| | |
| Softly, Softly: Beijing Turns Other Cheek — For Now
| Tình hình châu Á: Bắc Kinh hiện tỏ ra nhịn nhục
|
| Walter Russell Mead
| Walter Russell Mead 19-11-2011
|
| The cascade of statements, deployments, agreements and announcements from the United States and its regional associates in the last week has to be one of the most unpleasant shocks for China’s leadership — ever. The US is moving forces to Australia, Australia is selling uranium to India, Japan is stepping up military actions and coordinating more closely with the Philippines and Vietnam in the South China Sea, Myanmar is slipping out of China’s column and seeking to reintegrate itself into the region, Indonesia and the Philippines are deepening military ties with the the US: and all that in just one week. If that wasn’t enough, a critical mass of the region’s countries have agreed to work out a new trade group that does not include China, while the US, to applause, has proposed that China’s territorial disputes with its neighbors be settled at a forum like the East Asia Summit — rather than in the bilateral talks with its smaller, weaker neighbors that China prefers.
| Dòng thác dồn dập các tuyên bố, những cuộc triển khai quân, một loạt các thỏa thuận và thông cáo từ Mỹ và các đồng minh khu vực trong tuần qua phải là một trong những cú sốc khó chịu nhất chưa từng xảy ra đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh. Mỹ đưa quân vào Úc, Úc bán uranium cho Ấn Độ, Nhật tăng cường các hoạt động quân sự và phối hợp chặt chẽ hơn với Philippines, Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Myanmar đang thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và đang cố gắng tái hội nhập vào khu vực, Indonesia và Philippines tăng cường quan hệ quân sự sâu hơn với Mỹ: và tất cả mọi chuyện xảy ra chỉ trong một tuần. Nếu điều đó vẫn không đủ, ý kiến của đa số các nước trong khu vực đã đồng ý thiết lập một khối thương mại mới (TPP) không bao gồm Trung Quốc, trong khi Mỹ, nước được hoan nghênh, đã đề nghị rằng các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước láng giềng nên được giải quyết tại diễn đàn như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á— thay vì đàm phán song phương với từng nước nhỏ và yếu hơn, điều mà Trung Quốc mong muốn.
|
| Rarely has a great power been so provoked and affronted. Rarely have so many red lines been crossed. Rarely has so much face been lost, so fast. It was a surprise diplomatic attack, aimed at reversing a decade of chit chat about American decline and disinterest in Asia, aimed also at nipping the myth of “China’s inexorable rise” in the bud.
| Hiếm khi nào một cường quốc lại bị khiêu khích và xúc phạm đến như vậy. Hiếm khi nào có nhiều lằn ranh đỏ lại bị vượt qua đến thế. Hiếm khi nào có nhiều trường hợp bị mất mặt như vậy, mất mặt quá nhanh. Đây là đòn tấn công ngoại giao bất ngờ nhằm đảo ngược tình hình trong một thập kỷ qua, bàn tán về hiện tượng Mỹ đang “suy tàn” và từ bỏ can dự vào Châu Á, điều này cũng nhằm dập tắt huyền thoại mới chớm về “sự trỗi dậy không gì ngăn cản được của Trung Quốc”.
|
| The timing turned out to be brilliant. China is in the midst of a leadership transition, when it is harder for important decisions to be taken quickly. The economy is looking shaky, with house prices falling across much of the country. The diplomatic blitzkrieg moved so fast and on so many fronts, with the strokes falling so hard and in such rapid succession, that China was unable to develop an organized and coherent response. And because Wen Jiabao’s appearance at the East Asia Summit, planned long before China had any inkling of the firestorm about to be unleashed, could not be canceled or changed, premier Wen Jiabao was trapped: he had to respond in public to all this while China was off balance and before the consultation, reflection and discussion that might have created an effective response.
| Thời điểm [mọi chuyện] xảy ra hết sức phù hợp. Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo, lúc mà các quyết định quan trọng khó có thể đưa ra một cách nhanh chóng. Tại Trung Quốc, nền kinh tế đang có dấu hiệu thiếu vững chắc trong khi thị trường bất động sản đang rớt giá hầu như khắp cả nước. Cuộc tấn công ngoại giao chớp nhoáng diễn ra rất nhanh trên rất nhiều mặt trận, với những cú đánh cực mạnh, liên tiếp và mau lẹ, đến nỗi Trung Quốc không thể triển khai cách đáp trả một cách chặt chẽ và hữu hiệu. Và bởi sự xuất hiện của ông Ôn Gia Bảo tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, vốn được lên kế hoạch từ lâu trước khi Trung Quốc mơ hồ biết được trận bão lửa sắp ập đến, không thể hủy bỏ hoặc thay đổi được lịch trình, Thủ tướng Ông Gia Bảo ở trong thế kẹt: phải tự mình phản ứng trước công luận về tất cả những vấn đề này trong lúc Trung Quốc bị mất thăng bằng và trước các cuộc tham vấn, suy nghĩ cân nhắc và thảo luận để có thể đưa ra cách đối phó hiệu quả.
|
| In this position, he acted prudently, which is to say he did as little as possible. His public remarks were mild. He did not pound his fist (or, like former Soviet leader Nikita Khrushchev, his shoe) on the table. He did not rage against and upbraid his neighbors. He did not launch tirades about American arrogance and aggression. He uttered no threats but renounced no claims; he even participated in a quick unscheduled meeting with President Obama.
| Trong vị thế này, ông Ôn Gia Bảo đã hành động một cách thận trọng, có nghĩa là hành động càng ít càng tốt, với những lời phát biểu ôn hòa ở chốn công khai. Ông ta không hề đấm bàn (hoặc như cựu lãnh đạo Xô-viết Nikita Khrushchev, từng tháo giày ra nện lên bàn). Ông ấy cũng không nổi cơn thịnh nộ hoặc trách cứ các nước láng giềng, không đả kích sự kiêu căng và gây hấn của Mỹ. Ông ấy không phát biểu mang tính đe dọa nhưng cũng không từ bỏ yêu sách chủ quyền; và thậm chí còn tham dự một cuộc họp ngắn ngoài lịch trình với Tổng thống Obama.
|
| The effect of this passive and low key response (the only thing really, he could have done) is to reinforce the sense in Asia that the US has reasserted its primacy in a convincing way. The US acted, received strikingly widespread support, and China backed down.
| Ảnh hưởng của cách phản ứng hạ giọng và bị động này (thực sự ông Ôn Gia Bảo không có sự lựa chọn nào khác) là củng cố cảm nhận ở Châu Á rằng Mỹ đã tái khẳng định vị thế siêu cường hàng đầu bằng cách thức rất thuyết phục. Mỹ đã hành động và nhận được sự ủng hộ khắp nơi, một cách ấn tượng, và Trung Quốc đã lùi bước.
|
| That is in fact what happened, and it was as decisive a diplomatic victory as anyone is likely to see. Congratulations should go to President Obama and his national security team. The State Department, the Department of Defense and the White House have clearly been working effectively together on an intensive and complex strategy. They avoided leaks, they coordinated effectively with half a dozen countries, they deployed a range of instruments of power. In the field of foreign policy, this was a coming of age of the Obama administration and it was conceived and executed about as flawlessly as these things ever can be.
| Thực tế, đó là những gì đã xảy ra và những điều xảy ra mang tính quyết định, một chiến thắng ngoại giao mà bất cứ ai cũng nhìn thấy được. Cũng nên chúc mừng Tổng thống Obama cùng đội ngũ an ninh quốc gia của Tổng thống. Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng rõ ràng đã và đang làm việc với nhau một cách hiệu quả, trong một chiến lược phức tạp và sâu sắc. Họ tránh làm rò rỉ thông tin, phối hợp hiệu quả với sáu nước khác và triển khai một loạt các công cụ sức mạnh. Trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, đây là sự trình làng của thời đại chính quyền Obama với kế hoạch được thai nghén và thực thi một cách hoàn hảo từ trước đến nay.
|
| It will not change the fundamental dynamics of a re-election race shaped so far by voter concern about poor economic performance, but the effects of the President’s re-assertion of American primacy in the Pacific will reinforce the public perception that he has grown into the foreign policy side of his job. He looked very presidential in Asia; those things count.
