MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Showing posts with label FOR MED-STUDENTS. Show all posts
Showing posts with label FOR MED-STUDENTS. Show all posts

Friday, November 29, 2013

Học như thế nào?

Học như thế nào?
Ngô Bảo Châu


GS Ngô Bảo Châu ký tặng sinh viên trường Đai học
Bách khoa Hà Nội ngày 13-3. Ảnh: TTXVN.

Trong khuôn khổ Chuỗi các sự kiện Cầu nối ASEAN lần thứ tư do International Peace Foundation tổ chức, chiều 13/3 tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện với sinh viên ĐH Bách khoa về chủ đề "Học như thế nào?". Dưới đây là nội dung bài nói chuyện.

Tôi rất hay được các em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh hỏi về “bí quyết học tập”.  Tôi thường trả lời “Không có bí quyết gì cả. Quan trọng là niềm say mê.” Trả lời như vậy là một cách né tránh. Không sai nhưng cũng không đầy đủ. Tôi bắt buộc phải trả lời như thế khi mình chưa bao giờ suy nghĩ về vấn đề này một cách thấu đáo. Nhưng không thể nào né tránh được mãi câu hỏi này. Cũng không thể nào trút hết trách nhiệm lên đầu người khác bằng cách nói: “đây là chuyện chuyên môn của những người làm công tác nghiên cứu khoa học giáo dục”. 

Monday, December 17, 2012

Là bác sĩ phải biết sợ

PGS.TS.BS Võ Văn Thành

Là bác sĩ phải biết sợ

SGTT.VN - Là bậc thầy trong ngành cột sống, PGS.TS.BS Võ Văn Thành có công tạo dựng một đội ngũ bác sĩ chuyên ngành giỏi và nhiều sáng tạo. Những phương pháp phẫu thuật mới của ông được đồng nghiệp trong và ngoài nước nể phục, nhất là phương pháp phẫu thuật cột sống theo lối nằm ngang (năm 2004) đặt ốc chân cung, được giới chuyên gia y học đánh giá là đột phá của Việt Nam. Điềm tĩnh, khiêm cung, mỗi việc ông làm đều ẩn chứa sự xả thân, hết lòng vì bệnh nhân.
Thời thơ ấu, những bài học sống nào từ cha mẹ hun đúc trong ông một tinh thần hiếu học, khả năng chịu đựng thử thách và cái nhìn nhân văn?
Thuở nhỏ, tôi là học sinh tiểu học ở Long Hoa, Tây Ninh. Ba tôi cưa xẻ cây vất vả trăm bề mà tiền chẳng được bao nhiêu, ông phải làm thêm đủ nghề để có tiền cho con ăn học.
Sự nghiêm khắc của ba và sự hy sinh của má khiến tôi toàn tâm toàn ý cho việc học. Tôi nhớ những buổi sáng tinh mơ, ba tôi thức dậy thật sớm mua cho mỗi đứa con một nắm xôi, có hôm không còn tiền phải mua chịu. Quanh năm suốt tháng chỉ có xôi, nhờ nắm xôi nặng tình ấy mà tôi học hành tới nơi tới chốn.
Thời đó, ngành y lấy điểm đầu vào rất cao, thường chỉ học sinh ở thành phố mới có khả năng đậu. Năm 1967, tôi đứng thứ tư trong số 160 người ban Pháp văn trúng tuyển vào đại học Y khoa Sài Gòn... Sau đó, tôi lại được học bổng Colombo của Liên hiệp quốc đi Úc học kỹ sư điện. Ba má tôi khuyên nên theo ngành y vì đó là ngành dễ làm phước, nhất là nước mình có rất nhiều bệnh nhân nghèo ở thôn quê. Má tôi bị suyễn nặng, bà còn sống được cũng nhờ lòng hảo tâm của các bác sĩ, y tá, dì phước ở bệnh viện. Đó cũng là lý do tôi bỏ ngành điện, theo ngành y. Khi tôi quyết định học y, má tự nhiên bớt bệnh, lạ thật. Trải qua nhiều công việc làm thêm, dạy kèm để có tiền đến lớp, đến năm thứ sáu, tôi được tuyển vào nội trú và nghiệm chế viên (kỹ thuật viên) hưởng được hai đầu lương, nhờ thế cáng đáng được các em đi học.
Sau năm 1975, trong lúc đồng nghiệp bỏ đi nước ngoài gần hết, vì sao ông chọn ở lại?
Ra trường năm 1974, năm sau tôi bị tổng động viên, đi lính được bốn tháng thì đến ngày thống nhất đất nước, tôi phải đi học tập bốn tháng, coi như huề. Được GS Hoàng Tiến Bảo nhận về bệnh viện Bình Dân là bước ngoặt lớn nhất trong nghề nghiệp của tôi. Thầy vừa nghiêm túc, có óc khoa học, giỏi chuyên môn, có tấm lòng nhân hậu với bệnh nhân, vừa biết chăm sóc, lo cho học trò. Những ngày con tôi bị bệnh, thầy mua cho từng hộp sữa, dù lúc ấy kinh tế rất khó khăn.
Thầy là tấm gương cho thế hệ sau, những tư cách đó thời nào cũng cần. Dưới sự dẫn dắt của thầy, tôi đã thay đổi nhiều về cách suy nghĩ đối với nghề và đời. Gặp hoàn cảnh khó khăn thay vì than oán, hãy cố hết sức mình. Sau này nghiệm lại, mỗi khó khăn gặp phải đều là bài học hay cho đời mình.
Thời đất nước khó khăn nhất, lớp tôi có 250 người, đi nước ngoài hết 170 người, 70 người còn lại giờ đều là những cột trụ trong ngành. Quê hương, gia đình, tình nghĩa thầy trò là lý do tôi ở lại. Năm 1983, thầy tôi đi đoàn tụ gia đình bên Mỹ, muốn tôi ở lại phát triển ngành cột sống hoàn toàn mới ở Việt Nam. Tôi đã nguyện làm theo lời thầy. Tôi hạnh phúc khi sống ở quê hương, trọn hiếu với cha mẹ, trọn nghĩa với thầy… Trong những lúc cùng cực nhất, tôi luôn tự nhủ lòng sau cơn mưa trời lại sáng, sông có khúc người có lúc, bên trên những tầng mây kia bao giờ cũng có nắng.
PGS.TS.BS Võ Văn Thành sinh năm 1949 tại Cái Răng, Cần Thơ. Học tiểu học và trung học tại Tây Ninh. Đậu vào đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967 và học bổng Colombo du học Úc về kỹ sư điện năm 1968. Ông là cựu nội trú nội thần kinh và là bác sĩ thường trú nội tổng quát trước 1975. Sau năm 1975, ông về công tác tại khoa Chấn thương chỉnh hình bệnh viện Bình Dân (TP.HCM). Tốt nghiệp chuyên khoa 1 đặc cách năm 1987 và chuyên khoa 2 năm 1995. Tốt nghiệp học vị tiến sĩ khoa học y học năm 1996. Phó giáo sư hiện là chủ tịch hội Cột sống TP.HCM, chủ tịch danh dự hội Chấn thương chỉnh hình Việt Nam.
Trong điều kiện học tập và nghiên cứu vô cùng khó khăn, làm thế nào để ông theo đuổi đến cùng sự học, trở thành bậc thầy trong ngành cột sống?
Hồi đó sách vở không có, tài liệu thiếu thốn, để theo đuổi đến cùng sự học, trước tiên là lòng lân mẫn, thương lo cho bệnh nhân, quyết tâm vượt khó, trau dồi sinh ngữ hàng ngày để hội nhập với thế giới. Sự ham hiểu biết thôi thúc tôi mãnh liệt, không tiền mua sách thì mượn chép tay, không tiền mua cơm thì kiếm nhà người quen hoặc bạn bè.
Sau này, bệnh viện không đủ dụng cụ thì đi mượn, đi xin ở bệnh viện khác hoặc đồng nghiệp trong và ngoài nước. Khi có dịp đi nước ngoài tu nghiệp hay hội nghị thì toàn tâm, toàn ý lo học tập nghiên cứu, cập nhật kiến thức và rèn luyện kỹ năng… để nhắm tới sự thực hành trong nước trị bệnh tốt hơn.
Thông qua hoạt động của hội Cột sống do tôi làm chủ tịch, chúng tôi đã tổ chức được hơn 20 hội nghị quốc tế về cột sống tại TP.HCM, Việt Nam. Trong các hội nghị này, nhiều bác sĩ đầu ngành của thế giới đã hy sinh thì giờ quý báu của họ đến Việt Nam để truyền bá kiến thức và giúp đỡ dụng cụ phẫu thuật kỹ thuật cao. Để có sự cộng tác của những êkíp mổ quý giá như thế, phải có sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Đó là vì các đồng nghiệp quốc tế đánh giá mình tốt, hết lòng phục vụ bệnh nhân, không vị lợi thì mới duy trì được mối quan hệ này. Nhờ thế bác sĩ trẻ trong nước có cơ hội học tập các bậc thầy tại chỗ và còn có cơ may được nhận du học nước ngoài.
Cách để tôi chống quá tải là đi khắp các tỉnh huấn luyện đội ngũ bác sĩ trẻ, để bệnh nhân khỏi phải đi xa, đỡ tốn kém cho người nghèo. Mà lạ lắm, dường như khi dự định làm điều gì tốt, hữu ích cho bệnh nhân, tôi thường gặp quý nhân phù hộ. Xã hội nói chung cả trong lẫn ngoài nước mình vẫn có nhiều người hảo tâm lắm. Thứ trưởng Nguyễn Duy Cương, thứ trưởng bộ Y tế, VS.TS Dương Quang Trung cũng là người tiếp sức, cho mình nhiều cảm hứng làm việc.
Điều gì khiến một bác sĩ phẫu thuật cột sống như ông sợ nhất?
Một ca mổ thất bại là một nỗi đau lớn cho cả hai: bệnh nhân và bác sĩ. Mổ cột sống sợ nhất là biến chứng. Tôi luôn dạy học trò phải là bác sĩ có tay nghề vững mới được mổ, nếu tay nghề lơ mơ, dễ gây biến chứng dẫn đến thương tật, tử vong. Những ca mổ thành công thì dễ quên lắm, nhưng những ca thất bại thì nhớ suốt đời. Thành công là sự tổng kết của các thất bại, vì thế nếu thất bại hãy học hỏi, nghiên cứu, để lo cho bệnh nhân tốt hơn. Người bác sĩ phải biết sợ, phải biết coi bệnh nhân là thầy mình với những bài học khác nhau qua cơ địa thể tạng khác nhau, cho mình những bài học quý.
Có lẽ không ở đâu, mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân lại mang tính mua bán đổi chác như ở Việt Nam. Phải chăng vì quá bức xúc với điều này, ông đã hết lòng theo đuổi dự án thành lập hội Tư vấn bệnh nhân?
Thời xưa, quà tặng gởi cho bác sĩ là để bày tỏ lòng biết ơn, không phải trả tiền công; nếu bệnh nhân nghèo thì cho con gà, chục cam, chục xoài cũng quý. Bác sĩ và bệnh nhân tôn trọng lẫn nhau, tình cảm sâu lắng lắm. Bây giờ, tính dịch vụ làm cho mối quan hệ này khác nhiều, tình nghĩa giữa hai bên đang dần mất đi. Quan hệ phong bì phản ánh một xã hội không tốt đẹp.
Tôi đã từng nhận mổ lại cho nhiều ca mổ cột sống hư, sai của các bác sĩ khác. Điều tôi muốn làm là giúp cho bệnh nhân trong các cụm bệnh tật khác nhau hiểu tường tận về bệnh của mình để phòng tránh, điều trị cho tốt. Hội Tư vấn bệnh nhân do chính bệnh nhân thành lập, nhằm nâng cao kiến thức, tư vấn cho bệnh nhân, giúp học hỏi, hiểu biết, phòng tránh bệnh tật và bảo vệ an toàn bệnh nhân khỏi sự hành nghề yếu kém hay sai sót của ngành y. Đây là một ý thức mang tính kết hợp và tôn trọng giữa thầy thuốc và bệnh nhân, cùng chăm lo bệnh tật, tránh những sai lầm đáng tiếc làm mất đi sự thiện cảm lẫn nhau.
Giữ được chữ “đẹp” trong bệnh viện công dường như là “nhiệm vụ bất khả thi”?
Quả thật rất khó vì áp lực quá tải, hạ tầng cơ sở không đáp ứng đủ cho số lượng bệnh nhân ngày càng đông đảo, điều kiện về trang thiết bị y tế nghèo nàn, nhân lực thiếu thốn… Dù vậy, đối với bệnh nhân, phải toàn tâm toàn ý, nặng mổ trước, nhẹ mổ sau, ai cũng được tôn trọng, vui với cách cư xử của mình, đó là điều quan trọng. Để cải thiện điều kiện sống, đa số bác sĩ có thể nhận mổ theo yêu cầu nhưng phải giữ quyền lợi cá nhân ở mức cân bằng cho phép. Riêng tôi ít khi nhận mổ theo yêu cầu để dành thời gian cho nghiên cứu và chăm sóc bệnh nhân.
Tôi lo cho thế hệ bác sĩ tiếp nối tận tình, tạo điều kiện cho họ làm việc, đi lên, có điều kiện học tập ở nước ngoài, có thể sống thoải mái với nghề nghiệp của mình. Niềm vui của tôi là thấy học trò vừa có tài vừa có tấm lòng lo cho bệnh nhân. Còn học trò nào có tài mà thiếu đức, tôi buồn dữ lắm. Ở Singapore, họ chọn sinh viên vô ngành y không chỉ bằng học lực, tiêu chuẩn đầu tiên khi phỏng vấn là xem có hội đủ đức tính cần có của ngành y không.
Ông nghĩ gì về vai trò của người trí thức, nhất là bác sĩ, trong lúc nhiều giá trị sống đang bị thách thức như bây giờ?
Trí thức là người có học, tỉnh táo, hiểu biết. Sẽ rất vui nếu các trí thức có vị trí, được tôn trọng, có môi trường làm việc tốt, như thế họ sẽ có điều kiện đóng góp vào việc phổ biến kiến thức vì sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, lý tưởng này không dễ đạt được.
Xã hội hiện nay đang bị thách thức dữ dội về những giá trị sống. Tiền bạc thì ai cũng cần nhưng đối với người thầy thuốc, nếu muốn toàn tâm toàn ý lo cho bệnh nhân, lo cho sự tiến bộ của ngành nghề thì phải “tri túc”; vả lại, chúng tôi cũng không có nhiều thì giờ để quan tâm đến những rối ren ngoài đời. Trước mắt, tôi chỉ thấy bệnh nhân và những tật bệnh của cột sống. Bệnh nhân chen chúc, chờ đợi, rên xiết và hy vọng, mọi niềm tin đều đặt vào người thầy thuốc. Vì thế, mỗi khi giải quyết được một bệnh khó, tôi cảm thấy an lạc trong lòng.
Thời xưa, quà tặng gởi cho bác sĩ là để bày tỏ lòng biết ơn, không phải trả tiền công; nếu bệnh nhân nghèo thì cho con gà, chục cam, chục xoài cũng quý... Bây giờ, tính dịch vụ làm cho mối quan hệ này khác nhiều, tình nghĩa giữa hai bên dần mất đi. Quan hệ phong bì phản ánh một xã hội không tốt đẹp.
Cuộc gặp gỡ với ni sư Trí Hải dường như đã thay đổi cách nhìn của ông về đau ốm, về sinh tử, về sự gắn liền giữa điều trị sức khoẻ thể xác và tinh thần…?
Thực sự ngay từ nhỏ tôi đã dành những phút rảnh rỗi để nghiền ngẫm những quyển sách như Nẻo về của ý (Nhất Hạnh), Bắt trẻ đồng xanh (D. Salinger), Câu chuyện dòng sông (Hermann Hesse), Gandhi tự truyện… qua những bản dịch độc đáo của Phùng Khánh. Mãi khi ni sư Trí Hải đến trị bệnh, tôi mới có dịp diện kiến dịch giả Phùng Khánh, một ngòi bút tài hoa. Ni sư Trí Hải bị gãy xương sống đau nhiều, nhưng phong thái thanh thản, ung dung trước nghiệp quả. Ni sư còn làm hẳn một tập thơ Ngoạ bệnh ca, Báo ân ca trong thời gian trị bệnh. Qua trò chuyện dường như giữa tôi và ni sư có sự đồng cảm về các chủ đề sinh tử, tinh thần và thể xác… Ni sư với thiên tư thông tuệ, tài hoa, phẩm cách thanh cao đã khích lệ tôi rất nhiều trên con đường phụng sự. Xin thắp một nén nhang tưởng niệm khi nhắc tới người đã đi xa...
Ông coi trọng phẩm chất nào nhất của con người?
Đối với một bác sĩ, lòng nhân ái được coi như phẩm chất đứng đầu.
Ông có buồn nhiều không khi thực tế cuộc sống còn quá nhiều bất công, người nghèo còn bị đẩy sang bên lề xã hội và bị phân biệt đối xử khi bệnh tật?
Không buồn sao được, mình thì lực bất tòng tâm. Bảo hiểm y tế bây giờ đã khá hơn trước, nhưng người dân phải chi trả đến 86% chi phí y tế. Ngành y tế không phân biệt bệnh nhân giàu và bệnh nhân nghèo, tuy nhiên, y tế kỹ thuật cao đòi hỏi tốn tiền vì liên quan đến nhiều lĩnh vực: thuốc men, trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất… Một con ốc trong phẫu thuật cột sống giá đến 200 – 300 USD, mà phải cần rất nhiều ốc trong một ca mổ, phải làm thế nào? Chúng tôi đã phối hợp với sở Công nghiệp TP.HCM nghiên cứu sản xuất dụng cụ ốc, thanh nối, nẹp Việt Nam chất lượng cao dùng trong ngành chấn thương chỉnh hình và cột sống để giúp những bệnh nhân nghèo dễ chi trả, vì giá thấp mà hiệu quả tương đương dụng cụ nước ngoài.
Tâm nguyện lớn nhất của ông là gì?
Hàng năm, số lượng bệnh nhân ra nước ngoài điều trị hiện tiêu tốn hàng tỉ đôla. Nếu chúng ta giữ chân được họ thì mỗi năm nước ta có thể xây thêm khoảng mười bệnh viện lớn như bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai. Chúng ta cần có thêm nhiều bệnh viện công tầm cỡ khu vực. Các bác sĩ trẻ của chúng ta hoàn toàn đủ trình độ để nắm bắt kỹ thuật mới.
Riêng ngành cột sống, chúng ta thiếu một bệnh viện công hiện đại chuyên về cột sống. Một khi kỹ thuật cao được triển khai, chắc chắn sẽ thu hút nhiều bệnh nhân ở các nước lân cận như Lào, Campuchia hoặc xa hơn. Từ doanh thu có được, chúng ta có thể điều tiết lại cho bệnh nhân nghèo.
Ông nghĩ gì về người bạn đời và những đứa con của mình?
Người bác sĩ phải biết sợ, phải biết coi bệnh nhân là thầy mình với những bài học khác nhau qua cơ địa thể tạng khác nhau, cho mình những bài học quý.
Nếu không có người vợ hiền, giỏi, hiểu biết để chia sẻ công việc và cuộc sống, thì tôi khó có thể làm được những gì giúp cho xã hội. Từ kiến thức, y đức, mối nhân nghĩa sống trên đời đều có sự đóng góp, đồng cảm, tri kỷ, tri âm sâu sắc nhất của nhà tôi. Đặc biệt khi tôi khăn gói đi giúp đội ngũ trẻ ở các tỉnh thành khác trong nước, nhà tôi vui lắm.
Nhiều người gặp các con tôi đều nói các cháu hiền, như thế là vui rồi. Con trai lớn của tôi cũng theo nghiệp cha, còn cô gái út là thạc sĩ âm nhạc chuyên ngành piano, hiện công tác tại Nhạc viện TP.HCM, cũng có tinh thần xã hội. Theo đuổi ngành nghệ thuật mang tính hàn lâm không dễ dàng trong cuộc sống hiện nay, nhưng cháu rất yêu nghề…
Gia đình tôi hạnh phúc vì cùng có một lý tưởng sống.
thực hiện: Kim Yến
chân dung hội hoạ: Hoàng Tường

