MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, June 30, 2012

The Future of American Power TƯƠNG LAI CỦA SỨC MẠNH MỸ



The Future of American Power

TƯƠNG LAI CỦA SỨC MẠNH MỸ

By Joseph S. Nye Jr.
Foreign Affair Nov-Dec/2010
Joseph S. Nye Jr.
Foreign Affair 11-12/2010

Dominance and Decline in Perspective
Triển vọng thống soái hay suy thoái


The twenty-first century began with a very unequal distribution of power resources. With five percent of the world's population, the United States accounted for about a quarter of the world's economic output, was responsible for nearly half of global military expenditures, and had the most extensive cultural and educational soft-power resources. All this is still true, but the future of U.S. power is hotly debated. Many observers have interpreted the 2008 global financial crisis as the beginning of American decline. The National Intelligence Council, for example, has projected that in 2025, "the U.S. will remain the preeminent power, but that American dominance will be much diminished."


Thế kỷ 21 bắt đầu bằng một sự phân phối rất không đồng đều các nguồn lực sức mạnh. Với 5 phần trăm dân số thế giới, Mỹ chiếm khoảng một phần tư sản lượng kinh tế toàn cầu, chịu trách nhiệm đối với gần một nửa chi phí quân sự toàn cầu, và có các nguồn lực sức mạnh mềm văn hoá và giáo dục rộng lớn nhất. Tất cả điều này vẫn đúng, nhưng tương lai của sức mạnh Mỹ được tranh luận một cách sôi nổi. Nhiều nhà quan sát đã lý giải cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 như là khởi đầu cho sự suy đoán của Mỹ. Chẳng hạn, Hội đồng Tình báo quốc gia đã dự đoán rằng vào năm 2025, “Mỹ sẽ vẫn là cường quốc ưu việt, nhưng ưu thế đó của Mỹ sẽ bị giảm đi nhiều”.


Power is the ability to attain the outcomes one wants, and the resources that produce it vary in different contexts. Spain in the sixteenth century took advantage of its control of colonies and gold bullion, the Netherlands in the seventeenth century profited from trade and finance, France in the eighteenth century benefited from its large population and armies, and the United Kingdom in the nineteenth century derived power from its primacy in the Industrial Revolution and its navy. This century is marked by a burgeoning revolution in information technology and globalization, and to understand this revolution, certain pitfalls need to be avoided.

Sức mạnh là khả năng đạt được những kết quả mà người ta mong muốn, và các nguồn lực tạo ra nó thay đổi trong những bối cảnh khác nhau. Tây Ban Nha trong thế kỷ 16 đã tận dụng quyền kiểm soát của mình đối với các thuộc địa và váng nén, Hà Lan trong thế kỷ 17 đã hưởng lợi từ thương mại và tài chính, Pháp trong thế kỷ 18 đã hưởng lợi từ dân số và quân đội to lớn của mình, và Anh trong thế kỷ 19 đã tìm được sức mạnh từ sự ưu việt của mình trong Cách mạng Công nghiệp và hải quân của nước này. Thế kỷ này được đánh dấu bằng một cuộc cách mạng phát triển nhanh chóng trong công nghệ thông tin và toàn cầu hoá, và để hiểu cuộc cách mạng này, cần phải tránh một số cạm bẫy.


First, one must beware of misleading metaphors of organic decline. Nations are not like humans, with predictable life spans. Rome remained dominant for more than three centuries after the peak of its power, and even then it did not succumb to the rise of another state. For all the fashionable predictions of China, India, or Brazil surpassing the United States in the next decades, the greater threat may come from modern barbarians and nonstate actors. In an information-based world, power diffusion may pose a bigger danger than power transition. Conventional wisdom holds that the state with the largest army prevails, but in the information age, the state (or the nonstate actor) with the best story may sometimes win.


Thứ nhất, người ta phải thận trọng trước những phép ẩn dụ gây hiểu lầm của sự suy thoái hữu cơ. Các quốc gia không giống như con người, với tuổi thọ có thể dự đoán được. La Mã vẫn thống trị trong hơn ba thế kỷ sau thời kỳ đỉnh cao quyền lực của mình, và thậm chí khi đó nó đã không khuất phục trước sự trỗi dậy của một nhà nước khác. Mặc dù những dự đoán có vẻ hợp thời về việc Trung Quốc, Ấn Độ hay Braxin vượt qua Mỹ trong những thập kỷ tới, mối đe doạ lớn hơn có thể đến từ những người man di hiện đại và những bên tham gia không phải nhà nước. Trong một thế giới dựa trên thông tin, sự khuếch tán sức mạnh có thể tạo ra một nguy cơ lớn hơn sự chuyển tiếp quyền lực. Sự hiểu biết thông tin thường cho rằng nhà nước với quân đội lớn nhất chiếm ưu thế, nhưng trong thời đại thông tin, nhà nước (hoặc bên tham gia không phải nhà nước) với câu chuyện hay nhất có thể đôi khi giành chiến thắng.


Power today is distributed in a pattern that resembles a complex three-dimensional chess game. On the top chessboard, military power is largely unipolar, and the United States is likely to retain primacy for quite some time. On the middle chessboard, economic power has been multipolar for more than a decade, with the United States, Europe, Japan, and China as the major players and others gaining in importance. The bottom chessboard is the realm of transnational relations. It includes nonstate actors as diverse as bankers who electronically transfer funds, terrorists who traffic weapons, hackers who threaten cybersecurity, and challenges such as pandemics and climate change. On this bottom board, power is widely diffused, and it makes no sense to speak of unipolarity, multipolarity, or hegemony.


Ngày nay sức mạnh được phân bổ trong một mô hình giống như một ván cờ ba chiều phức tạp. Trên bàn cờ đầu, sức mạnh quân sự phần lớn là đơn cực, và Mỹ có thể giữ vị trí hàng đầu trong khoảng một thời gian. Ở bàn cờ giữa, sức mạnh kinh tế đã là đa cực trong hơn một thập kỷ, với Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc như là những bên tham gia chủ yếu và những nước khác đang có được tầm quan trọng. Bàn cờ bên dưới là lĩnh vực của các mối quan hệ xuyên quốc gia. Nó bao gồm các bên tham gia không phải nhà nước đa dạng như các chủ ngân hàng chuyển tiền bằng điện tử, những phần tử khủng bố buôn bán vũ khí, những hacker đe doạ an ninh mạng, và những thách thức như bệnh dịch và biến đổi khí hậu. Ở bàn cờ bên dưới này, sức mạnh bị khuếch tán một cách rộng rãi, và không có ý nghĩa gì khi đề cập đến đơn cực, đa cực hay bá quyền.


In interstate politics, the most important factor will be the continuing return of Asia to the world stage. In 1750, Asia had more than half the world's population and economic output. By 1900, after the Industrial Revolution in Europe and the United States, Asia's share shrank to one-fifth of global economic output. By 2050, Asia will be well on its way back to its historical share. The rise of China and India may create instability, but this is a problem with precedents, and history suggests how policies can affect the outcome.


Trong hoạt động chính trị liên nhà nước, nhân tố quan trọng nhất sẽ là sự trở lại tiếp tục của châu Á trên vũ đài thế giới. Vào năm 1750, châu Á đã chiếm hơn một nửa dân số và sản lượng kinh tế của thế giới. Cho đến năm 1900, sau cuộc Cách mạng Công nghiệp ở châu Âu và Mỹ, phần đóng góp của châu Á thu hẹp lại còn một phần năm sản lượng kinh tế toàn cầu. Đến năm 2050, châu Á sẽ trên con đường trở lại phần đóng góp lịch sử của mình. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ có thể tạo ra sự bất ổn, nhưng đây là một vấn đề với những tiền lệ, và lịch sử cho thấy các chính sách có thể ảnh hưởng đến kết quả như thế nào.


HEGEMONIC DECLINE?

It is currently fashionable to compare the United States' power to that of the United Kingdom a century ago and to predict a similar hegemonic decline. Some Americans react emotionally to the idea of decline, but it would be counterintuitive and ahistorical to believe that the United States will have a preponderant share of power resources forever. The word "decline" mixes up two different dimensions: absolute decline, in the sense of decay, and relative decline, in which the power resources of other states grow or are used more effectively.

Sự suy giảm bá quyền?

Hiện nay là hợp thời khi so sánh sức mạnh của Mỹ với sức mạnh của Anh cách đây một thế kỷ và dự đoán một sự suy giảm bá quyền tương tự. Một số người Mỹ phản ứng một cách cảm tính đối với ý tưởng về sự suy thoái, nhưng sẽ là khác thường và không mang tính lịch sử khi tin rằng Mỹ sẽ mãi mãi có một phần vượt trội trong các nguồn lực sức mạnh. Từ “suy thoái” pha trộn hai khía cạnh khác nhau: suy thoái tuyệt đối, theo nghĩa suy tàn, và suy thoái tương đối, trong đó các nguồn lực sức mạnh của những nhà nước khác tăng lên và được sử dụng hiệu quả hơn.


The analogy with British decline is misleading. The United Kingdom had naval supremacy and an empire on which the sun never set, but by World War I, the country ranked only fourth among the great powers in its share of military personnel, fourth in GDP, and third in military spending. With the rise of nationalism, protecting the empire became more of a burden than an asset. For all the talk of an American empire, the United States has more freedom of action than the United Kingdom did. And whereas the United Kingdom faced rising neighbors, Germany and Russia, the United States benefits from being surrounded by two oceans and weaker neighbors.


Điểm tương đồng với sự suy thoái của Anh gây hiểu nhầm. Anh đã có vị trí hàng đầu về hải quân và một đế chế mà ở đó mặt trời không bao giờ lặn, nhưng đến Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, đất nước đứng chỉ thứ tư trong số các nước lớn về phần nhân viên quân sự, thứ tư về GDP, và thứ ba về chi phí quân sự. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, việc bảo vệ đế chế đã trở thành một gánh nặng hơn là tài sản. Cho dù nói về một đế chế Mỹ, Mỹ có quyền tự do hành động hơn Anh. Và trong khi Anh phải đối mặt với những nước láng giềng trỗi dậy, Đức và Nga, thì Mỹ được lợi từ việc được bao quanh bởi hai đại dương và những người láng giềng yếu hơn.


Despite such differences, Americans are prone to cycles of belief in their own decline. The Founding Fathers worried about comparisons to the Roman republic. Charles Dickens observed a century and a half ago, "If its individual citizens, to a man, are to be believed, [the United States] always is depressed, and always is stagnated, and always is at an alarming crisis, and never was otherwise." In the last half century, belief in American decline rose after the Soviet Union launched Sputnik in 1957, after President Richard Nixon's economic adjustments and the oil shocks in the 1970s, and after the closing of rust-belt industries and the budget deficits in the Reagan era. Ten years later, Americans believed that the United States was the sole superpower, and now polls show that many believe in decline again.


Bất chấp những khác biệt như vậy, người Mỹ nghiêng về những chu kỳ tin vào sự suy thoái của chính mình. Những thành viên đã viết ra Hiến pháp Mỹ đã lo ngại về những so sánh với nền cộng hoà La Mã. Charles Dickens đã nhận xét cách đây một thế kỷ rưỡi: “Đối với một người, nếu tin vào cá nhân các công dân của nước này thì [nước Mỹ] luôn suy yếu, và luôn đình trệ, và luôn ở trong một cuộc khủng hoảng đáng báo động, và không bao giờ khác được”. Trong nửa cuối thế kỷ, việc tin vào sự suy thoái của Mỹ đã nổi lên sau khi Liên Xô phóng Sputnik vào năm 1957, sau những điều chỉnh kinh tế của Tổng thống Richard Nixon và các cú sốc dầu lửa những năm 1970, và sau khi đóng cửa các ngành công nghiệp vùng vành đai phát triển chậm Rust Belt (Rust Belt là tên một khu vực ở miền Bắc nước Mỹ, bao gồm các bang Illinois, Michigan, Indiân, Ohio và Wisconsin, nơi nhiều ngành hớn, đặc biệt là các ngành sản xuất thép và ôtô, đã từng sử dụng nhiều nhân công nhưng ngày càng ít thành công) và những thâm hụt ngân sách trong kỷ nguyên Reagan. Mười năm sau, người Mỹ tin rằng nước Mỹ là một siêu cường duy nhất và hiện nay các cuộc thăm dò cho thấy rằng nhiều người lại tin vào sự suy thoái.

Pundits lament the inability of Washington to control states such as Afghanistan or Iran, but they allow the golden glow of the past to color their appraisals. The United States' power is not what it used to be, but it also never really was as great as assumed. After World War II, the United States had nuclear weapons and an overwhelming preponderance of economic power but nonetheless was unable to prevent the "loss" of China, to roll back communism in Eastern Europe, to overcome stalemate in the Korean War, to stop the "loss" of North Vietnam, or to dislodge the Castro regime in Cuba. Power measured in resources rarely equals power measured in preferred outcomes, and cycles of belief in decline reveal more about psychology than they do about real shifts in power resources. Unfortunately, mistaken beliefs in decline -- at home and abroad -- can lead to dangerous mistakes in policy.


