|
The Syria crisis:
Going another round
|
Khủng hoảng Syria:
Thêm một ván bài nữa
|
|
|
|
|
Russia’s plan
provides a breathing space. But it is probably unworkable
|
Kế hoạch của Nga
mang đến một thời gian nghỉ để thở. Nhưng có thể không có thì giờ để thở nữa.
|
|
The Economist
Sep 14th 2013
|
The Economist
Sep 14/7/2013
|
|
“AMERICA is not the world’s policeman—terrible things
happen across the globe, and it is beyond our means to right every wrong.”
That world-weary run-up to his conclusion was about the clearest moment in
President Barack Obama’s televised address on Syria on September 10th. It was
a speech that twisted and turned and contradicted itself, reflecting an
astonishing fortnight which left Mr Obama looking like a spectator of his own
foreign policy. First he put the onus of resolving the Syria crisis on an
unwilling, risk-averse Congress, then on the government of Russia—just a day
after his national security adviser, Susan Rice, had accused Russia of
opposing “every form of accountability in Syria”.
|
“Mỹ không phải là cảnh sát của thế giới – những điều tồi
tệ xảy ra trên khắp toàn cầu, và sửa chữa mọi thứ sai lầm vượt quá khả năng
của chúng tôi”. Câu nói gây chán chường cho thế giới đó trước khi ông kết
thúc liên quan đến thời điểm rõ ràng nhất trong bài phát biểu trên truyền
hình của Tổng thống Barack Obama về Syria vào ngày 10/9/2013. Đó là một bài
phát biểu quanh co và tự mâu thuẫn với chính nó, phản ánh hai tuần lễ lạ lùng
khiến ông Obama trông giống như một khán giả của chính chính sách đối ngoại của
mình. Trước tiên ông đặt trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng Syria lên
một Quốc hội không sẵn sàng, ngại mạo hiểm, sau đó lên Chính phủ Nga – chỉ
một ngày sau khi cố vấn an ninh quốc gia của ông, Susan Rice, cáo buộc Nga
phản đối “mọi hình thức trách nhiệm ở Syria”.
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Showing posts with label INTERNATIONAL-QUỐC TẾ. Show all posts
Showing posts with label INTERNATIONAL-QUỐC TẾ. Show all posts
Saturday, November 16, 2013
The Syria crisis: Going another round Khủng hoảng Syria: Thêm một ván bài nữa
Wednesday, November 13, 2013
CUBA AFTER COMMUNISM CUBA, HẬU CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
CUBA AFTER COMMUNISM
|
CUBA, HẬU CHỦ NGHĨA
CỘNG SẢN
|
The Economic Reforms That Are Transforming the Island
|
Các cải cách kinh tế đang chuyển đổi hòn đảo này
|
|
|
|
¡Adelante! A car for
sale in Havana, February 2012 (Desmond Boy Lan / Courtesy Reuters)
|
¡Adelante! Xe bán hạ
giá tại Havana, tháng 2 năm 2012 (Desmond Boy Lan / Courtesy Reuters)
|
By Julia E. Sweig and Michael J. Bustamante
|
Julia E. Sweig and Michael J. Bustamante
|
Foreign Affairs
|
Foreign Affairs
|
JULY/AUGUST 2013
|
Tháng 7-9/2013
|
At first glance, Cuba’s basic political and economic
structures appear as durable as the midcentury American cars still roaming
its streets. The Communist Party remains in power, the state dominates the
economy, and murals depicting the face of the long-dead revolutionary Che
Guevara still appear on city walls. Predictions that the island would undergo
a rapid transformation in the manner of China or Vietnam, let alone the
former Soviet bloc, have routinely proved to be bunk. But Cuba does look much
different today than it did ten or 20 years ago, or even as recently as 2006,
when severe illness compelled Fidel Castro, the country’s longtime president,
to step aside. Far from treading water, Cuba has entered a new era, the
features of which defy easy classification or comparison to transitions
elsewhere.