| Cho đến giờ thì những người quan tâm đến bầu cử sẽ không thay đổi những động lực cơ bản của cuộc đua tái tranh cử [chức tổng thống Mỹ] đã được định hình, bởi lo ngại của cử tri về việc vận hành kinh tế yếu kém, nhưng hiệu ứng từ việc Tổng thống tái khẳng định vị thế siêu cường của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương sẽ củng cố nhận thức của công chúng rằng Tổng thống đã làm tốt hơn trong vấn đề chính sách đối ngoại. Ông Obama đã chứng tỏ bản lĩnh tổng thống ở Châu Á; điều này rất có ý nghĩa.
|
| But a successful opening is not the same thing as a final win. The opening American gambit in the new great game was brilliant, but China also gets a move. On the one hand, the sweep, the scope and the success of the American moves make it hard for China to respond in kind; on the other hand, the humiliation and frustration (and, in some quarters, the fear) both inside the government and in society at large over these setbacks will compel some kind of response.
| Nhưng khởi đầu thành công không có nghĩa sẽ là cuối cùng sẽ chiến thắng. Trong ván cờ lớn mới mẻ này, sự thí quân để mở đường của Mỹ tỏ ra vượt trội, nhưng Trung Quốc cũng đi được một nước cờ. Một mặt, tính chất, phạm vi và sự thành công từ các bước đi của Mỹ làm cho Trung Quốc khó có thể đáp trả tương xứng. Mặt khác, việc [Trung Quốc] bị bẽ mặt và tâm trạng thất vọng (và ở khía cạnh nào đó, là nỗi lo ngại) từ trong chính quyền và ngoài xã hội trên diện rộng, liên quan đến sự thụt lùi này, sẽ thúc ép Trung Quốc phải có hình thức phản ứng nào đó.
|
| China, mindless conventional “decline” wisdom to the contrary, is much weaker and poorer than the United States, yet it is Chinese power rather than American supremacy that China’s neighbors most fear. China’s diplomacy faces an infuriating paradox: If it accepts the renewal of a US-based order in Asia it looks weak and is forced into an inferior political position; if it openly fights that order it alarms its neighbors into clinging more closely to Uncle Sam.
| Trái với quan điểm phổ biến, thiếu suy nghĩ cho rằng, Mỹ đang “suy tàn”, Trung Quốc vẫn còn yếu kém và nghèo khổ hơn nhiều so với Mỹ, tuy nhiên chính sức mạnh của Trung Quốc chứ không phải vị thế siêu cường của Mỹ, là điều các nước láng giềng của Trung Quốc lo ngại nhất. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc gặp phải một nghịch lý khó chịu: Nếu Trung Quốc chấp nhận trật tự về sự trở lại của Mỹ ở Châu Á, Trung Quốc sẽ bị xem là yếu kém và bị buộc phải xuống “chiếu dưới” về vị thế chính trị. Còn nếu Trung Quốc công khai chống lại trật tự đó, sẽ làm các nước láng giềng lo lắng và chuyển sang gắn kết chặt chẽ hơn với chú Sam.
|
| This reality constrains China’s response in many ways, but China cannot remain passive. China must now think carefully about its choices and to work to use all the factors of its power to inflict some kind of counterblow against the United States. Look for China to reach out much more intensively to Russia to find ways in which the two powers can frustrate the US and hand it some kind of public setback. Pakistan? Iran? Afghanistan? Palestine?
| Thực tế này đã chế ngự phản ứng của Trung Quốc bằng nhiều cách, nhưng Trung Quốc không thể thụ động mãi. Trung Quốc phải suy nghĩ thận trọng về những lựa chọn và tìm cách sử dụng mọi yếu tố sức mạnh của họ để giáng đòn phản công chống lại Mỹ. Chờ xem Trung Quốc có bắt tay hợp tác mạnh hơn với Nga để hai cường quốc này tìm cách cho hợp lực chống lại Mỹ, làm cho Mỹ phải chịu lùi bước [ở một một số điểm nóng] như: Pakistan? Iran? Afghanistan? hay Palestine?
|
| Regionally, China may try to detach one or more countries from the American system by some combination of economic influence and political ties. It will take advantage of the fact that the other Asian powers do not want the United States to be too dominant; they may fear China more than they fear us, but their aim is to maximize their own independence, not to strengthen US power.
| Trong khu vực, Trung Quốc cố gắng tách một hoặc nhiều nước khỏi hệ thống của Mỹ bằng cách kết hợp ảnh hưởng kinh tế và quan hệ chính trị. Trung Quốc tận dụng một thực tế rằng các cường quốc châu Á khác không muốn Mỹ nắm giữ vai trò thống trị, các quốc gia này có thể lo ngại Trung Quốc hơn là lo ngại Mỹ, nhưng mục tiêu của họ là giữ vững tối đa nền độc lập tự chủ, chứ không phải gia tăng sức mạnh của Mỹ.
|
| Longer term, the conviction in the military and among hard liners in the civilian establishment that the US is China’s enemy and seeks to block China’s natural rise will not only become more entrenched and more powerful; it will have consequences. Very experienced and well informed foreign diplomats and observers already warn that the military is in many respects becoming independent of political authorities and some believe that like the Japanese military in the 1930s, China’s military or factions within it could begin to take steps on critical issues that the political authorities could not reverse. Islands could be occupied, flags raised and shots fired.
| Về lâu về dài, sự tuyên truyền, thuyết phục từ giới quân sự và những nhân vật theo đường lối cứng rắn đối với công chúng, rằng Mỹ chính là kẻ thù của Trung Quốc và theo đuổi việc ngăn chặn sự trỗi dậy tự nhiên của Trung Quốc, không chỉ mang tính chất bảo thủ hơn, nhiều quyền lực hơn; mà còn kéo theo những hệ lụy. Giới quan sát và ngoại giao nước ngoài thạo tin và đầy kinh nghiệm đã cảnh báo rằng quân đội [Trung Quốc], xét về nhiều mặt, đang có biểu hiện không phụ thuộc vào giới chính trị. Và một số người tin rằng, giống như giới quân phiệt Nhật hồi thập niên 1930, quân đội Trung Quốc hoặc những phe cánh trong quân đội có thể can dự vào những vấn đề quan trọng mà giới chính trị không thể đảo ngược. Những hòn đảo có thể bị xâm chiếm, những lá cờ được phất lên và những phát súng nổ vang.
|
| Certainly any Chinese arguments against massive military build ups will be difficult to win. The evident weakness of China’s position will make it impossible to resist calls for more military spending and an acceleration of the development of China’s maritime capacity.
| Tất nhiên, bất kỳ lập luận của người Trung Quốc nào nhằm chống lại sự gia tăng ồ ạt tiềm lực quân sự sẽ rất khó có thể thắng. Với thế yếu rõ ràng [so với Mỹ], Trung Quốc không thể đi ngược lại lời kêu gọi chi tiêu quân sự nhiều hơn, cũng như tăng tốc phát triển khả năng hàng hải.
|
| Many people in China (and elsewhere for that matter) believe that China’s massive holdings of US debt give China great power in the international system. Via Meadia thinks that those ideas are largely wrong and that any efforts to treat those reserves as a political instrument would be more likely to harm China than the United States. After all, a mass sell-off of China’s reserves would drive down the dollar — meaning in the first instance that China would take a massive hit on the value of the securities it was selling, and then that China’s markets in the US and likely also Europe would collapse in the ensuing global economic firestorm. The US would likely emerge from this faster and in better shape than China.
| Nhiều người ở Trung Quốc (và kể cả những nơi khác) tin rằng, việc Trung Quốc nắm giữ phần lớn nợ của Mỹ sẽ tạo cho Trung Quốc quyền lực to lớn trong hệ thống quốc tế. Chuyên mục Via Meadia cho rằng đa phần những ý tưởng này là sai lầm, và bất cứ nỗ lực nào nhằm sử dụng các nguồn dự trữ này làm công cụ chính trị, có khả năng gây phương hại cho chính Trung Quốc hơn là cho Mỹ. Sau cùng, việc bán đổ bán tháo [lượng trái phiếu Mỹ] do Trung Quốc nắm giữ sẽ làm cho đồng Đô la Mỹ hạ giá — có nghĩa là, trước tiên Trung Quốc sẽ bị giáng một đòn nặng về giá trị chứng khoán bán ra, kế đến là các sản phẩm của Trung Quốc trên thị trường Mỹ, và có thể ở thị trường Châu Âu, sẽ sụp đổ trong cơn bão lửa [khủng hoảng] kinh tế toàn cầu kế tiếp. Mỹ có khả năng sẽ vượt qua cuộc khủng hoảng này nhanh hơn và phát triển tốt hơn Trung Quốc.
