MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Showing posts with label ASEAN-ĐÔNG NAM Á. Show all posts
Showing posts with label ASEAN-ĐÔNG NAM Á. Show all posts

Monday, July 6, 2015

HOW CHINA IS LOSING SOUTH-EAST ASIA Trung Quốc đang đánh mất Đông Nam Á như thế nào?

HOW CHINA IS LOSING SOUTH-EAST ASIA

Trung Quốc đang đánh mất Đông Nam Á như thế nào?




Ravi Velloor
Straits Times
JUL 3, 2015
Ravi Velloor
Straits Times
3/7/2015


The region may depend on China for growth - but that dependence is mutual, which is something China seems to forget.

Khu vực này có thể phụ thuộc vào Trung Quốc để tăng trưởng, nhưng sự phụ thuộc đó là hỗ tương, điều mà Trung Quốc dường như bỏ quên.

Mr Rafael Alunan, Interior Minister of the Philippines in the Fidel Ramos presidency, remembers the day the Chinese walked into Mischief Reef in the Spratlys, an area of the South China Sea his countrymen had long considered theirs. Three years earlier, in 1992, the Americans had vacated Subic Bay and Clark Air Base. Without that reassuring cover there was little that Mr Ramos, himself a retired general, could do.

Ông Rafael Alunan, Bộ trưởng Nội vụ của Philippines dưới thời tổng thống Fidel Ramos, nhớ lại ngày người Trung Quốc bước vào bãi đá Vành Khăn trong quần đảo Trường Sa, một khu vực ở Biển Đông mà những người đồng hương của ông đã từ lâu xem là của họ. Ba năm trước đó, vào năm 1992, người Mỹ đã rút khỏi vịnh Subic và căn cứ không quân Clark. Không có sự che chắn bảo đảm, ông Ramos là một tướng về hưu, có rất ít lựa chọn.

Friday, February 27, 2015

Such quantities of sand Cát nhiều đến thế


Asia’s mania for “reclaiming” land from the sea spawns mounting problems

Cơn sốt ‘lấn biển’ của châu Á nẩy sinh ra nhiều vấn đề chồng chất

Such quantities of sand

Cát nhiều đến thế

by Banyan

Tác giả: Banyan

The Economist, Feb 28th 2015

The Economist, 28-2-2015

EVEN on a quiet Sunday morning, a steady stream of lorries trundles along the broad, pristine and otherwise deserted streets of Punggol Timur, an island of reclaimed land in the north-east of Singapore. They empty their loads into neat rows of white, yellow and grey mounds where the country stockpiles a vital raw material: sand. Building industries around the world depend on sand. But Singapore’s need is especially acute, as it builds not just upward but outward, adding territory by filling in the sea—with sand. And in Asia it is far from alone. The whole region has a passion for land reclamation that has long delighted property developers. But it has worried environmentalists. And it brings cross-border political and legal complications.

Ngay cả vào một buổi sáng Chủ nhật yên tĩnh, một dòng xe tải đều đặn hối hả chạy dọc theo các đường phố rộng, hoang sơ nếu không nói là hoang vắng của Punggol Timur, một hòn đảo có được từ lấn biển ở phía đông bắc của Singapore. Các xe này trút hết tải trọng xuống thành từng đống trắng, vàng và xám theo hàng lối thật trật tự ở chỗ mà đất nước này tích trữ loại nguyên liệu quan trọng: cát. Công nghiệp xây dựng trên thế giới phụ thuộc vào cát. Nhưng nhu cầu của Singapore là đặc biệt gay gắt, vì không những họ xây lên cao mà còn xây ra ngoài, thêm lãnh thổ bằng cách dùng cát lấp biển. Và tại châu Á họ không phải là kẻ đơn độc. Toàn khu vực đều đam mê với việc tôn tạo đất vốn lâu nay đã làm các nhà phát triển bất động sản vui thích. Nhưng điều đó lại làm các nhà bảo vệ môi trường lo lắng và đem lại những rắc rối chính trị và pháp lý xuyên biên giới.

Sunday, January 26, 2014

MYANMAR’S ASEAN CHAIRMANSHIP: LESSONS FROM CAMBODIA NHIỆM KỲ CHỦ TỊCH ASEAN CỦA MYANMAR: BÀI HỌC TỪ CAMPUCHIA



MYANMAR’S ASEAN CHAIRMANSHIP: LESSONS FROM CAMBODIA

NHIỆM KỲ CHỦ TỊCH ASEAN CỦA MYANMAR: BÀI HỌC TỪ CAMPUCHIA

Will nascent reforms enable Myanmar to avoid a repeat of Cambodia’s notorious term?

Liệu những cải cách mới đây có cho phép Myanmar tránh lặp lại nhiệm kỳ tai tiếng của Campuchia?

By Justine Drennan
The Diplomat
January 13, 2014

Justine Drennan
The Diplomat
13/1/ 2014

In November 2012, U.S. President Barack Obama made a stop in Myanmar before attending an ASEAN summit in Cambodia – the first time a sitting U.S. president had visited either country. While Obama’s appearance in Yangon represented the growing, if cautious, international recognition of Myanmar’s moves toward reform and engagement with the world, White House staff made it clear that Obama would not have come to Phnom Penh had it not been hosting the summit as 2012 ASEAN chair.


