MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, January 14, 2012

Market Makers or Parasites? Người Tạo ra Thị trường hay Kẻ Ăn bám Xã hội?


Market Makers or Parasites?

Người Tạo ra Thị trường hay Kẻ Ăn bám Xã hội?

Michael Munger

Michael Munger

"The mancgere freely admits he does nothing to change or improve the product. All he does is transport it and then sell it at the highest price he can get for it. We'd be better off without him, wouldn't we?"

A "middleman" buys cheap, sells dear, and does nothing to improve the product in the meantime. Middlemen are everywhere and probably have been since the very first exchanges started to improve the lives of primitive humans. Marco Polo and his family were middlemen. So is Ebay. Between them, in time and complexity, lie millions of highly specialized, highly profitable actions and transactions. But are middlemen good for market systems? Or are they just parasites?

Người "trung gian" mua rẻ, bán mắc, và trong khoảng thời gian này y chẳng làm gì cả để cải thiện sản phẩm. Những người trung gian ở khắp mọi nơi và có lẽ đã có mặt từ cái thuở đầu tiên con người sơ khai trao đổi hàng hóa với nhau để cải thiện đời sống. Marco Polo[1] và gia đình của ông là những người trung gian. eBay cũng vậy.[2] Kể từ thời của Marco Polo tới eBay là một khoảng thời gian dài đầy dẫy những rắc rối và phức tạp của xã hội, trong khoảng thời gian này đã có hàng triệu triệu những hoạt động kinh tế và giao dịch vừa có tính chuyên môn vừa mang lại lợi nhuận cao độ. Nhưng những người "trung gian" này có giúp ích cho hệ thống thị trường hay không, hay họ chỉ là những kẻ ăn bám xã hội?


[1] Marco Polo (1254-1324), thương nhân người Ý, người mở Con đường Tơ lụa (Silk Road) từ Âu sang Á châu, cuộc hành trình vừa đi vừa về mất 24 năm.

[2] eBay, một công ty trung gian bán hàng qua mạng Internet. Đặc điểm là eBay không bán hàng hóa gì hết mà chỉ làm trung gian giữa kẻ mua, người bán (trên toàn thế giới) mà thôi.

My Own Good Name

It's all there, in my name. "Munger" comes from "monger," a dealer or trader, often in illicit or smuggled goods. The name has very old roots: in the Saxon writings of the 11th century, we find it as "mancgere." According to the Etymology Dictionary, the Latin noun was "mangonis," a trader or merchant (often, sadly, in slaves). And mangonis, in turn, has its roots in a Greek word manganon, a war machine or contrivance for deceiving an enemy. The Trojan Horse was a manganon. Given that origin, it is not surprising that traders were seen as deceivers, thieves, and parasites. So, there is little to place on the positive side of etymological ledger, at least until 1000 A.D. or so.

Tìm đâu cho xa

Chẳng cần tìm đâu xa, thương nhân chính là cái họ của tôi. "Munger" xuất phát từ chữ "monger," có nghĩa là lái buôn, thường ám chỉ những người buôn đồ lậu. Cái tên này có nguồn gốc rất xưa từ mãi thế kỷ thứ 11: trong những văn tự dùng tiếng Saxon,[3] từ ngữ này được viết là "mancgere." Theo Bộ Từ điển Từ nguyên, danh từ Latinh của từ này là "Mangonis," có nghĩa là người hành nghề trao đổi hàng hóa hay thương nhân (thường được dùng, buồn thay, trong việc buôn bán nô lệ). Và từ "mangonis," lại có gốc từ tiếng Hy lạp là "manganon," nghĩa là bộ máy chiến tranh hay mưu mẹo dùng để lừa kẻ thù. Con ngựa thành Troia là một "manganon." Với những cái nghĩa có gốc tích như vậy, chẳng trách gì người thương nhân vẫn bị xem là những kẻ lừa đảo, trộm cắp, hay ăn bám xã hội. Thành ra, xét về ngữ nghĩa thì, cái từ thương nhân này chẳng có tí ý nghĩa tích cực nào cả mãi cho đến có lẽ năm 1100 sau Công nguyên.


[3] Saxon là một liên hiệp những bộ tộc thuộc gốc Đức. Ngày nay một phần dân Anh, Mỹ có gốc pha trộn giữa dòng Anglo và Saxon.

By that time, the river of meaning had forked: There were war machines (such as the medieval "mangonel," or catapult), and traders in the market (the mancgere). Sharon Turner's remarkable three-volume History of the Anglo-Saxons (1836), quoting an old source from the 11th century, states:

Đến khoảng năm 1100, con sông từ ngữ đã bắt đầu chia nhánh: Đã có những máy móc dùng trong chiến tranh (như máy bắn đá, còn gọi là "mangonel"), và những thương nhân trong thị trường (còn được gọi là "mancgere"). Trong kiệt tác Lịch sử Dân Anglo-Saxons (1836), một bộ sử dày ba cuốn, tác giả Sharon Turner đã trích một chứng cớ có từ thế kỷ 11 như sau:

In the Saxon dialogues, the merchant (mancgere) is introduced: "I say that I am useful to the king, and to ealdormen, and to the rich, and to all people. I ascend my ship with my merchandise, and sail over the sea-like places, and sell my things, and buy dear things which are not produced in this land, and I bring them to you here with great danger over the sea; and sometimes I suffer shipwreck, with the loss of all my things, scarcely escaping myself."

Trong cách nói chuyện của người Saxon, thương nhân được giới thiệu như sau: "Tôi nói rằng tôi là người giúp ích cho nhà vua, nhà quý tộc, và những người giàu có, và cho tất cả mọi người. Tôi chất hàng hóa lên đầy chiếc tàu của tôi, rồi giong buồm đi khắp bốn bể năm châu để bán những sản vật của tôi, rồi mua những thứ quý giá mà ở đây không có, rồi đem chúng về đây vừa trải qua không biết bao nhiêu nguy hiểm trên biển cả, có khi tàu bị đắm mất sạch hết tài sản, còn xuýt nữa mất mạng."

"What things do you bring to us?"

"Skins, silks, costly gems, and gold; various garments, pigment, wine, oil, ivory, and orichalcus*, copper, and tin, silver, glass, and suchlike."

"Will you sell your things here as you brought them here?"

"I will not, because what would my labour benefit me? I will sell them dearer here than I bought them there, that I may get some profit, to feed me, my wife, and children."

(pp. 115-6; original in MS. Tib. A 3; * brass)

"Thế anh mang được những gì về cho chúng tôi đây?"

"Da thú, lụa là, châu báu, vàng bạc, vải vóc đủ loại, bột màu, rượu, dầu, ngà voi, đồng, thau, kẽm, bạc, pha lê, và những thứ như thế."

"Thế anh có bán những thứ này ở đây bằng giá anh mua về không?"

"Chắc chắn là không rồi. Vì như thế ai trả công cho tôi đây? Tôi phải bán với giá mắc hơn khi tôi mua, để còn có chút lời nuôi vợ nuôi con chứ." (trang. 115-6)

Quite a drama: risk, greed, profit. But the "mancgere" of 1050 AD was no parasite, at least not in his own eyes. In fact, he claims he is "useful." Can that be right? The mancgere freely admits he does nothing to change or improve the product. All he does is transport it and then sell it at the highest price he can get for it. We'd be better off without him, wouldn't we? Isn't the trader simply preying on people's needs for goods and providing nothing of real value himself?

Thiệt là ngoạn mục đầy kịch tính: mạo hiểm, rủi ro, lòng tham, lợi lộc. Nhưng người thương nhân của năm 1050 không phải là kẻ ăn bám, ít ra thì anh ta cũng không nghĩ về chính mình như vậy. Thực ra, anh ta còn cho là mình "có ích" cho người khác nữa mà. Hãy xem anh ta lập luận có đúng không. Người thương nhân công nhận là anh ta chẳng làm gi hết để thay đổi hay cải tiến cái sản vật mà anh ta bán. Anh ta chỉ làm có mỗi việc là chuyên chở những sản vật này và bán lại những sản vật này với cái giá cao nhất mà anh có thể đòi được. Nếu thế thì chẳng phải là dẹp quách anh ta đi còn tốt hơn không? Chẳng phải thương nhân chỉ là kẻ rình xem người khác cần những gì rồi bán cho họ những món hàng đó, còn chính anh ta thì chẳng đem lại được chút giá trị thực tế nào cả hay sao?

No. Not even close. Without middlemen, we couldn't have modern markets. And the story about why that's true is one of the most important, and most misunderstood, in all of economics. I am going to consider two classic accounts of middlemen, from R.A. Radford and F. Bastiat, to illustrate how markets work through middlemen.

Không. Không hoàn toàn như vậy. Không có những người trung gian, ta sẽ không có được thị trường tối tân như ngày hôm nay. Và lý do tại sao đây là một điều quan trọng bậc nhất mà cũng bị hiểu lầm bậc nhất, trong môn kinh tế học? Tôi sẽ dùng hai thí dụ cổ điển về người trung gian, một của R.A. Radford, và một của F. Bastiat, để minh họa sự vận hành của thị trường qua những thương nhân.

Middlemen in Action I: WWII Prison Camp

Màn I: Hoạt động của Thương nhân trong trại tù binh Đệ nhị Thế chiến



From R.A. Radford's "The Economic Organisation of a P.O.W. Camp"

One trader in food and cigarettes, operating in a period of dearth, enjoyed a high reputation. His capital, carefully saved, was originally about 50 cigarettes, with which he bought rations on issue days and held them until the price rose just before the next issue. He also picked up a little by arbitrage; several times a day he visited every Exchange or Mart notice board and took advantage of every discrepancy between prices of goods offered and wanted. His knowledge of prices, markets and names of those who had received cigarette parcels was phenomenal. By these means he kept himself smoking steadily—his profits—while his capital remained intact.

Trích từ "Tổ chức Kinh tế của một Trại Tù Binh" của R.A. Radford.

Một người làm công việc trao đổi thực phẩm và thuốc lá, trong tình trạng khan hiếm của trại giam, được nhiều bạn tù biết đến tiếng tăm. Vốn liếng của anh ta, sau khi đã dè sẻn dành dụm, có được 50 điếu thuốc. Anh ta dùng số vốn này để mua những khẩu phần trong ngày phân phối thực phẩm và giữ lại đó cho đến khi giá tăng lên trước ngày phát khẩu phần lần sau. Anh ta cũng kiếm thêm một số lợi qua giao dịch; mỗi ngày anh ta đi xem những bản thông báo "Mậu Dịch" do những tù nhân tự niêm yết trong trại và thủ lợi qua sự khác biệt giá cả giữa những người có nhu cầu. Kiến thức của anh ta về giá cả, thị trường và tên của những người nhận được những gói thuốc lá thì thật là đáng nể. Nhờ đó mà anh ta có thuốc lá hút đều đều--tiền lời của anh ta--trong khi vẫn giữ được nguyên vẹn số vốn.