Friday, April 27, 2012

Survey shows best, worst paid doctors -- and many regrets Khảo sát: bác sĩ có thu nhập tốt nhất, bác sĩ có thu nhập thấp nhất và những hối tiếc






Survey shows best, worst paid doctors -- and many regrets

Khảo sát: bác sĩ có thu nhập tốt nhất, bác sĩ có thu nhập thấp nhất và những hối tiếc

By Kim Painter, USA TODAY
4/26/2012 3:42 PM

Kim Painter, NƯỚC MỸ NGÀY NAY
2012/04/26 3:42 PM
Increasing numbers of U.S. doctors regret their career choices --- even while taking in salaries average Americans might consider pretty sweet. Those salaries remain much sweeter for some specialists than others, though, according to an annual survey of physician pay from Medscape/WebMD.

Số lượng ngày càng tăng các bác sĩ Mỹ hối tiếc về lựa chọn nghề nghiệp của họ --- ngay cả khi mức lương trung bình của người Mỹ có thể xem là khá hậu hĩnh. Nhưng tiền lương đối với một số chuyên ngành vẫn còn hậu hĩnh hơn nhiều so với các ngành khác, một cuộc khảo sát hàng năm về thù lao của bác sĩ do Medscape / WebMD thực hiện cho biết.

Among the highest-paid doctors, according the survey of 24,000 physicians:

    Radiologists: $315,000
    Orthopedic surgeons: $315,000
    Cardiologists: $314,000
    Anesthesiologists: $309,000
    Urologists: $309,000

Theo một khảo sát gồm 24.000 bác sĩ thì trong số các bác sĩ được trả lương cao nhất có:

    X-quang: $315.000
    Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình: $315.000
    Tim mạch: $314.000
    Bác sĩ gây mê: $309.000
    Tiết niệu: $309.000

Among the lowest paid:

    Pediatricians: $156,000
    Family medicine doctors: $158,000
    Internal medicine doctors: $165,000
    Diabeticians/endocrinologists: $168,000
    Psychiatrists: $170,000

Trong số các bác sỹ được trả lương thấp nhất có:

    Bác sĩ nhi khoa: $156.000
    Bác sĩ y học gia đình: $158.000
    Bác sĩ y học nội bộ: $165.000
    Bác sỹ tiểu đường / nội tiết: $168.000
    Bác sĩ tâm thần: $170.000
You'll notice that the doctors most people see most often -- the pediatricians, family doctors and internists who handle regular checkups and most illnesses -- make the least money. But pay for so-called "primary care" doctors is rising a bit, the survey shows, as pay for some big-money specialists declines. Those radiologists and orthopedic surgeons at the top of the pay heap actually made 10% less in the past year; general surgeons made 12% less.

Chúng ta thấy rằng các bác sĩ mà hầu hết mọi người thường xuyên đến khám nhất là bác sĩ nhi khoa, bác sĩ nội khoa, và bác sĩ gia đình; họ thường xuyên kiểm tra sức khỏe và điều trị hầu hết các bệnh – nhưng lại kiếm ít tiền nhất. Nhưng khảo sát này cho thấy thù lao cho bác sĩ chăm sóc “sức khỏe ban đầu” có tăng lên đôi chút, trong khi chi trả cho một số các chuyên khoa đắt tiền có giảm. Chuyên gia X-quang và phẫu thuật chỉnh hình đứng đầu bảng lương đã giảm thu nhập 10% trong năm qua, bác sĩ phẫu thuật tổng quát giảm lương 12%.

In comments accompanying the survey, many physicians said they feared changes in the health care system would mean lower incomes in years to come, Medscape reports. Maybe that's one reason just 54% said they would choose a career in medicine again, down from 69% percent in 2011.

Phát biểu ý kiến ​​kèm theo cuộc khảo sát này, nhiều bác sĩ cho biết họ lo sợ thay đổi trong hệ thống chăm sóc sức khỏe có nghĩa là thu nhập sẽ thấp hơn trong những năm tới, báo cáo của Medscape cho biết. Có lẽ đó là một trong những lý do chỉ 54% nói rằng họ sẽ chọn nghề y, ít hơn con số 69% năm 2011.

For now, just 11% say they consider themselves "rich" -- and 45% agree that "my income probably qualifies me as rich, but I have so many debts and expenses that I don't feel rich."

Bây giờ, chỉ 11% nói rằng họ tự coi mình là "giàu có" và 45% đồng ý rằng "thu nhập của tôi có thể đủ điều kiện để tôi là người giàu, nhưng tôi có rất nhiều khoản nợ và chi phí khiến tôi không còn cảm thấy giàu nữa."


http://yourlife.usatoday.com/health/healthyperspective/post/2012-04-26/survey-shows-best-worst-paid-doctors----and-many-regrets/681256/1

Wednesday, April 18, 2012

Through a Different Lens - Với cái nhìn khác


Through a Different Lens
Becoming a mother herself changes one physician’s view of her patients.
By Lindsay Byrnes, M.D.

My patient is gone. I don’t know where. I fear she is dead or on the streets. The only thing I am sure of is how incredibly sad her life was when I knew her.

I met her on the pediatric ward, as she was barely in her teens. She had been transferred from the intensive care unit where she was recovering from postpartum sepsis and other complications. Days before, she had delivered a baby girl.

From the time of her arrival, her behavior was difficult. It went beyond adolescent insolence or the effect of illness. She screamed, cursed, and refused any medications or treatments the nurses offered. Rather than providing security and reassurance, my patient’s mother was often absent; when she was present, she was usually intoxicated. Strangely, she found antagonizing her daughter entertaining. When the room went silent, it usually signaled that they had gone downstairs to smoke together. None of us wanted to blame the girl, given the obvious lack of parenting and her medical condition, but dealing with her was trying. My disdain grew every day, with every interaction.

Sadly, she is only one of many teen mothers I have cared for during my residency. We know the societal impact of teen pregnancy, and we know that we have failed to find solutions to the problem. Having a child when one is still a child oneself is a problem. That cannot be denied. I have always had very strong feelings about this, as many of us do. I have met many young mothers in the nursery with their newborns and delivered my congratulations and encouragement through gritted teeth. I have felt frustration and pity, even anger toward these girls. I have blamed them for not taking responsibility for preventing the pregnancy, which I assumed was unwanted. Of course, I made assumptions without knowing the circumstances of the conception. In my mind, I justified my feelings by assuming that the baby’s life would be made unnecessarily difficult.

