|
|
|
Asia’s mania for “reclaiming” land from the sea spawns mounting
problems
|
Cơn sốt ‘lấn biển’ của châu Á nẩy sinh ra nhiều vấn đề chồng chất
|
Such quantities of sand
|
Cát nhiều đến thế
|
by Banyan
|
Tác giả: Banyan
|
The Economist, Feb 28th 2015
|
The Economist, 28-2-2015
|
EVEN on a quiet Sunday morning, a
steady stream of lorries trundles along the broad, pristine and otherwise
deserted streets of Punggol Timur, an island of reclaimed land in the
north-east of Singapore. They empty their loads into neat rows of white,
yellow and grey mounds where the country stockpiles a vital raw material:
sand. Building industries around the world depend on sand. But Singapore’s
need is especially acute, as it builds not just upward but outward, adding
territory by filling in the sea—with sand. And in Asia it is far from alone.
The whole region has a passion for land reclamation that has long delighted
property developers. But it has worried environmentalists. And it brings
cross-border political and legal complications.
|
Ngay cả vào một buổi sáng Chủ nhật
yên tĩnh, một dòng xe tải đều đặn hối hả chạy dọc theo các đường phố rộng,
hoang sơ nếu không nói là hoang vắng của Punggol Timur, một hòn đảo có được từ
lấn biển ở phía đông bắc của Singapore. Các xe này trút hết tải trọng xuống
thành từng đống trắng, vàng và xám theo hàng lối thật trật tự ở chỗ mà đất nước
này tích trữ loại nguyên liệu quan trọng: cát. Công nghiệp xây dựng trên thế
giới phụ thuộc vào cát. Nhưng nhu cầu của Singapore là đặc biệt gay gắt, vì
không những họ xây lên cao mà còn xây ra ngoài, thêm lãnh thổ bằng cách dùng
cát lấp biển. Và tại châu Á họ không phải là kẻ đơn độc. Toàn khu vực đều đam
mê với việc tôn tạo đất vốn lâu nay đã làm các nhà phát triển bất động sản
vui thích. Nhưng điều đó lại làm các nhà bảo vệ môi trường lo lắng và đem lại
những rắc rối chính trị và pháp lý xuyên biên giới.
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Showing posts with label ASIA-CHÂU Á. Show all posts
Showing posts with label ASIA-CHÂU Á. Show all posts
Friday, February 27, 2015
Such quantities of sand Cát nhiều đến thế
Wednesday, September 18, 2013
The Consequences of the Syrian Conflict in Asia-Pacific Hệ lụy của cuộc xung đột Syria ở Châu Á – Thái Bình Dương
|
|
|
|
The Consequences of
the Syrian Conflict in Asia-Pacific
|
Hệ lụy của cuộc xung
đột Syria ở Châu Á – Thái Bình Dương
|
|
by Khanh Vu Duc
Asia sentinel
FRIDAY, 30 AUGUST 2013
|
Vũ Đức Khanh,
Asia Sentinel
30-8-2013
|
|
How the US reacts
won't be much different from how it would react should war break out in the
South China Sea.
|
Cách phản ứng của Mỹ
sẽ không khác nhiều so với cách nó phản ứng nếu cuộc chiến tranh xảy ra ở
biển Đông.
|
|
The Syrian civil war might be out of mind and out of sight
for the leaders of Asian-Pacific states. However, make no mistake, this
conflict and its outcome will have a direct impact on those living here.
|
Các nhà lãnh đạo của các nước Châu Á – Thái Bình Dương có
thể không suy nghĩ gì nhiều và không nhìn thấy gì ở cuộc nội chiến Syria; tuy
nhiên, xin đừng mắc sai lầm, cuộc xung đột này và kết cục của nó sẽ tác động
trực tiếp đến những ai đang sống ở Châu Á – Thái Bình Dương.
|
Tuesday, September 17, 2013
Asian Leaders Welcome U.S. Rebalance, Official Says Các nhà lãnh đạo Châu Á hoan nghênh chiến lược tái cân bằng của Mỹ
|
|
|
|
Asian Leaders
Welcome U.S. Rebalance, Official Says
|
Các nhà lãnh đạo
Châu Á hoan nghênh chiến lược tái cân bằng của Mỹ
|
|
By Jim Garamone
American Forces Press Service
Sept. 5, 2013
|
Jim Garamone
American Forces Press Service
05/09/2013
|
|
WASHINGTON, Sept. 5, 2013 – As leaders across Asia
welcomed Defense Secretary Chuck Hagel during his recent trip there, they
also welcomed the U.S. rebalance to Asia, the acting assistant secretary of
defense for Asian and Pacific security affairs told reporters here today.
|
WASHINGTON, 05/09/2013
Khi các nhà lãnh đạo khắp Châu Á chào đón Bộ trưởng Quốc
phòng Chuck Hagel trong chuyến công du vừa qua của ông tới đây, họ cũng hoan
nghênh chiến lược tái cân bằng của Mỹ sang Châu Á, quyền Trợ lý Bộ trưởng
Quốc phòng phụ trách an ninh sự vụ Châu Á – Thái Bình Dương phát biểu với các
phóng viên hôm 5.9 tại Washington.
|
Thursday, August 15, 2013
The TPP, Abenomics and America’s Asia Pivot TPP, kinh tế Abe và chiến lược xoay trục hướng về châu Á của Mỹ
|
|
|
The TPP, Abenomics
and America’s Asia Pivot
|
TPP, kinh tế Abe và
chiến lược xoay trục hướng về châu Á của Mỹ
|
By Andre Stein and Miro Vassilev
|
Andre
Stein và Miro Vassilev
|
The Diplomat
August 06, 2013
|
The Diplomat,
06 tháng Tám 2013
|
The TPP talks are
critical for both Japan’s future and U.S. Asia policy.
|
Các cuộc đàm phán TPP là rất quan trọng đối với tương
lai Nhật Bản và chính sách châu Á của Mỹ.
|
Japan’s entrance into the Trans-Pacific Partnership
free-trade treaty negotiations is arguably the most important event in U.S.
relations with the Asia-Pacific in the last decade. This is because the
sustainability of long-term American strategic power in Asia and Prime
Minister Shinzo Abe’s attempts to resuscitate the Japanese economy are
entirely co-dependent. Without an economically resurgent Japan, Asia will be
increasingly sucked away from the U.S. and into the Chinese economic and
strategic orbit.
|
Nhiều người tranh luận rằng việc Nhật Bản tham gia các
cuộc thương thuyết về hiệp định tự do mậu dịch Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TTP) là biến cố quan trọng nhất trong quan hệ của Mỹ đối với khu vực châu
Á-Thái Bình Dương trong vòng một thập niên nay. Sự thể cũng chỉ vì tính bền
vững của quyền lực chiến lược lâu dài của Mỹ tại châu Á và những nỗ lực vực
dậy nền kinh tế Nhật Bản của Thủ tướng Shinzo Abe hoàn toàn nương tựa vào
nhau. Nếu không có một Nhật Bản vươn dậy lại trong mặt trận kinh tế, thì châu
Á ngày càng bị hút khỏi từ trường của Mỹ và dần dần đi vào quĩ đạo kinh tế và
chiến lược của Trung Quốc.
|
Wednesday, August 7, 2013
An Asian Century Or A Century Of Continued Asian Dilemma And Distrusts – Analysis Một thế kỷ châu Á hay Một thế kỷ châu Á tiếp tục lưỡng nan và thiếu tin cậy - Phân tích
|
|
|
|
Orchha Palace in
India, photo by Doron
|
Lâu đài Orchha ở Ấn
Độ, ảnh Doron
|
|
An Asian Century Or
A Century Of Continued Asian Dilemma And Distrusts – Analysis
|
Một thế kỷ châu Á
hay Một thế kỷ châu Á tiếp tục lưỡng nan và thiếu tin cậy - Phân tích
|
|
By Keshav Prasad Bhattarai
|
Keshav Prasad Bhattarai
|
|
Eurasia review
May 28, 2013
|
Eurasia review
28/5/ 2013
|
|
Many enthusiasts say it is an Asian Century. The region
has a bigger population than the combined population of all other continents.
