MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Saturday, January 14, 2012

Pigs Don't Fly: The Economic Way of Thinking about Politics Lợn Không Biết Bay: Nghĩ về Chính Trị Qua Lăng Kính Kinh Tế


Pigs Don't Fly: The Economic Way of Thinking about Politics

Lợn Không Biết Bay: Nghĩ về Chính Trị Qua Lăng Kính Kinh Tế

by Russell Roberts

Russell Roberts

"We call politicians our representatives and they often claim to be fighting for us. But when we think about it, we understand that our interests are diverse and that no politician can really fight for all of us."

"Chúng ta gọi các chính trị gia là người đại diện của chúng ta và họ thường rêu rao rằng họ đấu tranh vì chúng ta. Nhưng khi chúng ta nghĩ về điều đó, chúng ta hiểu rằng lợi ích của chúng ta rất đa dạng và không có chính trị gia thực sự có thể đấu tranh cho tất cả chúng ta."

Sometimes it's hard to do the right thing.

Mimi and Richard Farina were husband-and-wife folksingers in the '60s. Richard died in a motorcycle accident in the aftermath of a party celebrating Mimi's 21st birthday. A horrible tragedy. At Richard's funeral, Judy Collins sang her signature song, Amazing Grace. It must have been terribly moving. Unfortunately, Mimi's sister wasn't at the funeral, though surely she would have also sung something for such a sad occasion. That sister, Joan Baez, was on a concert tour of Europe at the time. She telegrammed Mimi that she had decided to stay in Europe instead of coming home to comfort her sister. Why? Because that's what Richard would have wanted, Joan explained. By staying on tour, she'd be able to talk about his music. Mimi, interviewed years later, explained that actually, Richard would have preferred for Joan to have a nervous breakdown on hearing of his death and to have been unable to perform.

Đôi khi thật khó mà làm được điều đúng.

Mimi và anh Richard Farina là một đôi vợ chồng ca sĩ hát nhạc dân ca trong thập niên 60. Richard qua đời trong một tai nạn xe gắn máy xảy ra ngay sau buổi tiệc ăn mừng sinh nhật 21 tuổi của Mimi. Thiệt là một bi kịch thảm khốc. Tại tang lễ của Richard, ca sĩ Judy Collins đã hát truy điệu với ca khúc thành danh của cô, nhạc phẩm Amazing Grace. Ta có thể tưởng tượng giây phút xúc động đó. Tiếc thay, chị của Mimi không hiện diện tại đám tang, nếu có mặt trong ngày buồn ấy thì cô cũng sẽ hát một bài. Cô tên là Joan Baez,[1] đang tham dự một chuyến trình diễn tại Âu Châu. Cô gửi điện tín cho Mimi biết là cô quyết định ở lại Âu Châu, thay vì bay về để an ủi em gái. Tại sao? Joan giải thích, vì chính Richard muốn cô làm như vậy, để qua những cuộc biểu diễn này, người ta có thể biết đến dòng nhạc của Richard nhiều hơn. Qua một cuộc phỏng vấn nhiều năm sau đó, Mimi thố lộ rằng thật ra Richard có lẽ lại muốn Joan bỏ ngang cuộc trình diễn vì bị khủng hoảng tinh thần khi nghe tin về cái chết của anh.


[1] Joan Baez là một ca sĩ dân ca nổi tiếng của Hoa Kỳ, cùng thời với Bob Dylan. Joan còn được giới yêu âm nhạc biết đến qua những hoạt động phản chiến, ồn ào chống chiến tranh tại Việt Nam trong thập niên 1960. Khi làn sóng thuyền nhân (boat people) Việt Nam xảy ra trong thập niên 70-80, cô đã phản tỉnh và phản đối những vi phạm nhân quyền trầm trọng của chính quyền CSVN. Cô cũng là đồng sáng lập viên của Tổ chức Ân Xá Quốc tế (phân hội Hoa Kỳ) trong thập niên 1970.

A more mundane example occurs when a friend calls to tell you about something important in her life but you have too much to do. After a while, you end the call by saying, "I'll let you go." What you really mean is "I have to go," but we try and put it in a more selfless light.

Thêm một thí dụ xảy ra hàng ngày, khi một người bạn điện thoại cho bạn để kể một chuyện quan trọng nhưng bạn đang rất bận. Sau một lúc, bạn kết thúc cuộc nói chuyện với lời chào, "Thôi, tao không làm phiền mày nữa." Thật ra, bạn muốn nói "Tao phải ngừng đây," nhưng chúng ta cố gắng nói sao cho nghe cho bớt vị kỷ hơn.

We are a bundle of motives. We are often torn between what is best for ourselves and what is best for others. We are torn between doing the right thing and doing the easy thing or the convenient thing. Sometimes we choose the selfless course of sacrifice. The costs and benefits influence our choices. If Joan Baez had been touring in California instead of Europe, it would have been cheaper to come to the funeral. Maybe she would have decided in that case to attend. When a friend calls us in tears, we're more likely to stay on the phone even when we have other things to do.

Trong chúng ta có nhiều động lực. Ta luôn bị giằng co giữa cái tốt cho bản thân và sự ích lợi của người khác, giữa việc nên làm, việc dễ làm với việc nhanh tiện. Đôi khi ta chọn con đường hy sinh quên mình. Phí tổn và lợi ích có ảnh hưởng đến sự chọn lựa của chúng ta. Nếu Joan Baez đang biểu diễn tại California thay vì Âu Châu, phí tổn của chuyến về dự tang lễ sẽ thấp hơn. Có thể vì vậy cô sẽ quyết định có mặt tại buổi tang lễ ấy. Nếu người bạn khóc lóc trong điện thoại, có lẽ chúng ta sẽ nói chuyện lâu hơn cho dù ta đang có nhiều việc cần làm.

But when we choose a selfish course, we rarely confess our true feelings. We find a graceful description to sugarcoat our actions. When the football coach resigns whether because he is failing or because he thinks a better job is available, he often tells the world that he's quitting because he wants to spend more time with his family.

Tuy nhiên, khi ta chọn con đường vị kỷ, rất hiếm khi ta thú nhận cảm nghĩ thật của mình. Ta tìm một lý do tốt đẹp để che đậy hành động của mình. Khi huấn luyện viên của một đội bóng từ chức, hoặc vì ông ta dở không làm được việc, hoặc vì có việc khác lương khá hơn, ông ta sẽ tuyên bố rằng ông bỏ việc vì muốn dành thêm thì giờ cho gia đình.



Pigs Don't Fly

Politicians are just like the rest of us. They find it hard to do the right thing. They claim to have principles, but when their principles clash with what is expedient, they often find a way to justify their self-interest. If they sacrifice what is noble or ideal for personal gain, they are sure to explain that it was all for the children, or the environment or at least for the good of society.

Lợn không biết bay

Các chính trị gia cũng như chúng ta vậy. Họ cảm thấy khó xử sự sao cho đúng. Họ tuyên bố là họ sống theo những nguyên tắc đạo đức, nhưng khi nguyên tắc của họ đụng chạm với những điều lợi thực tế, họ thường tìm cách biện minh cho quyền lợi bản thân của họ. Nếu họ hy sinh đạo đức và lý tưởng để thăng tiến bản thân, chắc chắn họ sẽ giải thích rằng làm thế chỉ vì cho thế hệ mai sau, cho môi trường, hoặc ít ra là cho lợi ích xã hội.

Pigs don't fly. Politicians, being mere mortals like the rest of us, respond to incentives. They're a mixture of selfless and selfish and when the incentives push them to do the wrong thing, albeit the self-interested one, why should we ever be surprised? Why should be fooled by their professions of principle, their claims of devotion to the public interest?

Lợn không biết bay. Chính trị gia, cũng chỉ là người phàm như chúng ta, họ phản ứng theo nhuận thưởng. Trong họ trộn lẫn lòng vị tha và sự ích kỷ, vậy tại sao ta lại ngạc nhiên khi những nhuận thưởng thúc đẩy họ làm điều sai, chỉ vì quyền lợi cho chính bản thân họ? Tại sao ta lại bị họ lừa gạt qua lời tuyên xưng nguyên tắc đạo đức, qua lời tuyên bố họ sẽ tận tâm vì lợi ích của dân?a


(a) Quyển sách The Logic of Political Survival, của các tác giả Bruce Bueno de Mesquita, Alastair Smith, Randolph Siverson và Jane Morrow, đã xem xét tầm ảnh hưởng của trách nhiệm cử tri đối với kết quả chính trị.

The Logic of Political Survival, by Bruce Bueno de Mesquita, Alastair Smith, Randolph Siverson and Jame Morrow, looks at how the level of electoral accountability affects political outcomes. Bueno de Mesquita discusses the intuition behind the theories in the book in this EconTalk podcast.

Logic về sự sống còn trong chính trị, của Bruce Bueno de Mesquita, Alastair Smith, Randolph Siverson và Jame Morrow, xem xét mức độ trách nhiệm bầu cử có ảnh hưởng đến kết quả chính trị. Bueno de Mesquita thảo luận về trực giác đằng sau các lý thuyết trong cuốn sách này podcast EconTalk.

We call politicians our representatives and they often claim to be fighting for us. But when we think about it, we understand that our interests are diverse and that no politician can really fight for all of us. Inevitably, our interests and desires clash and politicians are forced to choose between the general interest and the special interest. Which wins?

Chúng ta nhận các chính trị gia là đại biểu và họ thường tuyên bố rằng họ đấu tranh cho quyền lợi của chúng ta. Tuy nhiên, nếu nghĩ kỹ hơn, chúng ta hiểu rằng những quyền lợi rất đa dạng và không chính trị gia nào thực sự có thể đấu tranh cho tất cả mọi người. Đương nhiên, sẽ đến lúc quyền lợi và ham muốn của hai phe va chạm, và chính trị gia buộc phải lựa chọn giữa quyền lợi của đa số và quyền lợi của một nhóm riêng. Bên nào sẽ thắng?

The answer depends on the constraints facing the politicians. So politicians in a system with meaningful elections and competition are more likely to pursue policies that please the general public. Dictators have more range to pursue their own self-interest at the expense of the people.

