MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Showing posts with label LIFE SKILLS-KỶ NĂNG SỐNG. Show all posts
Showing posts with label LIFE SKILLS-KỶ NĂNG SỐNG. Show all posts

Sunday, July 8, 2012

A question of attitude Vấn đề về thái độ sống




A question of attitude

Vấn đề về thái độ sống

The link between chronic stress and a marker of old age is being disentangled.
Mối liên hệ giữa căng thẳng thường xuyên và dấu hiệu tuổi già đang được làm rõ.

TELOMERES are to chromosomes what plastic caps are to shoelaces—they stop them fraying at the ends. Unlike shoelaces, though, chromosomes replicate themselves from time to time as the cells they are in divide. This shortens the telomere and, after 50-70 such divisions (a number known as the Hayflick limit, after its discoverer), a chromosome can grow no shorter and the cell it is in can divide no more.


Gen kết thúc đối với nhiễm sắc thể giống như miếng bịt nhựa đối với dây giầy - ngăn chặn chúng bung ra ở đầu cuối. Mặc dù vậy, không giống như dây giầy, nhiễm sắc thể thỉnh thoảng tự sao chép như những tế bào chúng đang phân chia. Sự tự sao chép sẽ làm ngắn lại gen kết thúc và, sau 50-70 lần phân chia như thế (con số này gọi là giới hạn Hayflick, theo tên người khám phá ra nó), lúc đó một nhiễm sắc thể không thể phát triển ngắn hơn được nữa và tế bào chứa nó không thể phân chia được nữa.


That provides a backstop against cancer. The rapidly dividing cells in a tumour soon hit the Hayflick limit and the process is brought to a screeching halt. Which is a good thing. The bad thing is that reaching the limit is one of the markers of old age. You do not want it to happen too quickly, particularly in tissues that have to do a lot of dividing in order to work properly, such as those in the immune system.

Nó sẽ đóng vai trò như cái rơ le chặn lại căn bệnh ung thư. Các tế bào phân chia nhanh chóng trong khối u chẳng mấy chốc chạm giới hạn Hayflick và quá trình này sẽ như cái phanh rít lại. Vậy điều ích lợi ở đây là gì. Điều có hại là việc đạt đến giới hạn này sẽ  như một trong những dấu hiệu của tuổi già. Bạn không muốn nó xảy ra quá nhanh, đặc biệt trong các mô mà chúng phải phân chia nhiều để hoạt động tốt, giống như những mô trong hệ miễn dịch.


It has been known for some time that chronic stress (caring for a child with a protracted illness, for example) causes premature shortening of the telomeres. What has not been clear is whether this is a one-way trip, with each stressful period turning the telomeric ratchet irreversibly. This week, though, at a meeting of the American Association for Cancer Research in Orlando, Florida, a group of researchers led by Edward Nelson of the University of California, Irvine, showed that it isn’t. Their research suggests that stress management not only stops telomeres from shortening, it actually promotes their repair.


Lâu nay chúng ta biết là đến một lúc nào đó sự căng thẳng thường xuyên (ví dụ chư chăm sóc một đứa trẻ bệnh lâu ngày) sẽ làm ngắn lại sớm gien kết thúc. Điều mà người ta chưa rõ là liệu đây có phải là chuyến đi một chiều không, với mỗi thời kỳ căng thẳng sẽ quay bánh răng cưa gen kết thúc theo chiều xuôi. Dù vậy, trong tuần này, tại cuộc họp của Hiệp hội nghiên cứu bệnh ung thư Mỹ ở Orlando, Florida, một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Edward Nelson của đại học California, Irvine, đã chứng minh là không phải vậy. Nghiên cứu cho biết chế ngự căng thẳng không chỉ ngăn chặn gen kết thúc ngắn đi, mà nó thực sự đẩy mạnh sự phục hồi.


Dr Nelson drew this welcome conclusion from a previous study that measured the impact of telephone counselling on women who had been treated for cervical cancer. The study found that such counselling worked, both mentally and physically. Women who had been counselled reported that the quality of their lives had improved, compared with those of a control group who had not been counselled. They also showed improvements in the strength of their immune systems.