|
| Nevertheless, the belief that China’s foreign reserves are an asset that can somehow be played to win political points is a strong one in China, and there will be great pressure in Beijing to play this card at the first available opportunity. What that might mean in practice is hard to predict, but US diplomats, bankers and strategists will need to keep in mind that China will be looking to weaponize its dollar hoard.
| Tuy nhiên, ở Trung Quốc, niềm tin mạnh mẽ rằng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc là một công cụ hữu ích, bằng cách này hay cách khác, có thể dùng để chiến thắng các quan điểm chính trị, và sẽ có áp lực rất lớn lên Bắc Kinh nhằm sử dụng lá bài này ngay khi có cơ hội đầu tiên. Điều này có ý nghĩa gì, trên thực tế, rất khó có thể nói, nhưng các chiến lược gia, giới điều hành ngân hàng và các nhà ngoại giao Mỹ cần lưu ý rằng Trung Quốc đang quan tâm đến việc dùng kho dự trữ ngoại tệ của mình làm vũ khí.
|
| An intense debate in China will now turn even more pointed. There will be some who counsel patience, saying that China cannot win an open contest with the US and that its only hope is to stick with the concept of “peaceful rise”: eschewing all conflict with the US and its neighbors, behaving as a “responsible stakeholder” in the US-built international system, and growing richer and more powerful until such a time as alternative strategies can be considered. That in my opinion is China’s wisest course.
| Một cuộc tranh luận gay gắt tại Trung Quốc thường cho ra nhiều quan điểm. Có người khuyên nên kiên nhẫn chịu đựng, nói rằng Trung Quốc không thể thắng trong cuộc giao tranh công khai với Mỹ, và rằng hy vọng duy nhất là gắn chặt với khái niệm “trỗi dậy hòa bình”: tránh mọi xung đột với Mỹ và các nước láng giềng, hành xử như một “đối tác có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế do Mỹ thiết lập, tập trung phát triển ngày càng giàu mạnh hơn cho đến khi nào các chiến lược thay thế có thể được xem xét. Theo ý kiến của tôi, đó là con đường khôn ngoan nhất của Trung Quốc.
|
| Others will argue that the international system as it now exists, and American power in it, are weapons in the hands of a country which is deeply hostile to China and its government and that the US will not rest until China, like Russia, has been reduced to impotence. They think (they really do) that our aim is to overthrow the Communist government, replace it with something weak and ineffective — as in Yeltsin’s Russia — and then break up its territory the way the Soviet Union broke up. Taiwan, Tibet, Xinjiang, perhaps more will be split off until China is left as a weak and helpless member of an ever more ruthless American order. To act like a “responsible stakeholder” in the international system would be to tie the knot in the noose intended to hang you; China must resist now, and ally itself with everyone willing to fight this power: Iran, Russia, Syria, Venezuela, Pakistan, perhaps even Al-Qaeda. And rather than trying to prop up the international capitalist system, China should do what it can to deepen crises and aggravate tensions.
| Tất nhiên, những người khác sẽ lập luận rằng hệ thống quốc tế như đang tồn tại hiện nay, bị chi phối bởi sức mạnh Mỹ, là vũ khí trong tay quốc gia thù địch sâu nặng với Trung Quốc và chính phủ nước này. Và Mỹ sẽ không yên ổn cho đến khi nào Trung Quốc, giống như Nga, bị làm cho sa sút và suy kiệt. Họ (thật sự) nghĩ rằng, mục tiêu của Mỹ là lật đổ chính quyền cộng sản [Trung Quốc], rồi thay thế bằng những nhân vật lãnh đạo khác yếu kém— như Yeltsin của Nga—và sau đó “chia năm xẻ bảy” lãnh thổ Trung Quốc như cách thức Liên Xô đã tan rã. Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, và có lẽ nhiều hơn nữa sẽ bị chia tách cho đến khi Trung Quốc chỉ còn là một thành viên suy yếu và bất lực trong một trật tự ngày càng lạnh lùng của Mỹ. Hành động như một “đối tác có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế, chẳng khác nào tự thắt nút vào chiếc thòng lọng đang chờ treo cổ mình; Trung Quốc phải kháng cự lại ngay, và liên minh với bất cứ nước nào muốn chống lại sức mạnh của Mỹ như: Iran, Nga, Syria, Venezuela, Pakistan, thậm chí có thể với cả Al-Qaeda. Và thay vì cố gắng hỗ trợ cho hệ thống chủ nghĩa tư bản quốc tế, Trung Quốc nên làm những gì có thể, để làm cho các cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn và làm trầm trọng thêm những căng thẳng.
|
| I think this course leads to a strategic dead end for China and China’s diplomats are much too experienced and knowledgeable to be taken in by it. The military and nationalist public opinion may be more vulnerable to arguments of this kind. These forces are too strong to be completely excluded from China’s policy making; expect some provocative push back.
| Tôi cho rằng con đường này sẽ dẫn đến tình trạng bế tắt về mặt chiến lược của Trung Quốc, các nhà ngoại giao Trung Quốc có quá nhiều kinh nghiệm và am hiểu để khỏi bị dẫn vào con đường này. Giới quân đội và luồng dư luận của những người theo chủ nghĩa dân tộc có thể rất dễ bị dẫn vào con đường nói trên. Lực lượng này quá mạnh, không thể bị loại trừ hoàn toàn ra khỏi quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc; [cho nên Mỹ hãy] đợi một số trả đũa quá khích [từ Trung Quốc].
|
| The US has won the first round, but the game has just begun. The Obama administration and its successors will now have to deal with a long term contest against the world’s most populous country and the world’s most rapidly developing economy. The Obama administration may not have fully counted the costs of the new Asian hard line; for one thing, it is hard to see significant cuts coming in defense spending after we have challenged China to a contest over the future of Asia. It’s possible that less drama now might have made America’s point as effectively while reducing the chance of Chinese push back, but there is not a lot of point in debating that now.
| Mỹ đã thắng hiệp đầu tiên, nhưng cuộc chơi chỉ mới bắt đầu. [Từ nay trở đi,] chính quyền Obama và những người kế nhiệm sẽ phải giải quyết một cuộc đấu lâu dài, đương đầu với một đất nước đông dân nhất thế giới và một nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Chính quyền Obama có thể đã không tính hết mọi phí tổn cho đường lối cứng rắn mới thực hiện ở Châu Á. Một điều là thật khó thấy được những khoản cắt giảm đáng kể sắp tới trong chi tiêu quốc phòng sau khi chúng ta đã thách thức Trung Quốc bước vào trận đấu liên quan đến tương lai Châu Á. Có thể hiện giờ không có nhiều sự kiện để củng cố luận điểm của Mỹ một cách hiệu quả trong khi giảm bớt khả năng lôi kéo của Trung Quốc, nhưng không có nhiều vấn đề để tranh luận vào lúc này.
|
| Given where things now stand, follow through will be as important as the first steps; the US must now try to make it as easy as possible for China to accept a situation that, in the short to medium term at least, it cannot change. | Căn cứ vào thế trận hiện tại, việc [Mỹ] thực hiện triệt để chiến lược đề ra sẽ có tầm quan trọng không kém những bước đầu tiên; giờ là lúc Mỹ phải cố gắng tác động tình hình sao cho thuận lợi để Trung Quốc chấp nhận một thực trạng rằng, ít nhất trong ngắn hạn đến trung hạn, Trung Quốc không thể thay đổi được gì.