Sugar was issued on Saturday. About Tuesday two of us used to visit Sam and make a deal; as old customers he would advance as much of the price as he could spare us, and entered the transaction in a book. On Saturday morning he left cocoa tins on our beds for the ration, and picked them up on Saturday afternoon. We were hoping for a calendar at Christmas, but Sam failed too. He was left holding a big black treacle issue when the price fell, and in this weakened state was unable to withstand an unexpected arrival of parcels and the consequent price fluctuations. He paid in full, but from his capital. The next Tuesday, when I paid my usual visit he was out of business.

Đường được phân phối vào ngày thứ Bảy. Khoảng thứ Ba hai đứa chúng tôi đến gặp Sam và thương lượng; vì là khách quen cũ, anh ta ứng trước cho chúng tôi với cái giá phải chăng nhất của anh, và ghi sự giao dịch này vào sổ. Sáng ngày thứ Bảy, anh ta để hộp ca-cao trên giường chúng tôi để đổi lấy khẩu phần đường mà đến chiều anh sẽ ghé lại lấy. Chúng tôi hy vọng là sẽ có một cuốn lịch vào dịp Giáng Sinh, nhưng Sam không làm được việc này. Khi giá bị sụt, Sam bị ôm một số đường mật khá lớn, và trong tình trạng "kinh tế" bị suy yếu như vậy thì tù nhân lại được nhận thêm nhiều phần quà khiến cho giá cả thay đổi thất thường. Sam đã phải mua hàng trả tiền ngay bằng chính từ trong số vốn của mình. Ngày thứ Ba tuần sau khi tôi đến thăm anh như thường lệ, thì anh đã bị phá sản.

Credit entered into many, perhaps into most, transactions, in one form or another. Sam paid in advance as a rule for his purchases of future deliveries of sugar, but many buyers asked for credit, whether the commodity was sold spot or future. Naturally prices varied according to the terms of sale. A treacle ration might be advertised for four cigarettes now or five next week. And in the future market "bread now" was a vastly different thing from "bread Thursday." Bread was issued on Thursday and Monday, four and three days' rations respectively, and by Wednesday and Sunday night it had risen at least one cigarette per ration, from seven to eight, by supper time. One man always saved a ration to sell then at the peak price: his offer of "bread now" stood out on the board among a number of "bread Monday's" fetching one or two less, or not selling at all—and he always smoked on Sunday night.

Tín dụng đã được sử dụng trong nhiều trường hợp, nếu không muốn nói là hầu hết các trường hợp. Sam trả tiền trước cho những khầu phần đường sẽ được giao trong tương lai, nhưng có nhiều người muốn mua chịu, dù đó là món đồ mua ngay bây giờ hay sẽ lấy trong tương lai. Dĩ nhiên, giá sẽ thay đổi theo điều kiện của từng giao dịch. Một khẩu phần đường mật được rao giá là 4 điếu thuốc lá bây giờ hay là 5 điếu vào tuần sau. Trong thị trường tương lai, thì món hàng "bánh mì bây giờ" là điều hoàn toàn khác với "bánh mì ngày thứ Năm." Bánh mì được phát vào ngày thứ Năm và thứ Hai, theo chu kỳ 4 và 3 ngày, và cho đến ngày thứ Tư và tối Chủ Nhật thì cái giá bánh mì đã tăng lên tối thiểu một điếu thuốc một khẩu phần, cho đến khi ăn tối thì giá này đã tăng lên từ bảy tới tám điếu. Có một người luôn luôn để dành khầu phần của mình để bán khi giá lên cao nhất: món hàng "bánh mì bây giờ" của anh ta nổi bật trên bảng rao hàng so sánh với với một số món hàng "bánh mì ngày thứ Hai" có giá rẻ hơn một hay hai điếu, hoặc là chẳng có ai thèm mua nếu phải đợi đến thứ Hai--và anh ta luôn luôn hút thuốc vào tối Chủ Nhật.

During World War II, British economist R.A. Radford was captured and placed in a German P.O.W. camp. Radford noticed the universality of exchange in the various camps in which he was imprisoned. Being an economist, he knew that exchange, in the presence of full information and in the absence of coercion or fraud, always makes both parties to the exchange better off. The interesting thing about the prison camp setting is that each prisoner had precisely the same endowment or total wealth. Each prisoner received (a) daily rations from what Radford delicately calls "the detaining power;" and (b) sporadically, the contents of a Red Cross packet: tinned milk, jam, butter, biscuits, tinned beef, tinned carrots, chocolate, sugar, treacle (molasses), and cigarettes.

Trong Đệ nhị Thế chiến, nhà kinh tế người Anh tên là R.A. Radford bị bắt làm tù binh trong trại giam của quân Đức. Radford ghi nhận một điều rất phổ biến trong những trại tù ông bị giam giữ là sự trao đổi hàng hóa giữa những tù nhân với nhau. Là một kinh tế gia, Radford biết rằng sự trao đổi, khi cả hai bên có đầy đủ thông tin về mặt hàng và không bị cưỡng ép hay lừa đảo, luôn luôn giúp cho hai bên cùng trở nên khấm khá hơn. Điều thú vị ở trong bối cảnh của trại tù là mỗi một tù nhân đều có cùng một số lượng "tài sản" như nhau. Mỗi tù nhân nhận được (a) khẩu phần hàng ngày; cái mà Radford đã tế nhị gọi là "sinh tử phù;" và (b) thỉnh thoảng nhận được gói quà từ Hồng Thập tự, gồm có: sữa hộp, hộp mứt trái cây, bơ, bánh quy, thịt bò đóng hộp, cà-rốt đóng hộp, kẹo xô-cô-la, đường, mật, và thuốc lá.

What I mean by "makes both parties better off" is this: If I like two carrots more than, say, one milk, and you like one milk more than two carrots, we can trade. This is actually quite important: There is no increase in the total amount of food in the area, but the total welfare of the group is improved. It seems like magic, because it has such a big impact, but we never give it a second thought. Whenever you have different preferences, but similar endowments of resources, then voluntary exchange can make everyone better off. In this case, because the main source of trade goods was the Red Cross packages, endowments were identical. So, barter and exchange made everybody happier.

Câu nói "Cả hai bên đều khấm khá hơn" có nghĩa là: Nếu tôi thích hai củ cà-rốt hơn một hộp sữa, thí dụ như vậy, và bạn thích một hộp sữa hơn hai củ cà-rốt, thì chúng ta có thể trao đổi với nhau. Đây là điểm đặc biệt quan trọng: Không có sự gia tăng số lượng thực phẩm nào hết, nhưng phúc lợi của cả nhóm được cải thiện. Điều này giống như một phép thần thông, bởi vì nó tạo ra một ảnh hưởng lớn, nhưng hình như ta chẳng bao giờ để ý đến. Khi ta có những ý thích khác nhau, nhưng lại chỉ có cùng một nguồn tài nguyên, thì sự tình nguyện trao đổi có thể giúp cho tình trạng kinh tế của mọi người khá hơn. Trong trường hợp này, vì những gói quà của Hồng Thập tự là nguồn hàng trao đổi chính yếu, nên những món hàng hoàn toàn giống nhau. Cho nên, đổi chác hàng hóa làm cho mọi người đều vui vẻ và sung sướng hơn.



And people don't have to be told this. They recognize it quickly. As Radford puts it, "Very soon after capture people realized that it was both undesirable and unnecessary, in view of the limited size and the equality of supplies, to give away or to accept gifts.... 'Goodwill' developed into trading as a more equitable means of maximizing individual satisfaction." There's the first point I want to make: Trade is more equitable than relying on gifts or charity because voluntary trades always leave both parties better off.

Người ta cũng chẳng cần nhờ đến ai chỉ cho điều này. Họ biết ngay lập tức. Như Radford nói: "Ngay sau khi bị bắt, người ta đã nhận ngay ra rằng với điều kiện vật chất hạn hẹp, ai cũng như ai, thì việc biếu quà cho nhau hay cho không là chuyện không ai muốn làm mà cũng chẳng cần thiết nữa...'Lòng từ thiện' tự nhiên biến thành sự trao đổi hàng hóa vì đó là phương cách vô tư và công bằng hơn nhằm gia tăng tối đa sự thỏa mãn của mỗi cá nhân." Đó là điều đầu tiên tôi muốn nói: Mậu dịch thì luôn luôn công bằng hơn là chỉ dựa vào lòng từ thiện hay quà cáp người khác cho mình, vì sự trao đổi tự nguyện luôn luôn giúp cho cả hai bên cải thiện đời sống tốt hơn.

So, let's accept that trade and exchange are good. But what about middlemen? Aren't they a problem? The prisoners in the camp thought so. Radford mentions a (possibly apocryphal) story of a priest with a sharp eye for exchanges. "Stories circulated of a padre who started off round the camp with a tin of cheese and five cigarettes and returned to his bed with a complete (Red Cross) parcel in addition to his original cheese and cigarettes."

Cho nên, hãy chấp nhận rằng mậu dịch và trao đổi hàng hóa là điều tốt. Nhưng thế còn người trung gian thì sao? Chẳng phải chính họ là vấn nạn đấy ư? Những tù nhân nghĩ như vậy. Radford nhắc đến một ông Cha có một đôi mắt tinh đời trong sự trao đổi sản vật (có lẽ đây là chuyện Radford hư cấu). "Người ta đồn rằng có một linh mục đi một vòng quanh trại, lúc đi chỉ có một hộp phó-mát và năm điếu thuốc lá, nhưng khi về lại lán của ổng thì đã có được cả một gói quà của Hồng Thập tự cộng thêm những vật ông có từ ban đầu."

There is the second, more important point, a truly fundamental paradox: middlemen profit by making other people better off. The padre never made a fraudulent claim or misrepresented what he was offering to trade. The commodities were standardized and interchangeable (one tin of cheese is just like any other; cigarettes are machine-made, and indistinguishable; a tin of jam is always the same). At each and every step, in every transaction, the exchange with the padre made the other party better off. And yet, the padre accumulated "profit" of a full Red Cross parcel, a small fortune in the setting of the camp.