Tiến sĩ Nelson đã đưa ra kết luận đáng hoan nghênh này từ nghiên cứu trước đây đo lường ảnh hưởng của cuộc tư vấn qua điện thoại ở những phụ nữ đã được điều trị ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu nhận thấy là những cuộc tư vấn như thế có hiệu quả, về cả tâm thần lẫn thể chất. Những phụ nữ được tư vấn cho biết chất lượng cuộc sống của họ đã được cải thiện, so với những người trong nhóm đối chứng không được tư vấn. Họ cũng cho thấy sự cải thiện về sức mạnh của hệ miễn dịch.


Given those benefits, Dr Nelson wondered if he could find others, and he re-examined the participants’ samples to look at the lengths of the telomeres in their white blood cells (red cells have no nuclei, and therefore no chromosomes). What he found surprised him. Not only did counselling stop telomere shrinkage, it actually promoted telomere growth. Those women for whom counselling had worked (ie, those who reported a decrease in emotional stress) had longer telomeres at the end than they did at the beginning. Their Hayflick countdowns were being reset.


Căn cứ vào các lợi ích đó, Tiến sĩ Nelson không biết liệu ông có thể tìm những người khác, và ông kiểm tra lại mẫu những người tham gia để quan sát đoạn gen kết thúc trong bạch cầu của họ (hồng cầu không có nhân, và do đó không thấy nhiễm sắc thể nào). Những gì phát hiện làm ông thật sự bất ngờ. Không chỉ việc tư vấn làm cho gen kết thúc ngưng co lại, nó thực sự đẩy mạnh sự tăng trưởng của gen kết thúc. Những phụ nữ mà việc tư vấn có hiệu quả (nghĩa là, những người báo cáo là giảm căng thẳng về mặt cảm xúc) có gen kết thúc dài hơn vào lúc cuối so với gien lúc họ có vào lúc đầu. Sự đếm ngược con số giới hạn Hayflick của họ cũng đang được thiết lập trở lại.


A single such result must, of course, be treated with caution. But another study reported at the meeting, by Elizabeth Blackburn of the University of California, San Francisco (who shared the Nobel prize for the discovery of the enzyme that repairs telomeres), gave some support. This showed that exercise has a similar effect to counselling on the telomeres of the stressed.


Mỗi một kết quả như thế, dĩ nhiên, phải được cân nhắc một cách thận trọng. Nhưng một nghiên cứu khác báo cáo lại tại cuộc họp, thực hiện bởi Elizabeth Blackburn thuộc đại học California, San Francisco (người đồng đoạt giải Nô - ben về tìm ra en-zim phục hồi gen kết thúc), cũng hỗ trợ thêm chi tiết. Điều này cho thấy việc rèn luyện cơ thể cũng có tác dụng tương tự như tư vấn về gen kết thúc đối với những người bị căng thẳng.


If Dr Nelson’s work is successfully replicated, it will shine more light on the ill-understood relationship between the health of the mind and the health of the body. For, as he points out, nothing actually changed in the lives of the women in question. They still had cancer, albeit under treatment, and they were still under stress. Nothing, that is, except their attitude.


Nếu công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nelson được lặp lại thành công, nó sẽ làm rõ hơn mối quan hệ đã được hiểu sai lệch giữa sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ thể lực. Vì vậy, như ông chỉ ra, không gì thực sự thay đổi cuộc sống của những phụ nữ đang được nói đến. Họ vẫn còn căn bệnh ung thư, mặc dù đang được điều trị, và họ vẫn còn căng thẳng. Không có gì có thể thay đổi được ngoại trừ thái độ của họ.

http://www.economist.com/node/18526881

Friday, July 6, 2012

Self-Defense Tự vệ




Self-Defense

Tự vệ

You've seen it in movies: A girl walks through an isolated parking garage. Suddenly, an evil-looking guy jumps out from behind an SUV. Girl jabs bad guy in the eyes with her keys - or maybe she kicks him in a certain sensitive place. Either way, while he's squirming, she leaps into her car and speeds to safety.


Bạn đã nhìn thấy cảnh tượng này trong các bộ phim: Một cô gái đi bộ qua một bãi đậu xe vắng vẻ. Đột nhiên, một gã đàn ông trông gian ác thình lình xuất hiện từ phía sau một chiếc SUV. Cô gái thọc mạnh chìa khóa của mình vào mắt gã đó - hoặc có thể đá vào điểm nhạy cảm của hắn ta. Dù bằng cách nào, thì trong khi hắn ta đang lúng túng, cô lao vào xe và chạy thoát an toàn.


