MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, September 14, 2011

Режим мягких правовых ограничений: природа и последствия Kirill Rogov - Chế độ ràng buộc pháp lí mềm


Режим мягких правовых ограничений: природа и последствия
Kirill Rogov - Chế độ ràng buộc pháp lí mềm
Два основных и вполне консенсусных убеждения лежат в основе сложившегося в России на настоящий момент политического и социального порядка. Первое состоит в признании обществом широкого распространения коррупции во всех сферах государственной и экономической жизни и констатации чрезвычайно низкого качества существующих институтов (прежде всего — правовых). Это убеждение характерно для людей разных политических взглядов и социального положения, его равно разделяют продавщицы, оппозиционеры, мелкие чиновники и политические функционеры. Второе убеждение, столь же распространенное, состоит собственно в том, что изменить этот порядок в силу разных причин практически невозможно. Иначе говоря, признание плачевного положения дел в сфере правового регулирования не сопровождается спросом на действенные шаги по его улучшению. Такая ситуация вовсе не является необъяснимым парадоксом; экономисты называют ее институциональной ловушкой. Плохие институты приносят значительные убытки экономике и неудобства людям, но в массе своей общество сумело к ним адаптироваться; более того, часть общества научилась извлекать относительные преимущества из функционирования плохих институтов, другая— сомневается в своей конкурентоспособности в иных, незнакомых и с трудом представимых условиях. В такой ситуации издержки на реформирование институтов начинают выглядеть для общества слишком значительными, а выгоды — неочевидными, что и определяет выбор в пользу сохранения сложившегося порядка, несмотря на его осознаваемую ущербность.
Hiện nay có hai luồng ý kiến về chế độ xã hội và thể chế chính trị của nước Nga được nhiều người chia sẻ. Thứ nhất, hiện tượng tham nhũng tràn lan trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội và chất lượng cực kì thấp của tất cả các định chế hiện hành (mà trước hết là các định chế pháp luật). Đấy là ý kiến của những người có những quan điểm chính trị và địa vị xã hội khác nhau, cả người bán hàng, người đối lập chính trị, quan chức cấp thấp lẫn các chính trị gia đều đồng ý như thế. Thứ hai, luồng ý kiến này cũng rất thịnh hành, đấy là: do những nguyên nhân khác nhau, hoàn cảnh này gần như không thể nào thay đổi được. Nói cách khác, việc công nhận tình trạng tồi tệ trong lĩnh vực thực thi pháp luật lại không đi kèm với đòi hỏi phải có những hành động hữu hiệu nhằm chấn chỉnh nó. Nhưng đấy không phải là nghịch lí không thể giải thích được, các nhà kinh tế học gọi nó là bẫy định chế. Những định chế tồi tạo ra cho nền kinh tế nhiều thiệt hại to lớn và gây ra nhiều phiền toái cho người dân, nhưng dân chúng sẽ thích nghi; hơn nữa, một số người còn tìm cách lợi dụng những định chế tồi tệ, trong khi một số khác thì mất tự tin vào khả năng cạnh tranh của mình vì không thể nào dự đoán được tình huống. Trong hoàn cảnh như thế, người ta dễ nghĩ rằng cải thiện các định chế là việc làm quá tốn kém mà lợi ích thì không rõ ràng, và vì thế, mặc dù ai cũng nhận thấy tác hại, nhưng lựa chọn của họ lại là: giữ nguyên hiện trạng.


Ниже мы попытаемся описать механизм этой институциональной ловушки и охарактеризовать особенности того порядка, который сформировался и теперь поддерживается во временном равновесии. Этот специфический порядок мы предлагаем именовать режимом мягких правовых ограничений. Сам термин является сознательной калькой с известного термина Яноша Корнаи «мягкие бюджетные ограничения», использованного им для описания фундаментальных особенностей социалистической экономики (Kornai 1980; для наших дальнейших рассуждений важна переформулировка проблемы в работах: Kornai 1986, Kornai 1992). Мягкие бюджетные ограничения, по Корнаи, составляют фундаментальный дефект плановой государственной экономики, отражающий то обстоятельство, что предприятие не несет экономической ответственности за результаты своей деятельности, пользуясь возможностью покрывать растущие издержки из государственного бюджета. Концепция Корнаи, как известно, сыграла важную роль в формировании представлений о путях и ограничениях реформирования социалистической экономики, сложившихся в конце 1980-х годов. Из нее вытекала неизбежность цикла «либерализация — стабилизация — приватизация», которая и должна была обеспечить переход от режима мягких бюджетных ограничений к режиму жестких ограничений и выглядела как формула «запуска» капитализма в недавних социалистических странах. Используя термин, построенный на аналогии с термином Я. Корнаи, мы хотели подчеркнуть, что проблемы, о которых идет речь, в известном смысле являются преемственными по отношению к тем, которые решались на прошлом витке реформирования огосударствленной экономики. Однако прежде чем точнее обозначить и интерпретировать эту связь, необходимо описать сам режим мягких правовых ограничений.
Dưới đây chúng tôi sẽ cố gắng mô tả cơ chế hoạt động của bẫy định chế và tính chất của chế độ đã được tạo ra và đang giữ được ổn định trong giai đoạn hiện nay. Xin được gọi chế độ đặc thù này là chế độ ràng buộc pháp lí mềm. Đây là thuật ngữ cố tình bắt chước thuật ngữ ràng buộc ngân sách mềm của János Kornai, tức là thuật ngữ được ông dùng để mô tả những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (1). Kornai cho rằng ràng buộc kinh tế mềm là khuyết tật căn bản của nền kinh tế quốc doanh hoạt động theo kế hoạch, nó phản ánh tình trạng: xí nghiệp không phải chịu trách nhiệm kinh tế về những hoạt động vì có thể được nhà nước lấy tiền ngân sách bao cấp cho các khoản chi phí của mình. Như mọi người đều biết, luận điểm của Kornai có vai trò quan trọng trong việc hình thành quan niệm về cách thức và những hạn chế của công cuộc cải tổ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hồi cuối những năm 1980. Từ đây nhất định sẽ dẫn đến chu kì “tự do hoá - ổn định – tư nhân hoá”, và chắc chắn cũng sẽ dẫn đến việc chuyển từ chế độ ràng buộc kinh tế mềm sang chế độ ràng buộc kinh tế cứng, như là công thức “đưa” chủ nghĩa tư bản vào những nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Sử dụng thuật ngữ tương tự như thuật ngữ của Kornai là chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng câu chuyện đang được nói tới ở đây, ở khía cạnh nào đó, có thể được áp dụng cho những vấn đề đã được người ta giải quyết trong vòng xoáy quốc doanh hoá nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua. Nhưng để có thể định nghĩa và giải thích mối quan hệ này, cần phải mô tả chế độ ràng buộc pháp lí mềm trước đã.


В целом, режим мягких правовых ограничений — это такой режим, где правила (писанное право) существуют не столько для того, чтобы они соблюдались, сколько для того, чтобы они нарушались; во всяком случае такие нарушения носят систематический характер. Неверно было бы сказать, что в такой системе правила не работают; они именно работают, но работают специфическим образом. Точно так же, как в некоторых карточных играх целью является собрать максимальное количество карт, а в других — избавиться от розданных, могут существовать такие режимы, в которых смысл правил состоит в том, что они соблюдаются, и такие, в которых их смысл состоит в том, что они по определенным правилам нарушаются. В этой системе нарушение правил носит (повторим это) систематический характер, но совершается по определенным правилам. То есть здесь существуют неформальные правила нарушения правил формальных, и это кардинально отличает описываемый режим от тех ситуаций, когда правила не соблюдаются в силу слабости институтов принуждения, как например, это было в России в первой половине 1990-х годрв. При режиме мягких правовых ограничений государство не испытывает дефицита в средствах принуждения, а тот факт, что правила нарушаются в этой системе по определенным правилам, позволяет рассматривать ее как специфическую форму порядка (устойчивого состояния), который может даже в сознании общества в качестве общественного блага быть противопоставленным нерегулируемому, хаотическому нарушению правил.
Nói chung, chế độ ràng buộc pháp lí mềm là chế độ, trong đó các điều luật (luật thành văn) không chỉ để cho người ta tôn trọng mà còn để cho người ta vi phạm nữa; nói cách khác, hành vi vi phạm mang tính hệ thống. Không thể nói rằng luật pháp không vận hành trong hệ thống đó, chúng có vận hành, nhưng vận hành theo một kiểu đặc biệt. Hệt như trong một số kiểu chơi bài với mục đích là thu được càng nhiều quân bài càng tốt, còn kiểu chơi khác thì bỏ được càng nhiều quân bài đi càng tốt, có những chế độ mà giá trị của luật pháp là để người ta tôn trọng, nhưng cũng có những chế độ mà giá trị của luật pháp là vi phạm chúng, tất nhiên là vi phạm theo những luật chơi nhất định. Trong hệ thống này, việc vi phạm luật pháp (xin nhắc lại) là có tính hệ thống, nhưng được thực hiện theo những luật chơi nhất định. Có nghĩa là ở đây việc vi phạm luật pháp chính thức được thực hiện theo những luật chơi phi chính thức, và như thế, chế độ được nói tới ở đây khác hoàn toàn với những tình huống khi mà luật pháp không được tôn trọng là do các định chế cưỡng bức quá yếu, thí dụ như ở nước Nga nửa đầu những năm 1990. Trong chế độ ràng buộc pháp lí mềm, nhà nước không phải không có phương tiện cưỡng bức, còn sự kiện là hiện tượng vi phạm pháp luật trong hệ thống này được thực hiện theo những luật chơi nhất định cho phép ta coi hệ thống này là một hình thức đặc thù của trật tự (tình trạng ổn định), trong nhận thức của xã hội thì trật tự này hoàn toàn không phải là tình trạng vi phạm pháp luật tràn lan, không thể quản lí được.


Писанные правила создаются в этой системе для того, чтобы их можно было и имело смысл нарушать. То есть они создаются так, что соблюдение правил затруднительно и является существенной издержкой, в то время как возможность не соблюдать правило дает значительные конкурентные преимущества. Иными словами, правила в этой системе создаются так, чтобы стимулировать их нарушение. В итоге вся жизнь описываемого социума строится как постоянный торг, который ведут его члены вокруг индивидуальных прав на нарушение определенных правил, каковое нарушение способно обеспечить им те или иные удобства и преимущества. Государство в лице бюрократической машины выступает в качестве своеобразного магазина, выдающего такие индивидуальные права на нарушение правил.
Những qui định thành văn trong hệ thống này được làm ra là để người ta có thể vi phạm, khi cần. Nghĩa là chúng được tạo ra sao cho việc tuân thủ là khó và khá tốn kém, trong khi khả năng không tuân thủ qui định lại tạo cho người ta lợi ích cạnh tranh đáng kể. Nói các khác, các qui định trong hệ thống này được tạo ra nhằm khuyến khích người ta vi phạm. Kết quả là toàn bộ đời sống của xã hội được hình thành như một cuộc mặc cả bất tận, các thành viên của xã hội mặc cả để có quyền vi phạm những điều luật nhất định, họ sẽ được lợi khi vi phạm những điều luật đó. Nhà nước, mà đại diện là bộ máy quan liêu, hoạt động như một cửa hàng chuyên bán cho các cá nhân quyền vi phạm các điều luật.


