MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Tuesday, July 19, 2011

Mum's stress is passed to baby in the womb - Mẹ bị stress lan sang con trong bụng


Mum's stress is passed to baby in the womb

Mẹ bị stress lan sang con trong bụng

By Michelle Roberts Health reporter, BBC News

Michelle Robert, phóng viên chuyên mục Sức Khỏe, BBC News

A mother's stress can spread to her baby in the womb and may cause a lasting effect, German researchers propose.

Sự căng thẳng của người mẹ có thể truyền sang đứa bé trong bụng và có thể có tác động lâu dài, các nhà nghiên cứu Đức cho biết.

They have seen that a receptor for stress hormones appears to undergo a biological change in the unborn child if the mother is highly stressed, for example, because of a violent partner.

Họ nhận thấy rằng có một thụ thể của hoocmon stress xuất hiện làm đứa trẻ chưa sinh ra chịu tác động sinh học nếu người mẹ bị stress nặng, ví dụ như, do sự hung bạo của bạn đời.

And this change may leave the child less able to handle stress themselves.

Chính sự thay đổi này làm cho bản thân những đứa trẻ ít có khả năng chống đõ stress.

It has already been linked to mental illness and behavioural problems.

Điều này đã liên quan tới các bệnh tâm thần và các vấn đề về hành vi.

The findings, published in the journal Translational Psychiatry, are based on a small study of 25 women and their children, now aged between 10 and 19.

Được công bố trên tạp chí Translational Psychiatry Tâm thần học tịnh tiến), phát hiện này dựa trên một nghiên cứu nhỏ gồm 25 phụ nữ và con của họ, đang ở độ tuổi từ 10 tới 19.

And the researchers point out that the women involved in the study had exceptional home circumstances and that most pregnant women would not be exposed to such levels of stress day in and day out.

Và các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bà mẹ tham gia nghiên cứu có hoàn cảnh đặc biệt và hầu hết những phụ nữ mang thai không bị tiếp xúc với stress ở mức độ xảy ra từng ngày một.

Furthermore, the researchers say the findings are not conclusive - many other factors, including the child's social environment while growing up, might be involved.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu nói rằng sự phát hiện này không có tính chất kết luận – nhiều nhân tố khác, bao gồm môi trường xã hội của đứa trẻ trong quá trình phát triển, có thể có liên quan

But they suspect it is the child's earliest environment, the womb, that is key.

Nhưng họ cho rằng chính môi trường sớm nhất của đứa trẻ, trong bụng mẹ, là điều quan trọng hàng đầu.

For their study, they looked at the genes of the mums and the adolescents to find any unusual patterns.

Trong nghiên cứu này, họ đã xem xét các gene của các bà mẹ và các trẻ vị thành niên để tìm ra các mẫu bất thường.

Some of the teens had changes to one particular gene - the glucocorticoid receptor (GR) - that helps regulate the body's hormonal response to stress.

Một số thanh thiếu niên có biến đổi của một gene đặc biệt - Glucocorticoid Receptor (GR) – mà vốn giúp điều hòa đáp ứng hóc-môn của cơ thể chống lại stress.

Such genetic alterations typically happen while the baby is still developing in the womb.

Những biến đổi di truyền đó thường xảy ra trong quá trinh đứa trẻ phát triển trong bụng mẹ.

And the scientists believe they are triggered by the mum-to-be's poor state of emotional wellbeing at the time of the pregnancy.

Và các nhà nghiên cứu tin rằng quá trình biến đổi đó được gây ra bởi tình trạng tình cảm tồi tệ của bà mẹ tương lai –trong thời gian mang thai

Sensitive window

In the study, these mums had been living with the constant threat of violence from their husband or partner. And it would appear this continued stress took its toll on the pregnancy.