That's the movies. Here's the real-life action replay: When the girl goes to jab or kick the guy, he knows what's coming and grabs her arm (or leg), pulling her off balance. Enraged by her attempt to fight back, he flips her onto the ground. Now she's in a bad place to defend herself - and she can't run away.


Đó là phim ảnh. Đây là cảnh trong đời thực: Khi cô gái sắp đấm hoặc đá vào người gã đàn ông thì hắn đoán được và chộp lấy cánh tay (hoặc chân) của cô gái, làm cô mất thăng bằng. Bị chọc tức bởi nỗ lực chống trả của cô gái, hắn ta xô cô gái té xuống. Bây giờ cô gái ở vào thế rất khó để tự vệ - và không thể chạy trốn.


Many people think of self-defense as a karate kick to the groin or jab in the eyes of an attacker. But self-defense actually means doing everything possible to avoid fighting someone who threatens or attacks you. Self-defense is all about using your smarts - not your fists.


Nhiều người nghĩ rằng tự vệ là một cú đá ka-ra-tê vào háng hoặc chọc mạnh vào mắt kẻ tấn công. Nhưng thật sự tự vệ có nghĩa là làm mọi cách có thể để tránh phải chiến đấu với một người đe dọa hoặc tấn công bạn. Tự vệ chủ yếu là cách sử dụng trí thông minh - không phải nắm đấm của bạn.

Use Your Head

People (guys as well as girls) who are threatened and fight back "in self-defense" actually risk making a situation worse. The attacker, who is already edgy and pumped up on adrenaline - and who knows what else - may become even more angry and violent. The best way to handle any attack or threat of attack is to try to get away. This way, you're least likely to be injured.



Dùng đầu óc

Những người đang bị đe dọa (đàn ông cũng như phụ nữ) và phản công “để tự vệ” thật ra đang liều mạng làm cho tình huống trở nên tệ hơn. Những kẻ tấn công, vốn đã hung hăng và rất liều lĩnh – không ai nói trước được – rất có thể càng nổi khùng và hung bạo hơn. Cách tốt nhất để xử lý bất kỳ sự tấn công hoặc đe doạ tấn công nào là cố gắng thoát ra. Bằng cách này, bạn sẽ ít có khả năng bị thương.


One way to avoid a potential attack before it happens is to trust your instincts. Your intuition, combined with your common sense, can help get you out of trouble. For example, if you're running alone on the school track and you suddenly feel like you're being watched, that could be your intuition telling you something. Your common sense would then tell you that it's a good idea to get back to where there are more people around.

Một cách để tránh một cuộc tấn công tiềm năng trước khi nó xảy ra là tin vào bản năng của bạn. Trực giác của bạn, kết hợp với khả năng phân biệt tình huống, có thể giúp bạn thoát khỏi rắc rối. Chẳng hạn như, nếu bạn đang chạy một mình trên con đường nhỏ trong khuôn viên trường học và bạn đột nhiên cảm thấy như đang bị theo dõi, thì có thể trực giác của bạn đang mách bảo điều gì đó. Khả năng phân tích sẽ giúp bạn thấy rằng nên quay lại nơi có nhiều người.


De-Escalating a Bad Situation

Attackers aren't always strangers who jump out of dark alleys. Sadly, teens can be attacked by people they know. That's where another important self-defense skill comes into play. This skill is something self-defense experts and negotiators call de-escalation.


Làm một tình huống bớt căng thẳng

Những kẻ tấn công không phải lúc nào cũng là kẻ lạ thình lình nhảy ra khỏi những con hẻm tối. Đáng buồn thay, thiếu niên có thể bị tấn công bởi những người mà họ biết. Đây là điểm mà một kỹ năng tự vệ quan trọng khác phát huy tác dụng. Kỹ năng này được một số chuyên gia về tự vệ gọi là “làm một tình huống bớt căng thẳng”


De-escalating a situation means speaking or acting in a way that can prevent things from getting worse. The classic example of de-escalation is giving a robber your money rather than trying to fight or run. But de-escalation can work in other ways, too. For example, if someone harasses you when there's no one else around, you can de-escalate things by agreeing with him or her. You don't have to actually believe the taunts, of course, you're just using words to get you out of a tight spot. Then you can redirect the bully's focus ("Oops, I just heard the bell for third period"), and calmly walk away from the situation.