Các học giả than vãn về sự bất lực của Oasinhton trong việc kiểm soát những nhà nước như Ápganixtan hay Iran, nhưng họ để cho hào quang của quá khứ tô màu cho những đánh giá của mình. Sức mạnh của Mỹ không phải là cái đã từng có, nhưng nó cũng chưa bao giờ thực sự to lớn như được cho là vậy. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ có vũ khí hạt nhân và một ưu thế áp đảo về sức mạnh kinh tế nhưng tuy thế không thể ngăn ngừa “việc mất” Trung Quốc, không thể đẩy lui chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, thoát khỏi sự bế tắc trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, ngăn chặn “việc mất” miền Bắc Việt Nam, hay lật đổ chế độ Castro ở Cuba. Sức mạnh đo được trong các nguồn lực hiếm khi ngang bằng với sức mạnh đo được trong những kết quả được ưa thích hơn, và những chu kỳ tin vào sự suy thoái bộc lộ ra là về tâm lý hơn là về những thay đổi thực sự trong các nguồn lực sức mạnh. Đáng tiếc là, những sự tin tưởng nhầm lẫn về suy thoái – ở trong nước và nước ngoài – có thể dẫn đến những sai lầm nguy hiểm trong chính sách.

CHINA ON THE RISE

For more than a decade, many have viewed China as the most likely contender to balance U.S. power or surpass it. Some draw analogies to the challenge that imperial Germany posed to the United Kingdom at the beginning of the last century. A recent book (by Martin Jacques) is even titled When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order. Goldman Sachs has projected that the total size of China's economy will surpass that of the United States in 2027.

Trung Quốc trỗi dậy

Trong hơn một thập kỷ, nhiều người đã nhìn Trung Quốc như là đối thủ có khả năng nhất để cân bằng sức mạnh Mỹ hay vượt qua nó. Một số người đã vạch ra những sự tương đồng với thách thức mà nước Đức đế quốc đã đặt ra cho Anh vào đầu thế kỷ trước. Một cuốn sách gần đây (của Martin Jacques) còn được đặt tên là Khi Trung Quốc thống trị thế giới: Sự kết thúc của thế giới phương Tây và sự ra đời của một trật tự toàn cầu mới. Goldman Sachs đã dự kiến rằng tổng quy mô của nền kinh tế Trung Quốc sẽ vượt của Mỹ vào năm 2027.

Yet China has a long way to go to equal the power resources of the United States, and it still faces many obstacles to its development. Even if overall Chinese GDP passed that of the United States around 2030, the two economies, although roughly equivalent in size, would not be equivalent in composition. China would still have a vast underdeveloped countryside, and it would have begun to face demographic problems from the delayed effects of its one-child policy. Per capita income provides a measure of the sophistication of an economy. Assuming a six percent Chinese GDP growth rate and only two percent American GDP growth rate after 2030, China would probably not equal the United States in per capita income until sometime around the middle of the century. In other words, China's impressive economic growth rate and increasing population will likely lead the Chinese economy to pass the U.S. economy in total size in a few decades, but that is not the same as equality.

Tuy nhiên, Trung Quốc còn một con đường dài để tiến tới ngang bằng với các nguồn lực sức mạnh của Mỹ và nước này vẫn còn phải đối mặt với nhiều trở ngại đối với sự phát triển của mình. Ngay cả nếu tổng GDP của Trung Quốc vượt qua của Mỹ vào khoảng năm 2030, hai nền kinh tế, dù đại thể tương đương về quy mô, sẽ không tương đương về thành phần. Trung Quốc sẽ vẫn có một khu vực nông thôn kém phát triển rộng lớn, và nước này bắt đầu phải đối mặt với những vấn đề nhân khẩu học từ những tác động chậm của chính sách một con của mình. Thu nhập tính theo đầu người cung cấp một thước đo sự tinh vi của một nền kinh tế. Giả sử một tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc là 6% và tỷ lệ tăng trưởng GDP của Mỹ chỉ có 2% sau năm 2030, Trung Quốc có thể sẽ không ngang bằng với Mỹ trong thu nhập tính theo đầu người cho đến một lúc nào đó vào khoảng giữa thế kỷ. Nói cách khác, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng và dân số ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ có khả năng dẫn đến nền kinh tế Trung Quốc vượt nền kinh tế Mỹ về tổng quy mô trong một vài thập kỷ, nhưng nó không giống như là sự ngang bằng.


Moreover, linear projections can be misleading, and growth rates generally slow as economies reach higher levels of development. China's authoritarian political system has shown an impressive capability to harness the country's power, but whether the government can maintain that capability over the longer term is a mystery both to outsiders and to Chinese leaders. Unlike India, which was born with a democratic constitution, China has not yet found a way to solve the problem of demands for political participation (if not democracy) that tend to accompany rising per capita income. Whether China can develop a formula that manages an expanding urban middle class, regional inequality, rural poverty, and resentment among ethnic minorities remains to be seen.


Hơn nữa, những dự đoán thẳng băng có thể khiến hiểu nhầm, và các tỷ lệ tăng trưởng nói chung chậm lại khi các nền kinh tế đạt tới những mức độ phát triển cao. Hệ thống chính trị độc đoán của Trung Quốc đã thể hiện một khả năng đầy ấn tượng khai thác sức mạnh của đất nước, nhưng liệu chính phủ có thể duy trì khả năng đó trong dài hạn hay không là một điều bí ẩn cả đối với người bên ngoài lẫn đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Không giống như Ấn Độ, vốn được sinh ra với một hiến pháp dân chủ, Trung Quốc vẫn chưa tìm ra con đường để giải quyết vấn đề đòi hỏi tham gia vào chính trị (nếu không phải là dân chủ) có xu hướng đi cùng với việc tăng thu nhập bình quân đầu người. Liệu Trung Quốc có thể phát triển một công thức quản lý một tầng lớp trung lưu thành thị đang mở rộng, sự bất bình đẳng khu vực, đói nghèo ở nông thôn, và sự oán giận giữa các nhóm thiểu số sắc tộc hay không thì vẫn còn phải xem xét.


Some have argued that China aims to challenge the United States' position in East Asia and, eventually, the world. Even if this were an accurate assessment of China's current intentions (and even the Chinese themselves cannot know the views of future generations), it is doubtful that China will have the military capability to make this possible anytime soon. Moreover, Chinese leaders will have to contend with the reactions of other countries and the constraints created by China's need for external markets and resources. Too aggressive a Chinese military posture could produce a countervailing coalition among China's neighbors that would weaken both its hard and its soft power.

Một số người đã lập luận rằng Trung Quốc đặt mục tiêu thách thức vị trí của Mỹ ở Đông Á và cuối là thế giới. Ngay cả nếu đây là một sự đánh giá chính xác về những ý định hiện nay của Trung Quốc (và thậm chí bản thân người Trung Quốc không thể biết quan điểm của những thế hệ tương lai), điều đáng ngờ là Trung Quốc sẽ có khả năng quân sự để khiến điều này có thể sớm thực hiện được bất cứ lúc nào. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải đấu tranh với những phản ứng của những nước khác và những sự kiềm chế được tạo ra bởi nhu cầu của Trung Quốc đối với các thị trường và nguồn lực bên ngoài. Một tư thế quân sự quá hung hăng của Trung Quốc có thể tạo ra một sự liên minh bù lại giữa các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ làm suy yếu cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm của nước này.


The rise of Chinese power in Asia is contested by both India and Japan (as well as other states), and that provides a major power advantage to the United States. The U.S.-Japanese alliance and the improvement in U.S.-Indian relations mean that China cannot easily expel the Americans from Asia. From that position of strength, the United States, Japan, India, Australia, and others can engage China and provide incentives for it to play a responsible role, while hedging against the possibility of aggressive behavior as China's power grows.

Sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Quốc ở châu Á bị cạnh tranh bởi cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản (cũng như những nhà nước khác), và điều đó tạo ra một lợi thế sức mạnh chủ yếu cho Mỹ. Liên minh Mỹ – Nhật và sự cải thiện trong các mối quan hệ Mỹ-Ấn có nghĩa rằng Trung Quốc không thể dễ dàng đánh bật người Mỹ ra khỏi châu Á. Từ quan điểm sức mạnh đó, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ôxtrâylia, và những nước khác có thể can dự với Trung Quốc và tạo ra những sự khích lệ để nước này đóng một vai trò có trách nhiệm, trong khi ngăn cản khả năng cư xử hung hăng khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên.

DOMESTIC DECAY?

Some argue that the United States suffers from "imperial overstretch," but so far, the facts do not fit that theory. On the contrary, defense and foreign affairs expenditures have declined as a share of GDP over the past several decades. Nonetheless, the United States could decline not because of imperial overstretch but because of domestic underreach. Rome rotted from within, and some observers, noting the sourness of current U.S. politics, project that the United States will lose its ability to influence world events because of domestic battles over culture, the collapse of its political institutions, and economic stagnation. This possibility cannot be ruled out, but the trends are not as clear as the current gloomy mood suggests.

Sự suy tàn ở trong nước?

Một số người lập luận rằng Mỹ gánh chịu tổn thất bởi “sự dàn trải quá mức kiểu đế quốc”, nhưng cho đến nay, thực tế không đúng với thuyết đó. Ngược lại, các khoản chi tiêu cho quốc phòng và các vấn đề quốc tế đã giảm đi như là một phần của GDP trong vài thập kỷ vừa qua. Tuy vậy, Mỹ có thể suy thoái không phải vì sự dàn trải quá mức kiểu đế quốc mà vì khả năng hoạt động kém ở trong nước. La Mã mục nát từ bên trong, và một số nhà quan sát, lưu ý đến tình trạng xấu đi trong hoạt động chính trị của Mỹ hiện nay, dự đoán rằng Mỹ sẽ mất đi khả năng của mình ảnh hưởng đến các sự kiện của thế giới bởi các cuộc chiến trong nước về văn hoá, sự sụp đổ của các thể chế chính trị nước này, và sự đình trệ về kinh tế. Không thể loại bỏ khả năng này, nhưng các xu thế không rõ ràng như tâm trạng u ám hiện nay cho thấy.


Although the United States has many social problems -- and always has -- they do not seem to be getting worse in any linear manner. Some of these problems are even improving, such as rates of crime, divorce, and teenage pregnancy. Although there are culture wars over issues such as same-sex marriage and abortion, polls show an overall increase in tolerance. Civil society is robust, and church attendance is high, at 42 percent. The country's past cultural battles, over immigration, slavery, evolution, temperance, McCarthyism, and civil rights, were arguably more serious than any of today's.


Mặc dù Mỹ có nhiều vấn đề về xã hội – và luôn có – họ dường như không trở nên tồi tệ đi theo bất cứ cách thức thẳng băng nào. Một số trong những vấn đề đó thậm chí còn đang cải thiện, như tỷ lệ tội phạm, ly hôn và mang thai ở tuổi vị thành niên. Mặc dù có các cuộc chiến văn hoá đối với những vấn đề như kết hôn đồng giới và phá thai, các cuộc thăm dò cho thấy một sự gia tăng tổng thể về sự dung nạp. Xã hội dân sự vững mạnh, và tỷ lệ đi đến nhà thờ cao, 42%. Những cuộc chiến văn hoá trước đây của đất nước này, về nhập cư, nô lệ, tiến hoá, sự ôn hoà, chủ nghĩa McCarthy và nhân quyền, được cho là còn nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc chiến nào của ngày nay.


A graver concern would be if the country turned inward and seriously curtailed immigration. With its current levels of immigration, the United States is one of the few developed countries that may avoid demographic decline and keep its share of world population, but this could change if xenophobia or reactions to terrorism closed its borders. The percentage of foreign-born residents in the United States reached its twentieth-century peak, 14.7 percent, in 1910. Today, 11.7 percent of U.S. residents are foreign born, but in 2009, 50 percent of Americans favored decreasing immigration, up from 39 percent in 2008. The economic recession has only aggravated the problem.


Một mối lo ngại nghiêm trọng hơn sẽ là liệu đất nước này có chuyển sang hướng nội và hạn chế một cách trầm trọng sự nhập cư. Với mức nhập cư hiện nay của mình, Mỹ là một trong số ít những nước phát triển có thể tranh được sự suy giảm về nhân khẩu học và giữ phần đóng góp của mình trong dân số thế giới, nhưng điều này có thể thay đổi nếu sự bài ngoại hay những phản ứng đối với khủng bố đã đóng cửa các đường biên giới của nước này. Tỷ lệ phần trăm các cư dân sinh ra ở nước ngoài ở Mỹ đã đạt đỉnh cao của thế kỷ 20, 14,7% vào năm 1910. Hiện nay, 11,7% cư dân Mỹ được sinh ra ở nước ngoài, nhưng vào năm 2009, 50% người Mỹ ủng hộ giảm nhập cư, tăng từ 39% vào năm 2008. Suy thoái kinh tế chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề.