|
| The American Interest | Translated by Nguyen Tam |
| http://blogs.the-american-interest.com/wrm/2011/11/19/softly-softly-beijing-turns-other-cheek-for-now/ | |
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, November 27, 2011
Softly, Softly: Beijing Turns Other Cheek — For Now Tình hình châu Á: Bắc Kinh hiện tỏ ra nhịn nhục
Saturday, November 26, 2011
The Ten Commandments Mười Điều Răn
The Ten Commandments
| Mười Điều Răn
|
| And God spoke all these words: “I am the Lord your God, who brought you out of Egypt, out of the land of slavery. You shall have no other gods before me.
| Và Chúa Trời đã nói toàn bộ những lời sau: “Ta là Chúa, Đức Chúa Trời của con, người đã đưa con ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi mảnh đất nô lệ. Trước ta, con đừng công nhận bất kỳ thánh thần nào khác.
|
| You shall not make for yourself an idol in the form of anything that is in heaven above or on the earth beneath or in the water below. You shall not bow down to them or worship them; for I, the Lord your God, am a jealous God, punishing the children for the sin of the fathers to the third and the fourth generation of those who hate me, but showing love to a thousand generations of those who love me and keep my commandments.
| Con đừng dựng tượng theo hình bất kỳ vật gì trên trời hay dưới đất hay trong nước. Con đừng quỳ lạy những hình tượng như vậy, cũng đừng thờ phụng các tượng ấy; vì ta, Chúa, Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời cả ghen, trừng phạt đến ba bốn đời con cháu vì tội lỗi của cha ông đối với những kẻ ghét ta, nhưng cũng thể hiện tình yêu đến ngàn đời đối với những người yêu ta và giữ theo các điều răn của ta.
|
| You shall not misuse of the name of the Lord your God, for the Lord will not hold anyone guiltless who misuses his name.
| Con đừng dùng tên Chúa, Đức Chúa Trời của con sai mục đích; vì Chúa sẽ không bỏ qua cho người nào dùng tên của Ngài sai mục đích.
|
| Remember the Sabbath day by keeping it holy. Six days you shall labour and do all your work, but the seventh day is a Sabbath to the Lord your God. On it you shall not do any work, neither you, nor your son or your daughter, nor your manservant or maidservant, nor your animals, nor the alien within your gates. For in six days the Lord made the heaven and the earth, the sea, and all that is in them, but rested the seventh day. Therefore the Lord blessed the Sabbath day and made it holy.
| Hãy nhớ ngày Sabbath bằng cách xem đó là ngày thánh. Trong sáu ngày con sẽ lao động và làm mọi việc của mình, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sabbath để thờ phụng Chúa, Đức Chúa Trời của con. Vào ngày này, con đừng làm bất kỳ việc gì, con, con trai, con gái của con, đầy tớ trai và gái của con, súc vật của con, cũng như người lạ nào đó đang ở trong nhà con đều sẽ không làm việc. Vì trong sáu ngày, Chúa đã tạo nên thiên đường, mặt đất, biển và mọi thứ trên và trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Do đó Chúa đã ban phúc cho ngày Sabbath và giữ ngày này làm ngày thánh.
|
| Honour your father and your mother, so that you might live long in the land the Lord your God is giving you. You shall not murder. You shall not commit adultery. You shall not steal. You shall not bear false testimony against your neighbour.
| Hãy hiếu kính cha mẹ con để con có thể được sống lâu trên mảnh đất mà Chúa, Đức Chúa Trời của con đang dành cho con. Con đừng giết người. Con đừng phạm tội tà dâm. Con đừng trộm cướp. Con đừng làm chứng sai gây hại cho người xung quanh mình.
|
| You shall not covet your neighbour’s house. You shall not covet your neighbour’s wife, or manservant or maidservant, his ox or donkey, or anything that belongs to your neighbour.”
| Con đừng ham muốn nhà của người xung quanh mình. Con đừng ham muốn vợ của người xung quanh mình, đầy tớ trai hay gái, bò hay lừa, hay bất kỳ vật gì thuộc về người xung quanh mình.”
|
| (From Holy Bible, New International Version published by International Bible Society, 1984)
| Translated by Ngô Quỳnh Linh dịch
|
BEFORE THE NEXT TEARDROPS FALL – TRƯỚC KHI GIỌT LỆ RƠI - FREDDY FENDER
If he brings you happiness
Then i wish you all the best
It’s your happiness that matters most of all
But if he ever breaks your heart
If the teardrops ever start
I’ll be there before the next teardrop falls
Si te quire de verdad
Y te da felicidad
Te deseo lo mas bueno pa’los dos
Pero si te hace llorar
A mime puedes hablar
Y estare contigo cuando treste estas
I’ll be there anytime
You need me by your side
To drive away every teardrop that you cried
And if he ever leaves you blue
Just remember, I love you
And I’ll be there before the next teardrop falls
And I’ll be there before the next teardrop falls
Family vows to live for dying boys Gia đình nguyện sống cho những đứa con…
| Family vows to live for dying boys
| Gia đình nguyện sống cho những đứa con sắp…
|
|
|
|
| Love, marriage and a family! That was our dream, and we believed it came true.
Our family began August 23, 2006 with an amazing little boy, Jason Jeffrey, and then came our little prince Justin Jay, on February 25, 2009. These two little boys became our new love, a joy completely unimaginable. We hugged, kissed, played, read, giggled, tickled, and celebrated life like a normal family. Our perfect family, living out our dream, so we thought!
| Tình yêu, hôn nhân và gia đình!. Đó là giấc mơ của chúng tôi và chúng tôi đã tin rằng nó đã thành sự thật.
Gia đình của chúng tôi bắt đầu vào ngày 23 tháng 6 năm 2006, ngày mà chúng tôi chào đón cậu con trai bé nhỏ tuyệt vời, Jason Jeffrey và sau đó là chàng hoàng tử xinh xắn Justin Jay, ngày 25 tháng 1 năm 2009. Hai đứa con bé bỏng trở thành tình yêu mới của chúng tôi, một niềm vui hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi. Chúng tôi cùng bồng bế, hôn hít, chơi đùa với nhau, đọc sách cho nhau nghe, cười đùa, cù nhau, cùng kỉ niệm các ngày lễ trong đời như bao gia đình bình thường khác. Gia đình hoàn hảo của chúng tôi, sống thật giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi tưởng thế.
|
| January 2011 our normal life became anything but. Our dream turned into the worst possible nightmare a parent could have. We received news that shattered our family as well as our life long dreams. Our perfect little boys were diagnosed with an extremely rare and fatal genetic disease known as mucopolysaccharidoses-2, also known as MPS II or Hunter‘s syndrome.
| Tháng 1 năm 2011, cuộc sống của chúng tôi trở lên hoàn toàn không bình thường nữa. Giấc mơ của chúng tôi đã bị biến thành một cơn ác mộng tồi tệ nhất mà một người cha, người mẹ có thể phải trải qua. Chúng tôi nhận được hung tin đã đập vỡ gia đình tôi và cả giấc mơ một đời của chúng tôi. Hai đứa con trai bé bỏng tuyệt vời của chúng tôi đều được chẩn đoán là bị một căn bệnh di truyền chết người cực kỳ hiếm hoi, tên là mucopolysaccharidoses-2, còn gọi là MPS II hay Hội chứng Hunter
|
| How could this be? How could both our sons have this fatal disease? Questions and fears ran rapid through our household!
| Điều này là thế nào? Làm sao mà cả hai đứa con trai tôi lại mắc phải căn bệnh chết người này?. Những câu hỏi, những nỗi sợ hãi cứ lan nhanh trong gia đình.
|
| “Why us?” “ Why them?” “How could this be happening to our little boys?” “Why can’t life “let them be little?” “How do we LIVE?” “Is this really happening?” “How many good years do we have left?” …and of course:
| “Tại sao lại là chúng ta ?” “Tại sao lại là con chúng ta?” “ Làm sao mà điều này lại xảy ra với những đứa con bé bỏng của tôi được chứ”. “Tại sao cuộc đời không để chúng mãi mãi ‘bé bỏng như thế” « Chúng tôi phải SỐNG thế nào đây? » “Có phải điều này đang thực sự diễn ra không?” “Chúng tôi còn lại bao nhiêu năm tháng hạnh phúc nữa?” …và dĩ nhiên
|
| “How do we possibly even think of our life WITHOUT these little guys?” Our world has been turned upside down. We no longer have the freedom to allow our 2- and 4-year-olds to just be little boys. Their lives have become doctor visit after doctor visit, MRIs, blood tests, surgeries, weekly four-hour IV treatments, going to the hospital, physical-speech- and occupational therapies, visits to North Carolina Medical Center every six months, and countless checkups, while we constantly seek family support and help with our 6-month-old little girl .