Còn có điểm thứ hai, còn quan trọng hơn, và thực sự được xem như một nghịch lý cơ bản: người trung gian (thương nhân) kiếm được lời vì làm cho người khác khá giả hơn. Vị linh mục chưa bao giờ nói sai hay trình bày sai về những món hàng mà ông đem trao đổi. Mọi món hàng đều được tiêu chuẩn hóa và giống hệt như nhau (một hộp phó-mát thì cũng giống y như những hộp phó-mát khác; thuốc lá do máy sản xuất và điếu nào cũng giống như điếu nấy; một hộp mứt trái cây cũng vậy). Tại mỗi một nơi, sự trao đổi với ông cha đều giúp cho đối tác khấm khá hơn. Thế nhưng, ông cha lại "có lời" bằng cả một gói quà của Hồng Thập tự, lớn bằng cả một gia tài trong trại tù binh.

It might seem that the wandering padre only took value, buying cheap, selling dear, and changing or improving none of the products he exchanged. But just like the Saxon "mancgere" in 1050, the padre created value at every step in the process. He did this by finding A, who would pay six (or fewer) cigarettes for a tin of beef, and then finding another man B, who would sell a tin of beef for three (or more) cigarettes. Of course, if these two traders had happened to meet each other, they would have exchanged directly. But finding just the right person to trade with is time-consuming and may take a little luck. The mancgere/padre, by searching across trades, arbitraged the difference: He could sell the beef to A for five cigarettes after buying it from B for four cigarettes. Thus, both A and B are better off by at least one cigarette and the padre "profits" one cigarette by finding the exchange opportunity.

Dường như cái ông cha đi lang thang này chỉ biết thu lấy giá trị, mua rẻ, bán đắt, và trong quá trình đó chẳng làm thay đổi hay cải thiện giá trị của những món hàng ông đem trao đổi. Nhưng cũng giống như những thương nhân "mancgere" người Saxon trong năm 1050, vị linh mục sáng tạo ra giá trị trong mỗi bước của tiến trình trao đổi. Ông làm được việc này bằng cách tìm một anh A, người sẵn sàng đổi sáu điếu thuốc lá (hay ít hơn) để lấy một hộp thịt bò, và tìm một anh B, người sẵn sàng bán hộp thịt bò với giá là ba hay bốn điếu thuốc lá. Dĩ nhiên, nếu hai anh A và B gặp nhau, thì họ sẽ trao đổi trực tiếp với nhau. Nhưng tìm được đúng người vào đúng lúc để giao dịch với nhau thì mất rất nhiều thì giờ và còn đòi hỏi có chút may mắn nữa. Vị linh mục/thương nhân, nhờ đã mất thì giờ tìm kiếm khắp "thương trường," đã giải quyết được sự khác biệt. Ông bán hộp thịt bò cho A với giá năm điếu thuốc sau khi đã mua hộp thịt này của B với giá là 4 điếu. Thành thử cả A và B đều khấm khá hơn vì dư được một điếu thuốc và ông cha thì "kiếm lời" được một điếu thuốc nhờ vào tìm được cơ hội mậu dịch cho A và B.

Although I don't want to overstate the importance of one example, the positive role of the middleman is universal. And the parable of the itinerant padre is the starkest form of the argument that I have ever found. Remember, the question is this: If every exchange makes both parties better, how can the padre have produced any profit? Shouldn't profit always be a sign of exploitation, especially in a setting in which nothing new is produced, as here?

Dù tôi không muốn cường điệu hóa tầm quan trọng của một thí dụ, vai trò tích cực của thương nhân là điều ai cũng chấp nhận. Câu chuyện ngụ ngôn về vị linh mục lang thang là một minh chứng rõ rệt nhất, từ trước cho đến giờ, cho lập luận này. Xin nhớ rằng, vấn đề nằm ở chỗ này: Nếu mọi giao dịch đều khiến cho những đối tác khá hơn, thì làm thế nào mà ông cha lại có lời được? Chẳng phải lợi nhuận luôn luôn là dấu hiệu của sự bóc lột, nhất là trong tình huống không có một điều gì mới được sản xuất ra hết, như ở trong tù?

Middlemen in Action II: Bastiat and the Stomach that is Hungry

Màn II: Thương nhân, Bastiat và cái bụng đói

From Bastiat, "What is Seen and What is Not Seen," Section 6: The Middlemen:

While the exaggerated development of public services, with the waste of energies that it entails, tends to create a disastrous parasitism in society, it is rather strange that many modern schools of economic thought, attributing this characteristic to voluntary, private services, seek to transform the functions performed by the various occupations.

Trích từ Những Điều Trông Thấy và Không Trông Thấy, phần 6: Thương Nhân của Bastiat.

Mặc dù sự phát triển của những dịch vụ công (do nhà nước quản lý) cộng với những phí phạm về năng lực do những dịch vụ này gây ra có khuynh hướng tạo nên những con ký sinh trùng tai hại cho xã hội, lạ lùng thay có nhiều trường phái kinh tế hiện đại lại gán những sự ký sinh này cho những dịch vụ tự nguyện của tư nhân, và tìm cách thay đổi những chức năng của những ngành nghề khác nhau.

These schools of thought are vehement in their attack on those they call middlemen. They would willingly eliminate the capitalist, the banker, the speculator, the entrepreneur, the businessman, and the merchant, accusing them of interposing themselves between producer and consumer in order to fleece them both, without giving them anything of value. Or rather, the reformers would like to transfer to the state the work of the middlemen, for this work cannot be eliminated.

Những trường phái này hung hãn tấn công cái mà họ gọi là những người trung gian. Họ sẵn sàng triệt tiêu những nhà tư bản, nhà băng, kẻ đầu cơ, doanh gia, thương gia, và những nhà buôn lẻ, đồng thời cáo buộc thành phần này là tự xen vào giữa người sản xuất và người tiêu thụ để thủ lợi từ cả hai bên mà không đem lại cho ai giá trị gì hết. Hơn thế nữa, những nhà cải cách còn muốn chuyển hết cho nhà nước những việc mà người trung gian làm, vì những việc này thật ra không thể loại bỏ được.

[Regarding the famine of 1847,] "Why," they said, "leave to merchants the task of getting foodstuffs from the United States and the Crimea? Why cannot the state, the departments, and the municipalities organize a provisioning service and set up warehouses for stockpiling? They would sell at net cost, and the people, the poor people, would be relieved of the tribute that they pay to free, i.e., selfish, individualistic, anarchical trade."

[Nói về nạn đói năm 1847,] những người này than: "Tại sao lại để cho thương gia làm cái việc mua thực phẩm từ Mỹ và Crimea mà không để cho nhà nước, những bộ, ngành, và ban thành lập những dịch vụ tạm thời và xây dựng những nhà kho để chứa thực phẩm? Sau đó nhà nước bán lại cho dân bằng đúng giá mua, và nhân dân, người nghèo khổ sẽ không phải "cống" thêm lợi nhuận cho bọn thương gia ích kỷ chỉ biết đến cá nhân họ mà thôi.

... When the stomach that is hungry is in Paris and the wheat that can satisfy it is in Odessa, the suffering will not cease until the wheat reaches the stomach. There are three ways to accomplish this: the hungry men can go themselves to find the wheat; they can put their trust in those who engage in this kind of business; or they can levy an assessment on themselves and charge public officials with the task.

...Khi cái bụng đang đói ở Paris còn lúa gạo thì ở mãi tận Odessa, thì cơn đói không thể nào nguôi ngoai được cho đến khi có cơm trong bụng. Có ba cách đem gạo đến với bao tử: những người đang đói tự mình đi kiếm gạo, hay là nhờ những người làm nghề đi buôn mua cho họ, hay là để nhà nước làm giùm cho việc này.

To resolve the paradox, let us turn to the other example, from the work of Frédéric Bastiat, first published in 1850. The entire essay, "What Is Seen and What Is Not Seen," is full of insight, but I want to focus on just Section 6, "The Middlemen."

Để giải quyết sự nghịch lý này, hãy xem một thí dụ nữa trong tác phẩm của Frederic Bastiat, được xuất bản lần đầu năm 1850. Bài luận văn mang tựa đề "Những điều trông thấy và Những điều không trông thấy" có rất nhiều điều sâu sắc, nhưng tôi chỉ muốn tập trung vào Phần 6, nói về Thương nhân.

While this quote is rather lengthy, the gist of Bastiat's argument is easy to state: There are three ways of getting food from farm to market. First, every consumer goes off on his own, with a cart. This is inefficient and too slow to answer the needs of the hungry (as David R. Henderson illustrates in his discussion of price controls in the aftermath of World War II, German Economic Miracle). Second, middlemen can buy, transport, and resell the products. Third, the state can buy, transport, and resell the products, or give the products away for free.

Dù đoạn trích dẫn này khá dài dòng, ta cũng nắm bắt được ý chính trong lập luận của Bastiat khá dễ dàng: Có ba cách đưa lương thực từ nông thôn tới thị trường. Cách thứ nhất là mỗi người tiêu thụ tự mình đẩy xe đi xuống nông thôn mua lương thực. Cách này thực là quá thiếu hiệu quả mà lại chậm nữa không đối phó được với cơn đói (như David R. Henderson trình bày trong phần thảo luận về kiểm soát giá cả sau Đệ nhị Thế chiến trong tác phẩm Kỳ tích Kinh tế của Đức quốc). Cách thứ hai là thương nhân có thể đi mua, vận chuyển, và bán lại sản phẩm. Cách thứ ba là nhà nước mua, vận chuyển và bán lại sản phẩm, hoặc đem cho không người dân.

Bastiat notes that many claim that the state can always perform the function of middlemen more efficiently because the officers of the state are motivated by public service, not by profit. But this is disastrously wrong. First, agents of the state are not, in fact, motivated by the public interest. They are no better than anyone else and act to benefit themselves. Second, without the signals of price and profit provided by middlemen, no one knows what products should be shipped where, or when. In short, without middlemen, the state would act more slowly, less accurately, and at the wrong times.