Tháng 11/2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã có chuyến dừng chân ở Myanmar trước khi tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Campuchia – lần đầu tiên một vị Tổng thống Mỹ đương nhiệm tới thăm cả hai nước. Trong khi sự xuất hiện của Obama ở Yangon tiêu biểu cho sự ghi nhận quốc tế ngày càng tăng, dù là thận trọng, đối với những bước đi của Myanmar tiến tới cải cách và cam kết với thế giới, nhân viên Nhà Trắng đã nói rõ ràng Obama sẽ không tới Phnom Penh nếu nước này không đăng cai hội nghị thượng đỉnh với tư cách là chủ tịch ASEAN năm 2012.

Speech by Minister for Defence Dr Ng Eng Hen, at the Center for Strategic and International Studies Bộ trưởng Quốc phòng Singapore phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược




Speech by Minister for Defence Dr Ng Eng Hen, at the Center for Strategic and International Studies, on 13 Dec 2013
Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Heng  phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược ngày 13/12/2013

Minister for Defence Dr Ng Eng Hen gave a speech to an audience of officials and strategic thinkers organised by Washington-based think-tank Centre for Strategic and International Studies (CSIS) on 13 Dec.

Bộ trưởng Quốc phòng Tiến sĩ Ng Eng Hen đã phát biểu trước khán giả gồm các quan chức và các nhà tư tưởng chiến lược của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS ngày 13 Tháng 12

THE RISE OF ASIA - REAPING PROMISES, AVOIDING PERILS

SỰ TRỖI DẬY CỦA CHÂU Á GẶT TRIỂN VỌNG TRÁNH  NGUY CƠ
I would like to thank Mr Richard Armitage for his kind introduction and Mr Michael Green and the Center for Strategic and International Studies for hosting this session. I am glad to have this opportunity to be in Washington D.C. again to meet with close friends, and to be able to exchange views with such an informed audience assembled here.

Tôi muốn cám ơn Ngài Richard Armitage về lời giới thiệu tốt đẹp và Ngài Michael Green về việc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế đã chủ trì cuộc thảo luận này. Tôi rất hân hạnh có được cơ hội đến Washington một lần nữa để gặp gỡ những người bạn bè thân thiết và để có thể trao đổi quan điểm với những thính giả hiểu biết như vậy tại đây.


China’s ADIZ over East China Sea: Implications for ASEAN ADIZ của Trung Quốc và tác động đối với khu vực




China’s ADIZ over East China Sea: Implications for ASEAN

ADIZ của Trung Quốc và tác động đối với khu vực
By Dylan Loh Ming Hui
Dylan Loh Ming Hui


Synopsis
China’s decision to set up an ADIZ over the East China Sea has attracted strong criticism from major powers in the region but ASEAN’s response has been relatively muted. What implications does the ADIZ have for ASEAN?

Tóm tắt
Quyết định của Trung Quốc thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các cường quốc trong khu vực, tuy nhiên phản ứng của ASEAN về vấn đề này cho đến nay tương đối kín tiếng. Vậy tác động của ADIZ đến ASEAN là gì?

COUP CALCULATIONS IN THAILAND NHỮNG TOAN TÍNH ĐẢO CHÍNH Ở THÁI LAN



COUP CALCULATIONS IN THAILAND

NHỮNG TOAN TÍNH ĐẢO CHÍNH Ở THÁI LAN

By John Cole and Steve Sciacchitano
Asia Times Online
20/1/2014
John Cole and Steve Sciacchitano
Asia Times Online
20/1/2014

BANGKOK - With hundreds of thousands of antiovernment protesters occupying large swathes of the national capital and a series of shadowy armed attacks on their encampments, speculation is rising that Thailand could be on the brink of another military coup. A similar protest movement paved the way for the September 2006 putsch that overthrew former Prime Minister Thaksin Shinawatra's administration. But the situation now is substantially more complicated, militating against the prospect of another army-led takeover.


BANGKOK - Với việc hàng trăm nghìn người biểu tình chổng Chính phủ Thái Lan đang chiếm giữ các khu vực rộng lớn của thủ đô Bangkok và hàng loạt vụ tấn công có vũ trang mờ ám nhằm vào các khu lều trại của họ, đang xuất hiện ngày càng nhiều đồn đoán rằng Thái Lan có thể một lần nữa bị đẩy đến bờ vực một cuộc đảo chính quân sự. Một phong trào biểu tình tương tự đã mở đường cho vụ đảo chính quân sự vào tháng 9/2006 lật đổ chính quyền của Thủ tướng Thái Lan khi đó là ông Thaksin Shinavvatra. Tuy nhiên, tình hình hiện nay về cơ bản phức tạp hơn nhiều, gây cản trở viễn cảnh về một cuộc đảo chính chiếm quyền lãnh đạo đất nước khác do quân đội dẫn đầu.


Saturday, December 7, 2013

Crunch time for the TPP Thách thức với TPP

Crunch time for the TPP — and for US leadership in Asia

Thách thức  với TPP và sự lãnh đạo của Hoa Kỳ tại châu Á



Claude Barfield, EAF
October 15th, 2013
Claude Barfield, EAF
October 15th, 2013


At a crucial time in US-Asian relations, China is stealing the limelight. America needs to get back in the game. Earlier this month, amid the US government shutdown, President Obama decided to cancel his trip to Asia and forego participation in the Asian Pacific Economic Cooperation leaders’ meeting and the East Asia Summit.