| “Làm sao chúng tôi có thể nghĩ về cuộc sống của chúng tôi mà KHÔNG CÓ những chàng trai bé nhỏ kia?” Thế giới của chúng tôi bị đảo lộn. Chúng tôi không còn được tự do để cho đứa con 2 tuổi và 4 tuổi của mình chỉ là những đứa trẻ nữa. Cuộc sống của chúng là cứ đến bác sĩ rồi lại đến bác sĩ, chụp ảnh MRI, những cuộc thử máu, phẫu thuật, điều trị bằng IV (bơm thuốc trực tiếp vào huyết quản) 4 giờ mỗi tuần, đến bệnh viện, tập cử động- nói – và—sinh hoạt, đến Trung tâm y tế Bắc Carolina 6 tháng một lần, và vô số những cuộc kiểm tra khác, trong khi đó chúng tôi liên tục phải tìm kiếm sự hỗ trợ và giúp đỡ của gia đình để chăm sóc dùm đứa con gái mới 6 tháng tuổi.
|
| As parents you would think hearing the words “your boys hopefully will live to age 15” is the worst, but what leaves us unable to breathe is having to sit back and wait for the days Justin and Jason’s brain and body parts deteriorate so significantly they will lose all communication, and the ability to walk. The most horrific thing is the boys not being able to recognize their surroundings and ultimately not know who their mommy, daddy, and baby sister are anymore. That is what we consider just unbearable. This waiting game has left our family’s lives in complete turmoil.
| Là cha mẹ, chắc hẳn bạn sẽ nghĩ rằng, khi nghe những từ như “Cả hai đứa con trai của anh chị hy vọng là sẽ sống đến 15 tuổi” đã là điều kinh khủng nhất, nhưng những gì làm cho chúng tôi còn không thể thở nổi là cứ phải ngồi yên và đợi cái ngày mà não của Justin và Jason và cả cơ thể của chúng trở lên suy yếu đến mức chúng sẽ không còn khả năng giao tiếp và đi lại nữa. Điều khủng khiếp nhất là, những đứa con trai của chúng tôi, chúng sẽ không thể nhận ra những gì xung quanh chúng và cuối cùng là không thể nhận biết được ai là cha, là mẹ, là em gái của mình. Đó là điều làm cho chứng tôi không thể chịu nổi. Trò chơi đợi chờ này đã đẩy cuộc sống của chúng tôi vào một trạng thái rối ren hoàn toàn.
|
| Our hopes and dreams for our little boys’ future no longer exist. Jason, our super sensitive, lovey gushy, huggy mush, who loves baseball, fire trucks, and playing Dr. Jason, we thought – maybe a firefighter, possibly a baseball player, maybe a compassionate doctor – Justin our busy boy, never sitting still, always investigating how things work with a devilish smile…another baseball junkie who pushes cars all around the house…maybe an engineer, a scientist, who knows – maybe even a race car driver! All those dreams for our little guys’ success has come to an end.
| Niềm hy vọng và giấc mơ của chúng tôi về tương lai của những đứa con trai của mình không còn nữa. Jason, một thằng bé quá đỗi nhạy cảm, yêu ồ ạt ôm xiết mạnh bạo, thích bóng chày, xe cứu hỏa và chơi trò bác sĩ Jason, chúng tôi đã từng nghĩ, có thế nó sẽ trở thành một lính cứu hỏa, một cầu thủ, hay cũng có thể là một một bác sĩ giàu tình thương- Còn Justin, đứa con trai luôn luôn bận rộn của chúng tôi chưa bao giờ chịu ngồi yên một chỗ, luôn luôn muốn khám phá, tìm hiểu xem mọi thứ hoạt động thế nào với nụ cười tinh quái trên môi, là một kẻ nghiện bóng chày nữa, lúc nào cũng đẩy những chiếc ô tô đồ chơi quanh nhà, có thể sẽ trở thành một kĩ sư, một nhà khoa học, ai biết được, cũng có thể là một tay đua xe. Tất cả những giấc mơ về sự thành công của những đứa con của tôi đã hết thật rồi.
|
| We no longer have time for dreams of what Jason and Justin will grow to be. Now, we place all our effort into keeping our little angels on earth, as protected, pain-free, and comfortable as possible for the remainder of their shortened life expectancy. Constantly worried about how to make what is left of our children’s lives an incredible magical experience! Why can’t life “JUST LET THEM BE LITTLE?”
| Chúng tôi không còn thời gian để mơ chuyện Jason và Justin lớn lên sẽ làm gì. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn biết dốc toàn bộ sự cố gắng của mình để những thiên thần nhỏ bé kia khi ở trên trái đất này được bảo vệ, không phải chịu đau đớn và cảm thấy thoải mái càng nhiều càng tốt trong phần còn lại của cuộc đời ngắn ngủi của chúng. Nỗi lo lắng khôn nguôi của chúng tôi là làm thế nào để những ngày tháng còn lại của cuộc đời những con trai tôi trở thành những kỉ niệm tuyệt vời nhất. Tại sao cuộc đời không thể “ĐỂ CHÚNG LUÔN LÀ TRẺ THƠ?”
|
| How it all began:
Married, have two beautiful, energetic, little boys, a home filled with love and laughter, and are expecting a third child. You can’t help but think life is such a wonderful JOURNEY.
| Sự việc bắt đầu như thế nào?
Lấy chồng, có hai cậu con trai kháu khỉnh, đẹp trai, năng động, một ngôi nhà tràn ngập tình yêu, tiếng cười và đang chờ đợi đứa con thứ 3 chào đời. Bạn không thể không nghĩ rằng cuộc đời giống như một cuộc HÀNH TRÌNH tuyệt vời.
|
| The phone rings one morning, it is your eldest son Jason’s preschool teacher. The basis of the phone call: The teacher’s concern with Jason’s performance and ability compared to other children his age. Trying desperately to help your little boy, you attend numerous appointments, being sent from one type of doctor to another. Then finally, one afternoon you reach the Doctor who knows what’s wrong. EXCEPT you are informed that your first born little angel has MPS, a rare genetic disease that has devastating effects on children, and a shortened life expectancy.
| Chuông điện thoại reo vào một buổi sáng, đó là điện thoại của giáo viên lớp vườn trẻ của đứa con trai lớn. Nội dung cơ bản của cuộc gọi đó là sự lo lắng của giáo viên về sức học và khả năng của Jason so với những đứa trẻ cùng tuổi khác. Cố gắng một cách tuyệt vọng để giúp đứa con trai bé nhỏ, bạn gặp rất nhiều bác sĩ, bị gửi đến hết bác sĩ này rồi lại bác sĩ. Để rồi cuối cùng thì, vào một buổi chiều bạn cũng gặp được một bác sĩ biết bệnh gì. NHƯNG bạn được thông báo, đứa con trai lớn của bạn bị nhiễm MPS, một căn bệnh thuộc gen di truyền hiếm gặp, có những tác động hủy hoại đến cơ thể của trẻ em và chúng có tuổi thọ rất ngắn.
|
| You listen to the doctor describe the disease – the effects, the outcomes – in absolute horror and disbelief. We sat there waiting for the but, or to hear something positive, but that was not the case, it just got worse and worse. We listened to the symptoms, our hearts breaking into a million pieces, not our Jason. How could this be? And as we sat and listened to more horrific details our hearts just crumbled knowing Justin, our second little love, looks exactly like Jason and has the same symptoms, oh god! Not both of them! What do we do; the waiting was unbearable.