У каждого уровня власти есть право выдавать разрешение на нарушение определенных правил, и разумеется, чтобы выдавать такие разрешения он должен иметь полномочия, чтобы карать их несанкционированное нарушение. Это важное отличие в целеполагании бюрократии, которое необходимо подчеркнуть: уполномоченный бюрократический орган не следит за соблюдением правил, но именно карает их несанкционированное нарушение. Поэтому он не заинтересован в оптимизации регулирования и контроля; для него важно не минимизировать случаи и стимулы нарушения правил, но создать площадку торга вокруг их нарушения.
Mỗi cấp chính quyền đều có quyền bán quyền vi phạm một số điều luật nhất định và dĩ nhiên là để có thể bán quyền thì cơ quan đó cũng có quyền trừng phạt những vi phạm chưa được cấp phép. Cần phải nhấn mạnh sự khác biệt này: cơ quan quản lí quan liêu không theo giám sát việc tuân thủ luật lệ mà chỉ trừng phạt những hành vi vi phạm chưa được cấp phép mà thôi. Vì vậy mà nó cũng không quan tâm đến việc hoàn thiện những biện pháp quản lí và kiểm tra, kiểm soát; đối với nó, điều quan trọng không phải là giảm thiểu những trường hợp vi phạm và động cơ vi phạm mà là tạo ra khu vực mặc cả quyền vi phạm.


Поясним это на примере ГИБДД. ГИБДД не волнует, кто, где и в каком объеме нарушает правила дорожного движения; у ГИБДД нет задачи уменьшить теми или иными системными мерами количество нарушений, в частности, за счет снижения стимулов к нарушению правил или с помощью автоматизированных систем контроля. Для ГИБДД как ведомства важно, чтобы весь наличный состав мог быть распределен по точкам, где нарушаются правила, чтобы вести торг вокруг этих нарушений. На то, что это устроено именно так, указывает, в частности, тот факт, что ГИБДД практически не практикует патрулирование трасс и улиц, как это обычно делает полиция или дорожные подразделения полиции многих государств, а, напротив, испытывает склонность к стационарным постам. Иными словами, ГИБДД в наименьшей степени интересует контроль самого процесса дорожного движения и отслеживание тех нарушений, которые создают реальные угрозы безопасности в этом процессе (например, агрессивное и неадекватное вождение). Вместо этого служба предпочитает метод «бутылочного горлышка», контролируя в специальных местах исполнение ограниченного набора правил, лишь косвенно связанных с безопасностью движения (например, наличие документов и прав, талона техосмотра и страховки).
Xin lấy Cảnh sát giao thông làm thí dụ. Cảnh sát giao thông không quan tâm, ai, ở đâu và có bao nhiêu vụ vi phạm luật giao thông; nó cũng không có nhiệm vụ đưa ra những biện pháp có tính hệ thống nhằm giảm số vụ vi phạm, thí dụ như giảm động cơ vi phạm hay sử dụng các hệ thống kiểm tra tự động. Điều quan trọng đối với Cảnh sát giao thông là toàn bộ các nhân viên của nó đều được phân đến những điểm mà luật giao thông hay bị vi phạm để họ mặc cả về những vi phạm đó. Sự kiện là Cảnh sát giao thông hầu như không tuần tra đường quốc lộ và đường phố như cảnh sát nhiều nước vẫn làm mà thường đứng ở những điểm nhất định (2) là minh chứng cụ thể cho điều đó. Nói cách khác, Cảnh sát rất ít quan tâm đến việc kiểm soát việc giao thông trên đường và theo dõi những vụ vi phạm có thể tạo ra nguy cơ thực sự (thí dụ như lái xe hung hãn và không đúng luật). Không những không tuần tra, Cảnh sát giao thông lại thích sử dụng phương pháp “cổ chai”, tức là đứng ở một chỗ nào đó và kiểm tra một vài qui định chỉ liên quan đến an toàn giao thông một cách gián tiếp (thí dụ như giấy tờ và bằng lái xe, phiếu kiểm định và bảo hiểm).


В целом, нарушение правил в описываемой системе осуждается и в то же время оправдывается. Наряду с формальной нормой здесь существует норма неформальная, узуальная; нарушение формальных норм считается предосудительным, но неизбежным, общепринятым и извинительным. Факты нарушения правил в данной системе не замалчиваются, но скорее пропагандируются. Важным элементом легитимации этого режима является убежденность членов социума, что нарушения правил повсеместны; возможно, оценки масштабов нарушения правил в их представлениях даже завышены по сравнению с реальным положением дел. Но такое мнение о повсеместности нарушения правил является важным способом формирования общественных стереотипов и поведенческих норм: в результате попытки не нарушать правила или требовать их изменения выглядят маргинальной или девиантной установкой, бесполезной попыткой борьбы с традицией.
Nói chung, trong hệ thống mà ta đang nói tới, người ta đồng thời vừa lên án vừa biện hộ cho những vụ vi phạm pháp luật. Cùng với những qui định chính thức, còn có những qui định không chính thức; vi phạm các qui định chính thức được cho là cố ý, nhưng không thể tránh được, được mọi người chấp nhận và tha thứ. Những hành vi vi phạm pháp luật trong hệ thống này không những không bị che dấu đi mà còn được người ta tuyên truyền rộng rãi nữa (3). Điều kiện quan trọng cho việc chính danh của chế độ này chính là niềm tin của xã hội rằng vi phạm pháp luật xảy ra khắp nơi, có khả năng là trong quan niệm của người dân mức độ vi phạm pháp luật còn cao hơn thực tế nữa. Nhưng quan niệm rằng vi phạm pháp luật diễn ra tràn lan lại là biện pháp quan trọng nhằm tạo ra trong đầu óc dân chúng khuôn mẫu mang tính xã hội và tiêu chuẩn hành động: kết quả là những cố gắng nhằm ngăn chặn hành động vi phạm pháp luật hoặc đòi hỏi phải thay đổi đều có vẻ như chẳng ăn nhập gì với cuộc sống hay là những việc vớ vẩn, là những cố gắng vô ích trong cuộc đấu tranh với truyền thống.


Представление о тотальности нарушения правил — также важный элемент политической организации и политической легитимации описываемого порядка. Благодаря этому представлению верхние социальные этажи оказываются не противопоставлены нижним по признаку коррупции (в широком понимании), но как бы объединены с ними в рамках единой иерархии коррупционных возможностей. Поэтому постоянные разговоры о коррупции, обсуждение повсеместности коррупции практически не ведут к делегитимации установленной социальной иерархии и политического порядка, но скорее укрепляют его и служат, в итоге, целям пропаганды и легализации этого порядка как фактического и непреодолимого (в то время как легальный порядок начинает рассматриваться как надуманный и мнимый).
Quan niệm cho rằng vi phạm pháp luật diễn ra khắp nơi cũng là một thành tố quan trọng của tổ chức chính trị và tính chính danh chính trị của chế độ mà ta đang nói tới. Nhờ có quan niệm như thế mà về mặt tham nhũng, các giai tầng bên trên không ở thế đối đầu với các giai tầng bên dưới (theo nghĩa rộng của từ này), mà dường như chúng còn liên kết với nhau trong một khuôn khổ thống nhất của những khả năng tham nhũng. Vì vậy mà những câu chuyện bất tận về tham nhũng, việc lên án tham nhũng diễn ra khắp nơi không làm mất tính chính danh của cơ cấu thang bậc đã được thiết lập, mà hơn thế, còn củng cố nó và phục vụ cho mục đích tuyên truyền và củng cố tính chính danh của cái trật tự có thật và không thể khắc phục được này (trong khi trật tự pháp luật lại bắt đầu bị người ta có là bịa đặt và hư ảo).


Правила нарушения правил изменчивы, и это еще одна важная особенность системы, придающая ей устойчивость, гибкость и даже конкурентность. Во-первых, изменчивость правил нарушения правил не позволяет субъекту, получившему право на нарушение правил, обрести излишнюю автономность, его связь с системой и существующим порядком должна постоянно поддерживаться, обновляться. Кроме того, такая изменчивость придает своеобразную конкурентность системе: бенефициарам и чемпионам текущего раунда торговли вокруг индивидуальных прав на нарушение правил вовсе не гарантировано аналогичное место по итогам следующего раунда. Более того, наиболее успешные схемы капитализации тех или иных прав на нарушение правил часто объявляются запрещенными на следующем этапе.
Luật cho phép vi phạm các điều luật thành văn mỗi lúc, mỗi nơi mỗi khác và đấy cũng là một đặc trưng quan trọng của hệ thống, tạo cho nó sự ổn định, mềm dẻo và thậm chí là cả khả năng cạnh tranh nữa. Thứ nhất, sự biến hóa của luật cho phép vi phạm luật pháp không cho đối tượng đã được ban cho quyền vi phạm luật được quyền tự tung tự tác, hắn phải giữ và thường xuyên cập nhật mối liên hệ với hệ thống và trật tư hiện hành. Ngòai ra, sự biến hóa còn tạo ra hình thức cạnh tranh đặc thù trong hệ thống: những kẻ được lợi và những kẻ giữ vị trí quán quân trong vòng này chưa chắc đã giữ được vị trí đó trong vòng sau. Hơn thế nữa, cách mặc cả quyền vi phạm pháp luật áp dụng thành công nhất trong giai đọan này lại thường bị tuyên bố là cấm trong giai đọan sau.


Во-вторых, изменчивость правил нарушения правил очень важна для формирования иерархической структуры управления, политической организации социума. Понятно, что в системе, где правила нарушаются, но правила нарушения правил меняются, наибольшими возможностями (властью) обладает тот, кто контролирует режим изменения правил нарушения правил. В результате, возникают три этажа системы: 1) те, кто торгуется за право нарушения правил (субъекты санкционированного/несанкционированного правонарушения), 2) те, кто выдает права на нарушение тех или иных правил (исполнительский уровень), и 3) те, кто контролирует изменения правил нарушения правил и таким образом контролирует и тех, кто правила нарушает, и тех, кто выдает права на нарушение правил (это политический уровень).
Thứ hai, sự biến hóa của luật cho phép vi phạm pháp luật là điều kiện quan trọng cho sự hình thành thang bậc của cơ cấu quản lí, tổ chức chính trị của xã hội. Dễ hiểu là trong hệ thống, nơi mà luật pháp bị vi phạm, nhưng luật cho phép vi phạm lại thường xuyên thay đổi thì người kiểm sóat được qui trình thay đổi của luật cho phép vi phạm pháp luật chính là kẻ có quyền lực cao nhất. Kết quả là hệ thống sẽ có ba tầng sau đây: 1. những người mặc cả quyền vi phạm pháp luật (đối tượng được phép/không được phép vi phạm), 2. những người bán quyền vi phạm điều luật cụ thể nào đó (cơ quan thực hiện), 3. những người kiểm soát sự thay đổi của luật cho phép vi phạm luật pháp và đấy cũng là những người vi phạm và kẻ bán quyền vi phạm (cấp lãnh đạo chính trị).


Эта особенность режима мягких правовых ограничений объясняет, почему перманентная «борьба с коррупцией» также является элементом поддержания его устойчивости. Как и прочие системы контроля, «борьба с коррупцией» нацелена не на ее искоренение, но на поддержание в рабочем состоянии системы торговли вокруг правил нарушения правил; «борьба с коррупцией» является, по сути, регулятором санкционированной коррупции, принуждающим исполнительский уровень торговаться с высшим, политическим уровнем по поводу своих прав выдавать права на нарушение правил.
Đặc trưng này của chế độ ràng buộc pháp lí mềm giúp ta giải thích vì sao “cuộc chiến đấu trường kì với tham nhũng” lại cũng là thành tố củng cố cho sự ổn vững của chế độ. Cũng như các hệ thống kiểm tra kiểm soát khác, mục đích của “cuộc chiến đấu chống tham nhũng” không phải là đào tận gốc, trốc tận rễ nó mà chỉ là giữ cho hệ thống buôn bán quyền vi phạm pháp luật họat động mà thôi, thực chất, “cuộc chiến đấu chống tham nhũng” chính là bộ phận điều tiết họat động tham nhũng được cấp phép, buộc cơ quan thực hiện phải mặc cả với cấp trên, tức là cấp lãnh đạo chính trị, về quyền bán quyền vi phạm pháp luật của mình.