According to the U.S. intelligence community report – Global Trends 2030 –
Asia will wield more global power in terms of GDP, military spending and
investment than the United States and Europe combined, and for this reason
Asia rightly deserves to own that title.
|
Nhiều người lạc quan cho rằng đây là thế kỷ châu Á. Châu Á
có dân số lớn hơn dân số của tất cả các châu lục khác cộng lại. Như bản báo
cáo “các xu hướng toàn cầu đến năm 2030” của cộng đồng tình báo Mỹ nhận định,
châu Á sẽ có sức mạnh toàn cầu về GDP, chi phí quân sự và đầu tư lớn hơn Mỹ
và châu Âu cộng lại, vì vậy châu Á xứng đáng với danh hiệu đó.
|
Monday, April 8, 2013
Strategic Horizons: Thinking the Unthinkable on a Second Korean War Chân trời chiến lược: Những điều không thể tưởng về cuộc chiến Triều Tiên lần hai
|
|
|
Photo: A North
Korean soldier stands guard at the 36th parallel (photo by Iason
Athanasiadis).
|
Ảnh: Một người lính
Bắc Triều Tiên canh gác tại vỹ tuyến 36 (ảnh Iason Athanasiadis).
|
Strategic Horizons:
Thinking the Unthinkable on a Second Korean War
|
Chân trời chiến
lược: Những điều không thể tưởng về cuộc chiến Triều Tiên lần hai
|
By Steven Metz,
World politics review.
13 Mar 2013
|
Steven Metz,
Tạp chí Chính trị Thế giới
13/3/2013
|
Today, North Korea is the most dangerous country on earth
and the greatest threat to U.S. security. For years, the bizarre regime in
Pyongyang has issued an unending stream of claims that a U.S. and South
Korean invasion is imminent, while declaring that it will defeat this
offensive just as -- according to official propaganda -- it overcame the
unprovoked American attack in 1950. Often the press releases from the
official North Korean news agency are absurdly funny, and American
policymakers tend to ignore them as a result. Continuing to do so, though,
could be dangerous as events and rhetoric turn even more ominous.
|
Hiện nay Bắc Triều Tiên là quốc gia nguy hiểm nhất trên
trái đất và là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh của Mỹ. Nhiều năm qua, chế
độ kỳ dị ở Bình Nhưỡng liên tục tuyên bố Mỹ và Hàn Quốc đang chuẩn bị một
cuộc xâm lược, đồng thời khẳng định Bắc Triều Tiên sẽ đánh bại cụộc tấn công
này như đã từng đánh bại hành động xâm lược vô cớ của Mỹ năm 1950. Thông
thường các thông cáo báo chí của hãng thông tấn chính thức ở Bắc Triều Tiên
rất lố bịch và nực cười, do đó các nhà hoạch định chính – sách và các nhà
chiến lược của Chính phủ Mỹ có xu hướng bỏ qua các tuyên bố đó. Nhưng tiếp
tục thái độ như vậy có thể rất nguy hiểm khi các sự kiện và tuyên bố dẫn đến
những hành động bất ngờ.
|
Sunday, February 17, 2013
A Sea of Troubles: Asia Today Compared to Europe Before World War I Châu Á hiện nay tương tự như châu Âu trước Thế chiến I
|
|
|
|
A demonstrator is
seen behind a flag of the People's Republic of China during a protest over
disputed islands in the East China Sea at the Japanese embassy in Budapest on
Sept. 24, 2012
|
Người biểu tình được
nhìn thấy đằng sau một lá cờ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong một cuộc
biểu tình vềcác đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông trước Đại sứ quán Nhật Bản tại
Budapest vào ngày 24 tháng Chín, 2012
|
|
A Sea of Troubles:
Asia Today Compared to Europe Before World War I
|
Châu Á hiện nay
tương tự như châu Âu trước Thế chiến I
|
|
By Ishaan Tharoor
Feb. 01, 2013
|
Ishaan Tharoor
01/2/2013
|
|
|
|
|
Despite no one wanting to see conflict in Asia, the ranks
of doomsayers and worrywarts seem to grow by the day. The specter haunting
the continent is that of China 's geo-political rise. Governments near and
far are watching warily as the budding nondemocratic superpower asserts
itself on the international stage, tacitly challenging a Pax Americana that
has existed since 1945. Some countries are already locked in combustible
disputes with Beijing: the region's waters have been roiled in recent years
by standoffs over barren islands to China's south and east; Chinese relations
with Vietnam , Japan and the Philippines all soured as a result.
|
Mặc dù chẳng ai muốn thấy xung đột ở châu Á, nhưng số
người bi quan và hốt hoảng đang gia tăng từng ngày. Sự ngóc đầu dậy về mặt
địa chính trị của Trung Quốc là bóng ma đang săn đuổi lục địa này. Chính phủ
các nước xa gần đang cảnh giác quan sát siêu cường phi dân chủ đang lên tìm
cách bảo vệ địa vị của mình trên trường quốc tế và ngầm thách thức học thuyết
Hòa bình kiểu Mỹ (Pax Americana) có từ năm 1945. Một số nước đã vướng vào những
cuộc tranh cãi cực kỳ căng thẳng với Bắc Kinh: trong mấy năm vừa qua, những
cuộc tranh cãi không ngưng nghỉ về những hòn đảo hoang ở phía nam và đông
Trung Quốc đã làm xấu đi mối quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam, Nhật Bản và
Philippines.
|
|
The climate of tensions is thick enough to have drawn
comparisons to a perilous moment a century ago. In separate opinion pieces
this week, two former Asian foreign ministers likened Asia now to pre–World
War I Europe, then strung together by a tangle of imperial enmities and
alliances. The South China Sea — a pivotal, strategic body of water that
China considers its “internal lake,” much to the ire of its neighbors — is,
like the Balkans a hundred years ago, the supposed tinderbox that could spark
a larger regional conflagration, if not a full-fledged war. Here's Kevin Rudd
, former Australian Prime Minister and Foreign Minister:
|
Bầu không khí căng thẳng đến mức làm người ta nhớ đến giai
đoạn hiểm nghèo cách đây đúng một trăm năm trước. Trong tuần này, hai ông cựu
Bộ trưởng Ngoại giao của hai nước châu Á (ý nói Australia và Hàn Quốc, xem
bên dưới – ND) trong những bình luận riêng biệt, cùng so sánh châu Á với châu
Âu lúc đó cũng bị vướng vào những vụ xung đột và liên minh trước Thế chiến I.
Biển Đông – vùng biển chiến lược quan trọng nhất mà Trung Quốc coi là “nội
thủy” của mình, làm cho các lân bang nổi giận – giống như khu vực Balkans
cách đây 100 năm: nó giống như một thùng thuốc súng có thể tạo ra một đám
cháy lớn trên một khu vực, nếu không phải là một cuộc chiến tranh thực sự.
