm ra được lý do chính đáng là mình phải tuân theo vị cầm quyền hay vị giáo sĩ.

Several peoples, however, even in Europe and its neighbourhood, have desired without success to preserve or restore the old system: but the spirit of Christianity has everywhere prevailed. The sacred cult has always remained or again become independent of the Sovereign, and there has been no necessary link between it and the body of the State. Mahomet held very sane views, and linked his political system well together; and, as long as the form of his government continued under the caliphs who succeeded him, that government was indeed one, and so far good. But the Arabs, having grown prosperous, lettered, civilised, slack and cowardly, were conquered by barbarians: the division between the two powers began again; and, although it is less apparent among the Mahometans than among the Christians, it none the less exists, especially in the sect of Ali, and there are States, such as Persia, where it is continually making itself felt.

Hơn nữa nhiều dân tộc ngay cả ở Âu Châu hay các nước láng giềng đã không thành công trong việc gìn giữ hay tái lập hệ thống cũ: nhưng tinh thần của Cơ-đốc giáo đã thắng thế ở khắp mọi nơi. Có một tôn giáo đã giữ được hoặc khôi phục lại được tính cách độc lập với Hội đồng Tối cao, và không cần có một sự liên hệ nào giữa tôn giáo và nhà nước. Mahomet có một cái nhìn rất sáng suốt, và liên kết hệ thống chính trị của ông ta một cách rất chặt chẽ; chừng nào mà chính quyền do ông thiết lập còn tiếp tục tồn tại dưới quyền của các vua Hồi là những người kế nhiệm ông, thì chính quyền là một khối duy nhất và, trên chiều hướng này, là một chính quyền tốt. Nhưng dân Á Rập đã trở nên thịnh vượng, có học thức, văn minh, buông thả và nhu nhược, và đã bị dân man rợ chinh phục: sự chia rẽ giữa hai quyền lực lại bắt đầu diễn ra; tuy rằng đối với dân theo Hồi giáo sự chia rẽ này ít rõ ràng hơn đối với dân theo Cơ-đốc giáo nhưng sự chia rẽ đó thật sự có, nhất là trong môn phái Ali và trong vài quốc gia, ví dụ Ba-tư, sự chia rẽ này vẫn còn tiếp tục xảy ra.

Among us, the Kings of England have made themselves heads of the Church, and the Czars have done the same: but this title has made them less its masters than its ministers; they have gained not so much the right to change it, as the power to maintain it: they are not its legislators, but only its princes. Wherever the clergy is a corporate body,[44] it is master and legislator in its own country. There are thus two powers, two Sovereigns, in England and in Russia, as well as elsewhere.

Trong thời đại chúng ta đang sống, các vị vua Anh Quốc tự phong cho mình là những người đứng đầu Giáo Hội và các Nga Hoàng cũng vậy: nhưng với chức vụ này họ trở thành những người lãnh đạo hơn là những giáo sĩ; họ không có được cái quyền thay đổi Giáo Hội hơn là quyền duy trì nó: họ không phải là những người làm luật mà chỉ là những người cai trị. Ở bất cứ xứ nào mà giới tu sĩ tạo thành một cơ cấu,9 thì ở đó họ vừa là người cai trị vừa là người làm luật. Vì vậy [dân ở những xứ đó] có hai quyền lực, hai vì vua, ở Anh Quốc, ở Nga, cũng như ở các chỗ khác.

44 It should be noted that the clergy find their bond of union not so much in formal assemblies, as in the communion of Churches. Communion and excommunication are the social compact of the clergy, a compact which will always make them masters of peoples and kings. All priests who communicate together are fellow-citizens, even if they come from opposite ends of the earth. This invention is a masterpiece of statesmanship: there is nothing like it among pagan priests; who have therefore never formed a clerical corporate body.

9 Ta nên lưu ý rằng giới giáo sĩ tìm thấy sự liên kết không phải trong các buổi họp chính thức mà ở trong lễ ban thánh thể của các giáo hội. Lễ ban thánh thể và sự rút phép thông công là khế ước xã hội của giới giáo sĩ, một khế ước luôn luôn làm cho họ thành những ông chủ của dân chúng và vua chúa. Tất cả các giáo sĩ thông công với nhau đều cùng là những công dân thân hữu (fellow-citizens), dù họ đến từ hai đầu trái đất. Sự phát minh này là một kiệt tác của tài lãnh đạo chính trị: không có một sự việc như vậy giữa các giáo sĩ dị giáo; họ chưa bao giờ họp thành một tổ chức đoàn thể tôn giáo.

[m] Chim đại bàng hai đầu là biểu tượng của Đế quốc La Mã ở phương đông, còn gọi là Đế quốc Byzantine, bao gồm các vùng lãnh thổ nói tiếng Hy Lạp, có trung tâm là thủ phủ Constantinople (thủ đô Istanbul của Thổ nhĩ kỳ ngày nay). Hai đầu của con đại bàng đại diện cho thế quyền và giáo quyền của vị đại đế La Mã. Một ý nghĩa khác nữa của đại bàng hai đầu là sự thống trị của đại đế La Mã trên cả đông và tây phương. Ngày nay một số nước ở Đông Âu và Nga còn dùng biểu tượng này trong quốc huy của họ. Chim đại bàng hai đầu là biểu tượng của Đế quốc La Mã ở phương đông, còn gọi là Đế quốc Byzantine, bao gồm các vùng lãnh thổ nói tiếng Hy Lạp, có trung tâm là thủ phủ Constantinople (thủ đô Istanbul của Thổ nhĩ kỳ ngày nay). Hai đầu của con đại bàng đại diện cho thế quyền và giáo quyền của vị đại đế La Mã. Một ý nghĩa khác nữa của đại bàng hai đầu là sự thống trị của đại đế La Mã trên cả đông và tây phương. Ngày nay một số nước ở Đông Âu và Nga còn dùng biểu tượng này trong quốc huy của họ.