Итак, режим мягких правовых ограничений — это такой режим, где правовые ограничения существуют, но являются принципиально преодолимыми; они функционируют в режиме «switch on / switch off», и в этом их смысл, их функция. Как и в случае «мягких бюджетных ограничений» Корнаи, прилагательное «мягкие» отражает здесь то принципиальное обстоятельство, что эти ограничения, накладываемые писанным правом, являются предметом «вертикальной торговли» (vertical bargaining; см.: Kornai 1992: 141–142 и др.), а система писанного права в целом служит лишь рамкой, задающей предмет, условия и параметры такой торговли. Если участие в системе «вертикальной торговли» по поводу прав на нарушение правил имеет достаточно массовое распространение, то общество в целом оказывается не заинтересованным в переходе в другое состояние. Каждый субъект, получив определенные права на нарушение правил, а следовательно — и определенные относительные преимущества, оказывается не только равнодушен, но даже прямо не заинтересован в оптимизации или смягчении общих правил, ибо это привело бы к девальвации полученных им преимуществ и к потере сделанных им в ходе предшествовавшей торговли инвестиций. Это особенно важно, если мы рассматриваем экономические эффекты такого правового режима, и указывает на экономические механизмы институциональной ловушки режима мягких правовых ограничений.
Tóm lại, chế độ ràng buộc pháp lí mềm là chế độ có những qui định pháp luật, nhưng đấy là những qui định có thể vi phạm; chúng họat động theo chế độ “tắt/bật” [switch on/ switch off], và đấy chính là chức năng của chúng. Cũng như trong trường hợp ràng buộc ngân sách mềm của Kornai, tính từ mềm ở đây phản ánh tình trạng có tính nguyên tắc là những ràng buộc do luật thành văn qui định chỉ là đối tượng mặc cả theo chiều dọc [vertical bargaining]; còn hệ thống pháp luật thành văn chỉ là cái khung, qui định đối tượng, điều kiện và các thông số của cuộc mặc cả mà thôi. Nếu việc tham gia vào hệ thống mặc cả theo chiều dọc để mua quyền vi phạm pháp luật trở thành hiện tượng phổ biến thì xã hội sẽ không còn quan tâm đến việc chuyển sang trạnh thái khác nữa. Bất cứ người nào, sau khi nhận được quyền vi phạm pháp luật, đều có một số ưu thế tương đối và vì vậy mà tỏ ra bàng quan, thậm chí không quan tâm tới việc tối ưu hóa hay làm cho các điều luật trở thành bớt nghiêm khắc hơn vì việc đó có thể làm mất giá những lợi thế mà anh ta đã nhận được và làm mất những khỏan đầu tư mà anh ta đã bỏ ra trong cuộc mặc cả trước đây. Điều này càng đặc biệt quan trọng khi ta xem xét tác động của chế độ ràng buộc pháp lí mềm đối với nền kinh tế và chỉ ra cơ chế kinh tế của bẫy thể chế của chế độ ràng buộc pháp lí mềm.


Причиной существования феномена мягких бюджетных ограничений (в концепции Корнаи) была государственная собственность; именно поэтому бюджет вынужден был в конечном счете покрывать растущие издержки предприятий, являвшихся собственностью государства. Можно предположить, что становление и существование режима мягких правовых ограничений также связано со спецификой сформировавшихся отношений собственности.
Nguyên nhân của hiện tượng ràng buộc ngân sách mềm (trong quan niệm của Kornai) là sở hữu nhà nước, chính vì vậy mà ngân sách nhà nước buộc phải bao cấp cho những khỏan chi phí của doanh nghiệp. Có thể giả định rằng việc hình thành và tồn tại của chế độ ràng buộc pháp lí mềm cũng có liên quan với những tính chất đặc thù của quan hệ sở hữu đã định hình cho đến nay.


Частная собственность имеет в рамках этой системы ограниченный характер: де-юре она существует, но общественного признания не имеет. Право собственности выглядит для общества частным случаем и результатом использования прав на нарушение правил, легализацией и капитализацией таких прав. Поэтому и утрата собственности в связи с утерей прав на нарушение правил выглядит в глазах общества вполне легитимной. В результате, собственность в этой системе, с одной стороны, управляется как частная, в том смысле, что номинальный собственник в праве присваивать доходы от распоряжения имуществом и распоряжаться ими, но при этом она может быть отчуждена не только в силу исполнения каких-то контрактных обязательств, но и в силу утраты прав на нарушение правил.
Trong hệ thống này, sở hữu tư nhân chỉ có tính chất giới hạn: tồn tại về mặt pháp lí nhưng không được xã hội công nhận. Xã hội coi quyền sở hữu như là trường hợp cá biệt và là kết quả của việc sử dụng quyền vi phạm pháp luật, là sự hợp pháp hóa và tiền tệ hóa quyền nói trên. Vì vậy mà việc mất sở hữu vì mất quyền vi phạm pháp luật cũng được xã hội coi là hợp pháp. Kết quả là trong hệ thống đó, sở hữu, một mặt, được quản lí như tài sản tư nhân, theo nghĩa là người chủ sở hữu danh nghĩa có quyền thu và sử dụng lợi tức do tài sản mang lại; nhưng tài sản cũng có thể bị mất không chỉ là do những điều khỏan nào đó của hợp đồng mà vì người chủ đã mất quyền vi phạm pháp luật.


Очевидно, что функционирование системы, в которой собственность управляется как частная, но в то же время является отчуждаемой, требует двойственного правового режима. С одной стороны, необходимо писанное право, обеспечивающее исполнение контрактов в рамках горизонтальных рыночных взаимоотношений, связанных с распоряжением собственностью (кредит, поставки, продажи и пр.), здесь распорядитель собственности выступает как юридический собственник во взаимоотношениях с контрагентами (состояние формального права switch on). С другой стороны, собственность является здесь элементом системы «вертикальной торговли» вокруг прав на нарушение правил, и в рамках этих взаимоотношений может быть изъята у номинального собственника и возвращена в оборот перераспределения прав на ее использование (состояние формального права switch off).
Rõ ràng là hệ thống, trong đó sở hữu được quản lí như sở hữu tư nhân nhưng lại có thể bị tước đọat, đòi hỏi phái có chế độ pháp lí hai mang. Một mặt, cần phải có luật pháp thành văn, bảo đảm cho việc thực hiện các hợp đồng trong khuôn khổ những mối quan hệ theo chiều ngang, liên quan đến việc sử dụng sở hữu (tín dụng, cung ứng, mua bán…), ở đây người chủ sở hữu hành động như người chủ hợp pháp trong quan hệ với đối tác (luật pháp chính thức ở chế độ bật [switch on]). Mặt khác, ở đây sở hữu là thành tố của hệ thống mặc cả theo chiều dọc về quyền vi phạm pháp luật, và trong khuôn khổ của hệ thống này, sở hữu có thể bị tước đọat và đưa vào quá trình phân phối lại quyền sử dụng (luật pháp chính thức ở chế độ tắt ).


Вопрос, который стоит перед нами и который оправдывает наше обращение к терминам Корнаи, заключается в следующем: что происходит с предприятием, если мягкие бюджетные ограничения отсутствуют, т.е. «запуск» капитализма, как он представлялся в конце 1980-х — начале 1990-х годов, осуществлен, но при этом действуют мягкие правовые ограничения, т.е. большинство ограничений, накладываемых нормами письменного права, принципиально преодолимы? Наличие жестких бюджетных ограничений означает, что предприятие не может компенсировать текущий убыток за счет субсидий из внешних источников (точнее: как правило, не может, ибо в режиме мягких правовых ограничений из всех правил возможны исключения), а значит, вынуждено быть включенным в систему горизонтальных рыночных отношений и стремиться к максимизации прибыли. В этом смысле базовая задача «запуска» капитализма решена. Вместе с тем фирма может снижать за счет индивидуальных прав на нарушение правил административные и косвенные издержки, получать преимущество на рынке и, в результате, увеличивать свою прибыль по отношению к уровню реальной экономической эффективности. Логично предположить, что административные и косвенные издержки других фирм будут оставаться на достаточно высоком уровне, чтобы компенсировать выпадающие в связи со «льготой» первой фирме доходы (так, например, значительное количество налоговых льгот требует анонсирования базовой ставки на уровне выше необходимого, чтобы получить удовлетворительный уровень реальной ставки). Значит, прибыль других фирм окажется ниже возможной при заданном уровне экономической эффективности. Итак, в этой системе, во-первых, прибыль перераспределяется от одних компаний к другим за счет неравномерного распределения административных и косвенных издержек, а во-вторых, размер и динамика прибыли не отражают непосредственно уровень и динамику экономической эффективности фирмы.
Vấn đề chúng ta phải giải quyết và biện hộ cho việc sử dụng thuật ngữ của Kornai nằm ở câu hỏi sau đây: xí nghiệp sẽ gặp phải chuyện gì nếu ràng buộc ngân sách mềm đã không còn, nghĩa là việc “khởi động” chủ nghĩa tư bản đã được thực hiện, nhưng lại có những ràng buộc pháp lí mềm, nghĩa là về nguyên tắc có thể bỏ qua phần lớn các hạn chế được qui định trong luật thành văn? Ràng buộc ngân sách cứng nghĩa là doanh nghiệp không thể dùng những khỏan tài trợ từ bên ngòai để trang trải cho những chí phí của mình nữa (đúng hơn, về nguyên tắc là không vì trong chế độ ràng buộc pháp lí mềm vẫn có thể có những trường hợp ngọai lệ), nghĩa là doanh nghiệp buộc phải tham gia vào hệ thống quan hệ thị trường theo chiều dọc và tìm mọi cách nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Theo nghĩa này, nhiệm vụ căn bản của quá trình “khởi động” chủ nghĩa tư bản đã được giải quyết xong. Nhưng đồng thời xí nghiệp cũng có thể sử dụng quyền vi phạm pháp luật nhằm giảm bớt quản lí phí và các chi phí gián tiếp khác, tạo ra ưu thế trên thương trường và kết quả là gia tăng được lợi nhuận so với hiệu quả kinh tế thực sự của mình. Hòan tòan có lí khi giả định rằng quản lí phí và các chi phí gián tiếp của các xí nghiệp khác cao hơn xí nghiệp được nói tới bên trên. Nghĩa là lợi nhuận của các xí nghiệp nghiệp này thấp hơn, đấy là nói khi hiệu quả kinh tế của các xí nghiệp là như nhau. Kết quả là, thứ nhất, lợi nhuận được tái phân phối giữa các xí nghiệp vì quản lí phí và các chi phí gián tiếp được chia không đều; và thứ hai, lợi nhuận và sự thăng giáng của lợi nhuận không phản ánh một cách trực tiếp hiệu quả và sự thăng giáng hiệu quả kinh tế của xí nghiệp.