Cựu Thủ tướng và cựu Ngoại trưởng Australia, ông Kevin Rudd nói:
|
|
Like the Balkans a
century ago, riven by overlapping alliances, loyalties and hatreds, the
strategic environment in East Asia is complex. At least six states or
political entities are engaged in territorial disputes with China, three of
which are close strategic partners of the United States.
|
Giống như khu vực
Balkans một trăm năm về trước, bị chia rẽ bởi những liên minh chồng lấn lên
nhau, bị chia rẽ bởi lòng trung thành và thù hận, tình hình chiến lược của
Đông Nam Á hiện nay rất phức tạp. Ít nhất có sáu nước hay thực thể chính trị
hiện đang tranh chấp về lãnh thổ với Trung Quốc, ba trong số đó là những đồng
minh chiến lược gần gũi với Mỹ.
|
|
The perceived decline of Washington's Pacific supremacy,
at least set against China's growing power, forms the backdrop to all the
festering territorial disputes. The rules of the game are changing in the
region and the uncertainty that creates raises the risk of confrontation.
Yoon Young-kwan, a former South Korean Foreign Minister, points to another
early 20th century parallel :
|
Quyền lực của Washington ở khu vực Thái Bình Dương được
cho là đang đi xuống, trong khi sức mạnh của Trung Quốc lại đang gia tăng,
tạo ra bối cảnh cho những vụ tranh cãi về lãnh thổ hiện nay. Luật chơi trong
khu vực đang có biến đổi và sự không chắc chắn làm gia tăng nguy cơ đối đầu.
Ông Yoon Young-kwan, cựu Ngoại trưởng Hàn Quốc, vừa chỉ ra một sự tương đồng
nữa giữa châu Á ngày nay với châu Âu thời đầu thế kỉ XX:
|
|
Back then, Great
Britain's relative power was in decline, while Germany's had been rising
since unification in 1871. Similarly, at least in terms of economic
capability, the United States and Japan seem to have begun a process of
decline relative to China. Major power shifts define eras in which key
political leaders are likely to make serious foreign policy mistakes. Poor
management of international relations at such critical junctures has often
led to major wars.
|
Lúc đó sức mạnh
tương đối của Anh cũng đang xuống dốc; trong khi từ ngày thống nhất, sức mạnh
của Đức lại đang đi lên. Tương tự như thế, ít nhất là sức mạnh kinh tế của Mỹ
và Nhật Bản dường như cũng bắt đầu đi xuống, đấy là nói nếu so với Trung Quốc.
Những vụ thăng trầm quyền lực lớn thường tạo ra những thời đại, trong đó các
nhà lãnh đạo chính trị chủ chốt có thể có những sai lầm nghiêm trọng trong
chính sách đối ngoại. Việc thiếu kiểm soát quan hệ quốc tế trong những giai
đoạn khủng hoảng như vậy thường dẫn tới những cuộc chiến tranh lớn.
|
|
I don't know of a Vietnamese fishing trawler named the
Archduke Franz Ferdinand, nor of a barren shoal called Sarajevo. Diplomacy is
creaking along: Tokyo last week sent an envoy to hand-deliver a letter from
Japanese Prime Minister Shinzo Abe to Chinese leader Xi Jinping; Xi agreed to
consider a summit on territorial disputes. While talk of war is indeed
alarmist, there are obvious reasons for concern. The main one is the
hardening nationalism throughout the region. From Japan to India — and almost
everywhere in between — bellicose rhetoric has been dialed up. China's new
leader Xi has promised no compromise on his country's already absolutist
claim to territories contested by others; some hawkish Chinese military
officers can now speak of being able to “strike first” and wage “short, sharp
wars.”
|
Tôi không biết gì về con tàu đánh cá của Việt Nam có tên
là Đại công tước Archduke Franz Ferdinand, cũng như không biết gì về bãi ngầm
mang tên Sarajevo. Hiện nay ngành ngoại giao đang làm việc: tuần vừa rồi
Tokyo đã gửi đến Bắc Kinh vị đại diện để trao tận tay bức thư của ông Shinzo
Abe – Thủ tướng Nhật Bản – cho nhà lãnh đạo Trung Quốc là ông Tập Cận Bình.
Ông Tập Cận Bình đã đồng ý xem xét khả năng tổ chức hội nghị thượng đỉnh để
bàn về tranh chấp lãnh thổ. Trong khi những bàn tán về chiến tranh có thể là
hơi quá đáng, nhưng rõ ràng là có lý do để lo lắng. Lý do chính là chủ nghĩa
dân tộc đang gia tăng trên toàn khu vực. Từ Nhật Bản đến Ấn Độ và hầu như tất
cả các nước nằm trong khu vực này, ngôn từ hiếu chiến đã và đang được đẩy
lên. Ông Tập Cận Bình – nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc – hứa sẽ không có
nhượng bộ về tuyên bố chủ quyền trên những vùng lãnh thổ đang bị các nước
khác tranh giành; trong khi đó, một số sĩ quan hiếu chiến của Trung Quốc hiện
nay có thể tuyên bố rằng họ có thể “tấn công phủ đầu” và có thể tiến hành một
cuộc “chiến tranh quyết liệt, chớp nhoáng”.
|
|
You can hear in that burgeoning confidence echoes of late
19th century Germany. Historians have already connected the dots linking
China's authoritarian state with that constructed by Germany's architect, the
Prussian Otto von Bismarck. The proud nationalism of Kaiser Wilhelm II isn't
out of place in contemporary China, where Beijing has made an art of whipping
up nationalist flames in order to drown out other howls of protest. Don't be
that surprised if the phrase Wilhelmine Germany makes its way back into
newspaper editorial pages.
|
Có thể thấy sự đồng vọng của nước Đức hồi cuối thế kỷ XIX
trong sự tự tin như thế của Trung Quốc. Các nhà sử học đã chỉ ra được những
sự tương đồng giữa nhà nước toàn trị Trung Quốc với nước Đức do nhà thiết kế
người phổ, ông Otto von Bismarck, lập ra. Chủ nghĩa dân tộc đầy kiêu ngạo của
Hoàng đế Wilhelm II không phải là điều xa lạ với Trung Quốc hiện nay, trong
khi Bắc Kinh lại rất khéo léo trong việc thổi bùng lên ngọn lửa dân tộc chủ
nghĩa nhằm làm át đi những tiếng thét phản đối của dân chúng. Cho nên đừng
lấy làm ngạc nhiên nếu câu nước Đức của Wilhelm lại xuất hiện trên các tờ xã
luận.
|
|
Still, China's main agenda is a domestic one — the country
faces tremendous pressures to maintain its whirlwind growth, close a yawning
poverty gap and grapple with calls for more political openness. A muscular
pose in foreign affairs can be an escape valve for tensions at home. In an
interview excerpted in TIME's international edition last week, former
Singaporean Prime Minister and elder Asian statesman Lee Kuan Yew spoke of
the “reawakened sense of destiny” among China's people — what Lee deems “an
overpowering force.” He goes on:
|
Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đang tập trung vào những
vấn đề đối nội – đất nước này đang phải đối mặt với những áp lực cực kỳ lớn
nhằm giữ vững được tốc độ phát triển như vũ bão của họ, thu hẹp khoảng cách
giàu nghèo và đáp ứng được những lời kêu gọi về cởi mở chính trị hơn nữa.