Although too rapid a rate of immigration can cause social problems, over the long term, immigration strengthens U.S. power. Today, the United States is the world's third most populous country; 50 years from now, it is likely to still be third (after India and China). Not only is this relevant to economic power, but given that nearly all developed countries are aging and face the burden of providing for the older generation, immigration could help reduce the sharpness of the resulting policy problem. In addition, there is a strong correlation between the number of H-1B visas and the number of patents filed in the United States. In 1998, Chinese- and Indian-born engineers were running one-quarter of Silicon Valley's high-tech businesses, and in 2005, immigrants were found to have helped start one of every four American technology start-ups over the previous decade.


Mặc dù một số tốc độ nhập cư quá nhanh có thể tạo ra những vấn đề xã hội, nhưng về dài hạn sự nhập cư củng cố sức mạnh của Mỹ. Ngày nay, Mỹ là nước đông dân thứ ba trên thế giới; 50 năm kể từ bây giờ, nó có thể vẫn là thứ ba (sau Ấn Độ và Trung Quốc). Điều này không chỉ liên quan đến sức mạnh kinh tế, mà do gần như tất cả các nước phát triển đang già đi và phải đối mặt với gánh nặng lo liệu cho thế hệ già hơn, sự nhập cư có thể giúp giảm bớt tính gay gắt của vấn đề chính sách do kết quả của điều đó. Thêm vào đó, có một sự tương quan giữa số visa H-1B và số bằng sáng chế được đệ trình tại Mỹ. Vào năm 1998, các kỹ sư sinh ra tại Trung Quốc và Ấn Độ điều hành một phần tư các doanh nghiệp công nghệ cao của Thung lũng Silicon, và vào năm 2005, người ta thấy cứ bốn công ty công nghệ khởi nghiệp của Mỹ trong thập kỷ qua thì có một công ty là do người nhập cư đã giúp khởi đầu.
           
Equally important are the benefits of immigration for the United States' soft power. Attracted by the upward mobility of American immigrants, people want to come to the United States. The United States is a magnet, and many people can envisage themselves as Americans. Many successful Americans look like people in other countries. Rather than diluting hard and soft power, immigration enhances both. When Singapore's Lee Kuan Yew concludes that China will not surpass the United States as the leading power of the twenty-first century, he cites the ability of the United States to attract the best and brightest from the rest of the world and meld them into a diverse culture of creativity. China has a larger population to recruit from domestically, but in his view, its Sinocentric culture will make it less creative than the United States, which can draw on the whole world.


Quan trọng không kém là những lợi ích của sự nhập cư đối với sức mạnh mềm của Mỹ. Bị thu hút bởi sự phấn đấu của những người nhập cư Mỹ, mọi người muốn tới Mỹ. Nước Mỹ là một cục nam châm, và nhiều người có thể hình dung bản thân mình là người Mỹ. Nhiều người Mỹ thành công trông giống như người ở những nước khácl. Thay vì làm giảm bớt sức mạnh cứng và mềm, sự nhập cư tăng cường cả hai. Khi Lý Quang Diệu của Xinhgapo kết luận rằng Trung Quốc sẽ không vượt qua Mỹ với tư cách cường quốc hàng đầu của thế kỷ 21, ông trích dẫn khả năng của Mỹ thu hút những người giỏi nhất và thông minh nhất từ phần còn lại của thế giới và dung nạp họ vào một nền văn hoá đa dạng của sự sáng tạo. Trung Quốc có một dân số lớn hơn để tuyển chọn từ trong nước, nhưng theo quan điểm của ông, nền văn hoá lấy Trung Quốc làm trung tâm của nước này sẽ khiến nó ít tính sáng tạo hơn Mỹ, vốn có thể lôi kéo toàn thế giới.


On the other hand, a failure in the performance of the U.S. economy would be a showstopper. Keeping in mind that macroeconomic forecasts (like weather forecasts) are notoriously unreliable, it appears that the United States will experience slower growth in the decade after the 2008 financial crisis. The International Monetary Fund expects U.S. economic growth to average about two percent in 2014. This is lower than the average over the past several decades but roughly the same as the average rate over the past ten years.


Mặt khác, một thất bại trong thành tích của nền kinh tế Mỹ sẽ là một điểm dừng. Hãy nhớ rằng những dự báo về kinh tế vĩ mô (giống như dự báo thời tiết) nổi tiếng là không thể tin cậy được, dường như là Mỹ sẽ trải qua sự tăng trưởng chậm hơn trong thập kỷ sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hy vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ đạt trung bình khoảng 2% trong năm 201. Con số này thấp hơn mức trung bình trong vài thập kỷ trước đó nhưng xấp xỉ gần với tỷ lệ trung bình trong 10 năm qua.


In the 1980s, many observers believed that the U.S. economy had run out of steam and that Germany and Japan were overtaking the United States. The country seemed to have lost its competitive edge. Today, however, even after the financial crisis and the ensuing recession, the World Economic Forum has ranked the United States fourth (after Switzerland, Sweden, and Singapore) in global economic competitiveness. (China, in comparison, was ranked 27th.) The U.S. economy leads in many new growth sectors, such as information technology, biotechnology, and nanotechnology. And even though optimists tend to cite the United States' dominance in the production and use of information technology, that is not the only source of U.S. productivity. The United States has seen significant agricultural innovation, too, and its openness to globalization, if it continues, will also drive up productivity. Economic experts project that American productivity growth will be between 1.5 and 2.25 percent in the next decade.

Trong những năm 1980, nhiều nhà quan sát tin rằng nền kinh tế Mỹ đã xì hết hơi và Đức và Nhật Bản đang vượt Mỹ. Đất nước này dường như đã đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, hiện nay ngay cả sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kéo dài, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã xếp Mỹ đứng thứ 4 (sau Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển và Xinhgapo) về năng lực canh tranh kinh tế toàn cầu (so với Trung Quốc xếp thứ 27). Nền kinh tế Mỹ đi đầu trong nhiều khu vực tăng trưởng mới, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ nano. Và ngay dù những người lạc quan có xu hướng dẫn ra sự vượt trội của Mỹ trong sản xuất và sử dụng công nghệ thông tin, thì đó không phải là nguồn năng suất duy nhất của Mỹ. Mỹ cũng đã chứng kiến sự đổi mới nông nghiệp đáng kể và sự mở cửa của nước này đối với toàn cầu hoá, nếu điều này tiếp tục, cũng sẽ kéo năng suất lên. Các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng tăng trưởng về năng suất của Mỹ sẽ từ 1,5% đến 2,25% trong thập kỷ tới.


In terms of investment in research and development, the United States was the world leader in 2007, with $369 billion, followed by all of Asia ($338 billon) and the European Union ($263 billion). The United States spent 2.7 percent of its GDP on research and development, nearly double what China spent (but slightly less than the three percent spent by Japan and South Korea). In 2007, American inventors registered about 80,000 patents in the United States, or more than the rest of the world combined. A number of reports have expressed concern about problems such as high corporate tax rates, the flight of human capital, and the growing number of overseas patents, but U.S. venture capital firms invest 70 percent of their money in domestic start-ups. A 2009 survey by the Global Entrepreneurship Monitor ranked the United States ahead of other countries in opportunities for entrepreneurship because it has a favorable business culture, the most mature venture capital industry, close relations between universities and industry, and an open immigration policy.


Về đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Mỹ là nước đứng đầu thế giới vào năm 2007, với 369 tỉ USD, theo sau là toàn bộ châu Á (338 tỉ USD) và Liên minh châu Âu (263 tỉ USD). Mỹ đã chi 2,7 GDP của mình vào nghiên cứu và phát triển, gần gấp đôi những gì Trung Quốc đã chi (nhưng ít hơn một chút so với 3% mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã chi). Trong năm 2007, các nhà sáng chế Mỹ đã đăng ký khoảng 80.000 bằng sáng chế ở Mỹ, hay nhiều hơn phần còn lại của thế giới hợp lại. Một số báo cáo đã bày tỏ mối lo ngại về những vấn đề như tỷ lệ thuế công ty cao, chảy máu nguồn vốn con người, và số bằng sáng chế ở nước ngoài ngày càng tăng, nhưng các công ty vốn mạo hiểm đầu tư 70% tiền của họ vào các công ty khởi nghiệp ở trong nước. Một cuộc điều tra nam 2009 của tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (Giám sát doanh nhân toàn cầu) đã xếp Mỹ ở trên những nước khác về các cơ hội cho doanh nhân bởi nước này có một nền văn hoá kinh doanh thuận lợi, ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm trưởng thành nhất, các mối quan hệ thân thiết giữa các trường đại học và ngành công nghiệp, và một chính sách nhập cư mở.


Other concerns about the future of the U.S. economy focus on the current account deficit (whose current level indicates that Americans are becoming more indebted to foreigners) and the rise in government debt. In the words of the historian Niall Ferguson, "This is how empires decline. It begins with a debt explosion." Not only did the recent bank bailout and Keynesian stimulus package add to U.S. debt, but the rising costs of health care and entitlement programs such as Social Security, along with the rising cost of servicing the debt, will claim large shares of future revenue. Other observers are less alarmist. The United States, they claim, is not like Greece.

Những mối lo ngại khác về tương lai của nền kinh tế Mỹ tập trung vào thâm hụt tài khoản vãng lai (mà mức hiện nay chỉ ra rằng người Mỹ đang ngày càng mắc nợ người nước ngoài hơn) và sự gia tăng nợ chính phủ. Theo lời của sử gia Niall Ferguson, “Đây là cách các đế quốc suy thoái. Nó bắt đầu bằng một sự bùng nổ nợ”. Không chỉ cứu trợ tài chính ngân hàng gần đây và gói kích thích kinh tế kiểu Keynes làm tăng thêm nợ của Mỹ, mà phí tổn ngày càng tăng của các chương trình chăm sóc y tế và đảm bảo phúc lợi cho tất cả những người được thụ hưởng như An sinh xã hội, cùng với phí tổn ngày càng tăng của việc trả lãi cho các khoản nợ, sẽ đòi hỏi những phần đóng góp lớn của thu nhập tương lai. Các nhà quan sát khác ít gây hoang mang hơn. Họ tuyên bố Mỹ không giống như Hy Lạp.


The Congressional Budget Office calculates that total government debt will reach 100 percent of GDP by 2023, and many economists begin to worry when debt levels in rich countries exceed 90 percent. But as The Economist pointed out last June, "America has two huge advantages over other countries that have allowed it to face its debt with relative equanimity: possessing both the world's reserve currency and its most liquid asset market, in Treasury bonds." And contrary to fears of a collapse of confidence in the dollar, during the financial crisis, the dollar rose and bond yields fell. A sudden crisis of confidence is less the problem than that a gradual increase in the cost of servicing the debt could affect the long-term health of the economy.


Văn phòng Ngân sách Quốc hội tính toán rằng tổng nợ chính phủ sẽ lên tới 100% GDP vào năm 2023, và nhiều nhà kinh tế bắt đầu lo ngại khi các mức nợ ở những nước giàu đã vượt quá 90%. Nhưng như tạp chí The Economist đã chỉ ra hồi cuối tháng 6, “Mỹ có hai lợi thế khổng lồ so với những nước khác cho phép nước này đối mặt với những khoản nợ của mình với thái độ tương đối bình thản: có cả đồng tiền dự trữ của thế giới lẫn thị trường tài sản có tính thanh khoản cao nhất của mình, trong trái phiếu kho bạc”. Và trái ngược với những ngại về một sự sụp đổ lòng tin vào đồng đôla, trong cuộc khủng hoảng tài chính, đồng đôla đã tăng lên và lợi tức trái phiếu giảm xuống. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đột ngột ít là vấn đề hơn một sự gia tăng dần dần trong chi phí trả lãi cho các khoản nợ có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ dài hạn của nền kinh tế.

It is in this sense that the debt problem is important, and studies suggest that interest rates rise 0.03 percent for every one percent increase in the debt-to-GDP ratio over the long term. Higher interest rates mean lower private-sector investment and slower growth. These effects can be mitigated by good policies or exacerbated by bad ones. Increasing debt need not lead to the United States' decline, but it certainly raises the long-term risk.


Chính trong nghĩa này mà vấn đề nợ là quan trọng, và những nghiên cứu cho thấy rằng lãi suất tăng 0,03% cho mỗi một phần trăm tăng lên trong tỉ suất nợ trên GDP trong dài hạn. Lãi suất cao hơn có nghĩa là đầu tư vào khu vực tư nhân thấp hơn và tăng trưởng chậm hơn. Những tác động này có thể được giảm nhẹ bằng những chính sách tốt hoặc bị làm trầm trọng thêm bởi những chính sách tồi. Nợ tăng lên không nhất thiết dẫn tới sự suy thoái của Mỹ, nhưng nó chắc chắn làm tăng rủi ro dài hạn.


A well-educated labor force is another key to economic success in the information age. At first glance, the United States does well in this regard. It spends twice as much on higher education as a percentage of GDP as do France, Germany, Japan, and the United Kingdom. The London-based Times Higher Education's 2009 list of the top ten universities includes six in the United States, and a 2010 study by Shanghai Jiao Tong University places 17 U.S. universities -- and no Chinese universities -- among its top 20. Americans win more Nobel Prizes and publish more scientific papers in peer-reviewed journals -- three times as many as the Chinese -- than do the citizens of any other country. These accomplishments enhance both the country's economic power and its soft power.


