MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Showing posts with label SHORT STORY. Show all posts
Showing posts with label SHORT STORY. Show all posts

Saturday, June 13, 2020

THE STORY OF MIMI-NASHI-HÔÏCHI - TRUYỆN CHÀNG HÔICHI CỤT TAI - Lafcadio Hearn

THE STORY OF MIMI-NASHI-HÔÏCHI
By Lafcadio Hearn
From Kwaidan,
March 25, 1904

TRUYN CHÀNG HÔICHI CT TAI
Lafcadio Hearn
Trong Truyện Kinh Dị
25/3/1904


MORE THAN SEVEN HUNDRED YEARS AGO, at Dan-no-ura, in the straits of Shimonoséki, was fought the last battle of the long contest between the Heiké, or Taira clan, and the Genji, or Minamoto clan. There the Heiké perished utterly, with their women and children, and their infant emperor likewise--now remembered as Antoku Tennô. And that sea and shore have been haunted for seven hundred years Elsewhere I told you about the strange crabs found there, called Heiké crabs, which have human faces on their backs, and are said to be the spirits of Heiké warriors. But there are many strange things to be seen and heard along that coast. On dark nights thousands of ghostly fires hover about the beach, or flit above the waves--pale lights which the fishermen call Oni-bi, or demon-fires; and, whenever the winds are up, a sound of great shouting comes from that sea, like a clamor of battle.

Cách đây hơn bảy trăm năm, vùng Dan no Ura ngang eo biển Shimonoseki là nơi xảy ra trận quyết chiến giữa hai giòng họ Minamoto và Taira. Ở Dan no Ura, một nhà Taira từ đàn bà con nít đến cả vị ấu chúa mà ngày nay người ta còn nhớ đến qua cái tên Thiên Hoàng Antoku (An Đức) đều bị tuyệt diệt. Từ đó đến nay bao nhiêu nước đã chảy qua cầu mà một vùng biển Dan no Ura vẫn còn xì xào về những chuyện kinh dị về hồn ma vất vưởng của dòng họ Taira. Đừng nói chi đến những con cua Heike (một tên khác của Taira) trên lưng mang hình mặt người như muốn giữ lại dấu tích oán hờn của các chiến sĩ Taira, (lũ cua mà người kể truyện đã có lần nhắc đến trong một tác phẩm khác), trên một vùng biển đó, người ta đã nghe, đã thấy bao nhiêu là sự kiện kỳ quái. Ví dụ cái cảnh hàng nghìn ánh lửa ma trơi không biết đâu ra, lướt trên ngọn sóng trong những đêm tối đen. Dân chài thường gọi đó là "quỉ hỏa", loại ánh sáng xanh lè lạnh lẽo. Nào đã thôi đâu, những ngày gió lớn, lúc đó từ ngoài khơi lại vọng về những tiếng thét gào cuồng nộ như âm thanh sát phạt trên bãi chiến trường.

Wednesday, May 27, 2020

ШУТОЧКА Антон Чехов Một chuyện đùa nho nhỏ Anton Chekhov A Little Joke


ШУТОЧКА
Антон Чехов
Một chuyện đùa nho nhỏ
Anton Chekhov

A Little Joke
By Anton Chekhov
Ясный, зимний полдень... Мороз крепок, трещит, и у Наденьки, которая держит меня под руку, покрываются серебристым инеем кудри на висках и пушок над верхней губой. Мы стоим на высокой горе. От наших ног до самой земли тянется покатая плоскость, в которую солнце глядится, как в зеркало. Возле нас маленькие санки, обитые ярко-красным сукном.

Một buổi trưa mùa đông trong sáng… Trời giá lạnh, rét cóng. Nađia khoác tay tôi. Những hạt bụi tuyết nhỏ trắng xóa bám lên mấy món tóc xoắn vòng rủ hai bên thái dương nàng, lên hàng lông tơ mịn phía bên trên môi. Nàng và tôi đứng trên một ngọn đồi cao. Từ chỗ chúng tôi đứng, sườn đồi đổ dài thoai thoải xuống lấp loáng dưới ánh nắng, như một tấm gương. Bên cạnh chúng tôi là một chiếc xe trượt tuyết nhỏ bọc một lớp dạ màu đỏ tươi.


IT was noon of a bright winter's day. The air was crisp with frost, and Nadia, who was walking beside me, found her curls and the delicate down on her upper lip silvered with her own breath. We stood at the summit of a high hill. The ground fell away at our feet in a steep incline which reflected the sun s rays like a mirror. Near us lay a little sled brightly upholstered with red.

Saturday, June 10, 2017

Madame Hermet Bà Ec-mê



Madame Hermet

Bà Ec-mê

Guy de Maupassant

Guy de Maupassant

Crazy people attract me. They live in a mysterious land of weird dreams, in that impenetrable cloud of dementia where all that they have witnessed in their previous life, all they have loved, is reproduced for them in an imaginary existence, outside of all laws that govern the things of this life and control human thought.

Những người điên thường hấp dẫn tôi. Những kẻ do sống trong thế giới bí ẩn của những giấc mơ kỳ quặc, trong áng mây mù dày đặc của sự rồi dại, tại nơi đây, mọi thứ họ đã thấy trên đời, mọi cái họ đã yêu quý, mọi người họ đã làm tái diễn trong một cuộc sống tưởng tượng, vượt ra ngoài mọi quy luật điều khiển sự vật và chi phối tư duy con người.

Sunday, June 4, 2017

A WHITE HERON CON CÒ TRẮNG



A WHITE HERON

CON CÒ TRẮNG

Sarah Orne Jewett

Sarah Orne Jewett

I.   
The woods were already filled with shadows one June evening, just before eight o'clock, though a bright sunset still glimmered faintly among the trunks of the trees. A little girl was driving home her cow, a plodding, dilatory, provoking creature in her behavior, but a valued companion for all that. They were going away from whatever light there was, and striking deep into the woods, but their feet were familiar with the path, and it was no matter whether their eyes could see it or not.