Of all Christian writers, the philosopher Hobbes alone has seen the evil and how to remedy it, and has dared to propose the reunion of the two heads of the eagle, and the restoration throughout of political unity, without which no State or government will ever be rightly constituted. But he should have seen that the masterful spirit of Christianity is incompatible with his system, and that the priestly interest would always be stronger than that of the State. It is not so much what is false and terrible in his political theory, as what is just and true, that has drawn down hatred on it.[45]

Trong tất cả các tác giả Cơ-đốc giáo, triết gia Hobbes là người duy nhất đã thấy điều tai hại đó và phương cách để sửa chửa, và đã dám đề nghị phối hợp hai đầu của con chim đại bàng lại,[m] cũng như sự khôi phục xuyên qua sự đoàn kết chính trị; không có sự đoàn kết đó thì không có một quốc gia hay một chính quyền nào có thể được thiết lập một cách hoàn hảo được. Nhưng Hobbes phải thấy rằng cái tinh thần khống chế của Cơ-đốc giáo không thể nào thích ứng với hệ thống do ông đề nghị, và rằng quyền lợi của giới giáo sĩ luôn luôn lớn hơn quyền lợi của quốc gia. Chính ra không phải sự sai lầm và sự ghê gớm trong thuyết chính trị của ông ta đã làm cho thuyết ấy bị ghét bỏ, mà chính là cái đúng và sự thật của nó.10

45 See, for instance, in a letter from Grotius to his brother (April 11, 1643), what that learned man found to praise and to blame in the De Cive. It is true that, with a bent for indulgence, he seems to pardon the writer the good for the sake of the bad; but all men are not so forgiving.

10 Ví dụ như hãy đọc thư của Grothius gởi cho người anh của mình (April 11, 1643) về những gì mà ông ta công nhận hay trách cứ trong cuốn sách (De Cive). Thật ra, thì với lòng lượng thứ dường như ông ta đã tha thứ cho tác giả qua cái tốt nhân danh cái xấu; nhưng không phải mọi người đều có lòng vị tha như vậy.

I believe that if the study of history were developed from this point of view, it would be easy to refute the contrary opinions of Bayle and Warburton, one of whom holds that religion can be of no use to the body politic, while the other, on the contrary, maintains that Christianity is its strongest support. We should demonstrate to the former that no State has ever been founded without a religious basis, and to the latter, that the law of Christianity at bottom does more harm by weakening than good by strengthening the constitution of the State. To make myself understood, I have only to make a little more exact the too vague ideas of religion as relating to this subject.

Tôi tin rằng nếu sự nghiên cứu lịch sử được phát sinh từ quan điểm này, người ta sẽ dễ dàng chối bỏ các ý kiến trái ngược của Bayle và của Warburton. Một người cho rằng tôn giáo không mang lợi ích gì cho cơ cấu chính trị, trong khi người kia cho rằng Cơ-đốc giáo là nguồn ủng hộ mạnh mẽ nhất cho nó. Chúng ta phải chứng minh cho người thứ nhất thấy rằng không có một quốc gia nào có thể được thành lập mà lại không có một nền móng tôn giáo; với người thứ hai, rằng luật của Cơ-đốc giáo, nếu bị suy giảm, sẽ làm hại nhiều hơn là làm lợi cho sự vững mạnh của cơ cấu quốc gia. Để cho rõ ràng hơn, tôi chỉ cần nói chính xác hơn đến những ý niệm quá mơ hồ về tôn giáo liên hệ đến vấn đề này.

Religion, considered in relation to society, which is either general or particular, may also be divided into two kinds: the religion of man, and that of the citizen. The first, which has neither temples, nor altars, nor rites, and is confined to the purely internal cult of the supreme God and the eternal obligations of morality, is the religion of the Gospel pure and simple, the true theism, what may be called natural divine right or law. The other, which is codified in a single country, gives it its gods, its own tutelary patrons; it has its dogmas, its rites, and its external cult prescribed by law; outside the single nation that follows it, all the world is in its sight infidel, foreign and barbarous; the duties and rights of man extend for it only as far as its own altars. Of this kind were all the religions of early peoples, which we may define as civil or positive divine right or law.