I have been thinking about these mothers a lot lately. You see, I am a new mother. And my perspective has changed.

Motherhood has been an inexplicable experience. I have felt misery, anxiety, exhilaration, fear, and so much love it seems my heart would break. I now understand that this occurs no matter your age. I can only imagine these feelings being amplified when one also has to worry about having enough food to eat or a home that is safe, or is experiencing any of the other stressors that are so often present in the lives of these young mothers. Tragically, my patient’s daughter died during the hospitalization. My patient didn’t cry. She didn’t speak. The cursing and yelling ceased. She left the hospital shortly afterward.

Certainly, the baby’s death saddened me at the time, but the girl’s loss is more visceral to me now. I wish I could speak to her again. I owe her more compassion than I expressed at the time. Surely she had the same dreams about her little one while she lay in bed at night feeling her kick. Surely she had the same tears well up in her eyes when she was given her baby to hold for the first time. As I sit in my warm nursery, I look at my healthy young son, and I cry for my patient, that young mother. MM
Lindsay Byrnes is an internal medicine/pediatrics resident at the University of Minnesota. She wrote this as part of an elective. She says: “It grew from my newfound perspective when I became a mother. I recalled an experience taking care of a teenaged mother who had lost her baby. I have always thought of myself as a compassionate person, and yet there were times during my residency when I lost my way with difficult patients. In writing this essay, I recognize an ugly part of myself. I hope that by writing, I will remember that compassion is the foremost responsibility of a physician.”

http://www.minnesotamedicine.com/CurrentIssue/ThroughaDifferentLens.aspx

Friday, March 2, 2012

Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa!





http://camranh.khanhhoa.gov.vn/Resources/Images/logo%20doan%20the/5-11-2009_4.jpgHôm nay, xin hân hạnh giới thiệu một bài viết của một người em: Bs Nguyễn Minh Mẫn. Mẫn với kinh nghiệm lâm sàng dồi dào và được đào tạo từ nước ngoài về y tế công cộng, nên lúc nào cũng đau đáu những suy nghĩ cách phòng bệnh ở qui mô cộng đồng. Bài viết này chỉ bàn về định nghĩa y tế, với một số suy nghĩ theo tôi là đáng chú ý. Bản ngắn bài này đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, còn đây là bản đầy đủ hơn. Xin nói thêm rằng tác giả còn giỏi làm thơ nữa nhé!

Y tế Việt Nam nên bắt đầu từ định nghĩa!

Trong các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực y tế của Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức sức khỏe là gì. Khi nói đến sức khỏe nhiều người, kể cả cán bộ y tế, nghĩ ngay đến việc khám, phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh. Hoặc xa hơn, đó là dự phòng bệnh tật, nghiên cứu khoa học. Nhưng yếu tố tinh thần và xã hội của sức khỏe thì hình như chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Do vậy, các hoạt động và phát triển của y tế Việt Nam, thực sự còn lúng túng, do thiếu một triết lý.

Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO, 1947) định nghĩa “Sức khỏe là sự vẹn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật”. Có thể xem định nghĩa này như là triết lý y tế. Chúng ta có thể dùng định nghĩa này để soi rọi lại sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong nhiều năm qua. Ngay từ lúc còn trong trường y, sinh viên chủ yếu học về sức khỏe thể chất. Theo đó, chương trình giảng dạy chú tâm vào việc huấn luyện cho các sinh viên y khoa việc truy tìm, xử lý bệnh tật bằng thuốc men, tham gia dự phòng bệnh tật. Hệ quả là khi ra trường và trở thành bác sĩ, kiến thức và nhận thức về tâm lý, và kém kỹ năng trong cách đối nhân xử thế với bệnh nhân, thân nhân, đồng sự, cấp trên, cấp dưới trong môi trường bệnh viện cũng như ở cộng đồng.

Ngoài ra, còn có một nghịch lý về giảng dạy kinh tế. Thật vậy, điều mà bác sĩ quan tâm là kinh tế y tế, cân bằng lợi ích lâm sàng và chi phí điều trị cho bệnh nhân, nhưng họ chỉ được học kinh tế chính trị ! Hiếm khi sinh viên được học về các quy trình vận hành, tổ chức, quản lý bệnh viện. Thay vào đó, họ được học về dược lý chứ không biết về giá thuốc và hầu như “mờ mịt” về luật chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, luật dược, pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, luật khám bệnh, chữa bệnh và đặc biệt sinh viên y khoa lâu rồi chưa được học “nghĩa vụ y khoa”!

Tập trung vào sức khỏe thể chất dẫn đến một nền y tế thiếu toàn diện. Nhiều bác sĩ khi ra trường họ chỉ biết đến “bệnh” mà ít chú ý đến “người bệnh”, tập trung trí tuệ để xử lý tốt bệnh tật mà quên đi những giá trị mang tính nhân văn đó là tâm lý và xã hội. Họ tự cho mình là “mẹ”, có toàn quyền ra lệnh, quyết định, la rầy “con bệnh” của mình mà quên rằng, thực sự họ chỉ là những “người bạn” của bệnh nhân. Họ nhận lương bổng, thậm chí trang thiết bị, cả chiếc ghế ngồi của họ đều được đóng góp bằng tiền thuế và các khoản khác của người dân, trong đó, có những người bệnh đang ở trước mặt của họ. Khi ra toa thuốc, họ không biết được giá của ngày công lao động tay chân là bao nhiêu, không biết được giá của một kilogram lúa gạo là bao nhiêu, nên “vung tay quá trán”.

Bs Đỗ Hồng Ngọc từng nói các bác sĩ chữa được cái “đau” mà không giải quyết được cái “khổ”, giải quyết được “bệnh” mà không giải quyết được “hoạn”. Nhưng chữa được cho cái “xác” mà lờ đi cái “hồn” và các “mối quan hệ xã hội”, vốn dĩ không ít là cội nguồn của bệnh tật, là một khiếm khuyết. Nếu một bệnh nhân bị stress, đến bác sĩ đo huyết áp thấy cao, được chẩn đoán bệnh tăng huyết áp, dặn dò ăn uống và được “đe nẹt” một số biến chứng, ra toa thuốc, ra về. Nhiều bác sĩ ít khi biết được bệnh nhân ấy đang bị stress, vừa làm ăn thua lỗ, ly dị, đang chia của, con cái bỏ học, nói chung là có nhiều yếu tố xã hội và tâm lý khác. Có thể nhiều bác sĩ cho là bệnh quá tải, không có thời gian nhiều với bệnh nhân (cũng đúng), nhưng cho dù có nhiều thời gian đi nữa thì thực sự rất ít bác sĩ quan tâm đến những chuyện “ngoài bệnh tật” kể trên (trừ các bác sĩ có kinh nghiệm sống, hoặc đã được huấn luyện “lâu lắm rồi”) vì họ thiếu được rèn luyện những kỹ năng và phương pháp chuẩn mực để tiếp cận các vấn đề tâm lý và xã hội.

Các vấn đề vĩ mô khác về y tế theo tôi cũng xuất phát từ sự xa rời định nghĩa sức khỏe. Chúng ta quen đánh giá nền y tế bằng những chỉ số như tỷ trọng thầy thuốc trên vạn dân, số giường bệnh trên vạn dân, và dựa vào đó, các quan chức y tế kết luận rằng chúng ta thiếu bác sĩ, thiếu giường bệnh, bệnh viện quá tải. Những kết luận đó không hẳn sai, nhưng trong thực tế thì không bao giờ cho đủ số lượng bác sĩ theo nhu cầu, chứ chưa kể chất lượng bác sĩ, lại còn phải hòa nhập với khu vực, quốc tế. Nhưng chúng ta ít quan tâm đến cái gốc xã hội của tình trạng quá tải, của thiếu giường bệnh.

Cái gốc đó là chúng ta quên đi hai yếu tố tinh thần và xã hội của sức khỏe. Quay lại ví dụ về bệnh nhân stress, có thể được giảm nhẹ hoặc “chữa khỏi” nhờ chuyên gia tư vấn, thầy tu, hay một ai đó có uy tín trong họ hàng, bè bạn, trong gia đình hòa giải, tránh cuộc ly dị; con cái bỏ học có thể nhờ giáo viên giúp đỡ, và stress được kiểm soát, huyết áp của bệnh nhân cũng ổn theo, biến chứng có thể không xảy ra, thì đâu cần phải có nhiều bác sĩ điều trị tăng huyết áp, đội ngũ điều trị, chăm sóc biến chứng của tăng huyết áp như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, suy thận mãn. Có lẽ chúng ta chưa quan tâm đúng mức hai yếu tố tâm lý và xã hội của sức khỏe nên quên đi việc chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của mỗi người dân (tự chăm lo cho mình), của toàn xã hội (trong chăm sóc sức khỏe toàn diện) chứ không chỉ của riêng ngành y tế.

Do thiếu cái nhìn toàn diện nên chúng ta đã không huy động triệt để được tất các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của người dân. Chúng ta cũng đã kêu gọi “xã hội hóa y tế”, nhưng không kêu gọi “xã hội hóa sức khỏe”, chúng ta đã quen gọi “Bộ Y tế” mà thực sự phải là “Bộ Sức khỏe” (Ministry of Health). Danh không chính nên “ngôn không thuận”, khó mà hiệu triệu mọi nguồn lực đi đúng một mục đích và hoạt động có hiệu quả nhất!

Cũng từ nhận thức thiên lệch về sức khỏe thể chất nên việc đầu tư các nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe cũng thiếu hiệu quả. Nguồn tài chính của nhà nước đầu tư cho y tế, đa số chỉ tập trung cho việc xây dựng các bệnh viện, trung tâm chẩn đoán và điều trị, trang bị kỹ thuật càng chuyên sâu, cao cấp ở các thành phố lớn, bệnh viện tuyến tỉnh, còn lại một ít cho bệnh viện huyện, cũng nhằm để “chữa cháy” việc quá tải. Tuy nhiên, các địa chỉ trên chỉ chăm lo sức khỏe cho khoảng 10% dân Việt Nam, còn lại khoảng 90% cần được chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng thông qua chăm sóc sức khỏe ban đầu (cũng là cách giảm tải bệnh viện bền vững) thì đầu tư còn rất yếu kém. Qua thực tế, các khoa quá tải ở các bệnh viện thường là khoa Nội Tim mạch, Nhi khoa, Chấn thương, Ung thư, Thần kinh. Hơn phân nửa số bệnh nhân nội trú ở Nội tim mạch là tăng huyết áp, gần 1/3 là bệnh mạch vành, có thể kiểm soát tốt ở ngoại trú; đa số bệnh nhi đến phòng khám bệnh viện là các bệnh nhiểm khuẩn, virus đường hô hấp, tiêu hóa, v.v. có thể chữa tại trạm y tế, chăm sóc tại nhà; nếu tuyên truyền tốt về an toàn giao thông, sử dụng rượu bia thì không có nhiều chấn thương do tai nạn giao thông; giảm thuốc lá, thay đổi thói quen ăn uống sinh hoạt, thì ngừa nhiều bệnh ung thư, bệnh chuyển hóa, giảm các bệnh nhập viện vì tai biến mạch não, tiểu đường.

Giải quyết những vấn nạn vừa nêu không nhất thiết phải đầu tư nhiều tiền của mà cần phải chuyển hướng nhận thức đầu tư hiệu quả vào cộng đồng để giải quyết cho 90% nhu cầu xã hội trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đó là việc đầu tư vào các chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe, sức khỏe học đường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng khi không có thầy thuốc. Đó là việc đào tạo rất ngắn hạn nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm nhiều đối tượng, kể cả thầy tu, sư sãi, ni cô, các sơ, v.v. các tình nguyện viên chăm sóc theo nhu cầu (không nhất thiết họ phải có nhiều kiến thức chuyên môn y tế). Đó là việc kêu gọi các thầy tu dùng chính chùa, nhà thờ làm cơ sở chăm sóc sức khỏe (sau khi được huấn luyện), là việc tăng cường chăm sóc bệnh tại nhà hơn là xây thêm bệnh viện, tăng số giường. Đó là việc kêu gọi gia đình, nhà trường, ngành giáo dục, phối hợp y tế, xã hội tham gia dạy dỗ, hỗ trợ con cái, tăng cường đào tạo kỹ năng sống của học sinh, sinh viên để giảm bớt bạo lực học đường, biết nói không với rượu bia, thuốc lá, lái xe lạng lách và có thể chính các em vận động gia đình mình tham gia giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Đó là việc dạy cho các bác sĩ ở các trạm y tế khoảng 10 bệnh thường gặp ở tại cộng đồng của mình cho thật tinh tường hơn là dạy cho họ chương trình chuyên khoa cấp I để rồi họ không sử dụng tốt ở cộng đồng, họ “bay” về huyện, tỉnh, gây mất nguồn nhân lực tại chỗ. Đó cũng là việc chúng ta cần tập trung đầu tư hỗ trợ “kiến thức chăm sóc sức khỏe ban đầu” cho tuyến dưới hơn là việc “chuyển giao kỹ thuật” theo chương trình 1816 như hiện nay.