I.
Một buổi chiều muộn tháng sáu, lúc chưa tới tám giờ, cả khu rừng như tràn ngập những bóng đen dù đâu đó vẫn còn những tia nắng mặt trời yếu ớt lách qua những tàng cây. Một bé gái đang trên đường về nhà với con bò cái, thứ sinh vật có kiểu hành xử chậm lụt, chây lười đến phiền toái nhưng lại chính là bạn đồng hành quý giá. Cả hai bước đi, càng lúc càng xa khỏi vùng có ánh sáng, và càng dấn sâu vào trong rừng hơn, nhưng bước chân chúng đã quá quen với đường đi, nên dù mắt có không nhìn thấy cũng chẳng hề chi.

Monday, November 28, 2016

THE SELFISH GIANT GÃ KHỔNG LỒ ÍCH KỶ

THE SELFISH GIANT

GÃ KHỔNG LỒ ÍCH KỶ

Oscar Wilde

Oscar Wilde



Oscar Fingal O’Flahertie Wills Wilde (16 October 1854 – 30 November 1900) was an Irish writer, poet, and prominent aesthete. He became one of the most successful playwrights of the late Victorian era in London with a series of social satires which continue to be performed, especially his masterpiece The Importance of Being Earnest. Oscar Wilde’s fairy tales have been dramatized, made into films, ballets, plays and adapted for radio. The Selfish Giant is a multi-layered short story that will appeal to both children and adults because of the depth of its meaning. For young children it can be read literally about a giant who is mean and whose garden refuses to grow. For older readers the religious symbolism can also be reflected upon as discussing themes such as selfishness and forgiveness. The meaning of the wall around the garden, symbolic of people shutting each other out can also be debated upon.

Oscar Fingal O'Flahertie Wills Wilde (sinh ngày 16 Tháng 10 năm 1854 – mất ngày 30 tháng 11 năm 1900) là một nhà văn, nhà thơ và người mỹ học nổi tiếng của Ailen. Ông trở thành một trong những nhà viết kịch thành công nhất cuối thời Victoria ở London với một loạt các vở kịch châm biếm xã hội liên tục được công diễn, đặc biệt là kiệt tác Tầm quan trọng của Chân thành. Các câu chuyện của Oscar Wilde đã được dựng thành phim, vũ ballet, kịch và chuyển thể cho chương trình phát thanh. Gã khổng lồ ích kỷ là một truyện ngắn nhiều tầng lớp hấp dẫn cả trẻ em lẫn người lớn vì độ sâu ý nghĩa của nó. Đối với trẻ nhỏ có thể đọc theo nghĩa đen về một người khổng lồ keo kiệt có khu vườn không chịu mọc. Đối với độc giả lớn tuổi các biểu tượng tôn giáo cũng có thể được phản ánh vào các chủ đề thảo luận như sự ích kỷ và sự tha thứ. Ý nghĩa của các bức tường vây quanh khu vườn, biểu tượng của người sống khép kín với người khác cũng có thể được thảo luận.

PAPA PANOV’S SPECIAL CHRISTMAS GIÁNG SINH ĐẶC BIỆT CỦA GÌA PANOV

PAPA PANOV’S SPECIAL CHRISTMAS

GIÁNG SINH ĐẶC BIỆT CỦA GÌA PANOV
Leo Tolstoy

Lev Tolstoy
Leo Tolstoy, or Count Lev Nikolayevich Tolstoy (September 9 1828 – November 20 1910), was a Russian writer widely regarded as among the greatest of novelists. Tolstoy’s further talents as essayist, dramatist, and educational reformer made him the most influential member of the aristocratic Tolstoy family. Papa Panov’s Special Christmas was originally written in French by Ruben Saillens, and then translated into English by Tolstoy. This is a very thoughtful story, based on the Bible text ‘I was hungry and you gave me food, I was thirsty and you gave me water’ which Jesus used to make us understand how we should serve him by serving each other. The story of Papa Panov is an excellent way to introduce young children to the principles of kindness.

Leo Tolstoy, hay Bá tước Lev Nikolayevich Tolstoy (sinh ngày 09 tháng 9 1828 – mất ngày 20 tháng 11 1910), là một nhà văn người Nga coi là một trong những tiểu thuyết gia vỹ đại nhất. Tolstoy còn có các tài năng khác như viết tiểu luận, kịch, và cải cách giáo dục khiến ông trở thành thành viên có ảnh hưởng nhất trong giòng họ Tolstoy quý tộc. Giáng sinh Đặc biệt của Già Panov ban đầu được Ruben Saillens viết bằng tiếng Pháp, sau đó được Tolstoy dịch sang tiếng Anh. Đây là một câu chuyện sâu sắc, dựa trên câu văn trong Kinh Thánh 'Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho ta uống' mà Chúa Giêsu đã sử dụng để làm dạy chúng ta hiểu rằng cách chúng ta sẽ phụng vụ Người chính làh phục vụ lẫn nhau. Câu chuyện của Già Panov là một câu chuyện tuyệt vời để giới thiệu cho trẻ em các nguyên tắc của lòng tử tế.

Thursday, September 15, 2016

SYMBOLS AND SIGNS BIỂU TƯỜNG VÀ DẤU HIỆU



SYMBOLS AND SIGNS

BIỂU TƯỢNG VÀ DẤU HIỆU
By Vladimir Nabokov

Vladimir Nabokov
For the fourth time in as many years, they were confronted with the problem of what birthday present to take to a young man who was incurably deranged in his mind. Desires he had none. Man-made objects were to him either hives of evil, vibrant with a malignant activity that he alone could perceive, or gross comforts for which no use could be found in his abstract world. After eliminating a number of articles that might offend him or frighten him (anything in the gadget line, for instance, was taboo), his parents chose a dainty and innocent trifle—a basket with ten different fruit jellies in ten little jars.