Tôn giáo, đối với xã hội, một cách tổng quát cho cả loài người hay một cách riêng rẽ cho mỗi xã hội, có thể được chia ra làm hai loại: tôn giáo của con người và tôn giáo của [công] dân. Tôn giáo thứ nhất không có đền thờ, không có bàn thờ, không có nghi lễ và chỉ được hạn chế trong sự thờ phượng một vị thần tối cao trong tâm trí và trong những bổn phận vĩnh cửu của đạo lý: đây là tôn giáo thuần túy và giản dị của sách Phúc Âm; đó là một thuyết hữu thần thực sự, cái có thể gọi là luật thiêng liêng của thiên nhiên. Tôn giáo thứ hai được hệ thống hóa chỉ trong một quốc gia và làm cho xứ này có những thần thánh và những thần thành hoàng; tôn giáo này có những giáo lý, nghi lễ và sự thờ cúng bên ngoài do luật pháp quy định; ở ngoài quốc gia theo tôn giáo đó, tất cả thế giới được xem như là ngoại đạo, xa lạ và man rợ; các bổn phận và các quyền của con người chỉ được nới rộng đến các bàn thờ của tôn giáo đó mà thôi. Tôn giáo này là tôn giáo của các dân tộc thời nguyên thủy mà ta có thể coi như một hình thức luật pháp dân sự hoặc luật pháp được quy định thành văn bản.

There is a third sort of religion of a more singular kind, which gives men two codes of legislation, two rulers, and two countries, renders them subject to contradictory duties, and makes it impossible for them to be faithful both to religion and to citizenship. Such are the religions of the Lamas and of the Japanese, and such is Roman Christianity, which may be called the religion of the priest. It leads to a sort of mixed and anti-social code which has no name.

Có một tôn giáo thứ ba lạ lùng hơn, ban bố cho con người hai nền luật pháp, hai nhà lãnh tụ và hai quốc gia; tôn giáo này bắt con người tuân theo những bổn phận trái ngược nhau, và làm cho họ không thể nào trung thành với tôn giáo và bổn phận công dân của mình. Đó là tôn giáo của các vị Lạt Ma, của dân Nhật Bổn và của Thiên Chúa giáo La Mã mà ta có thể gọi tôn giáo này là tôn giáo của các giáo sĩ. Nó đưa đến một thứ thần quyền hỗn hợp, chống xã hội, không có tên gọi.

In their political aspect, all these three kinds of religion have their defects. The third is so clearly bad, that it is waste of time to stop to prove it such. All that destroys social unity is worthless; all institutions that set man in contradiction to himself are worthless.

Về khía cạnh chính trị, tất cả ba tôn giáo đó đều có những nhược điểm của chúng. Tôn giáo thứ ba rõ ràng là tệ hại đến nỗi ta không nên phí thì giờ để chứng minh điều đó. Tất cả những điều gì phá hoại sự đoàn kết xã hội đều không có giá trị; tất cả những định chế làm cho con người tự mâu thuẫn với mình đều không có giá trị.

The second is good in that it unites the divine cult with love of the laws, and, making country the object of the citizens' adoration, teaches them that service done to the State is service done to its tutelary god. It is a form of theocracy, in which there can be no pontiff save the prince, and no priests save the magistrates. To die for one's country then becomes martyrdom; violation of its laws, impiety; and to subject one who is guilty to public execration is to condemn him to the anger of the gods: Sacer estod.

Tôn giáo thứ hai có điều tốt là nó hợp nhất sự thờ cúng thần linh với lòng yêu chuộng luật pháp và khi biến quốc gia trở thành đối tượng của sự sùng bái của các công dân; tôn giáo này dạy cho họ rằng phục vụ quốc gia là phục vụ đấng thần linh bảo hộ quốc gia. Đó là một loại cai trị bằng thần quyền trong đó có thể không có vị giáo chủ mà chỉ có người cai trị, và không có giáo sĩ ngoại trừ các quan chức. Chết vì tổ quốc trở nên tử vì đạo; xâm phạm vào luật pháp là bất kínhđối với thần linh; và đưa một tội nhân ra chịu sự nguyền rủa của công chúng là đưa kẻ đó ra hứng chịu sự giận dữ của thần thánh: sacer estod.

On the other hand, it is bad in that, being founded on lies and error, it deceives men, makes them credulous and superstitious, and drowns the true cult of the Divinity in empty ceremonial. It is bad, again, when it becomes tyrannous and exclusive, and makes a people bloodthirsty and intolerant, so that it breathes fire and slaughter, and regards as a sacred act the killing of every one who does not believe in its gods. The result is to place such a people in a natural state of war with all others, so that its security is deeply endangered.

Về mặt khác, tôn giáo đó có hại vì nó được xây dựng trên dối trá và sai lầm, và nó lừa dối người ta, làm cho người ta thành nhẹ dạ, mê tín và làm chìm đắm sự thờ phụng thần linh trong những nghi lễ rỗng tuếch. Tôn giáo này lại còn tai hại khi nó trở thành chuyên chế và độc quyền, và làm cho dân chúng trở nên khát máu và cố chấp; vì vậy nó kích thích và dẫn đến sự giết chóc, và xem sự chém giết bất cứ ai không tin nơi thần thánh của mình là một hành vi thiêng liêng. Kết quả là đặt một dân tộc như vậy trong một tình huống chiến tranh tự nhiên với tất cả những dân tộc khác, một việc rất nguy hại cho sự an ninh của chính mình.

There remains therefore the religion of man or Christianity — not the Christianity of to-day, but that of the Gospel, which is entirely different. By means of this holy, sublime, and real religion all men, being children of one God, recognise one another as brothers, and the society that unites them is not dissolved even at death.