Câu trả lời tùy theo những hạn chế mà các chính trị gia đang đối mặt. Và trong một hệ thống chính trị mà những cuộc bầu cử có ý nghĩa và có thi đua, các chính trị gia thường theo đuổi các chính sách nhằm làm hài lòng dân chúng. Còn các nhà độc tài thì có nhiều quyền lực để theo đuổi lợi ích bản thân, mặc cho sự mất mát của nhân dân.b


(b) Blogger Bryan Caplan khai triển về những vấn đề này trong cuốn sách: The Myth of the Rational Voter: Why Democracies Choose Bad Policies

EconLog blogger Bryan Caplan explores these issues in his book The Myth of the Rational Voter: Why Democracies Choose Bad Policies

EconLog blogger Bryan Caplan khám phá những vấn đề này trong cuốn sách của ông Bí ẩn về Suy lý của Cử Tri: Tại sao các nền dân chủ Chọn Chính sách Tồi

For better or worse, it is an unavoidable reality that even when politicians are constrained by real or potential competition, they still have wiggle room for pursuing their own self-interest because the level of knowledge among the electorate is imperfect. The electorate can be misinformed. Or rationally ignorant. It's costly for voters to be well-informed. That gives politicians, even in a democracy, the chance to pursue special interests at the expense of the general interest.

Dù xấu dù tốt, dẫu các chính trị gia có bị kiềm chế bởi sự cạnh tranh, trên thực tế, họ vẫn có thể xoay sở để theo đuổi quyền lợi bản thân, tại vì dân trí của cử tri vẫn chưa hoàn hảo. Dân chúng có thể hiểu biết sai lạc. Hoặc ngây thơ về luận lý. Đối với người dân, tìm hiểu rõ tình hình là một việc tốn kém. Ngay trong một nước dân chủ, đây là cơ hội để các chính trị gia đặt quyền lợi của các nhóm đặc biệt lên trên quyền lợi của toàn dân.

Bootleggers and Baptists

This wiggle room for politicians in a democracy leads to some strange outcomes. It allows politicians to do the right thing and the wrong thing at the same time. How is that possible? We shall see below. Even stranger, the imperfect information available to voters can even allow politicians to do the wrong thing and pass it off as the right thing if we're not paying close enough attention.

Người bán rượu lậu và người Baptist

Kẽ hở trong một nền dân chủ dẫn đến vài kết quả bất thường. Chính trị gia có thể vừa làm đúng và vừa làm sai. Tại sao lại như thế được? Đọc câu chuyện dưới đây ta sẽ hiểu rõ hơn. Điều lạ lùng hơn là, nếu dân chúng không chú ý thật kỹ, những thông tin thiếu sót có thể làm chúng ta chấp nhận cho các chính trị gia làm sai nhưng lại nói ngược rằng họ làm đúng.

Bruce Yandle uses bootleggers and Baptists to explain what happens when a good cause collides with special interests.

Bruce Yandle mượn câu chuyện những người bán rượu lậu và những người theo đạo Baptist để giải thích một hiện tượng nghịch lý khi một mục tiêu tốt xung đột với mục tiêu của nhóm quyền lợi đặc biệt.

When the city council bans liquor sales on Sundays, the Baptists rejoice—it's wrong to drink on the Lord's day. The bootleggers, rejoice, too. It increases the demand for their services.

Khi hội đồng thành phố cấm bán rượu vào ngày Chủ nhật, người theo đạo Baptist mừng rỡ, vì uống rượu trong ngày của Chúa là sai. Nhóm bán rượu lậu cũng ăn mừng vì nhu cầu của món hàng của họ sẽ gia tăng.

The Baptists give the politicians cover for doing what the bootleggers want. No politician says we should ban liquor sales on Sunday in order to enrich the bootleggers who support his campaign. The politician holds up one hand to heaven and talk about his devotion to morality. With the other hand, he collects campaign contributions (or bribes) from the bootleggers.

Nhóm theo đạo Baptist đã cho các chính trị gia cái bình phong để họ làm điều mà nhóm bán rượu lậu mong muốn. Không một chính trị gia nào nói rằng chúng ta nên cấm bán rượu vào ngày chủ nhật để làm giàu thêm cho nhóm bán rượu lậu--nhóm này cũng là nhóm người đang ủng hộ cuộc tranh cử của ông ta. Chính trị gia này giơ một tay cao lên trời thề thốt và nói đến lòng thành của ông đối với đạo đức. Với bàn tay kia ông chìa ra thu nhận tiền ủng hộ (hoặc hối lộ) của nhóm bán rượu lậu.

Yandle points out that virtually every well-intentioned regulation has a bunch of bootleggers along for the ride—special interests who profit from the idealism of the activists and altruists.

Yandle nêu lên rằng hầu như tất cả mọi luật lệ với ý đồ tốt đều bị lợi dụng bởi những người buôn lậu - đó là các nhóm người trục lợi trên lý tưởng của những người đấu tranh và người làm từ thiện.

If that's all there was to Yandle's theory, you'd say that politics makes for strange bedfellows. But it's actually much more depressing than that. What often happens is that the public asks for regulation but inevitably doesn't pay much attention to how that regulation gets structured. Why would we? We have lives to lead. We're simply too busy. Not so with the bootleggers. They have an enormous stake in the way the legislation is structured. The devil is in the details. And a lot of the time, politicians give bootleggers the details that serve the bootleggers rather than the public interest.

Nếu lý thuyết của Yandle chỉ có thế thôi, có lẽ bạn sẽ nói rằng chính trị đã tạo nên những đôi "bạn đời" kỳ cục. Nhưng tình hình thực còn nản hơn thế. Thường thường người dân đòi có luật lệ nhưng cuối cùng họ chẳng để ý là luật lệ ấy được tạo ra như thế nào. Tại sao chúng ta cần để ý? Chúng ta rất bận rộn vì phải lo cho đời sống riêng cơ mà. Nhưng bọn trục lợi thì khác. Họ có phần hùn rất lớn trong cách thức kiến tạo luật lệ. Khi đi vào chi tiết của luật lệ mới là lúc họ trổ tài xếp đặt. Cho nên nhiều khi, chính trị gia đặt ra nhiều chi tiết có ích cho bọn trục lợi thay vì có lợi cho dân chúng.

Robert Byrd, the Bootlegger's Friend

In the 1970s, sulfur dioxide released by the smokestacks of American midwestern utility companies created acid rain in the American northeast. A clamor arose to clean up the air—environmentalists and everyday citizens demanded legislation. That should have been relatively easy. We know how to get less of something—make it more costly. So the cheapest solution to the sulfur dioxide problem would have been to tax smokestack emissions. That would give utilities the incentive to find the cheapest way to reduce emissions. Over time, better and better technologies would be developed as a way to reduce the burden of the tax.

Robert Byrd, người bạn của nhóm trục lợi

Trong thập niên 1970, khí thải sulphur dioxide từ những ống khói của các nhà máy điện phía Tây nước Mỹ đã gây ra nạn mưa acid ở vùng Đông Bắc. Lời kêu gọi thanh lọc không khí vang dội - những nhà quan tâm bảo vệ cho môi trường và dân chúng đòi hỏi lập ra đạo luật. Chuyện này không khó. Chúng ta biết rằng cách giảm bớt sự tiêu xài một vật gì đó - là làm cho nó đắt hơn lên. Do đó, biện pháp ít tốn kém nhất để giải quyết nạn mưa acid là đánh thuế lượng khí thải từ ống khói nhà máy. Đây là động lực khiến các nhà máy điện phải tìm phương pháp giảm bớt lượng khí thải. Dần dần, kỹ thuật tốt hơn sẽ được phát triển và bằng cách đó gánh nặng trả thuế sẽ giảm đi.

But Congress didn't impose a tax. Congress imposed a technology. The 1977 amendments to the Clean Air Act required every utility to put a scrubber on its smokestacks. These were incredibly expensive—about $100 million each. They made the air cleaner. They also made the makers of smokestacks richer. The makers of scrubbers were the bootleggers. They joined environmental groups in lobbying for the legislation. That's not so bad. Maybe scrubbers were the best technology and even if a tax had been put in place, the scrubber makers would have profited.

Tuy nhiên Quốc Hội Mỹ đã không dùng biện pháp đánh thuế. Họ áp đặt một kỹ thuật. Năm 1977, Đạo Luật Không Khí Sạch (Clean Air Act) được sửa đổi, bắt buộc mọi nhà máy điện phải gắn máy lọc hơi đốt trong ống khói. Ống khói với máy lọc đắt không ngờ -- khoảng $100 triệu đô-la một cái. Ống khói mới làm sạch khí thải, nhưng cũng làm giàu cho các xưởng sản xuất ra nó. Những hãng sản xuất máy lọc nằm trong tay những người trục lợi. Họ bắt tay với những nhà quan tâm bảo vệ môi trường kêu gọi chính phủ đặt ra đạo luật này. Cũng không tệ lắm. Có lẽ máy lọc hơi đốt là kỹ thuật tốt nhất và cho dù có bị đánh thuế thì các hãng sản xuất máy lọc cũng vẫn có lời.c


(c) Vai trò của than đá bẩn trong nghị trình soạn thảo đạo luật được ghi lại trong quyển sách của tác giả Bruce Ackerman và Willaim Hassler, với tựa đề Clean Coal, Dirty Air or How the Clean Air Act Became a Multibillion-Dollar Bail-out for High-Sulfur Coal Producers. Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) thường áp dụng chính sách chỉ huy-và- kiểm soát, thay vì chính sách phân quyền để giải đáp các vấn đề môi trường; trong khi chính những chính sách phân quyền mới tạo điều kiện cho sự nảy mầm của sáng kiến. Xin tham khảo thêm qua bài viết của Robert Crandall "Pollution Controls" trong sách Concise Encyclopedia of Economics.

The role of dirty coal in setting the legislative agenda is found in Clean Coal, Dirty Air or How the Clean Air Act Became a Multibillion-Dollar Bail-Out for High-Sulfur Coal Producers, by Bruce Ackerman and William Hassler. The use of mandated technology by the EPA (sometimes called command-and-control) rather than a more decentralized approach that lets innovation emerge from the bottom-up, is a common regulatory approach to environmental problems. See Robert Crandall's "Pollution Controls" in the Concise Encyclopedia of Economics.

Vai trò của than đá bẩn trong việc thiết lập chương trình nghị sự lập pháp được tìm thấy trong các đạo luật về than sạch, không khí ô nhiễm hoặc Làm sạch không khí đã trở thành gói cứu trợ nhiều tỉ đô la cho các nhà sản xuất than có lưu huỳnh cao, do Bruce Ackerman và William Hassler đề nghị. Việc sử dụng công nghệ uỷ quyền của EPA (đôi khi được gọi là lệnh và kiểm soát) chứ không phải là hướng tiếp cận phân cấp nhiều hơn mà cho phép đổi mới xuất hiện từ dưới lên, là một cách tiếp cận điều chỉnh phổ biến đối với các vấn đề môi trường. Xem "Kiểm soát ô nhiễm" của Robert Crandall trong Bách khoa toàn thư của Kinh tế rút gọn.