Trung Quốc đã chiếm lấy ánh đèn sân khấu vào đúng thời điểm quan trọng trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và châu Á. Vì vậy, Hoa Kỳ cần phải trở lại để gây thêm hình ảnh của mình. Đầu tháng Mười vừa qua, giữa bối cảnh xung đột nội bộ bên trong chính phủ Hoa Kỳ, Tổng thống Obama đã quyết định hủy bỏ chuyến đi của ông đến châu Á và không tham gia cuộc họp của các lãnh đạo nhóm Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.


Saturday, November 16, 2013

COMPETITIVE DIPLOMACY IN SOUTHEAST ASIA NGOẠI GIAO CẠNH TRANH Ở ĐÔNG NAM Á

COMPETITIVE DIPLOMACY IN SOUTHEAST ASIA

NGOẠI GIAO CẠNH TRANH Ở ĐÔNG NAM Á


Fortuna's Corner
IISS
Fortuna's Corner
IISS (Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế)
October 22, 2013

22/10 2013
A recent flurry of diplomatic activity by Japan and China in Southeast Asia has underlined their increasing competition for regional influence. While there is inherent strategic value to the promotion of ties with Southeast Asia’s dynamic economies, the growing power of China and the increasing concern of Japan about its position are encouraging the two countries to attempt to develop new relationships or strengthen old ones. In particular, Japan’s building of ties with countries that share concerns about China’s maritime assertiveness is reinforcing within Beijing the fear of encirclement by US allies in the region.


Hàng loạt hoạt động ngoại giao gần đây của Nhật Bản và Trung Quốc đã cho thấy sự tranh giành anh hưởng trong khu vực giữa hai nước này ngày càng trở nên quyết liệt hơn. Sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc và sự lo ngại của Nhật Bản về vị thế của Tokyo khiến hai nước này phải phát triển các mối quan hệ mới hoặc củng cố các mối quan hệ cũ, trong khi vẫn thúc đẩy quan hệ với các nền kinh tế năng động ở Đông Nam Á. Đặc biệt, việc Nhật Bản tăng cường quan hệ với các nước có chung mối quan ngại về sự quyết đoán của Trung Quốc trong tranh chấp lãnh hải khiến cho Bắc Kinh lo ngại rằng nước này đang bị các đồng minh của Mỹ trong khu vực bao vây.


Friday, August 16, 2013

India-ASEAN naval cooperation: An important strategy HỢP TÁC HẢI QUÂN ẤN ĐỘ-ASEAN





India-ASEAN naval cooperation: An important strategy

HỢP TÁC HẢI QUÂN ẤN ĐỘ-ASEAN

Darshana M. Baruah
Darshana M. Baruah
06 July 2013
06/07/2013


Maritime cooperation is one of the important aspects of the India-ASEAN strategic partnership. The ongoing territorial disputes among some of the ASEAN nations and China in the South China Sea is challenging the regions peace and tranquillity. India holds a primary interest in the Freedom of Navigation (FON) through the South China Sea. It also has an economic interest in exploring hydrocarbon resources in the area with ONGC Videsh Ltd. (OVL) the global arm of the Indian petroleum company, Oil and Natural Gas Ltd. (ONGC) operating in two oil blocks in Vietnam.

Hợp tác hàng hải là một lĩnh vực quan trọng trong quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ-ASEAN. Tranh chấp lãnh thổ hiện nay giữa một số nước ASEAN với Trung Quốc tại biển Đông là thách thức đối với hòa bình và ổn định của khu vực. Ấn Độ đang có “lợi ích quan trọng” về tự do hàng hải tại Biển Đông, đồng thời có lợi ích kinh tế trong hoạt động khai thác dầu khí tại khu vực này, với việc ONGC Videsh Ltd. (OVL), chi nhánh toàn cầu của tập đoàn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên Ấn Độ Oil và Natural Gas Ltd. (ONGC) đang thăm dò hai lô dầu thuộc chủ quyền của Việt Nam.

China needs to change its energy strategy in the Mekong region TRUNG QUỐC NÊN TỪ BỎ CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG Ở CÁC NƯỚC TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG



China needs to change its energy strategy in the Mekong region

TRUNG QUỐC NÊN TỪ BỎ CHIẾN LƯỢC NĂNG LƯỢNG Ở CÁC NƯỚC TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG

China Dialogue 7/16/2013
China Dialogue 16/7/2013


At the end of this year cars and container trucks loaded with goods from China and Thailand will finally be able to drive across a multi-lane bridge spanning the Mekong River (known as the Lancang in China). The bridge will connect Chiang Rai province in Thailand to Bokeo province in Laos, effectively linking China’s highways stretching south from Beijing and Shanghai to those coming north from Singapore, Kuala Lumpur and Bangkok.

Vào cuối năm nay, xe hơi và xe container xếp hàng hóa từ Trung Quốc và Thái Lan cuối cùng sẽ có thể đi qua một cây cầu nhiều làn xe bắc qua sông Mekong (được gọi là sông Lan Thương ở Trung Quốc). Cây cầu sẽ kết nối tỉnh Chiang Rai của Thái Lan với tỉnh Bokeo của Lào, nối liền một cách có hiệu quả đường cao tốc của Trung Quốc từ Bắc Kinh và Thượng Hải hướng về phía nam với các đường cao tốc hướng bắc xuất phát từ Singapore, Kuala Lumpur và Bangkok.