Bastiat cũng ghi nhận là có nhiều người cho rằng nhà nước luôn luôn làm nhiệm vụ cùa thương nhân một cách hữu hiệu hơn vì viên chức nhà nước được tinh thần phục vụ công ích thúc đẩy làm việc, chứ không vì lợi nhuận. Nhưng điều này sai lầm một cách khủng khiếp. Bởi vì trước hết, những nhân viên nhà nước, trong thực tế, không được khích lệ làm việc vì quyền lợi chung. Họ cũng chẳng khác gì chúng ta và hoạt động để kiếm lợi cho chính họ. Thứ hai, không có những dấu hiệu của giá cả và lợi nhuận do thương nhân cung cấp, thì không có ai biết được là món hàng nào nên được chở đi bán ở đâu và vào lúc nào. Nói tóm lại, không có thương nhân, nhà nước sẽ phải làm việc chậm hơn, kém chính xác hơn, và trật lất về thời gian [Chế độ kinh tế bao cấp và trung ương hoạch định là một thí dụ điển hình].

Once again, the point seems paradoxical. It is because of profit that middlemen create value. And the seeking of profit by middlemen, buying cheap and selling dear, ensures that, as Bastiat put it, the "wheat will reach the stomach" faster, more cheaply, and more reliably than any service the state could possibly create. The system of middlemen performs what seems like, to Bastiat and to me, a miracle: "Directed by the comparison of prices, it distributes food over the whole surface of the country, beginning always at the highest price, that is, where the demand is the greatest. It is impossible to imagine an organization more completely calculated to meet the needs of those who are in want..."

Một lần nữa, điểm này có vẻ mâu thuẫn. Chính nhờ vào lợi nhuận mà thương nhân tạo ra giá trị. Và chuyện kiếm lời của thương nhân, mua rẻ bán mắc, bảo đảm rằng, như Bastiat đã nói, "lúa gạo đến được bao tử người tiêu thụ" nhanh hơn, rẻ hơn, và chắc ăn hơn bất cứ dịch vụ nào do nhà nước cung cấp. Hệ thống thương nhân đã thực hiện được điều mà Bastiat và cả tôi nữa, cho là kỳ tích: "Được chỉ đạo bằng sự so sánh giá cả, hệ thống này đã phân phối thực phẩm đi khắp nước, khởi đầu luôn luôn là giá cao nhất, nghĩa là nơi nào có nhu cầu cao nhất. Thật khó lòng để có thể nghĩ ra được một tổ chức nào mà lại có thể tính toán đầy đủ chi li hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của những người đang cần..."

Final Thoughts

The merchant, the middleman, the mancgere. Many people tend to think of him as a necessary evil, raising prices and exploiting nearly everyone. But this is quite wrong, and is wrong in a way so fundamental that it makes one wonder why most people seem to have no conception of how real economics works.

Vài Suy nghĩ cuối

Thương nhân, người trung gian. Nhiều người có khuynh hướng nghĩ về họ như là một điều xấu xa nhưng cần thiết, tăng giá lên và lợi dụng hầu như tất cả mọi người. Nhưng điều này thật hết sức sai lầm, và lại là điều sai lầm cơ bản khiến cho ta phải tự hỏi tại sao đa số người ta dường như chẳng có tí khái niệm gì về sự vận hành thực tế của nền kinh tế hết cả.

The fact is that middlemen are the means by which markets become "perfect" or, at least, approach perfection, where perfection means a single price and reliable quality. Arbitrage is the discipline that reduces differences in price, providing accurate signals on relative scarcity and engendering enormous flows of resources and labor towards their highest-valued use.

Sự thật là những thương nhân là phương tiện giúp cho thị trường trở nên "hoàn hảo," hay ít ra là cũng tiến gần đến chỗ hoàn hảo; sự hoàn hảo ở đây có nghĩa là chỉ có một giá cho một món hàng và chất lượng của món hàng được bảo đảm. Sự thương lượng giá cả của thương nhân làm giảm đi sự khác biệt về giá cả, cung cấp những tín hiệu chính xác về sự kham hiếm của hàng hóa và tạo ra những dòng chuyển tài nguyên và nhân lực đến những nơi mà giá trị của chúng được sử dụng cao nhất.

In fact, now that I think of it, I'm proud to be a Mancgere!

Bây giờ, khi nghĩ lại về những vấn đề này, tôi phải nói là tôi hãnh diện về cái họ của tôi. Tôi hãnh diện là một Thương Nhân!

References

Bastiat, Frédéric. 1850, Paris: France. "What Is Seen and What Is Not Seen." Available online at Selected Essays on Political Economy, Library of Economics and Liberty.

Dictionary.com, "monger," in Online Etymology Dictionary. Douglas Harper, 2001. Accessed: January 19, 2009.

Henderson, David. "German Economic Miracle."Concise Encyclopedia of Economics, Library of Economics and Liberty, Liberty Fund, Inc.

MS. Tib. A 3, or Manuscript Cotton Tiberius A, part 3 is a reference to a fragment of an 11th century psalter, probably produced at Christchurch, Canterbury. Radford, R.A. 1945. "The Economic Organisation of a P.O.W. Camp." Economica. V. 12.

Turner, Sharon. 1836 (Sixth Edition). The History of the Anglo-Saxons. London, England: Longman, Rees, Orme, Brown, Green, and Longman.

* Michael Munger is Chair of Political Science at Duke University.

Tài liệu tham khảo

Bastiat, Frédéric. 1850, Paris: France. "What Is Seen and What Is Not Seen." Available online at Selected Essays on Political Economy, Library of Economics and Liberty.

Dictionary.com, "monger," in Online Etymology Dictionary. Douglas Harper, 2001. Accessed: January 19, 2009.

Henderson, David. "German Economic Miracle."Concise Encyclopedia of Economics, Library of Economics and Liberty, Liberty Fund, Inc.

MS. Tib. A 3, or Manuscript Cotton Tiberius A, part 3 is a reference to a fragment of an 11th century psalter, probably produced at Christchurch, Canterbury. Radford, R.A. 1945. "The Economic Organisation of a P.O.W. Camp." Economica. V. 12.

Turner, Sharon. 1836 (Sixth Edition). The History of the Anglo-Saxons. London, England: Longman, Rees, Orme, Brown, Green, and Longman.

* Michael Munger là Giáo sư Trưởng Khoa Khoa học Chính trị tại Đại học Duke.



http://www.econlib.org/library/Columns/y2009/Mungermiddlemen.html

Getting the Most Out of Life: The Concept of Opportunity Cost Tận hưởng Cuộc đời: Khái niệm về Phí tổn Cơ hội


Getting the Most Out of Life: The Concept of Opportunity Cost

Tận hưởng Cuộc đời: Khái niệm về Phí tổn Cơ hội

Russell Roberts

Rusell Roberts

"To get the most out of life, to think like an economist, you have to be know what you're giving up in order to get something else."

Để tận hưởng Cuộc sống, theo cách suy nghĩ của một nhà kinh tế, bạn phải biết bạn đang hy sinh những gì để có được một cái khác. "

One of the challenges of being an economist is explaining what you do for a living. People understand that one of the things a professor of economics does is teach economics. But what is that, exactly? Most presume it has something to do with investing and financial management. When I once told my seatmate on an airline flight that I was an economist, she said, what a shame, my husband loves the stock market. Hmm. I didn't tell her that other than the advantages of investing in indexed mutual funds, I know next to nothing about the stock market.

Một trong những khó khăn của một nhà kinh tế học là giải thích cho người khác hiểu mình làm cái gì để sinh sống. Người ta hiểu rằng một trong những điều một giáo sư kinh tế học làm là dạy kinh tế học. Nhưng dạy kinh tế học thực sự là dạy cái gì? Phần lớn người ta cho rằng môn kinh tế học có liên quan đến đầu tư và quản trị tài chánh. Có một lần tôi nói với người khách cùng đi trên máy bay là tôi là nhà kinh tế học, bà ta nói, "vậy hả," chồng của bả cũng mê thị trường chứng khoán. Hmm. Tôi không nói cho bả biết là ngoài sự hiểu biết về những lợi điểm của việc đầu tư vào những quỹ đầu tư hỗ tương đã được liệt kê theo chỉ số, tôi chẳng biết tí gì về thị trường chứng khoán cả.

My seatmate might have profited from reading Alfred Marshall who called economics "the study of mankind in the ordinary business of life." This was the enterprise of Marshall and Adam Smith and Friedrich Hayek and Milton Friedman: they tried to understand what people do and the implications of their behavior for the society at large.

Bà khách ngồi kế bên tôi, nếu đã đọc Alfred Marshall, thì kiến thức về kinh tế của bả có lẽ sẽ dồi dào hơn. Marshall cho rằng kinh tế học là "môn học về loài người trong những hoạt động bình thường của đời sống." Môn học này chính là công việc của Marshall, Adam Smith, Friedrich Hayek, và Milton Friedman: Họ tìm hiểu xem con người làm những cái gì và ảnh hưởng của những hành vi này đối với xã hội loài người ra sao.[1]

But my favorite definition of economics is a variant of Marshall's. It comes from a student who heard it from another teacher of hers: economics is the study of how to get the most out of life. I like this because it strikes at the true heart of economics—the choices we make, given that we can't have everything we want. Economics is the study of infinite wants and finite means, the study of constrained choices. This is true for individuals and governments, families and nations. Thomas Sowell said it best: no solutions, only tradeoffs. To get the most out of life, to think like an economist, you have to be know what you're giving up in order to get something else. That's all opportunity cost is:

Nhưng cái định nghĩa về kinh tế mà tôi khoái nhất là một biến thể của định nghĩa của Marshall. Định nghĩa này do một sinh viên của tôi nói lại khi nghe một giáo sư của em giảng: kinh tế học là môn học để làm sao lấy/thu được nhiều nhất từ cuộc đời. Tôi khoái định nghĩa này vì nó đánh trúng ngay tâm điểm của kinh tế học--những lựa chọn mà ta phải quyết định, bởi vì ta không thể có hết những điều ta muốn. Kinh tế học là môn học về những nhu cầu vô hạn và những phương tiện hữu hạn, là môn học về những chọn lựa bị giới hạn. Điều này đúng cho cá nhân và chính quyền, gia đình và quốc gia nữa. Thomas Sowell nói rõ ràng nhất: Không có giải pháp, chỉ có những sự trao đổi. Để có thể thu được nhiều nhất từ cuộc đời, để suy nghĩ như một nhà kinh tế học, bạn phải biết lựa chọn, bỏ vật này để lấy vật khác. Và đó chính là toàn bộ khái niệm về phí tổn của cơ hội.

Opportunity cost is what you have to give up to get something.

Chi phí cơ hội là những gì bạn phải mất để được một cái khác.

What could be more straightforward? If you want something you have to give up something. The idea turns out to be a little subtler than it appears at first glance. Let's look a little more closely.