Nói tóm lại, để sự nghiệp chăm sóc sức khỏe thực sự có hiệu quả, bước đầu tiên, cơ bản, quan trọng nhất là phải khẳng định lại một triết lý chăm sóc sức khỏe toàn diện trên cả ba mặt: thể chất, tinh thần lẫn xã hội như định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới. Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô lẫn vi mô sẽ dựa trên định nghĩa này triển khai các bước đi tiếp theo sao cho toàn diện, không thiên lệch. Từ việc xác định triết lý này, sẽ có cơ sở tập trung các dạng nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực, thiên nhiên, xã hội và văn hóa nhằm vào mục đích chăm sóc sức khỏe cho chính mình và xã hội. Nhà nước sẽ giảm bớt gánh nặng trong việc lo cho sức khỏe người dân, góp phần đảm bảo “an sinh xã hội”. Hồ Chủ tịch cũng đã từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Muốn “dân liệu” hiệu quả phải chỉ ra vai trò người dân một cách rõ ràng, tạo điều kiện để mọi tầng lớp tham gia tích cực, riêng trong định nghĩa sức khỏe, đa số người dân hoàn toàn có thể làm tốt việc chăm lo sức khỏe tinh thần và xã hội, bên cạnh thầy thuốc họ có quyền và có khả năng tự chăm sóc mình và gia đình, cộng đồng trong một chừng mực nhất định nhưng lại hiệu quả rất lớn.

Ths. Bs. Nguyễn Minh Mẫn


http://nguyenvantuan.net/health/45-agent-orange/1456-y-te-viet-nam-nen-bat-dau-tu-dinh-nghia

Friday, December 23, 2011

Natural Collagen Types - Các loại Collagen tự nhiên


Natural Collagen Types

Collagen occurs in many places throughout the body. The 29 types of collagen have thus far been identified and described in literature. Over 90% of the collagen in the body, however, are of type I, II, III, and IV.

  • Collagen One: skin, tendon, vascular, ligature, organs, bone (main component of bone)
  • Collagen Two: cartilage (main component of cartilage)
  • Collagen Three: reticulate (main component of reticular fibers), commonly found alongside type I
  • Collagen Four: forms bases of cell basement membrane
  • Collagen Five: cells surfaces, hair and placenta
  • Collagen Six: stomach membrane, skin and cartilage
  • Collagen Seven: skin, lungs, cornea
  • Collagen Eight: unknown
  • Collagen Nine: cartilage
  • Collagen Ten: produces chronodrocites during ossification
  • Collagen Eleven: cartilage, intervertevral cartilage and bone enamel
  • Collagen Twelve: ligaments, tendons and tooth enamel

The following table presents the occurrence in organs of a selected collagen types - the results of immunologic studies show that the synthesis of this collagen type in skin takes place not only in fibroblasts, but also in the keratinocyte layer - epidermis.


The following table represents the skin layers and their definitions:


The stratum corneum is the outermost layer of the epidermis, composed of large, flat, polyhedral, plate-like envelopes filled with keratin, which is made up of dead cells that have migrated up from the stratum granulosum. From the Latin for horned layer, this skin layer is composed mainly of dead cells that lack nuclei. As these dead cells slough off on the surface in the thin air-filled stratum disjunctum, they are continuously replaced by new cells from the stratum germinativum (basale). In the human forearm, for example, about 1300 cells/cm2/hr are shed and commonly accumulate as house dust. This outer layer that is sloughed off is also known as the stratum dysjunctum.

Cells of the stratum corneum contain keratin, a protein that helps keep the skin hydrated by preventing water evaporation. These cells can also absorb water, further aiding in hydration, and explaining why humans and other animals experience wrinkling of the skin on the fingers and toes ("pruning") when immersed in water for prolonged periods. In addition, this layer is responsible for the "spring back" or stretchy properties of skin. A weak glutenous protein bond pulls the skin back to its natural shape.

The thickness of the stratum corneum varies according to the amount of protection and/or grip required by a region of the body. For example, the hands are typically used to grasp objects, requiring the palms to be covered with a thick stratum corneum. In a similar manner, the sole of the foot is prone to injury, and so it is protected with a thick stratum corneum layer. In general, the stratum corneum contains 15 to 20 layers of dead cells. The stratum corneum has a thickness between 10 and 40 μm.

In reptiles, the stratum corneum is permanent, and is replaced only during times of rapid growth, in a process called ecdysis or moulting. The stratum corneum in reptiles contains beta-keratin, which provides a much more rigid skin layer.

The stratum lucidum is a layer of the epidermis found throughout the body, but is thickest on the palms of the hands and the soles of the feet. Located between the stratum granulosum and stratum corneum layers. It is composed of three to five layers of dead, flattened keratinocytes. The thickness of the lucidum is controled by the rate of mitosis of the epidermal cells. In addition, melanocytes determine the darkness of the stratum lucidum.

The stratum granulosum (or granular layer) is a layer of the epidermis found between the stratum corneum (and possibly stratum lucidum) and stratum spinosum. In this layer, keratinocytes are now called granular cells, and contain keratohyalin and lamellar granules.

The stratum spinosum (or spinous layer) is a layer of the epidermis found between the stratum granulosum and stratum basale. This layer is also referred to as the "spinous" or "prickle-cell" layer. This apearence is due to desmosomal connections of adjacent cells. The cells in the stratum spinosum produce and secrete bipolar lipids which prevent evaporation, helping to "water-proof" the skin. Keratinization begins in the stratum spinosum.

The stratum germinativum (or basal layer, stratum basale) is the deepest layer of the five layers of the epidermis, which is the outer covering of skin in mammals. The stratum germinativum is a continuous layer of cells. It is often described as one cell thick, though it may in fact be two to three cells thick in glabrous (hairless) skin and hyperproliferative epidermis (from a skin disease).

The basal cells of the stratum germinativum can be considered the stem cells of the epidermis. They are undifferentiated, and they proliferate. They create 'daughter' cells that migrate superficially, differentiating as they do so. The keratinocytes of the stratum germinativum undergo mitosis continually throughout the individual's life.

Melanocytes, the pigment producing cells of the epidermis, are primarily found in the stratum germinativum.


Integumentary System

Skin - epidermis: stratum corneum, stratum lucidum, stratum granulosum (or granular layer), stratum spinosum (or basal layer, stratum basale).

Basement membrane zone: basal keratinocyte, lamina lucida, lamina densa.

Dermis: papillary, reticular

Subcutaneous Tissue: panniculus adiposus, panniculus carnosus, stratum membranosum, loose connective tissue, superfacial fascia

Andexa

Glands: sweat glands, apocrine, eccrine, sebaceous

Hair: outer rooth sheath, inner root sheath, shaft (cuticle, cortex, medulla, bulb with matrix cells, hair papilla)

Muscle: arrector pili

Nail: matrix, lunula, nail plate, eponychium, paronychium, hyponuchium

Other: skin flora

The Integumentary System (Elimination) is the skin, which is the largest and most important organ in the body. It is the first barrier of defense. Its function is to maintain body temperature and protect the body from bacteria and foreign substances. Some diseases affect the general skin tone, color, and health. Many physicians evaluate the skin to determine general health and to diagnose illness. Healthy skin function as a protective covering for our bodies in several ways. Because our skin is almost completely waterproof, it prevents the escape of special fluids that bathe body tissues. Our skin prevents many bacteria and chemicals form entering parts of our bodies. Firm, moist skin also protects underlying tissues form the harmful rays of the sun. The skin weight (in most adults) 20 lbs or more, accounting for about 16% of total body weigh making it the heaviest organ. Its function is to protect the body. Within these layers of tissue are cells, glands, blood vessels, and fatty tissue.

The Function and Structure of the Skin

The skin has three layers of tissue:

  • The Epidermis - the outermost layer of tissue of covers most parts of the body. The epidermis has four layers. From the outermost to the innermost, they are the horny, granular, spinous and basal layers. The horny layer consists of about 15-40 rows of dying cells. These cells are filled with a tough, waterproof protein called keratin. The granular layer consists of one or two rows of dying cells that contain small grains of a substance called keratohyaline. The spinous layer is composed of 4-10 rows of living cells that have spine-like projections where the cells touch one another. The basal layer is also made u of living cells, including cells called melanocytes. These cells produce a brown pigment called melanin. The basal cells divide continually and form daughter cells. Some daughter cells remain in the basal layer. others move toward the outer surface of the skin and eventually form the upper layers of the epidermis. These cells are called keratinocytes, and they produce keratin which is found only in the epidermis, hair and mails. Keratin makes the skin tough and also prevents fluids and certain substances from passing through the skin. As the keratinocyetes move upward through the epidermis, the become filled with more and more keratin. By the time these cells reach the surface of the skin, they have died and become flat and dry - eventually they are shed in thin flakes.
  • The Dermis - the middle layer tissue is between 15-40 times thicker than the epidermis. It is made up primarily of blood vessels, nerve endings and connective tissue. The blood vessels nourish both the dermis and the epidermis . The surface of the dermis has many tiny elevations called papillae that fit into pits on the undersurface of the epidermis. They help connect the dermis to the epidermis. The papillae contain nerve endings that are sensitive to touch. The nerve endings are specially numerous on the palms and fingertips.
  • Subcutaneous Tissue - is a much thicker than the epidermis and the dermis. In addition to these layers of tissue, the skin includes hair, nails, and certain glands. it consists mainly of connective tissue which helps protect the body form blows and other kinds of injuries. It also helps retain body heat. The amount of fat in the subcutaneous tissue may increase after a person overeats. If the body needs extra food energy, it breaks down this stored fat. The hair and glands in the skin are called Epidermal Appendages. They are formed form the basal cells of the epidermis.

Skin Types
  • Normal Skin - has n average amount of oil, giving the skin a smooth appearance. Normal skin does not have acne, and wrinkles usually occur later in life.
  • Oily Skin - has an abundance of oil production giving the skin a "greasy" or shiny appearance. Oily skin has larger pores, blemishes, and is prone to acne. Wrinkling is retarded due to the extra surface oil, which protects the skin from pollutants in the environment.
  • Dry Skin - has an average to below average amount of oil, thus giving the skin a dull appearance (i.e. flaky) . Dry sin is irritated by hot, dry climates and unprotected exposure to the sun and the environment.
  • Combination Skin - characterized by generalized normal skin with areas of oiliness. These oily areas are usually on the lower forehead, nose and sometimes the chin. Fine wrinkles seldom occur until later in life.
  • Sensitive Skin - a new term used to describe skin that is allergic to certain substance (foods, cosmetics, or drugs). Usually the allergic person knows what products cause the allergic reaction. In cosmetics, many allergic reactions are caused from fragrances and show up as changes in the skin (e.g. burning, itching, or red blotches on the skin). In addition some people who have allergic reaction to certain foods, cosmetics or drugs find that the sun, coupled with the allergen causes the reaction to be worse.

The skin is the outer covering of the body. In humans, it is the largest organ of the integumentary system made up of multiple layers of mesodermal tissue, and guards the underlying muscles, bones, ligaments and internal organs. Human skin is not unlike that of most other mammals except that it is not protected by a pelt and appears hairless though in fact nearly all human skin is covered with hair follicles. The adjective cutaneous literally means "of the skin" (from Latin cutis, skin).

Because it interfaces with the environment, skin plays a key role in protecting (the body) against pathogens and excessive water loss. Its other functions are insulation, temperature regulation, sensation, synthesis of vitamin D, and the protection of vitamin B folates. Severely damaged skin will try to heal by forming scar tissue. This is often discolored and depigmented.

In humans, skin pigmentation varies among populations, and skin type can range from dry to oily. Such skin variety provides a rich and diverse habit for bacteria which number roughly a 1000 species from 19 phyla.
Collagen produced by the keratinocyte layer freely moves in the extracellular space. Basement membrane and proper skin are built of type I collagen. Skin is the largest organ on our body, made up of several different components, including water, protein, lipids and different minerals and chemicals. Throughout your life your skin will change. Proper care and treatment is essential to maintain the healthy and vitality of your skin.

Skin performs the following functions:

  1. Protection: an anatomical barrier from pathogens and damage between the internal and external environment in bodily defense; Langerhans cells in the skin are part of the adaptive immune system.
  2. Sensation: contains a variety of nerve endings that react to heat and cold, touch, pressure, vibration, and tissue injury; see somatosensory system and haptics.
  3. Heat regulation: the skin contains a blood supply far greater than its requirements which allows precise control of energy loss by radiation, convection and conduction. Dilated blood vessels increase perfusion and heatloss, while constricted vessels greatly reduce cutaneous blood flow and conserve heat. Erector pili muscles are significant in animals.
  4. Control of evaporation: the skin provides a relatively dry and semi-impermeable barrier to fluid loss. Loss of this function contributes to the massive fluid loss in burns.
  5. Aesthetics and communication: others see our skin and can assess our mood, physical state and attractiveness.
  6. Storage and synthesis: acts as a storage center for lipids and water, as well as a means of synthesis of vitamin D by action of UV on certain parts of the skin.
  7. Excretion: sweat contains urea, however its concentration is 1/130th that of urine, hence excretion by sweating is at most a secondary function to temperature regulation.
  8. Absorption: Oxygen, nitrogen and carbon dioxide can diffuse into the epidermis in small amounts, some animals using their skin for their sole respiration organ (contrary to popular belief, however, humans do not absorb oxygen through the skin). In addition, medicine can be administered through the skin, by ointments or by means of adhesive patch, such as the nicotine patch or iontophoresis. The skin is an important site of transport in many other organisms.
  9. Water resistance: The skin acts as a water resistant barrier so essential nutrients aren't washed out of the body.

