MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, September 28, 2011

Is China Heading for Collapse? Liệu Trung Quốc có sắp sụp đổ?


The likely next leader of China, Xi Jinping
Ảnh: Tập Cận Bình, có thể là lãnh đạo mới của Trung Quốc.
Is China Heading for Collapse?
Liệu Trung Quốc có sắp sụp đổ?
By Samuel A. Bleicher, September 13, 2011
Samuel A Bleicher
An implicit social contract underlies the Chinese people’s relationship with its government. The people accept the autocratic Communist Party of China (CPC) regime with its corruption and minimal public participation, and the CPC regime delivers a continuous and rapid improvement in the economic standard of living. But that social contract is now at risk, as China is on an unsustainable path that will result in economic stagnation or decline in the coming decades.
Có một hợp đồng xã hội được ngầm hiểu, đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa người dân Trung Quốc với chính quyền. [Theo hợp đồng đó] người dân chấp nhận sự chuyên chế của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, với tệ nạn tham nhũng và sự tham gia tối thiểu của công chúng [trong việc điều hành đất nước], chính quyền cộng sản Trung Quốc không ngừng cải thiện nhanh đời sống kinh tế. Nhưng hợp đồng xã hội đó đang có nguy cơ bị phá vỡ, do Trung Quốc đang trên con đường [phát triển] không bền vững, sẽ dẫn đến sự trì trệ hoặc suy giảm kinh tế trong những thập niên tới.
There are several culprits behind China's impending decline, with ecological limits topping the list. In When a Billion Chinese Jump, for instance, Jonathan Watts catalogues the current and impending ecological disasters: destructive coal mining in dry western provinces, over-utilization of fisheries, water shortages and industrial water pollution, irreversible predation of ancient forests and delicate grasslands – all exacerbated by the crippling effects of global climate change.
Thủ phạm đứng sau sự suy thoái đang đe dọa Trung Quốc là các giới hạn sinh thái, hiện đứng đầu danh sách này. Chẳng hạn như, trong quyển sách khi một tỷ người Trung Quốc hành động (Nguyên văn: When A Billion Chinese Jump), Jonathan Watts liệt kê danh mục các thảm họa sinh thái hiện tại, cũng như các thảm họa tiềm ẩn: khai thác mỏ than đến cạn kiệt ở các tỉnh miền Tây khô ráo, đánh bắt cá và hải sản quá mức, thiếu nước và ô nhiễm nước công nghiệp, khai thác các khu rừng nguyên sinh và đồng cỏ đến mức không thể phục hồi được, tất cả những điều vừa kể càng làm tăng thêm hiệu ứng do sự thay đổi khí hậu toàn cầu.
Then there's the absence of good governance – reliable property rights, honest bureaucracy, and evenhanded judicial oversight – which is not just socially undesirable, but arguably a critical barrier to continued economic progress. Reporting on recent studies that correlate economic progress with good governance, Mark Whitehouse declares in The Wall Street Journal that “China is making great progress in lifting its people from the ranks of the world’s poorest. But if the experience of other countries is any indicator, it will need a revolution to achieve rich-nation status.”
Kế đến là do sự điều hành thiếu hữu hiệu: các quyền sở hữu đáng tin cậy, nền hành chính trung thực, sự giám sát pháp lý công bằng. Sự điều hành thiếu hữu hiệu kể trên không những gây khó khăn về mặt xã hội, mà còn được coi như là chướng ngại quan trọng, ngăn cản nền kinh tế tiếp tục phát triển. Những nghiên cứu gần đây cho rằng, tiến bộ kinh tế tương quan với sự quản lý điều hành tốt, Mark Whitehouse công bố trên báo Wall Street Journal rằng: “Trung Quốc đã đạt được tiến bộ lớn trong việc giúp người dân thoát khỏi thứ hạng các nước nghèo nhất. Nhưng nếu kinh nghiệm của các nước khác là một chỉ dấu nào đó, thì Trung Quốc cần một cuộc cách mạng để trở thành một quốc gia giàu có“.
A third stress on the Chinese system is the unsustainability of the government's macroeconomic choices. The imbalances in China’s investment-heavy, mercantilist economic structure have inevitably created, according to Stratfor, “a race [not] between the Chinese and the Americans or even China and the world” but rather “a race to see what will smash China first, its own internal imbalances or the U.S. decision to take a more mercantilist approach to international trade.”
Một sức ép thứ ba lên hệ thống của Trung Quốc là sự lựa chọn kinh tế vĩ mô của chính phủ không bền vững. Theo Strafor, sự mất cân đối trong đầu tư ở Trung Quốc, cấu trúc kinh tế theo kiểu vụ lợi, chắc chắn tạo ra “một cuộc chạy đua không những giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ hoặc thậm chí giữa Trung Quốc và thế giới” mà là “một cuộc đua để xem điều gì sẽ đập vỡ Trung quốc trước, sự mất cân bằng nội tại của chính Trung Quốc hay quyết định của Hoa Kỳ thực hiện biện pháp vụ lợi hơn đối với mậu dịch quốc tế“.
As one or more of these constraints cause extended economic stagnation or decline, the CPC regime will be unable to deliver its promised economic growth. The economic and social catastrophes on the horizon include dramatically increased reliance on expensive imported raw materials, significantly reduced export demand, riots by unemployed export workers and recent college graduates, collapsing real estate prices, rapid inflation, and urban food shortages.
Khi một hoặc nhiều sức ép kể trên gây ra sự trì trệ kéo dài hoặc suy thoái kinh tế, chính quyền ÐCSTQ sẽ không thể đem lại tăng trưởng kinh tế như đã hứa hẹn. Các thảm họa kinh tế và xã hội sắp xảy ra, gồm sự phụ thuộc vào các nguyên liệu thô nhập khẩu đắt đỏ ngày nhiều, nhu cầu xuất khẩu bị giảm đáng kể, các vụ bạo loạn do công nhân nghành xuất khẩu và các sinh viên đại học tốt nghiệp bị thất nghiệp gần đây, sự sụp đổ trong ngành bất động sản, lạm phát tăng nhanh và sự khan hiếm thực phẩm ở các vùng thành thị.
Implicitly or explicitly, many of the “unsustainable path” discussions assume that economic stagnation or decline will destroy the CPC regime once it fails to deliver its half of the social contract. Regime change analogies abound, ranging from the historical collapse of Chinese dynasties and the collapse of the Soviet Union and the communist regimes in its Eastern European allies to the Color Revolutions of the 2000s and the recent Arab Spring uprisings in Tunisia, Egypt Yemen, Bahrain, Libya, and Syria.
Một cách rõ ràng hay ngầm hiểu, nhiều điều trong các cuộc thảo luận về “con đường không bền vững” cho rằng, sự trì trệ hoặc suy thoái kinh tế sẽ huỷ diệt chế độ CSTQ, một khi chế độ này thất bại trong thực hiện được hợp đồng xã hội. Có nhiều thay đổi chế độ tương tự, từ sự sụp đổ mang tính lịch sử của các triều đại Trung Quốc và sự sụp đổ của Liên Xô cùng chế độ cộng sản ở các nước đồng minh Ðông Âu, cho đến Cách Mạng màu trong những năm 2000, và gần đây là các cuộc nổi dậy Mùa Xuân Ả Rập ở Tunisia, Ai cập, Yemen, Lybia và Syria.
Most of the characteristics of contemporary China, however, are crucially different from those of the countries in which these regime changes occurred. China’s distinctive features make it unlikely that the CPC regime will suddenly disintegrate even in the face of continuing economic difficulties. The real question is whether it will respond by evolving into a more open, participatory regime or instead become an increasingly brutal and beleaguered autocracy. Only the Chinese leadership and people can ultimately make the crucial choices. The United States and the West need to walk softly to avoid being tagged as the cause of China’s economic misery.