Một lực lượng lao động được đào tạo tốt là một chìa khoá khác cho thành công về kinh tế trong thời đại thông tin. Thoạt nhìn, Mỹ làm tốt về mặt này. Nước này đã chi cho giáo dục đại học gấp đôi tính theo tỉ lệ phần trăm GDP so với Pháp, Đức, Nhật Bản và Anh. Danh sách top 10 trường đại học năm 2009 của Times Higher Education có trụ sở tại Luân Đôn bao gồm 6 trường ở Mỹ, và một nghiên cứu năm 2010 của Đại học Giao thông Thượng Hải xếp 17 trường của Mỹ – và không có trường nào của Trung Quốc – trong top 20 của mình. Người Mỹ giành giải Nôben và công bố các tài liệu khoa học trên những tạp chí được các nhà chuyên môn kiểm duyệt – gâp ba lần người Trung Quốc – nhiều hơn công dân của bất cứ nước nào khác. Những thành tựu này tăng cường cả sức mạnh kinh tế lẫn sức mạnh mềm của đất nước này.


American education at its best -- many universities and the top slice of the secondary education system -- meets or sets the global standard. But American education at its worst -- too many primary and secondary schools, especially in less affluent districts -- lags badly behind. This means that the quality of the labor force will not keep up with the rising standards needed in an information-driven economy. There is no convincing evidence that students are performing worse than in the past, but the United States' educational advantage is eroding because other countries are doing better than ever. Improvement in the country's K-12 education system will be necessary if the country is to meet the standards needed in an information-based economy.


Nền giáo dục Mỹ trong điều kiện tốt nhất của mình – nhiều trường đại học và bộ phận trên trong hệ thống giáo dục trung học – đáp ứng hoặc đưa ra các tiêu chuẩn toàn cầu. Nhưng nền giáo dục Mỹ trong điều kiện tồi tệ nhất của mình – quá nhiều trường tiểu học và trung học, đặc biệt tại những khu vực ít giàu có – tụt hậu nặng nề. Điều này có nghĩa là chất lượng của lực lượng lao động sẽ không theo kịp các tiêu chuẩn đang tăng lên cần thiết trong một nền kinh tế do thông tin thúc đẩy. Không có bằng chứng thuyết phục rằng các sinh viên đang thể hiện tồi hơn trong quá khứ, nhưng lợi thế về giáo dục của Mỹ đang xói mòn bởi vì các nước khác đang làm tốt hơn bao giờ hết. Sự cải thiện trong hệ thống giáo dục K-12 của đất nước sẽ là cần thiết nếu nước này muốn đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết trong một nền kinh tế dựa trên thông tin.


POLITICS AND INSTITUTIONS

Despite these problems and uncertainties, it seems probable that with the right policies, the U.S. economy can continue to produce hard power for the country. But what about U.S. institutions? The journalist James Fallows, who spent years in China, came home worried less about the United States' economic performance than the gridlock in its political system. In his view, "America still has the means to address nearly any of its structural weaknesses. . . . That is the American tragedy of the early 21st century: a vital and self-renewing culture that attracts the world's talent and a governing system that increasingly looks like a joke." Although political gridlock in a period of recession looks bad, it is difficult to ascertain whether the situation today is much worse than in the past.


Hoạt động chính trị và các thể chế

Bất chấp những vấn đề và sự không chắc chắn này, dường như khả năng là với các chính sách đúng đắn, nền kinh tế Mỹ có thể tiếp tục tạo ra sức mạnh cứng cho đất nước. Nhưng còn về các thể chế của Mỹ thì sao? Nhà báo James Fallows, người đã sống nhiều năm ở Trung Quốc, trở về nước lo lắng về thành tích kinh tế của Mỹ thì ít hơn so với những tắc nghẽn trong hệ thống chính trị của nước này. Theo quan điểm của ông, “Mỹ vẫn có các phương tiện để đối phó với gần như bất kỳ sự yếu kém về cơ cấu nào của nó… Đó là bi kịch của Mỹ đầu thế kỷ 21: một nền văn hoá có ý nghĩa sống còn và tự đổi mới thu hút nhân tài của thế giới và một hệ thống quản lý ngày càng giống như một trò đùa”. Mặc dù bế tắc chính trị trong một giai đoạn suy thoái có vẻ tồi tệ, nhưng khó xác định liệu tình trạng hiện nay có tồi tệ hơn nhiều so với quá khứ hay không.

Power conversion -- translating power resources into desired outcomes -- is a long-standing problem for the United States. The U.S. Constitution is based on the eighteenth-century liberal view that power is best controlled by fragmentation and countervailing checks and balances. In foreign policy, the Constitution has always invited the president and Congress to compete for control. Strong economic and ethnic pressure groups struggle for their self-interested definitions of the national interest, and Congress is designed to pay attention to squeaky wheels.


Sự chuyển đổi sức mạnh – chuyển các nguồn lực sức mạnh thành kết quả mong muốn – là một vấn đề lâu dài đối với Mỹ. Hiến pháp Mỹ dựa trên quan điểm tự do của thế kỷ 18 rằng sức mạnh được kiểm soát tốt nhất bởi sự phân mảng và hệ thống “checks and balances” (kiểm tra và cân bằng) bù lại (“checks and balances” là một hệ thống chính trị trong một nước dân chủ, gồm 3 ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó mỗi ngành có nhiệm vụ kiểm soát quyền lực của hai ngành kia để tạo ra sự cân bằng quyền lực). Trong chính sách đối ngoại, Hiến pháp luôn luôn khuyến khích Tổng thống và Quốc hội cạnh tranh để giành quyền kiểm soát. Các nhóm gây sức ép về kinh tế và sắc tộc mạnh mẽ đấu tranh đòi những sự định nghĩa có tính tư lợi của họ về lợi ích quốc gia, và Quốc hội được định ra để tập trung vào những vấn đề trục trặc.

Another cause for concern is the decline of public confidence in government institutions. In 2010, a poll by the Pew Research Center found that 61 percent of respondents thought the United States was in decline, and only 19 percent trusted the government to do what is right most of the time. In 1964, by contrast, three-quarters of the American public said they trusted the federal government to do the right thing most of the time. The numbers have varied somewhat over time, rising after 9/11 before gradually declining again.


Một nguyên nhân khác của mối lo ngại là sự suy giảm lòng tin của công chúng vào cac thể chế chính phủ. Trong năm 2010, một cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew thấy rằng 61% số người được hỏi nghĩ rằng Mỹ đã suy thoái, và chỉ 19% tin rằng chính phủ làm điều gì là đúng đắn trong phần lớn thời gian. Ngược lại, vào năm 1964, ba phần tư công chúng Mỹ nói rằng họ tin chính phủ liên bang làm những việc đúng đắn trong hầu hết thời gian. Các con số đã thay đổi phần nào qua thời gian, tăng sau sự kiện ngày 11/9 trước khi giảm dần trở lại.

The United States was founded in part on a mistrust of government, and its constitution was designed to resist centralized power. Moreover, when asked not about day-to-day government but about the underlying constitutional framework, Americans are very positive. If asked where the best place to live is, the overwhelming majority of them say the United States. If asked whether they like their democratic system of government, nearly everyone says yes. Few people feel the system is rotten and must be overthrown.


Mỹ được hình thành một phần dựa vào một mối ngờ vực về chính phủ, và hiến pháp của nước này được thiết kế để chống lại quyền lực tập trung. Hơn nữa, khi được hỏi không phải về chính phủ thường ngày, mà về khuôn khổ hiến pháp cơ bản, người Mỹ rất tích cực. Nếu được hỏi nơi tốt nhất để sống là ở đâu, đại đa số trong số họ nói là Mỹ. Nếu được hỏi liệu họ có thích hệ thống chính phủ dân chủ của mình hay không, gần như tất cả mọi người nói có. Ít người cảm thấy hệ thống này mục nát và phải bị lật đổ.

Some aspects of the current mood probably represent discontent with the bickering and deadlock in the political process. Compared with the recent past, party politics has become more polarized, but nasty politics is nothing new -- as John Adams, Alexander Hamilton, and Thomas Jefferson could attest. Part of the problem with assessing the current atmosphere is that trust in government became abnormally high among the generation that survived the Depression and won World War II. Over the long view of U.S. history, that generation may be the anomaly. Much of the evidence for a loss of trust in government comes from modern polling data, and responses are sensitive to the way questions are asked. The sharpest decline occurred more than four decades ago, during the Johnson and Nixon administrations.


Một số khía cạnh của tâm trạng hiện tại có thể thể hiện sự bất mãn với những cuộc cãi vã và bế tắc trong tiến trình chính trị. So với thời gian gần đây, hoạt động chính trị đảng phái đã trở nên phân cực hơn, nhưng hoạt động chính trị tồi tệ không có gì mới – như John Adams, Alexander Hamilton, và Thomas Jefferson có thể chứng thực. Một phần của vấn đề với việc đánh giá bầu không khí hiện nay là việc niềm tin vào chính phủ đã trở nên cao khác thường trong thế hệ đã sống sót qua cuộc Suy thoái và chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ Hai. Trong tầm nhìn dài về lịch sử nước Mỹ, thế hệ đó có thể là bất thường. Nhiều bằng chứng về một sự mất lòng tin vào chính phủ xuất phát từ dữ liệu thăm dò hiện đại, và những phản ứng rất nhạy cảm với cách các câu hỏi được nêu ra. Sự suy thoái mạnh nhất đã xảy ra hơn bốn thập kỷ trước, dưới thời Chính quyền Johnson và Nixon.


This does not mean that there are no problems with declining confidence in government. If the public became unwilling to pay taxes or comply with laws, or if bright young people refused to go into public service, the government's capacity would be impaired, and people would become more dissatisfied with the government. Moreover, a climate of distrust can trigger extreme actions by deviant members of the population, such as the 1995 bombing of a federal office building in Oklahoma City. Such results could diminish the United States' hard and soft power.


Điều này không có nghĩa là không có vấn đề với niềm tin đang suy giảm vào chính phủ. Nếu công chúng trở nên không sẵn lòng nộp thuế hoặc tuân theo pháp luật, hoặc nếu người trẻ tuổi sáng dạ từ chối tham gia khu vực dịch vụ công, năng lực của chính phủ sẽ bị ảnh hưởng, và người ta sẽ trở nên bất mãn hơn với chính phủ. Hơn nữa, một không khí nghi ngờ có thể gây ra những hành động cực đoan của các thành viên lầm đường lạc lối trong dân số, chẳng hạn như vụ đánh bom năm 1995 một toà nhà văn phòng liên bang ở Oklahoma City. Những kết quả như vậy có thể làm giảm bớt sức mạnh cứng và mềm của Mỹ.


As yet, however, these fears do not seem to have materialized. The Internal Revenue Service has seen no increase in tax cheating. By many accounts, government officials have become less corrupt than in earlier decades, and the World Bank gives the United States a high score (above the 90th percentile) on "control of corruption." The voluntary return of census forms increased to 67 percent in 2000 and was slightly higher in 2010, reversing a 30-year decline. Voting rates fell from 62 percent to 50 percent over the four decades after 1960, but the decline stopped in 2000 and returned to 58 percent in 2008. In other words, the public's behavior has not changed as dramatically as its responses to poll questions indicates.


Tuy nhiên, cho đến nay, những nỗi lo sợ này dường như chưa thành hiện thực. Cơ quan thuế vụ đã không thấy sự gia tăng trong gian lận thuế. Theo nhiều thông tin thu thập đựơc, các quan chức chính phủ đã trở nên ít tham nhũng hơn trong những thập kỷ trước đó, và Ngân hàng Thế giới cho Mỹ một điểm số cao (đạt phân vị 90 trên một trăm) về “kiểm soát tham nhũng”. Việc tự nguyện nộp lại bản khai điều tra tăng lên 67% vào năm 200 và cao hơn một chút vào năm 2010, đảo ngược sự suy giảm 30 năm. Các tỷ lệ bỏ phiếu đã rơi từ 62% xuống 50% trong bốn thập niên sau năm 1960, nhưng sự suy giảm đã dừng lại vào năm 2000 và quay trở lại 58% vào năm 2008. Nói cách khác, hành vi của công chúng không thay đổi đột ngột như phản ứng của họ đối với những câu hỏi thăm dò ý kiến cho thấy.


How serious are changes in social capital when it comes to the effectiveness of American institutions? The political scientist Robert Putnam notes that community bonds have not weakened steadily over the last century. On the contrary, U.S. history, carefully examined, is a story of ups and downs in civic engagement. Three-quarters of Americans, according to the Pew Partnership for Civic Change, feel connected to their communities and say that the quality of life there is excellent or good. Another of the group's polls found that 111 million Americans had volunteered their time to help solve problems in their communities in the past 12 months and that 60 million volunteer on a regular basis. Forty percent said working together with others in their community was the most important thing they could do.