Giai đoạn nhạy cảm

Trong nghiên cứu này, những người mẹ sống trong sự đe dọa bạo lực của người chồng hay người đối ngẫu/bạn tình. Và có lẽ những stress liên tục đã gây ra những tổn thương trong quá trình mang thai.

When the babies were followed up one to two decades later as adolescents, they had changes in the genetics of their GR that other teenagers did not.

Khi những đứa trẻ được theo dõi khoảng một tới hai thập niên sau, tới tuổi vị thành niên, chúng đã có những biến đổi trong cấu trúc di truyền của gene GR trong khi các thanh thiếu niên khác thì không.

This "methylation" of GR appears to make the individual more tuned in or sensitised to stress, meaning that they will react to it quicker both mentally and hormonally.

Sự “Methyl hóa” của GR xuất hiện làm cho cá nhân dễ bị chi phối và nhạy cảm hơn với stress, có nghĩa rằng chúng phản ứng với stress nhanh hơn về tâm thần và về hoocmon.

As people, they tend to be more impulsive and may struggle with their emotions, explain the researchers, who carried out detailed interviews with the adolescents.

Các nhà nghiên cứu, sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn chi tiết với các thanh thiếu niên, giải thích rằng, khi lớn lên, những đứa trẻ này có xu hướng bốc đồng và có thể phải vất vả đấu tranh với cảm xúc của chính mình,

Professor Thomas Elbert, one of the lead researchers at the University of Konstanz, said: "It would appear that babies who get signals from their mum that they are being born into a dangerous world are faster responders. They have a lower threshold for stress and seem to be more sensitive to it."

Giáo sư Thomas Elbert, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu tại Đại Hoc Konstanz nói:” Có vẻ như những đưa trẻ nhận được tín hiệu từ mẹ chúng rằng chúng sẽ được sinh ra trong thế giới nguy hiểm là những người đáp ứng nhanh hơn. Chúng có một ngưỡng thấp hơn đối với stress và dường như nhạy cảm với nó hơn.

The investigators now plan to carry out more detailed investigations following larger numbers of mothers and children to see if they can confirm their suspicions.

Các nhà nghiên cứu đang thực hiện những nghiên cứu chi tiết hơn trên một số lượng lớn bà mẹ và trẻ em để kiểm chứng những nghi vấn của họ.

Dr Carmine Pariante, an expert in the psychology of stress at the Institute of Psychiatry, King's College London, said: "This paper confirms that the early foundation years start at minus nine months."

Tiến sĩ Carmine Pariante, một chuyên gia về Tâm lý học stress của Viện Tâm Thần học, Đại học King, London nói: “Bài báo khẳng định rằng những năm đầu đời bắt đầu từ khi mới thụ thai”

He added: "Pregnancy is uniquely sensitive to a challenging maternal psychosocial environment - much more than, for example, after the baby is born. As we and others have been advocating, addressing maternal stress and depression in pregnancy is a clinically and socially, important strategy."

Ông nói thêm: “Mang thai đặc biệt nhạy cảm đối với với môi trường tâm lý đày thử thách của bà mẹ – nhiều hơn cả sau khi em bé ra đời, chẳng hạn. Như chúng tôi và những người khác nữa chủ trương, chăm sóc bà mẹ căng thẳng và trầm cảm lúc mang thai là chiến lược quan trọng về mặt y tế cũng như xã hội.

Translated by trịnh thị kim phước_Y2E, kimphuoca8@yahoo.com


Stress hormones are regulated by the brain's hypothalamus
Stress hormones are regulated by the brain's hypothalamus - Hóc-môn stress được điều hòa bởi vùng dưới đồi thị trong não.

Monday, July 18, 2011

Patriotism is a matter of date. - Ái quốc là vấn đề niên đại.

Patriotism is a matter of date. - Ái quốc là vấn đề niên đại.
by Raja Petra Kamarudin


They say that patriotism is a matter of date. It all depends on when (the date) you are declared a patriot. You can be a patriot one day and a traitor the next, or vice versa.