Chính sách đối ngoại cứng rắn có thể trở thành cái van xả bớt tình trạng căng
thẳng ở trong nước. Trong cuộc trả lời phỏng vấn, đăng trên số ra tuần tước
của tờ Time, ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore và cũng là một chính
khách lão luyện của châu Á, đã nói tới “cảm thức về sứ mệnh đã thức dậy”
trong những người dân Trung Quốc – mà ông Lý cho rằng sẽ là “lực lượng không
gì cưỡng lại được”. Ông còn nói thêm:
|
|
Will an
industrialized and strong China be as benign to Southeast Asia as the US has
been since 1945? Singapore is not sure … [Neighboring nations] are uneasy
that China may want to resume the imperial status it had in earlier
centuries.
|
Liệu nước Trung Quốc
đã công nghiệp hóa và mạnh mẽ có tử tế với Đông Nam Á như Mỹ kể từ năm 1945
hay không? Singapore không tin… [Các lân bang] tỏ ra lo lắng về sự kiện là
Trung Quốc có thể muốn xác lập lại vị thế đế quốc mà họ từng có trong những
thế kỷ trước đây.
|
|
And that's another episode in history none of China's
neighbors want repeated.
|
Và đấy là giai đoạn lịch sử mà không có lân bang nào của
Trung Quốc muốn lặp lại.
|
|
|
|
|
Ishaan is a staff writer at TIME
magazine and co-editor of TIME World, based in New York City.
|
Ishaan Tharoor là cây viết của tạp
chí TIME (Mỹ) và đồng biên tập tạp chí TIME World, có trụ sở ở thành phố New
York
|
|
|
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
http://world.time.com/2013/02/01/a-sea-of-troubles-asia-today-compared-to-europe-before-world-war-i/
|
|
Saturday, February 16, 2013
What Arms Race? Why Asia Isn’t Europe 1913 Chạy đua vũ trang? Tại sao châu Á không phải là châu Âu 1913
|
|
|
|
|
|
|
What Arms Race? Why
Asia Isn’t Europe 1913
|
Chạy đua vũ trang?
Tại sao châu Á không phải là châu Âu 1913
|
|
By Geoffrey Till
The Diplomat
February 15, 2013
|
Geoffrey Till
The Diplomat
15 tháng hai năm 2013
|
|
Asia is not
experiencing an arms race like the one that preceded World War I -- at least
not yet.
|
Không phải Châu Á đang
trải qua một cuộc chạy đua vũ trang như đã từng có đã có trước chiến tranh
thế giới - ít nhất là chưa.
|
|
Arms races, naval or otherwise, get a bad rap. They are
usually regarded as the military expression and consequence of the existing
state of international relations, but they can also develop a momentum of
their own, wasting money, exacerbating already tense relations between states
and threatening to destabilize whole regions. Instead of reflecting policy as
Clausewitz reminds us the military should do, arms racers determine it. All too often, moreover, they seem to make
conflict more likely.
|
Các cuộc chạy đua vũ trang, hải quân hoặc không phải hải
quân, ít nhiều đều xấu. Chúng thường được coi là biểu hiện quân phiệt và là
hậu quả của tình trạng hiện thời về quan hệ quốc tế, nhưng chúng cũng có thể
phát triển một động lực của riêng mình, lãng phí tiền của, làm trầm trọng
thêm quan hệ vốn đã căng thẳng giữa các quốc gia và đe dọa gây mất ổn định
toàn bộ khu vực. Thay vì phản ánh chính sách, như Clausewitz nhắc nhở chúng
ta, mà giới quân đội nên thực hiện, chạy đua vũ trang quyết định chính sách đó.
Ngoài ra, quá thường xuyên, dường như, chạy đua vũ trang khiến cho xung đột
có khả năng xảy ra nhiều hơn.
|
|
In the Asia-Pacific region many media outlets and pundits
fear that a naval arms race is indeed developing and lament its possible
consequences. It is not hard to see why— Whether it is Malaysia’s Scorpene
submarines, Vietnam’s Kilos, India’s unprecedented naval building program or
China’s new carrier the Liaoning and its carrier-killing ballistic missiles,
naval modernization across the region is producing, if not always an overall
increase in numbers, then at least substantially more impressive offensive
and defensive naval capabilities.
|
Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhiều phương tiện
truyền thông và các chuyên gia lo ngại rằng một cuộc chạy đua vũ khí hải quân
thực sự gia tăng và quan ngại về những hậu quả có thể có của nó. Cũng không
khó thấy lý do tại sao - cho dù đó là tàu ngầm Scorpene của Malaysia, tàu
Kilo của Việt Nam, chương trình xây dựng hải quân chưa từng có tiền lệ của Ấn
Độ hoặc tàu sân bay mới Liêu Ninh của Trung Quốc và tên lửa đạn đạo diệt hạm
của nó, việc hiện đại hóa hải quân
trong khu vực đang tạo ra, nếu không phải là luôn luôn là một sự tăng số
lượng tổng thể, thì ít nhất, khả năng tấn công và phòng thủ hải quân cũng ấn
tượng hơn rất nhiều.
|
|
And all of this is coinciding with, or even produced by,
rising maritime tensions in the East and South China Seas. There are more
narrowly focused tensions too, with analysts especially debating the
dismayingly competition between China’s “counter-intervention” strategies and
capabilities, and the U.S. Air-Sea Battle construct. Vietnam’s Kilos can also
be seen as a more modest version of an anti-access/area-denial (A2/AD)
strategy. These examples all suggest a worsening competition between
“offensive” and “defensive” capabilities.
|
Và tất cả những điều này là trùng hợp, hoặc thậm chí được
tạo ra bởi, căng thẳng hàng hải gia tăng tại các vùng biển Đông và Nam Trung
Quốc. Có các căng thẳng được tập trung chú ý sát sao, với các nhà phân tích tranh
luận đặc biệt về cạnh tranh khiếp đảm giữa chiến lược và khả năng "chống
can thiệp" của Trung Quốc, và xây dựng trận chiến Hải-Không của Mỹ. Tàu
Kilo của Việt Nam cũng có thể được xem như một phiên bản khiêm tốn hơn của
một chiến lược chống tiếp cận khu vực (A2/AD). Những ví dụ này cho thấy một
cuộc cạnh tranh ngày càng trầm trọng giữa khả năng "tấn công" và
"phòng thủ".
|
|
But is all this really developing into a naval arms race
similar in style (and potentially effect) to the Dreadnought race that took
place between Britain and Germany before the First World War – and even if it
is, how serious might its consequences in the Asia-Pacific Region actually
be?
|
Nhưng liệu tất cả những điều này thực sự phát triển thành
một cuộc chạy đua vũ trang hải quân tương tự về phong cách (và có thể về hiệu
quả) như cuộc chạy đua Dreadnought đã diễn ra giữa Anh và Đức trước Chiến
tranh thế giới thứ nhất - và ngay cả như thế, thì thực sự hậu quả có thể sẽ nghiêm
trọng tới mức nào trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương?
|
|
While the answer to this question partly depends partly on
how one defines a naval arms race, there are some major differences between
pre-war Europe and the situation now. Most obviously—and with some exceptions
like China, Singapore, and India— Asian countries today are devoting a far
smaller proportion of their national treasure to defense than did Britain,
Germany and the other countries of pre-war Europe. In general, naval
armaments are making much slower technical advances than was the case a
century ago, with acquisition programs around the area being more
incremental, deliberate, and less determined by transformational technology.
It is hard to think of a modern equivalent, for example, of HMS Invincible,
brand spanking new and revolutionary when commissioned in 1909 but
obsolescent when sunk at the Battle of Jutland seven years later in 1916.
|
Trong khi các câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc một
phần vào cách định nghĩa một cuộc chạy đua vũ trang hải quân, có một số khác
biệt lớn giữa châu Âu trước chiến tranh thế giới I và tình hình hiện nay. Rõ
ràng nhất - và với một số trường hợp ngoại lệ như Trung Quốc, Singapore, Ấn
Độ - các nước châu Á ngày nay dành một tỷ lệ nhỏ tài chính quốc gia của họ cho
quốc phòng so với Anh, Đức và các nước khác của châu Âu trước chiến tranh.