But the real bootleggers were the West Virginia coal companies. If a tax had been used to reduce sulfur dioxide emission, there would have been an incentive to clean up the air. One way to clean up the air is to use technology like a scrubber. A second way is to burn cleaner coal. Cleaner coal (low in sulfur) comes from out West. Dirty coal (high in sulfur) comes from West Virginia. Senator Byrd is from West Virginia. He made sure that scrubbers were mandated. For the environment of course. For cleaner air, of course. For the children, no doubt. But also for his friends in the coal business. We got cleaner air, but we achieved it at a much higher price than was necessary.

Nhưng thật ra nhóm trục lợi chính lại là các công ty khai thác than đá tại tiểu bang West Virginia. Nếu chính phủ áp dụng quy chế đánh thuế nhằm giảm bớt khí thải sulfur dioxide, điều đó có lẽ mới là động lực chính đẩy mạnh việc làm sạch không khí. [Nhưng chính phủ lại không làm như vậy]. Có hai cách làm sạch không khí. Một cách là sử dụng kỹ thuật lọc khí đốt. Cách thứ nhì là dùng loại than đá sạch hơn. Than đá sạch (chứa ít lưu huỳnh) đến từ các tiểu bang miền Tây. Than đá bẩn (chứa nhiều lưu huỳnh hơn) đến từ tiểu bang West Virginia. Nghị sĩ Byrd xuất thân từ West Virginia. Ông ta làm mọi cách để đưa ra đạo luật dùng máy lọc khí đốt. Đương nhiên là vì bảo vệ môi trường, vì bảo tồn không khí trong sạch, vì tương lai con em, và chỉ thế thôi. Nhưng cũng là vì nhóm bạn của ông ta trong nghề buôn than đá. Chúng ta có được không khí sạch hơn, nhưng phải đạt được điều đó với cái giá quá cao không đích đáng.[2]


[2] Khi bị bắt buộc dùng máy lọc khí đốt, thì các nhà máy không cần phải dùng than sạch, mà vẫn tiếp tục dùng than bẩn của West Virginia, giúp cho kỹ nghệ than của West Virginia tiếp tục đứng vững.

For the Children

In the worst cases of the bootlegger and Baptist alliance, the good intentions don't just get sidetracked or achieved at a higher cost by the bootleggers—they get thwarted.

Vì tương lai của thế hệ mai sau

Trong những trường hợp tệ nhất, khi cả hai phe trục lợi và phe đạo đức trở thành liên minh với nhau, thì nhiều dự tính tốt không những bị quên lãng hoặc bị hao tổn hơn, mà còn bị phá hỏng.

The attorneys general in a number of states threatened the tobacco companies with legal action on the grounds that tobacco companies were imposing costs on state budgets by getting people sick. Eventually, the tobacco companies settled, a complex legal structure called the master settlement. The master settlement, applauded by anti-tobacco activists and everyday citizens concerned about their taxes and the health of their fellow citizens, imposed large tax increases on tobacco companies to fund children's health programs. It was a proud day all around. Who could be against such a result? Oh, a few people griped that the whole process was unconstitutional and reduced freedom. But look at the benefits, the defenders would answer—Big Tobacco punished, smoking discouraged, and more health for the children.

Bộ trưởng Tư pháp tại vài tiểu bang đã đe dọa khởi kiện các hãng sản xuất thuốc lá với lý do họ gây tổn thất cho công quỹ khi thuốc lá làm cho dân bị đau ốm. Cuối cùng, các hãng thuốc lá chịu đền bù qua một giao kèo phức tạp được ký kết. Giao kèo này buộc các hãng thuốc lá đóng thuế cao hơn và tiền thuế dùng để tài trợ cho các chương trình sinh hoạt cho trẻ em; giao kèo nhận được sự hoan nghênh từ các nhà đấu tranh chống thuốc lá và những công dân quan tâm đến thuế và sức khỏe của người dân thường. Đó là một ngày tự hào cho mọi người. Ai có thể chống lại kết quả ấy? À, có thiểu số phàn nàn rằng toàn thể quá trình đã vi phạm hiến pháp và giảm bớt tự do. Người ta giải thích rằng, hãy nhìn lại các lợi ích: Tập đoàn buôn thuốc lá bị trừng phạt, việc hút thuốc lá bị bài trừ, và trẻ em được khỏe mạnh hơn.d


(d) Jeremy Bulow viết bài phân tích giao kèo thuốc lá này trong báo Milken Institute Review. Ông nói giao kèo trên là sự "bí hiểm." Tôi nghĩ ông đã nhẹ lời. Một bản giao kèo phức tạp thường để che dấu sự phân phối lợi tức và những phí phạm đáng xấu hổ nếu bị phanh phui trên chính trường. Tôi chưa hề gặp một kinh tế gia nào (chứ đừng nói tới người trí thức) hiểu được và có thể giải thích về cách người ta định giá sữa tươi tại Hoa Kỳ. Nếu ta gọi các luật lệ trong ngành thực phẩm sữa là "byzantine" (Byzantine là nền xã hội thời đế quốc Byzantine, nghĩa bóng là bí hiểm), tức là ta đã nhục mạ người sống trong thời kỳ ấy.

Jeremy Bulow's analysis of the tobacco settlement can be found in the Milken Institute Review. He calls the settlement "byzantine." I think he's being kind. But the complexity of the settlement is a common way to obscure income redistribution and inefficiencies that would otherwise be politically embarrassing. I have never met an economist (let alone an educated citizen) who understands and can explain how the price of milk is set in the United States. To call dairy regulations "byzantine" is to insult an ancient people.

Phân tích của Jeremy Bulow về việc giải quyết thuốc lá có thể được tìm thấy trong Tạp Viện Milken. Ông gọi nó là giải pháp "Byzantine". Tôi nghĩ rằng ông là người tử tế. Tuy nhiên, sự phức tạp của việc giải quyết là một cách phổ biến để gây cản trở tái phân phối thu nhập và sự thiếu hiệu quả mà nếu không sẽ đáng xấu hổ về mặt chính trị. Tôi chưa bao giờ gặp một nhà kinh tế (huống hồ một công dân có học thức) mà hiểu và giải thích được tại sao giá sữa lại cố định tại Hoa Kỳ. Gọi các quy định về sữa là giải pháp "Byzantine" là xúc phạm những người cổ đại.

But it didn't turn out that way. There was more to the story. But who noticed? How many citizens who cared about smoking actually looked to see how the settlement really worked? It seemed enough to know the broad outlines—tobacco companies punished, children protected. But the bootleggers were very interested in not just the broad outline, but in the details. Yes, tobacco companies were "punished" by high taxes. But they passed the tax on in the form of higher prices to smokers. Yes, higher prices means fewer sales, but profit margins for tobacco companies and tobacco profits actually increased because of the way the settlement was structured. It made it prohibitively costly for generic cigarettes and new entrants to expand their market share. That allowed the tobacco companies to raise prices more than they would normally have been able because their competitors were handicapped.

Thế nhưng sự việc không xảy ra như ta nghĩ. Câu chuyện còn có tình tiết khác. Nhưng có ai để ý? Có bao nhiêu người quan tâm đến việc hút thuốc lá thật sự theo dõi xem giao kèo được thực hành ra sao? Chỉ cần biết đại khái là đủ: các hãng thuốc lá bị phạt, trẻ em được bảo vệ. Tuy nhiên nhóm trục lợi không chỉ quan tâm đến điểm chung chung, mà còn chú ý sâu vào chi tiết. Đúng, hãng thuốc lá bị "đánh" thuế cao. Nhưng họ lại chuyển tiền thuế này xuống đầu người mua thuốc lá bằng cách tăng giá. Phải, giá tăng có nghĩa là bán được ít hơn, tuy nhiên mức lời của hãng thuốc lá vẫn gia tăng vì cấu trúc của giao kèo. Giao kèo gây khó khăn và đòi hỏi tốn kém rất cao nếu các hãng sản xuất thuốc lá mới (chưa có thương hiệu) muốn tham gia cạnh tranh trong thị trường thuốc lá. Do đó, các hãng thuốc lá hàng hiệu cứ việc tăng giá vì những hãng mới muốn trở thành đối thủ đã bị ở thế thiệt thòi.

So the tobacco companies were bootleggers. They actually profited from the settlement. But the real bootleggers were the trial lawyers who helped the attorneys general with the suits that led to the settlement. In return for their efforts, they receive $500 million each year. True, they had to work hard. One lawyer made $92,000 per hour for his work. Per hour. It must have been very demanding work. I'm sure they earned it. It was all for the children. Remember?

Vậy ra các hãng thuốc lá là bọn trục lợi. Họ ăn lời nhờ vào cái giao kèo này. Nhưng lần này bọn trục lợi thực sự chính là nhóm luật sư giúp cho những ông bộ trưởng tư pháp trong vụ kiện. Mỗi năm họ lãnh $500 triệu đô-la tiền công. Đúng, họ làm việc rất mệt nhọc. Có một luật sư kiếm được $92,000 đô-la một giờ. Một giờ, đúng vậy! Thật là một công việc rất nhọc nhằn. Tôi tin rằng họ kiếm tiền xứng đáng. Tất cả là vì thế hệ con em mà. Bạn nhớ không?

No Child Left Behind

When a piece of legislation is called "No Child Left Behind" you know the bootleggers are going to be out in force. Saving the children is so popular with so many people that it opens up tremendous possibilities in the details. One part of No Child Left Behind was called "Reading First" a $1 billion program to help low-income school districts adopt better reading programs. Who's in favor of that? Everybody!

Không Bỏ Sót Trẻ Em Nào

Khi nghe cái tên "Không Bỏ Sót Trẻ Em Nào" của một đạo luật, bạn biết ngay là cả đống người trục lợi sẽ ra mặt. Cứu vớt trẻ em là đề tài rất được nhiều người ưa chuộng và do đó sẽ mang lại biết bao cơ hội sáng lạn. Chương trình "Biết Đọc Trước Đã (Reading First)" là một phần trong đạo luật này với $1 tỷ đô-la nhằm giúp đỡ các trường trong những khu nhà nghèo phát triển chương trình đọc sách. Ai ủng hộ chương trình này? Tất cả mọi người!

But how would the program actually be implemented? "Quite simply, Reading First focuses on what works, and will support proven methods of early reading instruction," according to the Department of Education.

Nhưng làm thế nào để thực hiện chương trình? Theo lời Bộ Giáo Dục: "Rất đơn giản, Đọc Trước Đã chú trọng vào kết quả, và sẽ trợ giúp mọi phương pháp dạy đọc đã được thử nghiệm."

Sounds wonderful. A reading program for low-income children based on proven methods. It was indeed a political juggernaut. But I wonder if the enthusiastic backers of the program had any idea of how such noble goals would be achieved.