Người ta nói rằng lòng yêu nước là một vấn đề của niên đại. Tất cả đều phụ thuộc vào KHI NÀO (ngày tháng) bạn tuyên bố một người yêu nước. Bạn có thể là một người yêu nước một ngày và một kẻ phản bội ngày hôm sau, hoặc ngược lại.

This would ring true for many a patriot. And it all depends on how the image of this patriot is built through the ages. Myths and legends have a way of creeping into facts to distort history and make the truth murky. It also depends a lot on who won the day. History is always recorded by the victor, not the vanquished, so the winner decides who becomes the patriot and who the traitor.

Điều này quả đúng với nhiều người yêu nước. Và tất cả phụ thuộc vào hình ảnh của người yêu nước này được xây dựng qua các thời đại. Huyền thoại và truyền thuyết có cách len lỏi vào các sự kiện để làm sai lệch lịch sử và khiến sự thật u ám. Nó cũng phụ thuộc rất nhiều vào việc ai là người giành lấy ngày đó. Lịch sử luôn luôn được ghi lại bởi người chiến thắng, không phải là kẻ bại trận, vì vậy người chiến thắng quyết định ai trở thành người yêu nước và ai là kẻ phản bội.

Paul Revere is a patriot merely because the Americans won the ‘War of Independence’. Even the ‘War of Independence’ would not be known as the ‘War of Independence’ today if the British had won. It would have been called the ‘American Rebellion’.

Paul Revere là một người yêu nước chỉ đơn thuần là bởi vì người Mỹ chiến thắng trong cuộc Chiến tranh giành chiến độc lập. Ngay cả cuộc chiến tranh giành độc lập” cũng sẽ không được biết đến như "Chiến tranh giành Độc lập" ngày nay nếu người Anh đã giành chiến thắng. Nó sẽ được gọi là 'Cuộc nổi loạn Mỹ.’

During the War of Independence, the Americans called themselves ‘Patriots’. The British, however, called them ‘Rebels’. But since the Americans won and the Americans wrote the history books, then they shall forever be known as ‘Patriots’ and not ‘Rebels’.

Trong cuộc chiến tranh độc lập, người Mỹ tự gọi mình là 'yêu nước'. Thế nhưng người Anh gọi họ là người 'nổi dậy'. Nhưng bởi vì người Mỹ giành chiến thắng và người Mỹ đã viết những cuốn sách lịch sử, thành ra họ mãi mãi được gọi là 'những người yêu nước' và không phải là 'người nổi dậy'.

Paul Revere is one of the more famous ‘Patriots’. He is credited with the famous ‘Midnight Ride’ from Boston to Lexington on 18 April 1775 where he was supposed to have ridden to warn the Americans that the British were coming. In 1940 a statue of Paul Revere was unveiled in Boston to commemorate this famous ride.

Paul Revere là một trong những người yêu nước nổi tiếng. Ông được gán cho câu chuyện "Kỵ sỹ nửa đêm" nổi tiếng từ Boston đến Lexington ngày 18 tháng 4 năm 1775 trong đó được cho là đã cưỡi ngựa để cảnh báo người Mỹ rằng người Anh đã đến. Năm 1940, một bức tượng của Paul Revere đã được khánh thành tại Boston để kỷ niệm chuyến đi nổi tiếng này.

But Paul Revere did not ride alone. In fact, he did not even complete the ride. He was captured by the British and later released. Others who managed to avoid capture actually completed the ride, though they are not mentioned by history.

Tuy nhiên, Paul Revere đã không đi một mình. Trong thực tế, ông đã không hoàn thành chuyến đi. Ông đã bị bắt bởi người Anh và sau đó được thả. Những người khác tìm cách tránh bị bắt đã thực sự hoàn thành chuyến đi, mặc dù họ không được đề cập đến trong lịch sử.