Tuy nhiên, đặc tính của một nước Trung Quốc đương đại lại hoàn toàn khác so với những nước đã có sự thay đổi chế độ vừa kể. Đặc thù của Trung Quốc khiến cho chế độ CSTQ khó có thể tan rã đột ngột, ngay cả khi phải liên tục đối mặt với khó khăn về kinh tế. Câu hỏi thực sự là, liệu chế độ này sẽ đáp ứng bằng cách thay đổi thành một chế độ cởi mở hơn, một chế độ có sự tham gia của quần chúng, hay một nền chuyên chế ngày càng tàn bạo và bị cô lập. Chỉ có giới lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc là những người cuối cùng có thể thực hiện sự lựa chọn hệ trọng này. Hoa Kỳ và phương Tây cần đi những bước thận trọng để tránh bị cho là nguyên nhân gây ra sự nguy khốn về kinh tế ở Trung Quốc.
Countervailing Cultural and Economic Factors
Tác động của các yếu tố kinh tế và văn hóa
Despite the easy analogies, China’s CPC regime will not inevitably follow the examples of swift collapse of authoritarian regimes that occurred in the Soviet Union or Mubarak's Egypt. China is in a category by itself because of its demography and culture, its nationally integrated economic and political structure, and the nature of public opposition. The notion that the end of economic growth will cause the CPC regime to evaporate ignores these realities of Chinese society.
Mặc dù có những điểm giống nhau có thể dễ dàng nhận ra, chế độ CSTQ chắc chắn sẽ không sụp đổ giống như chế độ chuyên chế toàn trị ở Liên Xô hoặc chế độ Mubarak ở Ai Cập. Trung Quốc thuộc loại khác, do vấn đề dân số và văn hóa, cấu trúc kinh tế và chính trị hợp thành một thể thống nhất có tính quốc gia, cũng như bản chất của sự đối kháng quần chúng. Quan niệm cho rằng, khi tăng trưởng kinh tế chấm dứt sẽ làm cho chế độ CSTQ sụp đổ, đã bỏ qua yếu tố thực tế về xã hội Trung Quốc.
China's distinctive character begins with its cultural homogeneity. Of China’s 1.3 billion people, 92 percent are Han Chinese who share linguistic, cultural, religious, and philosophical perspectives, and a similar physical appearance that minimizes divisive stereotyping. The peoples of the Autonomous Regions of Guangxi, Inner Mongolia, Tibet, and Xinjiang are linguistically, culturally, and physically distinct and do perceive themselves as non-Chinese to varying degrees. But none of the 56 recognized domestic minorities exceeds 1.25 percent of China’s population. Tibetans, who have the most international visibility, number fewer than 6 million people. Moreover, geographic realities strongly tie these Autonomous Regions to China economically, and the CPC regime is strengthening those ties through Han immigration.
Đặc thù của Trung Quốc trước hết là tính đồng nhất về văn hóa của nước này. Trong số 1,3 tỷ dân thì 92% là người Hán, có cùng ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và các quan điểm triết lý, và thể chất tương tự, làm giảm thiểu sự chia rẽ. Dân chúng ở các vùng tự trị Quảng Châu, Nội Mông, Tây Tạng, và Tân Cương có đặc thù ngôn ngữ, văn hóa, diện mạo, và với nhiều mức độ khác nhau, họ xem mình không phải người Hoa. Nhưng không một sắc tộc nào trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có đông hơn 1,25% dân số Trung Quốc. Tây Tạng là những người được quốc tế biết rõ nhất, dân số cũng chưa tới 6 triệu người. Hơn nữa, thực tế địa lý ràng buộc chặt chẽ giữa các vùng tự trị đó với Trung Quốc về mặt kinh tế, và chế độ CSTQ đang thúc đẩy các mối liên hệ đó qua việc di cư người Hán.
The Soviet Union is the only “regime change scenario” country that even approached China in terms of the size of its population. But the Soviet Union was from the start a federation comprising separate republics with very different languages, cultures, religions, and standards of living. Most of the other countries that experienced regime change are much smaller and culturally heterogeneous. Egypt, the largest of the Arab Spring countries, has only 78 million people, about 90 percent of whom are Muslim. Five of China’s 18 provinces are larger. The largest Color Revolution country, Ukraine, has less than 50 million people, of whom over 20 percent are ethnically and linguistically Russian.
Liên Xô là nước có “kịch bản thay đổi chế độ” duy nhất gần giống Trung Quốc về mặt qui mô dân số, nhưng ngay từ đầu, Liên Xô đã là một liên bang, gồm các nước cộng hòa tách biệt về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và có mức sống khác nhau. Phần lớn những nước đã từng trải qua sự thay đổi chế độ là những nước nhỏ hơn Trung Quốc rất nhiều và không đồng nhất về văn hóa. Ai Cập là nước lớn nhất trong các nước xảy ra cách mạng Mùa Xuân Ả Rập, cũng chỉ có 78 triệu người, và khoảng 90% dân số theo đạo Hồi. Năm trong mười tám tỉnh ở Trung Quốc có dân số lớn hơn thế. Nước lớn nhất đã xảy ra Cách Mạng màu là Ukraine, có dân số dưới 50 triệu người, trong đó có 20% là người sắc tộc và sử dụng tiếng Nga.
China’s culture has maintained substantial continuity, but its economic and social structures have changed dramatically in the last 30 years. Most economic activity is now part of an integrated whole, with state-owned and nominally private corporations governmentally directed and cooperating to expand production. About half the population lives in cities. The export-oriented policies of “socialism with Chinese characteristics” make the wealthy coastal regions deeply dependent on access to overseas markets and to inland labor and raw materials.
Văn hóa Trung Hoa đã duy trì tính liên tục bền vững, nhưng cấu trúc kinh tế và xã hội đã thay đổi một cách đột ngột trong 30 năm qua. Hầu hết các hoạt động kinh tế giờ đây là một phần của một thể hợp nhất, với các công ty nhà nước và tư nhân trên danh nghĩa do chính quyền chỉ đạo, hợp tác để mở rộng sản xuất. Khoảng một nửa dân số sống ở thành thị. Chính sách định hướng xuất khẩu về “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” đã khiến các vùng duyên hải giàu có phụ thuộc nặng nề vào sự thâm nhập thị trường nước ngoài và nguồn lao động nội địa, cũng như nguyên liệu thô.
Unlike dynastic China, agriculture is no longer the dominant element of China’s economic system. The CPC regime’s finances are no longer dependent on taxation of agricultural production. Instead it subsidizes rural China with funds generated by exports. Its foreign exchange reserves would support food imports through a typical drought and famine cycle. A peasant revolt like those that strangled the imperial dynasties is unlikely to topple the current regime.
Khác với các triều đại Trung Quốc trước đây, nông nghiệp không còn là yếu tố chi phối hệ thống kinh tế Trung Quốc. Nền tài chính của chế độ CSTQ không còn phụ thuộc vào thuế của các sản phẩm nông nghiệp. Thay vào đó, Trung Quốc trợ cấp các vùng nông thôn bằng ngân quĩ có được từ xuất khẩu. Nguồn dự trữ ngoại tệ dùng để nhập khẩu thực phẩm trong giai đoạn đói kém và hạn hán. Một cuộc nổi dậy của nông dân giống như thế đã từng bị các triều đại phong kiến đàn áp, khó có thể xảy ra để lật đổ chế độ hiện tại.
The USSR’s planned economy was closed to foreign trade, relatively primitive in its range of goods and services, and skewed to benefit Moscow and St. Petersburg. Its European republics and allies correctly anticipated that they could quickly improve their living standards by breaking from the Soviet Union and opening trade with Western Europe. No similar incentive beckons any Chinese regions, which already benefit from and rely on international trade. A province that attempted to secede would suffer enormous adverse economic consequences.
Nền kinh tế kế hoạch của Liên Xô không có sự trao đổi mậu dịch với nước ngoài, các sản phẩm và dịch vụ còn tương đối thô sơ và bị lệch theo hướng có lợi cho Moscow và St. Petersburg (2 trung tâm quyền lực chính trị của Liên Xô thời bấy giờ – ND). Các nước cộng hòa ở châu Âu và các đồng minh Liên Xô đã dự đoán chính xác rằng, có thể cải thiện nhanh mức sống bằng cách thoát khỏi Liên Xô và mở cửa giao thương với Tây Âu. [Trong khi đó] không hề có sự thúc đẩy tương tự ở một vùng nào của Trung Quốc vốn đã được hưởng lợi từ thương mại quốc tế cũng như đang dựa vào mậu dịch quốc tế. Bất kỳ tỉnh nào cố tách ra khỏi Trung Quốc sẽ chịu hậu quả nặng nề về mặt kinh tế.