Nghe tuyệt vời quá, phải không bạn? Một chương trình dạy đọc cho học sinh nghèo dựa theo các phương pháp thực thụ. Quả là một trái phá chính trị. Tuy nhiên tôi tự hỏi không biết các người ủng hộ nồng nhiệt có tí khái niệm gì về cái phương pháp nhằm đạt mục tiêu cao cả này không.

The Washington Post reports:

Department officials and a small group of influential contractors have strong-armed states and local districts into adopting a small group of unproved textbooks and reading programs with almost no peer-reviewed research behind them. The commercial interests behind those textbooks and programs have paid royalties and consulting fees to the key Reading First contractors, who also served as consultants for states seeking grants and chaired the panels approving the grants. Both the architect of Reading First and former education secretary Roderick R. Paige have gone to work for the owner of one of those programs, who is also a top Bush fundraiser.

Tờ Washington Post đăng tin như sau:

Nhân viên bộ giáo dục và một số công ty đã gây áp lực đối với trường học trong nhiều quận, khiến các trường chọn mua mớ sách vở chưa được thử nghiệm và mua các tài liệu dạy đọc gần như chưa từng qua quy trình thẩm định chuyên môn. Các hãng sản xuất ra các bộ sách và tài liệu đó đã trả huê hồng và lương cho các hãng thầu cho chương trình "Đọc Trước Đã," và họ cũng là người góp ý cho các tiểu bang xin trợ cấp, và làm chủ tọa các buổi họp xét đơn xin trợ cấp. Chính ông Roderick N Paige, là cựu Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, cùng với người dàn dựng nên chương trình này cũng làm việc cho một ông chủ trong nhóm hãng trên. Ông chủ nọ là người quyên tiền hạng gộc cho tổng thống Bush.

But it is clear that Reading First has been a terrific boon for the textbook publishing industry, and for the department's favored programs. For example, the company that developed Voyager Passport was valued at about $5 million in a newspaper article before Reading First; founder Randy Best, whose Republican fundraising made him a Bush Pioneer, eventually sold it for $380 million. He then put Lyon and Paige on his payroll.

Nhưng rõ ràng chương trình "Tập Đọc Trước Đã " này đã mang lại sự phát triển thương mại cho ngành xuất bản sách giáo khoa và cho những sản phẩm tài liệu được Bộ Giáo Dục ưa chuộng. Tỉ dụ, Công Ty sản xuất Voyager Passport có trị giá khoảng $5 triệu đô-la trước khi khởi xướng chương trình, mà về sau, ông Randy Best, người sáng lập công ty và cũng là người ủng hộ tài chính cho tổng thống Bush và đảng Cộng Hòa, đã bán công ty với giá $380 triệu đô-la. Ông ta mướn ông Lyon và ông Paige làm nhân viên.

Pretty depressing, isn't it? But here's a cheerful thought—the glass is really half-full. While the details of legislation in a democracy get twisted by the bootleggers to their own advantage, at least the overall thrust of the legislation is usually in the direction that the general public desires. The diversion of income to special interests is petty cash compared to what dictators are able to channel to their friends in a less representative system without the constraints of elections.

Nghe mà nản phải không? Nhưng hãy lạc quan lên nào - ly nước thật ra đã đầy được một nửa, chứ không phải đang bị vơi một nửa. Cho dù chi tiết trong đạo luật của một nền dân chủ bị nhóm trục lợi thao túng, ít ra nhìn chung chiều hướng của đạo luật thường đi theo nguyện vọng của nhân dân. Số lợi tức bị phân tán đến một nhóm đặc biệt nào đó thật nhỏ nhoi so với số tiền các nhà độc tài có thể chuyển vận đến bạn bè họ trong một thể chế thiếu vắng sự đại diện cho dân và sự kiềm chế của bầu cử tự do.

George Stigler vs. Ralph Nader

We should be realistic about politicians. George Stigler used to contrast his theory of politics with Ralph Nader's. In Nader's view, all of the ugly aspects of government were caused by the wrong people getting elected. If we could just elect better people, then we'd get better policies. Stigler argued that it didn't matter who the people were—once they got in office, they responded to incentives. They would convince themselves that they were doing the right thing, either because they really thought so or because doing the wrong thing was necessary in order to be able to do the right thing down the line.

George Stigler và Ralph Nader

Chúng ta hãy tỏ ra thực tế khi nói tới các chính trị gia. George Stigler[3] từng đối chiếu lý thuyết chính trị của mình với lý thuyết của Ralph Nader.[4] Theo Nader, tất cả mọi khía cạnh xấu xa của chính phủ xuất phát từ việc bầu cử lầm người. Nếu chúng ta bỏ phiếu bầu đúng người, ta đã có được luật lệ tốt hơn. Stigler phản biện rằng bầu ai lên cũng chẳng khác gì nhau - sau khi nhậm chức, ai cũng đáp ứng theo nhuận thưởng. Họ tự thuyết phục bản thân rằng họ đang làm điều đúng, có thể vì họ thực sự tin tưởng như thế, hoặc là để có thể làm đúng cũng cần phải phạm sai lầm vài lần.


[3] George Stigler là kinh tế gia người Mỹ đoạt giải Nobel về kinh tế năm 1982.

[4] Ralph Nader là một luật sư người Mỹ gốc Lebanon, và đã từng bốn lần ra tranh cử tổng thống Mỹ.

Being a Stiglerian in this area, I expect less of my politicians and I am rarely disappointed. Even those politicians we think of as principled, pursue the calculus of the bootleggers and Baptists. Ronald Reagan, an eloquent defender of free trade, imposed "voluntary" quotas on Japanese cars. That is the way the world works.

Là một người theo thuyết của Stigler, tôi không đặt nhiều kỳ vọng vào các nhà chính trị nên ít khi tôi bị thất vọng. Ngay cả những chính trị gia được coi là có đạo đức, họ cũng tính toán theo luật lệ hai mặt đồng hành (buôn rượu lậu và Baptists). Ronald Reagan[5], tổng thống và là nhà hùng biện bảo vệ cho chính sách thương mại tự do, lại là người đã áp đặt nhiều chỉ tiêu trên món hàng xe nhập từ Nhật Bản. Đây là đường lối làm việc khắp nơi trên thế giới.


[5] Tổng thống đời thứ 40 của Mỹ nhiệt thành ủng hộ chính sách mậu dịch tự do.

In the economist's view of politics, ideology and party matter less than the incentives facing politicians. Political parties in a democracy differ more by the words they use to justify their actions rather than by the actions themselves. Republicans talk about economic freedom and the dangers of big government while making government bigger. Democrats talk about their devotion to labor unions and the dangers of free trade but they rarely push for tariffs and quotas.

Theo cái nhìn về chính trị của một kinh tế gia, lý tưởng và đảng phái không quan trọng với các chính trị gia bằng những nhuận thưởng. Sự khác nhau giữa những đảng phái trong một nền dân chủ được thể hiện ở từ ngữ họ dùng để phân bua cho việc làm của họ, thay vì chính những việc làm đó. Đảng Cộng Hòa nói về tự do kinh tế và nguy cơ đại chính phủ nhưng họ lại tăng thêm tầng lớp trong chính phủ. Đảng Dân Chủ nói về lòng nhiệt thành của họ đối với các công đoàn và nguy cơ thương mại tự do nhưng họ lại hiếm khi áp đặt giá thuế và chỉ tiêu.

A final lesson for policy advocates and concerned citizens is to be careful what you wish for. What is best for the general interest is unlikely to survive the sausage factory of the legislative process. What results is imperfect.

Bài học sau cùng cho các vị bảo vệ luật lệ và các công dân quan tâm là hãy cẩn thận khi ao ước một điều gì đó. Điều mang lại ích lợi tốt nhất cho dân chúng thật khó sống sót trong quá trình lập pháp vốn nhiêu khê như một nhà máy làm xúc-xích. Kết quả không khi nào hoàn hảo.

So when you hear the politicians talk about how much they care about the people or the children or the environment or health, keep your hand on your wallet and keep a lookout for the bootleggers lurking nearby. They are always there.

Do đó, khi bạn nghe các chính trị gia tuyên bố rằng họ quan tâm đến dân chúng hoặc con em hoặc môi trường hoặc sức khỏe, thì hãy giữ chặt ví tiền của bạn và canh chừng xem có người trục lợi nào lẩn quẩn gần đó hay không. Bọn họ lúc nào cũng chờ sẵn.

Russell Roberts is a professor of economics at George Mason University and a research fellow at Stanford University's Hoover Institution. He is the Features Editor of the Library of Economics and Liberty and the host of EconTalk.

Russell Roberts một giáo sư kinh tế tại Đại học George Mason nghiên cứu viên tại Học viện Hoover Đại học Stanford. Ông là chủ bút của hư viện Kinh tế và Tự do phụ trách chương trình EconTalk.

http://www.econlib.org/library/Columns/y2007/Robertspolitics.html

Thursday, January 12, 2012

The Danger Debt Poses to the Western World Nợ nguy hiểm ở thế giới phương Tây


The Danger Debt Poses to the Western World

Nợ nguy hiểm ở thế giới phương Tây

By Alexander Jung

Alexander Jung – spiegel

Countries around the world, particularly in the West, are hopelessly in the red, with debt rising every day. Even worse, politicians seem paralyzed, unable -- or unwilling -- to do anything about it. It is a global disaster that threatens the immediate future. But there might be a way out.

Các quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt ở phương Tây, đang vô vọng trong nợ nần, nợ tăng lên mỗi ngày. Thậm chí tệ hơn, các chính trị gia dường như bị tê liệt, không thể hoặc không muốn làm bất cứ điều gì về nợ. Nợ là một thảm họa toàn cầu đe dọa tương lai trước mắt. Nhưng có thể có một lối thoát.

When Carlo Ponzi, a dishwasher from Parma, Italy, immigrated to the United States in 1903, he had $2.50 in his pocket and a million-dollar dream in his head. He was able to fulfill that dream, at least temporarily.

Khi Carlo Ponzi, một người rửa chén từ Parma, Italy, di cư đến Hoa Kỳ vào năm 1903, ông có 2,50 $ trong túi và một giấc mơ triệu đô la trong đầu của mình. Ông đã có thể thực hiện giấc mơ đó, ít nhất là tạm thời.

Ponzi promised people that he would multiply their money in a miraculous way: by 50 percent in six weeks. With his carefully parted hair and charming accent, Ponzi beguiled investors and fueled their avarice. The first investors raked in fantastic returns. What they didn't know was that Ponzi was simply using the next investors' money to pay them their profits.