Skins proteins
  1. Collagen: it's the most abundant protein in the skin, making up 75% of your skin. Over time, enviromental factors and aging diminish your body's ability to produce collagen.
  2. Elastin: this protein is found with collagen in the dermis. It's a protein, responsible for giving structure to your skin and organs. As with collagen, elastin is affected by time and the elements, diminished levels of this protein cause your skin to wrinkle and sag.
  3. Keratin: dominant protein in your skin makes up hair, nails and the surface layer of the skin. Keratin is what forms the rigidity of your skin.

Organ of sight
  1. Hydrated collagen can be found in lenses, toghether with polysaccharides it forms the optic disc. Natural Collagen enhances visual acuity when applied on eye-lids.

Hair
  1. Collagen constitures the supporting material of hair follicles. Collagen pigment is identical with hair pigment.
  2. Natural Collagen restore beauty to the hair - gray hair gets darker, brows and eye lashes start growing again.

Bones

  1. Together with calcium and phosphorus salts type I collagen constitutes the bone building material, it forms 95% of bone matrix. It undergoes all physiological changes, life biological cycles, diseases and diets.

Nerves and vessels

  1. Collagen is a component of nerve fiber myelin sheath, spinal cord, brain meninges, and nerve cell basement membranes. Vessels - arterial, venous, lymphatic.
Digestive system image


Alimentary tract

  1. Type II and III Collagen is the scaffold supporting stomach, intestine and esophagus parietal cells.

Collagen and menopause
  1. The decrease of collagen turnover in women in perimenopausal period causes a number of diseases of the bone system and genitals. In urinary-genital system the disturbances of genital and urinary tracts trophiecs and statics are most common.
  2. C. Falconer advises that commonly used hormone replacement therapy results in the increase of hydrated type II and III collagen store in the urinary-genital system. Falconer has also shown that a number of collagen quantity and quality. The lack or small production volume of type II and III collagen by connective tissue cells cause the deficit of hydrated collagen in extracellular space. In such case the supply of estrogen results in dramatic improvement.

Collagen is the most powerful protein in our system (from Greek - means healing, bonding). Its highest quantities occur in the skeletal system, skin, organ of sight, kidneys, liver, alimentary tract. The extracellular fluid in which we are submerged consists of collagen, which flows around the organs, supplementing existing structural defects.

Collagen is produced in the cells of connective tissues, fibroblast and in chondrocytes of the bone tissue. Sexual hormones, the growth hormone and growth factors, adrenal cortex and thyroid hormones participate in its biosynthetic process. The turnover of collagen occurs throughout our lives. Shortages are being replaced and in the aging process degeneration dominates over its synthesis in the skeletal system.

Colway is not responsible for any damages incurred as a result of storage and transportation of the product at a temperature other than 5-28°C, in the light of the sun or in conditions, which could enable the penetration of bacterial fauna into the vials.

Persons or businesses interested in the distribution of Natural Collagen and other natural products, which are offered by Colway please contact us by email: CustomerService@ElizabethsBargainBin.com

Please note: Not known to cause side effects.

Warning:

Natural Collagen not to be used in conjunction with chemotherapy, collagenoses or a low protein diet.

Note. The collagen hydrate may differ in color and density. This is due to the characteristics of the raw material and is typical of natural products.

Certificates:

  • The National Information System of Cosmetics Lunched On the Market - Register number RK/83374/2003
  • National Institure Of Hygiene - Certificate number HZ/7849/01/2003
  • Republic of Poland Patent Office - patent documentation, marked by number P373879
  • All products are made in Poland for Colway Unlimited

Please allow 4-6 weeks for the delivery.

Saturday, November 19, 2011

MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA BS NGUYỄN HỮU PHIẾM



MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA

BS NGUYỄN HỮU PHIẾM

VÀI LỜI GIỚI THIỆU VẾ BS NGUYỄN HỮU PHIẾM
Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm là một Tiến sĩ Y khoa tốt nghiệp tại Pháp, không rõ sinh năm nào, chỉ biết ngày 1-7- 1949 được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Y Tế thời chính phủ Bảo Đại. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực Giáo dục Chính trị, Văn Học, có nhiều bài viết trên các báo thời Pháp thuộc, quen biết với nhiều người trong các giới chính quyền cũng như các văn nhân, nghệ sĩ. Ông có mở phòng mạch ở Đà Lạt, rất được nhân dân thương mến vì tận tụy với bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nghèo. Nơi đây ông là bạn chí cốt với nhà văn đứng đầu nhóm Tự Lực Văn Đoàn là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Khi Nhất Linh tự vẫn do chống chính quyền Diệm ông tận tình theo sát tới khi Nhất Linh mất. Vì nổi tiếng liêm khiết và hết lòng với bệnh nhân nên ở Đại Học Y khoa Huế ông được cử làm giáo sư phụ trách giảng dạy môn Nghĩa Vụ Luận. Năm 1968 trường Đại Học Y Khoa Saigon mời ông diễn thuyết về đạo đức y khoa tại trường này. Tài liệu hôm nay chính là bản văn ông diễn thuyết ngày đó. trích trong cuốn Lời khuyên sinh viên Y Khoa do ông chủ biên và do trung tâm học liệu bộ Giáo Dục xuất bản năm 1972. Tôi xin chép lại cho các bạn xem. Những ý tưởng trong bài tôi đã đọc trên 30 năm hôm nay xem lại thấy như mới, vô cùng cảm động. Các bạn hãy giữ nó làm chỉ nam giống như tôi đã giữ nó trên 30 năm nay. Đối với những người đồng cảm thì những lời trong bài “ngân lên vang vọng hòa nhịp với con tim người xem, gây ra một cảm giác không gì sánh được”. Khác với các bài giáo điều, BS Phiếm trình bày bài nói chuyện rất chân tình, thực tế. Tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh TRÁCH NHIỆM chính điều này đã làm nghề y khác hẳn những nghề khác, vinh nhục cũng từ đó mà ra. Nhiều người từ góc độ của nghề khác phê phán so bì với ngành y chúng ta, họ quên rằng bản chất của nghề y hoàn toàn khác hẳn các nghề khác. Mong rằng các bạn khi đọc xong lời khuyên này thì hãy còn chút gì đấy đọng lại trong tâm tư, đừng để gió cuốn đi.




MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA
BS Nguyễn Hữu Phiếm

(Buổi nói chuyện do trường Đại Học Y khoa Huế tổ chức ngày 29-6-1968 Tại Trung Tâm Y Khoa Đại Học SAIGON)


Các bạn sinh viên thân mến.
Nghề thuốc mà các bạn đã chọn là một nghề cao đẹp nhất, và chính để chứng tỏ điều đó nên mới có buổi nói chuyện hôm nay một buổi nói chuyện thân mật giữa một người thày thuốc-đã hành nghề trên 30 năm-với những người thầy thuốc tương lai, giữa một người anh cả với các em sắp sửa vào nghề, bởi dù muốn dù không các bạn và tôi, chúng ta từ bao nhiêu thế hệ nay đã được coi như thuộc về một gia đình-đại gia đình y giới- và riêng về điểm đó, ngay từ bây giờ, các bạn đã thấy nghề thuốc không giống như các nghề tự do khác.

Các bạn thân mến.
Các bạn đã chọn nghề thuốc với tất cả một tấm lòng nhiệt hứng, hăng say của tuổi thanh xuân, nhưng thử hỏi đã mấy ai chịu tìm hiểu những lý do thúc đẩy mình vào con đường ấy? Có một số bạn trẻ chọn nghề này, coi như một lẽ đương nhiên để nối nghiệp cha anh đã từng là thầy thuốc. Có một số, vì ham thích và cũng như mọi ham thích, khó lòng mà giải thích được tại sao. có thể vì hồi nhỏ ốm đau, đã được người thày thuốc tận tâm săn sóc, hoặc được mục kích những cảnh thập tử nhất sinh mà được bàn tay người bác sĩ cứu sống. Đối với một số nữa - rất hiếm - có lẽ làm nghề thuốc vì đó là một thiên chức (une vocation): ngoài mảnh bằng bác sĩ để hành nghề ra, còn muốn làm một cái gì khác nữa, như trở thành một nhà khảo cứu, một vị bác học hoặc một giáo sư đại học. Thiên chức theo định nghĩa, là một tiếng nói tự đáy lòng phát ra, nó thúc giục ta làm một việc nào đó, Giáo sư Maranon bảo là: ”một loại đam mê có tính chất của tình thương, kẻ nào có một thiên chức coi vật mình yêu như một mục đích độc hữu, không thể chia xẻ được. Họ phụng sự mối tình yêu đó mà tuyệt đối không vụ lợi” và vẫn theo lời Maranon “sở dĩ nghề thuốc suy đồi vì thanh niên, khi chọn nghề đó không phải vì có thiên chức thật sự, mà chỉ vì hy vọng có một địa vị cao sang”. Người ta đã điều tra một số sinh viên y khoa để biết tại sao họ chọn nghề thuốc: trong số 100 sinh viên có tới 70 người trả lời: Không biết. Còn lại 30 có người bảo: học thuốc để tìm những thỏa mãn tri thức, hoặc vì có một niềm tin hoặc vì nghề đó đã danh giá lại kiếm được nhiều tiền. Tôi biết một số thanh niên sau khi đậu xong Tú Tài lưỡng lự không biết chọn ngành nào ở Đại Học bèn chọn đại Y khoa vì nghe lời cha mẹ hoặc họ hàng thân thuộc - những người này không phải là thày thuốc, không hiểu nghề thuốc là gì mà chỉ nhìn thấy một khía cạnh sai lầm là: nhà lầu xe hơi tiền bạc…. Những người đó xem nghề thuốc như nghề đi buôn và cho rằng học hành vất vả mới giật được mảnh bằng bác sĩ thì dĩ nhiên phải được đền bù xứng đáng, phải được thụ hưởng. Còn bổn phận của mình những gì, trách nhiệm ra sao họ đâu có biết hoặc nghĩ tới? Đối với hạng người này tôi xin nhắc lại ở đây câu nói của P. Le Gendre” Kẻ nào chỉ làm nghề thuốc với hi vọng làm giàu, kẻ đó sẽ thất vọng, vì nghề thuốc chỉ được trọng vọng khi nào chúng ta có một tinh thần vị tha, hỉ xả. ”

Các bạn thân mến
Khi các bạn chọn nghề này, dĩ nhiên là để sinh sống, để nuôi gia đình, để hưởng một đời sống sung túc. Tuy nhiên chúng ta không được quan niệm nghề thuốc như một nghề để làm tiền, vì nếu các bạn hành nghề đúng đắn ít khi các bạn có thể giàu được. Ngoài vấn đề mưu sinh ra tất còn có một lý do nào khác nữa nó thúc đẩy các bạn lựa chọn cái nghề đó. Tôi không dám dùng những danh từ quá to tát như: “cứu nhân độ thế” mà chỉ nói; sở dĩ làm nghề thuốc là để mong xoa dịu được phần nào những đau khổ của đồng bào, muốn giúp ích cụ thể cho xã hội. Có bạn học thuốc, như trên vừa nói, để thỏa mãn tri thức, thỏa mãn sự tò mò, những biết những kỳ quan của bộ máy con người ta, muốn tháo nó ra từng mảnh để xem bên trong có những gì, tại sao nó chạy, hoặc muốn tìm cho ra hạt bụi nào đó đã làm cho bộ máy kia tắc, rồi ngưng chạy… Đối với sinh viên y khoa, còn gì vui sướng và hồi hộp bằng lần đầu tiên ở trong bệnh viện, chỉ nhờ có nghe và gõ lên ngực bệnh nhân mà đã đoán được rằng trong màng phổi có nước và khi lấy chiếc kim chọc vào phổi thì quả nhiên thấy có nước thật.

Không những học để biết mà còn để phụng sự nữa. Còn niềm vui gì bằng sau một thời gian vật lộn với tử thần người thầy thuốc đã đẩy lui được bệnh và trao trả cho bà me đứa con thân yêu của bà. Người ta muốn phê bình sao thì phê bình, một người thày thuốc sau một ngày làm lụng vất vả, bảo họ “hái ra tiền” chẳng hạn, nhưng tôi dám chắc ngoài việc chữa bệnh ra, còn phải có những động cơ nào khác nó thúc đẩy họ chứ không riêng gì tiền bạc. Họ không thể không băn khăn lo lắng mỗi khi rời một căn nhà, trong đó có một tính mạng đang bị đe dọa, hoặc đó là tính mạng của một người cha, cột trụ của cả một gia đình, hoặc tính mạng của một người mẹ với đàn con thơ dại đang cần có người săn sóc dạy dỗ, hoặc tính mạng của một hài nhi, chỉ có quyền sống chứ không được chết yểu… Mối băn khăn đó đôi khi còn ám ảnh người thày thuốc trong bữa ăn giấc ngủ của họ. Người thày thuốc không thể không có những suy tư sau khi ngồi bên giường bệnh kiên nhẫn nghe lời kể lể tâm sự của thân chủ mình, rồi cố tìm một lời nói dịu dàng để khuyên nhủ, ngõ hầu xoa dịu được phần nào những nỗi khổ đau về tinh thần, những khắc khoải hoặc dằn vặt của một lương tâm đang bị cắn rứt…. Người thày thuốc không những chỉ đem lại cho ta sức khỏe, họ giúp ta sống đã đành nhưng nhiều khi họ giúp ta nhắm mắt cho yên nữa.