|
Thoạt nhìn, những cơ cấu chính trị và kinh tế cơ bản của
Cuba có vẻ bền vững ngang với những chiếc xe ô tô của Mỹ đời giữa thế kỷ XX
giờ vẫn đang chạy trên đường phố nước này. Đảng Cộng sản vẫn nắm quyền, nhà
nước chi phối nền kinh tế, và những bức vẽ chân dung nhà cách mạng đã qua đời
từ lâu Che Guevara vẫn xuất hiện trên những bức tường của thành phố. Những dự
đoán rằng hòn đảo này sẽ trải qua một sự biến đổi nhanh chóng theo con đường
của Trung Quốc hoặc Việt Nam, chứ chưa nói đến khối Xô Viết cũ, thường tỏ ra
là những lời nói nhảm. Nhưng ngày nay Cuba đã rất khác so với 10 hay 20 năm
trước, hoặc thậm chí là gần đây vào năm 2006 khi căn bệnh nặng đã buộc Fidel
Castro, vị Chủ tịch trong thời gian dài của nước này, phải rút lui. Thay vì
giậm chân tại chỗ, Cuba đã bước vào một kỷ nguyên mới mà những đặc trưng của
nó không thể dễ dàng phân loại hay so sánh với những quá trình chuyển tiếp ở
các nước khác.
|
Money starts to talk Đồng tiền lên tiếng
|
Money starts to talk
|
Đồng tiền lên tiếng
|
|
|
|
|
And eventually, perhaps, in one currency, as the tempo of
reform accelerates
|
Và cuối cùng có lẽ bằng một đồng tiền duy nhất, khi nhịp
độ cải cách đang gia tăng.
|
|
The Economist
Jul 20th 2013
|
The Economist
20/7/2013
|
|
|
|
|
AT 9.01am one morning earlier this month, Marino Murillo,
a member of Cuba’s ruling Politburo, strode on to the stage at the
International Press Centre in Havana, gave a concise account of the
government’s economic plans, and took questions for 45 minutes. What would
have been routine elsewhere was remarkable in communist Cuba, for three
reasons. Gone is the interminable waiting around for the late-night rants of
Fidel Castro: punctuality is one of the hallmarks of the government led since
2006 by his younger brother, Raúl. And after internecine political battles
over liberalising economic reforms, the government is confident enough of its
message to have invited a small group of foreign journalists to hear it—the
first such initiative in many years.
|
Vào lúc 9h01 một buổi sáng đầu tháng 7, Marino Murillo,
một thành viên Bộ Chính trị đang cầm quyền của Cuba, sải bước lên bục tại
Trung tâm Báo chí quốc tế ở La Habana, đã đưa ra thông báo ngắn gọn về các kế
hoạch kinh tế của chính phủ, và trả lời câu hỏi trong 45 phút. Những gì là
chuyện thường ngày ở những nơi khác thì là đáng chú ý ở nước Cuba Cộng sản vì
3 lý do. Đã qua rồi sự chờ đợi lê thê để nghe những lời huênh hoang vào đêm
muộn của Fidel Castro: sự đúng giờ là một trong những đặc trưng của chính phủ
do người em trai của ông, Raul Castro, lãnh đạo kể từ năm 2006. Và sau các
cuộc đấu tranh chính trị gây hại lẫn nhau về việc tự do hóa các cải cách kinh
tế, chính phủ đủ tự tin về thông điệp của mình để mời một nhóm nhỏ các nhà
báo nước ngoài đến nghe về nó – một sáng kiến đầu tiên như vậy trong nhiều
năm.
|
Cuban Evolution Cách mạng Cuba
|
Cuban Evolution
|
Cách mạng Cuba
|
|
|
|
|
By PicoIyer
|
PicoIyer
|
|
Time Magazine
July 8, 2013
|
Time Magazine
8/7/2013
|
|
In the twilight of
the Castro era, change brings as much skepticism as hope
|
Vào thời kỳ chạng
vạng của kỷ nguyên Castro, sự thay đổi mang lai hoài nghi cũng nhiều như hy
vọng.
|
|
Walk along La Rampa, the main drag in what used to be
Havana's version of a sleek 1950s American suburb, and every other bombed-out
house seems to be sprouting a sign in its weed-filled garden, a table loaded
down with secondhand Barcelona Football Club T-shirts. One woman sits by a
rack of pirated DVDs, while her neighbor advertises DIGITAL PHOTOGRAPHS (FOR
VISA OR PASSPORT). Someone has a sign up promising to repair your Rolex or
Seiko watch, and a little handwritten notice in front of a crum bling terrace
shows prices for coffee and orange juice (nothing else). Just a block or so
off the busy street, a piece of paper announces, in English, ROOM FOR RENT.