Nói chung, trang bị vũ khí hải quân thực hiện tiến bộ kỹ thuật chậm hơn nhiều
so với một thế kỷ trước, với các chương trình mua sắm xung quanh khu vực đang
gia tăng, có chủ ý, và ít xác định bằng công nghệ chuyển đổi. Thật khó để
nghĩ rằng một tàu hiện đại tương đương với, ví dụ, HMS Invincible, mới toanh
và có công nghệ mang tính cách mạng khi đưa vào sử dụng năm 1909 nhưng đã bị
lỗi thời lúc nó bị đánh chìm tại trận Jutland bảy năm sau đó, tức là vào năm
1916.
|
|
Compared to then, technological transformation now is much
steadier, and the importance of maintaining an edge over rivals more
debatable, given the rise of asymmetric technological/political/legal
alternatives and strategies. Crucially, few national leaders, diplomats, or
even sailors talk in arms race terms, and they certainly do not justify their
efforts by the need to “get ahead.” On the contrary policymakers make every
effort to avoid publically naming possible adversaries that they need to
build against.
|
So sánh với hồi đó, chuyển đổi công nghệ hiện nay ổn định
hơn nhiều, và tầm quan trọng của việc duy trì một sự xuất sắc hơn so với các
đối thủ gây tranh cãi nhiều hơn, với sự nổi lên của các giải pháp thay thế và
chiến lược: công nghệ bất đối xứng / chính trị / pháp lý. Điều quan trọng là
chỉ có rrats ít những nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà ngoại giao, hoặc thậm
chí cả thủy thủ nói chuyện về cuộc chạy đua vũ trang, và họ chắc chắn không
biện minh cho những nỗ lực của họ bởi nhu cầu “dẫn đầu”. Ngược lại, các nhà
hoạch định chính sách cố gắng hết sức để tránh công khai kể tên các đối thủ tiềm
năng mà họ cần xây dựng lực lượng để chống lại.
|
|
This was not the case in Europe before WWI when some
politicians did not hesitate to single out adversaries and warn of the dire
consequences of falling behind them militarily. Others, on the contrary,
conceded their countries were in an arms race and warned of the catastrophic
consequences it was likely to have, unless it was stopped. Particularly in
the years 1909-12, there was, with good reason, an air of imminent disaster.
|
Đây không phải là trường hợp ở châu Âu trước Thế chiến I
khi một số chính trị gia đã không ngần ngại chỉ ra đối thủ và cảnh báo về hậu
quả thảm khốc của việc tụt hậu về quân sự so với đối thủ. Những người khác,
trái lại, thừa nhận quốc gia họ đang chạy đua vũ trang và cảnh báo về hậu quả
thảm khốc có thể có, trừ khi nó được ngừng lại. Đặc biệt là trong những năm
1909-12, với lý do chính đáng đã xuất hiện một bầu không khí về tai họa sắp sửa
xảy ra.
|
|
Nor did Europe have the kind of compensating institutional
arrangements that draw nations together rather than drive them apart. For all
the limitations of the “Asian way,” increasing levels of economic
interdependence and transnational regional structures like ASEAN restrain
violate competition. They also facilitate cooperation between regional navies
against common threats such as maritime crime in its various forms (piracy,
drugs , human trafficking and so forth), hold innumerable bilateral and
multilateral exercises and operate side by side in dealing with humanitarian
and civil disasters (the tsunami relief operation of 2004). Although there
were such acts of naval togetherness amongst the European navies of the
period before the First World War, they never became as routine as they
currently are in the Asia-Pacific.
|
Châu Âu cũng không có kiểu thỏa thuận thể chế bù đắp mà thu
hút các quốc gia lại với nhau hơn là đẩy họ xa nhau. Đối với tất cả những hạn
chế của "con đường châu Á", mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế gia
tăng và cấu trúc khu vực xuyên quốc gia như ASEAN kiềm chế vi phạm cạnh
tranh. Chúng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác giữa các lực lượng hải
quân trong khu vực nhằm chống lại các mối đe dọa phổ biến như tội phạm hàng
hải với các hình thức khác nhau của nó (cướp biển, ma túy, buôn bán người và
vv), tổ chức vô số cuộc tập trận song phương và đa phương và hoạt động bên
cạnh nhau trong việc đối phó với các thảm họa nhân đạo và dân sự (hoạt động
cứu trợ nạn nhân sóng thần năm 2004). Mặc dù đã có hành vi liên kết với nhau như
vậy của hải quân châu Âu vào thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng
chúng không bao giờ trở thành thường quy như đang diễn ra ở khu vực châu
Á-Thái Bình Dương.
|
|
This not to say that everything in the naval garden is rosy,
for it certainly is not. Any day in the disputed East and South China Seas
could easily generate an incident that risks turning mild competition into a
full-blown international crisis at sea. All the countries now investing for
the first time in submarines – a difficult and demanding discipline – could
well be the victim of an accident. The oil exploration rigs proliferating
around the East and South China Seas are likely, to judge by events in more
tranquil places elsewhere, to be the scene of a maritime disaster, sooner or
later. Any of these could be really difficult to handle in ocean areas where
ownership is in dispute and nationalist feeling rising- and, sadly, this
applies to a great swathe of the western Pacific. All in all, what’s
happening is not a naval arms race at the moment, but it is far from
impossible that the naval modernization process we see around the region
could turn into one.
|
Điều này không có nghĩa là tất cả mọi thứ trong khu vườn
hải quân đều là màu hồng, chắc chắn nó không phải thế. Bất kỳ ngày nào tỷong
vùng biển tranh chấp ở phía Đông và Nam Trung Quốc đều có thể dễ dàng tạo ra
một sự cố có nguy cơ biến cạnh tranh nhẹ nhàng thành một cuộc khủng hoảng
quốc tế toàn diện trên biển. Tất cả các nước bây giờ đang đầu tư cho tàu ngầm
lần đầu tiên - một ngành học khó khăn và đòi hỏi rất nhiều – rất có thể ngày
kia là nạn nhân của một tai nạn. Theo đánh giá về các sự kiện ở những nơi khác
yên tĩnh hơn, thì các giàn khoan thăm dò dầu mọc lên nhanh chóng xung quanh
các vùng biển Đông và Nam Trung Quốc có khả năng là hiện trường của một thảm
họa hàng hải, sớm hay muộn. Bất kỳ thảm họa nào trong số này cũng có thể sẽ
rất khó khăn để xử lý tại các khu vực đại dương nơi có tranh chấp chủ quyền và
tình cảm dân tộc gia tăng và, thật đáng buồn, điều này áp dụng đối với một vùng
rộng lớn của khu vực Tây Thái Bình Dương. Xét tổng thể, những gì đang xảy ra
không phải là một cuộc chạy đua vũ trang hải quân vào lúc này, nhưng không
phải không có khả năng rằng quá trình hiện đại hóa hải quân mà chúng ta chứng
kiến xung quanh khu vực này có thể trở thành một cuộc chạy đua vũ trang.
|
|
|
|
|
Several factors increase the likelihood of this. First the
high levels of secrecy in regional naval policies. This near total lack of
transparency about the true extent of individual naval acquisition programs
and the intentions that lie behind them force naval planners to operate on
worst case analyses. Nor is this much moderated by institutionalized arms
control and arms usage procedures. The complete failure to operationalize the
2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea after more
than a decade, the paucity of real working hot-line arrangements and
Incidents at Sea agreements all illustrate the problem. And then there is the
growth of social media and the committed “netizen” all too ready to give vent
to nationalist sentiment over the latest spat in the East and South China
Seas, reducing their government’s capacity to maneuver and its often already
fragile ability to keep events under control.