Làm giảm sự nghiêm trọng của một tình huống nghĩa là nói hoặc hành động theo cách có thể ngăn sự việc tồi tệ hơn. Ví dụ cổ điển về làm một tình huống bớt căng thẳng là thí cho kẻ cướp tiền của bạn chớ không phải là cố đánh nhau hoặc bỏ chạy. Làm giảm sự nghiêm trọng của một tình huống cũng có thể hiệu quả theo một cách khác. Ví dụ, nếu một người nào đó quấy rối bạn khi không có ai khác xung quanh, bạn có thể làm tình huống bớt căng thẳng bằng cách đồng ý với họ. Dĩ nhiên, thật sự bạn không đồng ý với kẻ quấy nhiễu, bạn chỉ sử dụng lời nói nhằm giúp bạn thoát khỏi tình huống nguy hiểm. Sau đó, bạn có thể chuyển hướng tập trung của kẻ bắt nạt sang việc khác, (“Á, vừa có chuông vào tiết học thứ ba kìa!”), và bình tĩnh thoát ra khỏi tình huống nguy hiểm.


Something as simple as not losing your temper can de-escalate a situation. Learn how to manage your own anger effectively so that you can talk or walk away without using your fists or weapons.

Đơn giản là không nổi nóng sẽ giúp làm tình hình bớt căng thẳng. Học cách kiềm chế cơn giận của bản thân một cách hiệu quả để bạn có thể dùng lời nói hay thoát ra khỏi tình huống nguy hiểm mà không cần đến vũ lực.


Although de-escalation won't always work, it can only help matters if you remain calm and don't give the would-be attacker any extra ammunition. Whether it's a stranger or someone you thought you could trust, saying and doing things that don't threaten your attacker can give you some control.

Mặc dù mẹo làm tình hình bớt căng thẳng không phải lúc nào cũng có hiệu quả, nhưng nó có thể giúp ích nếu bạn giữ bình tĩnh và không cho kẻ có thể tấn công bạn có thêm lý do để làm điều đó. Cho dù kẻ ác là một người lạ hoặc một người nào đó bạn bạn tưởng có thể tin cậy, thì nói và làm những việc không đe dọa hắn sẽ giúp bạn có thêm quyền chủ động.


Reduce Your Risks

Another part of self-defense is doing things that can help you stay safe. Here are some tips from the National Crime Prevention Council and other experts:

Giảm nguy cơ của bạn

Mặt khác của tự vệ là làm những việc có thể giúp bạn giữ an toàn. Dưới đây là một số lời khuyên từ Hội đồng Phòng chống tội phạm Quốc gia và các chuyên gia khác:


Understand your surroundings. Walk or hang out in areas that are open, well lit, and well traveled. Become familiar with the buildings, parking lots, parks, and other places you walk. Pay particular attention to places where someone could hide - such as stairways and bushes.

Hiểu môi trường xung quanh. Đi bộ hoặc dạo chơi tại các khu vực mở, đủ ánh sáng, và đông người. Nên nắm rõ các tòa nhà, bãi đậu xe, công viên, và những nơi khác mà bạn đi bộ. Đặc biệt chú ý đến những nơi mà kẻ xấu có thể ẩn nấp - chẳng hạn như cầu thang và bụi cây.


Avoid shortcuts that take you through isolated areas. f you're going out at night, travel in a group.
   
Tránh các đường tắt mà đưa bạn qua các khu vực hẻo lánh. Nếu bạn đi ra ngoài vào ban đêm, hãy đi thành một nhóm.

Make sure your friends and parents know your daily schedule (classes, sports practice, club meetings, etc.). If you go on a date or with friends for an after-game snack, let someone know where you're going and when you expect to return.
Đảm bảo bạn bè và cha mẹ biết thời khóa biểu hàng ngày của bạn (các lớp học, tập thể thao, câu lạc bộ, v.v...). Nếu bạn có một cuộc hẹn với bạn bè hoặc đi ăn vặt sau khi xem một trận đấu, hãy cho một người khác biết nơi bạn đến và giờ về.


Check out hangouts. Do they look safe? Are you comfortable being there? Ask yourself if the people around you seem to share your views on fun activities - if you think they're being reckless, move on.


Kiểm tra nơi trú ngụ. Chúng trông có an toàn không? Bạn có cảm thấy thoải mái khi ở đó? Hãy tự hỏi những người xung quanh có chia sẻ quan điểm như bạn về các hoạt động thú vị - nếu bạn nghĩ họ thiếu thận trọng, hãy chuyển đi nơi khác.
Be sure your body language shows a sense of confidence. Look like you know where you're going and act alert.
Hãy chắc chắn rằng ngôn ngữ cơ thể của bạn cho thấy cảm giác tự tin. Có vẻ như bạn biết bạn đang đi đâu và hành động tỉnh táo.