APRIL 18 AND 19. That was months ago.
|
Đi bộ dọc La Rampa, con phố chính ở nơi từng là phên bản
La Habana của một khu ngoại ô giàu có của Mỹ vào những năm 1950, và mỗi ngôi
nhà bi bom phá hoại khác dường như đang mọc lên một tấm biển hàng trong khu
vườn đầy cỏ dại của nó, một chiếc bàn chất đầy những chiếc T-shirt đã qua sử
dụng của CLB Bóng đá Barcelona. Một người phụ nữ ngồi cạnh một chiếc giá để
những chiếc đĩa DVD in lậu, trong khi người láng giềng của cô quảng cáo những
bức ảnh kỹ thuật số (dùng cho thị thực hay hộ chiếu). Ai đó ký nhận giấy hẹn
sửa chữa chiếc đồng hồ Rolex hay Seiko của bạn, và mẩu giấy nhỏ viết tay ở
phía trước bậc thang đầy gạch vụn ghi đơn giá cà phê và nước cam ép (chẳng có
gì khác). Cách con phố náo nhiệt chỉ khoảng một khối nhà một mảnh giấy đề chữ
‘Phòng cho thuê. Ngày 18 và 19/4’ viết bằng tiếng Anh. Đó là những tháng
trước đây.
|
Sunday, July 1, 2012
Top 10 Autocrats in Trouble Top 10 nhà độc tài đang gặp rắc rối
|
|
|
|
Top 10 Autocrats in
Trouble
|
Top 10 nhà độc tài
đang gặp rắc rối
|
|
The massive protests in Egypt aimed at ousting President
Hosni Mubarak mark an unprecedented moment in Egyptian history and a very
uncomfortable one in Mubarak's three-decade tenure. The spirit of revolt
seems to be catching. TIME takes a look at strongmen whose grips on power are
far weaker than they once were
|
Những cuộc biểu tình khổng lồ ở Ai cập nhằm trục xuất Tổng
thống Hosni Mubarak đánh dấu một thời điểm chưa từng có trong lịch sử Ai cập
và hết sức khó chịu đối với Mubarak trong ba thập kỷ chiếm giữ quyền lực của
ông ta. Tinh thần của cuộc nổi dậy này dường như đang lây nhiễm. TIME cho
chúng ta một cái nhìn lướt qua những kẻ bạo quyền mà sự níu giữ quyền lực lúc
này đã yếu hơn bao giờ hết.
|
|
1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011
|
1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011
|
|
|
|
|
For years, Egypt has not been on the Middle East radar of
most Americans — despite the fact that Washington has been a longtime
benefactor of the regime in Cairo. But Egypt, once the dominant force in the
region, is at the heart of the news once again as President Hosni Mubarak
struggles to cling to power in the face of unprecedented protests. The
authoritarian leader has led Egypt since the assassination of Anwar Sadat in
1981. Even though Mubarak's government implemented elections in 2005, true
political opposition has long been stifled under his rule. The Muslim
Brotherhood, a popular Islamic political group, has largely been suppressed,
and the police force is notoriously brutal on antigovernment opponents.
Parliamentary elections last year were widely considered to be fraudulent,
and many Egyptians saw in the sham the first signs of Mubarak paving the way
for his son to take over — laying the foundations of a family dynasty backed
by a coterie of corrupt elites. Mubarak is now facing the most serious challenge
to his decades-long rule from a populace brimming with years of pent-up rage
and frustration.