Chẳng thể nào có một định nghĩa đơn giản hơn. Nếu bạn muốn có một điều gì đó, thì bạn phải từ bỏ một điều khác. Thực ra ý tưởng này tinh tế hơn mới thoạt nhìn. Hãy tìm hiểu thêm chút nữa.

Milton Friedman used to say that economics is simple. All you have to remember is that demand slopes downward and that nothing's free. The hard part is applying those two simple ideas. When Friedman said that nothing was free, he meant that everything has a cost. Take the proverbial free lunch that Friedman delighted in pointing out didn't exist. Suppose I invite you to lunch and it's on me—I promise to pay and I keep that promise. Free, right? No, says the economist.

Milton Friedman vẫn thường nói kinh tế học rất đơn giản. Ta chỉ cần nhớ có hai điều rằng nhu cầu có độ dốc đi xuống và không có cái gì là miễn phí cả. Vấn đề khó là áp dụng cả hai ý tưởng đơn giản này. Khi Friedman nói rằng không có cái gì miễn phí, nghĩa là mọi thứ đều có chi phí của nó. Hãy xem một thí dụ về một bữa ăn trưa miễn phí mà Friedman vẫn thường hứng thú chứng minh là không hề có thực. Giả sử tôi mời bạn đi ăn trưa và tôi sẽ đãi bạn bữa ăn đó. Và tôi giữ đúng lời hứa, trả tiền cho bạn đàng hoàng. Như vậy là bạn ăn một bữa ăn miễn phí chứ gì? Nhà kinh tế học bảo: Không phải vậy đâu.

Economist: There's no monetary cost. Today. But there's an expectation that you'll return the favor and treat me to a future lunch.

Nhà kinh tế học: Đúng là bạn không phải trả tiền cho bữa ăn hôm nay. Nhưng tôi cũng nghĩ là bạn sẽ đãi lại tôi trong tương lai.

You (believer in the free lunch): But you don't realize I'm not a nice person. I don't plan on reciprocating and I'm going to keep that promise to myself. Today's lunch is free.

Bạn (người tin là có bữa ăn miễn phí): Nhưng chắc bạn cũng biết tôi không phải là người biết điều. Tôi không có ý định "bánh ít đi, bánh quy lại" đâu, và tôi cương quyết giữ ý định này. Bữa ăn hôm nay là miễn phí.

Economist: No. Even if you don't plan to reciprocate, the guilt at being a moocher is a cost.

Nhà kinh tế học: Không đâu, dù cho bạn không có ý định "trả nợ," thì cái hành vi "ăn không" của người khác cũng làm bạn xấu hổ chứ. Đó là cái giá bạn trả cho bữa ăn miễn phí.

You: You don't realize just how not-nice I am. I have no conscience. So I do get a free lunch.

Bạn: Ồ, bạn không biết tôi là người không biết điều ư. Tôi không có lương tâm gì xất. Cho nên, tôi được một bữa ăn miễn phí.

Economist: Alas, no. You have to listen to me talk while we're eating.

You: I won't be listening. I'm going to daydream about an upcoming vacation. I'm going to pretend to be pay attention.

Nhà kinh tế học: Đâu có miễn phí đâu bạn. Chẳng phải bạn đã phải ngồi nghe tôi nói khi chúng ta đang ăn đấy sao?

Bạn: Nhưng tôi đâu có nghe. Tôi đang mơ mộng về chuyến đi chơi sắp tới. Tôi chỉ làm bộ như đang nghe bạn thôi.

Economist: Still not free. The cost of having lunch with me, even when I pay, even when you don't plan on reciprocating and even when I do all the talking that you ignore, is the pleasure you would have received doing something else instead. Whatever you gave up to have lunch with me. Not just the money. Not just the time. But the value or pleasure you would have received from doing something else.

Nhà kinh tế học: Vẫn không miễn phí đâu bạn. Cái phí tổn của bạn khi đi ăn trưa với tôi, dù là do tôi đãi, dù là bạn không có ý định "trả nợ" trong tương lai, ngay cả dù cho bạn làm lơ khi nghe tôi nói chuyện, là một niềm vui nào đó mà bạn sẽ có thay vì đi ăn với tôi. Cái phí tổn đó không nhất thiết phải là tiền bạc hay thì giờ, mà là giá trị hay niềm vui mà bạn sẽ có nếu bạn đi làm việc khác.

So one of the keys to thinking like an economist is always remembering that everything has a cost. This may be one reason economists have fewer friends than they otherwise would. Sometimes people are very happy holding on to the naïve view that something is free. We like the idea of a bargain. We don't want to hear about the hidden or non-obvious costs. Thinking about foregone opportunities, the choices we didn't make, can lead to regret. Choosing this college means you can't go to that one. Marrying this person means not marrying that one. Choosing this desert (usually) means missing out on that one. Sometimes, people just want to eat their cake and have it, too, without being reminded that they missed out on a spectacular piece of pie.

Cho nên một trong những nguyên tắc để suy nghĩ như một nhà kinh tế học là luôn luôn nhớ rằng mọi thứ đều có phí tổn. Điều này có lẽ cũng là một lý do mà những nhà kinh tế học có ít bạn hơn người thường. Đôi khi người ta rất vui vẻ với ý tưởng ngây thơ là có cái gì đó miễn phí. Ta thích cái ý tưởng là mua được giá hời. Ta không muốn nghe đến những phí tổn ngầm. Cứ nghĩ đến những cơ hội đã qua, những sự lựa chọn đã để vuột, chỉ khiến cho ta thêm tiếc nuối. Chọn trường đại học này nghĩa là không thể theo học trường kia. Lấy người này nghĩa là không thể lấy người nọ. Chọn món tráng miệng này (thông thường) nghĩa là không thể ăn món khác. Đôi khi người ta chỉ muốn có một miếng bánh ngọt và được ăn trọn miếng bánh đó mà không cần bị nhắc là ăn miếng này thì không được thưởng thức miếng khác còn ngon hơn.



Many people think that this constant harping on opportunity costs and alternatives and tradeoffs is why economics is called the dismal science. Frequent visitors to the Library of Economics and Liberty know better. See The Secret History of the Dismal Science by David M. Levy and Sandra J. Peart

Nhiều người nghĩ rằng chỉ vì những nhà kinh tế học suốt ngày cứ lải nhải về tổn phí cơ hội, lựa chọn, và đổi chác, cho nên môn kinh tế học bị coi là một môn khoa học ảm đạm. Những bạn đọc thường xuyên của Thư viện Kinh tế và Tự do biết rằng kinh tế học thực tế không phải như vậy. Xem thêm bài "Lịch sử Bí mật của Khoa học Ảm đạm" của David M. Levy và Sandra J. Peart.

All true. But if you want to get the most out of life, you have to take account of the opportunity cost, the foregone alternatives. Better to make good choices and learn how to live with them than make bad choices in blissful ignorance that lead to ruin. Here are some applications of how understanding opportunity costs helps you get the most out of life.

Nhưng nếu bạn muốn thu được nhiều nhất từ cuộc đời, bạn phải tính luôn cả tổn phí cơ hội và những chọn lựa khác bạn đã để trôi qua. Thà là lựa chọn cho kỹ rồi chấp nhận kết quả của quyết định của mình còn hơn là nhắm mắt lựa đại để đi đến kết quả tai hại. Sau đây là một vài ứng dụng khái niệm tổn phí cơ hội mà sẽ giúp cho bạn thu đạt được nhiều nhất từ cuộc đời.

The real cost of college

What's the cost of college? The obvious part of the cost of college is tuition. It's not room and board because those would be incurred anyway. But the opportunity cost includes the foregone wages from the jobs you could have had if you hadn't gone to college. This is one of the reasons we go to college when we're young without any experience in the workplace—our wages are relatively low so the foregone earnings from going to college are lower.

Tổn phí thực sự của đại học

Tổn phí thực sự của đại học là gì? Phần hiển nhiên nhất là học phí. Tiền ăn, tiền ở không tính vì ai mà lại không ăn và không cần chỗ ở. Nhưng tổn phí cơ hội gồm có tiền lương bị mất vì phải nghỉ việc để đi học. Đó là một trong những lý do ta đi học đại học khi còn trẻ và chưa có kinh nghiệm đi làm; nếu có, thì tiền lương cũng tương đối thấp nên tổn phí cơ hội cho đại học cũng thấp hơn.

The return on your investments

Economists do know something about the stock market. If you tell me you have a great investment track record, I want to know: compared to what. A mutual fund manager who earned 12% last year for his investors seems to have had a banner year. But mutual funds indexed to the S&P 500 earned over 15%. If both funds had a similar level of risk, that mutual fund manager had a negative return of 3%. Similarly, holding your assets in the form of cash means foregoing the opportunity to invest them. The opportunity cost of cash is the return you could earn by investing it.

Lợi tức từ đầu tư

Những nhà kinh tế học thực sự hiểu biết về thị trường chứng khoán. Nếu bạn bảo tôi là bạn có một quá trình đầu tư rất ngon lành, tôi sẽ hỏi bạn là ngon lành so với cái gì? Một người quản lý quỹ đầu tư hỗ tương mang lại lợi nhuận 12% cho thân chủ của mình được xem là ngon lành. Nhưng quỹ hỗ tương theo chỉ số của S&P 500 lại được lời hơn 15%. Nếu rủi ro của cả hai bên giống nhau, thì người quản lý quỹ đầu tư của bạn đã bị lợi tức âm là 3% rồi. Tương tự như thế, giữ tiền mặt trong nhà có nghĩa là mất đi cơ hội để đầu tư. Tổn phí cơ hội của giữ tiền mặt là lợi tức có thể thu được qua ngả đầu tư.

Home ownership and home improvements

Real estate agents like to tell you that a house is a great investment. Your house is appreciating and you get to live in it. Sometimes both are true statements. But appreciation of the house isn't enough to make it a good investment (or a reason to buy a particularly large house on the argument that if the investment is going to appreciate, it's better to have a bigger stake). Home owners like to savor how much they sold their house for above what they paid for it. When measuring the return, they rarely subtract the direct monetary costs—the repairs, the taxes, and the fees and commissions of lawyers, real estate agents and government agencies. But I've never known the proud Boston or Washington or L.A. house seller who calculates the foregone investment opportunities from tying up the down payment and the mortgage payments over the life of the time in the house.