Теоретически можно предположить, что владелец фирмы стремится к увеличению прибыли обоими путями — и за счет сокращения административных и косвенных издержек, и за счет повышения экономической эффективности. Однако обсуждавшиеся выше особенности режима делают первый путь предпочтительным. Дело в том, что, как мы видели, права собственности трактуются здесь как права на результаты использования собственности (прибыль), в то время как сама собственность является отчуждаемой. Инвестиции в покупку индивидуальных прав на нарушение правил — это инвестиции непосредственно в увеличение текущей прибыли, в то время как инвестиции в рост эффективности производства — это инвестиции в собственность, важнейшей характеристикой которой является ее отчуждаемость. Такая инвестиция выглядит значительно более рискованной не только потому, что вы инвестируете в будущую прибыль, которая будет получена тогда, когда права по распоряжению собственностью могут вам уже не принадлежать. Создавая фирму с большей отдачей от капитала, вы в целом повышаете риск отчуждения этой собственности и должны будете больше инвестировать в защиту своих прав на распоряжение этой собственностью. В то время как инвестируя в индивидуальные права по нарушению правил, которые не только увеличивают текущую прибыль, но и, как правило, не переходят автоматически вместе с отчуждаемой собственностью к новому владельцу, вы, напротив, снижаете риски отчуждения собственности. Чем больше прибыль фирмы зависит от эксклюзивных договоренностей владельца-управляющего, тем сложнее осуществить перехват управления, тем в большей степени фирма фактически «принадлежит» этому управляющему, и наоборот. Это и предопределяет относительные предпочтения в выборе между двумя стратегиями максимизации прибыли.
Về mặt lí thuyết, có thể giả định rằng người chủ doanh nghiệp sẽ cố gắng tìm cách gia tăng lợi nhuận bằng cả hai cách: thứ nhất, giảm quản lí phí và các chi phí gián tiếp và thứ hai, tăng hiệu quả kinh tế. Nhưng những đặc điểm của chế độ mà ta bàn tới bên trên lại làm cho người ta thích cách thứ nhất hơn. Vấn đề là, quyền sở hữu ở đây được định nghĩa như là quyền sử dụng lợi nhuận, còn chính sở hữu thì có thể bị tước đọat. Đầu tư cho việc mua quyền vi phạm pháp luật là đầu tư làm gia tăng ngay lập tức lợi nhuận, còn đầu tư cho việc gia tăng hiệu quả sản xuất lại là đầu tư vào tài sản mà đặc trưng chủ yếu của nó là có thể bị tước đọat bất cứ lúc nào. Đầu tư như thế là quá mạo hiểm vì bạn đang đầu tư cho lợi nhuận trong tương lai mà lúc đó bạn có thể không còn quyền sở hữu khối tài sản đó nữa. Tạo ra doanh nghiệp với hiệu suất quay vòng vốn cao là bạn đang gia tăng nguy cơ bị tước quyền sở hữu và bạn phải đầu tư thêm nhằm bảo vệ quyền sử dụng khối tài sản đó. Trong khi đó, đầu tư cho quyền vi phạm pháp luật là đầu tư không chỉ làm gia tăng lợi nhuận tức thời mà về nguyên tắc khi tài sản bị tước đọat thì nó cũng không tự động chuyển giao cho người chủ mới, như vậy nghĩa là khỏan đầu tư này làm giảm đi nguy cơ bị tước đọat sở hữu của chính bạn. Lợi nhuận của doanh nghiệp càng phụ thuộc vào những điều khỏan đặc biệt trong hợp đồng giữa người chủ và người quản lí thì việc chuyển quyền quản lí càng khó khăn hơn, và ngược lại. Điều đó quyết định cách thức lựa chọn giữa hai biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp.


Как видим, связь режима мягких правовых ограничений и специфики института собственности двусторонняя. Специфика владения (распоряжения) собственностью подталкивает к таким вложениям, которые максимизируют текущую прибыль, и сдерживает инвестиции в будущую прибыль. Однако обеспечивая и увеличивая прибыль неэкономическими методами (за счет нарушения правил), номинальный собственник поддерживает таким образом режим, в котором его право владения является принципиально ограниченным.
Như chúng ta đã thấy, mối liên hệ giữa chế độ ràng buộc pháp lí mềm và đặc thù của sở hữu mang tính hai mặt. Đặc thù của sở hữu thúc đẩy người ta đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận tức thời và giảm bớt những khỏan đầu tư cho lợi nhuận trong tương lai. Nhưng, trong khi tìm cách bảo đảm và gia tăng lợi nhuận bằng những biện pháp phi kinh tế (bằng cách vi phạm pháp luật), người chủ sở hữu danh nghĩa cũng đồng thời củng cố chế độ mà quyền sở hữu của anh ta bị hạn chế.


Как это происходит? С одной стороны, торговлей вокруг прав на нарушение правил он лишает себя всякой общественной поддержки в защите своего права собственности. С другой стороны, в ситуации, когда рост прибыли не отражает напрямую экономическую эффективность, можно предположить, что собственник-распорядитель в результате не имеет и четкого представления об экономической эффективности своего бизнеса. Если прибыль растет у вас на 15–20% в год, то рост издержек на 5–7% выглядит свидетельством эффективности фирмы. Но если предположить, что рост прибыли на три четверти обеспечен неэкономическими факторами (мягкими правовыми ограничениями), то получается, что эффективность бизнеса в реальности снижается. В результате, распорядитель-собственник оказывается зависим от системы, распределяющей права на нарушения правил: он не знает, насколько он конкурентен в ее отсутствии и способен ли он покрыть свои текущие издержки в этом случае. Чем дальше и успешнее развивается его бизнес в условиях режима мягких правовых ограничений, тем выше вероятность и крепче его собственная уверенность, что он это сделать не способен. Это эффект «золотой клетки».
Chuyện đó xảy ra như thế nào? Một mặt, tiến hành mặc cả quyền vi phạm pháp luật là anh ta đang đánh mất sự ủng hộ của xã hội đối với quyền sở hữu của mình. Mặt khác, trong tình hình khi mà lợi nhuận không phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế thì người sở hữu không có khái niệm rõ ràng về hiệu quả kinh tế của công việc kinh doanh của mình. Thí dụ, doanh nghiệp họat động có hiệu quả nếu lợi nhuận tăng 15-20% một năm mà chi phí tăng 5-7%. Nhưng nếu giả sử rằng ba phần tư khỏan gia tăng lợi nhuận là do những tác nhân ngòai kinh tế (ràng buộc pháp lí mềm) thì hóa ra trên thực tế hiệu quả của doanh nghiệp đã giảm. Kết quả là người chủ sở hữu phụ thuộc vào hệ thống phân phối quyền vi phạm pháp luật: anh ta không biết nếu không có hệ thống này thì anh ta có đủ sức cạnh tranh hay không và có thể bù đắp được chi phí hay không. Thời gian càng kéo dài và doanh nghiệp càng thành công trong chế độ ràng buộc pháp lí mềm thì sắc xuất là anh ta không làm được càng tăng, và chính anh ta cũng tin như thế. Đấy gọi là hiệu ứng “cái lồng vàng”.


Впрочем, важнейшее экономическое последствие режима мягких правовых ограничений становится очевидно, если рассматривать ситуацию не с точки зрения последствий для фирмы, а точки зрения последствий для рынка в целом. Как мы видим, в общем случае присутствие и положение фирмы на рынке определяется здесь не только балансом спроса и предложения (горизонтальные рыночные отношения), но и условиями «вертикальной торговли» по поводу прав на нарушение правил. Покупать эти права имеет смысл только в случае, если для других участников рынка соблюдение писанных правил действует как ограничитель. То есть система «вертикальной торговли» должна действовать как фильтр при допуске фирм к тому или иному сегменту рынка; в этом случае инвестиции, сделанные фирмой в права на нарушение правил, перестают быть дополнительной издержкой по отношению к нормальным затратам, так как могут быть перенесены на покупателя (монопольная рента).
Nhưng ta sẽ thấy rõ hậu quả quan trọng nhất của chế độ ràng buộc ngân sách mềm khi xem xét vấn đề không phải từ quan điểm hậu quả đối với doanh nghiệp mà từ quan điểm hậu quả đối với thị trường nói chung. Như chúng ta đã thấy, sự tồn tại và vị trí của doanh nghiệp được quyết định không phải chỉ bởi cân bằng cung - cầu (quan hệ thị trường theo chiều ngang) mà còn bởi những điều kiện của “cuộc mặc cả theo chiều dọc” về quyền vi phạm pháp luật nữa. Việc mua quyền này chỉ có ý nghĩa nếu những người tham gia thương trường khác bị luật thành văn ràng buộc. Nghĩa là hệ thống “mặc cả theo chiều dọc” họat động như một bộ lọc, chỉ cho một số doanh nghiệp nào đó tiếp cận với một số lĩnh vực nào đó của thị trường mà thôi. Trong trường hợp này, đầu tư của danh nghiệp để mua quyền vi phạm pháp luật không còn là chi phí phụ trội nữa vì người tiêu dùng sẽ phải trả.


Действительно, только конечный покупатель и никто другой в условиях жестких бюджетных ограничений может вернуть фирмам затраты, сделанные на покупку прав на нарушение правил. Из этого вытекает, что уровень цен при режиме мягких правовых ограничений будет более высоким, чем он мог бы быть, если бы цена определялась исключительно балансом спроса и предложения (условиями «горизонтальной торговли»). Потребитель вынужден будет покрывать как дополнительные затраты фирм на покупку прав на нарушение правил, так и растущую неэффективность фирмы, компенсирующей рост затрат дополнительной прибылью, полученной благодаря нарушению правил. Это объясняет, в частности, почему предприниматели, работающие в рамках этой системы, как правило, не рассматривают такой режим как непригодный или депрессивный для ведения и развития бизнеса: издержки на покупку прав на нарушения правил перекладываются ими на потребителя, условия конкуренции, в результате, выглядят более мягкими, и стоит лишь сосредоточиться на текущей прибыли и смириться с долгосрочной возможностью утраты собственности, чтобы почувствовать себя вполне счастливыми. Подобно тому, как у физических лиц, вовлеченных в режим торговли вокруг нарушения правил, оказывается подавленным интерес к такой системе, где правила просты и соблюдаются, у распорядителей собственности подавленным оказывается интерес к обеспечению долгосрочных прав собственности; отсутствие таких прав компенсируется относительно более высоким уровнем прибыли, нежели тот, который был бы возможен при наличии таких прав.
Trong chế độ ràng buộc ngân sách cứng thì chỉ có người mua mới có thể hòan trả cho doanh nghiệp những chi phí mà họ đã bỏ ra để mua quyền vi phạm pháp luật. Vì vậy giá bán trong chế độ ràng buộc pháp lí mềm sẽ cao hơn là khi nó được quyết định bởi cung cầu trên thị trường (quyết định bởi những điều kiện “mặc cả theo chiều ngang”). Người tiêu dùng phải trả chi phí mua quyền vi phạm pháp luật của doanh nghiệp cũng như phải trả giá cho hiệu quả ngày càng thấp của doanh nghiệp. Điều đó phần nào giải thích vì sao doanh nhân họat động trong khuôn khổ của hệ thống này không coi chế độ ràng buộc pháp lí mềm là trở ngại đối với quá trình kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp: chi phí cho việc mua quyền vi phạm pháp luật được chuyển sang cho người tiêu thụ. Kết quả là doanh nhân mua được quyền vi phạm pháp luật cảm thấy điều kiện cạnh tranh có vẻ dễ dàng hơn, chỉ cần tập trung vào lợi nhuận tức thời và nếu chấp nhận khả năng bị tước mất quyền sở hữu trong tương lai thì ông ta sẽ là người hòan tòan hạnh phúc. Nếu các cá nhân tham gia vào hệ thống mặc cả để mua quyền vi phạm pháp luật không còn quan tâm đến hệ thống trong đó mọi qui định đều đơn giản và được tuân thủ thì người nắm quyền sở hữu cũng không quan tâm đến việc bảo đảm quyền sở hữu một cách lâu dài, nhưng bù lại, người ta lại thu được lợi nhuận tức thời cao hơn.
В представлении реформаторов социализма двадцатилетней давности «запуск рынка», в частности, через механизм жестких бюджетных ограничений, должен превратить предприятие в самостоятельный субъект рыночных отношений (выключив его из системы вертикальной торговли), в свою очередь логика этих новых отношений ведет к становлению институтов, поддерживающих и защищающих конкуренцию, ибо только таким образом предприятие может извлечь максимальную выгоду из факта своей самостоятельности. На этом фоне режим мягких правовых ограничений в целом выглядит как механизм компенсации, снижающий эффект жестких бюджетных ограничений[1].
Trong quan niệm của những nhà cải cách xã hội cách đây hai mươi năm thì việc “khởi động” chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là thông qua cơ chế ràng buộc ngân sách cứng nhất định sẽ biến daonh nghiệp thành chủ thể độc lập trong các quan hệ thị trường (đưa doanh nghiệp ra khỏi hệ thống mặc cả theo chiều dọc). Đến lượt mình, các quan hệ mới sẽ dẫn đến việc hình thành những định chế nhằm duy trì và bảo vệ cạnh tranh vì chỉ có như thế doanh nghiệp mới có thể thu được lợi nhuận tối đa. Trên cái nền như thế, chế độ ràng buộc pháp lí mềm trông sẽ chẳng khác gì cơ chế bù trừ: nó có tác dụng làm giảm hiệu quả của chế độ ràng buộc ngân sách cứng.