Although China’s average income roughly matches the Color Revolution and Arab Spring countries, over 200 million Chinese now enjoy an urban “middle-class” life. Their economic status depends on manufacturing, construction, and international trade and finance. China’s 2008 unemployment rate was 4 percent, and almost everyone is put to work, for both economic and cultural reasons. The 2008 reported unemployment rates were about 30 percent in Libya, 14 percent in Tunisia, and 8 percent in Egypt – and that was before the global financial crisis. Not counting their oil exports, these Arab countries are among the least developed, least productive in the world.
Mặc dù thu nhập trung bình ở Trung Quốc gần bằng những nước đã trải qua cách mạng Mùa xuân Ả Rập và Cách Mạng màu, hơn 200 triệu người Trung Quốc hiện đang được hưởng đời sống “trung lưu” thành thị. Tình trạng kinh tế của họ phụ thuộc vào sản xuất ở các xí nghiệp, xây dựng, thương mại quốc tế và tài chính. Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc năm 2008 là 4%, và hầu hết mọi người đều có việc làm vì lý do kinh tế lẫn văn hóa. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2008 được báo cáo là 30% ở Lybia, 14% ở Tunisia và 8% ở Ai Cập và đó là con số trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Không kể đến xuất khẩu dầu, những nước Ả Rập này là những nước kém phát triển nhất, năng suất lao động kém hiệu quả nhất trên thế giới.
Countervailing Political Forces
Các lực lượng chính trị đối lập
The CPC regime now follows a well-defined corporate-style leadership succession process with term limits, providing a degree of stability other Communist regimes never achieved. The excesses of Mao and the “Gang of Four” caution against allowing anything approaching one-man rule. China’s desire for international respectability, along with a deep cultural bias favoring consensus, discourages anything more radical than “muddling through.” The regime’s opaque committee system is the antithesis of the “cult of personality” found in almost all of the countries experiencing sudden regime change.
Giờ đây, chế độ CSTQ thực hiện theo mô hình lãnh đạo ở các tập đoàn công ty, với các nhiệm kỳ đã được xác định rõ, đem lại một mức độ ổn định mà các chế độ cộng sản khác chưa bao giờ đạt được. Sự quá đáng của Mao và “Bè lũ bốn tên” cảnh báo chống lại bất cứ điều gì dẫn đến sự cai trị của một người. Trung Quốc mong muốn được quốc tế tôn trọng, với khuynh hướng có tính văn hóa sâu sắc, ủng hộ sự đồng thuận, ngăn cản bất cứ ý kiến cấp tiến nào, nên chỉ có thể quyết định được những chuyện nhỏ mà mọi người đồng thuận (*). Chế độ ủy ban không rõ ràng là sự tương phản của chủ nghĩa “sùng bái cá nhân”, có mặt ở hầu hết các nước đã trải qua sự thay đổi chế độ đột ngột.
The CPC regime’s goal is a “harmonious society” based on a “scientific development perspective.” Relatively few Chinese doubt the central leadership’s desire to produce economic betterment, whatever they think of its approach to human rights. It is harder for an opposition to coalesce against committees operating by consensus than against a single highly visible, self-aggrandizing leader.
Mục tiêu của chế độ CSTQ là “một xã hội hài hòa” dựa trên “qui luật phát triển khoa học”. Một số ít người Trung Quốc nghi ngờ giới lãnh đạo trung ương muốn cải thiện kinh tế tốt hơn, bất cứ điều gì họ nghĩ tới, đều dẫn đến vấn đề nhân quyền. Một lực lượng đối lập thống nhất chống lại các ủy ban hoạt động theo phương pháp đồng thuận thì khó hơn là chống lại một cá nhân lãnh đạo tự khoe khoang, tô vẽ, rất dễ nhìn thấy.
Administratively, the CPC regime is a single unified structure. Officials are rotated among the provinces and typically have little personal connection to the jurisdictions they run. The army similarly operates as a unified national organization. Senior military officers are CPC members and participate actively. These arrangements encourage loyalty to the national institutions and discourage alliances with any potential opposition or secessionists.
Về mặt hành chính, chế độ CSTQ là một thể chế thống nhất. Quan chức trong các tỉnh thay phiên nhau điều hành và thường ít có sự liên hệ với hệ thống pháp lý mà họ điều hành. Tương tự, quân đội cũng hoạt động như một tổ chức quốc gia thống nhất. Các sỹ quan quân đội cao cấp là đảng viên Ðảng Cộng sản, tham gia một cách tích cực. Sự sắp đặt này nhằm cổ vũ cho sự trung thành đối với thể chế quốc gia và ngăn chặn các liên minh đối lập hoặc các lực lượng ly khai tiềm ẩn.
China’s deep economic and political involvement with the outside world makes operating without an effective central government impractical. Splintering is also psychologically anathema to most Chinese, who are schooled in the experience of the 19th-century humiliation of “weak China” by imperialist powers. Any foreign attempt at intervention would generate a unifying backlash in the Chinese populace.
Do mối liên hệ sâu sắc về chính trị và kinh tế giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, hoạt động [của đất nước] sẽ không thực tế nếu thiếu [sự điều hành của] một chính phủ trung ương hữu hiệu. Phá vỡ [sự thống nhất quốc gia] sẽ bị nguyền rủa về mặt tâm lý đối với đa số người dân Trung Quốc, những người được học về một nước Trung Quốc “yếu đuối” bị các cường quốc đế quốc làm nhục hồi thế kỷ 19. Bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài cũng sẽ làm cho người dân Trung Quốc đoàn kết để chống lại.
Moreover, in our economically interconnected, nuclear-armed world, other nations want to work with a single central regime that has the necessary economic, political, and military authority. Continued recognition of the CPC regime by international organizations and major powers would undermine opposition and secessionist movements. The emergence of another “Warring States” period (or a Taiwanese return to the Mainland) is unimaginable in the 21st century.
Hơn nữa, trong một thế giới được trang bị vũ khí nguyên tử và liên kết với nhau về mặt kinh tế, các nước khác cũng muốn làm việc với một chế độ trung ương có quyền hành về quân đội, chính trị và kinh tế. Việc các cường quốc và các tổ chức quốc tế tiếp tục công nhận chế độ CSTQ sẽ phá hoại các phong trào đối lập và ly khai. Thời kỳ “các nước trong tình trạng chiến tranh” xuất hiện trở lại (hoặc đưa Ðài Loan trở về với Đại Lục) là điều không thể tưởng tượng có thể xảy ra trong thế kỷ 21.
Many thousands of anti-government protests, demonstrations, riots, and acts of violence take place in China every year. But almost all spring from local or corporate misconduct: depraved business practices like food adulteration, shoddy school construction, environmental contamination, or arbitrary treatment of citizens who challenge official corruption. Opposition groups often appeal for help from Beijing, which sometimes becomes the hero by taking corrective action.