So how come Paul Revere is credited with this ‘Midnight Ride’ and the impression given is that he was the sole rider and actually completed the ride? This is because of a poem written by Henry Wadsworth Longfellow 40 years after Paul Revere’s death, which opens with:

Thế thì, làm sao mà Paul Revere được gán là nhân vật "Kỵ sỹ nửa đêm" và với ấn tượng rằng ông là kỵ sỹ duy nhất và thực sự hoàn thành chuyến đi? Đó là do một bài thơ được viết bởi Henry Wadsworth Longfellow 40 năm sau cái chết của Paul Revere, mà mở đầu với:

Listen, my children, and you shall hear

Of the midnight ride of Paul Revere,

On the eighteenth of April, in Seventy-Five;

Hardly a man is now alive

Who remembers that famous day and year?

Lắng nghe, các em ơi, rồi em sẽ rõ

Chuyến đi lúc nửa đêm của Paul Revere,

Ngày mười tám, tháng Tư năm bảy lăm;

Hầu như không một ai bây giờ còn sống

Còn nhớ ngày tháng năm nổi tiếng đó?

This poem was memorised by American schoolchildren all over America and eventually immortalised Paul Revere, culminating in that statue in Boston 122 years after his death.

Bài thơ này được các học sinh Mỹ trên toàn nước Mỹ thuộc nằm lòng và cuối cùng làm cho Paul Revere trở thành bất tử, lên tới đỉnh điểm trong bức tượng tạc ở Boston 122 năm sau khi ông mất.

Paul Revere started his military career as a Major of the Infantry and was later promoted to Lieutenant Colonel of the Artillery. He was involved in the Penobscot Expedition, which ended in disaster and is said to be the worst American defeat in the war against the British.

Paul Revere bắt đầu binh nghiệp với cấp bực thiếu tá bộ binh và sau đó được thăng trung tá pháo binh. Ông tham gia chiến dịch Penobscot, mà đã kết thúc trong thảm họa và được cho là thất bại tồi tệ nhất của người Mỹ trong cuộc chiến chống lại người Anh.

Paul Revere was alleged to have demonstrated cowardice when he led a retreat and deserted the American forces, which were utterly destroyed by the British. Paul Revere's rather undistinguished military career ended with the failed Penobscot Expedition.

Paul Revere bị cáo buộc là đã tỏ ra hèn nhát khi ông dẫn đầu một cuộc triệt thoái và bỏ mặc các lực lượng Mỹ, mà đã hoàn toàn bị người Anh tiêu diệt. Cuộc đời binh nghiệp không mấy tăm tiếng của Paul Revere đã kết thúc với chiến dịch Penobscot thảm bại.

After his return he was accused of having disobeyed the orders of one of his commanding officers and dismissed from the militia. Paul Revere was later cleared of the charges by a court martial.

Sau khi trở về, ông bị buộc tội bất tuân lệnh của một trong những sĩ quan chỉ huy của mình, bãi nhiệm khỏi lực lượng dân quân. Paul Revere sau đó được miễn trừ buộc tội bởi một tòa án quân sự.

Because of Longfellow’s poem, the Paul Revere myth lives on while the truth is forgotten. And what American schoolchildren remember is his famous ‘Midnight Ride’ and not the desertion and failure to obey orders and the court martial that followed (which exonerated him but does not change the facts of history).

Bởi vì bài thơ của Longfellow, huyền thoại Paul Revere sống lại sau khi đã thật sự bị lãng quên. Và những gì học sinh Mỹ nhớ là "Chuyến cưỡi ngựa nửa đêm" nổi tiếng của ông và không có đào ngũ và không chấp hành mệnh lệnh và tòa án quân sự sau đó (mà đã minh oan cho ông nhưng không thay đổi sự thật của lịch sử).

The problem is Paul Revere was unruly and defiant and very quarrelsome. He wanted to be the man in charge and not take orders from his superiors, with whom there was a lot of bad blood. So he refused to attack the British and instead retreated, giving the British their most successful victory of the entire campaign.