Ponzi hứa hẹn rằng ông sẽ sinh sản tiền của họ một cách kỳ diệu: 50% trong sáu tuần. Với một mái tóc tách cẩn thận và giọng quyến rũ, Ponzi gạt các nhà đầu tư và thúc đẩy lòng tham của họ. Các nhà đầu tư đầu tiên thu tiền về một cách tuyệt vời. Nhưng họ không biết rằng Ponzi chỉ đơn giản sử dụng tiền của nhà đầu tư tiếp theo để trả tiền cho lợi nhuận của họ.

The scheme continued. Ten investors turned into 100, and 100 investors turned into 1,000, until the scam was discovered. Ponzi spent many years in prison, and he died a pauper in 1949. But his name remains important to every criminologist today -- and every economist.

Ý đồ tiếp tục. 10 nhà đầu tư chuyển thành 100, và 100 nhà đầu tư chuyển thành 1.000, cho đến khi lừa đảo được phát hiện. Ponzi ở tù nhiều năm, và đã chết như một người ăn xin vào năm 1949. Tuy nhiên, tên của ông vẫn còn tính quan trọng đối với các nhà tội phạm học đến ngày hôm nay – và tất cả các nhà kinh tế học.

Economists use the term "Ponzi scheme" to describe a disastrous mechanism in which someone pays off old debt by constantly taking on new debt. The repayment of the debt -- the most recent loans, plus interest -- is deferred into the distant future, fueling an eternal process of debt refinancing.

Các nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ “kế hoạch Ponzi” để mô tả một cơ chế thảm họa, trong đó một người nào đó trả hết nợ cũ bằng cách liên tục mượn nợ mới. Trả khoản vay gần đây nhất, cộng với lãi suất được trả chậm trong tương lai xa, đưa đến một quá trình vĩnh cửu của tái cấp vốn nợ.

It's the classic pyramid, or snowball scheme, practiced by thousands of con artists after Ponzi. The most spectacular case was that of New York financier Bernard Madoff, who was responsible for losses of about $20 billion by 2008. Snowballs are set into motion, becoming bigger and bigger as they roll along. In the worst case, they end in an avalanche that takes everything else with it.

Đó là kim tự tháp cổ điển, hay là chương trình quả cầu tuyết, được thực hiện bởi hàng ngàn kẽ lừa bịp sau Ponzi. Trường hợp ngoạn mục nhất là của nhà tài chính ở New York, Bernard Madoff, người chịu trách nhiệm về thiệt hại khoảng $ 20 tỷ vào năm 2008. Các quả cầu tuyết được đặt vào chuyển động, trở nên lớn hơn và lớn hơn khi chúng cuộn lại cùng nhau. Trong trường hợp xấu nhất, chúng kết thúc bằng một trận tuyết lở cuốn đi tất cả mọi thứ khác với nó.

Western economies have not acted much differently than the fraudster Madoff. In 2011, they were virtually inundated with bad news and old sins. Almost everyone -- in Europe and in the United States -- has been living beyond their means, from consumers to politicians to entire countries. Governments have become servants to the markets upon which they have become dependent.

Các nền kinh tế phương Tây đã không hành động khác biệt nhiều so với Madoff. Năm 2011, chúng đã hầu như tràn ngập với những tin xấu và tội lỗi cũ. Hầu như tất cả mọi người – ở châu Âu và ở Hoa Kỳ – đã sống vượt quá khả năng của họ, từ người tiêu dùng, đến các chính trị gia và toàn các nước. Các chính phủ đã trở thành người giúp việc cho các thị trường mà họ đã trở nên phụ thuộc.

Bigger Snowballs

On an almost weekly basis, the reports have become more worrisome and the sums of money involved more staggering. Many are now concerned that, as 2012 begins, the snowballs will only get bigger -- and roll faster:

Các trận cầu tuyết lớn hơn

Trên cơ sở hầu như hàng tuần, các báo cáo đã trở nên đáng lo ngại hơn và các khoản tiền liên quan kinh ngạc hơn. Nhiều người đang lo ngại rằng, bắt đầu năm 2012, các quả cầu tuyết sẽ lớn hơn – và cuộn nhanh hơn:

There are the banks in Europe, which will have to repay about €725 billion in combined debt in 2012, including €280 billion in the first quarter alone. With the private market largely off-limits to them, the banks have had to rely on the European Central Bank (ECB) to bail them out. The ECB is now lending them fresh money -- as much as they want -- at minimal interest rates.

1. Có những ngân hàng ở châu Âu, sẽ phải trả khoảng 725 tỷ euro trong khoản nợ vào năm 2012, trong đó có 280 tỷ euro trong quý đầu tiên. Với các thị trường tư nhân không cho họ mượn, các ngân hàng phải dựa vào Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) để giải cứu họ. ECB hiện nay cho vay tiền tươi – nhiều như họ muốn – với mức lãi suất tối thiểu.

There is a country like Italy, which has an exorbitant amount of debt to service at the beginning of the year. About €160 billion in debt will mature between January and April; the total for the entire year is about €300 billion. The government in Rome is already having trouble finding buyers for its bonds.

2. Có một quốc gia như Ý, có một số tiền nợ cắt cổ phải trả vào đầu năm nay. Khoảng 160 tỷ euro tiền nợ nần sẽ phải trả giữa tháng 1 và tháng 4, tổng cộng trong cả năm là khoảng 300 tỷ euro. Chính phủ ở Rome đang gặp khó khăn tìm kiếm người mua trái phiếu của họ.

There is the ECB, which is creating billions essentially out of nothing. On an almost weekly basis, it is acquiring bonds that no one else would buy from Portugal, Spain and Italy and, in the process, it is turning into a reluctant financier of nations. This financial aid already amounts to €211 billion.

3. ECB đang tạo ra hàng tỷ euro chủ yếu từ hư không. Trên cơ sở hầu như hàng tuần, ECB mua lại trái phiếu mà không ai mua từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Italy, trong quá trình này, ECB đang trở thành một nhà tài chính miễn cưỡng của các quốc gia. Hỗ trợ tài chính này đã lên đến 211 tỷ euro.

There is the European Commission, whose president, José Manuel Barroso, supports the use of so-called euro bonds. These bonds, which would be issued jointly by the countries in the monetary union, would amount to an accumulation of collective debt on top of national debts.

4. Ủy ban châu Âu, với chủ tịch José Manuel Barroso, hỗ trợ việc sử dụng cái-gọi-là trái phiếu euro. Những trái phiếu này, được ban hành chung từ các nước trong liên minh tiền tệ này, sẽ tích lũy nợ tập thể lên trên các khoản nợ quốc gia.

There is the €440-billion euro bailout fund, of which €150 billion are already promised to Greece, Ireland and Portugal. But because this amount is still not enough, the finance ministers have decided to "leverage" the fund, a seemingly harmless term for bringing in additional lenders, thereby multiplying the volume of credit.

5. Có 440 tỷ euro trong quỹ cứu trợ, trong đó 150 tỷ đã hứa cho Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha. Nhưng vì số tiền này vẫn không đủ, các Bộ trưởng tài chính đã quyết định “tận dụng” quỹ, một thuật ngữ dường như vô hại để lôi cuốn thêm các nhà cho vay, do đó nhân lên khối lượng tín dụng.

And then there is the United States, which only remains solvent because the Congress in Washington keeps raising the debt ceiling. The American government already owes its creditors about $15 trillion. Stay tuned for the next installment.

6. Và kế đó có Hoa Kỳ, còn ngáp được vì Quốc hội ở Washington tiếp tục tăng trần nợ. Chính phủ Mỹ đã nợ khoảng 15 nghìn tỷ USD. Hãy chờ phần tiếp theo.

In other words, there are plenty of snowballs that have started rolling and getting larger with each rotation. Some aspects of the economic system in the industrialized countries resemble a gigantic Ponzi scheme. The difference is that this version is completely legal.

Nói cách khác, có rất nhiều các quả cầu tuyết đã bắt đầu lăn và lớn hơn với mỗi vòng quay. Một số khía cạnh của hệ thống kinh tế của các nước công nghiệp tương tự như một kế hoạch Ponzi khổng lồ. Sự khác biệt là phiên bản này là hoàn toàn hợp pháp.

Living on Credit

Old debts are paid with new ones, with borrowers giving not the slightest thought to repayment. This has been going on for a long time, far too long, in fact. It was only with the eruption of the financial crisis in 2007 and the outrageously expensive bailouts of banks and economies that many people realized that the entire world is living on credit.

Sống nhờ tín dụng

Các khoản nợ cũ được trả với những cái mới, với người đi vay không chút đắn đo chuyện trả nợ. Chuyện này trãi qua một thời gian dài, quá dài, trên thực tế. Chỉ với sự phun trào của cuộc khủng hoảng tài chính trong năm 2007 và các cứu trợ khổng lồ cho các ngân hàng và các nền kinh tế mà nhiều người nhận ra rằng toàn bộ thế giới đang sống nhờ tín dụng.

"Debt is rising to points that are above anything we have seen, except during major wars," economists at the Bank for International Settlements (BIS) concluded in a recent study. "The debt problems facing advanced economies are even worse than we thought."

“Nợ tăng đến điểm cao hơn bất cứ điều gì chúng ta đã từng thấy, ngoại trừ trong các cuộc chiến tranh lớn”, các nhà kinh tế tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đã kết luận trong một nghiên cứu gần đây. “Những vấn đề nợ đối mặt với các nền kinh tế phát triển thậm chí còn tồi tệ hơn chúng ta nghĩ.”

This is even true of seemingly rock-solid Germany. In the third quarter of 2011, German public debt amounted to €2.028 trillion, an increase of €10.8 billion over the debt level just three months earlier. Germany's public debt grew by about €120 million a day -- or more than €80,000 a minute -- between July and September.

Điều này thậm chí đúng với một nước Đức cứng cáp. Trong quý thứ ba năm 2011, nợ công của Đức lên tới 2,028 nghìn tỷ euro, tăng 10,8 tỷ euro so với mức nợ chỉ ba tháng trước đó. Nợ công của Đức tăng một ngày khoảng 120 triệu euro hoặc hơn 80.000 euro một phút – giữa tháng 7 và tháng 9.

To make matters worse, this increase occurred in a quarter marked by plentiful tax revenues and a significant decline in unemployment. But debts increase independently of whether times happen to be good or bad.

Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, sự gia tăng này xảy ra trong quí có các khoản thu thuế phong phú và giảm tỷ lệ thất nghiệp đáng kể. Tuy nhiên, các khoản nợ gia tăng một cách độc lập cho dù thời gian xảy ra là tốt hay xấu.

The End of the System

The same thing is happening almost everywhere. In the first decade of this century, which was by no means a weak period economically, countries more than doubled the level of debt -- to an estimated grand total of $55 trillion by the end of 2011.