Mua nhà và sửa nhà

Những chuyên viên buôn bán nhà (địa ốc) thích nói với bạn mua nhà là một sự đầu tư tốt lắm, vì giá nhà thì tăng lên và bạn lại được ở trong căn nhà của mình nữa. Đôi khi cả hai câu nói đó đều đúng hết. Nhưng sự lên giá của căn nhà vẫn chưa đủ để cho việc mua nhà trở thành một sự đầu tư tốt (cũng giống như lý do mua một căn nhà thiệt bự để nếu khi giá nhà tăng lên thì lại càng tốt hơn vì căn nhà to hơn). Chủ nhân những căn nhà vẫn thường khoái chí khi bán được căn nhà cao giá hơn khi họ mua. Khi đo đếm lợi tức thu hoạch được, ít khi nào họ trừ ra những chi phí trực tiếp bằng tiền, nào là tiền sửa chữa, đóng thuế, lệ phí của luật sư, của chuyên viên địa ốc và của những cơ quan chính quyền nữa. Nhưng tôi chưa bao giờ gặp được một người chủ nhà ở Boston hay Washington hay Los Angeles tính đến những cơ hội đầu tư đã trôi qua chỉ vì tiền đã được dùng để đặt cọc mua nhà và trả tiền nhà hàng tháng cho đến khi trả dứt nợ.

Similarly, real estate agents (and contractors) like to tell you that re-doing your kitchen is a good idea because you'll get the money back in the form of a higher price when you sell your house. So the kitchen is free! And in the meanwhile, you get to enjoy the pleasures of the kitchen. That logic is fine as long as you get enough pleasure from the kitchen to offset the opportunity cost of tying your money up in cabinetry and granite and giving up the return you could have earned doing something else with the money.

Tương tự như vậy, những chuyên viên địa ốc (và nhà thầu) thích nói với bạn là sửa lại căn bếp là một ý tưởng hay vì bạn sẽ thu lại được số tiền ấy khi bạn bán được căn nhà giá cao hơn là khi chưa sửa bếp. Cho nên, coi như bạn sửa bếp miễn phí! Còn trong khi chờ bán nhà bạn được xài một căn bếp rộng rãi thoải mái. Lập luận này cũng đúng thôi chừng nào mà bạn thấy rằng sử dụng một nhà bếp rộng rãi cũng sướng bằng số tiền bạn đã bỏ ra để sắm nào là mặt bàn đá hoa cương, tủ chén bát, trong khi bạn có thể dùng số tiền đó vào việc khác.

One aspect of home ownership and opportunity cost is particularly tricky. Suppose your house appreciates. You could sell it and move to a smaller house or a house in a different neighborhood. But you decide to stay. The appreciation of your house means it has gotten more costly to live in it. But that increase in cost, being an opportunity cost rather than an out-of-pocket cost does not mean you are worse off. In fact, it is a sign that you are better off—an asset you own has appreciated and your wealth is higher at least as long as the appreciation stays in place. Opportunity cost is different from what we think of colloquially as cost, which usually means a monetary payment. Opportunity cost guides rational decision-making. But an increase in costs doesn't necessarily mean that you are worse off than you were before.

Một khía cạnh khác của việc mua nhà và tổn phí cơ hội cũng khá rắc rối. Giả sử là căn nhà của bạn lên giá. Bạn có thể bán căn nhà này và dọn sang một căn nhà nhỏ hơn ở một khu phố khác. Nhưng bạn lại quyết định ở căn nhà này. Khi giá nhà của bạn tăng lên nghĩa là bạn sẽ bị tốn kém nhiều hơn nếu cứ tiếp tục ở trong căn nhà đó. Thực ra, đó là một chỉ dấu cho thấy tình trạng tài chính của bạn khá hơn--tài sản bạn làm chủ tăng lên nếu giá nhà giữ ở mức tăng trưởng như vậy. Tổn phí cơ hội khác với điều ta thường nghĩ là tổn phí, dưới dạng tiền bạc. Tổn phí cơ hội giúp ta quyết định theo lý trí. Nhưng một sự gia tăng tổn phí cơ hội không nhất thiết có nghĩa là tình trạng tài chánh của bạn bị xấu đi.

Sunk costs are sunk, historical costs are history

Opportunity cost is a forward-looking concept. If my car breaks down and I fix it, and it breaks down again, the decision to fix it a second time is independent of the first repairs costs. It is irrational to think that I have to fix it because I've put so much money into the car already—if I don't fix it, I'll lose all the money I've already invested. I've already lost the money on the first repair. Now I should only ask whether the second set of repairs are worth it.

Những phí tổn chìm và những phí tổn quá khứ

Tổn phí cơ hội là một khái niệm thuộc về tương lai. Nếu chiếc xe của tôi bị hư và tôi đem đi sửa, và nó lại bị hư nữa, thì cái quyết định có sửa lần thứ hai hay không hoàn toàn không ăn nhập gì với phí tổn sửa xe lần thứ nhất (phí tổn đã mất và chìm rồi). Suy nghĩ rằng tôi phải sửa xe lần thứ hai bởi vì tôi đã bỏ nhiều tiền thêm vào chiếc xe rồi là một suy nghĩ không hợp lý. Tôi đã tốn tiền sửa xe lần thứ nhất rồi. Bây giờ tôi chỉ nên suy nghĩ xem là lần sửa thứ hai này có đáng giá hay không mà thôi.

A variation on the "sunk cost" argument is the irrelevancy of historical costs. What the seller paid for a house twenty years ago has little effect on the market price today. Complaining that the seller is charging an exorbitant price compared to what the seller paid originally, only insures you will have trouble finding someone to sell you a house that meets your standards of a fair price. On the flip side, explaining to a prospective buyer in a housing market that has collapsed, that your price is high because after all, you paid a lot for it once and it's only fair that you get your money back plus a fair return, is unlikely to be a successful strategy for selling your house. Market prices ignore history.

Khái niệm "phí tổn chìm" không dính dáng gì với phí tổn đã chi trong quá khứ. Cái giá mà người mua nhà trả cho căn nhà của mình 20 năm về trước không có ảnh hưởng gì đến giá cả ngoài thị trường ngày hôm nay. Than phiền rằng người bán nhà đã tính giá quá mắc so với giá họ mua ngày xưa không ăn thua gì hết, vì bạn sẽ khó kiếm được người bán nhà mà bạn nghĩ là có một cái giá phải chăng đối với bạn. Ngược lại, nếu bạn giải thích cho người mua là, dù giá cả của thị trường nhà đất hiện đang bị rớt, mà bạn vẫn đòi giá cao vì ngày xưa bạn mua với giá cao, thì rõ ràng là bạn sẽ khó lòng mà bán được căn nhà của bạn. Giá cả thị trường không ăn thua gì đến quá khứ.

Replacement costs are more relevant than historical costs. If a friend gives you a Van Gogh as a wedding present and a few years later, a drunken dinner guest plunges a carving knife through it after losing his balance, your guest wouldn't tell you to shrug it off because after all, it was a gift, you didn't pay anything for it.

Trong khi đó, phí tổn thay thế có liên hệ đến phí tổn quá khứ. Giả sử có người cho bạn một bức tranh của Van Gogh làm quà cưới. Vài năm sau, trong một bữa tiệc tại nhà bạn, một người khách hơi say sưa, chệnh choạng thế nào mà lại làm rách bức tranh của bạn. Người khách này không thể bảo với bạn là "bỏ đi tám" và không đền, vì bức tranh là một món quà, bạn đâu có bỏ tiền ra mua đâu.

Self-sufficiency vs. relying on others

Perhaps the most important application of opportunity cost is the decision to do things for yourself vs. hiring someone. Doing it yourself is often cheaper and can be fun. But the cost of doing it yourself is the value of the other things you could have done with your time. Those other things might include working a part-time job or doing consulting, which means you forego money. So doing it yourself can be costly in the monetary sense. But the non-monetary costs can dwarf the monetary costs. Time spent painting your house yourself is time you can't spend reading to your children or being with your spouse or volunteering at the local soup kitchen.

Tự túc hay nhờ vả?

Có lẽ ứng dụng quan trọng nhất của tổn phí cơ hội là quyết định có nên tự mình làm lấy hay mướn người làm cho mình. Tự mình làm lấy thường rẻ hơn và lại vui nữa. Nhưng phí tổn của việc tự làm lấy là giá trị của những việc khác bạn có thể làm trong khoảng thời gian đó. Những việc khác có thể là đi làm thêm một việc bán-thời gian hay làm công việc tư vấn kiếm thêm tiền; nghĩa là bạn đã bỏ qua một số tiền. Cho nên, tự làm lấy có thể sẽ tốn phí hơn về phương diện tiền bạc. Nhưng những phí tổn không-phải-là-tiền có thể còn cao hơn là phí tổn tài chánh. Thí dụ thời giờ bạn dùng để tự sơn lại căn nhà bạn có thể dùng để chơi với vợ con hay đi làm việc thiện nguyện.

Ultimately, anything close to genuine self-sufficiency is the road to poverty. An avid do-it-yourselfer might change her own oil, bake her own bread and build a bookcase in her basement workshop. But she won't forge her own steel and the fashion her own car. She won't grow her own wheat or mill her own flour. She won't cut down a tree and plane the wood for that bookcase. And even if she did, she'll buy the saw. She won't make it for herself.

Nói cho cùng, bất cứ những gì mà đưa tới tình trạng tự túc là con đường dẫn đến nghèo đói. Một người thích tự-túc có thể tự thay nhớt xe của mình, tự làm bánh, tự làm kệ sách. Nhưng người đó không thể tự làm ra những vật dụng bằng sắt thép hay vẽ kiểu xe hơi của mình. Người đó không thể tự trồng lấy lúa, hay tự mình gặt hái. Người đó không thể tự mình đốn cây, xẻ gỗ làm ván để đóng tủ sách. Và ngay cả khi có thể làm như vậy, thì người ấy vẫn phải mua cái cưa.

Opportunity cost is key to understanding the concept of comparative advantage. See Comparative Advantage, by Lauren F. Landsburg and Treasure Island: The Power of Trade Part I. The Seemingly Simple Story of Comparative Advantage, by Russ Roberts.

Chi phí cơ hội là chìa khóa để hiểu các khái niệm về lợi thế so sánh. Xem Lợi thế so sánh, của Lauren F. Landsburg và Đảo Kho báu: Sức mạnh của Thương mại Phần I. Câu chuyện Dường như đơn giản về lợi thế so sánh, của Russ Roberts.

By specializing in a very small set of skills, selling those skills in the marketplace and relying on the skills of other specializing individuals we create much of what we call specialization. We specialize because the costs of self-sufficiency are so high.