Wednesday, June 26, 2013

Japan and South-East Asia: Hand in hand Nhật Bản và Đông Nam Á: Tay trong tay





 Abe, Thein Sein and a golden future
Thủ tướng Abe, Tổng thốngThein Sein và tương lai vàng phía trước. Ảnh AFP

Japan and South-East Asia: Hand in hand

Nhật Bản và Đông Nam Á: Tay trong tay

Shinzo Abe has compelling diplomatic as well as economic reasons to push into South-East Asia

Shinzo Abe có những lý do ngoại giao cũng như kinh tế khó cưỡng lại trong việc thúc đẩy Nhật Bản vào khu vực Đông Nam Á


Theo The Economist
Jun 1st 2013

Theo The Economist
Ngày 01 tháng 6 năm 2013


IT WAS all toasts and effusions of mutual esteem when President Thein Sein welcomed Shinzo Abe to Myanmar’s capital, Naypyidaw, on May 26th. Mr Abe was the first Japanese prime minister to visit the country since 1977. Both leaders looked determined to cement diplomatic and economic ties that had long been relatively good, even during the decades when the West shunned a brutal military regime. Mr Abe, who also met Myanmar’s opposition leader, Aung San Suu Kyi, promised “all possible assistance” to support the country’s new commitment to reform, which Mr Thein Sein initiated in 2011.

Buổi chào đón long trọng của Tổng thống Thein Sein đối với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tới thủ đô Naypyidaw, Miến Điện, vào ngày 26 tháng Năm vừa qua đánh dấu sự quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao hai nước. Ông Abe là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên thăm Miến Điện kể từ năm 1977. Cả hai nhà lãnh đạo cho thấy sự kiên định nhằm gắn chắc các mối quan hệ ngoại giao và kinh tế bấy lâu nay tương đối tốt, dù cho phương Tây đã xa lánh chế độ quân đội độc tài này hàng thập kỷ qua. Ông Abe cũng đã gặp nhà lãnh đạo phe đối lập của Myanmar, bà Aung San Suu Kyi, và hứa hẹn “sự hỗ trợ toàn tâm” để giuip quá trình cải cách được ông Thein Sein khởi động từ năm 2011.

Friday, June 7, 2013

Shangri-La 2013 - An appeal for greater strategic trust Shangri-La 2013 - Lời kêu gọi tin tưởng chiến lược lớn hơn






Shangri-La 2013 - An appeal for greater strategic trust


Shangri-La 2013 - Lời kêu gọi tin tưởng chiến lược lớn hơn

Roberto Tofani

Roberto Tofani
An appeal for greater strategic trust. This was the aim of Vietnamese prime minister Nguyen Tan Dung's speech on Friday at the Shangri-La Dialogue, an annual regional security forum in Singapore. More specifically, Vietnam's prime minister called for unity among Southeast Asian countries, especially in this historical moment when China is asserting its claims in the South China Sea, or East Sea, as it was referred to by Dung during his remarks translated from Vietnamese.

Lời kêu gọi tin tưởng chiến lược lớn hơn. Đây là mục đích bài phát biểu của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng hôm thứ Sáu tại Đối thoại Shangri-La, một diễn đàn an ninh khu vực hàng năm ở Singapore. Cụ thể hơn, Thủ tướng Việt Nam kêu gọi đoàn kết giữa các nước Đông Nam Á, đặc biệt là trong thời điểm lịch sử này khi Trung Quốc đang khẳng định yêu sách của mình tại Biển Nam Hải, hay Biển Đông, như ông Dũng gọi trong phát biểu của mình được dịch từ tiếng Việt.

Tuesday, January 29, 2013

China and Cambodia: With Friends Like These Trung Quốc và Cam-pu-chia: Bạn bè thế này đây




China and Cambodia: With Friends Like These
Trung Quốc và Cam-pu-chia: Bạn bè thế này đây

By: Prashanth Parameswaran

Prashanth Parameswaran

When Chinese President Hu Jintao paid his most recent state visit to Cambodia in April 2012, both sides agreed to designate 2013 the “China-Cambodia Year of Friendship” in a lavish commemoration of the 55th anniversary of their relationship (Xinhua, April 2, 2012). Although Cambodia remains arguably Beijing’s closest ally in Southeast Asia today and there is plenty to celebrate in the year ahead, several important limits to bilateral ties could nonetheless pose challenges for both sides in the future.

Trong chuyến thăm Campuchia tháng 4/2012 của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, hai bên nhất trí lấy năm 2013 là “Năm Hữu nghị Trung Quốc-Campuchia” nhân kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Mặc dù hiện nay Phnôm Pênh là đồng minh thân thiện nhất của Bắc Kinh ở khu vực Đông Nam Á và hai bên sẽ có nhiều sự kiện kỷ niệm quan trọng trong năm 2013, nhưng một số hạn chế trong quan hệ song phương có thể tạo nên những thách thức cho cả hai bên trong tương lai.

Sino-Cambodian relations date back to the days of the Khmer Empire, which lasted from the 9th to 15th centuries (Global Times, August 25, 2010). The most famous historical point of the relationship was during the Yuan Dynasty, when the Chinese envoy Zhou Daguan visited Cambodia in 1296 and wrote what remains one of the most detailed accounts of the city of Angkor and Khmer society [1]. Since modern diplomatic relations were established in 1958, China has backed various players in Cambodia to preserve its influence there, ranging from ex-King Norodom Sihanouk in the 1960s to the notorious Khmer Rouge in the 1970s and 1980s and now its current Prime Minister Hun Sen.  