Sự kết thúc của hệ thống

Điều tương tự cũng đang xảy ra hầu như ở khắp mọi nơi. Trong thập niên đầu của thế kỷ này, không là một giai đoạn kinh tế yếu, các nước tăng hơn gấp đôi mức độ nợ – tổng cộng ước tính khoảng 55 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2011.

The United States leads the pack with its national debt of $15 trillion, followed by Japan with about $13 trillion. Germany's €2 trillion looks almost paltry by comparison. Today, the three major rating agencies award their highest credit rating to only 14 countries in the world.

Hoa Kỳ dẫn đầu gói với nợ quốc gia 15 nghìn tỷ USD, tiếp theo là Nhật với khoảng 13 nghìn tỷ USD. Đức, 2 nghìn tỷ euro, trông gần như không quan trọng. Hôm nay, ba cơ quan đánh giá kinh tế trao giải giá tín dụng cao nhất cho chỉ có 14 nước trên thế giới.

The fact that nations are continually spending more than they take in cannot turn out well in the long run. The word "credit" comes from the Latin "credere," which means "to believe." The system will only function as long as lenders believe in borrowers. Once the belief in the creditworthiness of borrowers is destroyed, hardly anyone will be willing to buy their securities.

Với thực tế là các quốc gia tiếp tục chi tiêu nhiều hơn những gì họ làm được không có thể hiện tốt trong thời gian dài. Từ “tín dụng” đến từ Latin “credere”, có nghĩa là “tin tưởng”. Hệ thống sẽ hoạt động nếu người cho vay tin người vay. Một khi niềm tin vào tín dụng của khách hàng vay bị phá hủy, hầu như không ai sẽ sẵn sàng mua chứng khoán của họ.

When that happens, the system is finished.

Khi điều đó xảy ra, hệ thống kết thúc.

This is precisely what happened with Carlo Ponzi's scheme. And now entire countries are suffering suspiciously similar fates. They are no longer being taken seriously.

Đây chính là những gì đã xảy ra với kế sách của Carlo Ponzi. Và bây giờ toàn bộ các nước đang phải chịu số phận tương tự. Họ không còn được tiếp đón một cách nghiêm túc.

Greece is effectively insolvent. Italy and Spain are forced to offer higher interest rates to find buyers for their government bonds. And France threatens to lose its impeccable credit rating. The debt crisis has arrived in the heart of Europe.

Hy Lạp không trả được nợ. Ý và Tây Ban Nha buộc phải nâng lãi suất cao hơn để tìm người mua trái phiếu chính phủ của họ. Và Pháp bị đe dọa xuống hạng tín dụng hoàn hảo của nó. Cuộc khủng hoảng nợ đã đến trung tâm của châu Âu.

Meanwhile, it is also flaring up in the United States once again, with Democrats and Republicans blaming each other for the nation's debts. Instead of taking responsibility and consolidating the budget, President Barack Obama prefers to rail against the Europeans' approach to crisis management. They, in turn, refuse to tolerate any interference, especially from the United States, which they blame for being the source of the financial crisis in the first place.

Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, một lần nữa, đảng Dân chủ và Cộng hòa đổ lỗi cho nhau về các khoản nợ của quốc gia. Thay vì chịu trách nhiệm và củng cố ngân sách, Tổng thống Barack Obama thích đi ngược lại phương pháp tiếp cận của châu Âu về quản lý khủng hoảng. Họ, lần lượt từ chối chấp nhận bất cứ sự can thiệp, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, mà họ đổ lỗi là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính.

In this fashion, the Old World and the New World are tossing the blame back and forth, while confidence in politics and its ability to avert collapse is dwindling on both sides of the Atlantic. Is there still a way to stop the avalanche, or at least to diminish is destructive force? Why do countries that collect taxes have to borrow money in the first place?

Trong thời trang này, Thế giới Cũ và Thế giới mới đổ lỗi qua lại, trong khi sự tự tin trong chính trị và khả năng của mình để ngăn chặn sự sụp đổ đang suy giảm trên cả hai bờ Đại Tây Dương. Có cách nào ngăn chặn các trận tuyết lở, hoặc ít nhất là để giảm bớt lực phá hoại? Tại sao các nước thu thuế phải vay tiền lúc ban đầu?

Part 2: Of Good Debt and Bad Debt

Phần 2: nợ tốt và nợ xấu

Lutz Goebel is used to borrowing money. The 56-year-old businessman is the managing partner of the Henkelhausen Group, a German mid-sized company that specializes in motors in the western German city of Krefeld, with 240 employees and €65 million in annual sales. The debt Goebel incurs is of a completely different nature than the country's debt.

Lutz Goebel luôn vay tiền. Ông doanh nhân 56 tuổi này là một thành viên quản lý của Tập đoàn Henkelhausen, một công ty cỡ vừa của Đức chuyên làm động cơ tại thành phố Krefeld, phía tây nước Đức, với 240 nhân viên và 65 triệu euro doanh thu hàng năm. Nợ của Goebel có tính chất hoàn toàn khác so với nợ của đất nước.

Five years ago, Goebel had the opportunity to buy another company's gas-engine service division. Goebel was convinced that it was a worthwhile investment, and that the resulting net revenues would ultimately exceed the €1.5 million he had to borrow to pursue the deal. "It paid off," he says today.

Năm năm trước, Goebel có cơ hội để mua bộ phận dịch vụ của một công ty động cơ khí. Goebel được thuyết phục rằng đó là một đầu tư đáng giá, và kết quả doanh thu cuối cùng sẽ vượt quá 1.500.000 euro mà ông phải vay mượn để mua. “Nó đã được đền đáp,” ông nói ngày hôm nay.

As president of the German Association of Family-owned Businesses, Goebel represents the interests of 5,000 companies throughout the country. The owners of these businesses usually borrow funds only when they intend to make significant changes or build something new. For them, debt is a necessary part of developing their companies.

Là chủ tịch của Hiệp hội Các doanh nghiệp thuộc sở hữu gia đình ở Đức, Goebel đại diện cho lợi ích của 5.000 công ty trong cả nước. Các chủ sở hữu của các doanh nghiệp này thường vay vốn chỉ khi nào họ có ý định thay đổi đáng kể hoặc làm một cái gì đó mới. Đối với họ, nợ là một phần cần thiết của việc phát triển công ty của họ.

There are undoubtedly good reasons to go into debt. Companies use debt to finance investments. Private citizens use it to pay for major acquisitions, like automobiles or real estate. Most are aware that they have to economize as long as they are using current revenues to pay off the principal and interest on their debt.

Có nhiều lý do chắc chắn là tốt để vay nợ. Các công ty sử dụng nợ để tài trợ cho đầu tư. Công dân sử dụng nó để trả tiền cho các vụ mua lớn, như xe ô tô hoặc bất động sản. Hầu hết mọi người nhận thức rằng họ phải tiết kiệm khi họ đang sử dụng thu nhập hiện tại để trả gốc và lãi nợ của họ.

It can also make perfectly good sense for governments to go into debt, such as when a government seeks to stabilize its economy with additional spending to ward off a recession. It particularly makes sense when governments borrow money to pay for real assets that will also benefit future generations, like a bridge or a kindergarten.

Nó cũng có thể có ý nghĩa hoàn toàn tốt cho các chính phủ vay nợ, chẳng hạn như khi chính phủ tìm cách ổn định nền kinh tế với chi tiêu lớn để tránh một cuộc suy thoái kinh tế. Nó đặc biệt có ý nghĩa khi các chính phủ vay tiền để trả tiền cho các tài sản thực, những tài sản mang lại lợi ích cho các thế hệ tương lai, như một cây cầu hay một trường mẫu giáo.

Everyone Benefits

Finance experts call this form of the solidarity principle "pay as you use," in which future generations are expected to pay for the rest. In addition to leaving the assets -- bridges, kindergartens and the like -- to its children and grandchildren, the current generation also leaves a portion of the financing up to future generations, and everyone benefits from it.

Mọi người đều có lợi

Các chuyên gia tài chính gọi hình thức nguyên tắc đoàn kết này là “trả tiền khi bạn sử dụng”, trong đó các thế hệ tương lai dự kiến ​​sẽ trả phần còn lại. Ngoài việc để lại tài sản – cây cầu, nhà trẻ và các loại tương tự – cho con và cháu của mình, thế hệ hiện tại cũng để lại một phần nợ cho các thế hệ tương lai, và mọi người đều hưởng lợi từ nó.

The only problem is that countries hardly ever use this instrument in such a productive and far-sighted manner. Nowadays, governments usually borrow money to finance their daily expenditures, like paying the salaries of government employees or servicing existing debt.

Vấn đề duy nhất mà các nước hầu như không bao giờ sử dụng công cụ này một cách hiệu quả và có tầm nhìn xa. Ngày nay, các chính phủ thường vay tiền để tài trợ cho các chi phí hàng ngày, như thanh toán tiền lương nhân viên chính phủ hoặc các khoản nợ hiện tại.

Of course, there are also people who live unrestrained financial lives. Readily available credit at every bank makes it more likely than ever that they will be tempted to abuse it. Living on credit used to be considered somewhat disreputable, but not anymore. In the third quarter of 2011, Americans had $700 billion in outstanding credit card debt. There are likewise undoubtedly many companies with lax payment policies. The number of major corporations with excellent credit ratings has been consistently declining for years.

Tất nhiên, cũng có những người sống cuộc sống không kiềm chế kinh tế. Tín dụng có sẵn tại ngân hàng làm cho họ, có nhiều khả năng hơn bao giờ hết, bị cám dỗ để lạm dụng tín dụng. Sống nhờ tín dụng từng được xem là bất hảo, nhưng không còn nữa. Trong quý thứ ba năm 2011, người Mỹ đã nợ thẻ tín dụng 700 tỷ $USD. Có những công ty tương tự với các chính sách thanh toán lỏng lẻo. Số lượng các tập đoàn lớn được xếp hạng tín dụng xuất sắc đã liên tục giảm trong nhiều năm.

Nevertheless, there is still a difference between private and public debt. Citizens and companies usually have real assets to serve as collateral against their debt. The value of a government, on the other hand, is -- with the exception of a few companies, properties and land -- primarily virtual, namely, that it enjoys the priceless privilege of being able to issue bonds. It borrows money from citizens who, in return, receive a bond that promises repayment of the principal plus interest.

Tuy nhiên, vẫn còn có một sự khác biệt giữa nợ tư và nợ công. Công dân và các công ty thường có tài sản thực để thế chấp nợ. Giá trị của một chính phủ, mặt khác – ngoại trừ một vài công ty, tài sản và đất – chủ yếu là ảo, cụ thể là nó được hưởng đặc quyền vô giá của việc phát hành trái phiếu. Nó vay mượn tiền của công dân, và công dân nhận được một trái phiếu hứa hẹn trả nợ gốc cộng với lãi.