Những thay đổi trong vốn xã hội nghiêm trọng như thế nào khi nói đến hiệu quả của các thể chế của Mỹ? Nhà khoa học chính trị Robert Putnam lưu ý rằng trái phiếu cộng đồng đã không suy yếu dần dần trong thế kỷ qua. Ngược lại, lịch sử Mỹ, được xem xét một cách cẩn thận, là một câu chuyện về những thăng trầm trong sự can sự dân sự. Theo Pew Partnership for Civic Change, ba phần tư người Mỹ cảm thấy có liên kết với cộng đồng của họ và nói rằng chất lượng cuộc sống ở đó tuyệt vời hoặc tốt. Một cuộc thăm dò khác trong các cuộc thăm dò của nhóm này thấy rằng 111 triệu người Mỹ đã tình nguyện dành thời gian của họ để giúp giải quyết những vấn đề trong các cộng đồng của họ trong 12 tháng qua và rằng 60 triệu người tình nguyện trên cơ sở thường xuyên. Bốn mươi phần trăm nói rằng làm việc cùng với những người khác trong cộng đồng của họ là điều quan trọng nhất mà họ có thể làm.


In recent years, U.S. politics and political institutions have become more polarized than the actual distribution of public opinion would suggest. The situation has been exacerbated by the recent economic downturn. As The Economist noted, "America's political system was designed to make legislation at the federal level difficult, not easy. . . . So the basic system works; but that is no excuse for ignoring areas where it could be reformed." Some important reforms -- such as changing the gerrymandered safe seats in the House of Representatives or altering Senate rules about filibusters -- would not require any constitutional amendment. Whether the U.S. political system can reform itself and cope with the problems described above remains to be seen, but it is not as broken as implied by critics who draw analogies to the domestic decay of Rome or other empires.


Trong những năm gần đây, hoạt động chính trị và các thể chế chính trị của Mỹ đã trở nên phân cực hơn so với sự phân loại thực tế của công luận cho thấy. Tình hình trầm trọng thêm bởi sự suy thoái kinh tế gần đây. Như The Economist lưu ý, “hệ thống chính trị của Mỹ được thiết kế để làm cho việc lập pháp ở cấp liên bang khó khăn, chứ không phải dễ dàng… Như vậy hệ thống cơ bản phát huy tác dụng; nhưng điều đó khong có lý do gì để bào chữa cho việc bỏ qua các khu vực mà có thể được cải cách”. Một số cải cách quan trọng, chẳng hạn như thay đổi những ghế an toàn được sắp xếp gian lận trong Hạ viện hoặc sửa đổi các quy định của Thượng viện đối với những người cản trở việc thông qua một dự luật – sẽ không yêu cầu bất kỳ sự sửa đổi về hiến pháp nào. Vẫn còn phải xem liệu hệ thống chính trị Mỹ có thể cải cách chính nó và đối phó với các vấn đề được miêu tả ở trên hay không, nhưng nó không tan vỡ như ngụ ý của các nhà phê bình vẽ ra những tương đồng đối với tình trạng suy tàn trong nước của La Mã hoặc các đế chế khác.

DEBATING DECLINE

Any net assessment of American power in the coming decades will remain uncertain, but analysis is not helped by misleading metaphors of decline. Declinists should be chastened by remembering how wildly exaggerated U.S. estimates of Soviet power in the 1970s and of Japanese power in the 1980s were. Equally misguided were those prophets of unipolarity who argued a decade ago that the United States was so powerful that it could do as it wished and others had no choice but to follow. Today, some confidently predict that the twenty-first century will see China replace the United States as the world's leading state, whereas others argue with equal confidence that the twenty-first century will be the American century. But unforeseen events often confound such projections. There is always a range of possible futures, not one.


Sự suy thoái gây tranh luận

Bất kỳ đánh giá thực nào về quyền lực Mỹ trong những thập kỷ tới sẽ vẫn không chắc chắn, nhưng sự phân tích không được giúp đỡ bởi những phép ẩn dụ sai lệch về sự suy thoái. Những nhà phát triển lý thuyết suy thoái nên được cảnh tỉnh bằng việc ghi nhớ cách đánh giá cực kỳ phóng đại của Mỹ về sức mạnh của Liên Xô những năm 1970 và về sức mạnh của Nhật Bản những năm 1980 như thế nào. Sai lầm không kém là những người tiên đoán về sự đơn cực đó vốn lập luận một thập kỷ trước rằng Mỹ đã mạnh mẽ đến mức nước này có thể làm như mình muốn và những nước khác không có lựa chọn nào khác ngoài làm theo. Ngày nay, một số người tự tin dự đoán rằng thế kỷ 21 sẽ chứng kiến Trung Quốc thay thế Mỹ với tư cách nhà nước lãnh đạo thế giới, trong khi những người khác lập luận với sự tự tin không kém rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Mỹ. Nhưng những sự kiện không lường trước được thường làm hỏng những dự đoán như vậy. Luôn có một loạt những tương lai có thể xảy ra, không phải một.

As for the United States' power relative to China's, much will depend on the uncertainties of future political change in China. Barring any political upheaval, China's size and high rate of economic growth will almost certainly increase its relative strength vis-à-vis the United States. This will bring China closer to the United States in power resources, but it does not necessarily mean that China will surpass the United States as the most powerful country -- even if China suffers no major domestic political setbacks. Projections based on GDP growth alone are one-dimensional. They ignore U.S. advantages in military and soft power, as well as China's geopolitical disadvantages in the Asian balance of power.


Về sức mạnh của Mỹ có liên quan đến sức mạnh của Trung Quốc, nhiều điều sẽ phụ thuộc vào những bấp bênh của sự thay đổi chính trị trong tương lai tại Trung Quốc. Trừ phi có bất kỳ cuộc chính biến nào, quy mô và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ làm tăng sức mạnh tương đối của nước này so với Mỹ. Điều này sẽ đưa Trung Quốc lại gần Mỹ hơn về các nguồn lực sức mạnh, nhưng không nhất thiết có nghĩa rằng Trung Quốc không phải chịu những bước thụt lùi về chính trị lớn ở trong nước. Những dự đoán dựa trên chỉ riêng tăng trưởng GDP là một chiều. Chúng bỏ qua những lợi thế của Mỹ trong sức mạnh quân sự và sức mạnh mềm, cũng như những bất lợi địa chính trị của Trung Quốc trong cán cân quyền lực của châu Á.


Among the range of possible futures, the more likely are those in which China gives the United States a run for its money but does not surpass it in overall power in the first half of this century. Looking back at history, the British strategist Lawrence Freedman has noted that the United States has "two features which distinguish it from the dominant great powers of the past: American power is based on alliances rather than colonies and is associated with an ideology that is flexible. . . . Together they provide a core of relationships and values to which America can return even after it has overextended itself." And looking to the future, the scholar Anne-Marie Slaughter has argued that the United States' culture of openness and innovation will keep it central in a world where networks supplement, if not fully replace, hierarchical power.


Trong loạt những tương lai có thể xảy ra, nhiều khả năng hơn là những tương lai trong đó Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt với Mỹ nhưng không vượt qua nước này về sức mạnh tổng thể trong nửa đầu thế kỷ này. Nhìn lại lịch sử, chiến lược gia người Anh Lawrence Freedman đã lưu ý rằng Mỹ có “hai đặc điểm phân biệt nước này với các cường quốc thống trị trong quá khứ: sức mạnh của Mỹ dựa trên các liên minh chứ không phải các thuộc địa và được kết hợp với một ý thức hệ linh hoạt… Cùng nhau chúng tạo ra một nòng cốt của những mối quan hệ và những giá trị mà Mỹ có thể quay trở lại ngay cả sau khi nước này đã tự mình mở rộng quá mức”. Và nhìn về tương lai, học giả Anne – Marie Slaughter đã lập luận rằng văn hoá cởi mở và đổi mới của Mỹ sẽ giữ cho nó ở trung tâm trong một thế giới nơi các mạng lưới bổ sung, nếu không nói là hoàn toàn thay thế, sức mạnh theo thứ bậc.


The United States is well placed to benefit from such networks and alliances, if it follows smart strategies. Given Japanese concerns about the rise of Chinese power, Japan is more likely to seek U.S. support to preserve its independence than ally with China. This enhances the United States' position. Unless Americans act foolishly with regard to Japan, an allied East Asia is not a plausible candidate to displace the United States. It matters that the two entities in the world with per capita incomes and sophisticated economies similar to those of the United States -- the European Union and Japan -- both are U.S. allies. In traditional realist terms of balances of power resources, that makes a large difference for the net position of U.S. power. And in a more positive-sum view of power -- that of holding power with, rather than over, other countries -- Europe and Japan provide the largest pools of resources for dealing with common transnational problems. Although their interests are not identical to those of the United States, they share overlapping social and governmental networks with it that provide opportunities for cooperation.


Mỹ cũng được ở vào vị trí thuận lợi để hưởng lợi từ những mạng lưới và liên minh như vậy, nếu nước này theo các chiến lược khôn ngoan. Do những lo ngại của Nhật Bản về sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc, Nhật Bản có khả năng hơn tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ để bảo vệ sự độc lập của mình thay vì liên minh với Trung Quốc. Điều này làm tăng vị thế của Mỹ. Trừ phi người Mỹ hành động một cách thiếu khôn ngoan đối với Nhật Bản, một Đông Á đồng minh không phải là một ứng cử viên đáng tin cậy để thay thế theo đầu người và các nền kinh tế tân tiến tương tự như của Mỹ – đó là Liên minh châu Âu và Nhật Bản – thì đều là đồng minh của Mỹ. Trong biểu hiện mang tính hiện thực truyền thống dưới dạng những cán cân nguồn lực sức mạnh, điều đó tạo ra một sự khác biệt lớn đối với vị trí thực của sức mạnh Mỹ. Và trong một quan điểm về sức mạnh kiểu mọi thành phần tham gia đều có cơ hội thắng hơn – rằng nắm quyền lực cùng với, thay vì đối với, các nước khác – châu Âu và Nhật Bản cung cấp các nhóm nguồn lực lớn nhất để đối phó với các vấn đề xuyên quốc gia chung. Mặc dù lợi ích của họ không đồng nhất với những lợi ích của Mỹ, họ chia sẻ các mạng lưới xã hội và chính phủ gối lên nhau với Mỹ, điều đem lại các cơ hội hợp tác.


On the question of absolute, rather than relative, American decline, the United States faces serious problems in areas such as debt, secondary education, and political gridlock. But they are only part of the picture. Of the multiple possible futures, stronger cases can be made for the positive ones than the negative ones. But among the negative futures, the most plausible is one in which the United States overreacts to terrorist attacks by turning inward and thus cuts itself off from the strength it obtains from openness. Barring such mistaken strategies, however, there are solutions to the major American problems of today. (Long-term debt, for example, could be solved by putting in place, after the economy recovers, spending cuts and consumption taxes that could pay for entitlements.) Of course, such solutions may forever remain out of reach. But it is important to distinguish hopeless situations for which there are no solutions from those that could in principle be solved. After all, the bipartisan reforms of the Progressive era a century ago rejuvenated a badly troubled country.

Về vấn đề sự suy thoái tuyệt đối, thay vì tương đối, của Mỹ, nước Mỹ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng trong các lĩnh vực như nợ, giáo dục trung học, và bế tắc chính trị. Nhưng chúng chỉ là một phần của bức tranh. Nằm trong nhiều tương lai có thể xảy ra, những trường hợp rõ ràng hơn có thể được tao ra cho những tương lai tích cực hơn là những tương lai tiêu cực. Nhưng trong những tương lai tiêu cực, tương lai hợp lý nhất là một tương lai trong đó Mỹ phản ứng quá mức với các cuộc tấn công khủng bố bằng cách chuyển sang hướng nội và do đó tự cắt đứt mình khỏi sức mạnh mà nước này có được từ sự mở cửa. Tuy nhiên, trừ phi có những chiến lược sai lầm như vậy, có những giải pháp cho các vấn đề chính của Mỹ ngày nay. (Chẳng hạn, nợ dài hạn có thể được giải quyết bằng cách sau khi nền kinh tế hồi phục đưa ra những sự cắt giảm chi tiêu và thuế tiêu thụ có thể trả tiền phúc lợi.) Tất nhiên, những giải pháp như vậy có thể mãi mãi vẫn còn nằm ngoài tầm với. Nhưng điều quan trọng là phân biệt những tình huống tuyệt vọng mà trong đó không có giải pháp nào với những tình huống mà trên nguyên tắc có thể được giải quyết. Rốt cuộc, những cải cách lưỡng đảng của thời đại Tiến bộ cách đây một thế kỷ đã phục hồi  một đất nước bị rối loạn nặng nề.

A NEW NARRATIVE

It is time for a new narrative about the future of U.S. power. Describing power transition in the twenty-first century as a traditional case of hegemonic decline is inaccurate, and it can lead to dangerous policy implications if it encourages China to engage in adventurous policies or the United States to overreact out of fear. The United States is not in absolute decline, and in relative terms, there is a reasonable probability that it will remain more powerful than any single state in the coming decades.

Một câu chuyện mới

Đã đến lúc có một câu chuyện mới về tương lai của sức mạnh Mỹ. Mô tả sự chuyển giao quyền lực trong thế kỷ 21 như một trường hợp suy giảm bá quyền truyền thống là không chính xác, và nó có thể dẫn đến những tác động về chính sách nguy hiểm nếu nó khuyến khích Trung Quốc can dự vào các chính sách mạo hiểm hay Mỹ phản ứng thái quá vì sợ hãi. Mỹ không phải trong tình trạng suy thoái tuyệt đối, và về mặt tương đối, có một khả năng hợp lý rằng nước này sẽ vẫn hùng mạnh hơn bất kỳ nhà nước đơn lẻ nào trong những thập kỷ tới.