Chữa khỏi đã vậy, nhưng còn những khi thất bại ? Đã mấy ai thấu hiểu được nỗi khổ của người thày thuốc, dù ham tiền mấy đi nữa, sau khi thâu canh ngồi bên một sản phụ, những mong cứu sống được cả mẹ lẫn con, hoặc ít nữa một trong hai người, nhưng rút cuộc không cứu nỗi ai hết. Và trong khi người thày thuốc ấy, khác nào một kẻ bại trận, rửa tay - hai bàn tay đẩm máu và run lẩy bẩy - thu xếp đồ dùng cho vào cặp rồi lủi thủi ra về, mặt mũi phờ phạc, đầu choáng mắt hoa, có những con mắt ngấn lệ, đầy đau thương, có khi đầy oán hận, nhìn theo và biết đâu không lên án họ. ? Ôi, VINH NHỤC của nghề thuốc! Người ta muốn phê bình người thày thuốc ra sao tùy ý, nhưng tôi dám chắc, trong khi hành nghề, họ không thể không có một niềm tin, một tia hi vọng, một ngọn lửa thiêng nào đó trong lòng.

Nói tóm lại, thế nào họ cũng phải có một nhiệt hứng khiến họ cảm thấy sung sướng khi tìm ra căn bệnh. Một niềm vui khi phụng sự và thành công.
Duhamel đã nói "Không có nghề nào cao đẹp và buồn bằng nghề thuốc, một nghề đói hỏi nhiều bổn phận, nhiều trách nhiệm tinh thần, nhưng chính trách nhiệm đó, nhất là trách nhiệm tinh thần, nó làm cho nghề chúng ta cao đẹp. Những trách nhiệm của người thày thuốc ở vào thời đại này rất nặng nề, vì không nói tất các bạn cũng rõ là chúng ta hiện đang sống trong một kỷ nguyên thật là huyền ảo, khoa học tiến quá mau, ngoài sức tưởng tượng của con người, ” đã làm cho chúng ta trở thành những bậc THẦN THÁNH trước khi chúng ta xứng đáng làm người” (Jean Rostand) Thật thế: chỉ trong vòng ba bốn chục năm, y học đã tiến triển và khác hẳn bốn ngàn năm trước và nếu ngoảnh lại nhìn chặng đường đã qua, chúng ta không thể không giật mình kinh ngạc. Giáo sư Jean Bernard đã viết không phải là quá đáng: ‘”Một người thày thuốc ở thời tiền chiến, vắng mặt sau một thời gian 30 năm và nay trở về sẽ bở ngở không khác gì một bạn đồng nghiệp của ông sống dưới thời Hippocrate nay tái sinh trước ngày thế chiến thứ hai”.

Tuy nhiên chúng ta những kẻ hậu sinh, không được quên ơn các bậc tiền bối đã có công lớn với y học, hoặc ít ra cũng nhớ đến tên tuổi những vị đó, như Pasteur, Claude Bernard, Lister, Yersin, Fleming … Nói về ngoại khoacách đây trên 40 năm một danh y về khoa giải phẫu, giáo sư J. L Faure trong bài diễn văn khai mạc một cuộc hội nghị quốc tế đã nói: “Ngày nay khoa giải phẫu đã lên tới chỗ tuyệt đỉnh rồi, khó lòng mà tiến hơn nữa” Tuy nhiên trên lãnh vực y khoa, ai dám tự hào mình là một nhà tiên tri, và ngày nay -1968- chúng ta có thể lập lại câu nói và biết đâu trong vài ba năm nhận xét của chúng ta lại không đúng nữa. Các bạn tất đã biết nhờ có thuốc mê (tìm ra năm 1816 ở Hoa Kỳ) mà người ta có thể giải phẫu với những điều kiện mới. Nhất là sau cuộc cách mạng do Pasteur khởi xướng, cho biết nguyên nhân của phần nhiều bệnh là vi trùng, rồi nhờ có phương pháp sát trùng (antiseptie) của Lister, nhất là phương pháp phòng hủ (asepsie) của Terrier, số người chết đi vì giải phẫu giảm đi rất nhiều. Đồng thời các nhà giải phẫu táo bạo hơn, dám đi sâu vào trong cơ thể, nào mổ ruột, mổ dạ con, nào giải phẫu xương, khớp xương,… Mặc dầu khoa giải phẫu tiến bộ rất mau, mặc dầu kỹ thuật giải phẫu đã được hoàn bị, vẫn còn có người chết vì giải phẫu do những xáo trộn trong cơ thể. Quan trọng hơn hết là xáo trộn sinh lý (desordres biologiques) gây ra một loại bệnh hậu giải phẫu (maladie post-operatoire). Bệnh này được nghiên cứu kỹ càng để dần dà đưa tới phương pháp hồi sinh (reanimation) một phương pháp ngày nay rất thông dụng, không những ở ngoại khoa mà còn ở nội khoa nữa. Một trong những kỹ thuật kỳ lạ nhất của khoa gây mê là đông miên nhân tạo (hibernation artificielle) và nhờ phương pháp này, người ta có thể giải phẫu tim được. Một đàng, nhờ có phương pháp hồi sinh và thuốc mê, đàng khác nhờ có thuốc trụ sinh-mỗi ngày một nhiều-nhờ có thuốc ngăn đông huyết (anticoagulants) và sau hết nhờ tiếp máu, có khi thay cả máu nữa, mà khoa giải phẫu đã đi vào những con đường mà từ xưa tới nay không ai dám nghĩ tới như là mổ phổi để rồi cắt đi, mổ óc, tủy, xương sống, giao cảm thần kinh (sympathique) hoặc ghép mạch máu, ghép xương, ghép mắt, ghép thận …vv. Mới đây các bạn còn nghe nói về những vụ thay tim làm chấn động dư luận thế giới và khiến mọi người phải kinh ngạc và thán phục vô cùng. Bên cạnh những thành công rực rở đó nội khoa cũng phát triển rất nhanh. Nhờ có thuốc trụ sinh, phát minh vào cuối thế chiến thứ hai, nhiều bệnh truyền nhiễm như thương hàn, giang mai…. đã bị đẩy lui. Nhờ có Penicilllin-do Fleming tìm ra- nhiều loại vi trùng như: pneumocoque, streptocoque, méningocoque. đã bị tiêu diệt và nhiều bệnh phổi, bệnh đau màng óc cấp tính, bệnh lậu, có thể trị được, cũng như bệnh đau tim do vi trùng streptocoque viridans-còn gọi là bệnh Osler- mà xưa kia y học đã phải bó tay. Còn nhiều trụ sinh khác cũng được khám phá và đáng kể nhất là streptomycine-do Waksman tìm ra năm 1943- rất công hiệu để trị bệnh lao, một trong tứ chứng nan y của ta. Lần đầu tiên bệnh nguy hiểm này đã bị đánh bại. Ngoài trụ sinh ra, người ta còn tìm ra được nhiều loại thuốc hóa học nữa, trong đó phải kể Isoniazide rất thông dụng từ năm 1952 để chữa bệnh lao, song song với streptomycine và nhiều thuốc khác như Chlopromazine (largactyl) để trị các bệnh thần kinh. Từ ngày có thuốc này và những thuốc mới như resepine, tại các dưỡng đường điều trị người điên, loạn óc, ta không còn chứng kiến những cảnh huyên náo nữa, và nhất là bệnh nhân không còn bị đối xử như những con thú vật, mỗi khi lên cơn điên, bị nhốt trong chuồng sắt, chân tay bị trói chặt, như cách đây trên 30 năm, hồi tôi còn là sinh viên. Chúng ta cũng thể quên được những khám phá quan trọng trong ngành học về những bệnh do siêu vi trùng gây ra, và nên biết rằng ngày nay, nhờ có thuốc chích hoặc uống thuốc phòng ngừa mà nhiều bệnh như bệnh tê liệt (poliomyélite) có thể tránh được, cũng như bệnh cúm(grippe) bệnh sởi (rougeole). . vv Những bệnh truyền nhiễm ghê gớm như bệnh tả (choléra) bệnh dịch hạch (pest) bệnh cùi (hủi) bệnh hoàng đản (fièvre jaune) không còn là mối lo cho nhân loại như hồi xưa nữa. Và những bệnh như bệnh ngủ (maladie du sommeil) ở Phi châu, bệnh sốt rét cơn (paludisme) cũng đã bị đẩy lui. Nhờ có bột DDT mà hàng chục triệu người đã không mắc bệnh sốt rét cơn. Các bạn thân mến. Tôi không thể kê khai hết ở đây tất cả những phát minh khác của y học trong mấy năm vừa rồi, như: sinh tố, kích thích tố( đặc biệt là cortisone, A. C. T. H ) hoặc nói đến những phương pháp tối tân để định bệnh bằng quang tuyến, bằng isotope. . vv mà chỉ nhấn mạnh tới những khám phá quan trọng trên lãnh vực trị liệu thôi. Đời sống trung bình của con người cách đây hai thế kỷ là 35 năm, nay lên tới 70, và có lẽ chỉ trong vài chục năm nữa số người thọ 100 tuổi là thường.

Nhưng chúng ta đừng quá lạc quan và yên trí rằng bất cứ bệnh nào cũng có thể trị được dù y học tiến bộ mấy đi nữa, hiện nay vẫn còn có một số bệnh mà người ta vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân, như bệnh tê thấp, bệnh chai động mạch(arterio-sclerose), bệnh ung thư máu (leucemie)…Còn đối với những bệnh ở thần kinh hệ do siêu vi trùng gây ra (virus neurotrope) chúng ta vẫn còn …. . bất lực.
Y học hiện nay vẫn chưa có thuốc để cho ta khỏi già. Không những đừng quá lạc quan mà còn phải biết những nguy hiểm và những bệnh do chính thuốc gây ra (maladies thérapeutiques). Giáo sư Michel Conte đã nói: Hiện nay chúng ta đang đứng trước một bi kịch mà chúng ta không phải là khán giả. Chúng ta bị lôi cuốn vào trong một cơn gió lốc, và chúng ta phải chữa bệnh, tức là phải lực chọn những thứ thuốc mới, và cái đó không phải là chuyện dễ. Chưa bao giờ quyền lực của người thày thuốc lại mạnh đến thế, nhưng chưa bao giờ họ lại cảm thấy mình lúng túng đến thế. Trụ sinh khi dùng bừa bãi, có thể tạo ra nhiều bệnh nặng do vi trùng staphylocoque gây ra, hoặc bệnh nấm(mycose) hoặc làm cho máu biến đổi. Một vài loại sulfamide có thể gây ra bệnh ngoài da chết người được. Aspirine dùng nhiều có thể làm loét bao tử và xuất huyết, dùng corisone có thể làm thủng bao tử, gây kinh phong, hoặc làm cho bệnh lao cũ tái phát. Butazolidine có thể làm băng huyết được. Nhiều tai nạn lưu thông đã xảy chỉ tại dùng thuốc an thần, những thuốc này làm cho phản ứng chậm lại. Người ta cũng nói nhiều về trường hợp các lực sĩ chết vì dùng kích thích tố trong các cuộc thi điền kinh. Vẫn hay rằng những thuốc nói trên, trước khi đem ra dùng đã được thí nghiệm cho súc vật (Florey và Chain đã chích Penicilllin cho chuột và thấy không độc nên mới chích cho người, cũng như các loại thuốc an thần) nhưng làm sao biết chắc được là khi áp dụng cho người sẽ không nguy hiểm sẽ không nguy hiểm? Làm sao có thể tiên liệu được những phản ứng chậm, còn những thứ thuốc, thuộc loại thuốc hóa học, mỗi ngày một nhiều, càng công hiệu lại càng nguy hiểm). Người ta đã từng thí nghiệm thuốc thalidomide trước khi đưa ra thị trường nhưng có ai ngờ đâu rằng dược phẩm đó lại làm cho các sản phụ sinh ra quái thai?