In the 14th century, northern Italian rulers applied this principle for the first time. The British historian Niall Ferguson sees the invention of the government bond as "the second great revolution" in the economic world, following the introduction of credit by banks. It served as the foundation for the ascent of money, according to Ferguson.

Trong thế kỷ 14, nhà cầm quyền miền bắc Ý áp dụng nguyên tắc này lần đầu tiên. Nhà sử học người Anh Niall Ferguson thấy phát minh của trái phiếu chính phủ như “cuộc cách mạng lớn thứ hai” trong thế giới kinh tế, sau sự ra đời của tín dụng của các ngân hàng. Nó phục vụ như là nền tảng cho sự đi lên của tiền, theo Ferguson.

No Incentive for Responsibility

Since then, the state has been able to constantly print new securities, which it uses to replace the old ones. Debts are not repaid but "refinanced." In other words, they are passed on to future generations. This trick seduces governments into treating their finances with less solemnity, and it deprives them of any incentive to live within their means.

Không có động cơ trách nhiệm

Kể từ đó, nhà nước đã có thể liên tục in các chứng khoán mới, mà nó sử dụng để thay thế những cái cũ. Các khoản nợ không hoàn lại, nhưng “tái tài trợ.” Nói cách khác, nợ được truyền tới các thế hệ tương lai. Thủ thuật này quyến rũ các chính phủ xử lý tài chính của họ ít long trọng hơn, và nó cướp mọi động cơ để sống với những gì họ sở hữu.

They have also provided the securities with a special advantage: Banks, savings banks and insurance companies, the main purchasers of European sovereign bonds, are not required to back the bonds with equity capital, unlike with loans to private citizens or companies. The bonds have been treated as "especially safe" -- at least until now.

Họ cũng đã cung cấp các chứng khoán với một lợi thế đặc biệt: Ngân hàng, tiết kiệm ngân hàng và công ty bảo hiểm, là những người mua chính yếu trái phiếu châu Âu, không cần ủng hộ trái phiếu với vốn chủ sở hữu, không giống như với các khoản vay cho công dân hoặc công ty tư nhân. Các trái phiếu đã được xem như là “đặc biệt an toàn” – ít nhất là cho đến bây giờ.

Everyone benefits from this system. Through the bonds, the banks acquire from the issuing governments apparent security on their balance sheets, fictitious assets. And, for governments, the banks serve as constant new buyers for their securities.

Mọi người đều hưởng lợi từ hệ thống này. Thông qua các trái phiếu, các ngân hàng được các chính phủ bảo đảm bảng cân đối kế toán của họ, cáctài sản hư cấu. Và, đối với chính phủ, các ngân hàng là khách hàng mới liên tục cho chứng khoán.

The state creates the illusion of freedom from risk to satisfy its self-indulgence, at least until the Ponzi moment arrives: when the last shred of confidence has been gambled away and no one buys bonds anymore.

Nhà nước tạo ra ảo ​​giác về “tự do từ nguy cơ” để đáp ứng niềm đam mê của nó, ít nhất cho đến thời điểm Ponzi tới: khi niềm tin cuối cùng bị đánh mất và không ai mua trái phiếu nữa.

Were a business owner to run a business in the same way, he or she would soon be forced to declare bankruptcy. "Family business owners borrow money to invest it. Usually the government borrows money to consume today," says German business leader Goebel. And, he adds, "while a businessman takes on the risk and liability for his company, in the case of countries, it is almost always the next generation that suffers."

Nếu một chủ doanh nghiệp làm giống vậy, ông sẽ sớm bị buộc phải tuyên bố phá sản. “Các chủ doanh nghiệp gia đình vay tiền để đầu tư. Thông thường, chính phủ vay tiền để tiêu thụ,” nhà lãnh đạo doanh nghiệp Đức Goebel nói. Và, ông nói thêm, “trong khi một doanh nhân chịu rủi ro và trách nhiệm đối với công ty của ông, trong trường hợp của quốc gia, nó gần như luôn luôn là thế hệ kế tiếp phải chịu tổn thất.”

Debt is thus a double-edged sword. When used prudently and in moderation, it enhances prosperity. "But, when it is used imprudently and in excess, the result can be disaster," the BIS economists warn in their study. Today's world has become a Ponzi planet.

Nợ là một con dao hai lưỡi. Khi được sử dụng thận trọng và ở mức độ vừa phải, tăng cường sự thịnh vượng. “Tuy nhiên, khi nó được sử dụng 1 cách khinh suất và quá đà, kết quả là thảm họa”, các nhà kinh tế BIS cảnh báo trong nghiên cứu của họ. Hôm nay của thế giới đã trở thành một hành tinh Ponzi.

Part 3: Germany's True Liabilities

Just how much the German government struggles with financial planning is evident in its handling of pensions for the country's 1.7 million civil servants. The 16 German states already spend about 15 percent of their tax revenues to pay for the retirement benefits of government employees, a percentage that Bernd Raffelhüschen, an economist in the southwestern city of Freiburg, predicts will grow considerably. In fact, he sees a veritable wave of costs rolling toward Germany in the middle of the coming decade.

Phần 3: Nợ phải trả thật của Đức

Cuộc chiến đấu chính phủ Đức với kế hoạch tài chính hiện rõ trong việc giải quyết lương hưu cho 1,7 triệu công chức. 16 bang của Đức đã dành khoảng 15% các khoản thu thuế của họ để trả cho các phúc lợi hưu trí cho nhân viên chính phủ, một tỷ lệ phần trăm mà Bernd Raffelhüschen, một nhà kinh tế tại thành phố phía tây nam của Freiburg, dự đoán sẽ tăng lên đáng kể. Trên thực tế, ông thấy một làn sóng tảng thật sự của chi phí lăn về phía Đức vào giữa thập kỷ tới.

All of the civil servants who were hired in the 1970s and 80s will soon go into retirement. German federal, state and local governments hired so many people between 1970 and 1980 that personnel costs tripled to about €75 billion.

Tất cả các công chức, những người được thuê vào những năm 1970 và 80 sẽ sớm nghỉ hưu. Chính phủ liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương Đức đã thuê rất nhiều người từ năm 1970 và 1980, chi phí nhân sự tăng gấp ba lần tới khoảng 75 tỷ euro.

Raffelhüschen, working for the Market Economy Foundation, regularly investigates which financial obligations the government and the social insurance agencies enter into without establishing any reserves for the time when the benefits will come due. His conclusions represent Germany's true debt burden.

Raffelhüschen, làm việc cho các “Tổ chức kinh tế thị trường” (Market Economy Foundation), thường xuyên điều tra nghĩa vụ tài chính mà chính phủ và các cơ quan bảo hiểm xã hội lao vào mà không thành lập bất kỳ dự trữ nào cho đến lúc khi những lợi ích sẽ đáo hạn. Kết luận của ông đúc kết gánh nặng nợ nần thật sự của Đức.

In addition to the official national debt of roughly €2 trillion, there are €4.6 trillion in future benefit promises to retirees, the sick and people requiring nursing care -- commitments that are not documented anywhere. When these commitments are included, Germany's real debt is not 80 percent of GDP, as quoted officially, but 276 percent.

Ngoài món nợ chính thức của quốc gia, khoảng 2 nghìn tỷ euro, có 4,6 nghìn tỷ euro phải trả cho hưu trí trong tương lai, trả cho bệnh nhân và những người cần chăm sóc điều dưỡng – những cam kết mà không được chứng minh ở bất cứ nơi nào. Khi các cam kết này được bao gồm, nợ thực sự của Đức không phải là 80% GDP, theo trích dẫn chính thức, nhưng là 276%.

Simply Doesn't Concern Them

The social security coffers contain absolutely no reserves for members of the baby-boomer generation. "As a result of our government's generosity, we are creating substantial financial burdens for future generations," says economist Raffelhüschen. But no one really wants to hear this. Besides, all of this will happen so far in the future that many feel it simply doesn't concern them.

Đơn giản là nó không khiến họ lo lắng gì

Ngân quỹ an sinh xã hội hoàn toàn không có dự trữ cho các thành viên của thế hệ sinh đẻ nhiều. “Kết quả của sự hào phóng của chính phủ ta là chúng ta tạo ra gánh nặng tài chính đáng kể cho các thế hệ tương lai”, nhà kinh tế Raffelhüschen nói. Nhưng không ai thực sự muốn nghe điều này. Bên cạnh đó, tất cả những điều này sẽ xảy ra trong tương lai xa mà nhiều người cảm thấy không đơn thuần liên quan đến họ.

Next to pensions, health insurance is the second-largest item on Raffelhüschen's list, accounting for a shortfall of €2 trillion. The inevitable aging of society will only exacerbate the problem. With age or, more precisely, with the number of old people, healthcare spending rises dramatically.

Bên cạnh lương hưu, bảo hiểm y tế là các chi tiêu lớn thứ hai trong danh sách của Raffelhüschen, một khoản thâm hụt khoảng 2 nghìn tỷ euro. Sự lão hóa không thể tránh khỏi của người dân sẽ chỉ làm vấn đề thêm trầm trọng. Với tuổi tác, hay chính xác hơn, với số lượng người già, chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe tăng lên đáng kể.

In Germany, a gainfully employed person under 65 costs the government health-insurance system an average of €134 a month. The average for people older than 65 is €379, or almost three times as much.

Tại Đức, chi phí cho một nhân viên dưới 65 tuổi từ hệ thống bảo hiểm sức khỏe của chính phủ trung bình là 134 euro một tháng. Trung bình cho những người trên 65 tuổi là 379 euro, hay gấp gần ba lần.

As a result, an invisible mountain of social insurance debt rests on every German citizen's shoulders. According to Raffelhüschen, to pay off this debt, each citizen would have to pay the government €307 a month throughout his life -- all because the government makes financial promises it cannot keep. It even touts its promises as benefits, and yet citizens are the ones paying for them in the end. The method has been part of the system for generations.

Kết quả là, một ngọn núi nợ bảo hiểm xã hội vô hình đè nặng trên vai tất cả các công dân Đức. Theo Raffelhüschen, để trả hết món nợ này, mỗi công dân sẽ phải trả chính phủ 307 euro một tháng trong suốt cuộc đời của mình – tất cả vì chính phủ không thể giữ các lời hứa tài chính của họ. Họ thậm chí còn chào các hàng hứa hẹn của họ là lợi ích, và cuối cùng công dân là những người trả tiền cho các hứa hẹn này. Phương pháp này đã là một phần của hệ thống qua nhiều thế hệ.