|
Trong nhiều năm Ai cập không nằm trong tầm nhìn Trung Đông
của hầu hết người Mỹ - cho dù trong thời gian dài Washington là nhà hảo tâm
đối với chế độ Cairo. Nhưng Ai cập, có thời từng là lực lượng áp đảo trong
khu vực, nay đang ở trung tâm tin tức khi tổng thống Mubarak đang vật vã bám
chặt lấy quyền lực trước những cuộc biểu tình chưa từng thấy. Lãnh tụ chuyên
quyền này đã lãnh đạo Ai cập từ sau cuộc ám sát Anwar Sadat năm 1981. Mặc dầu
chính phủ Mubarak đã cải thiện các cuộc bầu cử năm 2005, đối lập chính trị thật
sự từ lâu đã bị đàn áp dưới sự thống trị của ông ta. Muslim Brotherhood, một
nhóm chính trị Hồi giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng đã bị đàn áp,
và lực lượng cảnh sát Ai cập khét tiếng là tàn bạo đối với những người chống
chính phủ. Các cuộc bầu cử quốc hội năm ngoái bị nhiều người cho là gian lận,
và nhiều người Ai cập thấy xấu hổ trước những dấu hiệu đầu tiên Mubarak mở
đường cho con trai ông ta lên nối ngôi - đặt cơ sở cho một triều đại gia đình
trị được hậu thuẫn bởi một phái đặc quyền đặc lợi thối nát. Mubarak hiện đang
đứng trước một thách thức nghiêm trọng đối với sự thống trị dài nhiều thập kỷ
của ông ta bởi một khối dân chúng tràn đầy phẫn nộ và thất vọng dồn nén từ
nhiều năm nay.
|
|
2. Ali Abdullah
Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
2. Ali Abdullah
Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
A week of protests across Yemen has instilled fear in the
heart of President Ali Abdullah Saleh, who rushed to release several
human-rights activists and journalists just days after they were detained.
Saleh, who has ruled Yemen for 32 years, has long been criticized for his
corrupt government and is seen as a pawn in the U.S.'s counterterrorism
efforts. Saleh also has a history of cutting deals with Islamic militants and
insurgents of many stripes in order to keep power — a fact that the international
community has been paying closer attention to since al-Qaeda in the Arabian
Peninsula, which operates mainly out of Yemen, claimed responsibility for the
2009 attempted bombing of a Northwest Airlines plane en route to Detroit.
Earlier this year, Yemen's parliament gave preliminary approval to a measure
that would allow Saleh, who has ruled for more than three decades, to stay in
power past his constitutional mandate. The news prompted protests in the
country that have intensified since the Tunisian revolt.
|
Một tuần lễ với các cuộc biểu tình chống đối trên khắp
Yemen đã làm thấm nỗi sợ vào tim tổng thống Ali Abdullah Saleh, khiến ông ta
vội vã thả nhiều nhà hoạt động nhân quyền và nhà báo chỉ ít ngày sau khi họ
bị bắt giữ. Saleh, người đã trị vì Yemen trong 32 năm, từ lâu đã bị phê phán
về chính phủ tham nhũng của ông ta, và được coi như con tốt đen trong những
cố gắng chống khủng bố của Mỹ. Saleh cũng có một lịch sử những cuộc thỏa
thuận cay đắng với các chiến binh Hồi giáo và những cuộc nổi dậy của nhiều bộ
tộc để giữ được chính quyền - một sự kiện mà cộng đồng quốc tế đã và đang
quan tâm chặt chẽ kể từ khi al Qaeda ở bán đảo A rập, hoạt dộng chủ yếu bên
ngoài Yemen, nhận trách nhiệm về âm mưu năm 2009 đánh bom một máy bay của
Northwest Airlines trên đường đến Detroit. Đầu năm nay, quốc hội Yemen đã sơ
bộ chuẩn y một biện pháp cho phép Saleh, kẻ đã cai trị hơn ba thập kỷ, được ở
lại chính quyền vượt quá sự ủy trị hiến định của ông ta. Tin tức nhắc đến
những cuộc biểu tình đã mạnh lên trong nước này kể từ khi có cuộc nổi dậy của
Tunisia.