Vậy nên chỉ còn lại tôn giáo của con người hay là Cơ-đốc giáo-không phải là Cơ-đốc giáo của ngày nay mà là Cơ-đốc giáo của sách Phúc Âm. Bằng tôn giáo thánh thiện, cao thượng và chân thật ấy, tất cả mọi người là con của một Chúa Trời duy nhất, xem nhau như là anh em, và xã hội đã kết hợp họ lại cho đến khi chết cũng không tan rã.

But this religion, having no particular relation to the body politic, leaves the laws in possession of the force they have in themselves without making any addition to it; and thus one of the great bonds that unite society considered in severally fails to operate. Nay, more, so far from binding the hearts of the citizens to the State, it has the effect of taking them away from all earthly things. I know of nothing more contrary to the social spirit.

Nhưng tôn giáo đó không có một sự liên hệ cụ thể nào với cơ cấu chính trị, nên không làm cho luật pháp mạnh thêm chút nào ngoài sức mạnh sẵn có của luật pháp; và vì thế, mà một trong những sợi dây quan trọng ràng buộc một xã hội không còn hiệu lực nữa. Thêm vào đó, thay vì kết chặt tình thương của các công dân với tổ quốc, hậu quả là tôn giáo đó làm cho các công dân xa lánh tổ quốc cũng như xa lánh mọi điều trần tục khác. Tôi không thấy điều gì trái ngược với tinh thần xã hội hơn điều này.

We are told that a people of true Christians would form the most perfect society imaginable. I see in this supposition only one great difficulty: that a society of true Christians would not be a society of men.

Người ta nói rằng một dân tộc gồm toàn người theo Cơ-đốc giáo chân chính sẽ kết thành một xã hội hoàn hảo mà người ta có thể tưởng tượng được. Tôi chỉ thấy có một khó khăn lớn trong giả thuyết ấy: đólà một xã hội của những Cơ-đốc nhân chân chính chứ không phải là xã hội của loài người.

I say further that such a society, with all its perfection, would be neither the strongest nor the most lasting: the very fact that it was perfect would rob it of its bond of union; the flaw that would destroy it would lie in its very perfection.

Tôi nói thêm rằng một xã hội như thế với tất cả sự hoàn hảo của nó sẽ không phải là một xã hội mạnh nhất hay bền vững nhất: sự kiện hiển nhiên là vì quá hoàn hảo nên nó hủy hoại mọi dây liên kết; cái nhược điểm làm tan vỡ xã hội đó chính là sự hoàn hảo của nó.

Every one would do his duty; the people would be law-abiding, the rulers just and temperate; the magistrates upright and incorruptible; the soldiers would scorn death; there would be neither vanity nor luxury. So far, so good; but let us hear more.

Tất cả mọi người đều phải làm bổn phận của mình; dân chúng phải tuân theo pháp luật, người cai trị phải công bằng và trung chính; các quan tòa ngay thẳng và liêm khiết; các binh sĩ phải không sợ chết; trong xã hội không có sự kiêu căng và xa hoa. Tất cả những điều ấy đều tốt, nhưng ta hãy nhìn xa hơn nữa.

Christianity as a religion is entirely spiritual, occupied solely with heavenly things; the country of the Christian is not of this world. He does his duty, indeed, but does it with profound indifference to the good or ill success of his cares. Provided he has nothing to reproach himself with, it matters little to him whether things go well or ill here on earth. If the State is prosperous, he hardly dares to share in the public happiness, for fear he may grow proud of his country's glory; if the State is languishing, he blesses the hand of God that is hard upon His people.

Cơ-đốc giáo là một tôn giáo hoàn toàn thuộc về tinh thần, chỉ bận tâm đến các điều trên thiên đường; tổ quốc của Cơ-đốc nhân không ở trên trái đất này. Họ có làm bổn phận của họ đấy, nhưng họ làm một cách rất thờ ơ, không lưu ý đến kết quả tốt hay xấu của việc làm của họ. Miễn rằng họ không có điều gì để tự trách mình, họ thờ ơ không cần biết xem mọi việc ở trên đời này trở nên tốt hay xấu. Nếu quốc gia thịnh vượng, họ hầu như không muốn chia sẻ hạnh phúc chung, vì rằng họ không dám tự hào về vinh quang của tổ quốc; nếu quốc gia suy vong, họ cũng cứ ngợi khen bàn tay của Chúa đã trừng phạt trên dân tộc họ.

For the State to be peaceable and for harmony to be maintained, all the citizens without exception would have to be good Christians; if by ill hap there should be a single self-seeker or hypocrite, a Catiline or a Cromwell, for instance, he would certainly get the better of his pious compatriots. Christian charity does not readily allow a man to think hardly of his neighbours. As soon as, by some trick, he has discovered the art of imposing on them and getting hold of a share in the public authority, you have a man established in dignity; it is the will of God that he be respected: very soon you have a power; it is God's will that it be obeyed: and if the power is abused by him who wields it, it is the scourge wherewith God punishes His children. There would be scruples about driving out the usurper: public tranquillity would have to be disturbed, violence would have to be employed, and blood spilt; all this accords ill with Christian meekness; and after all, in this vale of sorrows, what does it matter whether we are free men or serfs? The essential thing is to get to heaven, and resignation is only an additional means of doing so.