At the same time, the country will certainly face a rise in the power resources of many others -- both states and nonstate actors. Because globalization will spread technological capabilities and information technology will allow more people to communicate, U.S. culture and the U.S. economy will become less globally dominant than they were at the start of this century. Yet it is unlikely that the United States will decay like ancient Rome, or even that it will be surpassed by another state, including China.


Đồng thời, đất nước này chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự trỗi dậy trong các nguồn lực sức mạnh của nhiều nước khác – cả các bên tham gia nhà nước lẫn không phải nhà nước. Bởi sự toàn cầu hoá sẽ làm lan truyền những khả năng công nghệ và công nghệ thông tin sẽ cho phép thêm nhiều người giao thiệp hơn, văn hoá Mỹ và nền kinh tế Mỹ sẽ trở nên ít mang tính chi phối trên toàn cầu hơn so với lúc bắt đầu của thế kỷ này. Tuy nhiên, không có khả năng là Mỹ sẽ suy tàn giống như La Mã cổ đại, hoặc thậm chí là nước này sẽ bị một nhà nước khác vượt qua, trong đó có Trung Quốc.


The problem of American power in the twenty-first century, then, is not one of decline but what to do in light of the realization that even the largest country cannot achieve the outcomes it wants without the help of others. An increasing number of challenges will require the United States to exercise power with others as much as power over others. This, in turn, will require a deeper understanding of power, how it is changing, and how to construct "smart power" strategies that combine hard- and soft-power resources in an information age. The country's capacity to maintain alliances and create networks will be an important dimension of its hard and soft power.


Như vậy, vấn đề về sức mạnh của Mỹ trong thế kỷ 21 không phải là vấn đề suy giảm mà là phải làm gì dưới ánh sáng của nhận thức rằng ngay cả đất nước lớn nhất cũng không thể đạt được những kết quả mình mong muốn nếu không có sự giúp đỡ của những nước khác. Một số lượng ngày càng tăng những thách thức sẽ đòi hỏi Mỹ thể hiện sức mạnh cùng với những nước khác cũng nhiều như sức mạnh đối với những nước khác. Điều này đến lượt nó sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc hơn về sức mạnh, nó đang thay đổi như thế nào, và làm thế nào để xây dựng những chiến lược “sức mạnh thông minh” kết hợp những nguồn lực sức mạnh cứng và mềm trong một thời đại thông tin. Khả năng của đất nước này duy trì các liên minh và tạo ra những mạng lưới sẽ là một khía cạnh quan trọng trong sức mạnh cứng và mềm của nó.


Power is not good or bad per se. It is like calories in a diet: more is not always better. If a country has too few power resources, it is less likely to obtain its preferred outcomes. But too much power (in terms of resources) has often proved to be a curse when it leads to overconfidence and inappropriate strategies. David slew Goliath because Goliath's superior power resources led him to pursue an inferior strategy, which in turn led to his defeat and death. A smart-power narrative for the twenty-first century is not about maximizing power or preserving hegemony. It is about finding ways to combine resources in successful strategies in the new context of power diffusion and "the rise of the rest."


Sức mạnh bản chất là không tốt hay xấu. Nó giống như calo trong chế độ ăn uống: nhiều hơn không phải luôn tốt hơn. Nếu một đất nước có quá ít nguồn lực sức mạnh, nước này ít có khả năng đạt được những kết quả ưa thích của mình. Nhưng quá nhiều sức mạnh (về nguồn lực) thường tỏ ra là một tai ương khi nó dẫn đến sự tự tin quá mức và những chiến lược không thích hợp. David giết được Goliath vì nguồn lực sức mạnh ưu việt của Goliath khiến hắn theo đuổi một chiến lược yếu kém hơn, chiến lược mà đến lượt nó dẫn đến thất bại và cái chết của hắn. Một câu chuyện về sức mạnh thông minh cho thế kỷ 21 không phải về việc tối đa hoá sức mạnh hoặc duy trì bá quyền. Đó là về việc tìm ra cách để kết hợp các nguồn lực trong những chiến lược thành công trong bối cảnh mới của sự khuếch tán quyền lực và “sự trỗi dậy của phần còn lại”.


As the largest power, the United States will remain important in global affairs, but the twentieth-century narrative about an American century and American primacy -- as well as narratives of American decline -- is misleading when it is used as a guide to the type of strategy that will be necessary in the twenty-first century. The coming decades are not likely to see a post-American world, but the United States will need a smart strategy that combines hard- and soft-power resources -- and that emphasizes alliances and networks that are responsive to the new context of a global information age.
Là quốc gia lớn nhất, Mỹ sẽ vẫn quan trọng trong các vấn đề toàn cầu, nhưng câu chuyện của thế kỷ 20 về một thế kỷ Mỹ và sự ưu việt Mỹ – cũng như những câu chuyện về sự suy thoái của Mỹ – gây hiểu lầm khi nó được sử dụng như một sự chỉ dẫn cho kiểu chiến lược sẽ cần thiết trong thể kỷ 21. Những thập kỷ tới không có khả năng chứng kiến một thế giới hậu Mỹ, nhưng Mỹ sẽ cần một chiến lược thông minh kết hợp các nguồn lực sức mạnh cứng và mềm – và chú trọng đến những liên minh và những mạng lưới đáp ứng được với bối cảnh mới của một thời đại thông tin toàn cầu.




http://www.foreignaffairs.com/articles/63394/fareed-zakaria/the-future-of-american-power

Russian "Justice" “Công lí” Nga




Russian "Justice"

“Công lí” Nga

Ariel Cohen
January 11, 2011

Ariel Cohen
11/1/2011

The new, Republican-majority Congress is starting its work with a jaundiced eye on what's going on in Russia. Just a week ago Moscow convicted Mikhail Khodorkovsky for crimes most legal experts believe he did not commit. Former Deputy Prime Minister Boris Nemtsov is in jail, albeit only for two weeks, for demonstrating in support of freedom of assembly. But it is the fourteen-year sentence meted out against Khodorkovsky which is particularly telling. It reflects not guilt on the part of the ex-chairman of Russia’s Yukos oil company, but the animus against the man by Russia’s rulers. Even if American companies want to do business in Russia, the verdict and the arrests don't help.


Quốc hội mới với đảng Cộng hòa chiếm đa số đang bắt đầu nhiệm vụ của nó với con mắt hằn học nhìn về những gì đang diễn ra ở nước Nga. Mới cách đây một tuần Moscow kết án Mikhail Khodorkovsky về những tội mà hầu hết các chuyên gia luật tin rằng ông không phạm. Cựu Thủ tướng Boris Nemtsov mới vào tù hai tuần nay, vì biểu tình ủng hộ tự do hội họp. Nhưng chính bản án mười bốn năm tù đưa ra chống Mikhail Khodorkovsky mới đặc biệt đáng nói. Nó không phản ánh tội của cựu chủ tịch công ty dầu Yukos của Nga, mà phản ánh sự thù địch của giới cầm quyền Nga. Cho dù các công ty Mỹ có muốn vào kinh doanh ở Nga thì bản phán quyết và vụ bắt giữ ấy cũng không giúp đỡ gì được.


Granted, the 1990s were the years of "Wild West capitalism" in Russia, in which Khodorkovsky participated together with other businessmen, but his real “crime” was trying to liberate his company and himself from his country's system of bribes and political favors that nourishes Moscow’s power brokers. By pushing Yukos to function transparently after it went public, including by paying taxes, he tried to propel his company—and his country—toward Western-style corporate governance.


Cứ cho là những năm 1990 là những năm của “chủ nghĩa tư bản Tây phương hoang dã” ở Nga, mà Khodorkovsky cùng với nhiều nhà kinh doanh khác đã tham gia vào, nhưng “tội” thật sự của ông là cố gắng “giải phóng” công ty của ông và bản thân ông ra khỏi hệ thống tham nhũng và cánh hẩu chính trị đang nuôi béo những kẻ môi giới quyền lực ở Moscow. Bằng cách buộc Yukos hành động một cách minh bạch sau khi cổ phần hóa nó, trong đó có việc đóng thuế, ông cố gắng thúc đẩy công ty của ông - và đất nước ông - chuyển sang cách điều hánh tập thể kiểu phương Tây.


Yet Judge Viktor Danilkin declared it necessary to “reform [Khodorkovsky] by isolating him from society.” With these words, Danilkin unwittingly convicted the very system he serves of authoritarianism, injustice and corruption. The verdict proved that system to be incapable of self-correction and reform—despite desperate calls for both by its nominal leader, President Dmitry Medvedev.


Tuy nhiên quan tòa Viktor Danilkin tuyên bố cần “cải tạo [Khodorkovsky] bằng cách cách ly ông ra khỏi xã hội”. Với những lời lẽ như thế, Danilkin vô tình đã kết tội chính cái chế độ chuyên chế, tham nhũng và bất công mà ông phục vụ. Bản phán quyết chứng tỏ rằng chế độ không có khả năng tự sửa đổi và cải cách, bất chấp những lời kêu gọi hùng hồn về cả hai, của vị tổng thống trên danh nghĩa của nó, Dmirti Medvedev.
           
Prime Minister Vladimir Putin is reasserting his power while Russia is facing political stagnation. This time, Putin effectively told the judge how to rule on a nationally televised Q&A. “A thief has to sit in jail,” Putin said. And sit for another six and a half years Khodorkovsky will. Twenty years after the collapse of the Soviet Union, Russia still lives under “telephone law”—a system in which punishments are triggered by phone calls from higher ups.


Thủ tướng Vladimir Putin đang đánh giá lại quyền lực của ông ta trong khi nước Nga đối mặt với sự bế tắc về chính trị. Lần này, Putin đã thật sự bảo quan tòa phải xử như thế nào trong chương trình Hỏi và Trả lời trên đài Truyền hình Quốc gia. “Một tên trộm thì phải ngồi trong tù,” Putin nói. Và Khodorkovsky sẽ phải ngồi thêm sáu năm rưỡi nữa. Hai mươi năm sau sự sụp đổ của Liên xô, nước Nga vẫn còn nằm dưới “luật điện thoại” - một chế độ trong đó những án phạt được giật dây từ một cú điện thoại của cấp trên.


Khodorkovsky’s innocence is manifest, legal experts such as professors Mary Holland and Ethan Burger in the United States and Bill Bowring in the UK, as well as Justice Tamara Morshchakova, formerly of the Russian Constitutional court, agree. State prosecutors’ claim that he “stole” 300 million tons of oil is a physical impossibility. The oil was pumped through the state-owned Transneft pipeline system, logged and accounted for.


Sự vô tội của Khodorkovsky là rõ ràng, các chuyên gia luật như các giáo sư Mary Holland và Ethan Burger ở Hoa Kỳ và Bill Bowring ở Anh, cũng như Tamara Morshchakova, cựu chánh án Tòa Hiến pháp Nga, đều nhất trí như thế. Tuyên bố của công tố nhà nước rằng ông đã “ăn cắp” 300 triệu tấn dầu là điều không thể xảy ra về mặt vật lý. Dầu được bơm qua hệ thống đường ống Transneft do nhà nước quản lý, ghi chép và kế toán.


Unfortunately, Khodorkovsky’s repeated trials are reminiscent of innumerable tragedies perpetrated by Russia’s rulers and their obedient courts. For three centuries now, Russia has jailed, killed off, driven to suicide or exiled its prominent social and political critics, economists, writers, philosophers and poets such as Aleksandr Radishchev, Aleksandr Gertzen, Fyodor Dostoyevsky, Nikolai Gumilev, Osip Mandelstam, and the trio of Nobel Prize winners in the twentieth century: Aleksandr Solzhenitsyn, Andrey Sakharov and Joseph Brodsky. The founder of the Soviet state, Vladimir Lenin, exiled two shipfuls of intellectuals and sent others to the concentration camp in Solovki, while his successor Joseph Stalin murdered tens of thousands in the gulag, permanently destroying whole branches of Russia’s sciences and humanities.


Đáng buồn là những vụ án lặp đi lặp lại của Khodorkovsky nhắc nhớ đến vô số những bi kịch do những kẻ thống trị nước Nga và các tòa án ngoan ngoãn vâng lời gây ra. Trong ba thế kỷ nay, nước Nga đã bỏ tù, giết hại, bức tử hoặc đầy ải các nhà phê bình chính trị xã hội, nhà văn, nhà kinh tế, triết gia và nhà thơ kiệt xuất nhất của nó, như Aleksandr Radishchev, Aleksandr Gertzen, Fyodor Dostoyevsky, Nikolai Gumilev, Osip Mandelstam, và ba người được giải Nobel trong thế kỷ hai mươi: Aleksandr Solzhenitsyn, Andrey Sakharov và Joseph Brodsky. Người sáng lập nhà nước Xô viết, Vladimir Lenin, đã trục xuất hai chuyến tàu những nhà trí thức và đưa những người khác đi trại tập trung Solovki, trong khi người kế tục ông, Joseph Stalin, đã giết hàng chục nghìn người trong Quần đảo ngục tù (GULAG), phá hủy vĩnh viễn toàn bộ các ngành khoa học và nhân văn của nước Nga.