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Campuchia từ thời Vương quốc Khmer, kéo dài từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 15 (Global Times, ngày 25 tháng 8 năm 2010). Thời điểm lịch sử nổi tiếng nhất của mối quan hệ này là vào thời triều đại nhà Nguyên, khi phái viên Trung Quốc Chu Đạt Quan đã đến thăm Cam-pu-chia năm 1296 và đã ghi chép lại trong một trong những văn bản còn  lưu lại ngày nay mô tả chi tiết nhất thành phố Angkor xã hội Khmer [1]. Kể từ khi quan hệ ngoại giao thời hiện đại được thành lập năm 1958, Trung Quốc đã ủng hộ các nguyên thủ khác nhau tại Campuchia để duy trì ảnh hưởng của mình đó, từ cựu Quốc vương Norodom Sihanouk trong những năm 1960 Khmer Đỏ khét tiếng trong những năm 1970 và 1980 và bây giờ Thủ tướng hiện nay của nó Hun Sen .



The latest major turn in Sino-Cambodian relations came in 1997 when Hun Sen ousted Sihanouk’s son, Prince Norodom Ranaridh, and ended a coalition government in a violent coup. While the international community condemned the move and isolated Cambodia, China not only recognized the coup’s result but showered Hun Sen with aid. Since then, Cambodia, still one of the world’s poorest countries, has welcomed Chinese trade and investment because it is not tied to good governance reforms championed by the West. Beijing in turn has viewed Phnom Penh as not only a source of energy and minerals to fuel its own development, but a useful friend to support its sovereignty claims against Southeast Asian states; a partner to address various cross-border issues like narcotics and trafficking; and a crucial ally to advance its objectives in Southeast Asia and beyond.

Bước ngoặt quan trọng và mới nhất trong quan hệ Trung Quốc-Campuchia diễn ra năm 1997 khi Thủ tướng Campuchia Hun Sen hiện nay lật đổ con trai của Sihanouk, Hoàng tử Norodom Ranaridh và chấm dứt một chính phủ liên minh trong một cuộc đảo chính bạo lực. Mặc dù, cộng đồng quốc tế lên án hành động đó và cô lập Campuchia, nhưng Trung Quốc không những công nhận kết quả của cuộc đảo chính, mà còn cung cấp viện trợ cho Hun Sen. Từ đỏ, tuy Campuchia, một trong những nước nghèo nhất thế giới, hoan nghênh các khoản đầu tư và thương mại của Trung Quốc, bởi vì Hun Sen không muốn tiến hành các cải cách quản lý hiệu quả của phương Tây. Ngược lại, Bắc Kinh coi Phnôm Pênh không những là một nguồn cung cấp năng lượng và khoáng sản để đẩy mạnh phát triển kinh tế cua Trung Quốc mà còn là một nước có ích để hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh chống lại các nước Đông Nam Á. Campuchia còn là một đối tác để giải quyết các vấn đề qua biên giới khác nhau như ma túy và buôn lậu, cũng là một đồng minh quan trọng đế thúc đẩy các mục tiêu của Bắc Kinh ở trong và ngoài Đông Nam Á.

China is Cambodia’s largest trading partner and investor, and its economic footprint has grown rapidly over the past two decades. Bilateral trade has increased from around $76 million in 1996 to more than $2.5 billion in 2012, and both countries have vowed to double it by 2017 (Xinhua, December 4, 2012). Between 1994 and 2011, China invested in nearly 400 projects in Cambodia totaling $9 billion dollars—initially in the manufacturing and garment sectors but increasingly in natural resources and energy (Xinhua, December 26, 2011). China also has funded upgrades of airfields and ports that could help it leverage Cambodia’s strategic location at the heart of Southeast Asia to project power into the Gulf of Thailand and the Strait of Malacca. Beijing’s economic influence is only set to grow over the next few years. Earlier this week, two Chinese firms reached a deal to build a rail line, steel plant and port worth $11 billion by 2016—by far the biggest ever investments into Cambodia (South China Morning Post, January 3).


Trung Quốc là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Campuchia. Thương mại song phương tăng từ 76 triệu USD năm 1996 lên hơn 2,5 tỷ USD năm 2012 và hai nước tuyên bố sẽ tăng gấp đôi vào năm 2017. Từ năm 1994-2011. Trung Quốc đầu tư gần 400 dự án tại Campuchia với tổng giá trị 8,8 tỷ USD, ban đầu chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và may mặc, nhưng sau đó tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Trung Quôc cũng giúp Campuchia nâng cấp các sân bay và bến cảng để nâng cao vị thế chiến lược ở khu vực Đông Nam Á. Ảnh hưởng kinh tế của Bắc Kinh đối với Phnôm Pênh sẽ tăng mạnh trong năm tới. Đầu tháng 1/2013, hai công ty Trung Quốc đạt được thỏa thuận xây dựng một tuyến đường sắt, một nhà máy sản xuất thép và bến cảng trị giá 11,2 tỷ USD, dự kiến hoàn thành năm 2016 và đây là các khoản đầu tư lớn nhất từ trước đến nay của Trung Quốc tại Carnpuchia. (Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng , ngày 3 tháng 1)

The relationship also has expanded into the security sphere over the last few years. In terms of law enforcement, since a cooperation agreement was inked in 2008, Yunnan province has given equipment and technical assistance to Cambodia’s National Authority for Combating Drugs (NACD) to crack down on drug-trafficking and terrorism along troubled border areas (Xinhua, January 1). Military-to-military ties also have blossomed, and Beijing is Cambodia’s largest provider of military aid today. Both sides signed a military cooperation pact in May 2012 where China agreed to provide Cambodia with $17 million in military aid and to construct a military training facility in the country (Xinhua, May 28, 2012). In addition, Beijing periodically signs off on loans to Phnom Penh for various military equipment and training programs, including patrol aircraft, military helicopters and a recent six-week course for Cambodian armed forces to clear landmines (Xinhua, December 13, 2012).