|
Một số yếu tố làm tăng khả năng này. Đầu tiên là mức độ bí
mật cao trong chính sách hải quân khu vực. Nó gần như hoàn toàn thiếu minh
bạch về mức độ thực sự của chương trình mua sắm hải quân đơn lẽ và những ý
định nằm phía sau chúng buộc các nhà hoạch định hải quân phải ứng phó theo các
phân tích về trường hợp xấu nhất. Điều này cũng được điều tiết nhiều bởi việc
kiểm kiểm soát vũ khí được thể chế hóa và thủ tục sử dụng vũ khí. Thất bại
hoàn toàn trong việc áp dụng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm
2002 sau hơn một thập kỷ, sự thiếu thực tế của việc thỏa thuận thiết lập đường
dây nóng hoạt động thực sự và các sự cố tại các thoả thuận về biển minh họa cho
vấn đề này. Và sau đó có sự gia tăng của các phương tiện truyền thông xã hội
và các "cư dân mạng" mà tất cả đều quá sẵn sàng để tạo ra một lỗ thoát
cho tình cảm dân tộc chủ nghĩa về các đụng độ mới nhất ở biển Hoa Đông và Biền
Đông, làm suy giảm khả năng vận động của chính phủ và suy giảm cả khả năng vốn
đã mong manh của chính phủ về duy trì các sự kiện dưới tầm kiểm soát.
|
|
A modern version of the “Dreadnought fever” that gripped
Europe before the First World War is not yet evident. That being said, it
would take a brave analyst to rule out this eventuality in the face of the
cyber-sparring that attended the Scarborough Shoal crisis in 2012, or the
ramming incident that took place in the Senkaku/Diaoyu islands in 2010. For
such reasons, sailors and diplomats in the Asia-Pacific region should be
continually alert to the risk that today’s naval modernization might just,
despite their best intentions, turn into tomorrow’s arms race. As a result
the military means might indeed overwhelm the political ends.
|
Một phiên bản hiện đại của "cơn sốt Dreadnought"
cuốn hút châu Âu trước Chiến tranh thế giới thứ nhất là chưa rõ ràng. Điều đó
nói lên rằng càn có một nhà phân tích dũng cảm để loại trừ tình huống này
trong bối cảnh có đấu khẩu trên mạng đề cập đến cuộc khủng hoảng bãi cạn Scarborough
Shoal trong năm 2012, hoặc sự cố đụng chạm đã diễn ra tại quần đảo Senkaku /
Điếu Ngư vào năm 2010. Vì lý do đó, các thủy thủ và các nhà ngoại giao trong
khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cần được liên tục cảnh báo nguy cơ rằng hiện
đại hóa hải quân ngày hôm nay có thể, bất chấp ý định của họ, sẽ trở thành
cuộc chạy đua vũ trang của ngày mai. Kết quả là các phương tiện quân sự có
thể thực sự áp đảo các mục đích chính trị.
|
|
Geoffrey Till is a
British naval historian and Professor of Maritime Studies in the Defence
Studies Department of King’s College London. He is the author of Asian Naval
Expansion: An Arms Race in the Making (London: Routledge, An Adelphi book for
the IISS, December 2012), from which this article is adapted.
|
Geoffrey Till là một
sử gia hải quân Anh và Giáo sư Nghiên cứu Hàng hải ở Khoa Nghiên cứu Quốc
phòng của Đại học King College London. Ông là tác giả của Bành trướng hải
quân châu Á: Một cuộc chạy đua vũ trang đang bắt đầu (London: Routledge, Một
cuốn sách Adelphi cho IISS, tháng 12 2012), bài viết lấy ra từ sách nầy.
|
|
|
|
|
|
|
|
http://thediplomat.com/2013/02/15/what-arms-race-why-asia-isnt-europe-1913/?all=true
|
|
Thursday, February 14, 2013
The Key To Asia’s Future Chìa khóa mở cửa tương lai châu Á
|
|
|
|
|
|
|
The Key To Asia’s
Future
|
Chìa khóa mở cửa
tương lai châu Á
|
|
By Véronique Salze-Lozac’h, Nina Merchant-Vega, Katherine
Loh, and Sarah Alexander
The Diplomat
January 18, 2013
|
Véronique Salze-Lozac’h, Nina Merchant-Vega, Katherine
Loh, and Sarah Alexander
The Diplomat
Ngày 18 tháng một năm 2013
|
|
With Western
economies facing serious challenges, regional cooperation, greater intra-Asia
trade and development will define the region's future.
|
Trong lúc nền kinh
tế phương Tây phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, hợp tác khu
vực, thương mại và phát triển bên trong Châu Á mạnh mẽ hơn sẽ xác định tương
lai của khu vực này.
|
|
Over the last several decades, Asia has become
increasingly integrated with the rest of the world, its rapid development
driven largely by exports to the United States and European Union (EU). Yet,
as the world’s main economic arteries shift eastward, intra-regional
integration within Asia still lags behind. The recent global financial crisis
and economic fall-out is quickly changing that dynamic, however. Indeed, as
strong, stable economic growth in the West, particularly in the U.S. and EU,
remains elusive, regional markets are becoming more attractive among Asian
countries, highlighting the importance for enhanced integration. Despite
challenges, this trend toward regional integration should continue in 2013.
|
Trong nhiều thập kỷ qua, châu Á đã trở nên ngày càng hội
nhập với phần còn lại của thế giới, sự phát triển nhanh chóng của châu Á chủ
yếu do xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, khi huyết
mạch kinh tế chính của thế giới hướng về phía đông, hội nhập nội-khu vực tại châu
Á vẫn còn tụt hậu. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây và suy
thoái kinh tế đang nhanh chóng thay đổi động lực đó. Thật vậy, khi tăng
trưởng kinh tế mạnh mẽ và ổn định ở phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ và EU, vẫn
còn khó lường, thị trường khu vực đang trở nên hấp dẫn hơn giữa các nước châu
Á, làm bật lên tầm quan trọng của việc tăng cường hội nhập. Mặc dù có những
thách thức, xu hướng hội nhập khu vực này sẽ tiếp tục trong năm 2013.
|
|
Currently, over half of world trade takes place between
members of regional trade agreements, and Asia is no exception. However, in
Asia, as in other parts of the world, regional integration is uneven. While
Southeast Asia is shoring up its economic integration efforts through the
Association of Southeast Asian Nations
(ASEAN) Economic Community Blueprint for 2015, with plans to continue
attracting foreign direct investment, capitalize on the growth of its
neighbors (mainly China and India), and accelerate the pace of its trade
facilitation measures through a single market strategy, South Asia remains
weakly integrated through the South Asian Association for Regional
Cooperation (SAARC) both economically and politically.
|
Hiện nay, hơn một nửa thương mại thế giới diễn ra giữa các
thành viên của các hiệp định thương mại khu vực, và châu Á cũng không phải là
ngoại lệ. Tuy nhiên, ở châu Á, cũng như ở các nơi khác trên thế giới, hội
nhập khu vực thường không đồng đều. Trong khi khu vực Đông Nam Á đang củng cố
các nỗ lực hội nhập kinh tế của mình thông qua Dự thảo Cộng đồng Kinh tế của Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho năm 2015, với các kế hoạch tiếp tục
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tận dụng sự phát triển của các nước láng
giềng (chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ), và tăng tốc các biện pháp tạo thuận
lợi thương mại thông qua một chiến lược thị trường duy nhất, Nam Á vẫn còn
yếu ớt trong hội nhập thông qua Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) cả về
kinh tế và chính trị.
|
|
Regionalism, not Protectionism, Can Help Mitigate Global
Uncertainty
|
Chủ nghĩa khu vực, chứ không phải là chủ nghĩa bảo hộ, có
thể giúp giảm nhẹ sự bất ổn toàn cầu.