A bespectacled former oligarch, Khodorkovsky is neither a poet nor a philosopher. Nor is he a political threat to the current regime. Opinion polls indicate he is not popular with voters, and he has expressed no interest in seeking public office.


Cựu thủ lĩnh chính trị đeo kính Khodorkovsky không phải là nhà triết học cũng không phải nhà thơ. Ông cũng không phải là mối đe dọa về chính trị đối với chế độ hiện thời. Những cuộc thăm dò ý kiến cho thấy ông không được nhiều cử tri biết đến, và ông chưa biểu lộ quan tâm gì đến việc kiếm một địa vị trong chính quyền.


So what is the real reason for his second sentence? A mix of the desire to keep Yukos assets in the hands of those who expropriated it without paying compensation and a strong signal to anyone—especially to business tycoons—not to challenge the status quo, especially on the eve of the 2012 presidential election.


Vậy lý do thật sự của bản án thứ hai này là gì? Một sự pha trộn giữa mong muốn giữ tài sản của Yukos trong tay những kẻ chiếm đoạt nó mà không bồi thường, và một tín hiệu mạnh cho bất kỳ ai - đặc biệt là những trùm kinh doanh - rằng chớ có thách thức hiện trạng quyền lực, đặc biệt vào trước kỳ bầu cử tổng thống năm 2012.


Yet many Russian democrats believe that the status quo seems more rotten than ever. A recently leaked Russian Government Accounting Office report exposed $4.5 billion in corruption surrounding the building of the trans-Siberian oil pipeline. Other muckraking exposés reveal multibillion-dollar graft in state procurement, from the Sochi Olympics contracts to military acquisitions.


Tuy nhiên nhiều nhà dân chủ Nga cho rằng chưa bao giờ hiện trạng quyền lực mục nát hơn bây giờ. Một báo cáo bị rò rỉ gần đây của Cơ quan Kiểm toán chính phủ Nga tiết lộ 4,5 tỉ $ hối lộ xung quanh việc xây dựng đường ống dẫn dầu xuyên Siberi. Một vụ khác tiết lộ nhiều tỉ đô la gắn với các đơn hàng mua bán của nhà nước, từ những hợp đồng Olympics Sochi đến những mua sắm quân sự.


The opportunity for reform has been missed. So has the chance to improve U.S.-Russian relations. President Barack Obama pleaded Khodorkovsky’s case. The harsh sentence, handed down immediately after the U.S. Senate ratified the New START treaty, seems a deliberate insult. It also offended German Chancellor Angela Merkel, who demanded justice for Khodorkovsky as well.


Cơ hội cải cách đã bị bỏ lỡ. Cơ hội thay đổi quan hệ Nga-Mỹ cũng vậy. Tổng thống Barrack Obama đã xin cho vụ Khodorkovsky. Bản án khắc nghiệt đưa ra ngay sau khi Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn hiệp ước START mới, dường như là một sự lăng mạ cố ý. Nó cũng xúc phạm Thủ tướng Đức Angela Merkel, người đã đòi công lý cho Khodorkovsky.


Already there are reports that the Obama administration may reexamine Russia’s WTO membership. Moreover, Congress is expected to consider legislation calling for punishment of those involved in the death of Sergei Magnitsky. The Russian lawyer died in detention after having uncovered alleged corporate and tax crimes that allowed Russian law-enforcement officials to pocket some $230 million. The proposal to name names and curb Western travel for Russian officials involved in odious persecutions, including in the case of Khodorkovsky, may be another way to send a signal to the Kremlin. Without a strong signal from Washington, Khodorkovsky's freedom will be forsaken and his life will be in danger. And all of this will threaten the U.S.-Russian partnership moving forward.
Đã có những báo cáo rằng chính quyền Obama có thể xem xét lại tư cách thành viên của Nga trong WTO. Ngoài ra, Quốc Hội cũng đang cân nhắc kêu gọi trừng phạt pháp lý đối với những kẻ dính líu vào cái chết của Sergei Magnitsky. Luật sư người Nga này chết trong khi bị giam giữ sau khi vạch trần những tội ác tập thể và thuế cho phép các quan chức bảo vệ pháp luật Nga bỏ túi 230 triệu $. Yêu cầu nêu tên các quan chức dính dáng đến những sự ngược đãi ghê tởm trong vụ Khodorkovsky, và hạn chế họ vào các nước phương Tây có thể là cách khác để gửi một tín hiệu đến Kremlin. Không có những tín hiệu mạnh từ Washington, việc đòi tự do cho Khodorkovsky bị bỏ rơi và tính mạng của ông sẽ bị nguy hiểm. Và tất cả những điều này sẽ đe dọa sự tiến triển của mối quan hệ đối tác Nga-Mỹ.





Translated by Hiếu Tân


http://nationalinterest.org/commentary/russian-justice-4692

Философия свободы Triết lí tự do




Философия свободы

Triết lí tự do
Философия свободы исходит из безусловной ценности человеческой личности. Каждый человек от природы обладает свободной волей. Отсюда происходит его неотчуждаемое право распоряжаться собой и своей собственностью. Мы обладаем естественной свободой: экономической деятельности, политического выбора, творчества и познания.


Triết lí tự do xuất phát từ giá trị tuyệt đối của cá nhân con người. Mỗi người đều được tự nhiên phú cho ý chí tự do. Đấy là cội nguồn của quyền bất khả phân trong việc sử dụng tài sản cũng như họat động của cá nhân mình. Chúng ta có quyền tự do: trong họat động kinh tế, trong lựa chọn chính trị, trong sáng tạo và học hỏi…


В условиях свободы личность в полной мере может реализовать свои способности и таланты на рынке посредством добровольного обмена с другими людьми. Поэтому только общество свободных людей может рассчитывать на устойчивое экономическое развитие и рост благосостояния.


Trong những điều kiện tự do, thông qua trao đổi một cách tự nguyện với những người khác, cá nhân hòan tòan có quyền bán năng lực và tài năng của mình trên thị trường. Vì vậy chỉ có xã hội của những con người tự do mới có sự phát triển kinh tế và gia tăng phúc lợi một cách ổn định mà thôi.


Философия свободы направлена на изучение общественных институтов, обеспечивающих добровольный обмен товарами и услугами, - свободного рынка и системы прав собственности. В конечном итоге философия свободы призвана способствовать изменению ценностных и социально-политических ориентиров современного общества, появлению нового интеллектуального консенсуса на основе принципов индивидуальной свободы, а также формированию поколения ответственных граждан, готовых делать выбор, не опираясь на опеку государство.


Triết lí tự do nghiên cứu những định chế xã hội bảo đảm việc trao đổi một cách tự nguyện hàng hóa và dịch dụ - thị trường tự do và hệ thống các quyền sở hữu. Tự trung lại, triết lí tự do có sứ mệnh góp phần thúc đẩy sự thay đổi định hướng giá trị và chính trị xã hội của xã hội đương đại, giúp hình thành sự đồng thuận trên cơ sở những nguyên tắc của quyền tự do cá nhân, cũng như hình thành thế hệ những người công dân có trách nhiệm, sẵn sàng đưa ra quyết định chứ không chỉ dựa dẫm vào sự bảo trợ của nhà nước.


Идеи философии свободы пересекаются с объективизмом Айн Рэнд. Объективизм исходит из существования только одной, объективной, реальности, независимой от сознания. Человек способен разумно постигать и творчески преобразовывать эту реальность, приспосабливая под свои нужды. Как и любое живое существо в реальном мире, человек стремится сохранить свою жизнь и достичь счастья. Это цели и моральные ценности, объективно заложенные в природе человека. В соответствии с этими нормами социальная система должна строиться на безусловном уважении прав, свобод и достоинства каждой отдельной личности. Мораль не может требовать, а общество не должно приносить интересы одного человека в жертву интересам других людей . Только добровольное сотрудничество на рынке соответствует разумной природе человека.


Tư tưởng của triết lí tự do tương giao với chủ nghĩa khách quan của Ayn Rand. Chủ nghĩa khách quan xuất phát từ ý tưởng cho rằng hiện thực khác quan tồn tại độc lập với nhận thức của con người. Con người có thể hiểu và cải tạo hiện thực cho phù hợp với nhu cầu của mình. Cũng như mọi sinh vật trong thế giới hiện thực này, con người luôn tìm cách bảo vệ cuộc sống và đạt được hạnh phúc. Đấy là mục đích và giá trị đạo đức nằm trong chính bản chất của con người. Hệ thống xã hội phải được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng vô điều kiện các quyền, quyền tự do và nhân phẩm của từng cá nhân con người. Đạo đức không thể đòi hỏi, còn xã hội thì không được hi sinh quyền lợi của một người cho quyền lợi của những người khác. Chỉ có sự hợp tác tự nguyện trên thương trường là phù hợp với bản chất của con người mà thôi.


Экономическое обоснование философии свободы предоставляет австрийская экономическая школа (Карл Менгер, Ойген фон Бём-Баверк, Людвиг фон Мизес, Фридрих Хайек и др). Ее представители акцентируют внимание на стихийной самоорганизации рыночного порядка. Любое искусственное (государственное) вмешательство в экономику делает невозможным экономический расчет, основанный на механизме цен, чем провоцирует рост числа экономических ошибок и неэффективности. Субъективная теория ценности, разработанная австрийской школой, доказывает, что вещи не обладают вмененной (объективной) ценностью, но приобретают ее лишь в суждении индивида. То есть только индивид в конкретных условиях может оценить экономическое благо и определить его место в производственном процессе. Каждый из нас — лучший судья вопросах, касающихся его благосостояния. Поэтому, оптимальный вариант регуляции экономических отношений — это предоставление индивиду возможности самостоятельно определять ценность благ и вести экономическую деятельность, то есть система свободного рыночного общества.


Cơ sở kinh tế học của triết lí tự do là Trường phái kinh tế học Áo (Carl Menger, Eugen von Böhm-Bawerk, Ludwig von Mises, Friedrich von Hayek ..v.v..). Những người đặt nền móng và đại diện cho trường phái này, trong khi phân tích các tiến trình kinh tế, đã tập trung chú ý vào khả năng tự tổ chức một cách tự phát của thị trường. Mọi can thiệp mang tính nhân tạo (của nhà nước) vào họat động kinh tế đều làm cho hạch tóan kinh tế - dựa trên cơ chế giá cả - trở thành bất khả thi và như vậy là tạo ra thêm sai lầm và lam cho họet động kinh tế kém hiệu quả hơn. Lí thuyết giá trị chủ quan do trường phái kinh tế Áo đưa ra chứng minh rằng vật chất không có giá trị tự thân (khách quan), giá trị của nó nằm trong xét đóan của từng cá nhân. Nghĩa là chỉ có cá nhân - trong nhưng điều kiện cụ thể - mới có thể đánh giá được lợi ích kinh tế và xác định được vị trí của nó trong quá trình sản xuất. Mỗi người chúng ta đều là những quan tòa chính xác nhất trong những vấn đề liên quan đến phúc lợi của chính mình. Vì vậy mà tạo điều kiện cho các nhân tự quyết định giá trị phúc lợi và tiến hành các họat động kinh tế, tức là thị trường tự do là phương án điều tiết các quan hệ kinh tế tối ưu nhất.


Таким образом, философия свободы оказывается непосредственно связана с традициями классического либерализма и либертарианства. Как и философия свободы, классический либерализм предполагает максимальное ограничение властного вмешательства в жизнь общества и провозглашает свободу совести, свободу слова, собраний, прессы и, главное, - свободный рынок, где функция государства сводится к защите прав собственности. Либертарианство, опирающееся на аксиому самопринадлежности личности, также близко идеям философии свободы. В его основе лежит запрет на «агрессивное насилие», то есть запрет инициации применения силы, или угрозы применения силы, к другому лицу или его имуществу.
Như vậy là triết lí tự do liên quan trực tiếp với những truyền thống của chủ nghĩa tự do và trực tiếp với chủ nghĩa tự do (liberalism) và tự do cá nhân (libertarianism). Cũng như triết lí tự do, chủ nghĩa tự do cổ điển đều nghị giới hạn một cách tối đa sự can thiệp của chính quyền vào đời sống xã hội và tuyên bố quyền tự do lương tâm, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí và quan trọng nhất là thị trường tự do, nơi chức năng của nhà nước chỉ còn là bảo vệ quyền sở hữu mà thôi. Chủ nghĩa tự do cá nhân, dựa trên tiền đề mỗi người đều có quyền tự chủ của mình, cũng rất gần gũi với triết lí tự do. Cơ sở của chủ gnhĩa này là cấm “bạo lực”, nghĩa là cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực đối với người hoặc tài sản của người khác.