Mấy năm qua, mối quan hệ giữa hai nước cũng phát triển sang lĩnh vực an ninh, về tăng cường thực thi pháp luật, từ khi hai bên ký thỏa thuận hợp tác năm 2008, tỉnh Vân Nam đã cung cấp thiết bị và hỗ trợ kỹ thuật cho Cơ quan phòng chống ma túy Quốc gia (NACD) để ngăn chặn buôn bán ma túy và khủng bố. Mối quan hệ quân sự cũng phát triển và hiện nay Trung Quốc là nước viện trợ quân sự lớn nhất của Campuchia. Hai bên đă ký hiệp ước hợp tác quân sự vào tháng 5/2012, theo đó, Trung Quốc đồng ý viện trợ quân sự cho Campuchia 20 triệu USD và xây dụng một trường đào tạo quân sự ở nước này. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng cho Phnôm Pênh vay khối lượng tiền lớn với lãi suất ưu đãi để mua sắm trang thiết bị quân sự khác nhau, kể cả các máy bay tuần tiễu, máy bay trực thăng quân sự và tổ chức một khóa học kéo dài 6 tuần cho lực lượng vũ trang Campuchia để tháo gỡ bom mìn.
Both sides also have strengthened cultural and people-to-people ties. Bilateral visits are frequent and increasingly occur at the state as well as party and provincial levels (Ministry of Foreign Affairs, August 22, 2011). China is Cambodia’s third biggest tourism market with around 270,000 Chinese visiting Cambodia in 2011, a number Cambodia wants to increase to one million by 2020 (Xinhua, December 4, 2012). Mandarin Chinese is the second most popular language in Cambodia after English, and Chinese schools are mushrooming nationwide (Radio Free Asia, April 25, 2012; Xinhua, October 5, 2011). China also invests significantly in emphasizing the rich history of Sino-Cambodian relations. When Cambodia’s former King Norodom Sihanouk died in China in October last year, Chinese State Councilor Dai Bingguo personally escorted the coffin to Cambodia and national flags were flown at half-mast as they were in Phnom Penh (Xinhua, October 17, 2012). Sino-Cambodian relations also are facilitated by the country’s Cambodian Chinese population, one of its largest minority groups prominent in politics and business.


Trung Quốc và Campuchia cũng tăng cường quan hệ văn hóa và trao đổi con người. Các chuyến thăm song phương cấp nhà nước, đảng và tỉnh thường xuyên diễn ra. Trung Quốc là thị trường du lịch lớn thứ ba của Campuchia với khoảng 234.000 lượt người Trung Quốc đến thăm Campuchia.năm 2011. Campuchia dự kiến số lượng khách du lịch Trung Quốc đến Campuchia sẽ tăng lên 1 triệu người vào năm 2020. Hiện nay, tiếng Quan Thoại là ngôn ngữ phổ biến thứ hai ở Campuchia sau tiếng Anh và các trường học của người Trung Quốc đang mọc lên như nấm ở Campuchia. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đầu tư đáng kể cho lịch sử quan hệ hai nước. Khi cựu Quốc vương Norodom. Sihanouk từ trần tại Trung Quốc vào tháng 10/2012, ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc đã hộ tống quan tài về Campuchia và Trung Quốc cũng treo cờ rủ như ở Phnôm Pênh. Mối quan hệ Trung Quốc-Campuchia được thúc đẩy một phần do dân số người Campuchia gốc Trung Quốc là một trong những nhóm người thiểu số lớn nhất và có ảnh hưởng chính trị cũng như kinh doanh tại Campuchia.
China has used its growing influence in Cambodia to reap political benefits, often with pressure and inducements on sensitive issues perceived to affect its sovereignty. Joint statements between the two countries boosting cooperation, including the one issued after Chinese President Hu Jintao’s visit to Cambodia in April 2012, often are accompanied by reaffirmations of Phnom Penh’s steadfast commitment to the one-China policy (Xinhua, April 2, 2012). In 2009, despite international furor and some initial hesitation, Cambodia eventually repatriated 20 asylum-seeking Uighurs back to China and subsequently was rewarded $1.2 billion in aid one day later by Beijing. Most recently, Cambodia also was accused of towing Beijing’s line on territorial disputes with Southeast Asian countries in the South China Sea during its 2012 ASEAN chairmanship and even sharing internal drafts of proposed agreements with Chinese interlocutors (“China Pushes on the South China Sea, ASEAN Unity Collapses,” China Brief, August 3, 2012; Asia Times Online, July 27, 2012).
Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng ngày càng tăng ở Campuchia để đạt được lợi ích chính trị và thường gây sức ép kèm theo các ưu đãi về các vấn đề nhạy cảm để gây ảnh hưởng chủ quyền của Campuchia. Các tuyên bố chung giữa 2 nước nhằm thúc đẩy hợp tác, kể cả tuyên bố chung được công bố sau chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tháng 4/2012 thường kèm theo điều khoản Campuchia tái khẳng định cam kết với chính sách một nước Trung Quốc. Năm 2009, bất chấp dư luận quốc tế, Chính phủ Campuchia đã quyết định hồi hương 20 người tị nạn Duy Ngô Nhĩ về Trung Quốc, sau đó một ngày, Trung Quốc viện trợ cho Campuchia 1,2 tỷ USD. Gần đây, Campuchia cũng bị tố cáo ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh trong tranh chấp chủ quyền lãnh hải với các nước Đông Nam Á trên Biển Đông trong thời gian giữ chức Chủ tịch ASEAN năm 2012 và thậm chí cung cấp cho Bắc Kinh các dự thảo văn kiện thỏa thuận chỉ lưu hành nội bộ. ("Trung Quốc lấn lướt trên Biển Đông, Thống nhất ASEAN sụp đổ," Tin Vằn Trung Quốc Giới thiệu tóm tắt, 3/8/2012; Asia Times Online, 27 tháng 7 năm 2012).