Đây là lần thứ tư sau cũng ngần ấy năm họ đối mặt với vấn đề: nên mang món quà sinh nhật nào cho chàng trai trẻ đang mắc căn bệnh loạn trí kinh niên.Cậu chẳng có ham muốn nào. Với cậu thì những vật thể do con người tạo ra hoặc là những tổ ong quái ác, bần bật rung cùng một thứ xung động hiểm độc mà cậu không thể nào đơn côi lĩnh hội được, hoặc là những thứ tiện nghi thô thiển mà cậu không biết sử dụng vào đâu trong thế giới trừu tượng của mình. Sau khi bỏ qua vài vật phẩm có thể làm cậu khó chịu hoặc sợ hãi (chẳng hạn bất cứ thứ gì có thể dùng làm dụng cụ cũng bị cấm), bố mẹ cậu chọn món quà vặt vô hại và ngon lành: một giỏ đựng mười loại mứt trái cây khác nhau trong mười cái lọ nhỏ.

Sunday, July 24, 2016

THE PERFECT WOMAN NGƯỜI PHỤ NỮ HOÀN HẢO



THE PERFECT WOMAN

NGƯỜI PHỤ NỮ HOÀN HẢO
You know how it is when men get together. They talk about impossible dreams: ‘If I won the lottery, I would. . .‘, ‘If I had plenty of money, I would.. .‘ Well, I was just like all the other men who used to sit in the coffee house talking nonsense. But I never told anyone about my dream. I was afraid they would laugh if they knew. And then, believe it or not, one day I found that I was indeed rich. My aunt Camilla died and left everything to me. She had some valuable paintings. I sold them, and set off round the world in search of... the perfect woman. You see, I had always wanted to get married but I had never been able to find a woman that I really loved. I decided that it was better not to make do with second best, but to wait and hope that one day I would meet the woman of my dreams.

Bạn biết bọn đàn ông thường làm gị khi họ tụ tập lại với nhau. Họ nói về những giấc mơ không bao giờ có: ‘Nếu tôi trúng số, tôi sẽ‘, Nếu tôi có nhiều tiền, tôi sẽ...Vâng, tôi đã từng giống như tất cả những người đàn ông khác, những người từng ngồi lì trong quán cà phê tán chuyện. Nhưng tôi không bao giờ nói với ai về giấc mơ của tôi. Tôi sợ họ sẽ cười nếu họ biết. Thế rồi, tin hay không tùy bạn, một hôm tôi thấy mình đã thực sự giàu có. Dì tôi Camilla qua đời và để lại tất cả mọi thứ cho tôi. có một số bức tranh có giá trị. Tôi bán chúng, và lên đường đi vòng quanh thế giới để tìm kiếm... người phụ nữ hoàn hảo. Bạn thấy đấy, tôi đã rắp tâm muốn lấy vợ nhưng tôi chưa bao giờ tìm ra được một người phụ nữ mà tôi thực sự yêu thương. Tôi quyết định rằng tốt hơn không nên lấy một người gần hoàn hảo, hãy chờ đợi và hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ gặp được người phụ nữ trong mộng của mình.

CABBAGE WHITE BƯỚM BẮP CẢI



CABBAGE WHITE

BƯỚM BẮP CẢI


‘So you’re looking for work, And who are you?’
‘I’m Sarah. I’m twelve. This is my brother Jamie; he’s eleven.’
‘Shouldn’t you be at school?’
‘We’re on holiday. And we would like to earn some money.’ The man lifted his hat and scratched his bald head. ‘All right. Let’s see. Do you know what a Cabbage White is?
‘It is a beautiful white butterfly that lays its eggs on cabbages. And those eggs change into caterpillars. And do you know what the caterpillars do?’

Rứa thì hai cháu đang tìm việc làm à, hai cháu tên chi? '
'Cháu là Sarah. Cháu mười hai tuổi. Đây là em trai cháu, Jamie; nó mười một tuổi.’
'Rứa không đi học à?
Dạ cháu đang kỳ nghỉ. Và chúng cháu muốn kiếm ít tiền. ‘Người đàn ông cởira và gãi cái đầu hói của mình. 'Thôi được. Thử coi răng. Hai đứa có biết bướm bắp cải chi không?
Dạ đó là một loại bướm trắng đẹp, đẻ trứng trên cải bắp. Rồi trứng biến thành sâu bướm. Rứa em có biết sâu bướm mần chi không?

Sunday, January 26, 2014

ПРОПАЛА СОВЕСТЬ MẤT LƯƠNG TÂM





ПРОПАЛА СОВЕСТЬ

MẤT LƯƠNG TÂM

Михаил Салтыков-Щедрин
Mikhail. Santycov  Sedrin


    Пропала совесть. По-старому толпились люди на улицах и в театрах; по-старому они то догоняли, то перегоняли друг друга; по-старому суетились и ловили на лету куски, и никто не догадывался, что чего-то вдруг стало недоставать и что в общем жизненном оркестре перестала играть какая-то дудка. Многие начали даже чувствовать себя бодрее и свободнее. Легче сделался ход человека: ловчее стало подставлять ближнему ногу, удобнее льстить, пресмыкаться, обманывать, наушничать и клеветать. Всякую болесть вдруг как рукой сняло; люди не шли, а как будто неслись; ничто не огорчало их, ничто не заставляло задуматься; и настоящее, и будущее -- все, казалось, так и отдавалось им в руки, -- им, счастливцам, не заметившим о пропаже совести.