A Short History of Debt

There was a time when the government had no trouble amassing reserves. In the 1950s, then-Finance Minister Fritz Schäffer took in so much revenue -- or spent so little -- that he was able to save. There was talk of the so-called "Schäfferturm," or Schäffer Tower, an allusion to the Julius Tower in Berlin, where the Germans stored the gold paid to them by the French in war reparations following the Franco-Prussian War in 1870-1871.

Sơ lược lịch sử nợ

Có một thời gian khi chính phủ đã không bị rắc rối để tích lũy dự trữ. Trong những năm 1950, Bộ trưởng Tài chính Fritz Schaffer thu quá nhiều doanh thu – hoặc tiêu rất ít – do đó ông đã có thể tiết kiệm. Có chuyện của cái gọi là “Schäfferturm”, hoặc Schaffer Tower, một ám chỉ Julius tháp ở Berlin, nơi người Đức lưu trữ vàng trả cho họ từ nước Pháp bồi thường chiến tranh sau chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871 .

Of course, Schäffer benefited from the fact that the 1948 monetary reform provided West Germany with a new fiscal start. The old money was hardly worth anything anymore, with 100 Reich Mark being exchanged for 6.5 deutschmark. In addition, the country's liabilities were reduced -- by a factor of 10 to 1. In other words, the conditions were favorable for the pursuit of sound economic policy.

Tất nhiên, Schaffer được hưởng lợi từ thực tế rằng cải cách tiền tệ 1948 ở Tây Đức giúp Tây Đức khởi đầu nền tài chính mới. Tiền cũ hầu như không có giá trị nữa, với 100 Reich Mark được đổi ra 6,5 deutschmark. Ngoài ra, trách nhiệm của nước này đã giảm – từ 10 phần xuống 1. Nói cách khác, họ có các điều kiện thuận lợi cho việc theo đuổi một chính sách kinh tế lành mạnh.

Six finance ministers later, when Social Democrat Alex Möller assumed the office in 1969, the zeitgeist had changed -- and so had the payment morale. The economy was booming, there was more work than available labor, and it seemed that the coalition government of the center-left Social Democratic Party (SPD) and the pro-business Free Democratic Party (FDP) could pay for anything, including such extras as winter bonuses for construction workers, bypass roads for rural communities and fitness programs sponsored by the government health-insurance system to combat the adverse effects of affluence. The government health-insurance system more than doubled its expenditures between 1970 and 1975.

Sáu bộ trưởng tài chính sau đó, khi đảng Dân chủ Xã hội Alex Moller nắm quyền vào năm 1969, chính sách đã thay đổi – và cách tiêu tiền cũng thay đổi. Nền kinh tế bùng nổ, có nhiều việc hơn so với số lao động sẵn có, và dường như chính phủ liên minh của Đảng Dân chủ Xã hội trung tả (SPD) với Đảng Dân chủ Tự do (FDP), ủng hộ kinh doanh, có thể trả tiền cho bất cứ điều gì, như tiền thưởng mùa đông cho công nhân xây dựng, các con đường cho các cộng đồng nông thôn và các chương trình thể dục được tài trợ bởi hệ thống bảo hiểm sức khỏe của chính phủ để chống lại các tác dụng phụ của sự giàu có. Hệ thống chính phủ bảo hiểm y tế tăng hơn gấp đôi chi phí của nó từ năm 1970 và 1975.

When Möller resigned in 1971 to protest such profligacy, his fellow Social Democrat Karl Schiller ("Don't congratulate me; send me your condolences instead") took his place. But Schiller lasted only a year, and when he resigned he said he was unwilling to support the government's devil-may-care policy.

Khi Moller đã từ chức vào năm 1971 để phản đối sự hoang phí như vậy, đồng chí Karl Schiller, của đảng Dân chủ Xã hội, (“Đừng chúc mừng tôi, thay vào đó gửi cho tôi gửi lời chia buồn”) lên thay. Nhưng Schiller ở được một năm, và khi ông từ chức, ông nói rằng ông đã không sẵn sàng để hỗ trợ chính sách ma-quỷ-có-thể-chăm-sóc ( devil-may-care) của chính phủ.

A Taste of What Was to Come

That, though, was just a taste of what was to come. The economy began to slow, especially after the oil price shocks of 1973 and 1979, and unemployment rose steadily, but the government of then Chancellor Helmut Schmidt (SPD) behaved as if Germany were still in the midst of its economic miracle, spending far more than it took in. During Schmidt's chancellorship, sovereign debt grew from €39 billion to €160 billion. It was this ballooning debt that eventually brought down Schmidt's governing coalition in 1982.

Nếm mùi những gì phải đến

Đó là, mặc dù, chỉ là một hương vị của những gì đã tới. Nền kinh tế bắt đầu chậm lại, đặc biệt là sau cú sốc giá dầu năm 1973 và 1979, và tỷ lệ thất nghiệp tăng đều đặn, nhưng chính phủ Helmut Schmidt (SPD) cư xử như thể Đức vẫn còn ở giữa của phép lạ kinh tế, chi tiêu nhiều hơn số tiền thâu vào. Trong thời Schmidt, nợ có chủ quyền đã tăng từ 39 tỷ euro tới 160 tỷ euro. Món nợ phình to này cuối cùng làm xụp liên minh cầm quyền của Schmidt vào năm 1982.

The next surge of new borrowing occurred seven years later, after the fall of the Berlin Wall. Instead of just raising taxes, then Christian Democratic (CDU) Chancellor Helmut Kohl decided to finance German reunification on credit. Some €1.5 trillion in costs relating to reunification remain unpaid to this day. Most of the money went into consumption -- far too little was used for investment. It was the same old mistake.

Sự gia tăng vay nợ tiếp theo xảy ra bảy năm sau đó, sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Thay vì tăng thuế, chính phủ Helmut Kohl, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU), đã quyết định dùng tín dụng để tài trợ cho nước Đức thống nhất. Cho đến ngày nay một số lớn trong 1,5 nghìn tỷ euro chi phí để thống nhất đất nước vẫn chưa thanh toán. Hầu hết số tiền đã đi vào tiêu thụ – quá ít được sử dụng cho đầu tư. Đó là sai lầm giống như trước.

Finally, it was the financial crisis that, beginning in 2008, sharply drove up the national debt once again. The bank bailouts in addition to the economic stimulus packages have been a heavy burden on public coffers. The German government has forked over about €80 billion for various programs, including the controversial cash-for-clunkers program.

Cuối cùng, cuộc khủng hoảng tài chính, đầu năm 2008, đã đẩy nợ quốc gia lên cao một lần nữa. Các gói cứu trợ ngân hàng trong và các gói kích thích kinh tế đã là một gánh nặng cho ngân quỹ quốc gia. Chính phủ Đức đã chi khoảng 80 tỷ euro cho các chương trình khác nhau, bao gồm chương trình nhiều tranh cãi tiền-cho-clunkers.

Governments are invoking John Maynard Keynes, the great British economist, as they use borrowed money to stimulate the economy, and yet they are consistently ignoring the second, unpleasant part of the equation: paying off the debt. Not a single German finance minister has balanced the budget since 1970.

Chính phủ các nước dùng John Maynard Keynes, nhà kinh tế lớn của Anh, khi họ sử dụng tiền vay để kích thích nền kinh tế, nhưng họ lại còn liên tục bỏ qua phần thứ hai, phần khó chịu của phương trình: trả nợ. Không một bộ trưởng tài chính nào của Đức đã cân đối ngân sách từ năm 1970.

Translated by Phạm Anh Tuấn

http://www.spiegel.de/international/world/0,1518,806772,00.html

Tuesday, January 10, 2012

MAYANS HAD CONTACT WITH ALIENS - Người May-a đã tiếp xúc với người ngoài hành tinh

MEXICO CITY – A new documentary about Mayan civilization proves they made contact with extraterrestrials.

“Revelations of the Mayans 2012 and Beyond,” proves that Mayans had contact with extraterrestrials. Producer Raul Julia-Levy told WWN that the evidence is “overwhelming.” And the Mexican government is backing him up.

“Mexico will release codices, artifacts and significant documents with evidence of Mayan and extraterrestrial contact, and all of their information will be corroborated by archaeologists,” said Julia-Levy, son of actor Raul Julia.

Luis Augusto Garcia Rosado, the minister of tourism for the Mexican state of Campeche, said new evidence has emerged “of contact between the Mayans and extraterrestrials, supported by translations of certain codices, which the government has kept secure in underground vaults for some time.”

He also referenced “landing pads in the jungle that are 3,000 years old.”

Raul-Julia claims there is proof that the Mayans intended to lead the planet for thousands of years, but were forced to escape after an invasion by “men of dark intentions,” leaving behind evidence of an advanced race.

“The Mexican government is not making this statement on their own — everything we say, we’re going to back up,” he said.

The film is directed by Juan Carlos Rulfo, who won the Humanitas Prize for “Those Who Remain” in 2009 and the Sundance Grand Jury Prize for International Documentary for “In the Pit” in 2006. Juan Diego Rodriguez Gonzalez will serve as the Guatemalan executive producer, and Eduardo Vertiz as the Mexican executive producer.

“The message of the film is crucial to human survival,” Julia-Levy said.

When Julia-Levy, producer Ed Elbert and co-producer Sheila McCarthy announced the Mexican cooperation with their documentary to , they were circumspect about claims of alien contact, with Julia-Levy admitting he’d been ordered not to say anything about it.

The Guatemalen government was also skeptical and brushed off the question about alien contact, while allowing the filmmakers’ access to previously unexplored sections of a Mayan site at Calakmul.

Not only did the Guatemalen government change its tune, but they also joined the project, giving access to artifacts and newly discovered prophecies. “We believe for certain that aliens worked with the Mayans.,” said Guatemalen arts minister, Jose Rosado.

“Guatemala, like Mexico, home to the ancient yet advanced Mayan civilization … has also kept certain provocative archeological discoveries classified, and now believes that it is time to bring forth this information in the new documentary,” Guatemala’s minister of tourism, Guillermo Novielli Quezada, said in a statement.

He said the country was working with filmmakers “for the good of mankind.”

Raul-Julia claims that the order to cooperate came directly from the country’s president, Alvaro Colom Caballero.

Guatemala is the site of a large number of pre-Columbian Mayan settlements in the Mirador Basin, including the extensive and highly organized city of El Mirador (detail, left; exterior on previous page).

“Revelations of the Mayans 2012 and Beyond” is due for a theatrical release in late 2012, before the end of the Mayan calendar.

While doomsday scenarios focus on the calendar ending on Dec. 21, 2012, many scholars point out that it simply resets for another 5,126-year cycle on that date.