Despite Beijing’s increasing clout in Cambodia, there are several limits to the relationship that could pose challenges for both sides.


Mặc dù ảnh hướng của Trung Quốc ngày càng lớn tại Campuchia, nhưng hiện nay quan hệ hai nước đang tồn tại một số hạn chế, từ đó có thể gây nên những thách thức cho cả hai nước.


First, while Phnom Penh certainly is constrained by the invisible strings attached to Chinese assistance, it has cultivated other relationships to ensure it does not fall fully into Beijing’s camp. For instance, U.S.-Cambodian relations have warmed in recent years, and cooperation proceeds in the form of counterterrorism training, small-scale joint exercises and assistance via the Lower Mekong Initiative. Balancing various powers is a strategy that dates back centuries to the Khmer kings, and Hun Sen is unlikely to abandon this practice because he remembers China’s own opportunism in Cambodia’s history and remains distrustful of Beijing (Asia Times Online, July 20, 2011).

- Thứ nhất, tuy Campụchia hiện đang bị trói buộc bởi những sợi dây vô hình của Trung Quốc, nhưng Phnôm Pênh đã phát triển nhiều mối quan hệ khác để đảm bảo không hoàn toàn lệ thuộc Bắc Kinh. Ví dụ, quan hệ giữa Mỹ và Campuchia đã được cải thiện trong những năm gần đây thông qua các chương trình hợp tác và phát triển dưới hình thức huấn luyện chống khủng bố, diễn tập quân sự chung quy mô nhỏ và viện trợ thông qua Sáng kiến hạ nguồn sông Mê Công. Hơn nữa, cân bằng quan hệ với các cường quốc khác nhau là chiến lược đã được các vua chúa Campuchia theo đuổi nhiều thế kỷ và chế độ Hun Sen không thể từ bò thực tế này bởi vì ông ta biết rõ chủ nghĩa cơ hội của Trung Quốc trong lịch sử Campuchia và không hoàn toàn tin tưởng Bắc Kinh (Thời báo Châu Á-Online, July 20, 2011).
.
Yet this is still a tricky balance, and it is unclear whether Cambodia will be able to execute it successfully in the next few years or whether Beijing will tolerate it. In several cases, such as Cambodia’s decision to deport the Uighurs in 2009 or its position on the South China Sea in ASEAN meetings in 2012, Phnom Penh has taken China’s side (at times with inducements) and has alienated the international community and its fellow ASEAN brethren. What if Cambodia decided in the future to take a position not entirely in line with Beijing on a given issue? Would Beijing condone this, and what would the consequences be? Sino-Cambodian relations only can mature if Cambodia can exercise its autonomy fully and China learns to respect it instead of just expecting complete deference in return for its patronage.


Tuy nhiên, đây là sự cân bằng khó khăn và chưa rõ liệu Campuchia có thể thực hiện thành công sự cân bằng đó trong vài năm tới và liệu Bắc Kinh có chấp nhận hành động đó không? Trong một số trường hợp, chẳng hạn Campuchia quyết định trục xuất những người tị nạn Duy Ngô Nhĩ về Trung Quốc năm 2009 hoặc quan điểm của Phnôm Pênh về Biển Đông trong các hội nghị ASEAN năm 2012 cho thấy Phnôm Pênh đang ngả theo Trung Quốc, xa lánh cộng đồng quốc tế và phản bội các nước bạn bè ASEAN. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu nay mai Campuchia quyết định có quan điểm không phù hợp với Bắc Kinh về vấn đề biển Đông? Liệu Bắc Kinh có cho phép điều này xảy ra và hậu quả sẽ ra sao? Thực tế quan hệ Trung Quốc-Campuchia chỉ có thể phát triển nếu Campuchia hoàn toàn tự chủ và Trung Quốc phải tôn trọng Campuchia thay vì chỉ muốn Phnôm Pênh kính trọng để đổi lấy sự bảo trợ.