Các bạn thân mến. Tôi không có ý nêu ra đây những nguy hiểm của thuốc để các bạn sợ và đừng dùng, mà chỉ mong sao các bạn thận trọng mỗi khi các bạn cho toa, nhất là lưu ý các bạn đến những phản ứng bất ngờ có thể xảy ra với bất cứ loại thuốc nào. bởi vậy các bạn cần hỏi cặn kẻ bệnh nhân trước khi biên toa cho họ. Tôi đã nói với các bạn không có nghề nào có nhiều trách nhiệm bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có nghề nào cao quý bằng. Cứu sống một người bị thương nặng nhờ giải phẫu kịp thời và đúng kỹ thuật, làm cho một bệnh nhân đang đau quằn quại chỉ trong phút chốc hết đau ngay, hoặc trả lại cho một bà mẹ đứ con yêu quý mà bà ta yên trí khó lòng qua khỏi, tất cả những cái đó, đối với một người không ở trong nghề, thật là phi thường và được coi như phép lạ. Trách nhiệm của người thày thuốc nặng nề ngay từ khi định bệnh cho đến lúc kê toa, hoặc giải phẫu, bởi tính mạng của một người nằm trong tay họ. Trách nhiệm đó làm cho người thày thuốc ngày đêm lo lắng đến quên ăn mất ngủ. Tôi thành thật mong cho các bạn được sống những giờ phút lo âu hồi hộp đó vì chính nhờ thế, rồi qua khỏi mới cảm thấy được tất cả cái cao đẹp của nghề thuốc. Trousseau, một vị danh sư của Pháp, đã từng khuyên các sinh viên y khoa: "Các bạn có bổn phận làm vẻ vang cho nghề của các bạn, cũng như nhờ nghề đó mà các bạn được vẻ vang, một nghề đòi hỏi nhiều hi sinh, một nghề trong đó ngày và đêm của các bạn sẽ là ngày và đêm của người ốm. Các bạn nên yên trí rằng các bạn gieo tận tâm mà sẽ chỉ gặt bội bạc. Các bạn sẽ phải gạt bỏ hết những thú vui đầm ấm của gia đình và thì giờ nghỉ ngơi sau một thời gian làm lụng vất vả. Các bạn không được sợ thối tha bẩn thỉu hoặc nguy hiểm, các bạn không được lùi bước trước cái chết khi cái chết đó xảy ra giữa những lúc nguy hiểm của nghề chúng ta, bởi chết như thế sẽ làm cho ai nấy khi nhắc đến tên bạn, phải tỏ lòng kính mến.

Như tôi vừa nói, y học ngày nay tiến rất nhanh, và muốn trở thành một bác sĩ lành nghề, các bạn khi còn là sinh viên, phải siêng năng học tập, từ lý thuyết đến thực hành. Định bệnh chậm trễ hoặc sai lầm khi cho thuốc (cho quá hoặc không đủ liều) đều là những lỗi không thể tha thứ được. Bởi vậy thiết tưởng trong LỜI TUYÊN THỆ của Hippocrate cần ghi thêm câu này: Tôi xin thề suốt đời học hỏi Trong thời buổi này, bổn phận đầu tiên của người thày thuốc là phải học, phải biết, và phải biết cho đến nơi đến chốn, chứ không được biết lờ mờ.
Không nói tất các bạn cũng rõ là những kiến thức của chúng ta ở trên mọi lãnh vực, chứ không riêng gì ở y khoa, chỉ trong vài ba năm, có khi vài tháng, đã trở thành” cũ rích”. vì vậy chúng ta cần phải trau dồi học hỏi luôn luôn, suốt đời chúng ta vẫn phải là sinh viên đầy nhiệt hứng. Bận rộn mấy các bạn cũng cố dành thì giờ để đọc sách, báo y học, ngõ hầu theo dõi những tiến triển của y khoa, và nếu các bạn có thể tìm tòi, khảo cứu được thì càng hay. Thật là một tai họa cho người ốm nếu chẳng may gặp phải ông thày thuốc, dù tử tế dù tận tâm, nhưng "gà mờ" khiến tiền mất mà tật vẫn mang. Người ta thường nói "có học mà không có lương tâm là sự đồi bại của linh hồn” (science sans conscience n’est que ruine de l’âme) nhưng có lương tâm mà không có học, nhất là khi làm nghề thuốc, cũng bằng thừa, nguy hiểm nữa là khác.“ Tài năng và lương tâm chức nghiệp đều có liên hệ mật thiết với nhau, và giá trị nghề nghiệp phải đi đôi với giá trị đạo đức. Dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả” (Gosset) Ngoài việc trau dồi kiến thức y học, người thày thuốc còn phải có một vài đức tính sau đây:
a) Có óc nhận xét, nếu không sẽ bỏ qua những triệu chứng cần thiết để định bệnh.

b) Có lương tri, tức óc phê bình, biết phán đoán, không quá tin ở những kỹ thuật hoặc thuốc mới nếu xét thấy những kỹ thuật và thuốc này trái ngược với bệnh lý (phòng thí nghiệm vẫn có thể nhầm được). Đừng ham mới chuộng lạ nếu thuốc kê cho bệnh nhân dùng chưa được các danh sư hoặc các bác sĩ đứng đắn xác nhận là công hiệu và không nguy hiểm. Có nhiều thứ thuốc hôm nay được ca tụng như thần dược mà chỉ trong một thời gian ngắn đã bị bỏ rơi (trường hợp vàng để trị bệnh lao, thạch tín (arsenic) để chữa giang mai.) Bởi vậy trước khi cho toa các bạn phải thận trọng và luôn luôn nhớ tới lời châm ngôn cổ: Primum non nocere (trước hết đừng làm hại).
c) Có kinh nghiệm:
Muốn có kinh nghiệm dĩ nhiên phải hành nghề lâu năm.

Tuy nhiên đối với nghề thuốc cũng như với nhiều nghề khác, các bạn đứng tưởng rằng cứ nhiều tuổi nghề mà có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, vì có “những cái mà mình cho là kinh nghiệm, kỳ thực là những sai lầm chồng chất lên nhau” (Sergent.)
Một sinh viên y khoa năm thứ nhất, lần đầu tiên gặp một người mắc bệnh thương hàn lần sau gặp một người sốt liên miên, nom có vẻ mệt mỏi, chàng ta không do dự gì cả, bảo người đó bị bệnh thương hàn. Trái lại một sinh viên năm thứ năm, hoặc một sinh viên nội trú hoặc một vị giảng sư dù đã từng chữa hàng trăm người mắc bệnh đó rồi, bao giờ cũng dè dặt, không vội vả. Những người ít học lại càng hay tự phụ, còn những người học rộng tài cao lại càng khiêm tốn khác nào những bông lúa lép bao giờ cũng ngạo nghễ vươn đầu lên trời, trong khi những bông lúa vàng nặng trĩu hạt thì nằm rạp xuống đất" (Leonard de Vinci ).

Ngoài kiến thức về y học ra người thày thuốc còn phải có những đức tính tinh thần, nhất là phải có tình thương.
Làm thầy thuốc dù giỏi, dù có lương tâm mà thiếu tình thương thì chỉ được coi như mới làm có một nửa phận sự thôi, và nhất định không thể nào yêu nghề được. Từ mấy ngàn năm nay Hippocrate đã nhấn mạnh tới điểm quan trọng này rồi. Bạn săn sóc người ốm, sau khi đã thăm bệnh, cho toa, dặn dò cặn kẻ cách dùng thuốc như thế nào và cho biết bệnh tình nặng nhẹ ra sao, bao giời khỏi, rồi bạn ra về, như vậy đã đủ chưa? Tôi thấy là chưa đủ. Vì ngoài cái đau đớn về thể xác, bệnh nhân nào cũng mong được vỗ về, an ủi, bệnh nhân nào dù sang hèn, cũng muốn rằng người thày thuốc kiêm cả một nhà tiên tri nữa, biết hiện tại lẫn tương lai, chữa được mọi bệnh ngay cả tâm bệnh. Phải chính bản thân mình đã từng bị đau ốm mới biết thế nào là một người thày thuốc. Trong khi mong đợi thì xiết bao lo ngại, băn khoăn, rồi khi thấy mặt thì mừng rỡ, cảm thấy vững tâm ngay. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của người thày thuốc đều quan trọng đối với người bệnh, và người này chỉ muốn cho ông thày lúc nào cũng ở bên cạnh mình, không rời mình ra, bất kể đêm khuya, bất kể họ mệt nhọc.

Nào chỉ có thế thôi ! Lại còn những lời trách móc nếu mời mà đến chậm, hoặc đi vắng vì hôm đó nhằm ngày chủ nhật hay ngày lễ.
Chính nhờ có sự vững tâm nói trên mà nhiều khi bệnh mau khỏi. Bởi lẽ đó, y học muốn trở thành một nghề cao quý, cần phải là một nền y học nhân bản, nghĩa là hiểu thấu những gì thuộc về con người, con người toàn diện, con người trong quá khứ và hiện tại. Và nhất là phải tôn trọng con người. “Nhân bản là cảm thấy trong lòng con người ta trải qua bao thế kỷ, cái gì đó vẫn bất di, bất dịch, con người thì hoàn toàn và sống trong một thế giới thích hợp với họ, con người biết rung động trước thiên nhiên, biết rung động khi nghe một bản nhạc, khi đọc một cuốn sách khi suy ngẫm về những sự huyền bí của tạo vật. Nhân bản tức là biết cảm, biết yêu, biết thương xót” (Maranon) Một người ốm, không phải chỉ có phần xác, với tim, gan, phổi, thận mà thôi, lại còn có cái mà từ ngàn xưa Platon gọi là phần hồn nữa. Một bệnh nhân thuộc về bất cứ thành phần nào trong xã hội không phải là một con số, hay là một lá phiếu như ta thường quan niệm ở bệnh viện. Họ không phải là một kẻ vô danh, mà ngược lại, là một người như chúng ta, một người có tên, có tuổi, có nghề nghiệp, địa chỉ, có gia đình, có những hoài bão, ước mơ, cảm xúc. Các bạn nên biết rằng một bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, không bao giờ có những phản ứng tâm lý như một người bình thường, và buổi đầu thế nào họ cũng có những xúc động lo âu. "Người thày thuốc không phải là một người thợ máy sữa chữa cơ thể như ta sửa một cái máy hư. Đó là một con người cúi xuống một con người khác, mong giúp đỡ họ, có gì cho nấy, đem lại cho họ một chút khoa học nhưng rõ nhiều tình thương” (Ignacio chavez). Muốn rằng thày thuốc là một con người máy và người ốm là một con số tức là không hiểu một tí gì về khoa tâm lý cả. Không nói tất các bạn cũng rõ là con người ta phức tạp vô cùng, đầy mâu thuẩn, có lúc sống với những bản năng cực kỳ hèn thấp, nhưng đôi khi lại có những hành động thật là cao thượng, siêu nhân. Và có lẽ bởi nhìn thấy rõ các nhược điểm đó nên người thày thuốc, mỗi khi gặp một bệnh nhân khó tính, hoặc đối xử với mình tệ bạc mà vẫn sẳn lòng tha thứ.

Không có một bộ máy nào dù cho tinh xảo mấy đi nữa, có thể ủy lạo người ốm với những lời dịu dàng trìu mến được, và giữa người thày thuốc và con bệnh, bao giờ cũng có một sự cảm thông, một mối dây liên lạc mật thiết “một cuộc đối thoại kỳ lạ” (une colloque singulier) như Duhamel đã nói, một bên thì ký thác những gì bí ẩn trong cõi lòng của mình, còn một bên thì cho mà không hề đòi hỏi. Hiểu như vậy các bạn sẽ cảm thấy sung sướng vô cùng, và nếu cái học của các bạn không phải là cái học nhân bản thì thật là vô ích và đáng tiếc lắm. Tóm lại đối với người thày thuốc, xứng đáng với danh từ đó “không có bệnh mà chỉ có người bệnh thôi” (Mondor). *

Ta thường nghe người ta phê bình ông thày thuốc này tốt, ông kia tử tế. Tốt hay tử tế không phải vì mát tay, mà vì ngoài công việc chữa bệnh ra, người thày thuốc còn hỏi han đến gia cảnh của thân chủ mình, đến sự học hành của con cái họ, có khi khuyên răn, có khi giúp đỡ, nghĩa là làm tất cả những gì có thể làm cho bệnh nhân và gia đình họ được hài lòng. “Chỉ có người tốt mới có thể thành danh y được"(Nothnagel) vì nhiều khi chính nhờ tấm lòng tốt của người thày thuốc mà bệnh nhân chóng bình phục. Ngoài tình thương và tấm lòng tốt ra người thày thuốc còn phải tế nhị đối với bệnh nhân nhất là ở bệnh viện. Các bạn đừng quên rằng người ốm bao giờ cũng có nhiều mặc cảm (mặc cảm tự ti) hay lo lắng và thường để ý tới cử chỉ và lời nói của các bạn. Các bạn đừng khinh người nghèo khó và nên nhớ rằng trước bệnh tật và cái chết ai ai cũng như nhau cả. Ambroise Pare người đã được coi như cha đẻ của khoa giải phẫu, nguyên là ngự y cho vua Chareles IX một hôm nhà vua đau cho vời ông lại và bảo: “Trẩm mong khanh săn sóc Trẫm chu đáo hơn những người khác” Ambroise Pare đáp: "Tâu bệ hạ hạ thần rất tiếc vì kẻ hạ thần chữa thân chủ của hạ thần như chữa các bậc đế vương Ngay đến những sa đọa về tinh thần của bệnh nhân các bạn cũng phải tôn trọng.