| Bạn nghe bác sĩ mô tả về căn bệnh –những tác động, hậu quả của nó- mà thấy thật hoàn toàn khủng khiếp và không thể tin nổi. Bạn ngồi đó và đợi một chữ “nhưng” nào đó, hoặc nghe những thứ lạc quan hơn, nhưng chẳng có gì, thông tin càng lúc càng trở lên tồi tệ hơn. Nghe về những triệu chứng của bệnh, tim bạn như vỡ ra làm triệu mảnh, không thể là Jason được. Điều này là thế nào đây?. Và khi ngồi xuống để nghe cụ thể về những điều khủng khiếp hơn, tim chúng tôi vỡ vụn khi biết rằng Justin, cục cưng thứ hai của chúng tôi, trông giống hệt anh trai Jason của nó cũng có những triệu chứng tương tự. Ôi, Chúa ơi!. Không thể là cả hai đứa được. Chúng tôi phải làm gì đây, đợi chờ là thứ không thể chịu đựng được.
|
| Imagine: You take your little frightened 4-year-old in for multiple blood tests to determine what type of the this MPS disease he has, hoping and praying it is MPS I, a more treatable and possibly curable form of the disease. Your hopes are shattered when the results come back as negative for MPS I. After a series of more blood work, the results come back as positive for MPS II, a more degenerative form of the disease, affecting only boys, that has no known cure, and a life expectancy of 10 to 15 years of age. No cure! Life expectancy! Possibly eight good years! Unimaginable and unexplainable is the pain.
| Hãy tưởng tượng: Bạn đem đứa con trai nhỏ bé, hoảng sợ của mình đến bệnh viện cho biết bao các cuộc thử máu để xác định xem nó bị nhiễm loại nào của bệnh MPS, hy vọng và cầu nguyện đó là MPS I- dạng có thể điều trị và có khả năng chữa khỏi nhiều hơn. Niểm hy vọng ấy cũng trở lên tan tành mây khói khi kết quả xét nghiệm là âm tính với MPS I. Sau hàng loạt các cuộc thử máu nữa, kết quả đưa lại là dương tính với MPS II, một dạng suy biến của MPS, chỉ tác động đến những bé trai, không có cách chữa trị và tuổi thọ là từ 10-15 tuổi. Không chữa được. Tuổi thọ! Ước tính đời sống ! Có thể là 8 năm nữa!. Một nỗi đau không thể tượng tượng nổi và không thể giãi bày được.
|
| Imagine, you eldest son is 4 years old. Two weeks from having your third child, of which you do not know the sex, your youngest son is tested (our hearts told us Justin had it too), and the results come back as positive for MPS II as well. Your youngest son turns 2 years old the very next day.
| Hãy tưởng tượng, đứa con trai lớn của bạn chỉ 4 tuổi. Hai tuần trước khi bạn có đứa con thứ 3 mà vẫn chưa biết giới tính của nó thì đứa con trai thứ 2 được mang đi kiểm tra (trái tim mách bảo chúng tôi rằng Justin cũng bị bệnh đó), và kết quả cũng là dương tính với MPS II. Đứa con trai nhỏ nhất của bạn sẽ bước sang tuổi thứ hai chỉ trong vài ngày nữa.
|
| Trying to remain calm for your unborn child, for your sons, and your husband, you attempt to go about life as normally as possible. You go to work, do the laundry, drive to preschool, clean the house, serve meals, make the children’s beds, essentially manage a life and take care of a house now filled with ruined hopes and dreams, filled with memories of innocence and youth, the walls covered in pictures of happy moments. You sit down and think, how many more of these moments will we have? You find yourself crying uncontrollably.
| Cố gắng thật bình tĩnh vì đứa con chưa sinh, vì hai đứa con trai, và vì chồng bạn, bạn cố gắng đi tiếp cuộc đời một cách bình thường nhất có thể. Bạn đi làm, giặt quần áo, lái xe đến trường vườn trẻ, lau nhà cửa, dọn bữa, chuẩn bị giường ngủ cho các con, về cơ bản bạn thu vén được cuộc sống và chăm lo cho ngôi nhà mà giờ đây chỉ đầy những niềm hy vọng và những giấc mơ tan tành, chỉ đầy những kỉ niệm của ngây thơ và tuổi trẻ, của những bức tường treo đầy những tấm ảnh của những giây phút hạnh phúc. Bạn ngồi xuống và nghĩ, còn có thêm được bao nhiêu những khoảnh khắc như thế nữa?. Bạn thấy mình khóc mà không sao kiềm lại được.
|
| Jason Jeffrey, 4, Justin Jay, 2, and along the medical-emotional roller coaster is baby sister Jordan Kenna, 6 months; they now have a life that consists of a series of routine doctor appointments and six-month visits to the University of North Carolina Medical Center. Why UNC Medical Center? This is where the renowned MPS expert Dr. Joseph Muenzer is based. After a long meeting with Dr. Muenzer, he had requested that we bring Jason and Justin down to UNC every six months to evaluate progression or regression of the disease. Dr. Helio Pedro, Chief geneticist out of Hackensack University Medical Center, sees the boys weekly for their the four-hour intravenous Enzyme Replacement Therapy. The purpose behind the treatments is to reduce the swelling and destruction of internal organs, but cannot help the brain, which ultimately will stop functioning correctly, and shut the body down.
| Jason Jeffrey, 4 tuổi và Justin Jay, 2 tuổi, và đi theo những chuyến xe nhào lộn tình cảm là đứa em gái Jordan Kenna 6 tháng tuổi, chúng bây giờ có cuộc sống bao gồm hàng loạt các cuộc thăm bác sĩ thường xuyên và những chuyến đi 6 tháng một lần đến Trung tâm Y tế Đại học Bắc Carolina. Tại sao lại là Trung tâm Y tế Đại học Bắc Carolina?. Vì đây là nơi chuyên gia lừng danh Dr. Joseph Muenzer làm việc. Sau một hồi lâu trò chuyện với bác sĩ Muenzer, ông đã yêu cầu chúng tôi mang bé Jason và Justin xuống đây định kì 6 tháng để trung tâm đánh giá sự tiến triển hoặc suy giảm của bệnh. Bác sĩ Helio Pedro, trưởng nhóm các nhà di truyền học của Trung tâm Y tế Đại học Hackensack, sẽ gặp hai đứa trẻ mỗi tuần để trị liệu thay thế enzyme bằng IV trong 4 giờ. Mục đích điều trị là để giảm sưng và giảm tình trạng bị hủy hoại của các bộ phận bên trong cơ thể, nhưng cũng không thể giúp gì được cho não, bộ phận mà cuối cùng thì cũng ngừng chức năng hoạt động của nó và đóng cửa toàn bộ cơ thể.
|
| Our once normal life has become anything but: Every day is heart-breaking, dream-shattering, emotionally draining, and the watching and waiting is unbearable… a life I hope no other parent should ever have to experience. But we have to LIVE. Live for our little boys, and baby girl!
| Cuộc sống bình thường của chúng tôi hoàn toàn không còn nữa. Mỗi ngày đều là đau đớn, đập nát giấc mơ, suy kiệt cảm xúc, đứng nhìn và đợi chờ là những thứ không thể chịu được…một cuộc đời mà tôi hy vọng rằng không có cha mẹ nào phải trải qua. Nhưng chúng tôi phải SỐNG. Sống cho hai đứa con trai, cho đứa con gái bé bỏng của chúng tôi!
|
| We vow to give them the most love and joy we possibly could squeeze into the short period of time we have left on earth with them, to do everything possible to bring smiles to their beautifully innocent faces NOW, leaving Mommy, Daddy, Jordan Kenna and the rest of Jason and Justin’s loved ones with MAGICAL MEMORIES to hold on to as we someday face the challenge of surviving without them.
| Chúng tôi thề sẽ cho chúng tình yêu và niềm vui nhiều nhất có thể dồn vào quãng thời gian ngắn ngủi mà chúng tôi có với nhau trên trái đất này, chúng tôi thề sẽ làm mọi thứ có thể để mang lại nụ cười cho những khuôn mặt ngây thơ xinh đẹp kia NGAY BÂY GIỜ, để cho mẹ, cha, em gái Jordan Kenna và những người thân còn lại của chúng những kí ức tuyệt vời còn giữ lại khi một ngày nào đó chúng tôi phải đối mặt với sự sống mà không có chúng.
|
| CHERISH EVERY MOMENT!!!! Our Journey Continues! | Trân Quý từng khoảnh khắc!!! Hành trình của chúng tôi vẫn tiếp tục!
|
|
| Translated by Nguyễn Thị Thảo |
| http://thechart.blogs.cnn.com/2011/09/06/human-factor-family-vows-to-live-for-dying-boys/ | |
To my little sports----love always DADDY
JASON,JUSTIN-DADDY IS SO PROUD OF YOU AND YOU WILL BE SAFE IN DADDYS ARMS FOREVER ! GO TEAM !