Muốn giữ cho quốc gia được thái bình và muốn duy trì sự hòa hợp, tất cả công dân không trừ một ai phải là những Cơ-đốc nhân tốt; nếu chẳng may có một người nào kiếm tư lợi hay có một kẻ đạo đức giả, một kẻ như Catalina hay là một Cromwell chẳng hạn, chắc chắn kẻ đó sẽ lợi dụng đức tin của các đồng bào ngoan đạo của mình. Lòng bác ái của Cơ-đốc giáo không cho phép nghĩ xấu về người khác. Khi nào mà kẻ đó bằng mưu mẹo tìm thấy được cách tài tình để đánh lừa họ và đoạt được một phần quyền lực công cộng thì kẻ đó sẽ thiết lập một chức vị ngay. Chúa muốn chúng ta kính trọng kẻ đó: chẳng bao lâu kẻ đó biến thành người nắm quyền lực, và đó là ý Chúa mà chúng ta phảivâng lời hắn. Kẻ cầm quyền đó có lạm dụng quyền thế chăng? Đó là cái roi mà Chúa dùng để phạt con cái mình. Người ta đắn đo ngại ngùng nếu phải đánh đuổi kẻ cướp quyền vì sự yên tĩnh công cộng sẽ bị xáo trộn, bạo lực sẽ được sử dụng và máu sẽ đổ; tất cả các việc đó không thích hợp với sự hiền hòa của Cơ-đốc giáo; và chung quy trong cõi đời khổ ải này, làm con người tự do hay làm nô lệ thì có sao đâu? Việc cốt yếu là được lên Thiên Đàng, và sự nhẫn nhục lại là một phương tiện khác nữa để đạt đến mục đích ấy.

If war breaks out with another State, the citizens march readily out to battle; not one of them thinks of flight; they do their duty, but they have no passion for victory; they know better how to die than how to conquer. What does it matter whether they win or lose? Does not Providence know better than they what is meet for them? Only think to what account a proud, impetuous and passionate enemy could turn their stoicism! Set over against them those generous peoples who were devoured by ardent love of glory and of their country, imagine your Christian republic face to face with Sparta or Rome: the pious Christians will be beaten, crushed and destroyed, before they know where they are, or will owe their safety only to the contempt their enemy will conceive for them. It was to my mind a fine oath that was taken by the soldiers of Fabius, who swore, not to conquer or die, but to come back victorious — and kept their oath. Christians would never have taken such an oath; they would have looked on it as tempting God.

Nếu chiến tranh xảy ra với một quốc gia khác, các công dân sẵn sàng ra trận; không một ai nghĩ đến chạy trốn; họ làm bổn phận của họ nhưng không say mê chiến thắng; họ biết cách chết hơn là biết cách để chiến thắng. Đối với họ sự thắng hay bại, có nghĩa gì đâu? Chúa há chẳng biết rõ hơn họ những gì mà họ cần đến hay sao? Chúng ta hãy thử nghĩ xem một kẻ thù kiêu hãnh, dũng mãnh và hăng say sẽ lợi dụng sự nhẫn nhục của họ như thế nào? Ta hãy cho họ đối diện với những dân tộc hào phóng, đầy lòng khao khát chiến thắng và lòng ái quốc; ta hãy tưởng tượng các cộng hòa theo Cơ-đốc giáo đối đầu với Sparta hay La Mã; các dân ngoan đạo Cơ-đốc giáo sẽ bại trận, bị đè bẹp và bị tiêu diệt trước khi họ có thì giờ hồi tỉnh, hay là họ sẽ được sống sót chỉ vì kẻ thù khinh rẻ họ. Tôi cho rằng lời thề của các binh sĩ của Fabius là một lời thề đầy ý nghĩa: họ không thề chiến thắng hay chết, mà thề sẽ trở về trong chiến thắng và họ đã giữ lời. Cơ-đốc nhân sẽ không bao giờ thề như vậy, vì như vậy họ cho là thách thức Thiên Chúa.

But I am mistaken in speaking of a Christian republic; the terms are mutually exclusive. Christianity preaches only servitude and dependence. Its spirit is so favourable to tyranny that it always profits by such a régime. True Christians are made to be slaves, and they know it and do not much mind: this short life counts for too little in their eyes.

Nhưng tôi đã lầm khi nói đến một nền Cộng hòa Cơ-đốc giáo; cả hai từ này hoàn toàn tách biệt nhau và không thể gom lại thành một. Cơ-đốc giáo chỉ giảng dạy về sự quy phục và sự lệ thuộc. Tinh thần của tôn giáo này thuận lợi cho sự chuyên chế đến mức luôn luôn bị thể chế này lợi dụng. Những Cơ-đốc nhân chân chính sinh ra để làm nô lệ; họ biết vậy nhưng chẳng hề lưu ý đến việc đó: đời sống ngắn ngủi này không đáng kể dưới mắt của họ.

I shall be told that Christian troops are excellent. I deny it. Show me an instance. For my part, I know of no Christian troops. I shall be told of the Crusades. Without disputing the valour of the Crusaders, I answer that, so far from being Christians, they were the priests' soldiery, citizens of the Church. They fought for their spiritual country, which the Church had, somehow or other, made temporal. Well understood, this goes back to paganism: as the Gospel sets up no national religion, a holy war is impossible among Christians.