Hàng ngàn người biểu tình phản đối chính quyền, các vụ biểu tình, nổi loạn và các hành động bạo lực đã xảy ra ở Trung Quốc hàng năm. Nhưng hầu như tất cả đều phát sinh từ những hành vi tệ hại ở cấp địa phương hoặc công ty: các kiểu làm ăn suy đồi [về đạo đức] như: giả mạo thực phẩm, xây dựng trường học bằng hàng dỏm, làm ô nhiễm môi trường hoặc đối xử tuỳ tiện với những người dân dám thách thức các quan chức tham nhũng. Các nhóm chống đối thường kêu gọi sự giúp đỡ của [chính quyền] Bắc Kinh, thỉnh thoảng chính quyền cũng trở thành anh hùng do thực hiện các hành động sửa sai.
The CPC regime has aggressively attacked any national groupings that it does not recognize, whether religious (Falun Gong) or political (Charter 2008). Fear of a Chinese “Jasmine revolution” and the few small Twitter-generated demonstrations that did take place in 2011 spawned a pre-emptive response by the Chinese security apparatus that included arrests and disappearances of high-visibility “trouble-makers” like artist Ai Weiwei and 20 leading “rights lawyers.” The regime also initiated highly sophisticated controls on electronic communications. These actions neutralized whatever small immediate threat may have existed.
Chế độ CSTQ tấn công dữ dội vào bất kỳ tổ chức quốc gia nào mà họ không công nhận, dù là tổ chức tôn giáo (Pháp Luân công) hay chính trị (Tuyên ngôn 2008). Lo sợ về một cuộc “Cách mạng hoa nhài” ở Trung Quốc hay các cuộc biểu tình nhỏ tổ chức trên mạng Twitter đã xảy ra trong năm 2011, các bộ phận an ninh Trung Quốc đã phản ứng bằng cách đánh phủ đầu, kể cả việc bắt giữ và làm biến mất những người “gây rối” như họa sĩ nổi tiếng Ngải Vị Vị và 20 luật sư nhân quyền hàng đầu của nước này. Chế độ này cũng bắt đầu kiểm soát các phương tiện liên lạc điện tử hết sức tinh vi. Những hành động đó đã vô hiệu hóa bất kỳ mối đe dọa nhỏ nhặt nào có thể tồn tại mà họ thấy.
Few triggering events that could focus widespread anger at the national CPC regime occur in contemporary China. Intra-party multi-candidate elections are only held at the local level. Nothing of unifying significance comparable to the rigged national elections in the Color Revolution countries is on the horizon. Any serious opposition to the national regime faces great practical difficulties in the absence of opportunities to create nationwide organization and leadership.
Thời Trung Hoa đương đại chỉ có vài sự kiện có thể tập trung sự giận dữ ảnh hưởng tới chế độ. Các cuộc bầu cử có nhiều ứng viên trong nội bộ đảng chỉ xảy ra ở cấp địa phương. Chẳng có sự thống nhất quan trọng nào có thể so sánh được với các cuộc bầu cử gian lận ở những nước xảy ra Cách Mạng màu. Bất kỳ sự chống đối đáng kể nào đối với thể chế quốc gia này đều phải đối mặt với thực tế khó khăn lớn, khi thiếu một tổ chức hoặc không có những người lãnh đạo ở tầm quốc gia.
The widespread outrage about the recent high-speed train collision near Wenzhou, and the subsequent cover-up and suppression of news, suggests the possibility of a different kind of trigger. The National Railway Ministry is directly responsible for the high-speed train program, so public hostility was directed at the national CPC regime. The government has already fired three senior Railway Ministry officials and will certainly compensate the injured parties, but those actions do not address the public’s serious concerns about policy, transparency, and due process. A truly catastrophic event like the Fukushima nuclear plant meltdown could arouse intense and continuing opposition to the CPC regime. Still, even though nationally controlled projects, particularly nuclear energy facilities, will become more common as China advances technologically, the probability of a major disaster that could shake the CPC regime seems quite small.
Sự bất bình về tai nạn tàu cao tốc gần Ôn Châu xảy ra gần đây đã lan rộng trong quần chúng và tiếp theo là sự che đậy bằng cách dập tắt các tin tức có liên quan, cho thấy có khả năng [xảy ra] một kiểu châm ngòi khác [cho quần chúng]. Bộ Ðường sắt Quốc gia chịu trách nhiệm trực tiếp về chương trình tàu cao tốc, và vì vậy sự căm ghét của công chúng nhắm trực tiếp vào cấp trung ương của chế độ CSTQ. Chính quyền đã sa thải 3 viên chức cao cấp trong Bộ Ðường sắt và chắc chắn sẽ đền bù thiệt hại cho những người bị thương, nhưng các hành động như thế không giải quyết được mối lo ngại sâu sắc của người dân về chính sách, sự minh bạch, và xử lý vấn đề đúng luật. Một thảm họa lớn như vụ tai nạn lò phản ứng hạt nhân Fukushima tan chãy có thể dấy lên sự chống đối chế độ CSTQ mạnh mẽ và liên tục. Tuy nhiên, mặc dù các dự án được kiểm soát ở tầm quốc gia, đặc biệt là các nhà máy năng lượng hạt nhân, sẽ trở nên phổ biến hơn khi Trung Quốc tiến bộ hơn về mặt kỹ thuật, khả năng một tai nạn lớn có thể làm rung chuyển chế độ CSTQ dường như rất nhỏ.
What Will Happen to the CPC Regime?
Ðiều gì sẽ xảy ra với Trung Quốc
The “regime change scenario” examples suggest that people are motivated to bring down authoritarian regimes when those governments pose an existential threat to disenfranchised groups, fail to institute policies designed to address high unemployment and/or rapid inflation, or engage in highly visible malfeasance to preserve themselves in the face of massive public expressions of opposition. None of these conditions currently applies to the Chinese situation.
Những ví dụ về ‘kịch bản thay đổi chế độ’ cho thấy, người dân bị thúc đẩy để lật đổ các chế độ toàn trị khi chính quyền ở những nước này đe dọa sự sống còn của các phe nhóm không đủ mạnh, thất bại trong việc lập chính sách giải quyết vấn đề thất nghiệp và lạm phát cao, hoặc tham gia các hoạt động phi pháp trắng trợn để tiếp tục nắm quyền, khi đương đầu với sự giận dữ của đông đảo quần chúng chống đối. Những điều vừa kể, không có điều nào áp dụng vào tình hình Trung Quốc hiện nay.
Economic decline will nevertheless inevitably bring changes. One likely result will be more corrosive political infighting, as factions seek to protect their share of a stagnating economic pie. Another is that China will be increasingly preoccupied with internal challenges and less interested in playing a leadership role, or perhaps even a responsible role, in global affairs.