Qua sự chuyên môn hóa những kỹ năng rất nhỏ rồi bán những kỹ năng này ngoài thị trường và nhờ vào kỹ năng đã được chuyên môn hóa từ những cá nhân khác, ta đã tạo nên cái gọi là "sự chuyên môn." Chúng ta nhờ vào sự chuyên môn vì cái giá của tự túc quá cao.

Of all the constraints we face, the constraint of 24 hours in a day and a finite lifetime are ones we cannot escape. Getting the most out of life means using that precious time wisely. Using that time wisely means using and understanding opportunity cost.

Trong tất cả những giới hạn mà chúng ta gặp phải, sự giới hạn của 24 giờ một ngày và một đời sống hữu hạn là những giới hạn ta không thể thoát được. Tận hưởng cuộc đời nghĩa là biết sử dụng thời giờ một cách khôn ngoan. Sử dụng thời giờ một cách khôn ngoan nghĩa là ta phải hiểu và áp dụng được tổn phí cơ hội.

Russell Roberts is a professor of economics at George Mason University and a research fellow at Stanford University's Hoover Institution. He is the Features Editor of the Library of Economics and Liberty and the host of EconTalk.

Russell Roberts là giáo sư Kinh tế học tại Đại học George Mason và là Viện sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Hoover tuuộc Đại học Stanford. Ông cũng là Chủ bút của Tạp chí Thư viện Kinh tế và Tự do và EconTalk.

http://www.econlib.org/library/Columns/y2007/Robertsopportunitycost.html#

Humility - The most beautiful word in the English language Sự Khiêm Nhường - Từ ngữ Đẹp nhất trong Ngôn ngữ Anh


Humility - The most beautiful word in the English language

Sự Khiêm Nhường - Từ ngữ Đẹp nhất trong Ngôn ngữ Anh

Bruna Martinuzzi

Bruna Martinuzzi

Many years ago, one of my university professors mentioned that "windowsill" was voted the most beautiful word in the English language. Being an armchair linguist, this factoid naturally stayed with me. Words have enormous power. They can make us erupt into laughter or bring tears to our eyes. They can influence, inspire, manipulate and shock. They can build and destroy. Some words have different effects on different people. One such word is humility. It is one of those words that are seldom in neutral gear. Some, like me, love the word and all it stands for. Some almost fear it and interpret it synonymously with lack of self-confidence or timidity.

Nhiều năm trước đây, một vị thầy dạy tôi trên đại học nói rằng "thềm cửa sổ" được cho là danh từ đẹp nhất trong Anh ngữ. Là một nhà ngôn ngữ học tài tử, sự kiện nhỏ nhặt này tất nhiên nằm trong trí nhớ của tôi. Từ ngữ có uy lực to tát. Chúng có thể làm ta cười phá lên hoặc làm nước mắt dâng tràn bờ mi. Từ ngữ có thể gây ảnh hưởng, tạo cảm hứng, khiến ta hoạt động và làm ta chấn động. Từ ngữ có thể xây dựng và có thể phá hủy. Có những từ mang đến những ảnh hưởng khác nhau cho từng người. Một trong những từ ngữ có ảnh hưởng lớn lao như vậy là danh từ "sự khiêm nhượng." Đây là một trong các từ hiếm khi đem cảm giác quân bình đến cho người nghe. Một số người, có tôi trong đó, yêu danh từ này và mọi biểu tượng của nó. Các người khác gần như sợ nó và xem nó đồng nghĩa với sự thiếu tự tin hoặc tính nhút nhát.

The dictionary defines humility as modesty, lacking pretence, not believing that you are superior to others. An ancillary definition includes: "Having a lowly opinion of oneself, meekness". The word "humility" first struck me in the context of leadership when Jim Collins mentioned it in his seminal work Good to Great: Why Some Companies Make the Leap... and Others Don't. In this book, Collins examined companies that went from good to great by sustaining 15-year cumulative stock returns at or below the general stock market, and after a transition point, cumulative returns at least three times the market over the next 15 years.

Từ điển định nghĩa "sự khiêm nhượng" là sự khiêm tốn, không tự phụ khoe khoang, không tỏ ra rằng mình tài giỏi hơn người khác. Kèm thêm định nghĩa phụ là "Tự đánh giá thấp, hiền lành dễ bảo." Khi đọc quyển sách "Từ Giỏi Đến Tuyệt: Tại Sao Vài Công Ty Có Tiến Bộ Nhảy Vọt ... mà Các Công Ty Khác Không Thể" của Jim Collins, là lần đầu tiên tôi nghĩ đến danh từ "sự khiêm nhượng" trong phạm vi khả năng lãnh đạo. Trong quyển sách này, Collins nghiên cứu các công ty đã nhẩy vọt từ giỏi đến tuyệt qua sự duy trì được trong suốt 15 năm số lời [tính trên chỉ số chứng khoán] bằng với giá của thị trường, và sau giai đoạn chuyển tiếp đã mang lại lợi tức cao gấp ba lần giá thị trường chứng khoán trong vòng 15 năm kế tiếp.[1]


[1] Lợi nhuận tính bằng số thu hoạch từ chứng khoán (stock return) = tổng số tiền lời của toàn thể cổ đông. Một công ty có thể có lời (tính bằng tiền), nhưng trị giá chứng khoán của công ty đó có thể bị suy giảm

Among the many characteristics that distinguished these companies from others is that they all had a Level 5 leader. Level 5 leaders direct their ego away from themselves to the larger goal of leading their company to greatness. These leaders are a complex, paradoxical mix of intense professional will and extreme personal humility. They will create superb results but shun public adulation, and are never boastful. They are described as modest. An example of such a leader who epitomized humility is David Packard, the co-founder of Hewlett-Packard, who, in Jim Collins' words, defined himself as a HP man first and a CEO second. He was a man of the people, practicing management by walking around. Shunning all manner of publicity, Packard is quoted as saying: "You shouldn't gloat about anything you've done; you ought to keep going and find something better to do."

Những công ty này có đặc điểm khác biệt với các công ty khác ở chỗ họ có người lãnh đạo ở bậc thứ 5.[2] Các vị lãnh đạo này hướng cái tôi trong họ về mục đích dẫn dắt công ty phát triển ở tầm vóc vĩ đại, là những người có bản chất phức tạp mâu thuẫn, trộn lẫn giữa ý chí chuyên nghiệp mãnh liệt và sự nhún nhường tột độ. Họ tạo nên kết quả tuyệt vời nhưng lại tránh xa sự nịnh bợ tâng bốc, và không bao giờ thích khoe khoang. Người ta miêu tả họ là người khiêm tốn. David Packard, người đồng sáng lập công ty Hewlett-Packard, là điển hình cho cấp bậc lãnh đạo này; theo lời Jim Collins, Packard tự coi mình trước tiên là nhân viên hãng HP, rồi thứ nhì mới là Chủ Tịch. Ông là người của quần chúng, quản lý công ty bằng cách đi quanh quan sát. Xa lánh tất cả mọi hình thức nhận tán thưởng trước công chúng, ông Packard từng nói: "Không nên hả hê về những gì bạn đã làm được, hãy tiếp tục và kiếm chuyện khác tốt hơn mà làm."


[2] Jim Collins xếp hạng khả năng lãnh đạo theo năm bậc từ 1 tới 5. Bậc 1 là những cá nhân có khả năng cao; bậc 2 là những cá nhân có khả năng cao cộng với khả năng hợp tác với những thành viên khác để đạt mục tiêu chung; bậc 3 là những nhà quản lý giỏi, có khả năng tổ chức, điều hành nhân lực, tài lực và đạt được mục tiêu một cách hữu hiệu; bậc 4 là những nhà lãnh đạo hữu hiệu có khả năng tiên kiến, vận động và khích lệ nhân viên làm việc đat tới tiêu chuẩn cao. Bậc 5 là những nhà lãnh đạo xây dựng tổ chức tiến đến chỗ tuyệt hảo. Những nhà lãnh đạo này thể hiện được hai đức tính trái ngược nhau là khiêm nhượng và ý chí chuyên môn cao.

Another great leader is Patrick Daniel, CEO of North American energy and pipeline company Enbridge, who espouses two leadership attributes: determination to create results and humility, shifting the focus away from himself and continually recognizing the contributions of others. "I have learned through the lives of great leaders," he said, "that greatness comes from humility and being at times, self-effacing."

Một vị lãnh đạo tuyệt vời khác là Patrick Daniel, Chủ Tịch Công ty Enbridge, một công ty về năng lượng và vận chuyển dầu hỏa tại Bắc Mỹ. Ông hội tụ hai cá tính lãnh đạo: sự quyết tâm tạo nên thành tích và sự khiêm nhượng, ông luôn tuyên dương sự đóng góp của người khác và không khi nào đặt mình làm trọng điểm. Ông từng nói, "Tôi học hỏi từ lối sống của các bậc lãnh đạo cao cả. Sự vĩ đại xuất phát từ tính khiêm nhượng và hành vi khiêm tốn."

Clearly these leaders, and many others like them, don't espouse the meaning of humility as "meek". On the contrary, it is a source of their strength. But the notion of being self-effacing is one that we struggle with in our competitive culture, prescribing that we take every opportunity to toot our own horn, and that we don't dare leave the house without our dynamic elevator speech all rehearsed.

Đối với những vị lãnh đạo này, cũng như với nhiều người khác tương tự như họ, khiêm nhượng rõ ràng không có nghĩa là hiền lành dễ sai khiến. Ngược lại, đó chính là sức mạnh của họ. Thế nhưng, trong nền văn hóa ganh đua của chúng ta, ta phải tranh đấu vất vả với ý niệm làm người khiêm tốn, vì hễ có dịp là ắt phải khua kèn đánh trống ca tụng chính mình, và ta không dám đi ra khỏi nhà nếu chưa chuẩn bị cho ngon lành bản quảng cáo về mình trong vòng một, hai phút.[3]


[3] "Elevator speech" hay "elevator pitch" là thuật ngữ dùng để chỉ phần giới thiệu về công ty, sản phẩm, hay hội đoàn của mình trong những buổi tiếp tân hay hội họp với những đối tượng có tiềm năng trở thành thân chủ hay người yểm trợ. Trong khung cảnh này, đối tượng thường không có thì giờ để nghe ta trình bày tỉ mỉ, cho nên ta phải đưa ra những ưu điểm của mình trong khoảng thời gian ngắn nhất chừng 1 hay 2 phút.