Жесткость бюджетных ограничений запускает механизм ответственности предприятий и стимулирует их к получению прибыли; вместе с тем механизм мягких правовых ограничений позволяет перераспределять прибыль между предприятиями вне связи с их экономической эффективностью и таким образом сохраняет в модифицированном виде и принцип вертикальной торговли, которая ведется теперь, однако, не по поводу уровня издержек, но по поводу уровня прибыли. В результате, этот механизм препятствует становлению полноценных прав собственности, снижает стимулы к инвестированию в эффективность производства (в особенности подавляет долгосрочные инвестиции), а также ведет к долгосрочному снижению эффективности фирмы и относительно более высокому уровню цен на рынке в целом.
Tính cứng rắn của ràng buộc ngân sách đã khởi động cơ chế trách nhiệm của doanh nghiệp và khuyến khích họ tìm kiếm lợi nhuận; đồng thời cơ chế ràng buộc pháp lí mềm lại tạo điều kiện cho người ta phân bố lại lợi nhuận giữa các doanh nghiệp bất chấp hiệu quả kinh tế của chúng và như vậy cũng có nghĩa là đã giữ lại nguyên tắc mặc cả theo chiều dọc, nhưng lần này không phải là mặc cả về chi phí mà là mặc cả về lợi nhuận. Kết quả là cơ chế đó cản trở quá trình hình thành quyền sở hữu một cách đầy đủ, làm giảm động cơ đầu tư nhằm nâng cao hiệu suất họat động sản xuất kinh doanh (đặc biệt là làm giảm những khỏan đầu tư dài hạn), giảm hiệu quả của doanh nghiệp trong dài hạn và làm gia tăng giá cả trên thị trường.


Поскольку механизм жестких бюджетных ограничений действует, эффективность фирмы не может стать отрицательной (во всяком случае, если мы говорим о средней фирме в рамках общей модели) — такая фирма разорится. В результате, этот «капитализм наполовину» имеет значительный потенциал самовоспроизводства и жизнеспособности при подавленных возможностях развития. Можно, наверное, сказать, что с точки зрения экономической эффективности он стремится к равновесию «немного выше нуля». Это и создает опасность того, что такое «сумеречное» состояние с подавленным потенциалом развития может поддерживаться довольно долго. Разумеется, накопленная неэффективность привилегированных фирм в какой-то момент делает их чистыми потребителями производимой экономикой прибыли. Но система может жертвовать такими фирмами. Потому что главными бенефициарами режима мягких правовых ограничений являются вовсе не «олигархи» (чемпионы по объему прав на нарушение правил), а выдающая права на нарушение правил бюрократия. Ее могущество проявляет себя не столько в существовании конкретных «олигархов», но скорее в постоянном воспроизводстве процесса «делания олигархов», в котором потенциал режима мягких правовых ограничений реализует себя в полной мере; соответственно, часть «олигархов» должна сходить со сцены.
Vì cơ chế ràng buộc ngân sách cứng vẫn họat động cho nên doanh nghiệp không thể họat động với hiệu suất âm - doanh nghiệp sẽ bị phá sản. Kết quả là “cái chủ nghĩa tư bản nửa vời” này có nhiều khả năng sẽ sống sót và tự tái tạo lại mình mặc dù không có điều kiện phát triển. Từ quan điểm hiệu suất kinh tế, có thể nói rằng doanh nghiệp sẽ tiến đến tình trạng cân bằng “bên trên số không một chút”. Điều này tạo ra nguy cơ là tình trạng “mập mờ” cùng với tiềm lực phát triển thấp sẽ được duy trì trong thời gian dài. Dĩ nhiên là đến một lúc nào đó sự kém hiệu quả của những doanh nghiệp được ưu tiên ưu đãi sẽ biến chúng thành những kẻ “ăn” vào lợi nhuận do nền kinh tế tạo ra. Nhưng hệ thống có thể hi sinh các doanh nghiệp đó. Vì không phải những “ông trùm” (quán quân về quyền vi phạm pháp luật) mà là bộ máy quan liêu có quyền bán quyền vi phạm pháp luật mới là những kẻ được lợi nhất trong hệ thống này. Sức mạnh của nó không chỉ được thể hiện ở sự tồn tại của những “ông trùm” cụ thể, mà trước hết được thể hiện ở quá trình “tạo ra những ông trùm” đang diễn ra liên tục. Tiềm lực của chế độ ràng buộc pháp lí mềm thể hiện đầy đủ nhất trong quá trình “tạo ra các ông trùm” và vì vậy mà một số “ông” sẽ phải biến khỏi vũ đài.


Итак, в целом можно сказать, что режим мягких правовых ограничений позволяет создать такую систему, где сосуществуют две логики: рыночная логика горизонтальных взаимоотношений и одновременно логика «вертикальной торговли», обеспечивающая возможность внерыночного перераспределения ресурсов и прибыли (рента). Режим мягких правовых ограничений — это триггер, позволяющий переключаться с одной логики на другую. Первая логика, подразумевающая в качестве общего правила, в частности, принцип жестких бюджетных ограничений, позволяет экономике получать прибыль, вторая нацелена на внеэкономическое перераспределение этой прибыли.
Như vậy là, nói chung, có thể nói rằng chế độ ràng buộc pháp lí mềm tạo điều kiện cho việc hình thành hệ thống, trong đó có hai kiểu kí lẽ cùng song song tồn tại: lí lẽ của những quan hệ thị trường theo chiều ngang và lí lẽ của “mặc cả theo chiều dọc”, giữ vai trò tái phân phối, bên ngòai quan hệ thị trường, các nguồn lực và lợi nhuận giữ các xí nghiệp. Chế độ ràng buộc pháp lí mềm là cái công tắc cho phép người ta chuyển từ lí lẽ này sang lí lẽ kia. Lí lẽ thứ nhất, mà cụ thể là nguyên tắc ràng buộc ngân sách cứng tạo điều kiện cho nền kinh tế tạo ra lợi nhuận, lí lẽ thứ hai giúp người ta tái phân phối lợi nhuận thu được.



Translated by Phạm Nguyên Trường



http://www.inliberty.ru/blog/krogov/2471/

Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom - Aung San Suu Kyi: Đệ nhất phu nhân của Tự do ở Burma





Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom
Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom - Aung San Suu Kyi: Đệ nhất phu nhân của Tự do ở Burma

By HANNAH BEECH

HANNAH BEECH

The special branch had chased us across the city for hours, through the haunted, betel-nut-stained streets of old Rangoon, past street-side tailors hunched over ancient sewing machines and open-air bookstalls selling worm-eaten copies of Orwell and Kipling. Unable to shake the latest batch of state security men following us by foot, we jumped into a wheezing taxi of mid-20th century vintage. The young driver's eyes widened at the foreigners who hurled themselves in the back and ordered the car to move — fast. As we lurched into motion, he showed us where he stood by reaching into his shirt pocket and pulling out a laminated picture. It was, of course, of the Lady.
Bọn mật vụ này đã săn đuổi chúng tôi khắp thành phố trong nhiều giờ qua những đường phố ma ám, bết đầy quết trầu của Rangoon cổ, lướt qua trước mặt những thợ may vỉa hè đang gập cong người trên những chiếc máy khâu cổ lỗ và qua những giá sách ngoài trời chất đầy những sách mọt gặm, những Orwell và Kipling. Chẳng làm sao giũ nổi lũ đuôi cuối cùng - bọn an ninh quốc gia - theo sát chân chúng tôi, chúng tôi nhảy sang một chiếc taxi khò khè, kiểu cổ lỗ sĩ giữa thế kỷ 20. Người lái xe trẻ mở to mắt nhìn những người nước ngoài ném mình vào sau xe và quát bảo xe chạy - nhanh!. Khi xe đã lao đi, anh ta cho chúng tôi biết lập trường của anh ta bằng cách rút ra từ trong túi áo sơ mi một tấm hình mỏng. Tất nhiên, đó là bức hình Phu nhân.


Aung San Suu Kyi, the 65-year-old Burmese Nobel Peace Prize laureate who was released from house arrest on Nov. 13, was not in the taxi with my two colleagues and me. But she is always carried in the hearts — and her image in the pockets, lockets and secret hiding places — of millions of Burmese. Among the most oppressed and impoverished people on the planet, they draw sustenance from this graceful woman who, armed only with the principle of nonviolent resistance, dares to stand up to the generals who have controlled Burma for nearly five decades. For 15 of the past 21 years, the military regime kept her locked up. But if the generals wished for Suu Kyi to fade into obscurity, they failed. Continued confinement turned her into the world's most famous political prisoner. Emerging from her most recent stint of seven years in detention, she is just as determined to fight for the civil liberties of Burma's 50 million people. "What we are calling for is revolutionary change through peaceful means," she told me when we recently met in Rangoon. "I'm not afraid to say it, and I'm not afraid to ask for all the help I can get." (See photos of Aung San Suu Kyi's freedom.)
Aung San Suu Kyi, người đàn bà Burma 65 tuổi đoạt giải Nobel Hòa bình, được giải thoát khỏi quản thúc tại gia hôm 13 tháng 11, không có mặt trong xe với hai đồng nghiệp của chúng tôi và tôi. Nhưng bà luôn được mang trong trái tim - và ảnh bà trong túi áo, trong mề đay( ) và trong những nơi cất giấu bí mật - của hàng triệu người dân Burma. Nằm trong số những dân tộc nghèo khổ nhất và bị áp bức nhất trên thế giới, tâm hồn họ được nuôi dưỡng bởi hình ảnh người phụ nữ duyên dáng này, người chỉ có những nguyên tắc phản kháng bất bạo động làm vũ khí, đã dám đứng lên đối đầu với những tướng lĩnh kiểm soát Burma trong gần năm thập kỷ. Mười lăm năm trong số 21 năm qua, chế độ quân phiệt luôn giữ bà trong vòng giam hãm. Nhưng nếu những viên tướng này muốn Suu Kyi lu mờ đi trong quên lãng thì chúng đã thất bại. Những năm tháng dài giam hãm đã biến bà thành người tù chính trị nổi tiếng nhất thế giới. Nổi lên từ bảy năm giam cầm gần đây nhất, bà quyết định chiến đấu cho các quyền tự do công dân của 50 triệu dân Burma. “Điều chúng tôi kêu gọi là thay đổi cách mạng bằng phương pháp hòa bình” bà nói với tôi trong cuộc gặp gần đây ở Rangoon. “Tôi không sợ nói ra điều đó, tôi không sợ yêu cầu mọi sự giúp đỡ mà tôi có thể có được.”