Người ta sẽ nói với tôi rằng binh sĩ theo Cơ-đốc giáo rất giỏi. Tôi phủ nhận điều này. Hãy cho tôi một ví dụ. Về phần tôi, tôi không biết một binh sĩ Cơ-đốc giáo nào cả. Người ta sẽ nói với tôi về các cuộc viễn chinh của các Thập Tự Quân. Tôi không tranh luận về giá trị của các Thập Tự Quân. Tôi chỉ trả lời rằng chính ra họ không phải là những binh sĩ theo Cơ-đốc giáo mà là những binh sĩ của các giáo sĩ, là những công dân của giáo hội. Họ chiến đấu cho tổ quốc tinh thần mà giáo hội đã biến thành thế tục, bằng cách này hay cách khác. Nếu ta hiểu cho đến ngọn nguồn, sự kiện này bắt nguồn từ dị giáo: vì sách Phúc Âm không tạo ra một tôn giáo riêng rẽ cho một quốc gia, nên đối với Cơ-đốc nhân không thể có cái gọi là thánh chiến.

Under the pagan emperors, the Christian soldiers were brave; every Christian writer affirms it, and I believe it: it was a case of honourable emulation of the pagan troops. As soon as the emperors were Christian, this emulation no longer existed, and, when the Cross had driven out the eagle, Roman valour wholly disappeared.

Dưới thời các vị vua theo dị giáo, các binh sĩ Cơ-đốc giáo rất can đảm; tác giả Cơ-đốc giáo nào cũng xác nhận điều này và tôi tin đó là sự thật; đó là một cách để kích thích binh sĩ chống lại quân dị giáo. Khi mà các vị vua đó theo Cơ-đốc giáo thì sự ganh đua này không còn cần nữa và, khi thập tự giá thay chỗ cho con đại bàng thì sự dũng cảm của binh sĩ La Mã cũng hoàn toàn biến mất.

But, setting aside political considerations, let us come back to what is right, and settle our principles on this important point. The right which the social compact gives the Sovereign over the subjects does not, we have seen, exceed the limits of public expediency.[46] The subjects then owe the Sovereign an account of their opinions only to such an extent as they matter to the community. Now, it matters very much to the community that each citizen should have a religion. That will make him love his duty; but the dogmas of that religion concern the State and its members only so far as they have reference to morality and to the duties which he who professes them is bound to do to others. Each man may have, over and above, what opinions he pleases, without it being the Sovereign's business to take cognisance of them; for, as the Sovereign has no authority in the other world, whatever the lot of its subjects may be in the life to come, that is not its business, provided they are good citizens in this life.

Nhưng ngoài những nhận xét về chính trị, chúng ta hãy kiểm lại xem "quyền" là gì để từ đó đặt ra những nguyên tắc cho điều quan trọng này. Cái quyền mà khế ước xã hội trao cho Hội đồng Tối cao đối với thần dân không thể vượt qua giới hạn của công ích.11 Như vậy, các thần dân chỉ phải chịu trách nhiệm với Hội Đồng Tối Cao về ý kiến của họ, khi ý kiến đó liên hệ đến cộng đồng. Điều quan trọng đối với cộng đồng là mỗi công dân phải theo một tôn giáo để buộc họ phải yêu mến các nghĩa vụ của mình; nhưng các giáo điều của tôn giáo đó chỉ được quốc gia và dân chúng quan tâm đến khi nó có liên hệ đến luân lý và các bổn phận mà kẻ theo tôn giáo đó cam kết thực hiện đầy đủ đối với người khác. Ngoài ra, mỗi người có thể có những ý kiến riêng tư mà Hội đồng Tối cao không cần biết đến bởi vì Hội đồng Tối cao không có quyền hành gì đối với thế giới bên kia; số phận của các thần dân trong đời sau ra sao cũng không phải là mối lo của Hội Đồng Tối Cao, miễn hồ họ là những công dân tốt trong cõi đời hiện tại.

46 "In the republic," says the Marquis d'Argenson, "each man is perfectly free in what does not harm others." This is the invariable limitation, which it is impossible to define more exactly. I have not been able to deny myself the pleasure of occasionally quoting from this manuscript, though it is unknown to the public, in order to do honour to the memory of a good and illustrious man, who had kept even in the Ministry the heart of a good citizen, and views on the government of his country that were sane and right.

11 Hầu tước d'Argenson nói: "Trong nền cộng hòa mọi người hoàn toàn tự do làm cái gì mà không hại đến người khác." Đấy là một sự hạn chế không thể thay đổi; ngưòi ta không thể nào nói đúng hơn thế được. Tôi không thể tự từ chối niềm vui thích khi trích dẫn từ bản viết tay ít được biết đến này để vinh danh một người danh tiếng và đáng kính. Ông ta đã giữ, ngay cả khi làm bộ trưởng, một con tim của một công dân chân chính, những quan điểm đúng đắn và lành mạnh về sự cai trị quốc gia của ông.

There is therefore a purely civil profession of faith of which the Sovereign should fix the articles, not exactly as religious dogmas, but as social sentiments without which a man cannot be a good citizen or a faithful subject.[47] While it can compel no one to believe them, it can banish from the State whoever does not believe them — it can banish him, not for impiety, but as an anti-social being, incapable of truly loving the laws and justice, and of sacrificing, at need, his life to his duty. If any one, after publicly recognising these dogmas, behaves as if he does not believe them, let him be punished by death: he has committed the worst of all crimes, that of lying before the law.