          Lương tâm biến mất. Dân tình vẫn tụ họp trên phố, trong nhà hát, vẫn chạy đuổi và chen vượt nhau, vẫn chạy ngược chạy xuôi, giành giật miếng ăn, và không ai nhận ra rằng đã vắng mất một cái gì, như trong dàn nhạc cuộc đời có cây sáo đã ngừng chơi. Nhiều kẻ còn thấy như tự do hơn, khoan khoái hơn. Người ta dễ gây thủ đoạn hơn, dễ hại ngầm, lường gạt, nịnh bợ, đặt điều vu khống nhau hơn. Bỗng như xảy ra một phép màu nhiệm, những dằn vặt đau đớn được rũ bỏ, người ta không còn đi, mà phóng chạy như bay; không có gì khiến phiền muộn, không gì bắt nghĩ ngợi; cả hiện tại, cả tương lai đều như đã nắm chắc trong tay. Người ta trở thành những kẻ sung sướng, không nhận ra lương tâm đã biến mất.

Friday, May 18, 2012

Bông hồng chưa tặng A rose for Le Trinh




Bông hồng chưa tặng

A rose for Le Trinh
Truyen ngan
Thai Ba Tan
A short story
by Thai Ba Tan

Tám giờ kém mười. Lần nữa chuông rung dài phía trong Nhà Hát Lớn. Mấy người đến muộn đang vội vã leo lên các bậc đá lát để đi qua chiếc cửa sắt nhỏ có bà soát vé to béo đứng cạnh, vừa xé vé vừa giục họ nhanh lên vì buổi diễn sắp bắt đầu. Ðúng tám giờ, chiếc cửa sắt bị khóa. Bà kia lui sang bên, lơ đãng nhìn ra ngoài.


It was ten to eight and the curtain bell was ringing inside the Municipal Theatre. The latecomers were coming by in a rush, climbing the stone steps to the iron door where a fat lady usher stood, urging everyone to go inside. At eight sharp, the iron door slammed shut. The usher stepped aside and cast a faraway vacant look into the night.

Cuối cùng, trước nhà hát chẳng còn ai ngoài mấy người bán hàng rong, một thanh niên mặc quần áo bộ đội vẫn ngồi trên yên xe đạp, chân chống xuống đất, một cô gái trẻ mặc áo khoác màu sáng luôn nhìn đồng hồ, đi lại vẻ sốt ruột, và tôi.

There were only a few people left in front of the theatre: some peddlers, a young man in military uniform straddling his bicycle with his feet lightly touching the ground, a young girl in a bright pink jacket walking back and forth, and me.
Tôi không đi lại, không sốt ruột vì chẳng chờ ai, chỉ buồn do không mua được vé vào nghe buổi hòa nhạc của một nghệ sĩ pianô nổi tiếng người Nga mà tôi hâm mộ.
I wasn’t walking back and forth because I wasn’t nervous. And I wasn’t nervous because I wasn’t waiting for anybody. I was just unhappy because I couldn’t afford a ticket to hear a famous Russian pianist, an artist I greatly admired.

Ðang cuối tháng Hai, mới Tết xong và trời còn khá lạnh. Lại thêm chút mưa phùn lất phất, nhỏ thôi, và chỉ nhận thấy qua ánh sáng vàng nhạt của mấy cột đèn gần đó. Anh thanh niên đã đạp xe đi. Cô gái vẫn nấn ná chờ người nhỡ hẹn. Tôi thì đứng ngay dưới cánh cửa sắt vì còn hy vọng biết đâu ai đấy vào phút chót có thể thừa vé nhượng lại.


It was late February, just after Tet, and it was cold and drizzling. The streets were filled with yellow lights. The young man left on his bicycle. The girl lingered, waiting for the man who was supposed to come. I stood by the iron door, hoping for an angel in the form of a music lover to give me one of his extra tickets.

Cô gái không đội mũ. Mái tóc phi-dê cắt ngắn xới phồng với những giọt nước li ti bám phía trên. Tôi ngạc nhiên thấy chúng có màu khác nhau. Tế nhị không nhìn lâu, nhưng khi cô đi ngang tôi cũng kịp nhận thấy một khuôn mặt rất xinh, hơi gầy và thanh thoát, có lẽ nhờ chiếc mũi thẳng và đôi mắt sâu. Một vẻ đẹp cổ điển, sang trọng của người có văn hóa. Mấy lần tôi định nhưng không dám hỏi mua lại một trong hai chiếc vé mà tôi tin chắc nàng đang giữ trong chiếc ví đầm đeo bên hông.

The girl didn’t have a hat on, and the ends of her curly hair were marked by dew-like raindrops, reflecting all different colours in the lights. I didn’t look at her long. I didn’t want to make my interest so obvious. But when she walked past me I saw a pretty, thin white and graceful form. A straight nose and deep eyes. I was absolutely sure she kept two tickets in the handbag she carried by her side, and I asked her for one.

Bất chợt nàng đi lại gần tôi và nói, rất thản nhiên, giản dị:
Anh có muốn đi dạo với em một chốc không?

But she said something I wasn’t expecting.
“Do you want to take a walk with me?”

Lúc ấy tôi mới hai mươi tám tuổi, đã tập tễnh nghề văn và đang yêu. Tôi yêu một ca sĩ, nghiệp dư thôi nhưng đang nổi, ít ra mấy lần đoạt giải các cuộc thi văn nghệ phong trào. Nàng cũng xinh, và chúng tôi yêu nhau thực sự. Có điều, khác hẳn tôi, nàng không thích nhạc cổ điển nên chẳng bao giờ chúng tôi cùng vào Nhà Hát Lớn, mặc dù chiều nàng, tôi luôn có mặt ở những đêm ca nhạc tôi chẳng mấy thích thú.

I was twenty-eight, an amateur writer and an amateur romantic, and I was in love with an amateur singer who was becoming more and more well-known after a string of competitions and concerts. She was pretty too, but there was one thing we did not share. She didn’t like classical music. And so I always went to the Municipal Theatre alone, even though I had to go to all those concerts of hers that I hated.