Các bạn sinh viên thân mến,
như trên tôi vừa nói, trong nghề thuốc của chúng ta có nhiều buồn, nhiều đau khổ hơn vui, nhất là nhiều nhục hơn vinh. Có những người mà ta tận tình săn sóc lại là những kẻ bội nghĩa vong ân, và trái lại, có những người mà tự xét ta chẳng làm được gì gọi là đáng kể thì suốt đời họ lại coi ta như bậc ân nhân. Nói tới những bổn phận của các bạn, tôi không thể không đề cập đến vấn đề bí mật nghề nghiệp (secret professionnel). Tuyệt đối người thày thuốc không được tiết lộ cho ai biết căn bệnh của thân chủ mình. Trong bệnh viện khi các bạn còn là sinh viên, các bạn không được nói to để người ngoài biết bệnh tình của con bệnh, hoặc cho biết họ mắc bệnh gì (một bà chủ muốn biết người làm công của mình mắc bệnh lao hay không). Ngay cả đối với nhà cầm quyền, các bạn cũng không được tiết lộ những gì bạn biết về thân chủ của các bạn. Khi viên cảnh sát trưởng hỏi ông Dupuytren để biết ai là kẻ phiến loạn trong số người nằm điều trị trong bệnh viện, ông ta đáp: "Tôi không biết ai là phiến loạn cả, tôi chỉ biết có những người bị thương thôi” Các bạn cũng nên biết rằng các bạn có thể bị phạt tù nếu các bạn không kín miệng.

Sau hết các bạn phải có lương tâm chức nghiệp, hay nói một cách vắn tắt, các bạn khi hành nghề phải có lương tâm. Giaó sư Jean Gosset đã từng nói: "Trong phòng giải phẫu người thày thuốc là chúa tể sau Thượng Đế nhưng có trách nhiệm trước lương tâm của mình
Không riêng gì thày thuốc ngoại khoa mà có thể nói một cách tổng quan là không một ai có thể kiểm soát nỗi một bác sĩ ngoại trừ lương tâm của họ. Sở dĩ ngày nay y học không có một địa vị xứng đáng trong xã hội, sở dĩ người thày thuốc không được trọng vọng, không được kính nể như hồi xưa (kể cả ở Việt Nam) là bởi trong nghề của chúng ta có một số con chiên ghẻ, thiếu lương tâm chức nghiệp.

Các bạn thân mến
Nghề thuốc mà các bạn đã lựa chọn không giống những nghề khác. Nhất định không, một trăm, một ngàn lần không. Ai đã chọn nghề này cần phài biết rằng có nhiều cái không được phép làm, và phạm tới những cấm điều đó, tức là làm hoen ố nghề mình. Nếu các bạn không muốn sống khắc khổ, không sẳn sàng hi sinh tốt hơn hết là các bạn tìm một nghề khác, ngay từ bây giờ cũng chưa muộn. Không thiếu gì nghề ngoài nghề thuốc vừa đem lại cho các bạn danh giá tiền bạc lại không vất vả, nhất là không có trách nhiệm gì hết. Có người, nhiều người lầm tưởng rằng nghề thuốc cũng như nghề đi buôn. Kỳ thực, giữa nghề đi buôn và những nghề tự do, trong đó có nghề thuốc, có một hố sâu không sao lấp được. Mục đích nghề đi buôn là mua rồi bán để lấy lời. Giá hàng cao hay hạ là tùy thuộc ở món hàng tốt hay xấu, bền hay không bền. Trái lại mục đích chính của nghề tự do không phải là tiền tài hay lợi lộc. Người thày thuốc khi săn sóc một người ốm, cũng như một giáo sư khi giảng bài cho học sinh, sinh viên, đều cố gắng hết sức mình chứ đâu có nghĩ tới tiền thù lao, lương lậu? Người đi buôn có quyền làm quảng cáo rùm beng, hoặc trên báo, hoặc trên đài phát thanh, trên đài truyền hình để “câu khách”, hoặc nhờ người dắt mối rồi cho họ ăn hoa hồng. Người đi buôn có thể rao ầm ỉ để mọi người biết là hàng của họ đẹp, bền, rẻ nhất thế giới chẳng hạn mà không sợ ai chê cười. Trái lại, người thày thuốc, biết tự trọng, có liêm sĩ, không được phép làm như vậy. Không những Y sĩ đoàn, Nghĩa vụ luận không cho phép mà chính lương tâm của họ cũng không cho phép. Người ốm không phải là một món hàng và chúng ta cũng thế, chúng ta không phải là món hàng để cho thiên hạ đem tiền ra mua chuộc. Chính người thày thuốc, khi đem tài nghệ của mình ra để phục vụ người ốm, đã làm ơn cho họ, chứ không phải người ốm, vì đem tiền bạc hay thế lực mà ban ơn cho người thày thuốc”. (Leannec)

Ngoài bổn phận đối với bệnh nhân ra, các bạn còn có bổn phận đối với các bạn đồng nghiệp nữa.
Tôi nhận thấy ngày nay phần đông các bác sĩ không đối xử với nhau như các bậc đàn anh của họ hồi xưa: trên kính dưới nhường. Tuyệt đối các bạn không được nói xấu bạn đồng nghiệp, không được phê bình (với ác ý) chỉ trích cách định bệnh hoặc chữa bệnh của họ, không được gièm pha để tranh khách, không được len lỏi vào một gia đình nếu gia đình đó đã có một dồng nghiệp rồi. Giáo sư P, V. Badot có kể lại truyện về giáo sư Maranon, một hôm tới bệnh viện Bichat và chăm chú nghe một sinh viên nội trú giới thiệu một bệnh nhân mắc chứng bệnh ở nội tiết tuyến (glandes endocrines) P. V. Badot viết: ”Khi tôi hỏi ý kiến của ông trước mặt đông đủ học trò của tôi thì ông chỉ mỉm cười, không trả lời. Khi chỉ có một mình ông với tôi, tôi nói: -Thế nào ông có đồng ý không? Giáo sư Maranon đáp: -Tôi không hoàn toàn đồng ý với học trò của ông. -Thế tại sao lúc ấy ông không nói? -Bởi vì không ai có thể biết sự thật chắc chắn được. Vả lại, không bao giờ được làm mất lòng một bạn đồng nghiệp cả!” Rồi giáo sư Badot kết luận: “Lịch sự tới cực độ ấy là một đặc tính của ông”.

Còn một điều này nữa tôi muốn nói với các bạn, là ngoài nghề thuốc racác bạn cần phải trau dồi văn hóa, không những trên lãnh vực khoa học mà cả trên lãnh vực văn chương nữa. Ở vào thời buổi này một nhà khoa học phải ham thích văn chương cũng như một nhà văn, không thể không biết tới khoa học. Chính nhờ văn hóa mà bạn có óc phê bình, sự phán đoàn của bạn được sắc bén, mau lẹ và minh mẫn, trí tuệ không bị cùn nhụt, căn cỗi, thành chai, tâm hồn của bạn vẫn giữ được trẻ trung mãi mãi. Giáo sư P, V. Badot đã viết: Phải mở mang trí tuệ của thnh niên hơn là để họ sống gò bó trong khuôn khổ chật hẹp của y khoa. Tôi nhận thấy nhiều danh y của thế giới, hoăc nhiều giáo sư đại học, đều là những người hiếu học, ham đọc sách, yêu sách, yêu nghệ thuật, học thức rất uyên thâm, vừa là thầy thuốc trứ danh, vừa là nhà văn nổi tiếng, như Mondor (nổi danh nhờ con dao, cây bút và cây cọ) Jean Delay, P. V. Radot, Duhamel…. những người này vừa có chân trong Hàn Lâm viện Y khoa vừa là Hội viên của Hàn Lâm viện Pháp. Nữ văn hào Han Suyin, Sommerset Maugham, Cronin, trước khi là nhà văn, đã từng làm nghề thuốc. Tchekov, đại văn hào Nga, vừa sống về nghề thuốc, vừa viết văn. Ông thường nói: ”Y học là vợ chính thức của tôi, còn văn chương là tình nhân. Khi tôi chán bà này thì tôi đi với bà kia. Tuy nhiên đối với cả hai, tôi đều trung thành cả. Nếu không có nghề thuốc, có lẽ tôi không có tài liệu để viết văn”. Giáo sư Trousseau mà tôi đã dẫn cũng bảo: "Một nhà bác học mà không phải là một nghệ sĩ chỉ là một nhà bác học tầm thường Bởi vậy tôi khuyên các bạn, ngoài việc học ra, nên để thời giờ nhàn rỗi, trau dồi văn hóa, rèn luyện văn chương, nghệ thuật (âm nhạc hội họa……) chơi thể thao, để cuộc đời đỡ buồn tẻ, vì theo tôi, nếu suốt đời làm mãi một nghề, bất cứ nghề gì, mà vẫn hăng say, không thấy chán thì quả thật là một sự lạ. Không những để cuộc đời khỏi buồn tẻ mà còn làm cho đời sống thêm phong phú, để biết sâu hiểu rộng, ngoài lãnh vực y khoa.

Người ta thường so sánh thày thuốc với ông Cha sở và ông Luật sư. Tôi không mang tiếng mắc bệnh chủ quan nếu phê bình vai trò của ba loại người đó, mặc dầu ở đây chỉ có các bạn và tôi mà chỉ xin dẫn Balzac và Duhamel là hai văn hào đã viết rất nhiều về cuộc đời của mấy nhân vật đó. Balzac nói:
Tôi cho rằng sở dĩ văn minh tiến bộ và nhân loại được sung sướng là nhờ ba người này” Nhưng sau khi nhận thức đúng vai trò của người thày thuốc, ông nói thêm: “Người nhà quê sẳn sàng nghe lời người kê toa cho mình để họ khỏi bệnh hơn là nghe lời ông Cha sở diễn thuyết về việc cứu vớt linh hồn. Một đàng có thể nói chuyện với họ về đồng áng và một đàng, chỉ có thể bàn với họ về thiên đàng, điều mà họ ít quan tâm tới.” Còn Duhamel thì viết về ba vị đó như sau: “Ông luật sư mà ta nhờ cậy để bệnh vực công lý cho ta có thể chọn ngày giờ để tiếp khách. Nếu ông yêu nghề, ông sẽ hăng hái làm việc, dù sao, không có gì cấp bách cả. Đối với thân chủ của ông, dù sao tình thương không quý bằng tài hùng biện, bằng sự khôn khéo, bằng giao thiệp rộng. Công việc của một nhà tu hành có thể ví với công việc của người thày thuốc. Tuy nhiên tôi cần nói ngay là chỉ khi nào hấp hối, người ta mới mời ông Cha Sở. Lương tâm dù bị cắn rứt, đợi đến sáng hôm sau cũng không muộn. Nhưng thường thường khi lên cơn đau vì trong thận có sạn, thì không thể nào đợi được. Ít khi người ta đánh thức ông Cha sở, dù ông này tốt, vì có người ăn năn sám hối; nhưng hơi nhức đầu một tí, có khi chẳng sao cả, đang đêm người ta cũng dựng ông thày thuốc dậy.”

Các bạn sinh viên thân mến!

Tôi vừa phác họa ra đây hình ảnh của một người thày thuốc, xứng đáng với danh từ ấy, suốt đời tận tụy, hi sinh cho người ốm, không quản vất vả, không mấy khi có thì giờ để nghỉ ngơi, giải trí, bữa ăn giấc ngủ thất thường, ngay đến những thú vui trong gia đình cũng không được hưởng, đã thế lại gặp nhiều bội bạc, hoăc có khi bị chính các bạn đồng nghiệp dèm pha, ghen ghét. Tuy vậy nhưng tôi chưa hề thấy một người thày thuốc nào than phiền về cái nghề của họ, vì đó là một nghề cao đẹp, cao đẹp hơn hết mọi nghề khác cao đẹp ở chỗ tất cả những cảnh khổ não trên thế gian này chỉ càng thắt chặt thêm mối dây liên lạc giữa người thày thuốc với người ốm, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, cao đẹp ở chỗ chỉ có nghề thuốc mới dung hòa được khoa học với lý trí và tình thương. Và để kết thúc buổi nói chuyện, kể cũng khá dài rồi, tôi xin mượn lời giáo sư E. Rist, trích trong cuốn: Y học là gì? (Qu’est-ce la Medicine ?) Muốn lúc nào cũng lãnh được hết trách nhiệm tinh thần của nghề chúng ta, chỉ có cách chắc chắn nhất, ấy là chuyên tâm vào nghề của mình, yêu nghề đó tha thiết, và luôn luôn cố gắng để mỗi ngày một tiến. Người thày thuốc muốn được tín nhiệm cần phải xứng đáng là người thày thuốc, cần phải có một nếp sống giản dị, không xa hoa đàng điếm, phải lập gia đình và ở trong gia đình, nêu một tấm gương thanh bạch đứng đắn. Người thày thuốc phải sống thực tiễn và sống theo thời đại. Trí tuệ phải được rèn luyện, trau dồi luôn, hợp nhân đạo. Đối tượng của sự học là con người, con người toàn diện. Người thày thuốc không những nên tìm hiểu con người trên lãnh vực khoa học mà còn cần biết đến đời sống tâm linh nhờ được tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp người, nhờ được trông thấy những thử thách của cuộc đời và làm quen với những kiệt tác của nhân tâm, của nghệ thuật và của khoa học. Sống cho người thân yêu và cho nghề của mình, đó không phải là một đề mục khá đẹp cho một mộ chí hay sao? Và nếu lại còn được cái đặc quyền sống cho Tổ Quốc nữa thì thật là sung sướng vô cùng. Và chung quy có lẽ đó là một cách thẳng thắn nhất để sống cho nhân loại.

Tôi thành thật cầu chúc cho các bạn sẽ là người thầy thuốc gương mẫu đó.


(http://dinhvankhai.blogspot.com/2011/11/may-loi-khuyen-sinh-vien-y-khoa.html)