Tuy nhiên, suy thoái kinh tế chắc chắn sẽ dẫn đến thay đổi. Một kết quả có thể xảy ra [do suy thoái] sẽ là đấu đá chính trị nội bộ làm cho các phe phái suy yếu hơn, khi tìm cách bảo vệ phần (kinh doanh, tài sản) của họ trong một nền kinh tế trì trệ. Một kết quả khác nữa là Trung Quốc sẽ ngày càng bận tâm đối phó với thách thức nội bộ và ít quan tâm đến vai trò lãnh đạo, hay thậm chí vai trò đáp ứng trong quan hệ toàn cầu.
To allay intense dissatisfaction over continuing poor economic performance, the CPC might not re-elect a president to a second term, or a president could even resign before the end of his term. The conditions that generate the economic decline, however, will not go away. No new president will be able to arrest the decline.
Ðể giảm bớt sự bất mãn cao độ [trong quần chúng] về việc điều hành kinh tế kém cỏi liên tục kéo dài, ÐCSTQ có thể sẽ không bầu lại người giữ chức chủ tịch thêm nhiệm kỳ thứ hai, hoặc thậm chí chủ tịch có thể từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ. Tuy nhiên, những điều làm cho kinh tế suy thoái sẽ không biến mất. Không có chủ tịch mới nào sẽ có thể ngăn chặn được sự suy thoái.
New leadership may not satisfy the public for long, especially since replacements will emerge from the same opaque process and the same cadre of CPC members. Unlike a true election, this process will not generate public confidence in the new leaders or any psychological investment in their success. Ironically, an unscheduled change in CPC leadership is likely to be seen as an admission of failure that inspires demands for more substantial changes in the political system. The net result could be even more leadership paranoia, cosmetic structural changes, and increasing influence or even de facto control by the military and security bureaus.
Ban lãnh đạo mới có thể không làm vừa lòng công chúng được lâu, đặc biệt do sự thay thế này cũng đến từ một quá trình [chọn lựa] không rõ ràng như cũ và cũng từ những cán bộ cũ là đảng viên ĐCS Trung Quốc. Khác với một cuộc bầu cử thực sự, quá trình thay thế lãnh đạo này sẽ không tạo ra sự tin tưởng trong dân chúng về các nhà lãnh đạo mới, hay bất kỳ sự quan tâm nào đến sự thành công của họ. Khôi hài hơn, sự thay đổi trong giới lãnh đạo ĐCSTQ không dự trù trước có thể bị coi như thừa nhận thất bại, điều này thúc đẩy nhu cầu thay đổi hệ thống chính trị thực sự hơn nữa. Kết quả cuối cùng có thể lại là sự lo sợ hoang tưởng hơn trong giới lãnh đạo, dẫn tới sự thay đổi mang tính hình thức, gia tăng ảnh hưởng hoặc thậm chí nắm quyền quân đội và các cơ quan an ninh.
Faced with insurmountable economic and environmental problems, the CPC regime might try various glasnost-like and perestroika-like reforms that provide broader political participation. The goal would be to calm public frustrations and give people a larger sense of buy-in to the regime’s policies.
Do phải đối phó với các vấn đề vô cùng khó khăn về môi trường và kinh tế, chế độ ÐCSTQ có thể sẽ cố thử nhiều cách cải cách khác nhau như kiểu công khai (glasnost) và đổi mới (perestroika), cho phép sự tham gia chính trị rộng rãi hơn [trong dân chúng]. Mục tiêu của những cải cách này là giảm bớt nỗi bất bình trong dân chúng, cho người dân có cảm giác lớn hơn trong việc tham gia và ủng hộ chính sách của chế độ.
This strategy would include intensified efforts to reduce local corruption. Allowing greater use of the courts, administrative hearings, the media, and other processes to express and redress grievances could also help redirect public anger from the streets. These steps might be the best strategy to ensure that the CPC regime survives indefinitely through the hard times ahead.
Chiến lược này gồm, gia tăng nỗ lực giảm bớt tệ nạn tham nhũng ở địa phương. Cho phép sử dụng nhiều hơn hệ thống toà án, điều trần chính phủ, truyền thông và các hệ thống khác để dân chúng bày tỏ nỗi bất bình, cũng như sửa sai, bồi thường. Những điều vừa kể, có thể lái sự tức giận của công chúng sang hướng khác, tránh sự nổi đậy. Những bước đi đó có lẽ là chiến thuật tốt nhất để bảo đảm sự sống còn của chế độ về lâu dài, vượt qua thời kỳ khó khăn trước mắt.
An evolutionary expansion of public participation is not inevitable, however. The current CPC regime apparently believes that any significant diffusion of governing authority will lead to intolerable weakening or demise.
Tuy vậy, việc mở rộng sự thay đổi để quần chúng tham gia [điều hành đất nước] là điều tất yếu. Rõ ràng là chế độ CSTQ hiện nay tin tưởng rằng, bất kỳ sự phát tán quyền lực cai trị đáng kể nào, cũng sẽ dẫn đến sự suy yếu không thể chấp nhận được, hoặc dẫn đến sự kết thúc của chế độ.
The possibility lurks that growing discontent over continuing economic stagnation will prompt it to intensify the crackdown on actual or potential opposition voices and organizations. One acute observer, James Fallows, thinks this process has already begun to some degree in reaction to the Arab Spring. The resulting increase in the influence of the military and security agencies could tilt government policy toward even more oppressive authoritarianism. Creeping militarism seems to be a characteristic of many authoritarian regimes, and in this respect China may not be different.
Một khả năng tiềm ẩn khác là, khi nền kinh tế liên tục trì trệ, bất mãn sẽ gia tăng, điều này sẽ thúc đẩy gia tăng cường độ đàn áp các tổ chức, cũng như đàn áp những tiếng nói đối lập thật sự hoặc tiềm tàng. Ông James Fallows, một nhà quan sát nhạy bén cho rằng, quá trình này đã bắt đầu, ở một mức độ nào đó là các phản ứng của chính quyền đối với cách mạng Mùa Xuân Ả Rập. Kết quả là sự gia tăng ảnh hưởng của quân đội và các cơ quan an ninh có thể đẩy chính sách của chính quyền theo hướng đàn áp và độc tài hơn. Một đặc tính của nhiều chế độ toàn trị đó là, dần dần biến thành chủ nghĩa quân phiệt và về mặt này có lẽ Trung Quốc không phải là trường hợp ngoại lệ.
Over the long term, this approach seems likely to arouse greater public dissatisfaction and more opposition as neither economic nor political conditions improve. If authoritarianism and permanent economic slowdown are accompanied by continued corruption, self-dealing, repression, and unfairness, and if entrenched economic, political, and bureaucratic interests deflect resources from the interests of the whole people, the CPC regime will eventually face massive public opposition. In desperation, the regime might even threaten its neighbors militarily, either as a calculated domestic political ploy or as result of the leadership’s own fear and paranoia. The outcome would likely be destructive both for China and the outside world.