|
|
In fact, Asia has reason for optimism about the capacity
of regional trade to compensate for weak markets in the U.S. and the EU and
to reduce vulnerability to external shocks. In 2012, opinion leaders in
Southeast Asia said that they were most positive about the ASEAN Economic
Community compared to all other regional trade agreements in Asia. Indeed,
while East Asian economic cooperation has mostly been driven by market
forces, Southeast Asia has taken significant strides in formalizing its
region as a single market and production base through ASEAN. Intra-regional
trade and trade with China now accounts for more than 37 percent of ASEAN’s
total trade, up from around 26 percent in 2000. At the same time, trade with
the U.S. has fallen from 20 percent in 2000 to 10 percent in 2011, and trade
with the EU from 15 percent to 11 percent in the same period.
|
Trong thực tế, châu Á có lý do để lạc quan về năng lực của
thương mại khu vực nhằm bù đắp cho thị trường yếu ở Mỹ và Liên minh châu Âu
và giảm tổn thương trước những cú sốc bên ngoài. Trong năm 2012, các nhà lãnh
đạo có viễn kiến trong khu
vực Đông Nam Á nói rằng họ hết sức lạc quan về Cộng đồng Kinh tế ASEAN so với
tất cả các hiệp định thương mại khu vực khác ở châu Á. Thật vậy, trong khi
hợp tác kinh tế Đông Á hầu như vừa mới được thúc đẩy bởi các lực lượng thị
trường, thì khu vực Đông Nam Á thông qua ASEAN đã có những bước tiến đáng kể
trong việc chính thức hóa khu vực này như là một thị trường và cơ sở sản
xuất. Thương mại nội-khu vực và thương mại với Trung Quốc hiện nay chiếm hơn
37% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN, tăng từ khoảng 26% vào năm 2000.
Đồng thời, thương mại với Mỹ đã giảm từ 20% năm 2000 xuống còn 10% năm 2011,
và thương mại với EU từ 15% xuống 11% cùng kỳ.
|
|
On the other hand, progress on SAARC’s goal of a South
Asian Economic Union by 2020 remains relatively slow. Though intra-regional
trade in South Asia recently surpassed $2 billion following the full
implementation of the South Asia Free Trade Agreement, it represents only 5
percent of the region’s total trade volume, compared to ASEAN’s 22 percent
and the EU’s 55 percent. However, South Asia has made strides integrating
with the rest of Asia. For example, while only 1.3 percent of South Asia’s
parts and components are traded within the sub-region, 56.3 percent go to
East Asia. This represents the enormous potential that exists for South
Asia’s future trade among its own region.
|
Mặt khác, tiến bộ đối với mục tiêu của Hiệp hội Hợp tác
khu vực Nam Á (SAARC) tới năm 2020 thuộc Liên minh kinh tế Nam Á vẫn còn
tương đối chậm. Mặc dù thương mại nội-khu vực ở Nam Á gần đây đã vượt qua con
số 2 tỷ đô-la sau khi thực hiện đầy đủ các Hiệp định Tự do Thương mại Nam Á,
nó chỉ chiếm có 5% tổng khối lượng thương mại của khu vực, so với 22% của ASEAN và 55% của EU. Tuy nhiên, Nam
Á đã có những bước tiến nhằm hội nhập với phần còn lại của châu Á. Ví dụ,
trong khi chỉ có 1,3% các vùng miền của Nam Á giao dịch trong tiểu khu vực
này, thì có đến 56,3% đi tới Đông Á. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn còn tồn
tại đối với thương mại trong tương lai của Nam Á giữa các vùng miền của nó.
|
|
Such economic integration in the region is becoming
increasingly important to help stave off and overcome global economic shocks.
Prior to the last-minute resolution that saved the U.S. from falling off the
“fiscal cliff,” the UN Social Commission on Asia and the Pacific warned that
if the U.S. were to fall, it would have dire consequences for Asia,
decreasing growth by as much as 2.2 percent in some countries. To reduce
their dependency on developed countries’ economies, Asian countries need to
diversify their export markets and take advantage of the efficiencies and
growing demand that regional trade offers.
|
Khi hội nhập kinh tế trong khu vực đang ngày càng trở nên
quan trọng để giúp ngăn chặn và vượt qua những cú sốc kinh tế toàn cầu. Trước
khi có giải pháp vào phút chót để cứu nước Mỹ khỏi rơi xuống "vách đá
tài chính, Ủy ban xã hội Liên Hiệp Quốc về châu Á và Thái Bình Dương đã cảnh
báo rằng nếu Mỹ sụp đổ, sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho khu vực châu
Á, giảm tăng trưởng xuống còn 2,2% ở một số nước. Để giảm bớt sự phụ thuộc vào
các nền kinh tế của các nước phát triển, các nước châu Á cần phải đa dạng hóa
thị trường xuất khẩu của họ và tận dụng tính hiệu quả và nhu cầu ngày càng
tăng mà thương mại khu vực mang lại.
|
|
Avoiding the Middle
Income Trap
While trade is an important part of regional economic
integration, it remains only one piece of the puzzle. To avoid the dreaded
“middle-income trap” (where countries attain a certain level of income but
remain stuck there), Asian nations must prioritize other aspects of regional
integration, including:
|
Tránh bẫy thu nhập
trung bình
Trong khi thương mại là một phần quan trọng của hội nhập
kinh tế khu vực, nó vẫn chỉ là một phần của thách đố. Để tránh "bẫy thu
nhập trung bình" đáng sợ khi mà các quốc gia đạt được mức thu nhập nhất
định nhưng vẫn còn mắc kẹt ở đó), thì các quốc gia châu Á phải ưu tiên các khía
cạnh khác của hội nhập khu vực, bao gồm:
|
|
- Investment in infrastructure. Infrastructure development
is essential to Asia’s economic and political development. In order to
address this issue, ASEAN has recently set up the ASEAN Infrastructure Fund,
financed by member nations as well as the Asian Development Bank and private
equity, to mobilize resources for critical infrastructure development.
|
- Đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết
cho phát triển kinh tế và chính trị của châu Á. Để giải quyết vấn đề này,
ASEAN gần đây đã thành lập Quỹ Cơ sở hạ tầng ASEAN, được tài trợ bởi các quốc
gia thành viên cũng như Ngân hàng Phát triển châu Á và cổ phần tư nhân, huy
động các nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng.
|
|
- Increased cooperation in education and skill
development. A recent publication by the Asian Development Bank stated that
“a deeper level of economic integration, which is required for sustainable
development, calls for regional cooperation in skills development.” Such
cooperation could take the form of regional and sub-regional “technical and
vocational education and training” (TVET) strategies, such as creating
regional and national qualifying frameworks and encouraging national
commitments to invest in critical areas like high-skilled manufacturing.
|
- Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và phát triển
kỹ năng. Một công bố gần đây của Ngân hàng Phát triển Châu Á nói rằng "mức
độ hội nhập kinh tế sâu hơn cần thiết cho sự phát triển bền vững đang kêu gọi
hợp tác khu vực về phát triển kỹ năng." Hợp tác đó có thể mang hình thức
của chiến lược “giáo dục và đào tạo kỹ thuật và dạy nghề" (TVET) trong khu
vực và tiểu khu vực, chẳng hạn như việc tạo ra khuôn khổ xác định chất lượng
khu vực và quốc gia và khuyến khích các cam kết quốc gia đầu tư vào các lĩnh
vực quan trọng như sản xuất có tay nghề cao.
|
|
- Cooperation in technological innovation and research.