When riding on public transportation, sit near the driver and stay awake. Attackers are looking for vulnerable targets.

Khi đi trên phương tiện công cộng, hãy ngồi gần người lái xe và tỉnh táo. Những kẻ tấn công sẽ tìm kiếm các mục tiêu dễ bị làm hại.


Carry a cell phone if possible. Make sure it's programmed with your parents' phone number. Be willing to report crimes in your neighborhood and school to the police.

Mang theo điện thoại di động nếu có thể. Hãy chắc chắn rằng nó được cài sẵn số điện thoại của cha mẹ bạn. Sẵn sàng báo cáo tội ác ở trong khu nhà và trường học của bạn cho cảnh sát.


Take a Self-Defense Class

The best way - in fact the only way - to prepare yourself to fight off an attacker is to take a self-defense class. We'd love to give you all the right moves in an article, but some things you just have to learn in person.


Theo học một lớp dạy cách tự vệ

Cách tốt nhất - thực ra là cách duy nhất - để chuẩn bị tinh thần để chuẩn bị cho mình chống lại một kẻ tấn công là theo học một lớp dạy cách tự vệ. Chúng tôi rất muốn cung cấp cho bạn tất cả các cách hành động đúng đắn trong một bài viết, nhưng một số điều bạn phải tự mình học trực tiếp.


A good self-defense class can teach you how to size up a situation and decide what you should do. Self-defense classes can also teach special techniques for breaking an attacker's grasp and other things you can do to get away. For example, attackers usually anticipate how their victim might react - that kick to the groin or jab to the eyes, for instance. A good self-defense class can teach you ways to surprise your attacker and catch him or her off guard.


Một lớp học tự vệ tốt có thể dạy bạn làm thế nào để đánh giá một tình huống và quyết định bạn nên làm gì. Các lớp võ tự vệ cũng có thể dạy những kỹ thuật đặc biệt giúp thoát khỏi sự túm chặt của kẻ tấn công và những mẹo khác bạn có thể thực hiện để trốn thoát. Chẳng hạn như, kẻ tấn công thường liệu trước cách nạn nhân của họ có thể phản ứng - ví dụ đá vào háng hoặc chọc vào mắt. Một lớp võ tự vệ tốt có thể dạy bạn cách để gây bất ngờ cho kẻ tấn công và làm hắn không cảnh giác.

One of the best things people take away from self-defense classes is self-confidence. The last thing you want to be thinking about during an attack is, "Can I really pull this self-defense tactic off?" It's much easier to take action in an emergency if you've already had a few dry runs.

Một trong những điều tốt nhất mọi người có được sau khi học tự vệ là sự tự tin. Điều cuối cùng bạn muốn được nghĩ đến trong một cuộc tấn công là: “Tôi thực sự có thể áp dụng chiến thuật tự vệ này?” Sẽ dễ dàng hơn nhiều để hành động trong trường hợp khẩn cấp nếu bạn đã có một vài lần được thử thực tập.


A self-defense class should give you a chance to practice your moves. If you take a class with a friend, you can continue practicing on each other to keep the moves fresh in your mind long after the class is over.
Một lớp học tự vệ sẽ cho bạn cơ hội thực hành các bước tự vệ. Nếu bạn cùng học với một người bạn, các bạn có thể tiếp tục tập luyện với nhau để giữ cho các bước tự vệ luôn nằm sẵn trong tâm trí của bạn lâu dài sau khi lớp học kết thúc.


Check out your local YMCA, community hospital, or community center for classes. If they don't have them, they may be able to tell you who does. Your PE teacher or school counselor may also be a great resource.


Liên hệ với các trung tâm cung ứng tiện nghi thể thao cho cộng đồng dân cư, bệnh viện và các trung tâm cộng đồng chỗ bạn về thông tin các lớp học này. Nếu những chỗ trên không có, họ có thể cho bạn nơi đâu có tổ chức. Giáo viên thể dục hoặc giáo viên cố vấn ở trường cũng có thể cung cấp cho bạn nhiều thông tin giá trị.

Steven Dowshen, MD
Tiến sỹ y khoa Steven Dowshen