|
|
3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011
|
3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011
|
|
|
|
|
As supreme leader of one of the world's most isolated
states, not much is known of North Korea's Kim Jong Il apart from the
exalted, often absurd declarations made by the communist regime's official
mouthpieces. Things like he once wrote six operas in two years,
"coached" his country's World Cup team using invisible cell-phone
technology (which he also invented) and scored a 38 under par in a game of
golf (making him the greatest golfer of all time). While these feats of skill
are dubious, the extreme poverty in North Korea is clear. As Kim has built
one of the world's largest standing armies, aid agencies estimate some 2
million people have died since the mid-1990s as a result of food shortages
due in large part to economic mismanagement. Kim's totalitarian regime has
been accused of torture, public executions, slave labor, forced abortions and
infanticides, and an estimated 200,000 people are held as political
prisoners.
|
Là lãnh tụ tối cao của một trong những nước cô lập nhất
thế giới, Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên không được biết đến gì nhiều ngoài
những những tuyên bố huênh hoang, thường là ngu xuẩn, của những cái mồm chính
thức của chế độ. Những sự việc như ông ta đã có lần viết sáu vở opera trong
hai năm, “huấn luyện” cho đội tuyển World Cup của nước ông ta bằng công nghệ
điện thoại di động tàng hình (mà ông ta sáng chế ra) và ghi được tỉ số thắng
38 điểm trong một trận đấu golf (biến ông ta thành tay golf thủ vĩ đại nhất
mọi thời đại). Trong khi những kỳ công về tài nghệ của ông ta là tù mù, thì
sự đói khổ cùng cực ở Bắc Triều tiên là rõ ràng. Khi Kim đã xây dựng một
trong những quân đội thường trực lớn nhất thế giới, thì các tổ chức viện trợ
ước tính khoảng 2 triệu người đã chết từ giữa những năm 1990 do kết quả của
thiếu lương thực phần lớn vì quản lý kinh tế tồi tệ. Chế độ toàn trị của Kim
đã bị lên án về tra tấn, những vụ hành hình công khai, lao động nô lệ, cưỡng
bức phá thai và giết hại trẻ sơ sinh; và khoảng 200.000 người bị giam là
những tù nhân chính trị.
|
|
North Korea's only glimpse of a hope may lie in the ailing
Kim's death. In choosing to name his son Kim Jong Un, an inexperienced
20-something, as his successor, Kim created a less certain future as other powerful
members of his family jockey for the top spot. That uncertainty, some say,
could bring about a change of the guard or even a putsch led by dissatisfied
military officers.
|
Tia hy vọng mỏng manh duy nhất của Bắc Triều Tiên là cái
chết của Kim - hiện đang ốm yếu. Trong việc chọn để bổ nhiệm con trai của ông
ta là Kim Jong Un, một kẻ trong độ tuổi 20 không có kinh nghiệm gì, làm người
kế vị, Kim đã tạo ra một tương lai thiếu chắc chắn khi những thành viên mạnh
khác trong gia đình ông ta đua tranh vào chức vụ chóp bu này. Một số người
nói rằng sự không chắc chắn này có thể đưa đến việc đổi gác [chế độ] hay thậm
chí một cuộc nổi loạn lãnh đạo bởi các sĩ quan quân đội bất mãn.
|
|
4. Alexander
Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011
|
4. Alexander
Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Often described as the "last dictator in
Europe," Belarusian President Alexander Lukashenko has ruled this East
European country for 16 years. To prop up his rule, opposition voices are
routinely stifled and there is little to no independent media. Political
opponents are often monitored by Belarus' secret police, still known in this
former Soviet republic as the KGB. Lukashenko's control over the country
began in 1996 when the parliament considered impeaching him. He promptly
disbanded it. Lukashenko then handpicked the succeeding parliament and took
control over the country's judiciary branch. Last December, the dictator was
re-elected with 80% of the vote, but many independent observers reported
widespread fraud. Since then, Lukashenko has led a brutal crackdown on
political opponents, including some who ran against him in the presidential
election. The international community has imposed sanctions against Belarus
for his actions.
|
Thường được mô tả như “nhà độc tài cuối cùng ở châu Âu”,
Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã cai trị nước Đông Âu này trong 16
năm. Để chống đỡ cho nền cai trị của mình, những tiếng nói đối lập thường
xuyên bị chặn, còn phương tiện truyền thông độc lập thì từ có ít đến không
có. Các đối thủ chính trị thường xuyên bị theo dõi bởi công an mật Belarus,
trong nước cộng hòa thuộc Liên xô cũ này nó vẫn còn được gọi là KGB.