Cô gái hơi lúng túng khi tôi, vì bối rối chưa biết trả lời thế nào. Tuy nhiên, chi mấy phút sau chúng tôi đã sóng đôi đi dọc theo phố Tràng Tiền rồi vòng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm.

The girl in the pink jacket was a little confused when I had a hard time giving her an answer. But in a few minutes, we were walking side-by-side down Trang Tien Street and around Hoan Kiem Lake.

Thành phố ban đêm thật đẹp và yên tĩnh. Ánh điện hắt lên mặt hồ thành từng vùng tròn như những chiếc trứng tráng trong chảo. Phía nhà Thủy Tạ có mấy ngọn đèn xanh in ngược xuống nước thành những chiếc cọc, tất nhiên cũng màu xanh và run rẩy như muốn gãy khuỵu dưới sức nặng của chiếc quán hai tầng trên đó. Có tiếng kèn xắc-xô-phôn buồn buồn vọng lại, xuyên qua lớp sương mù màu trắng ẩm ướt.
Chúng tôi lặng lẽ đi một đoạn dài không ai nói gì. Cuối cùng tôi lên tiếng:
Chị vừa chờ ai nhưng người ấy không tới?
Em chờ chồng em, nàng đáp, cũng rất tự nhiên. Nhưng không sao, em quen với cảnh này rồi.
Và để trả thù chồng, chị mời tôi, một người lạ đi dạo thế này?

The city was beautiful and quiet. After some moments of silence, I said, “You’re waiting for somebody, but he hasn’t shown up, no?”
“I’m waiting for my husband,” she said. “This happens all the time. It’s no problem. I’m used to this sort of thing.”
“And to get even with your husband, you’ve decided to go for a walk with me, a total stranger.”

Nàng không đáp. Tôi cũng im, lấy làm tiếc đã hỏi điều đáng lẽ không nên hỏi. Tôi thấy lạ trước cách cư xử của nàng. Cứ như ở nước phương Tây nào đó. Rõ ràng nàng không thuộc loại phụ nữ dễ dãi, chưa hẳn đã thích phiêu lưu, vì ở nàng tôi thấy có cái gì đó sạch sẽ và nghiêm túc. Thế thì sao nàng, một người có chồng như đã nói, lại chủ động mời tôi đi dạo? Có ẩn ý gì chăng? Nàng là ai và cần gì ở tôi?

She didn’t say anything. I felt awful for what I had just said and I didn’t say anything either. She was strange, like something out of a work of fiction. She wasn’t easygoing or adventurous. There was something very pure about her, and very serious. Why did this married woman ask me to take a walk with her? Did she want something? Who was she and what did she need from me?

Vì lúc ấy còn trẻ và đang bị trí tò mò kích thích, tôi chẳng băn khoăn nhiều với những câu hỏi như thế, chỉ thấy sung sướng được đi dạo cùng người đẹp trong một đêm Hà Nội mơ mộng.

The truth was I was very happy just to be with her, a beautiful Ha Noi girl. I didn’t spend too much time agonising over any of these questions.

Chúng tôi vào Thủy Tạ ăn kem, những hai suất. Nàng để tôi trả tiền không chút kiểu cách. Rồi chúng tôi thong thả đi thêm một vòng quanh hồ, sau khi quành sang phố Nhà Thờ, phố Hàng Trống và một đoạn phố Hàng Gai. Khi trở lại Nhà Hát Lớn thì vừa đúng mười giờ rưỡi, cũng là lúc buổi diễn kết thúc và lác đác đã có vài người đi ra. Tôi đề nghị được đưa nàng về nhà nhưng nàng lắc đầu.
Nàng chìa bàn tay nhỏ bé của mình cho tôi. Bàn tay mềm và ấm, lần đầu tôi được chạm vào nó.

We dropped by Thuy Ta coffee shop and had ice cream. It was 10.30 when we got back to the theatre. I offered to take her home, but she refused.
Then she held out her hand and I touched it. So small and soft and warm. It was the first time I had touched anything like it.

Anh dễ thương thật đấy. Suốt mấy tiếng đồng hồ không hỏi một câu ngốc nghếch nào. Em thích những người như vậy. Em cũng thích anh. Nếu anh hay đến nhà hát này thì chắc ta còn nhiều dịp gặp nhau. Tam biệt và cảm ơn!

“You’re lovely. All this time together and you haven’t asked me one stupid question. I like people like that. And I like you. If you come to the theatre again, I’m sure we’ll meet. So goodbye and thank you.”

Rồi nàng bỏ đi, đến đứng chếch phía bên phải nhà hát. Lát sau có chiếc ô tô màu đen đi tới đưa nàng đi. Một cô gái kỳ lạ mà lúc ấy tôi chưa biết tên và cô cũng chưa biết tên tôi.

She went and stood at the corner of the theatre and a moment later, a black sedan came by and took her home. She was a strange girl without a name. And I was just a strange man without a name as well.

Không phải tôi không hỏi câu nào. Theo yêu cầu của tôi, nàng nói chồng nàng là một quan chức quan trọng, hơn nàng những hai mươi lăm tuổi. Và rằng nàng đồng ý lấy ông vì bố mẹ bắt thế chứ chẳng vì tình yêu. Tuy nhiên, đó không phải lý do để nàng không quí trọng ông hoặc cảm thấy bất hạnh. Ðơn giản nàng nghĩ một khi đã là vợ chồng thì phải cư xử theo đúng đạo vợ chồng. Xuất thân từ gia đình gia giáo, nàng nghĩ cần phải thế. Chỉ tiếc ông không hiểu và không coi trọng nghề nàng. Tôi hỏi nghề gì, nàng chỉ im lặng mỉm cười. Phần tôi, tôi nói đang yêu và cũng được yêu lại. Một cách xã giao và hơi kỳ cục, chúng tôi chúc nhau hạnh phúc. Ngoài ra không hỏi gì hơn về đời tư mỗi người.