Về lâu dài, các biện pháp này dường như có thể phát sinh sự bất mãn và chống đối nhiều hơn trong dân chúng khi điều kiện kinh tế và chính trị không được cải thiện. Nếu sự chuyên chế toàn trị và kinh tế thường xuyên sa sút, kèm theo nạn tham nhũng tiếp tục, tự tung tự tác, đàn áp, bất công, và nếu các quyền lợi của giới công chức, chính trị và kinh tế làm cho các nguồn tài nguyên chệch khỏi quyền lợi của toàn bộ dân chúng, chế độ CSTQ cuối cùng sẽ phải đối mặt với sự chống đối của đông đảo quần chúng. Trong cơn tuyệt vọng, chế độ này thậm chí có thể đe dọa các nước láng giềng bằng quân sự, hoặc một thủ đoạn chính trị nội bộ có tính toán, hoặc là kết quả của một sự sợ hãi và hoang tưởng trong giới lãnh đạo. Kết quả này có khả năng sẽ tàn phá cả Trung Quốc lẫn thế giới bên ngoài.
The West and China's Decline
Phương tây và sự suy thoái của Trung Quốc
A great deal of evidence suggests that China’s current growth is unsustainable for a variety of reasons. If so, it faces hard times ahead, regardless of the character of the governing regime. China’s decline, especially if it results in chaotic conditions there, is likely to damage the economic well-being of the United States and the international community, which are depending on China to be the engine of global economic growth and a partner for peaceful cooperation on nuclear proliferation. Long-term economic stagnation or decline carries important implications for the foreign policies of the United States and the international community.
Rất nhiều bằng chứng cho thấy, sự tăng trưởng hiện nay của Trung Quốc không bền vững do nhiều nguyên nhân. Nếu quả thực như vậy, Trung Quốc đang đối mặt với khó khăn, bất kể đặc trưng của chế độ cai trị như thế nào. Sự suy thoái của Trung Quốc, đặc biệt nếu gây ra tình trạng hỗn loạn ở đó, có thể gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, vốn phụ thuộc vào Trung Quốc như một cỗ máy cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, cũng như một đối tác về hợp tác hòa bình trong vấn đề kiểm soát phổ biến hạt nhân. Sự trì trệ hoặc suy thoái kinh tế lâu dài [ở Trung Quốc] ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế.
Over the last three decades the United States and Europe have followed a range of policies designed to integrate China into the global economic and political systems. In recent years, however, a growing chorus in Congress has argued that it is time, now that China is so strong, to insist that it change its self-interested policies on currency valuation, intellectual property protection, and human rights.
But changing U.S. and European direction at this time could be just the wrong move.
Trong ba thập kỷ qua, Hoa Kỳ và châu Âu theo đuổi một loạt chính sách thiết kế nhằm đưa Trung Quốc vào hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người trong Quốc Hội [Mỹ] lập luận rằng, Trung Quốc hiện quá mạnh, đã đến lúc phải đòi Trung Quốc thay đổi chính sách vụ lợi về định giá tiền tệ, bảo vệ sở hữu trí tuệ và các vấn đề nhân quyền.
Nhưng thay đổi hướng đi của Mỹ và châu Âu trong lúc này có thể là bước đi không thích hợp.
Although China may look like a rising economic and political competitor today, that situation could quickly reverse. The wildly erroneous predictions of “Japan as #1” three decades ago should warn the outside world not to over-react to the “China threat.” Punitive U.S. measures in response to China’s mercantilist trade and currency policies and disregard for intellectual property rights, however justifiable on the merits, could create the impression in China that the US has created, or at least hastened and deepened its economic stagnation. The United States should avoid providing the CPC regime any excuse to claim the United States is the cause of China’s woes. If the Chinese people as a whole ever adopt that view, U.S.-China relations could be poisoned for decades.
Mặc dù Trung Quốc hiện nay có vẻ giống một đối thủ chính trị và kinh tế đang trỗi dậy, tình trạng đó có thể nhanh chóng bị đảo ngược. Các dự đoán sai lầm về “Nhật Bản là số một” cách nay ba thập niên, nên dùng để cảnh báo thế giới bên ngoài, không nên phản ứng quá mức về “mối đe dọa Trung Quốc“. Các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ trong việc đáp trả chính sách vụ lợi về tiền tệ và trao đổi mậu dịch, cũng như không tuân thủ các quyền sở hữu trí tuệ, cho dù chính đáng, nhưng có thể gây ấn tượng ở Trung Quốc, rằng Hoa Kỳ đã tạo ra, hay ít nhất cũng đã thúc đẩy và làm cho kinh tế Trung Quốc suy thoái trầm trọng hơn. Hoa Kỳ nên tránh, không để cho ÐCSTQ có bất cứ lý do nào cáo buộc Hoa Kỳ là nguyên nhân gây ra các tai họa ở Trung Quốc. Nếu toàn bộ người dân Trung Quốc xem Mỹ là nguyên nhân gây ra tai họa, thì quan hệ Mỹ – Trung có thể bị hủy hoại trong nhiều thập kỷ.
The United States and the international community should also recognize that, as China’s economy deteriorates, any confrontational military maneuvers are likely to be met with escalation rather than compromise. Confrontation would tempt a struggling CPC regime to adopt a jingoistic, rally-’round-the-flag patriotism. The CPC regime already inculcates and makes political use of anti-Japanese feelings among Chinese born long after the end of World War II. “Foreign threats” would serve both to encourage public unity and to justify crushing whatever real or perceived internal opposition exists. It would also favor increased military expenditures and distract people from adverse economic and ecological developments. The United States should make serious efforts to avoid becoming the new enemy. It will need to tread carefully to avoid making China’s economic decline worse both for China and the rest of the world.
Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế cũng nên nhìn nhận rằng, khi kinh tế Trung Quốc xấu đi, bất kỳ sự vận động quân sự mang tính đối đầu nào cũng dễ gặp phải sự leo thang [chống đối], hơn là sự nhân nhượng. Sự đối đầu có thể đẩy chế độ CSTQ vốn đang chật vật, thực hiện chủ nghĩa yêu nước hiếu chiến, tập hợp dân chúng đứng lên. Chế độ CSTQ đã tẩy não người dân và sử dụng tình cảm chống Nhật như mục đích chính trị đối với những người Trung Quốc sinh ra sau Đệ nhị Thế chiến rất lâu. Chiêu bài “mối đe doạ ngoại bang” sẽ được dùng để cổ vũ dân chúng đoàn kết, cũng như biện hộ cho bất kỳ sự đàn áp nào đối với thành phần đối lập trong nội bộ xuất hiện, dù đó là sự chống đối thực hay chỉ là cảm nhận. Chế độ CSTQ cũng ưu tiên gia tăng chi tiêu quốc phòng và đánh lạc hướng quần chúng khỏi các diễn biến bất lợi về sinh thái cũng như kinh tế. Hoa Kỳ nên thật sự cố gắng, tránh trở thành kẻ thù mới của Trung Quốc. Mỹ cần đi những bước thận trọng để tránh làm cho sự suy thoái kinh tế ở Trung Quốc càng tồi tệ hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước còn lại trên thế giới.
Foreign Policy in Focus
Translated by Nguyễn Trùng Dương