Lukashenko bắt đầu kiểm soát đất nước từ năm 1996 khi quốc hội xem xét kết
tội ông ta, ông ta liền lập tức giải tán nó. Lukashenko sau đó tự tay chọn ra
một quốc hội kế tục, và nắm lấy quyền kiểm soát ngành tư pháp của đất nước.
Tháng 12 vừa qua, nhà độc tài này đã được bầu lại với 80% số phiếu, nhưng
nhiều nhà quan sát độc lập cho biết có sự gian lận phổ biến. Từ đó,
Lukashenko đã lãnh đạo một cuộc đàn áp tàn bạo các đối thủ chính trị, trong
đó có một vài người ra tranh cử với ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống. Cộng
đồng quốc tế đã áp đặt trừng phạt Belarus vì những hành động này của ông ta.
|
|
5. Omar Hassan
al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011
|
5. Omar Hassan
al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Omar Hassan al-Bashir, who came to power in Sudan after
leading a coup in 1989 (he has been President since 1993), has the ignoble
distinction of being the first sitting head of state for whom the
International Criminal Court has issued an arrest warrant. He is wanted for
crimes against humanity, war crimes and, as of a second arrest warrant in
2010, genocide in Darfur. The indictments are not the only challenges
al-Bashir faces. In January 2011, the same month southern Sudanese voted in a
referendum to secede, students in the north took to the streets to protest
al-Bashir's regime.
|
Omar Hassan al-Bashir, người lên cầm quyền ở Sudan sau khi
lãnh đạo một cuộc đảo chính năm 1989 (ông ta là tổng thống từ năm 1993), có
một danh hiệu nhục nhã là nguyên thủ quốc gia đương chức đầu tiên mà Tòa án
Hình sự Quốc tế phát lệnh bắt. Ông ta bị truy nã về tội ác chống nhân loại,
tội ác chiến tranh và theo một lệnh bắt thứ hai năm 2010, tội diệt chủng ở
Darfur. Những bản cáo trạng này không phải là thách thức duy nhất mà
al-Bashir phải đối mặt. Trong tháng Giêng 2011, cùng tháng người miền nam
Sudan đi bỏ phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý để ly khai, các sinh viên
miền Bắc đã chiếm các đường phố để phản đối chế độ của al-Bashir.
|
|
6. Mahmoud
Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
6. Mahmoud
Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
His 2009 landslide re-election to a second term — with
more than 60% of the vote — caused an uprising in Iran. Mahmoud Ahmadinejad's
main opponent, Mir-Hossein Mousavi, and his supporters cried foul, demanding
a recount and later calling for the results to be thrown out. Dozens of
people were killed in demonstrations that were quelled by paramilitary
forces. After a week of intense protests, Iran's Supreme Leader Ayatullah Ali
Khamenei declared the results to be valid and affirmed Ahmadinejad's victory.
Just a few days later, the country's Council of Guardians confirmed that 50
constituencies had returned more votes than there were registered voters.
Ahmadinejad and Khamenei clashed on several political fronts, including who
would be part of the President's Cabinet. That tension, coupled with a
lingering, broad-based opposition to Ahmadinejad's administration — including
among some of the country's clerical elite — has kept Ahmadinejad, who wields
his power with the backing of the mullahs, on shaky ground.
|
Cuộc bầu cử lại vào nhiệm kỳ thứ hai năm 2009 mà ông ta
thắng lớn - với hơn 60% số phiếu - đã gây ra một cuộc nổi dậy ở Iran. Đối thủ
chính của Mahmoud Ahmadinejad, là Mir-Hossein Mousavi và những người ủng hộ
ông kêu là lừa đảo, yêu cầu kiểm lại phiếu và sau đó kêu gọi hủy bỏ kết quả
bầu cử. Hàng chục người bị giết trong các cuộc biểu tình bị đàn áp bởi các
lực lượng bán quân sự. Sau một tuần chống đối mãnh liệt, Lãnh tụ Tối cao của
Iran Ayatullah Ali Khamenei tuyên bố các kết quả bầu cử là hợp lệ và khẳng
định thắng lợi của Ahmadinejad. Chỉ ít ngày sau đó, Hội đồng Vệ quốc xác nhận
rằng 50 khu vực bầu cử có số phiếu thu được nhiều hơn số cử tri đã đăng ký.