We did talk about some things. She told me her husband was an important government official, twenty-five years her senior. Her parents forced her to marry him. The fact that she didn’t love him didn’t bother her so much as the fact that he made her feel so low. She came from a well-educated family, but her husband didn’t understand her. He didn’t respect her or her work. (I asked her about her job, but she didn’t answer). When we said goodbye, I felt completely in love, even though we hardly knew that much about each other.

Nửa tháng sau tôi lại vào Nhà Hát Lớn, để xem vở ba-lê Giselle do một đạo diễn người Pháp giúp Việt Nam dàn dựng. Và lại gặp nàng. Không phải trước nhà hát mà trên sàn diễn. Hơn thế, trong vai chính, tức là nàng Giselle xinh đẹp phải chịu nhiều đau khổ trước khi tìm được hạnh phúc của mình như ở phần kết hầu hết các vở ba-lê khác.

A week later, I saw a production of Giselle staged by a French director at the Municipal Theatre. And there she was, not in front of the theatre but right on stage, Giselle, a woman who had to suffer so much before she could find happiness.

Xem tờ rơi giới thiệu nội dung, tôi biết tên nàng là Lệ Trinh, một diễn viên trẻ đầy triển vọng của Nhà hát Nhạc, Vũ kịch Trung ương, mới tốt nghiệp trường ba-lê danh tiếng nhất Liên Xô, ở chính thành phố tôi từng học trước đó mấy năm. Với cảm giác ngạc nhiên và hơi chút ít lâng lâng, suốt buổi diễn tôi chỉ ngắm nhìn một mình nàng trong bộ đồ ba-lê trắng mỏng tinh khiết. Cả người nàng cũng trắng mỏng tinh khiết. Nàng thoăn thoắt bước đi trên hai đầu ngón chân bé nhỏ, xen những cú nhảy nhẹ tưởng như không trọng lượng. Nàng đẹp một cách lộng lẫy. Cái đẹp hoàn thiện, thoát tục, đến mức trong tôi chỉ còn lại cảm giác ngưỡng mộ như khi người ta ngưỡng mộ một nữ thần. Thật khó tin mới chỉ mấy ngày trước đó tôi được nữ thần ấy mời đi dạo, thậm chí được chạm tay nàng.


The playbill said her name was Le Trinh. She had graduated from the Soviet Union’s most famous ballet school in the very city I had studied in years before. I was amazed and moved and I kept my eyes close on that magnificent goddess throughout the evening. This woman had actually asked me to go for a walk with her just a few days before and I had actually touched her hand.
Sau buổi diễn, đứng khuất phía xa trước nhà hát, tôi thấy nàng, vẫn chiếc áo khoác hôm nọ, đang cùng một người đàn ông cao to mặc com-lê đen âu yếm dẫn nàng đến chiếc ô tô màu đen đợi sẵn. Chiếc ô tô chở nàng lần trước. Trong vở diễn, nàng được chàng hoàng tử nâng trên đôi tay khỏe mạnh của mình, còn ngoài đời, nâng đỡ nàng là chiếc ô tô của chồng, chức vụ và có lẽ cả đôi tay cũng rất khỏe của ông ta. Tôi thở dài, thầm mỉm cười với sự so sánh ngồ ngộ ấy.

After the performance, I stood out of sight in front of the theatre and I saw her, in the same overcoat, with the same tall man in a black suit taking her to the same black sedan. I could only sigh.

Tôi thờ thẩn bước đi giữa phố, đúng lộ trình tôi và nàng đã đi lần trước. Lần này trời quang đãng và đầy sao. Những ngôi sao khá lớn chen chúc trên mặt nước hồ Hoàn Kiếm. Tôi đứng khá lâu trên cầu Thê Húc, tay vịn vào thành cầu đẫm hơi sương nhưng không hiểu sao lám nhám những hạt cát nhỏ. Tôi lờ mờ thấy mình đang yêu. Ðúng, yêu nàng. Nhưng là thứ tình yêu khác hẳn với tình yêu đối với cô ca sĩ nghiệp dư đang nổi. Một tình yêu trừu tượng, vô vọng và pha chút mặc cảm tội lỗi vì nàng đã có chồng.

I walked down the street, following the same path we had walked the other day. The night sky was clear and marked with stars. I stood forever by the The Huc Bridge on Hoan Kiem Lake, feeling the vague sense of love. This love was quite different from the love I felt for the amateur singer. It was a transcendental love, touched with a feeling of guilt. She was, after all, a married woman.


Xưa nay ngoài sách, nhạc cổ điển là đam mê lớn nhất của tôi, nên hầu như tôi không bỏ sót buổi hòa nhạc nào loại này ở Hà Nội. Thậm chí thời sinh viên, tôi từng mơ ước trở thành nhạc sĩ hoặc chỉ huy dàn nhạc giao hưởng.


Mấy hôm sau tôi lại có mặt ở Nhà Hát Lớn để nghe một chương trình nhạc Beethoven, gồm các bản giao hưởng số Một, số Sáu và khúc dạo đầu (ouverture) Coriolant. Lần này may tôi mua được vé, tất nhiên chỉ đi một mình.

A few days later, I went to the theatre for a Beethoven concert, which included the first and sixth symphonies and the Coriolan. This time I had a ticket.


Nàng xuất hiện đúng lúc tôi sắp bước vào nhà hát, mặc quần jeans, đi giày da và khoác trên người chiếc áo len rộng màu xanh nhạt. Tôi có cảm giác mặt nàng đỏ ửng, hơi thở gấp, có lẽ do trước đó phải chạy một quãng.

As I was entering the theatre, I saw her in jeans, leather shoes and a large woolen pullover. She had run here apparently. Her face was badly-lined and she was panting.