LOVE DADDY
March 18, 2011 1:36 PM
Jason , Justin - Daddy is so proud of you ! Each and everyday I love you more and more. Words cannot express how much I love you and till the end of time I will hold you in my arms forever! And when that horrible day comes just remember one thing, how proud you made daddy and you always will be daddys boys. I LOVE YOU !!!!
XoXo from Mommy
Mommy on March 18, 2011 5:07 PM
Dear Jason & Justin (my little kissaroos),
Mommy prays every minute of every day that you will be with us long enough to know how much we truly love you!! What I have wanted most in life was to become a mom, and I was absolutely blessed with you two beautiful angels. My little guys, words can even begin to express the love I have for you both and how you make me feel everyday of your precious little lives. I love how you are ALWAYS happy and lauging with those infectious little giggles, it warms my heart. The things you guys do and say bring joy and laughter to our house. The stories we tell every night, the tons of " I love yous" we utter throughout our day, the silly faces we make, songs we sing, and games we play bring a smile to my face. All of your hugs, pats on the back, snuggles, and kisses are what makes you boys the loves of my life. I cherish all these things we share and more!!! You boys bring a joy to my life, put a sparkle in my eye, and best of all you make me smile. I will always hold on to these amazing memories we are making, and want you to know I am with you now and will always be with you to love and keep you safe. and EVERY day for the rest of my life I PROMISE, like you make me do every night, to dream about you both. You two are the best thing to ever happen to me, and your innocence and bravery through this makes me so proud and gives me the strength to carry on.
Jason & Justin you are two amazing little boys and I am so happy you are ours.
Loving you forever,
Your Kissaroo,
MOMMY
History of White Cane Safety Day Lịch sử Ngày Cây Gậy Trắng
|
| |
| History of White Cane Safety Day
| Lịch sử Ngày Cây Gậy Trắng |
| By Philip Strong | Philip Strong |
| AMERICAN COUNCIL OF THE BLIND www.acb.org
|
|
| The white cane is not just a tool that can be used to achieve independence; it is also a symbol of the blind citizens in our society. To honor the many achievements of blind and visually impaired Americans and to recognize the white cane’s significance in advancing independence, we observe October 15 of each year as “White Cane Safety Day.” Today, the white cane works both, as a tool for the blind as well as a symbol, but this has not always been the case.
| Cây Gậy Trắng không chỉ là một công cụ có thể dùng để đạt được sự tự lập; nó còn là biểu tượng của người công dân khiếm thị trong xã hội chúng ta. Để tôn vinh biết bao thành đạt của những người Mỹ khiếm thị và để nhìn nhận ý nghĩa của cây gậy trắng trong việc thúc đẩy tinh thần tự lập, chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười hàng năm là “Ngày Cây Gậy Trắng.” Ngày nay cây gậy trắng vừa là công cụ cho người khiếm thị vừa là biểu tượng của người khiếm thị, thế nhưng ngày xưa thì không phải như thế.
|
| Throughout history, the cane, staff, and stick have existed as traveling aids for the blind and visually impaired. Dating back to biblical times records show that a shepherd’s staff was used as a tool for solitary travel. The blind used such tools to alert them to obstacles in their path.
| Xuyên suốt dòng lịch sử các loại gậy đã tồn tại như một công cụ hỗ trợ đi lại cho người khiếm thị. Các ghi chép từ thời Kinh Thánh cho thấy cây gậy của người chăn chiên đã được dùng như một công cụ hữu hiệu trong những chuyến bộ hành đơn độc. Người khiếm thị đã dùng gậy để dò những chướng ngại trên đường đi.
|
| For centuries, the “cane” was used merely as a tool for travel and it was not until the twentieth century that the cane, as we know it today, was promoted for use by the blind as a symbol to alert others to the fact that an individual was blind.
| Suốt nhiều thế kỷ, “cây gậy” chỉ được dùng làm công cụ đi lại. Mãi tới thế kỷ 20 và cho đến hiện nay, cây gậy mới được khuyến khích cho người khiếm thị sử dụng như một dấu hiệu để báo cho người khác biết sự hiện diện của mình.
|
| This new role for the white cane had its origins in the decades between the two World Wars, beginning in Europe and then spreading to North America. James Biggs of Bristol claimed to have invented the white cane in 1921. After an accident claimed his sight, the artist had to readjust to his environment.
| Vai trò mới của cây gậy trắng bắt nguồn vào những thập niên giữa hai cuộc Thế chiến, khởi đầu ở châu Âu rồi lan tới Bắc Mỹ. James Biggs quê ở Bristol (nước Anh) cho rằng ông là người đã sáng kiến ra cây gậy trắng vào năm 1921. Sau một tai nạn đã tước mất thị giác của ông, nhiếp ảnh gia này đã phải thích nghi với môi trường sống của mình.
|
| Feeling threatened by increased motor vehicle traffic around his home, Biggs decided to paint his walking stick white to make himself more visible to motorists.
| Do cảm thấy bị đe doạ về lượng xe cộ gia tăng quanh nhà mình, Biggs quyết định sơn trắng cây gậy của ông để những người lái xe có thể trông thấy ông rõ hơn. |
| It was not however until ten years later the white cane established its presence in society. In February 1931, Guilly d’Herbemont launched a scheme for a national white stick movement for blind people in France. The campaign was reported in British newspapers leading to a similar scheme being sponsored by rotary clubs throughout the United Kingdom. In May 1931 the BBC suggested in its radio broadcasts that blind individuals might be provided with a white stick, which would become universally recognized as a symbol indicating that somebody was blind or visually impaired. In North America the introduction of the white cane has been attributed to the Lion’s Clubs International. In 1930, a Lion’s Club member watched as a blind man attempted to make his way across a busy street using a black cane. With the realization that the black cane was barely visible to motorists, the Lion’s Club decided to paint the cane white to increase its visibility to oncoming motorists. In 1931, the Lion’s Club International began a national program promoting the use of white canes for persons who are blind Throughout the 1920s and 1930s, blind persons had walked with their canes held diagonally in a fixed position, and the role of the white cane took on a symbolic role as an identifier. But when the blind veterans of World War II returned to America, the form and the use of the white cane was further altered in an attempt to help return veterans to participatory lifestyles at home. Doctor Richard Hoover developed the “long cane” or “Hoover” method of cane travel. These white canes are designed to be used as mobility devices and returned the cane to its original role as a tool for mobility, but maintained the symbolic role as an identifier of blind independence.
| Tuy nhiên phải mất mười năm sau cây gậy trắng mới khẳng định được sự hiện diện của mình trong xã hội. Tháng Giêng năm 1931, Guilly d’Herbemont đã phát động một kế hoạch nhằm mở ra phong trào cây gậy trắng khắp nước Pháp dành cho người khiếm thị. Chiến dịch ấy được các báo của Anh tường thuật và đã dẫn tới một kế hoạch tương tự khắp Vương quốc Anh do Hiệp Hội Các Doanh Nhân tài trợ. Tháng Năm năm 1931, trong các chương trình phát thanh, đài BBC đã đề nghị cấp gậy trắng cho những người khiếm thị, để Cây gậy trắng được công nhận rộng rãi như một biểu tượng cho biết một ai đó là người khiếm thị. Tại Bắc Mỹ việc du nhập cây gậy trắng được quy cho Hiệp Hội Quốc Tế Lion. Năm 1930, một thành viên của Hiệp Hội Lion đã quan sát một người đàn ông khiếm thị sử dụng cây gậy màu đen đang cố băng qua một con đường nhiều xe cộ. Nhận thấy gậy màu đen rất khó để người lái xe thấy được, Hiệp Hội Lion đã quyết định sơn gậy màu trắng để các tài xế đang lái xe có thể nhìn thấy nó rõ hơn. Năm 1931, Hiệp Hội Quốc Tế Lion khởi xướng một chương trình quốc gia nhằm cổ vũ người khiếm thị sử dụng cây gậy trắng. Suốt hai thập niên 1920 và 1930, người khiếm thị đã đi với cây gậy được cầm chéo đúng tư thế, và cây gậy trắng bắt đầu mang tính biểu tượng của một sự nhận dạng. Khi các cựu chiến binh khiếm thị của Thế chiến II trở về Mỹ, kiểu dáng và cách sử dụng cây gậy trắng được cải tiến trong nỗ lự tạo cơ hội cho các cựu chiến binh tham gia vào cuộc sống đời thường tại quê nhà. Tiến sĩ Richard Hoover đã phát triển “cây gậy dài” hay còn gọi là “Phương pháp đi gậy của Hoover”. Những cây gậy trắng này được thiết kế để sử dụng như một thiết bị đi lại và đưa cây gậy trở về với vai trò ban đầu là một công cụ để di chuyển, nhưng vẫn duy trì vai trò biểu tượng của nó như một sự minh định tính tự lập của người khiếm thị.