Second, China’s influence in Cambodia comes at a domestic cost. Concerns about corruption, human rights violations and environmental degradation in Chinese-backed projects are growing louder and stirring up trouble for Cambodia’s rulers. 4,000 families were evicted from their homes around Boeung Kak Lake for a development project by Erdos Hongjun Investment Corporation, a case which has received high-level attention from human rights groups, ordinary Cambodians and U.S. Secretary of State Hillary Clinton (Phnom Penh Post, May 28, 2012). In another case, Tianjin Union Development Group, a Chinese real estate company, has come under scrutiny for transforming Botom Sakur National Park into a gambling paradise (Jakarta Globe, March 7, 2012). Both cases have become tied to growing national agitation over land rights and government inaction, which is expected to be a hot issue in general elections this July (Phnom Penh Post, June 15, 2012; Rasmei Kampuchea Daily, November 29, 2012). If domestic opposition to China’s footprint in Cambodia becomes even louder in succeeding years, it could trigger tensions within the bilateral relationship or limit prospects for cooperation.


Thứ hai, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Campuchia khiến nước này phải trả giá. Mối lo ngại trước tình trạng tham nhũng, vi phạm nhân quyền và suy thoái môi trường trong các dự án của Trung Quốc ngày càng gia tăng và gây nhiều rắc rối cho các nhà lãnh đạo Campuchia. 4.000 gia đình Campuchia bị xua đuổi khỏi nơi họ sinh sống xung quanh hồ Boeung Kak để nhường đất cho một dự án phát triển của Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư Hồng Tuấn Ordos Nội Mông – một sự kiện đang thu hút sự chú ý của các tổ chức nhân quyền và người dân Campuchia. Một trường hợp khác, Tập đoàn Phát triển Liên minh Thiên Tân, một công ty bất động sản của Trung Quốc, đã nghiên cứu để biến Công viên Quốc gia Botom Sakur thành một thiên đường cờ bạc. Cả hai trường hợp đều gây nên làn sóng phản đối ngày càng tăng trên cả nước về quyền sử dụng đất và việc chính phủ không hành động. Đây sẽ trở thành vấn đề nóng trong cuộc tổng tuyển cử ở Campuchia vào tháng 7/2013. Nếu dân chúng Campuchia phản đối Trung Quốc mạnh hơn trong năm bầu cử, điều đó có thể gây căng thẳng cho mối quan hệ song phương hoặc hạn chế triển vọng hợp tác Trung Quốc-Campuchia trong tương lai.


Third, while China’s dominant position in Cambodia is due in no small part to the regime’s continuity since the 1990s, even Hun Sen cannot last forever. Judging from his ruling Cambodian People’s Party’s (CPP) overwhelming victory in last year’s commune elections, his grip on power probably will be cemented by a landslide victory in upcoming polls (Asahi Shimbun, June 5, 2012). Whether the 60-year old strongman can rule the country until age 90 as he says he will, however, is less clear (South China Morning Post, November 20, 2012). He himself has suggested that health issues may curb the longevity of his rule (Radio Free Asia, January 21, 2010). Moreover, though some have suggested Cambodians currently are willing to overlook democracy for the sake of political stability after years of genocide and civil war, history offers plenty of cases, including in nearby Myanmar, where transitions have nonetheless occurred in various forms.

- Thứ ba, mặc dù Trung Quốc thống trị chế độ Hun Sen liên tục từ những năm 1990 đến nay, nhưng bản thân Hun Sen không thể tồn tại mãi mãi. Đánh giá thắng lợi áp đào của Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) trong cuộc bầu cử cấp xã năm ngoái, việc nắm quyền lực của ông có thể được củng cố bởi một chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử sắp tới. (Asahi Shimbun, 5/6/2012). Nhưng liệu ông Hun Sen 60 tuổi mạnh mẻ này có thể cai trị đất nước đến tuổi 90 như ông tuyên bố hay không? Vừa qua, Hun Sen cho biết vấn đề sức khỏe có thê hạn chế thời gian nắm quyền của ông. (Đài Châu Á Tự do, 21/1/2010). Hơn nữa, mặc dù một số người Campuchia cho biết họ sẵn sàng bỏ qua vấn đề dân chủ vì mục đích ổn định chính trị sau nhiều năm bị diệt chủng và nội chiến, nhưng lịch sử có nhiều trường hợp chẳng hạn như nước Mianma láng giềng đã có nhiều chuyển đổi dưới các hình thức khác nhau.

In a more democratic environment, there would certainly be more scrutiny on China’s footprint in Cambodia, and perhaps even a relative erosion of its influence in favor of other countries to better balance Cambodia’s foreign policy.


Trong một môi trường dân chủ hơn, chắc chắn người Campuchia sẽ nhận thấy bản chất của Trung Quốc tại Campuchia và chắc chắn việc xóa bỏ phần nào ảnh hưởng của Bắc Kinh sẽ giúp Phnôm Pênh cân bằng hơn trong chính sách đối ngoại
Short of these limits though, few expect Beijing’s formidable influence in Cambodia to ebb anytime soon. At least for now, China, which Hun Sen famously called “the root of everything that is evil in Cambodia” in a 1988 essay, is the source of enough good in the country to be courted rather than condemned [2].

Mặc dù các hạn chế trong quan hệ Trung Quốc- Campuchia không nhiều, nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Campuchia sẽ sớm bị giảm. Tất nhiên ở thời điểm hiện nay khi Trung Quốc đang là động lực cho sự phát triển ở Campuchia, ông Hun Sen sẽ ve vãn chứ không lên án Bắc Kinh.
Notes:
1. Zhou Daguan, The Customs of Cambodia, translated by Michael Smithies, Bangkok: The Siam Society, 2001.
2. Sophie Richardson, China, Cambodia and the Five Principles of Peaceful Coexistence, New York: Columbia University Press, 2010, p. 151.



http://www.jamestown.org/index.php?id=148