We often confuse humility with timidity. Humility is not clothing ourselves in an attitude of self-abasement or self-denigration. Humility is all about maintaining our pride about who we are, about our achievements, about our worth – but without arrogance – it is the antithesis of hubris, that excessive, arrogant pride which often leads to the derailment of some corporate heroes, as it does with the downfall of the tragic hero in Greek drama. It's about a quiet confidence without the need for a meretricious selling of our wares. It's about being content to let others discover the layers of our talents without having to boast about them. It's a lack of arrogance, not a lack of aggressiveness in the pursuit of achievement.

Chúng ta thường lầm lẫn giữa tính khiêm nhượng và tính rụt rè nhút nhát. Khiêm nhượng không có nghĩa là tự hạ mình hay tự chê bai. Khiêm nhượng có nghĩa là duy trì niềm tự hào về bản thân, về thành tích, về giá trị của mình - nhưng không hề kiêu căng - khiêm nhượng là đối nghịch của ngạo mạn; kiêu hãnh quá lố thường làm cho nhiều người lãnh đạo đi chệch đường rày, giống như tình trạng của những vị anh hùng bi tráng trong những tuồng cổ Hy lạp thường phạm phải. Khiêm nhượng tức là tự tin trong im lặng, không cần phải phô bày cái hào nhoáng bên ngoài. Đó là sẵn sàng để người khác khám phá những lớp lớp tài năng của mình mà chẳng cần mình khoe khoang về chúng. Đó là không kiêu ngạo, chứ không phải thiếu quả quyết khi theo đuổi mục đích.

An interesting dichotomy is that, often, the higher people rise, the more they have accomplished, the higher the humility index. Those who achieve the most brag the least, and the more secure they are in themselves, the more humble they are. "True merit, like a river, the deeper it is, the less noise it makes". (Edward Frederick Halifax). We have all come across people like that and feel admiration for them.

Có một sự đối lập thú vị như sau: thường thường, một người càng thăng tiến, càng nhiều thành tựu, thì người ấy càng có chỉ số khiêm nhượng cao. Người đạt nhiều thành tích nhất là người ít khoe khoang nhất, và lòng tự tin của họ càng cao, thì họ càng khiêm tốn. "Giá trị thật sự, giống như một dòng sông, càng sâu, thì càng chảy êm đềm" (Edward Frederick Halifax). Tất cả chúng ta đều đã gặp và ngưỡng mộ những người như vậy.

There is also an understated humility of every day people we work with who have the ability to get the job done without drawing attention to themselves. Witness the employee who is working at his computer into the late hours, purely motivated by a keen sense of duty, the executive assistant who stays after 5:30pm on a Friday night in an empty office to await a courier, or the manager who quietly cancels an important personal event to fly out of town to attend to the company's business. This is akin to the philanthropist who gives an anonymous donation.

Tại sở làm, chúng ta cũng có những đồng nghiệp có khả năng, làm việc tích cực và khiêm tốn, họ không mời mọc sự chú ý của người khác. Hãy xem người nhân viên ở lại sở trễ để làm xong việc, hoàn toàn vì anh có tinh thần trách nhiệm cao, người thư ký ngồi lại một mình trong phòng làm việc, sau 5g30 chiều thứ Sáu, để chờ người giao hàng, hoặc người quản lý gác lại cuộc hẹn riêng tư để đáp chuyến bay đi công tác. Các hành động trên cũng tương tự như việc làm của một nhà từ thiện ẩn danh.

Humility is also a meta-virtue. It crosses into an array of principles. For example, we can safely declare that there cannot be authenticity without humility. Why? Because, there is always a time in a leader's journey when one will be in a situation of not having all the answers. Admitting this and seeking others' input requires some humility.

Lòng Khiêm nhượng cũng là một siêu đức tính. Đức tính này liên hệ với nhiều nguyên tắc đạo đức. Thí dụ, ta có thể yên tâm tuyên bố rằng không thể có sự chân thật nếu không có tính khiêm nhượng. Tại sao? Bởi vì, chắc chắn sẽ có lúc chính người lãnh đạo cũng không thể giải quyết được một vấn đề nào đó. Phải có đức tính khiêm nhượng mới có thể thú nhận điều mình không biết và hỏi ý kiến người khác



Another mark of a leader who practices humility is his or her treatment of others. Such leaders treat everyone with respect regardless of position. Years ago, I came across this reference: the sign of a gentleman is how he treats those who can be of absolutely no use to him.

Phong cách cư xử là một đặc điểm khác của người lãnh đạo khiêm nhượng. Những người lãnh đạo này đối xử với mọi người một cách kính trọng, bất kể địa vị và chức vụ của đối tượng. Nhiều năm trước, tôi đọc được thành ngữ này: Đức độ của người quân tử được thể hiện ở cách họ đối xử với những người chẳng mang lại lợi ích gì cho họ.

Something interesting happens, too, when we approach situations from a perspective of humility: it opens us up to possibilities, as we choose open-mindedness and curiosity over protecting our point of view. We spend more time in that wonderful space of the beginner's mind, willing to learn from what others have to offer. We move away from pushing into allowing, from insecure to secure, from seeking approval to seeking enlightenment. We forget about being perfect and we enjoy being in the moment.

Nhiều chuyện lý thú xảy ra khi ta đặt mình vào cuộc với cái nhìn khiêm nhượng: nhiều cơ hội mới chào đón khi ta chọn cái nhìn phóng khoáng và hiếu kỳ thay vì cố chấp bảo thủ với ý kiến của mình. Ta dừng lại lâu hơn trong khoảng không gian kỳ diệu của kẻ mới vào nghề, với cái tâm rộng mở để tiếp nhận những gì người khác cho ta. Ta chuyển từ đẩy ra sang thu vào, từ bấp bênh sang vững chắc, từ mưu cầu sự chuẩn nhận sang tìm kiếm sự giác ngộ. Ta quên đi việc cố gắng trở thành hoàn hảo và hân hoan sống trong hiện tại.

Here are a few suggestions on practicing humility:

There are times when swallowing one's pride is particularly difficult and any intentions of humility fly out the window, as we get engaged in a contest of perfection, each side seeking to look good. If you find yourself in such no-win situations, consider developing some strategies to ensure that the circumstances don't lead you to lose your grace. Try this sometimes: just stop talking and allow the other person to be in the limelight. There is something very liberating in this strategy.

Đây là vài cách luyện tập tính khiêm nhượng:

Nhiều lúc, trong cuộc tranh luận phân chia thắng bại, dằn tự ái của mình xuống quả là điều rất khó, và mọi ý niệm khiêm nhượng tan biến. Khi đối mặt với trường hợp không có lợi cho bản thân như vậy, bạn hãy tìm cách nào nhằm tránh xảy ra hành động làm bạn mất đi phong cách của mình. Hãy thử ngưng nói và để mọi sự chú ý dồn về phía đối phương. Đây là một cách làm tâm trí ta thoải mái lại.

Here are three magical words that will produce more peace of mind than a week at an expensive retreat: "You are right."

Ba chữ nhiệm màu sau đây sẽ mang lại nhiều yên tĩnh cho đầu óc hơn cả là đi tĩnh tâm một tuần tại khu nghỉ mát đắt tiền: "Bạn nói đúng."

Catch yourself if you benignly slip into over preaching or coaching without permission – is zeal to impose your point of view overtaking discretion? Is your correction of others reflective of your own needs?

Để ý xem bạn có vô tình lên giọng giảng dạy hoặc cho ý kiến trong khi người đối diện chưa cho phép - bạn đã thiếu tế nhị và ép người ta theo lối suy nghĩ của bạn chăng? Phải chăng bạn sửa sai người khác vì chính bạn cần tự xét lại mình?

Seek others' input on how you are showing up in your leadership path. Ask: "How am I doing?" It takes humility to ask such a question. And even more humility to consider the answer.

Luôn hỏi ý kiến người khác về sự tiến triển của bạn trong lãnh vực lãnh đạo. Hãy hỏi "anh hay chị thấy tôi làm việc thế nào?" Cần có tính khiêm nhượng để đặt câu hỏi này. Và càng cần khiêm nhượng để lắng nghe câu trả lời.

Encourage the practice of humility in your company through your own example: every time you share credit for successes with others, you reinforce the ethos for your constituents. Consider mentoring or coaching emerging leaders on this key attribute of leadership.

Hãy khuyến khích mọi người trong sở làm luyện tập hành động khiêm nhượng bằng cách làm gương cho họ: mỗi lần bạn chia sẻ với người khác lời khen khi thành công vẻ vang, bạn củng cố thêm cái văn hóa tổ chức của công ty của bạn. Hãy nghĩ đến việc đào tạo khả năng lãnh đạo này cho các tài năng mới.

There are many benefits to practicing humility, to being in a state of non-pretence: it improves relationships across all levels, it reduces anxiety, it encourages more openness and paradoxically, it enhances one's self-confidence. It opens a window to a higher self. For me, it replaces "windowsill" as the most beautiful word in the English language.

Việc luyện tập đức tính khiêm nhượng, lòng tự tại chân thật, mang lại nhiều bổ ích: giúp việc kết tình thân giữa mọi người, không kể thứ bậc, giảm đi sự hoang mang, khuyến khích mọi người cởi mở và điều này, lạ thay lại nâng cao lòng tự tin. Khiêm nhượng giúp ta mở cánh cửa sổ hướng tới tâm hồn cao thượng hơn. Đối với tôi, danh từ "sự khiêm nhượng" là danh từ đẹp nhất trong Anh ngữ, thế chỗ cho danh từ "thềm cửa sổ".

This article is adapted from Bruna Martinuzzi’s book: The Leader as a Mensch: Become the Kind of Person Others Want to Follow. Bruna is an educator, author, speaker and founder of Clarion Enterprises Ltd, a company which specializes in emotional intelligence, leadership, Myers-Briggs and presentation skills training. Click here to contact her or visit her website at www.increaseyoureq.com. Click here for other articles by Bruna.

Bài này được trích từ cuốn sách "The Leader as a Mensch: Become the Kind of Person Others want to Follow" của Bruna Martinuzzi. Bruna là một nhà giáo dục, tác giả, diễn giả và người sáng lập Công ty Clarion Enterprise Ltd, một công ty tư vấn và huấn luyện về sự thông minh cảm xúc, lãnh đạo, Myers-Briggs, và huấn luyện những kỹ năng về thuyết trình.



http://www.mindtools.com/pages/article/newLDR_69.htm