Chào Lệ Trinh, tôi lên tiếng trước, cố giấu vẻ hồi hộp. Hôm nay chồng chị lại nhỡ hẹn nữa à?
Nàng không ngạc nhiên khi tôi gọi đúng tên.
Không. Em đi một mình. Em đến đây vì anh, nàng đáp, cũng tự nhiên và giản dị như lần trước. Anh có sẵn sàng bỏ buổi hòa nhạc để đi dạo với em không?

“Good evening, Le Trinh,” I said, trying to hide my emotions. “You’re not with your husband tonight?”

Chúng tôi lại đi theo các phố cũ, có ghé vào Thủy Tạ nhưng không ăn kem mà uống cà phê, vừa uống vừa ngắm mặt hồ ban đêm và ôn chuyện Liên Xô. Dường như đề tài này làm hai người tự nhiên, thân mật hơn. Tịnh không một lời về đời riêng của nhau. Sau đó như lần trước, tôi đưa nàng trở lại nhà hát chỉ mấy phút trước khi ông chồng đánh ô tô đến đón nàng về.


We walked along the street and stopped by Thuy Ta again for some coffee instead of ice cream. We talked about our days in the Soviet Union and this made us feel closer. But we didn’t say anything about our private lives. I took her back to the theatre only a few minutes before her husband showed up to take her home.

Những tháng tiếp theo tôi còn mấy lần được nàng rủ đi chơi như thế. Mấy lần thấy ông chồng cùng nàng vào nhà hát. Tuy nhiên nàng chẳng tỏ ra thân mật hơn trước, ngoài việc tôi có thể giữ tay nàng lâu hơn, thậm chí một lần còn nâng lên hôn mà không bị rút lại. Thỉnh thoảng như vô tình, nàng hỏi chuyện tình yêu của tôi với cô kia, và tôi nói mọi chuyện vẫn bình thường.

In the following months, we had many walks together. She let me hold her hand, but that was it. Sometimes she asked me about my girlfriend and we talked about my relationship as casually as we could.


Phải chăng nàng cũng yêu tôi, hay chẳng qua đó chỉ là trò đùa của những người xinh đẹp, giàu có và rất hiểu rõ địa vị mình? Câu hỏi ấy cứ làm tôi băn khoăn mãi. Vốn hay mặc cảm và không muốn rơi vào thế lố bịch, dẫu rất yêu, tôi luôn tỏ ra kiềm chế, vì dẫu sao nàng cũng đã có chồng.
Một lần tôi còn chuẩn bị sẵn một bông hồng giấu trong cặp định tặng nàng, nhưng khi gặp lại không đủ can đảm trao nàng bông hồng ấy.

Did she love me? Or was this just some rich beautiful lady’s game? Sometimes, it was awful to be with her. But I contained myself. She was married, and that was that. I kept a rose with me, but I never had the courage to give it to her.


Sau đó, một thời gian rất lâu tôi không thấy nàng xuất hiện, cả trên sàn diễn lẫn trước cửa Nhà Hát Lớn. Linh tính báo có chuyện khác thường. Tôi nhờ người dò hỏi và được biết chồng nàng bị bắt cách đấy không lâu (vì lý do gì không rõ), đang bị giam đâu đó tận Tây Nguyên, và nàng đã bỏ hẳn vào đấy để chăm sóc ông

Then for a long time, she wasn’t around, either on stage or in front of the theatre. Something strange was happening. I found out her husband had been arrested (God knows why) and was in some Central Highlands prison. She had gone to look after him.

Từ đó tôi chẳng biết gì thêm về Lệ Trinh. Rồi mọi cái cũng qua đi, kể cả tình yêu của tôi với nàng, còn lại trong tôi chỉ là sự luyến tiếc mơ hồ như luyến tiếc một kỷ niệm đẹp. Tôi lấy vợ, có con, không phải lấy cô ca sĩ xinh đẹp không yêu nhạc cổ điển, cũng không phải vài người nữa tôi yêu sau đó. Cuộc đời dần dần đi vào nếp ổn định. Tôi lấy thế làm hài lòng và chẳng có gì phải than phiền. Tôi vẫn đều đặn vào Nhà Hát Lớn nghe hòa nhạc hoặc xem ba-lê. Chỉ những lúc ấy tôi mới nhớ đến Lệ Trinh, đặc biệt hôm đầu tiên thấy nàng trên sàn diễn trong vai cô gái Giselle xinh đẹp, tinh khiết và dường như không trọng lượng. Tôi cũng nhớ cả những đêm được đi dạo bên nàng hoặc phải lang thang một mình giữa các phố Hà Nội cho đến tận sáng như mọi chàng trai si tình khác. Rồi tôi thương cho nàng đáng lẽ được ông chồng to khỏe, đạo mạo, đầy chức quyền kia nâng trên tay đi hết cuộc đời, thì lại phải vào tận chốn rừng núi hoang vu miền Nam để nuôi ông, nâng cái cơ thể to khỏe kia của ông bằng chính đôi tay bé nhỏ của nàng, trên đôi chân đi những bước nhỏ bằng ngón kiểu ba-lê của nàng. Bây giờ nàng thế nào và đang ở đâu

I didn’t hear anything more about Le Trinh afterwards. Everything was gone, including my love for her. I got married and had a child. My life was smooth and I had nothing to complain about. I went to the Municipal Theatre on a regular basis and enjoyed any number of concerts and ballets. But I missed Le Trinh. I felt sorry for what had happened to her. I wondered where she was now and how she was doing.

Một hôm, bất ngờ tôi nhận được bức thư từ Mỹ. Thư của Lệ Trinh.
Chắc anh không còn nhớ em và đang ngạc nhiên? Em là Lệ Trinh, người cùng anh mấy lần đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm cách đây đã nhiều năm.
Nàng viết, vẫn bằng giọng tự nhiên, chân thành như xưa.

One day, I got a letter from America.
I’m sure you don’t remember me. I’m Le Trinh, the woman who walked with you so many times around Hoan Kiem Lake some years ago.
Her style was natural and honest.