|
| During this period, the white cane began to make its way into government policy as a symbol for the blind.
| Trong suốt thời kỳ này, cây gậy trắng bắt đầu được đưa vào chính sách của chính phủ như một biểu tượng của người khiếm thị.
|
| The first special White Cane Ordinance was passed in December 1930 in Peoria, Illinois. It granted blind pedestrians protections and the right-of-way while carrying a white cane. In 1935, Michigan began promoting the white cane as a visible symbol for the blind. On February 25, 1936, ordinance was passed for the City of Detroit recognizing the white cane. To promote the new ordinance, a demonstration was held at City Hall where the blind and visually impaired were presented with white canes. The following year, Donald Schuur wrote the provision of a bill and had it proposed in the State Legislature. The proposal gave the carrier of the White Cane protection while traveling on the streets of Michigan. Governor Frank Murphy signed the bill into law in March 1937.
| Sắc lệnh Cây Gậy Trắng đầu tiên được thông qua vào tháng Mười hai năm 1930 tại Peoria, Illinois. Nhờ đó người khiếm thị nào sử dụng cây gậy trắng để đi lại đều nhận được sự bảo vệ và nhường đường. Năm 1935, Michigan bắt đầu nâng cây gậy trắng lên làm biểu tượng của người khiếm thị. Ngày 25 tháng Hai năm 1936, một sắc lệnh được thông qua để thành phố Detroit thừa nhận cây gậy trắng. Để ủng hộ sắc lệnh mới này, một cuộc biểu tình được tổ chức ở Toà Thị Chính nơi người khiếm thị được trao tặng gậy trắng. Năm sau, Donald Schuur đã soạn một dự luật và đệ trình lên Cơ quan Lập pháp của tiểu Bang. Đề nghị đó đã đem lại cho người mang Gậy Trắng sự che chở trong khi đi lại trên các đường phố ở Michigan. Thống đốc Frank Murphy đã ký thông qua luật này vào tháng Ba năm 1937.
|
| During the early 1960′s, several state organizations and rehabilitation agencies serving the blind and visually impaired citizens of the United States urged Congress to proclaim October 15 of each year to be White Cane Safety Day in all fifty states. This event marked a climatic moment in the long campaign of the organized blind movement to gain state as well as national recognition for the white cane. On October 6, 1964, a joint resolution of the Congress, HR 753, was signed into law authorizing the President of the United States to proclaim October 15 of each year as “White Cane Safety Day”. The resolution read “Resolved by the Senate and HR. that the President is hereby authorized to issue annually a proclamation designating October 15 as White Cane Safety Day and calling upon the people of the United States to observe such a day with appropriate ceremonies and activities.” | Trong những năm đầu thập niên 1960, một số tổ chức và cơ quan phục hồi chức năng của các tiểu bang chuyên phục vụ những công dân Mỹ khiếm thị đã hối thúc Quốc Hội công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng ở tất cả năm mươi tiểu bang. Sự kiện này đánh dấu giây phút đỉnh điểm trong chiến dịch lâu dài của phong trào người khiếm thị có tổ chức để giành được sự nhìn nhận của các tiểu bang cũng như của cả nước đối với cây gậy trắng. Ngày 6 tháng Mười năm 1964, một nghị quyết chung của Quốc Hội số HR 753 được ký kết thành luật uỷ quyền cho Tổng thống Mỹ để công bố ngày 15 tháng Mười hàng năm là “Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng”. Nghị quyết qui định:“Theo quyết định của Thượng viện và Hạ viện, mỗi năm Tổng Thống được trao quyền để công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, và kêu gọi dân chúng Mỹ cử hành ngày này bằng những nghi lễ và hoạt động phù hợp.”
|
| Within hours of passage of the congressional resolution, President Lyndon B. Johnson went down in history as the first to proclaim October 15, as White Cane Safety Day. The Presidential proclamation emphasized the significance of the use of the white cane as both a tool and as a visible symbol. In the first White Cane Proclamation President Johnson commended blind people for the growing spirit of independence and the increased determination to be self-reliant and dignified. He said in part: “A white cane in our society has become one of the symbols of a blind person’s ability to come and go on his own. Its use has promoted courtesy and opportunity for mobility of the blind on our streets and highways.”
| Vài tiếng đồng hồ sau khi quốc hội thông qua nghị quyết này, Tổng Thống Lyndon B. Johnson được ghi danh trong sử sách là người đầu tiên công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng. Lời công bố của Tổng thống nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng cây gậy trắng vừa là một công cụ vừa là một biểu tượng. Trong bài công bố đầu tiên về Cây Gậy Trắng, tổng thống Johnson đã ca ngợi người khiếm thị về tinh thần tự chủ và lòng quyết tâm ngày càng sống tự lập và xứng đáng với nhân phẩm. Ông nói: “Cây gậy trắng trong xã hội chúng ta đã trở thành một trong những biểu tượng nói lên khả năng tự đi lại của người khiếm thị. Việc sử dụng cây gậy làm tăng phong thái nhã nhặn cũng như cơ hội cho người khiếm thị di chuyển trên các đường phố của chúng ta.”
|
| During most years since 1964, the President has proclaimed October 15 as White Cane Safety Day.
| Trong hầu hết các năm kể từ năm 1964, các Tổng thống đã công bố ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng.
|
| On October 15, 2000, President Bill Clinton again reminded us of the history of the white cane as a tool, and its purpose as a symbol of blindness: “With proper training, people using the white cane can enjoy greater mobility and safety by determining the location of curbs, steps, uneven pavement, and other physical obstacles in their path. The white cane has given them the freedom to travel independently to their schools and workplaces and to participate more fully in the life of their communities. it reminds us that the only barriers against people with disabilities are discriminatory attitudes and practices that our society has too often placed in their way. As we observe White Cane Safety Day, 2001, let us recall the history of the white cane, its emergence as a tool and a symbol through history; a staff of independence. Let us also recall the events that have permitted us to celebrate October 15 as White Cane Safety Day.” | Ngày 15 tháng Mười năm 2000, Tổng thống Bill Clinton một lần nữa nhắc nhớ chúng ta về lịch sử của cây gậy trắng như một công cụ và như một biểu tượng của sự khiếm thị: “Được huấn luyện thích đáng, những người sử dụng cây gậy trắng có thể đi lại thoải mái và an toàn hơn nhờ dò biết được vị trí của lề đường, các bậc, các vỉa hè không bằng phẳng, và những chướng ngại khác trên đường đi. Cây gậy trắng đã mang lại cho họ sự tự tin để tự mình đi tới trường, tới nơi làm việc và tham gia đầy đủ hơn vào các sinh hoạt của cộng đồng. Nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng rào cản duy nhất đối với người khuyết tật chính là thái độ và thói quen kỳ thị mà xã hội chúng ta rất hay đặt trên đường đời của họ. Khi cử hành Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng, 2001, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của cây gậy trắng, nét nổi bật của nó như một công cụ và một biểu tượng xuyên suốt lịch sử; một cây gậy của sự tự chủ. Chúng ta cũng hãy hồi tưởng những sự kiện đã cho phép chúng ta mừng ngày 15 tháng Mười là Ngày An Toàn của Cây Gậy Trắng.”
|
|
| Translated by Mái Ấm Thiên Ân
|
| http://allafrica.com/stories/201110190651.html | |