ASEAN member nations have taken steps toward such cooperation through the
Krabi Initiative, which encourages collaboration across the region on a host
of science and technology issues, from green technology and food security, to
exploiting new technologies such as digital media and social networking for
development and innovation.
|
- Hợp tác trong đổi mới công nghệ và nghiên cứu. Các quốc
gia thành viên ASEAN đã có những bước hướng tới sự hợp tác này thông qua Sáng
kiến Krabi, khuyến khích sự hợp tác
trong khu vực về nhiều vấn đề khoa học và công nghệ, từ công nghệ xanh và an
ninh lương thực, đến khai thác các công nghệ mới như truyền thông kỹ thuật số
và mạng xã hội để phát triển và đổi mới.
|
|
Addressing
Socioeconomic and Environmental Challenges
|
Giải quyết các thách
thức kinh tế xã hội và môi trường
|
|
Regional cooperation in Asia should not be considered
solely as a means to accelerate economic growth, but also as an effective way
to address broader socioeconomic and environmental issues facing the region.
It will, for instance, play a key role in women’s economic empowerment in the
region. Women business owners and managers in Asia often do not have the same
access to business opportunities as men. However, through groups such as the
ASEAN Committee on Women and the South Asia Women’s Entrepreneurship
Symposium (SAWES), they are able to form regional networks that provide a
platform for them to access information and contacts essential to running a
business and advocate for change in areas that are stifling their potential.
(Read about The Asia Foundation’s support for these networks.)
|
Không nên xem hợp tác trong khu vực châu Á chỉ như một
phương tiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà đó còn là một cách giải quyết
có hiệu quả các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường rộng lớn hơn mà khu vực này
đang phải đối mặt. Ví dụ, nó sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng
cao quyền lực kinh tế cho phụ nữ trong khu vực. Các nữ chủ doanh nghiệp và
các nhà quản lý nữ ở châu Á thường không có quyền tiếp cận các cơ hội kinh
doanh ngang bằng với nam giới. Tuy nhiên, thông qua các nhóm như Ủy ban về
Phụ nữ của ASEAN và Hội nghị chuyên đề Doanh nghiệp của Nữ giới Nam Á (SAWES),
thì họ có thể hình thành mạng lưới khu vực mà tạo cơ sở để họ tiếp cận thông
tin và có các tiếp xúc cần thiết để điều hành một doanh nghiệp và bênh vực những
thay đổi trong các lãnh vực mà tiềm năng của họ còn bị kiềm chế. (Đọc thêm về
sự hỗ trợ của Quỹ Châu Á cho các mạng lưới này.)
|
|
Regional cooperation will also be integral to managing the
impact of environmental issues, such as water scarcity, energy production and
distribution, urbanization, climate change, and disaster recovery and management.
Establishing and implementing fair and practical water-sharing and
conservation arrangements is critical, with river systems like the Mekong,
Indus, and Ganges all crossing national borders and essential to local
livelihoods. Over the last couple of years, the Asia-Pacific has experienced
70 percent of the world’s natural disasters. This has led to a stronger push
toward regional forums and programs to prepare for and manage disasters
through information-sharing, as well as collaborative disaster-management
planning efforts. Data management and sharing and the use of innovative ICT
tools to provide more timely and accurate predictions, communications, and
responses are also being explored regionally to minimize the impact of such
disasters.
|
Hợp tác khu vực cũng sẽ được tích hợp với việc quản lý tác
động của các vấn đề môi trường, chẳng hạn như sự khan hiếm nước, sản xuất và
phân phối, năng lượng, đô thị hóa, biến đổi khí hậu, quản lý thiên tai và
phục hồi. Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận công bằng và thực tế về chia
sẻ và bảo tồn nguồn nước là rất quan trọng, với các hệ thống sông như sông
Mekong, sông Indus, và sông Hằng, mà tất cả đều chảy băng qua các biên giới
quốc gia và vô cùng cần thiết cho sinh kế của người dân địa phương. Trong mấy
năm qua, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã nếm trải 70% các thảm họa thiên
nhiên của thế giới. Điều này đã dẫn đến một sự thúc đẩy mạnh mẽ hơn đối với
các diễn đàn và các chương trình khu vực nhằm đối phó và quản lý thiên tai
thông qua việc chia sẻ thông tin, cũng như những nỗ lực lập kế hoạch hợp tác
quản lý thiên tai. Quản lý và chia sẻ dữ liệu và sử dụng các công cụ công
nghệ thông tin tiên tiến để cung cấp dự báo kịp thời và chính xác hơn, thông
tin liên lạc, và phản ứng đối phó cũng được khảo sát trên quy mô khu vực để
giảm thiểu tác động của các thiên tai đó.
|
|
|
|
|
While greater intra-regional trade and investment
represent a logical “next door” opportunity for Asian economies, this shift
doesn’t come without challenges. To lessen reliance on U.S. and EU markets,
Asia will need to modify the structure of its regional trade from a focus on
raw materials or semi-finished products to those higher up the value chain.
Another challenge will be to ensure that smaller, poorer Asian countries also
benefit from increased regional interaction. Finally, intra-regionalism can
only be successful if the regional entities nurture their links and
cooperation with other regions.
|
Mặc dù thương mại và đầu tư nội-khu vực lớn hơn cho thấy
một cơ hội hợp lý về "cánh cửa tiếp theo" cho các nền kinh tế châu
Á, thì sự chuyển biến này luôn xuất hiện kèm những thách thức. Để giảm bớt sự
phụ thuộc vào thị trường Mỹ và EU, Châu Á sẽ cần phải thay đổi cấu trúc của
thương mại khu vực này từ chỗ tập trung vào nguyên liệu, hay bán thành phẩm chuyển
sang nâng cao chuỗi giá trị. Một thách thức khác sẽ là đảm bảo cho các nước
châu Á nhỏ hơn, nghèo hơn cũng được hưởng lợi từ sự gia tăng tương tác khu
vực. Cuối cùng, chủ nghĩa nội-khu vực chỉ có thể thành công nếu các thực thể
trong khu vực nuôi dưỡng liên kết và hợp tác với các khu vực khác.
|
|
But, the most important challenge of all remains making
regional cooperation work for the people of Asia. The political will and
institutional commitments to regional integration relies on the capacity and
interest of individuals, civil society, and businesses to take the lead and
give life to the concept.
|
Tuy nhiên, thách thức quan trọng hơn hết vẫn là làm sao cho
hợp tác khu vực có lợi cho người dân châu Á. Ý chí chính trị và các cam kết
thể chế đối với hội nhập khu vực dựa trên năng lực và lợi ích của cá nhân, xã
hội dân sự, và các doanh nghiệp sẽ đi đầu và tạo sức sống cho khái niệm này.
|
|
Véronique
Salze-Lozac’h is The Asia Foundation’s director for Economic Development
Programs based in Bangkok, Nina Merchant-Vega is assistant director,
Katherine Loh is a senior program officer, and Sarah Alexander is a program
fellow for the Economic Development Programs. This article initially appeared
on The Asia Foundation’s “In Asia” Blog.
|
Véronique
Salze-Lozac'h là giám đốc của Quỹ Châu Á về các chương trình phát triển kinh
tế có trụ sở tại Bangkok, Nina Merchant-Vega là trợ lý giám đốc, Katherine
Loh là cán bộ chương trình cao cấp, và Sarah Alexander là thành viên chương
trình của Các chương trình phát triển kinh tế. Bài viết này ban đầu xuất hiện
trên Blog "Tại châu Á" của Quỹ Châu Á.
|
|
|
Translated by Nguyễn Quang
|
|
http://thediplomat.com/2013/01/18/integration-is-key-to-asias-future/?all=true
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)