Ahmadinejad và Khamenei va chạm trên nhiều mặt trận chính trị, bao gồm cả vấn
đề những ai sẽ tham gia vào nội các của Tổng thống. Sự căng thẳng này, đi đôi
với sự chống đối rộng rãi và lâu dài đối với chính quyền Ahmadinejad - bao
gồm trong số tăng lữ cao cấp của nước này - đang đặt Ahmadinejad, người cầm
quyền với sự hậu thuẫn của tầng lớp giáo sĩ Hồi giáo, trên một mặt đất đang
rung chuyển.
|
|
7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011
|
7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Robert Mugabe has ruled Zimbabwe since the nation achieved
independence in 1980. Over the course of more than 30 years as Prime Minister
and then President, he and his Zimbabwe African National Union–Patriotic
Front have violently repressed opposition and been more concerned about
maintaining power than improving the well-being of the country's citizens.
Despite strongman tactics, the people's discontent was made clear in 2008
when Morgan Tsvangirai of the Movement for Democratic Change received more
votes than Mugabe did for President. Violence preceded the runoff, however,
and Tsvangirai did not participate. Mugabe subsequently entered into a
power-sharing deal with the opposition; he remained President, while
Tsvangirai was made Prime Minister.
|
Robert Mugabe đã cai trị Zimbabwe từ khi đất nước giành
được độc lập năm 1980. Trong quá trình hơn 30 năm làm Thủ tướng và Tổng
thống, ông ta và Mặt trận Yêu nước - Liên hiệp Dân tộc Phi châu Zimbabwe của
ông ta đã đàn áp khốc liệt những người đối lập và quan tâm đến việc duy trì
quyền lực hơn là cải thiện đời sống của công dân trong nước. bất chấp những
thủ đoạn bạo ngược, sự bất mãn của nhân dân bộc lộ rõ năm 2009 khi Morgan
Tsvangirai của Phong trào vì Chuyển đổi Dân chủ nhận được nhiều phiếu hơn
Mugabe trong cuộc bầu Tổng thống. Tuy nhiên, bạo lực đi trước trận đấu lại,
và Tsvangirai không tham gia. Sau đó Mugabe đi vào một cuộc thương lượng chia
sẻ quyền lực với phe đối lập, ông ta vẫn là tổng thống, trong khi Tsvangirai
làm Thủ tướng.
|
|
8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Since 1992, just a year after its independence, the small
Central Asian state of Tajikistan has been governed by Emomali Rahmon. The
former Soviet apparatchik came to power at the onset of a bloody civil war in
the country, pitting a faction led by Islamists against a ruling bloc of more
secular, Russian-backed forces, among them Rahmon. Tens of thousands died,
but Rahmon came out victorious, and, as with leaders of other regimes in
Central Asia, he has justified his authoritarianism in part as a hedge
against the threat of extremist radicals. But experts describe Rahmon's
Tajikistan as poor and lawless and a key conduit for opium from neighboring
Afghanistan. After the financial recession hit the wealthier nations of
Russia and Kazakhstan, tens of thousands of Tajik workers — whose remittances
form the lifeblood of the Tajik economy — went home to poverty-racked villages.