Vấn đề là Paul Revere là người ngang tàng và bướng bỉnh và rất hay tranh cãi. Ông muốn làm người chỉ huy và không muốn nghe lệnh từ những cấp trên của mình, mà vốn có nhiều ác ý. Vì vậy, ông đã từ chối tấn công người Anh và thay vào đó đã rút lui, khiến cho người Anh giành chiến thắng vang dội nhất trong toàn bộ chiến dịch.

For all intents and purposes, the British were winning the war and America would have remained a British colony if not for one fact. And that one fact is the French declared war on England because they thought the British were bogged down in America and would not be able to defend their more lucrative colonies in other parts of the world.

Với tất cả ý nghĩa và mục đích, người Anh đã chiến thắng trong chiến tranh và Mỹ sẽ vẫn là một thuộc địa của Anh nếu không phải vì một sự kiện. Và sự kiện đó là nước Pháp tuyên chiến với nước Anh vì họ nghĩ rằng người Anh đã bị sa lầy ở Mỹ và sẽ không thể bảo vệ các thuộc địa hấp dẫn hơn của họ ở các nơi khác của thế giới.

The British decided that from an economic point of view the other colonies should be defended first (they were bringing in more money). So the British withdrew from America and sent their army and navy to fight the French elsewhere.

Từ quan điểm kinh tế, người Anh đã quyết định rằng các thuộc địa khác cần được bảo vệ đầu tiên (mang lại nhiều tiền hơn). Vì vậy, người Anh rút khỏi Mỹ và gửi quân đội và hải quân của họ để chống lại người Pháp ở những nơi khác.

So it was not the American ‘Patriots’ who made the birth of America possible. It was the French. In fact, the French played a crucial role in the American War of Independence, as did the native-Americans who fought alongside the Americans against the British. Left to the Americans, it was disaster after disaster.

Vì vậy, không phải là “những người Mỹ yêu nước” đã làm cho sự ra đời của nước Mỹ trở nên có thể. Mà đó chính là người Pháp. Trong thực tế, người Pháp đã đóng một hết sức vai trò quan trọng trong Chiến tranh giành Độc lập Hoa Kỳ, cũng như thổ dân châu Mỹ đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ chống lại người Anh. Chỉ để một mình người Mỹ, thì chỉ có thàm hại này tới thảm họa khác.

George Washington, the first President of the United States, was actually a very bad general. While the Americans referred to him as ‘General Washington’ the British refused to acknowledge him as a general and addressed him as ‘Mister Washington’.

George Washington, Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, thực sự là một tướng tồi. Trong khi người Mỹ gọi ông là " Đại tướng Washington, người Anh đã từ chối thừa nhận ông là một vị tướng và gọi ông là "Ông Washington.”



The British refused to recognise Washington as a General because of his dismal track record on the battlefield.

Người Anh đã từ chối công nhận Washington như một vị tướng vì thành tích ghi nhận quá ảm đạm của ông trên chiến trường.

So, as I am trying to demonstrate above, history laced with myths, legends and cleverly written poems have a way of creating ‘Patriots’. Those who are ‘Patriots’ today could actually have been traitors or bungling fools in their days.

Vì vậy, khi tôi đang cố gắng để minh chứng những điều trên, lịch sử được thêu dệt với huyền thoại, truyền thuyết và những bài thơ viết khéo léo đã tìm cách tạo ra 'những người yêu nước'. Những 'yêu nước' ngày hôm nay có thể thực sự đã là những kẻ phản bội, hay kẻ ngu ngốc cẩu thả trong thời của họ.

And is this not true of a Malay patriot called Tok Janggut? Today, he is a patriot. But back in his days he was a traitor who rebelled against the Sultan of Kelantan. Tok Janggut was arrested and put to death and his body hung upside down along the banks of the Kelantan River and left to rot.