Bây giờ, ở khoảng cách an toàn, rất xa cả về địa lý lẫn thời gian, em mới dám nói với anh điều này. Em yêu anh! Em đã rất yêu anh những ngày được gặp và không được gặp anh thời ấy. Anh không biết, hay đúng hơn, em không cho anh biết điều đó, vì em đã có chồng, còn anh thì đang yêu người khác. Dẫu mãnh liệt, tình cảm của em đối với anh đã không thắng được ý thức đạo nghĩa vợ chồng trong em. Vả lại, em cũng không thể cho phép mình cướp đi hạnh phúc của cô gái anh yêu và yêu anh. Ðối với em, đó là những ngày hạnh phúc nhất, đáng sống nhất. Còn sau đó chỉ là một sự tồn tại, thuần túy một sự tồn tại theo các khuôn phép đạo đức do xã hội qui định.


Now that I am so far away from you, it’s a little easier for me to tell you these things. I loved you! I loved you so much on those days we went for walks together and on those days we didn’t meet. I didn’t want to let you know these things, because I was married and you were still in love. Though I loved you, I couldn’t forget that I was married and that I had a duty to the idea of marriage. Besides, I couldn’t rob you from the girl who loved you and whom you loved. Those days we had together were some of the happiest in my life.

Dù không yêu, em đã hết lòng tận tụy với chồng, cho đến khi ông ấy chết bệnh trong tù. Sau đó em theo mấy người bạn vượt biên và hiện đang sống ở Mỹ. Em đã có chồng, có con, dường như có tất cả, chỉ trừ tình yêu. Anh là tình yêu duy nhất của em. Lẽ ra em đã có thể đến với anh, nếu em đủ dũng cảm thoát khỏi những ràng buộc của qui ước xã hội.

Even though I didn’t love him, I devoted my life to my husband until he died after three years in prison. I went to America afterwards as a refugee with some friends. I have a husband and a child, almost everything, except love. You’re my only love. If I had any courage to fight the prison of society’s social principles, I would have come to you.

Viết thư này, em không có mong muốn nào khác ngoài được bộc lộ với anh những suy nghĩ thầm kín của mình. Em những muốn, và đã cố, không bao giờ nói ra, nhưng không được.

Now that I’ve written this, I have no other wish to disclose my secret feelings. I didn’t want to and I tried not to write about these things, but I’ve failed.


Hãy tha thứ cho em.
Lệ Trinh.

PS. Xin anh đừng viết thư cho em. Ðiều ấy không cần thiết. Hơn thế, nó chỉ làm em thêm đau khổ.

Bức thư đề ngày... tháng... năm 1989. Mười lăm năm kể từ đêm tôi nhìn thấy nàng lần cuối.

Please forgive me,
Le Trinh

P.S: Please don’t write. There is no need. It will only make me suffer more.

That letter was dated 1989, fifteen years since I last saw her.

Tháng Năm năm 2000, trong lần đi du lịch một tháng với vợ ở Mỹ, tôi tìm đến nhà nàng theo địa chỉ ghi trên bì thư. Tất nhiên một mình. Tôi không có ý định gặp hay trò chuyện với nàng vì nàng không muốn điều ấy. Ðơn giản chỉ muốn được nhìn qua ngôi nhà nàng đang sống. Ðứng từ xa mà nhìn. Ðó là một ngôi nhà nhỏ, bình thường như bao ngôi nhà khác xung quanh ở ngoại ô thành phố Raleigh, tiểu bang North Carolina. Nhà đóng cửa, chỉ hai ô cửa sổ là không, nhưng được che bằng những chiếc mành trắng mỏng. Tôi thong thả đi hai lần qua ngôi nhà ấy, ngồi xuống cạnh gốc cây đối diện, hút hết một điếu thuốc rồi trở về khách sạn.

In May 2000, I visited the States with my wife. Going by the address on the envelope, I went to Le Trinh’s house. I went alone, of course. I didn’t want to meet her or talk to her. I simply wanted to see the house where she lived, from afar. It was a small house, as normal as any of the suburban houses in North Carolina. It was completely shuttered, but for two windows covered with thin white blinds. I walked in front of the house. I sat on a tree stump on the front lawn, and smoked a cigarette. Then I went back to my hotel.

Tháng trước, tôi lại nhận được một bức thư nữa từ Mỹ. Bức thư chỉ mấy dòng, được viết bằng nét chữ đàn ông rắn rỏi, gần như tô từng nét.

I got a letter from America last month. Only a few lines in a man’s handwriting.

Theo yêu cầu của người đã khuất, tôi xin báo ông biết rằng vợ tôi, bà Lệ Trinh, đã từ trần ngày...vì nhồi máu cơ tim. Vợ tôi cũng nhờ nói lại rằng bà ấy đã nhìn thấy ông ngồi hút thuốc trước nhà chúng tôi cách đây hơn hai năm. John Nguyen Van Bach.

According to the deceased’s wishes, I would like to inform you that my wife, Mrs Le Trinh, died on ... of a heart attack. She asked me to tell you that she did see you sitting in front of our house, smoking, two years ago. John Nguyen Van Bach


Ðó là toàn bộ câu chuyện về Lệ Trinh mà chắc tôi sẽ không bao giờ viết ra nếu không nhận được bức thư ngắn này của chồng nàng. Tôi chẳng còn gì để nói thêm, ngoài việc nếu có dịp tới Mỹ lần nữa, nhất định tôi sẽ tìm đến mộ nàng để đặt lên đó bông hồng năm nào tôi định tặng.

This is the whole story of Le Trinh, which I am sure I would never have written if her husband had not sent me that letter. I have nothing more to say, other than if I am ever in the States again, I will find her grave and place a rose on it, the rose I had never had the courage to give to her.




Translated by Manh Chuong