Cho nên cần phải có một sự tuyên xưng vào các niềm tin dân sự do Hội Đồng Tối Cao quy định các điều lệ, không hẳn như các giáo điều tôn giáo nhưng là một thứ lương tâm xã hội mà một công dân tốt hay một thần dân trung thành phải có.12 Tuy không bắt buộc ai cũng phải tin vào tôn giáo dân sự đó, nhưng ai không tin có thể bị trục xuất ra khỏi quốc gia, không phải vì vô thần mà vì chống xã hội, vì không thật lòng yêu chuộng luật pháp và công lý, và vì khi cần thiết không hy sinh mạng sống cho bổn phận. Nếu người nào, sau khi đã công khai chấp nhận các giáo điều ấy mà có thái độ không tin tưởng vào các điều ấy thì ta hãy buộc tội tử hình kẻ đó: kẻ đó đã phạm một tội tệ hại nhất, tội đã nói dối trước pháp luật.

47 Cæsar, pleading for Catiline, tried to establish the dogma that the soul is mortal: Cato and Cicero, in refutation, did not waste time in philosophising. They were content to show that Cæsar spoke like a bad citizen, and brought forward a doctrine that would have a bad effect on the State. This, in fact, and not a problem of theology, was what the Roman senate had to judge.

12 Khi bào chữa cho Catiline, Caesar đã cố gắng thiết đặt một giáo điều về cái chết của linh hồn: để bác bỏ điều này Cato và Cicero không màng đến luận bàn. Họ chỉ cần cho thấy rằng Caesar ăn nói như một công dân xấu và đã đưa ra một chủ nghĩa có thể gây ra một hậu quả tai hại cho quốc gia. Thật ra, đây không phải là một vấn đề về thần học mà là một vấn đề mà Nguyên Lão Thượng Nghị Viện La Mã phải xét xử.

The dogmas of civil religion ought to be few, simple, and exactly worded, without explanation or commentary. The existence of a mighty, intelligent and beneficent Divinity, possessed of foresight and providence, the life to come, the happiness of the just, the punishment of the wicked, the sanctity of the social contract and the laws: these are its positive dogmas. Its negative dogmas I confine to one, intolerance, which is a part of the cults we have rejected.

Các giáo điều của tôn giáo dân sự cần phải ít, giản dị và viết thành văn một cách chính xác, không cần được giải thích hoặc bình luận thêm. Những giáo điều tích cực cần có là sự hiện hữu của một Đấng Tạo Hóa toàn năng, toàn trí và nhân lành, ban niềm hạnh phúc cho kẻ xứng đáng, trừng phạt kẻ phạm tội, công nhận sự thiêng liêng của khế ước xã hội và của luật pháp. Về các giáo điều tiêu cực, tôi chỉ hạn chế vào một điều: đó là không chấp nhận tính không khoan dung, một đặc điểm của các tôn giáo mà ta đã loại bỏ.

Those who distinguish civil from theological intolerance are, to my mind, mistaken. The two forms are inseparable. It is impossible to live at peace with those we regard as damned; to love them would be to hate God who punishes them: we positively must either reclaim or torment them. Wherever theological intolerance is admitted, it must inevitably have some civil effect;[48] and as soon as it has such an effect, the Sovereign is no longer Sovereign even in the temporal sphere: thenceforce priests are the real masters, and kings only their ministers.

Theo tôi những ai phân biệt sự không khoan dung giữa dân sự và tôn giáo là sai lầm. Hai điều đó không thể tách rời nhau. Ta không thể sống yên ổn với những kẻ mà ta cho là bị phạm tội phải sa địa ngục; yêu thương những kẻ đó, những kẻ đã bị Chúa trừng phạt, là ghét bỏ Chúa: ta nhất định phải cứu rỗi họ, hoặc phải làm cho họ đau khổ. Bất cứ ở nơi nào mà có sự không khoan dung tôn giáo hiện diện thì nơi đó chắc chắn sẽ có những hậu quả về dân sự;13 và khi mà những hậu quả đó xảy ra thì Hội đồng Tối cao không còn là Hội đồng Tối cao nữa, ngay cả trong thế tục. Từ đó các giáo sĩ mới là những người cai trị thật sự, các vị vua chúa chỉ là những quan chức của họ.

48 Marriage, for instance, being a civil contract, has civil effects without which society cannot even subsist. Suppose a body of clergy should claim the sole right of permitting this act, a right which every intolerant religion must of necessity claim, is it not clear that in establishing the authority of the Church in this respect, it will be destroying that of the prince, who will have thenceforth only as many subjects as the clergy choose to allow him? Being in a position to marry or not to marry people according to their acceptance of such and such a doctrine, their admission or rejection of such and such a formula, their greater or less piety, the Church alone, by the exercise of prudence and firmness, will dispose of all inheritances, offices and citizens, and even of the State itself, which could not subsist if it were composed entirely of bastards? But, I shall be told, there will be appeals on the ground of abuse, summonses and decrees; the temporalities will be seized. How sad! The clergy, however little, I will not say courage, but sense it has, will take no notice and go its way: it will quietly allow appeals, summonses, decrees and seizures, and, in the end, will remain the master. It is not, I think, a great sacrifice to give up a part, when one is sure of securing all.