Và liệu điều này có đúng không với một người yêu nước Mã Lai có tên là Tok Janggut? Hôm nay, ông là một người yêu nước. Nhưng trở lại trong ngày của mình, ông là một kẻ phản bội đã nổi loạn chống lại vua Kelantan. Janggut Tok đã bị bắt và bị giết chết và cơ thể của ông bị treo ngược xuống dọc theo bờ sông Kelantan và được để cho thối rửa.

And what was Tok Janggut’s crime? He rebelled against the British and wanted independence for Kelantan. And for that the Sultan had him killed and refused to allow him a decent burial. In short, he had committed treason and was not a patriot.

Và tội danh của Tok Janggut là gì? Ông đã nổi dậy chống lại người Anh và mong muốn độc lập cho Kelantan. Và vì điều đó Quốc vương đã giết ông và từ chối để ông được an táng xứng đáng. Nói ngắn gọn, ông đã phạm tội phản quốc và không phải là một người yêu nước.

And with that we end your history lesson for today -Traitor one day and Patriot the next, or vice versa.

Và với điều đó, chúng tôi kết thúc bài học lịch sử của bạn cho ngày hôm nay - Kẻ phản bội ngày này là người yêu nước hôm sau, hoặc ngược lại.


source:http://malaysia-today.net/mtcolumns/no-holds-barred/37939-patriotism-is-a-matter-of-date

Patriotism is growing - Có phải lòng yêu nước đang dâng


Patriotism is growing


CHARLOTTE MCPHERSON
c.mcpherson@todayszaman.com



This past weekend was a national holiday for Canada and the United States. Do you ever wonder if patriotism is growing or not? Is there a difference between patriotism and nationalism? When I was a child growing up in Texas and the South, “patriotism” to me meant those who treasured the liberties and heritage of the homeland.

Cuối tuần vừa qua là ngày lễ quốc khánh của Canada và Hoa Kỳ. Bạn có bao giờ tự hỏi liệu lòng yêu nước đang dâng hay không? Có một sự khác biệt giữa lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc? Khi tôi là một đứa trẻ lớn lên ở Texas và miền Nam, "lòng yêu nước" đối với tôi có nghĩa là những người trân trọng các quyền tự do và di sản của quê hương.
I came across some interesting statistics on patriotism between 1990 and 1992. A World Values Survey of nations measured the degree of patriotism in various countries on a scale of one to four, with four being the strongest degree. At that time the United States led the pack with a rating of 3.74, followed by Ireland with a rating of 3.73. The next nations in line were India (3.67), South Africa (3.55), Canada (3.53), Spain (3.46), the United Kingdom (3.38), Denmark (3.27), Italy (3.25), Sweden (3.22), France (3.18) and Germany with a rating of only 2.75. The average patriotism rating was a 3.26.
Tôi điểm qua một số thống kê thú vị về lòng yêu nước từ năm 1990 và 1992. Một khảo sát giá trị ở nhiều quốc gia nhằm định lượng mức độ của lòng yêu nước ở các nước khác nhau trên thang điểm từ 1-4, với bốn là mức độ mạnh mẽ nhất. Vào thời điểm đó Hoa Kỳ dẫn đầu các nước với một điểm số là 3,74, tiếp theo là Ireland với 3,73. Các quốc gia tiếp theo trong bảng xếp hạng là Ấn Độ (3,67), Nam Phi (3,55), Canada (3,53), Tây Ban Nha (3,46), Anh (3,38), Đan Mạch (3,27), Italy (3,25), Thụy Điển (3.22), Pháp (3,18) và Đức với điểm số chỉ có 2,75. Điểm số lòng yêu nước trung bình là 3,26.
The results of a subsequent survey conducted between 1995 and 1997 indicated some new nations had been added, and some of those in the earlier survey had lower ratings the second time round. The United States rated 3.92; Venezuela rated 3.73 and Canada remained the same while Germany dropped to 1.37. As I read this information I wondered about Turkey. From my observations, Turks tend to be very nationalistic. What do you think?
Kết quả của một cuộc khảo sát tiếp theo được thực hiện từ năm 1995 và 1997 cho thấy một số quốc gia mới đã được thêm vào, và một số những nước được điều tra trước đó có thứ hạng thấp hơn lần thứ hai. Hoa Kỳ có điểm số 3,92; Venezuela 3,73 và Canada vẫn giữ nguyên, trong khi Đức giảm xuống đến 1,37. Khi tôi đã đọc thông tin này, tôi tự hỏi về Thổ Nhĩ Kỳ. Từ quan sát của tôi, người Thổ Nhĩ Kỳ có xu hướng rất dân tộc chủ nghĩa. Bạn nghĩ sao?