Translated by Phạm Nguyên Trường


http://www.cpf-russia.org/node/2

How the Kremlin Harnesses the Internet Kremlin đã kiểm sóat Internet như thế nào



How the Kremlin Harnesses the Internet

Kremlin đã kiểm sóat Internet như thế nào

By EVGENY MOROZOV
January 4, 2011

EVGENY MOROZOV
January 4, 2011

WASHINGTON — Hours before the judge in the latest Mikhail Khodorkovsky trial announced yet another guilty verdict last week, Russia’s most prominent political prisoner was already being attacked in cyberspace.

WASHINGTON — Nhiều giờ trước khi quan tòa trong phiên gần đây xử Mikhail Khodorkovsky tuyên đọc bản phán quyết mới vào tuần trước, người tù chính trị kiệt xuất nhất nước Nga đã bị tấn công trên không gian ảo.


No, Khodorkovsky’s Web site, the main source of news about the trial for many Russians, was not being censored. Rather, it had been targeted by so-called denial-of-service attacks, with most of the site’s visitors receiving a “page cannot be found” message in their browsers.

Không, website của Khodorkovsky, nguồn tin chính về vụ án cho nhiều người Nga không bị kiểm duyệt. Đúng hơn, nó đã bị tấn công bởi cái gọi là những cuộc tấn-công từ-chối dịch-vụ, với đa số người viếng thăm nhận được thông báo “không tìm thấy trang này”.

Such attacks are an increasingly popular tool for punishing one’s opponents, as evidenced by the recent online campaign against American corporations like Amazon and PayPal for mistreating WikiLeaks. It’s nearly impossible to trace the perpetrators; many denial-of-service attacks go underreported, as it’s often hard to distinguish them from cases where a Web site has been overwhelmed by a huge number of hits. Although most of the sites eventually get back online, denial-of-service attacks rarely generate as much outrage as formal government attempts to filter information on the Internet.


Những cuộc tấn công như thế là một công cụ ngày càng phổ biến để trừng phạt đối thủ, như được chứng tỏ bởi chiến dịch trên mạng chống các công ty như Amazon và PayPal vì đã cư xử tồi đối với WikiLeaks. Gần như không thể nào lần ra dấu vết thủ phạm, những cuộc tấn-công từ-chối dịch-vụ tiến hành thường ít bị báo cáo, vì khó phân biệt chúng với những trường hợp trong đó website bị tràn ngập bởi một số lượng không lồ người vào. Mặc dầu cuối cùng phần lớn các site này vẫn trở lại được, những cuộc tấn-công từ-chối dịch-vụ hiếm khi gây ra công phẫn nhiều như những mưu mô chính thức của chính quyền nhằm lọc thông tin trên internet.

In the past, repressive regimes have relied on Internet firewalls to block dissidents from spreading forbidden ideas; China has been particularly creative, while countries like Tunisia and Saudi Arabia are never far behind. But the pro-Kremlin cyberattackers who hit Kodorkovsky’s Web site may reveal more about the future of Internet control than Beijing’s practice of adapting traditional censorship to new technology.


Trong quá khứ, các chế độ áp bức dựa vào tường lửa internet để ngăn chặn những người bất đồng chính kiến phổ biến những tư tưởng bị cấm của họ; Trung Hoa đặc biệt sáng tạo, trong khi các nước khác như Tunisia và Saudi Arabia luôn theo sát gót. Nhưng những kẻ tấn công trên mạng phục vụ cho Kremlin đã đánh website của Khodorkovsky có thể làm bộc lộ nhiều về tương lai của việc kiểm soát Internet hơn việc Bắc Kinh thực hành áp dụng kiểm duyệt truyền thống vào công nghệ mới.

Under the Russian model — what I refer to as “social control” — no formal, direct censorship is necessary. Armies of pro-government netizens — which often include freelancing amateurs and computer-savvy members of pro-Kremlin youth movements — take matters into their own hands and attack Web sites they don’t like, making them inaccessible even to users in countries that practice no Internet censorship at all.

Theo kiểu của Nga - cái mà tôi gọi là “kiểm soát xã hội” - không cần đến kiểm duyệt chính thức, trực tiếp nữa. Đội quân công dân mạng thân-chính phủ - thường bao gồm những tay nghiệp dư làm nghề tự do, những thành viên của các phong trào thanh niên thân Kremlin, nhận lấy các vấn đề vào trong tay mình và tấn công những website mà họ không thích, làm cho những người sử dụng không thể truy cập được, ngay cả ở những nước không hề có kiểm duyệt Internet.


Cyberattacks are just one of the growing number of ways in which the Kremlin harnesses its supporters to influence Web content. Most of the country’s prime Internet resources are owned by Kremlin-friendly oligarchs and government-controlled companies. These sites rarely hesitate to suspend users or delete blog posts if they cross the line set by the government.


Những cuộc tấn công trên mạng chỉ là một trong những cách ngày càng nhiều trong đó Kremlin chỉ đạo những người ủng hộ nó kiểm soát nội dung trên mạng. Phần lớn những nguồn Internet chủ yếu của nước này đều là sở hữu của những đầu sỏ chính trị thân Kremlin và những công ty do nhà nước kiểm soát. Những site này không ngần ngại làm treo máy những người sử dụng và xóa đi những nội dung post lên blog nếu chúng vượt qua lằn ranh do chính phủ vạch ra.


The Kremlin is also aggressively exploiting the Internet to spread propaganda and bolster government popularity, sometimes with comical zeal. Just last summer Vladimir Putin ordered the installation of Web cameras — broadcasting over the Internet in real-time — to monitor progress on new housing projects for victims of the devastating forest fires. This made for great PR — but few journalists inquired whether the victims had computers to witness this noble exercise in transparency (they didn’t). Russia’s security services and police also profit from digital surveillance, using social networking sites to gather intelligence and gauge the popular mood.


Kremlin cũng ráo riết khai thác Internet để tuyên truyền và lôi kéo ủng hộ chính phủ, đôi khi với một sự sốt sắng khôi hài. Mùa hè mới rồi Vladimir Putin đã ra lệnh lắp đặt những camera mạng - phát lên internet trong thời gian thực - để theo dõi tiến độ của các dự án nhà ở mới cho các nạn nhân của những cuộc cháy rừng tàn phá nặng nề. Đây là một kiểu tự quảng cáo quá cỡ, nhưng một số nhà báo hỏi rằng liệu các nạn nhân có máy tính để chứng kiến hành vi cao quý này không (họ không có). Cục an ninh và Cảnh sát Nga cũng được lợi từ việc theo dõi qua mạng, bằng cách dùng các site mạng xã hội ở địa phương để thu thập tin tức tình báo và đo lường tâm trạng của quần chúng.


The Kremlin in fact practices very little formal Internet censorship, preferring social control to technological constraints. There is a certain logic to this. Outright censorship hurts its image abroad: Cyberattacks are too ambiguous to make it into most foreign journalists’ reports about Russia’s worsening media climate. By allowing Kremlin-friendly companies and vigilantes to police the digital commons, the government doesn’t have to fret over every critical blog post.


Trên thực tế Kremlin thực hiện rất ít kiểm duyệt chính thức Internet, nó thích kiểm soát xã hội hơn là kiềm chế bằng công nghệ. Có một logic nhất định trong việc nó làm thế. Kiểm duyệt thẳng thừng thì làm hỏng hình ảnh của nó với nước ngoài: Những cuộc tấn công ảo là rất mơ hồ nên khó rơi vào báo cáo của các nhà báo nước ngoài về tình hình khí hậu truyền thông đang xấu đi của nước Nga. Bằng cách cho phép những công ty thân Kremlin và các “tổ chức dân phòng” kiểm soát cư dân mạng, chính phủ không phải lo đến những nội dung chỉ trích được post lên blog.


One reason so many foreign observers overlook the Kremlin’s harnessing of denial-of-service attacks is that they are used to more blatant measures of Internet control. China’s draconian efforts to filter the Internet — characterized by Wired magazine in a 1997 article as the “Great Firewall of China” — harken back to the strict censorship of the airways by Communist governments during the Cold War. Back then it was possible to keep out or at least cut down on the influence of foreign ideas by jamming Western broadcasts. The Internet, however, has proven to be far too amorphous to dominate. So its better to co-opt it as much as possible by enabling private companies and pro-government bloggers to engage in “comment warfare” with the Politburo’s foes.


Một lý do khiến nhiều người quan sát nước ngoài bỏ qua việc Kremlin giật dây những cuộc tấn công từ chối dịch vụ là chúng được dùng cho những biện pháp rõ ràng hơn của kiểm soát Internet. Những âm mưu khắc nghiệt của Trung Hoa thanh lọc Internet - đặc tả bởi tạp chí Wired trong một bài báo năm 1997 với cái tên “Hỏa Vạn Lý Trường Thành của Trung Hoa” đã quay lại sự kiểm duyệt ngặt nghèo đường hàng không bởi chính phủ cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Vào thời kỳ đó có thể chặn lại hay thậm chí cắt đứt ảnh hưởng của các tư tưởng ngoại lai bằng cách làm nghẽn các chương trình phát thanh của phương Tây. Thế nhưng Internet đã chứng tỏ nó không có hình dạng nhất định để có thể chế ngự được nó. Vậy tốt nhất là bấu vào nó càng nhiều càng tốt bằng cách cho phép các công ty tư nhân và các blogger ủng hộ chính phủ lao vào “cuộc chiến còm” (comment warfare) với các kẻ thù của Bộ chính trị.


Meanwhile, China itself is quietly adopting many measures practiced in Russia. The Web site of the Norwegian Nobel Committee came under repeated cyberattacks after it gave the 2010 award to the jailed Chinese dissident Liu Xiaobo. Many Chinese government officials are now asked to attend media training sessions and use their skills to help shape online public opinion rather than censor it.


Trong khi đó bản thân Trung Hoa lặng lẽ áp dụng nhiều biện pháp đã được thực hành ở Nga. Website của Ủy ban Nobel Na uy chịu tấn công liên tục của sau khi tặng giải thưởng 2010 cho Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Hoa bị cầm tù. Nhiều quan chức chính phủ Trung Quốc bây giờ được yêu cầu tham gia các khóa huấn luyện truyền thông và sử dụng các kỹ năng của họ để tạo dư luận trên mạng hơn là kiểm duyệt nó.


In assessing the U.S. government’s Internet freedom policy — announced a year ago by Hillary Clinton — one sees few signs that U.S. diplomats are aware of growing efforts by authoritarian governments to harness social forces to control the Internet. So far, most of Washington’s efforts have been aimed at limiting the damage caused by technological control. But even here Washington has a spotty record: Just a few weeks ago the State Department gave an innovation award to Cisco, a company that played a key role in helping China build its firewall.


Trong đánh giá chính sách tự do Internet của chính phủ Hoa Kỳ - được Hillary Clinton công bố cách đây một năm - người ta thấy ít có dấu hiệu cho thấy các nhà ngoại giao Hoa Kỳ nhận biết những cố gắng ngày càng lớn của các chính phủ độc tài giật dây các lực lượng xã hội để kiểm soát Internet. Cho đến nay, phần lớn những cố gắng của Washington là nhằm vào hạn chế những tác hại gây ra bởi việc kiểm soát công nghệ cao. Nhưng ngay ở đây, tại Washington này việc ấy cũng được làm lỗ chỗ không đều: chỉ mới mấy tuần gần đây Bộ Ngoại giao đã tặng giải thưởng sáng tạo cho Cisco, công ty đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc giúp Trung Hoa xây dựng tường lửa của nó.


The eventual disappearance of Internet filtering in much of the world would count as a rather ambiguous achievement if it’s replaced by an outburst of cyberattacks, an increase in the state’s surveillance power, and an outpouring of insidious government propaganda. Policymakers need to stop viewing Internet control as just an outgrowth of the Cold War-era radio jamming and start paying attention to non-technological threats to online freedom.


Việc lọc Internet cuối cùng đã biến mất trên phần lớn thế giới được coi như một thành tựu mơ hồ nếu như nó được thay thế bởi một sự bùng nổ các cuộc tấn công ảo, sự tăng nhanh lực lượng giám sát của nhà nước và sự tuôn ra ào ạt tuyên truyền thâm độc của chính phủ. Các nhà hoạch định chính sách cần thôi đừng nhìn việc kiểm soát Internet chỉ như sự lớn nhanh của việc làm nghẽn các chương trình phát thanh thời Chiến tranh Lạnh, và hãy bắt đầu chú ý vào những đe dọa không-công nghệ đối với tự do trên mạng.


Addressing the social dimension of Internet control would require political rather than technological solutions, but this is no good reason to cling to the outdated metaphor of the “Great Firewall.”


Nói đến tầm cỡ xã hội của việc kiểm soát Internet cần đến những giải pháp chính trị hơn là những giải pháp công nghệ, nhưng đây không phải là lý do tốt để bám lấy cái ẩn dụ cũ mèm về “Vạn Lý Trường Thành Lửa”


Evgeny Morozov is a visiting scholar at Stanford University and the author of “The Net Delusion: The Dark Side of Internet Freedom.”
Evgeny Morozov là học giả thỉnh giảng tại Đại học Stanford và là tác giả của “Ảo giác Mạng: Mặt Tối của Tự do Internet.”






Translated by Hiếu Tân


http://www.nytimes.com/2011/01/05/opinion/05iht-edmorozov04.html?_r=1