13 Ví dụ như hôn nhân, một khế ước dân sự có những hậu quả dân sự; không có các hậu quả đó xã hội không thể tồn tại được. Hãy giả sử rằng trong một nước kia, hàng giáo sĩ đạt đến mức được độc quyền cho phép kết hôn, một quyền mà bất kỳ loại tôn giáo cố chấp nào cũng từ từ tìm cách chiếm lấy; rõ ràng rằng bằng cách thiết đặt quyền của Giáo Hội trở thành tối thượng trong vấn đề này, nó sẽ triệt tiêu quyền của người cai trị, và ông ta không còn có những thần dân nào khác ngoại trừ những người mà hàng giáo sĩ cho phép. Khi có quyền kết hợp hay không kết hợp người này với người khác tùy theo họ chấp nhận chủ thuyết này hay chủ thuyết khác, tùy theo họ công nhận hay chối bỏ công thức này hay công thức khác, tùy theo họ mộ đạo nhiều hay ít, thì giáo hội, với sự thận trọng hay sự kiên quyết sẽ quyết định về tất cả mọi sự thừa kế, mọi chức vụ và mọi công dân và ngay cả về quốc gia; lúc đó quốc gia có còn tồn tại được không, vì chỉ còn có những đứa con ngoài hôn thú? Nhưng người ta sẽ nói rằng sẽ có những vụ chống án vì có sự lạm dụng, có những trát tòa và những sắc lệnh; rằng các tài sản thế tục có thể bị tịch thu. Thật là đáng buồn! Giới giáo sĩ, nếu có chút ít khôn ngoan - tôi không nói là sự can đảm - sẽ không để ý đến và để cho mọi sự diễn ra; họ sẽ yên lặng cho phép có những vụ chống án, những trát tòa, những sắc lệnh, những vụ tịch thu, và cuối cùng họ vẫn là những ông chủ. Tôi nghĩ rằng từ bỏ một phần không phải là một sự hy sinh lớn lao khi người ta chắc chắn chiếm được tất cả.

Now that there is and can be no longer an exclusive national religion, tolerance should be given to all religions that tolerate others, so long as their dogmas contain nothing contrary to the duties of citizenship. But whoever dares to say: Outside the Church is no salvation, ought to be driven from the State, unless the State is the Church, and the prince the pontiff. Such a dogma is good only in a theocratic government; in any other, it is fatal. The reason for which Henry IV is said to have embraced the Roman religion ought to make every honest man leave it, and still more any prince who knows how to reason.

Hiện nay, không còn hay không thể có một tôn giáo quốc gia độc quyền nữa; ta phải khoan dung đối với tất cả các tôn giáo nào có lòng bao dung các tôn giáo khác, miễn là các giáo điều của họ không mâu thuẫn với những bổn phận của công dân. Nhưng nếu kẻ nào dám nóirằng "ngoài giáo hội thì không có sự cứu vớt linh hồn," thì ta phải đuổi kẻ đó ra khỏi nước, trừ phi Nhà nước là Nhà thờ, và người cai trị là đức giáo hoàng. Một giáo điều như vậy chỉ tốt cho một nhà nước giáo quyền, trong bất cứ một loại chính quyền nào khác điều đó là một tai họa. Lý do biện minh cho sự cải đạo sang Công giáo La Mã của vua Henri đệ Tứ, cũng chính là lý do mà tất cả những người lương thiện phải từ bỏ, nhất là những người lãnh đạo biết suy xét.[n]


[n] Vua Henri đệ Tứ của Pháp vốn theo đạo Tin Lành, nhưng trên đường tranh thủ ngai vàng, Henri dựa vào thế lực Công giáo La Mã nên cải sang đạo này. Henri lý giải là làm như vậy để phục vụ quốc gia tốt hơn, nhưng thực ra là để tranh thủ nhân tâm của đa số dân chúng Pháp vốn theo Công giáo La Mã.

9. Conclusion

Now that I have laid down the true principles of political right, and tried to give the State a basis of its own to rest on, I ought next to strengthen it by its external relations, which would include the law of nations, commerce, the right of war and conquest, public right, leagues, negotiations, treaties, etc. But all this forms a new subject that is far too vast for my narrow scope. I ought throughout to have kept to a more limited sphere.

9 Kết luận

Sau khi đã đặt xong các nguyên tắc thật sự của một nền chính trị đúng đắn để thiết lập nền tảng cho một nhà nước, lẽ ra tôi phải hoàn tất luận văn này bằng những nghiên cứu về ngoại giao, bao gồm công pháp quốc tế về mậu dịch, quyền tuyên chiến và chinh phục, luật pháp công quyền, thể thức kết ước thành các liên minh, thương thảo và hiệp ước giữa các quốc gia, vân vân. Nhưng tất cả những điều này lại là một đề tài mới quá lớn so với nhãn quan hạn hẹp của mình, thành thử tôi nên giới hạn trong những đề tài gần hơn với tầm nhìn của tôi.

J.J. Rousseau





























No comments:

Post a Comment

your comment - ý kiến của bạn