The extent to which the junta has gone to try to foil the Lady, as Suu Kyi is fondly and universally known in Burma, is remarkable. For refusing to participate in a rigged election in November that the junta's proxy party won, Suu Kyi's party, the National League for Democracy (NLD), was stripped of its political rights. The NLD overwhelmingly won at the polls in 1990, which presumably would have made Suu Kyi the nation's Prime Minister. But the junta ignored the people's verdict then, and a new constitution contains clauses specifically designed to keep her from ever serving as Burma's leader.
Phạm vi mà bọn quân phiệt cố gắng ngăn chặn Phu nhân, như Suu Kyi được mọi người ở mọi nơi biết nói đến một cách trìu mến, là đáng kể. Vì từ chối tham gia vào một cuộc bầu cử lừa đảo hồi tháng 11 trong đó đảng thân giới quân phiệt đã thắng cử, đảng của Suu Kyi - Liên minh Dân tộc vì Dân chủ (NLD) - đã bị tước đi các quyền chính trị. NLD đã thắng áp đảo trong các cuộc trưng cầu dân ý năm 1990, thắng lợi lẽ ra đã khiến Suu Kyi trở thành Thủ tướng của đất nước. Nhưng khi đó nhóm tướng lĩnh quân phiệt đã phớt lờ phán quyết của nhân dân, và một hiến pháp mới trong đó có những điều khoản được đặc biệt soạn ra để vĩnh viễn đẩy bà xa khỏi cương vị lãnh đạo của Burma.


Since 1962, Burma's battle-hardened generals have faced down communist insurgents, ethnic armies, even the Western governments that impose economic sanctions on the regime. But they still act as if there is no greater enemy than this slight woman with flowers in her hair. Their fear of Suu Kyi is not entirely misplaced. "We think our leader is the ideal woman, not just for Burma but for the whole world," says Aye Aye Nyein, a teacher and member of the NLD's youth wing. "We Burmese live in a prison. She teaches us how to fight for our freedom." And the public's desire for freedom, of course, is why security agents were hunting us, snapping pictures with telephoto lenses fit for Hollywood paparazzi. Earlier that day, a total of at least a dozen special-branch officers trailed us, calling in our movements on their cell phones. (See photos in "The Two Burmas.")
Từ năm 1962, các tướng lĩnh dạn dày chiến trận đã đánh bại những người cộng sản khởi nghĩa, những đội quân của các sắc dân thiểu số, và ngay cả các chính phủ phương Tây áp đặt lệnh cấm vận kinh tế lên chế độ này. Nhưng họ vẫn hành động như thể không có kẻ thù nào lớn hơn người phụ nữ mảnh mai này, với đóa hoa cài trên mái tóc. Nỗi sợ hãi Suu Kyi của họ không phải hoàn toàn không đúng chỗ. “Chúng tôi nghĩ lãnh tụ của chúng tôi là người phụ nữ lý tưởng, không chỉ cho Burma mà còn cho toàn thế giới,” Aye Aye Nyein, một giáo viên và đảng viên cánh trẻ NLD nói. “Người Burma chúng tôi sống trong một nhà tù. Bà dạy chúng tôi cách chiến đấu cho tự do.” Và tất nhiên, niềm khao khát tự do chung ấy là lý do khiến bọn an ninh săn lùng chúng tôi, chụp trộm hình chúng tôi bằng những máy ảnh có ống kính têlê dùng cho bọn paparazzi Hollywood. Sáng sớm hôm nay, ít nhất có đến hàng chục tên sĩ quan đặc vụ săn lùng chúng tôi, gọi vào máy điện thoại di động của chúng báo đường đi của chúng tôi.


It took the taxi driver only a couple of minutes to figure out we had a tail. Pointing back at a car practically on our bumper, he grinned and gunned the engine. For more than half an hour, our high-speed chase wound through the streets of Burma's moldering former capital, past the carcasses of Victorian-era government buildings abandoned when the junta mysteriously moved the seat of power to a remote redoubt five years ago. We circumnavigated the massive golden spire of Shwedagon pagoda, Burma's holiest site, and careened by the hulk of Insein prison, where Suu Kyi was once jailed and where some of the country's 2,200 political prisoners still languish.
Người tài xế taxi chỉ cần vài phút là hình dung ra chúng tôi có đuôi bám theo. Quay lại chỉ vào chiếc xe con đằng sau gần như tông vào xe chúng tôi, anh ta cười toác miệng và dấn ga. Trong hơn nửa giờ, cuộc săn đuổi cao tốc của chúng tôi vòng vèo qua các đường phố của thủ đô cũ mốc meo của Burma, qua những xác nhà của các tòa dinh thự chính phủ phong cách Victoria bị bỏ không khi bọn quân phiệt bí mật dời trụ sở chính quyền về những đồn lũy xa xôi cách đây năm năm. Chúng tôi chạy vòng quanh ngọn tháp vàng đồ sộ của ngôi chùa Shwedagon, một địa điểm linh thiêng nhất của Burma, và lao nhanh qua bên cạnh cái bóng to đùng của nhà tù Insein, nơi Suu Kyi đã có lần bị tù và là nơi mà một số trong 2200 tù chính trị của nước này vẫn đang héo mòn trong đó.


Dusk was falling. Screeching through an open-air market, the taxi finally shook our pursuers. Gratefully, we bid our driver goodbye. He reached into his pocket again, offering me Suu Kyi's picture as a gift. I was touched, but it was his talisman to cherish. I could leave Burma. He needed the Lady to keep him safe.
Trời chạng vạng tối. Gầm rít lao vào một chợ họp ngoài trời, chiếc taxi cuối cùng cũng giũ bỏ được bọn đuổi theo chúng tôi. Với lòng biết ơn, chúng tôi nói lời chào tạm biệt anh lái xe. Một lần nữa anh lại thò tay vào túi áo, lấy ra tấm hình Suu Kyi đưa tặng tôi như một món quà. Tôi cảm động, bởi vì đây là lá bùa mà anh ấp ủ. Tôi có thể rời Burma. Anh ấy cần Bà để bảo hộ cho anh an toàn.


An Unending Struggle
Cuộc đấu tranh không hồi kết
Her carriage is regal, her English accent impeccable. The blossoms she customarily wears in her hair never seem to wilt, even as everything else droops in Burma's sullen heat. In the NLD office, with its intermittent electricity and maps of mildew spread across concrete walls, Suu Kyi floats like some otherworldly presence, calm and cool as others are flushed and frenetic. Ever since she was released in mid-November, Suu Kyi's days have been divided and subdivided into one-hour or 15-minute increments, during which she has met a dizzying array of people: foreign diplomats, AIDS patients, NGO directors, local economists, U.N. officials and the families of political prisoners. She even chatted by phone in December with former First Lady Laura Bush, who had championed the Burmese cause.
Chiếc xe ngựa của bà vương giả. Giọng tiếng Anh của bà không chê vào đâu được, những bông hoa bà thường xuyên cài trên mái tóc dường như không bao giờ héo, ngay cả dưới cái nóng hầm hập của Burma làm cho mọi thứ khác như rũ xuống. Trong văn phòng của NLD, với anh điện chập chờn lúc có lúc không, và những tấm bản đồ mốc meo treo khắp các bức tường bê tông, Suu Kyi lướt đi như sự hiện diện của một người từ cõi khác, bình thản và điềm tĩnh khi những người khác xúc động đến cuồng lên. Kể từ khi bà được trả tự do khỏi quản thúc tại gia vào giữa tháng 11, ngày của Suu Kyi bị chia nhỏ và nhỏ nữa, thành những đoạn một giờ và mười lăm phút, trong đó bà gặp hàng đoàn người nhiều đến chóng mặt, những nhà ngoại giao nước ngoài, những bệnh nhân AIDS, những giám đốc các tổ chức phi chính phủ, các nhà kinh tế địa phương, các quan chức Liên Hiệp Quốc và những thân nhân tù chính trị. Thậm chí tháng 12 bà còn trò chuyện qua điện thoại với cựu đệ nhất phu nhân Laura Bush, người đã ủng hộ sự nghiệp của nhân dân Burma.


But even as the world watches Burma with renewed interest in the wake of Suu Kyi's release, she has not yet met the people with whom she most wants to talk. The regime has ignored her repeated offers for national reconciliation dialogue. Since releasing her, the junta has dealt with Suu Kyi by acting as if she didn't exist, expunging mentions of her from the local press and hoping that, despite her busy calendar and the huge crowds that gather wherever she goes, she will somehow dwindle into irrelevance. "I wish I could have tea with them every Saturday, a friendly tea," Suu Kyi says of the generals, who refused to allow her dying husband one last visit to Burma in 1999. And if they turn down a nice cup of tea? "We could always try coffee," she says wryly.
Nhưng ngay cả khi thế giới quan sát Burma với sự quan tâm mới, sau khi Suu Kyi được trả tự do, thì bà vẫn chưa được gặp những người mà bà muốn nói chuyện nhiều nhất. Chế độ đã phớt lờ những đề nghị lặp lại nhiều lần của bà về đối thoại hòa giải dân tộc. Từ khi trả tự do cho bà, nhóm tướng lĩnh đối xử với bà như thể bà không tồn tại, không nhắc đến tên bà trên báo chí trong nước, và mặc dầu lịch làm việc của bà bận rộn và những đám đông khổng lồ vây bọc bà mỗi nơi bà đến, họ hy vọng rằng bà sẽ thu nhỏ mình lại cách nào đó để trở nên không thích hợp nữa. “Tôi muốn tôi có thể ngồi uống trà với họ mỗi buổi chiều thứ bẩy, một cách thân mật” bà nói về các viên tướng, những kẻ đã không cho phép người chồng sắp chết của bà đến Burma lần cuối vào năm 1999. Và nếu họ từ chối một tách trà ngon? “Thì chúng tôi vẫn có thể thử mời cà phê,” bà nói một cách thất vọng.


Far from being a simple morality tale of good vs. evil, the Lady against the generals, what happens in Burma carries global significance. Jammed between Asia's two emerging powers, China and India, Burma is strategically sensitive, a critical piece in the new Great Game of global politics. This is no totalitarian backwater like North Korea. Even though many Western governments have imposed sanctions on Burma's military regime for its atrocious human-rights record, a new competition is unfolding in this crossroads nation: regional powers are scrambling for access to Burma's plentiful natural gas, timber and minerals. Already, resource-strapped China is building oil and gas pipelines across Burma to create another vital artery to feed its economic engine. Beijing's cozy ties with Burma have spooked democratic India, which has exchanged earlier condemnation of the junta for trade missions — a stance that earned President Barack Obama's public disapproval when he visited India in November. For Burma's top brass — who have at their disposal a 400,000-strong military corps and a record of institutionalized rape, torture and forced labor — democratic reform would mean not only ceding political supremacy but also surrendering the opportunity to siphon wealth from ever growing state coffers. (See photos of Burma's slowly shifting landscape.)
Chuyện vị Phu nhân chống lại các viên tướng hoàn toàn không phải là câu chuyện đơn giản về cái thiện thắng cái ác, điều đang xảy ra ở Burma có ý nghĩa toàn cầu. Bị kẹp giữa hai cường quốc mới trỗi dậy, Trung Hoa và Ấn Độ, Burma nhạy cảm về mặt chiến lược, là một mảng cực kỳ quan trọng trong Trò chơi mới của chính trị toàn cầu. Đây không phải một chế độ toàn trị tù đọng như Bắc Triều Tiên. Mặc dầu nhiều chính phủ phương Tây đã áp đặt lệnh cấm vận lên chế độ quân phiệt vì hồ sơ nhân quyền tồi tệ của nó, một cuộc tranh đua mới đang bộc lộ ra trên đất nước nằm ở giao lộ này: các cường quốc khu vực tranh nhau để tiếp cận đến nguồn khí tự nhiên, gỗ và khoáng sản phong phú của Burma. Trung Hoa, vốn kẹt tài nguyên, đang xây dựng những đường ống dẫn dầu và khí xuyên qua Burma để tạo ra đường huyết mạch cung cấp nhiên liệu cho động cơ kinh tế của nó. Các quan hệ nồng ấm của Bắc Kinh với Burma đã làm kinh hãi nước Ấn Độ dân chủ, nước này đã đổi những lời lên án bọn quân phiệt trước đây lấy các sứ mệnh thương mại, một lập trường đã khiến tổng thống Barach Obama mất lòng công chúng khi ông đến thăm Ấn Độ vào tháng 11. Đối với nhóm quân sự chóp bu của Burma - những kẻ có trong tay một quân đội 400.000 người, và một hồ sơ nhân quyền đầy hiếp chóc, tra tấn và lao động cưỡng bức, các cải cách dân chủ không chỉ có nghĩa là xóa bỏ uy quyền chính trị tối cao, mà còn là từ bỏ những cơ hội bòn rút của cải từ kho bạc đang không ngừng lớn lên của nhà nước.