When I visited some Canadian friends a few years ago on the Fourth of July, unlike their neighbors to the South -- those in the United States, most of the Canadians I spoke with did not have any special celebrations planned, but they were appreciative for the long weekend to enjoy the beautiful countryside and lakes. Meanwhile, just across the border Americans were planning their celebrations for the national holiday and barbeques. Across the country you could go to special programs and watch fireworks and be entertained and have a good time. Many would even be wearing T-shirts and shorts with the American flag on it and silly red, white and blue-colored hats, etc.
Khi tôi đến thăm một số bạn bè Canada một vài năm trước đây vào ngày 4 tháng 7, không giống như nước láng giềng của họ ở miền Nam - những người Hoa Kỳ, hầu hết những người Canada tôi đã trò chuyện đều không có bất kỳ kế hoạch kỷ niệm đặc biệt nào, nhưng họ đã đánh giá cao kỳ nghĩ cuối tuần dài để tận hưởng những vùng quê và hồ nước xinh đẹp. Trong khi đó, chỉ cần qua bên kia biên giới thì đã thấy người Mỹ lập kế hoạch lễ kỷ niệm ngày lễ quốc gia và tiệc barbeques. Trên khắp đất nước, bạn có thể tham gia những chương trình đặc biệt và xem pháo hoa và được giải trí và có một thời gian vui vẻ. Nhiều người thậm chí mặc T-shirt và quần soóc in cờ Mỹ trên đó và những chiếc mũ ba màu đỏ, trắng và xanh lố lăng, vv.

Not all nations allow the flag to be worn as clothing. In Turkey, it is an offense to wear a garment made out of the Turkish flag. A well-loved Turkish TV presenter outraged the Turkish national press a while back by kicking a balloon that had the crescent and star on it during a program celebrating Republic Day. It is a serious insult to make jokes about the national anthem, the flag or Atatürk. If you are new to Turkey, you will notice Turks may be very critical of their own nation or government, but they do not like it if you agree with them or make negative statements of your own.
Không phải tất cả các quốc gia đều cho phép lá cờ được mặc như quần áo. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, mặc y phục làm từ lá cờ Thổ Nhĩ Kỳ là một hành vi phạm tội. Một người dẫn chương trình truyền hình Thổ Nhĩ Kỳ được yêu thích cũng bị báo chí quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ phẫn nộ khi anh đá một quả bóng có hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao trên nó trong một chương trình kỷ niệm ngày Cộng hòa. Làm trò cười về quốc ca, quốc kỳ (Ataturk) là một sự xúc phạm nghiêm trọng. Nếu bạn là người mới đến Thổ Nhĩ Kỳ, bạn sẽ thấy người Thổ rất hay chỉ trích quốc gia và chính phủ họ, nhưng họ không thích nếu bạn đồng ý với họ hoặc có những phát biểu tiêu cực của riêng bạn.