Ghi chú của editor:
(*) China’s desire for international respectability, along with a deep cultural bias favoring consensus, discourages anything more radical than “muddling through”: Do văn hóa Trung Quốc không chấp nhận sự khác biệt, nên tất cả mọi người phải đồng thuận về một vấn đề nào đó thì mới thông qua. Trên thực tế, con người vốn sinh ra đã không giống nhau, nên rất khó có thể tìm sự đồng thuận của tất cả mọi người trong cùng một vấn đề. Vì không chấp nhận ý kiến khác biệt, nên Trung Quốc không thể thực hiện những quyết định lớn, bởi thiếu sự đồng thuận của tất cả mọi người, mà chỉ có thể thực hiện những việc nhỏ. Điều này hoàn toàn trái ngược với văn hóa Mỹ và phương Tây: chấp nhận sự khác biệt.

Tuesday, September 27, 2011

PHYSIOLOGY-SINH LÝ HỌC

1.

http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:yqF0jjo56JptjM:


Seeley - Anatomy and Physiology 6th Edition

LINKS: 1

2.




3.

Anatomy & Physiology: The Unity of Form and Function, 5th edition
Kenneth S.
Saladin

LINKS 1 2


4.




5.



6.



7.



8.



9.



10.



11.



12.



13.



14.



15.



16.



17.



18.



19.



20.



21.



22.



23.



24.



25.



26.



27.



28.



29.



30.



31.



32.



33.



34.



35.



36.



37.



38.



39.



40.



41.



42.



43.



44.



45.



46.



47.



48.



49.



50.



ONGC's South China Sea oil exploration: India put directly into conflict between China and Vietnam Thăm dò dầu khí Biển Đông của ONGC: Ấn Độ trự


ONGC's South China Sea oil exploration: India put directly into conflict between China and Vietnam

Thăm dò dầu khí Biển Đông của ONGC: Ấn Độ trực tiếp xen vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc

Virendra Sahai Verma

Virendra Sahai Verma, 25-09-2011

DELHI: Last week, one day after a Chinese foreign ministry spokesperson said his government was "opposed to any country engaging in oil exploration in waters under China's jurisdiction" , an editorial in 'Global Times' , a mouthpiece of the Communist Party of China, warned India of "serious political provocation" that would "push China to the limit".

DELHI: Tuần trước, một ngày sau khi phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố, chính phủ nước này “phản đối bất cứ quốc gia nào tham gia thăm dò dầu lửa ở những vùng biển thuộc quyền thực thi pháp lý của Trung Quốc“, một bài xã luận trên “Hoàn Cầu Thời báo”, một tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cảnh báo Ấn Độ về “sự khiêu khích chính trị nghiêm trọng” sẽ “đẩy Trung Quốc đến giới hạn“.

The "provocation" , it seems, is ONGC Videsh Ltd's reported plans of exploring two offshore oil blocks that Vietnam claims to be in its Exclusive Economic Zone in the South China Sea. Tension has been building for some time. On July 22, an Indian vessel, INS Airavat, was contacted on open radio channel by a caller identifying himself as the "Chinese navy" and told "You are entering Chinese waters" when it was sailing from Vietnamese port Nha Trang towards Hai Phong.

Có vẻ “sự khiêu khích” là các kế hoạch đã thông báo của ONGC Videsh Ltd về việc thăm dò hai lô dầu ngoài biển mà Việt Nam khẳng định thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này ở Biển Đông. Căng thẳng đã dấy lên một thời gian. Vào ngày 22 tháng 7, một tàu Ấn Độ, INS Airavat, nhận được liên lạc qua kênh radio từ một người gọi tự nhận là “hải quân Trung Quốc” và nói rằng “các bạn đang tiến vào lãnh hải Trung Quốc” khi tàu này chạy từ cảng Nha Trang của Việt Nam tới Hải Phòng.

The Indian government not only confirmed that the Indian ship was on a friendly visit to Vietnam, the ministry of external affairs also asserted that "India supports freedom of navigation in international waters, including in South China Sea, and the right of passage in accordance with accepted principles of international law. These principles should be respected by all."

Chính phủ Ấn Độ không chỉ xác nhận rằng con tàu đang thực hiện chuyến thăm hữu nghị tới Việt Nam, mà Bộ Ngoại giao nước này còn khẳng định “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế, gồm Biển Đông, và quyền đi lại theo đúng quy tắc của luật pháp quốc tế đã được thừa nhận. Những quy tắc này phải được tất cả các nước tôn trọng“.

But the ground reality is more complex. South China Sea encompasses 3,500,000 km from Malacca Straits to Strait of Taiwan . The sea is rich in fish and believed to hold over 50 billion tons of crude oil and more than 20 trillion cubic meters of natural gas. The state-owned Chinese firm China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) is scheduled to spend US$ 30 billion in oil drilling in the sea during the 12th Five Year Plan (2011-2016 ).

Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Biển Đông trải dài 3.500.000 km từ Eo biển Malacca tới eo biển Đài Loan. Vùng biển này có rất nhiều cá và được tin là chứa hơn 50 tỷ tấn dầu thô cùng hơn 20 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên. Tập đoàn China National Offshore Oil Corporation (CNOOC), thuộc sở hữu của nhà nước Trung Quốc, dự kiến sẽ dành 30 tỷ USD cho các hoạt động khoan dầu ở vùng biển này trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2016).

Its strategic location links Indian Ocean with Pacific Ocean - a vital sea artery of world trade. The semi-closed sea is integral to China's nuclear strategy. China also wants to dominate these waters to protect its underwater nuclear submarine base on Hainan Island.

Biển Đông nằm ở vị trí chiến lược nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương – một huyết mạch sống còn của thương mại thế giới. Vùng biển nửa kín này là không thể thiếu đối với chiến lược hạt nhân của Trung Quốc. Trung Quốc còn muốn thống trị những vùng biển đó để bảo vệ căn cứ tàu ngầm hạt nhân dưới nước của họ ở đảo Hải Nam.

In 2010, China reportedly declared issues concerning South China Sea as being of 'vital interest' , thus equating it with Tibet, Xinjiang and Taiwan. China's claims spans across the sea forming a Ushaped zone that overlaps all other claims as it covers 1.7 million square km. All regional states quote UN Convention on the Law of Sea 1982 (UNCLOC) in their support .

Trong năm 2010, Trung Quốc đã tuyên bố các vấn đề liên quan tới Biển Đông là “lợi ích sống còn“, do vậy coi trọng vùng biển này ngang với Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan. Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên khắp Biển Đông tạo thành một khu vực hình chữ U chồng lấn tất cả các tuyên bố chủ quyền khác vì nó bao trùm 1,7 triệu km2. Tất cả các nước trong khu vực đều viện dẫn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOC) để bảo vệ tuyên bố của mình.

The law requires constant and effective occupation and control to claim possession. Legally, many of these claims may not be tenable. Disputed claimants regularly report clashes between naval vessels. Of late, China and Vietnam have been more vocal about their claims.

Luật pháp đòi hỏi sự chiếm giữ và kiểm soát liên tục và hiệu quả để tuyên bố sở hữu. Về phương diện pháp lý, rất nhiều trong số những tuyên bố này là không thể bảo vệ được. Các bên tuyên bố tranh chấp liên tục thông báo về sự đụng độ giữa các tàu hải quân. Gần đây, Trung Quốc và Việt Nam lớn tiếng hơn về các tuyên bố của họ.

In 2002, China and ASEAN agreed to a 'Declaration of the Conduct of Parties in the South China (DoC) Sea' to better manage tensions arising from the dispute. The parties also agreed to confidence building measures (CBMs). While China wants to resolve the issue bilaterally, the ASEAN countries wish to move collectively against China.

Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã đồng ý về một “Tuyên bố Ứng xử của Các bên trên Biển Đông (DoC)” để giải quyết tốt hơn những căng thẳng do tranh chấp. Các bên cũng nhất trí về các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM). Trong khi Trung Quốc muốn giải quyết song phương vấn đề này thì các quốc gia ASEAN lại muốn hành động tập thể chống lại Trung Quốc.

Even after nine years, China and ASEAN have not implemented the DoC and CBMs. Since 2007, China has adopted more aggressive tactics like cutting cables of survey ships, planting markers in unoccupied reefs, and harassing foreign shipping boats.

Ngay cả sau 9 năm, Trung Quốc và ASEAN vẫn chưa thi hành DoC và CBM. Kể từ năm 2007, Trung Quốc đã theo đuổi nhiều thủ đoạn hiếu chiến hơn như cắt cáp các tàu thăm dò, cài đặt cột mốc ở các dải đá ngầm trống, và quấy rối các tàu cá nước ngoài.

On the other hand, the US navy has increased its presence and stepped up the capacity building of regional states that have overlapping claims with China. Also, many western oil firms are active in the area. In 2008, Exxon Mobile (US), BP (UK) and Talisman Energy ( Canada) partnered Petro Vietnam (Vietnam) in drilling in the sea. On China's threat of retaliation, Exxon and British Petroleum delayed their operations; BP decided to sell its share when ONGC was looking to join the drilling project.

Mặt khác, Hải quân Mỹ đã tăng cường sự hiện diện và đẩy mạnh việc xây dựng năng lực của các quốc gia trong khu vực có các tuyên bố lãnh thổ chồng lấn với Trung Quốc. Ngoài ra, nhiều tập đoàn dầu lửa phương Tây cũng đang hoạt động tích cực trong khu vực. Trong năm 2008, Exxon Mobile (Mỹ), BP (Anh) và Talisman Energy (Canada) đã hợp tác với Petro Việt Nam (Việt Nam) về khoan dầu ở Biển Đông. Trước mối đe dọa trả thù của Trung Quốc, Exxon và British Petroleum đã trì hoãn các hoạt động của họ; BP quyết định bán phần của mình khi ONGC quan tâm đến việc tham gia dự án thăm dò dầu khí.

Though India supports a negotiated settlement consistent with international law, the Vietnamese EEZ where ONGC is planning to explore is also claimed by China. This puts India directly into the conflict between China and Vietnam. A small incident may jeopardize Sino-Indian relations as we have witnessed repeatedly in recent times. Also, there is a question of providing security to ONGC. Would India depend on US for that?

Mặc dù Ấn Độ ủng hộ một giải pháp thông qua đàm phán phù hợp với luật pháp quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nơi ONGC đang có kế hoạch thăm dò cũng bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Điều này trực tiếp đặt Ấn Độ vào cuộc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Một sự cố nhỏ cũng có thể đe dọa các mối quan hệ Trung – Ấn như chúng ta đã liên tục chứng kiến trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó còn có một vấn đề cần bàn về việc đảm bảo an ninh cho ONGC. Liệu Ấn Độ sẽ dựa vào Mỹ về mặt này?

The idea to use South China Sea as a counter strategy to check Chinese projects in Pakistan-occupied-Kashmir doesn't seem very sensible. The Chinese have no locus standi in J&K and India does not have it in South China Sea. This meddling in each others' affairs can only make things messy.

Quan điểm dùng Biển Đông như một chiến lược phản công nhằm ngăn chặn các dự án của Trung Quốc ở vùng Kashmir do Pakistan kiểm soát có vẻ rất nhạy cảm. Phía Trung Quốc không có vai trò (*) gì ở Jammu và Kashmir, và Ấn Độ cũng không có vai trò ở Biển Đông. Việc can thiệp vào công việc nội bộ của nhau chỉ khiến cho mọi thứ rối tung.

(The author, a former Indian military intelligence officer, is a Visiting Fellow at Institute of Chinese Studies, Delhi)

(Tác giả là cựu sĩ quan tình báo quân sự Ấn Độ và là giảng viên thỉnh giảng tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Delhi)

* locus standi, nghĩa là “a place for standing”: chỗ đứng

Translated by Trúc An