Unlike South Africa's apartheid government when Nelson Mandela was released from prison, Burma's dictatorship is not in its death throes. If anything, because of burgeoning foreign investment in Burma, especially over the past five years, the junta is even more entrenched than when Suu Kyi was last free, in 2003. Two previous attempts at popular protest have ended with the crackle of gunfire and the silence of a cowed populace. The most recent tragedy came in 2007 when soldiers ended weeks of monk-led protests by mowing down dozens of unarmed civilians.
Không giống như chính phủ apartheid của Nam Phi khi Nelson Mandela ra khỏi nhà tù, nền độc tài Burma ngày nay không phải đang giẫy chết. Nếu có gì khác, thì nhờ đầu tư nước ngoài đang tăng vọt ở Burma, đặc biệt trong vòng năm năm qua, bọn quân phiệt bây giờ thậm chí còn vững vàng hơn khi Suu Kyi được trả tự do lần trước vào năm 2003. Hai cuộc biểu tình phản kháng của quần chúng trước đây đã kết thúc bằng tiếng súng nổ và sự im lặng của quần chúng bị đe dọa làm cho sợ hãi. Bi kịch gần đây nhất xảy ra năm 2007, khi binh lính dập tắt cuộc biểu tình phản đối kéo dài mấy tuần lễ do các sư sãi dẫn đầu bằng cách bắn gục hàng chục thường dân không một tấc sắt trong tay.


The other foiled democracy movement was in 1988, when Suu Kyi found herself literally thrust on the political stage. The daughter of assassinated independence hero Aung San, she spent much of her early life overseas in India, the U.S., Japan, Bhutan and England. In the 1980s she was content to focus on academic research and serve as the mother of two sons and the wife of a British academic at Oxford. On picnics in the English countryside, Suu Kyi wore shorts and drank soda; she gave little hint of the democracy icon she would become. (See Suu Kyi in TIME's top 10 political prisoners.)
Một phong trào dân chủ khác bị đánh bại là năm 1998, khi Suu Kyi thấy bản thân bà quả thật đang lao vào sân khấu chính trị. Là con gái của Aung San, một anh hùng trong phong trào độc lập bị ám sát, bà đã sống phần lớn những năm tuổi trẻ ở nước ngoài: Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nhật, Bhutan và Anh. Trong những năm 1980 bà tập trung tất cả vào việc học và làm mẹ của hai đứa con và vợ của một nhà học giả Anh ở Oxford. Khi đi picnic ở vùng nông thôn nước Anh, Suu Kyi mặc soóc và uống xô đa, chẳng có dấu hiệu gì của một biểu tượng dân chủ mà bà sẽ trở thành.


In 1988 the dutiful Asian daughter went home to care for her ill mother. That Rangoon summer grew into Burma's version of a Prague spring. The generals' mismanagement had turned what was once one of Asia's breadbaskets into an economic basket case, and students, monks and workers gathered by the hundreds of thousands to call for the regime's downfall. The army fired on the protesters, some of whom tried to fight back. As the child of the revered general who had vanquished the colonial British, Suu Kyi thought she might have the authority to prevent further clashes. In front of half a million people, she made her first public address, mixing Buddhist values with Gandhian principles of nonviolent resistance. Less than a month after Suu Kyi's plea for peace, the army unleashed another crackdown, killing hundreds. Two years later, the electoral victory of the NLD, the party she helped found, was disregarded. It was as if time stopped in Burma.
Năm 1988 người con gái Á châu có hiếu này về nhà để chăm sóc bà mẹ đang ốm. Mùa hè Rangoon ấy đã lớn lên thành một phiên bản Burma của mùa xuân Praha. Sự quản lý tồi tệ của nhóm quân phiệt đã biến Burma từ một trong những vựa lúa của châu Á thành một nền kinh tế què cụt, và sinh viên, sư sãi, công nhân tập hợp hàng trăm nghìn để kêu gọi lật đổ chế độ. Quân đội bắn vào những người biểu tình, một số người trong số họ cố gắng đánh lại. Là con gái của vị tướng được tôn sùng, người đã đánh bại thực dân Anh, Suu Kyi nghĩ bà có đủ uy tín để ngăn ngừa cuộc đụng độ tiếp diễn. Trước mặt nửa triệu người, bà nói chuyện trước công chúng lần đầu tiên, pha trộn những giá trị Phật giáo với các nguyên tắc phản kháng bất bạo động của Gandhi. Chưa đầy nửa tháng trời sau khi Suu Kyi kêu gọi hòa bình, quân đội mở một cuộc đàn áp thẳng tay khác, giết chết hàng trăm người. Hai năm sau, thắng lợi bầu cử của NLD, đảng mà bà giúp thành lập, bị lờ đi. Dường như thời gian ngừng lại ở Burma.


Multiple Fronts
Today, despite Suu Kyi's release and the influx of foreign investment that has brought the occasional Hummer and day spa to Rangoon, Burma is still a country preserved in amber. Tropical totalitarianism is deceptive. In North Korea, the broad, desolate avenues and drably dressed citizens make for a perfect tableau of authoritarianism. Burma's sprays of bougainvillea, its gilded pagodas and the sway of schoolgirls dressed in the sarongs called longyis all create a false sense of contentment. But life in Burma is not easy. Roughly 40% of the national budget is spent on the army, while just around 1% each is reserved for health and education. The new capital in Naypyidaw, which means "abode of the kings," was built with billions of dollars, even as nearly a third of Burmese live below the poverty line. For farmers, a hand-to-mouth existence is made worse by routine land seizures and orders to work without pay for the military. Even in Rangoon, power outages are as common as junta informants; both leave the populace in the dark. In a sign of just how removed the generals are from their subjects, confidential U.S. embassy cables released by WikiLeaks refer to the junta lavishing money on a nuclear program with alleged help from North Korea, while junta supremo Than Shwe pondered spending $1 billion on Manchester United at the behest of his soccer-loving grandson.
Trên nhiều mặt trận.
Hôm nay, mặc dù Suu Kyi đã được trả tự do và đầu tư nước ngoài đang tràn ngập đã mang Hummer và day spa đến Rangoon, Burma vẫn còn là một đất nước bưng bít. Chế độ độc tài toàn trị nhiệt đới này có vẻ ngoài lừa dối. Ở Bắc Triều tiên, những đại lộ rộng lớn và hoang tàn, những người dân ăn mặc buồn tẻ làm thành bức tranh hoàn hảo của chế độ toàn trị. Nhưng ở Burma những chùm hoa bougainvillea, những ngôi chùa mạ vàng của nó, và các cô nữ sinh mặc xa rông được gọi là longyi đung đưa bước đi, tất cả tạo ra cảm giác sai lầm về sự hài lòng thỏa mãn. Nhưng cuộc sống ở Burma không dễ dàng. Khoảng 40% ngân sách nhà nước được chi cho quân đội, trong khi dành cho y tế và giáo dục mỗi ngành chỉ có khoảng 1%. Thủ đô mới ở Naypyidaw có nghĩa là “hành dinh của các vua” được xây bằng nhiều tỷ đô la, trong khi gần một phần ba dân chúng Burma sống dưới mức nghèo khổ. Đối với nông dân, những người sống trong tình cảnh “vắt mũi bỏ miệng” thì còn khổ hơn bởi đất đai thường xuyên bị cướp đoạt, và những lệnh lao dịch không công cho quân đội. Ngay ở Rangoon, sự mất điện cũng phổ biến như bọn chỉ điểm của chế độ, cả hai đều làm cho cuộc sống của dân chúng trở nên tối tăm. Về dấu hiệu cho thấy các viên tướng cách biệt với thần dân của chúng như thế nào, những bức mật điện của đại sứ Hoa Kỳ do WikiLeaks tiết lộ có nhắc đến những món tiền hậu hĩ của bọn quân phiệt nhờ chương trình hạt nhân được biết là có sự giúp đỡ của Bắc Triều Tiên, trong khi lãnh đạo tối cao của tập đoàn quân phiệt Than Shwe cân nhắc chi một tỉ đô la cho Manchester United theo lệnh đứa cháu nội mê bóng đá của ông ta.


Although Suu Kyi's moral imprimatur helped bring Western sanctions against the regime, the fact that many ordinary Burmese also feel their effects hasn't escaped her. "I am ready to reconsider my support of sanctions if it's for the benefit of all of us," she told me with surprising vehemence, countering critics who think her too unyielding. "I'm not afraid to consider change." Her openness will surely ignite further debate in Washington, where there is a growing recognition that sanctions on Burma, despite their moral appeal, have not worked.
Mặc dù sự tán thành về mặt đạo đức của Suu Kyi đã giúp mang đến lệnh cấm vận của phương Tây đối với chế độ này, nhưng sự việc là những người dân thường Burma cũng cảm thấy tác động của nó đã khiến bà băn khoăn. “Tôi sẵn sàng xem xét lại sự ủng hộ của tôi đối với lệnh cấm vận nếu điều đó mang lại lợi ích cho tất cả chúng tôi,” bà nói với tôi một cách sôi nổi đáng ngạc nhiên, trái ngược với những người phê bình bà quá lạnh lùng cứng rắn. “Tôi không ngại xem xét lại những thay đổi.” Sự thẳng thắn của bà chắc chắn sẽ dấy lên một cuộc tranh cãi mới ở Washington, ở đó ngày càng nhiều người nhận ra rằng cấm vận đối với Burma, cho dù có ý nghĩa kêu gọi về mặt đạo đức, trong thực tế lại không có tác dụng.


But the most immediate revolution is needed within Suu Kyi's party. Ever since the unfair outcome of the 1990 elections, the NLD has been stuck in a time warp, endlessly arguing over arcane policy and political theory even as many of its leaders get grayer and more stooped. There is a strange parallel between Burma's geriatric opposition leaders, known as the Uncles, and the junta's clutch of aged generals. In a 2008 cable released by WikiLeaks, an American diplomat in Rangoon bemoaned, "The way the Uncles run the NLD indicates the party is not the last great hope for democracy and Burma." Since then, a leadership reshuffle has reinvigorated the party to a certain extent, and Suu Kyi's release has galvanized a new generation of political youth. But it's no wonder that a younger NLD faction called the National Democratic Force defied the NLD's (and Suu Kyi's) call for an electoral boycott and contested the November polls. Suu Kyi says she's not worried about a possible split in the opposition. "We are all fighting for democracy," she says. "Our goals are the same." (See more on Suu Kyi's fight for freedom.)
Nhưng sự thay đổi cách mạng cấp thiết nhất lại cần ngay bên trong đảng của Suu Kyi. Ngay từ khi kết quả bất công của những cuộc bầu cử 1990, đảng NLD đã bị kẹt trong một thời kỳ lệch lạc, tranh cãi triền miên về chính sách bí truyền và lý thuyết chính trị trong khi nhiều lãnh đạo của nó trở nên ngày càng mờ nhạt ảm đạm và xuống tinh thần. Có một sự tương đồng kỳ lạ giữa các nhà lãnh đạo đối lập già nua của Burma (được gọi là các Bác) với nhóm quân phiệt gồm những viên tướng lớn tuổi. Trong một bức mật điện năm 2008 được WikiLeaks tiết lộ, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Rangoon than thở: “Cái cách mà các Bác điều hành NLD cho thấy đảng này không phải là niềm hy vọng lớn lao cuối cùng cho dân chủ và Burma.” Từ đó, một cuộc cải tổ lãnh đạo đã mang lại sinh khí cho đảng đến một chừng mực nào đó, và việc Suu Kyi được giải thoát đã khiến cho một thế hệ mới các nhà chính trị trẻ tuổi phấn khởi. Nhưng không có gì đáng ngạc nhiên rằng một cánh trẻ hơn trong NLD gọi là Lực lượng Dân chủ Dân tộc chống lại việc NLD (và Suu Kyi) kêu gọi tẩy chay tuyển cử và không chấp nhận kết quả bầu cử tháng 11. “Tất cả chúng tôi đều đang đấu tranh cho dân chủ,” bà nói. “Mục tiêu của chúng tôi là một.”