I thought I would do a little simple research myself this past week to find out how people feel about America. My research really just involved informally asking Americans one question -- which was to hear what they like about America. The results were interesting in that the most common reply given was “I’ll take America any day.” Some people expressed regret for some of America’s past mistakes involving injustices towards American Indians and Blacks, but they were still glad to be American.
Tôi nghĩ tự tôi sẽ làm một nghiên cứu đơn giản trong tuần vừa qua để tìm hiểu cách thức mọi người cảm nhận về nước Mỹ. Nghiên cứu của tôi thực sự chỉ bao gồm hỏi người Mỹ một cách than mật một câu hỏi để được nghe họ nói những gì họ thích về nước Mỹ. Các kết quả thú vị ở chỗ câu trả lời phổ biến nhất là "Tôi sẽ chọn nước Mỹ bất kỳ ngày nào." Một số người bày tỏ sự hối tiếc cho một số những sai lầm quá khứ của Mỹ liên quan đến những bất công đối với người da đỏ và người da đen, nhưng họ vẫn vui mừng được làm người Mỹ.

It is all a matter of perspective. For example, although nearly every American thinks that gasoline is expensive, when I share with them the price in Turkey they are shocked and quickly perk up about what they are paying and state they are glad to be American.

Tất cả điều đó là vấn đề quan điểm. Ví dụ, mặc dù gần như tất cả người Mỹ đều nghĩ xăng đắt, khi tôi chia sẻ với họ giá ở Thổ Nhĩ Kỳ thì họ bị sốc và nhanh chóng phấn khởi về cái giá mà họ đang trả tiền và nói họ rất vui mừng được làm người Mỹ.
Let me just share a few other comments that people expressed about what they like about America:
Hãy để tôi chia sẻ một vài ý kiến ​​khác mà mọi người bày tỏ về những gì họ thích về nước Mỹ:
“Even though we have had setbacks and are experiencing high unemployment, when I go to the grocery store the shelves are stocked, and I remember that many in the world go without, but I can find what I need.”
"Mặc dù chúng tôi đã có những trở ngại và đang trải qua thất nghiệp cao, khi tôi đi đến các cửa hàng tạp hóa các kệ chất hàng, thì tôi nhớ ra rằng nhiều người trên thế giới không có gì để mua, nhưng tôi có thể tìm thấy những gì tôi cần."

“America is still the land of the free and a land of opportunity. In many countries the ruling elite own the most lucrative industries and are very wealthy and the poor wallow in poverty.”
"Nước Mỹ vẫn là mảnh đất của tự do và cơ hội. Ở nhiều nước, các tầng lớp cầm quyền chiếm hữu các ngành công nghiệp sinh lợi nhất và rất giàu có còn người nghèo chìm trong cảnh nghèo đói. "

“I believe when there is a temporary abuse of power in America, the constitution eventually wins over it. Not so in some countries.” Not every nation is as patriotic as some others but one thing is for sure -- all citizens usually have the same idea for celebrating: The majority of Americans and Canadians were at parks, lakes and the seaside this past weekend having a barbecue.
Share with us how patriotic your home country is or what your plans are for Aug. 30 -- Victory Day?
"Tôi tin rằng khi có lạm dụng quyền lực tạm thời ở Mỹ, hiến pháp cuối cùng sẽ chiến thắng lạm quyền. Ở một số nước không được thế." Không phải mọi quốc gia đều yêu nước như các quốc gia khác nhưng có một điều chắc chắn là tất cả các công dân thường có cùng một ý tưởng để ăn mừng: Phần lớn người Mỹ và Canada tụ tập tại các công viên, hồ nước và bãi biển vào cuối tuần vừa rồi với món thịt nướng. 


Chia sẻ với chúng tôi người dân nước bạn yêu nước như thế nào hoặc bạn có kế hoạch gì dành cho ngày 30 tháng 8 - Ngày Chiến thắng?


Translated by nguyenquang

http://www.todayszaman.com/columnist-249513-patriotism-is-growing.html