Suu Kyi, a woman who first used a cell phone on the day of her release, says she's committed to nurturing a new generation of technologically savvy political youth. "The advantage is they're very electronic. They can communicate with the world," she says, referring to the NLD youth wing's members who use Facebook to debate politics when there's enough electricity to power computers. "Everything goes on the Internet. Did you know that?" The equalizing power of the digital revolution ties in nicely with the philosophy that has inspired Suu Kyi, that of Czech dissident and fellow Peace Prize laureate Vaclav Havel, who wrote of "the power of the powerless." "My very top priority is for people to understand that they have the power to change things themselves," she says. "Then we can do it together. Then we'll be home and dry."
Suu Kyi, một phụ nữ dùng điện thoại di động lần đầu tiên vào ngày bà được trả tự do, nói bà tha thiết ủng hộ một thế hệ mới các nhà chính trị trẻ tuổi có hiểu biết về công nghệ cao. “Lợi thế là họ rất sành điện tử. Họ có thể liên lạc với cả thế giới,” bà nói khi nhắc đến các thành viên cánh trẻ của NLD dùng Facebook để tranh luận về chính trị khi có đủ điện để cắm máy tính. “Mọi thứ có trên Internet. Bạn có biết điều ấy không?” Sức mạnh san bằng của cuộc cách mạng số gắn liền một cách thú vị với triết lý đã truyền cảm hứng cho Suu Kyi, triết lý của nhà bất đồng chính kiến Czech và người cùng được giải Nobel Hòa bình Vaclav Havel, người đã viết “quyền lực của sự vô quyền.” “Ưu tiên cao nhất của tôi là làm cho nhân dân hiểu được rằng tự bản thân họ có khả năng thay đổi mọi vật” bà nói. “Như thế chúng tôi có thể cùng nhau làm việc đó. Khi đó chúng tôi sẽ xuôi chèo mát mái.”


A Heavy Burden
It's a lot to ask of one woman: rejuvenate her banned party, persuade the generals to talk, make the cause of Burma a global priority, minister to the sick, comfort the families of political prisoners. Serving as an icon of democracy is hard enough, without having to deal with the nitty-gritty of everyday political life. Add to that the real worry that Suu Kyi may be operating on borrowed time. "Our people are in and out of prison all the time," she says. "All I have to say is, 'Is so-and-so in or out?' and they know exactly what I mean."
Một gánh nặng
Như thế là đòi hỏi quá nhiều ở một người phụ nữ: làm trẻ lại đảng bị cấm của bà, thuyết phục các tướng đối thoại, biến sự nghiệp của Burma thành một vấn đề ưu tiên của thế giới, chăm sóc những người bệnh, an ủi các gia đình tù chính trị. Làm một biểu tượng của dân chủ đã đủ khó khăn rồi, không phải xử lý những vấn đề của đời sống chính trị hàng ngày. Thêm vào đó là nỗi lo rằng có thể Suu Kyi đang hoạt động trong thời gian đi mượn. “Nhân dân chúng tôi ra vào tù như cơm bữa,” bà nói, “Tôi chỉ cần nói ‘Ông ấy ông nọ đang ở trong hay ở ngoài’ là họ biết tôi muốn nói gì rồi.”


For now, she is out. But there's little doubt that if the junta sees in her any realistic challenge to its authority, she will be sent in again on whatever spurious charge the military can concoct. "I want to do as much as I can while I'm free," she says. "I don't want to tire myself out, but we never know how much time we have." (See photos of decades of dissent in Burma.)
Bây giờ thì bà đang ở ngoài. Nhưng không nghi ngờ gì rằng nếu giới quân phiệt thấy ở bà bất kỳ thách thức thực tế nào đối với quyền lực của nó, bà sẽ bị tống ngay vào, với bất cứ cáo buộc giả mạo nào mà quân đội có thể nặn ra. “Tôi muốn làm hết những gì tôi muốn làm trong khi tôi còn tự do,” bà nói. Tôi không muốn làm cho mình mệt mỏi, nhưng ai biết được chúng tôi còn có bao nhiêu thời gian nữa?”


Beyond the possibility of rearrest, Suu Kyi's safety is an even more fundamental concern. The army has shown it is quite prepared both to lock her up and to endanger her life. On three occasions, Suu Kyi and her supporters have been attacked by mysterious thugs, with resulting fatalities. "She is like her father in that she has no qualms about losing her life," says Win Htein, an NLD elder who was released in July after 14 years in jail. Suu Kyi gasps when I ask her whether she would consider wearing a bulletproof vest. "I wouldn't dream of it," she says. "Then it would look like I'm trying to protect myself from the people who support me."
Ngoài khả năng bị bắt lại, sự an toàn của Suu Kyi còn là một nỗi lo cơ bản hơn. Quân đội đã cho thấy nó đã sẵn sàng cả hai: giam bà lại và đe dọa tính mạng của bà. Đã ba lần, Suu Kyi và những người ủng hộ bà bị tấn công bởi những bọn côn đồ giấu mặt, với những cái chết thảm thiết. “Bà ấy giống cha về chỗ không lo sợ cho tính mạng của mình.” Win Htein, một đảng viên già của NLD đã được phóng thích hồi tháng Bẩy sau 14 năm tù nói. Suu Kyi há cả miệng ra khi tôi hỏi bà có bao giờ nghĩ đến việc mặc một chiếc gi lê chống đạn không. “Tôi chẳng bao giờ mơ đến chuyện đó,” bà nói. “Như vậy khác nào tôi cố gắng phòng thủ bản thân mình trước những người ủng hộ tôi.”


Suu Kyi may cherish her interactions with ordinary Burmese, but there is a distant quality to her, a sense that she lives most comfortably in her head, not among the crowds. Part of her remove is born of circumstance. She speaks proudly of being her father's favorite child, yet he was assassinated by political rivals when she was just 2. For so much of her recent life, Suu Kyi has been sequestered from normal human contact; noble ideas and fine words have kept her company. While under house arrest, she obsessively read books ranging from biographies to spy thrillers. "People think that I had nothing to do [while in detention]," she says. "But I spent five or six hours listening to the radio every day. If you're under house arrest and you miss one item, there's no one there to tell you about it, so I listened very carefully." Even her taste in classical music speaks to her sense of discipline and composure. Mozart, she says, makes her happy, which is all well and good. But she prefers Bach. "He makes me calm," she says. "I need calm in my life."
Suu Kyi có thể khao khát tiếp xúc với những người dân Burma bình thường, nhưng ở bà có một vẻ xa cách, một cảm giác rằng bà sống thoải mái nhất trong đầu của bà, chứ không phải giữa đám đông. Sự xa cách của bà có phần do từ hoàn cảnh. Bà nói một cách tự hào về việc bà là đứa con cưng của cha bà, tuy nhiên ông bị kẻ thù chính trị ám sát khi bà mới 2 tuổi. Trong cuộc sống của bà thời kỳ gần đây, quá nhiều thời gian Suu Kyi đã bị cách ly khỏi sự tiếp xúc bình thường với con người, bà chỉ có những tư tưởng cao quý và những ngôn từ đẹp làm bầu bạn. Trong khi bị quản thúc tại gia, bà mải mê đọc sách, từ những quyển tiểu sử đến những truyện trinh thám ly kỳ. “Người ta nghĩ tôi không có việc gì để làm [trong khi bị giam giữ],” bà nói, “nhưng tôi để năm hay sáu tiếng mỗi ngày nghe radio. Nếu anh bị quản thúc và anh bỏ lỡ mất một điều gì, thì không có ai ở đó để bảo cho anh biết, do đó tôi nghe rất cẩn thận.” Ngay cả sở thích nghe nhạc cổ điển cũng liên hệ với cảm giác về kỷ luật và sự điềm tĩnh của bà. Bà nói Mozart khiến bà cảm thấy hạnh phúc, trong đó mọi thứ đều tốt đẹp. Nhưng bà thích Bach hơn. “”Ông ấy làm cho tôi thấy thanh thản,” bà nói. “Trong cuộc sống của tôi tôi cần thanh thản.”


Right now, Suu Kyi is in the eye of a storm, a place of deceptive tranquility. Rangoon is a city of whispers, and while the people I met there used different words — a honeymoon, a window, a reprieve — their hushed intent was the same: this, they felt, was the calm before the crackdown. The November elections were part of what the generals call a transition to a "discipline-flourishing democracy." One thing is certain: when the fig leaf of civilian government arrives in 2011, there will be no place in it for the Lady.
Ngay lúc này đây, Suu Kyi đang ở trong mắt bão, một nơi có vẻ yên tĩnh đánh lừa. Rangoon là một thành phố của những lời đồn, và trong khi mọi người tôi gặp ở đây dùng những từ khác nhau - một tuần trăng mật, một cửa sổ, một ân xá - hàm ý mà họ không nói ra là một: họ cảm thấy cái này là sự yên tĩnh trước đợt đàn áp không nương tay. Những cuộc bầu cử tháng 11 là một phần của cái mà các tướng lĩnh gọi là sự quá độ sang một “nền dân chủ trong kỷ luật.” Có một điều chắc chắn là: khi chiếc lá nho của chính phủ dân sự xuất hiện vào năm 2011, sẽ không có chỗ nào trong đó dành cho Phu nhân.


Still, for all her years of imprisonment and whatever travails may come, Suu Kyi considers herself lucky. It's not because of the people's adoration of her but because of their respect — a value she believes stems from a generosity of spirit. "In my life, I have been showered with kindness," she says. "More than love, I value kindness. Love comes and goes, but kindness remains." When her son Kim was in Rangoon to see her for the first time in a decade, his kindness came in the form of a gift, a puppy to keep her company. "He's my guard dog," she jokes, even though the tiny mutt hasn't shown much bark or bite. "He has an active tail and lets me know when someone is coming. That should be enough, don't you think? A little wag of the tail?"
Trong tất cả những năm tù đày và có gặp khó khăn vất vả đến mấy Suu Kyi vẫn cảm thấy bà là may mắn. Đó không phải là vì nhân dân ngưỡng mộ bà, mà vì sự tôn trọng của họ - một giá trị mà bà tin rằng xuất phát từ một sự khoan dung của tinh thần. “Trong đời tôi, tôi đã được ngập trong sự ân cần, tử tế” bà nói. “Hơn cả tình yêu, tôi đánh giá cao sự ân cần. Tình yêu đến rồi đi, nhưng sự ân cần còn lại mãi.” Khi Kim con trai bà đến Rangoon thăm bà lần đầu sau một thập niên, sự ân cần của anh dưới dạng một món quà, một con chó con để làm bạn với bà. “”Nó là con chó giữ nhà cho tôi” bà nói đùa, như thể con chó con ấy không biết sủa hoặc cắn. “Nó có một chiếc đuôi luôn ngoe nguẩy và báo cho tôi biết khi có ai đến. Như thế là đủ, phải không anh? Chỉ một cái vẫy đuôi nhỏ?” 

Translated by Hiếu Tân
http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,2040197,00.html