In this climate, observers report the revitalizing of a long-dormant Islamist
insurgency, backed in part with the arrival of fighters who once dwelled in
Pakistan's tribal areas. All the while, Rahmon continues to govern Tajikistan
as his personal fief, his family the beneficiaries of years of graft. His
government may still stand, but dark clouds hover over the future of Rahmon's
Tajikistan.
|
Từ 1992, chỉ một năm sau khi độc lập, nhà nước Trung Á
Tajikistan nhỏ bé đã bị thống trị bởi Emomali Rahmon. Cựu thành viên của ban
lãnh đạo đảng cộng sản Liên xô lên nắm quyền vào lúc trong nước bắt đầu cuộc
nội chiến đẫm máu, đấu với một phe cánh dẫn đầu bởi những người Islamist
chống lại khối thống trị thế tục của những lực lượng được Nga ủng hộ, trong
đó có Rahmon. Mười ngàn người chết, nhưng Rahmon thoát ra thắng lợi, và,
giống như các lãnh tụ của các chế độ khác ở Trung Á, ông ta bào chữa cho sự
chuyên quyền của mình phần nào bằng cách coi mình như một hàng rào ngăn chặn
mối đe dọa của những kẻ cực đoan quá khích. Nhưng các chuyên gia mô tả nước
Tajikistan của Rahmon là một nước nghèo khổ và vô luật pháp, và là nơi chủ
yếu tuồn thuốc phiện từ nước láng giềng Afghanistan. Sau cuộc suy thoái tài
chính đánh vào những nước giầu hơn là Nga và Kazakhstan, hàng chục ngàn công
nhân Tajik - mà tiền họ gửi về là dòng máu nuôi sống nền kinh tế Tajikistan -
trở về nhà ở những làng quê xác xơ tiêu điều vì nghèo đói. Trong không khí
ấy, các nhà quan sát nói về cuộc nổi dậy của những người Islamist từ lâu nằm
im đang trỗi dậy mãnh liệt, một phần được hậu thuẫn bởi những chiến binh mới
đến, (trước đây họ trú ngụ trong những vùng thuộc các bộ lạc Pakistan). Trong
khi đó, Rahmon tiếp tục cai trị Tajikistan như thái ấp riêng của ông ta, gia
đinh ông ta nhiều năm được hưởng lợi lộc từ hối lộ. Chính phủ của ông ta có
thể vẫn còn đứng vững, nhưng những đám mây đen đã lơ lửng treo trên tương lai
của nước Tajikistan của Rahmon.
|
|
9. House of Saud
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011
|
9. Triều đình A rập
Saudi
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
With 25% of the world's oil reserves, accumulating wealth
and powerful friends — principally the U.S. — has not been hard for King
Abdullah of Saudi Arabia. But while he and his estimated 7,000 royal family
members thrive, enjoying his around $20 billion in wealth, 1 in 7 adults in
his country cannot read. Unemployment has topped 10% for years. Censorship is
pervasive. Criticizing the government, royal family and the police, who enjoy
absolute power, is not allowed. Women have precious few rights and are
largely excluded from the workforce. The ruling family has enjoyed absolute
power for the better part of 100 years, despite never having been elected.
Opposing political parties are simply not allowed. While Abdullah is aligned
with the region's other autocrats — he welcomed Tunisia's exiled leader Zine
el Abidine Ben Ali and has thrown his support behind Egypt's Hosni Mubarak —
a popular uprising in this restrictive but relatively affluent state seems
less likely than elsewhere in the Middle East. Still, the House of Saud's grip
has two weaknesses: the family's refusal to create a democratic system, even
while Saudi society itches to be more liberalized, and the continued presence
of networks of Islamist fundamentalists that threaten to destroy Abdullah's
credibility as a figure of stability abroad.
|
Với 25% trữ lượng dầu mỏ của thế giới, của cải tích lũy và
những người bạn mạnh - chủ yếu là Mỹ - cuộc sống của Vua Abdullah của A rập
Saudi quả là quá dễ dàng. Nhưng trong khi ông ta và khoảng 7000 thành viên
hoàng tộc của ông ta giàu có, hưởng tài sản khoảng 20 tỉ $, thì trong đất
nước ông ta cứ bẩy người lớn thì có một người không biết chữ. Thất nghiệp đã
lên đến 10% trong nhiều năm. Kiểm duyệt tràn lan. Việc phê phán chính phủ,
gia đình hoàng tộc và cảnh sát, những người có quyền lực tuyệt đối, là không
được phép. Phụ nữ có rất ít quyền và nói chung ở ngoài lực lượng lao động.
Gia đình thống trị này có quyền lực tuyệt đối trong gần một trăm năm nay, mặc
dầu chưa bao giờ được bầu ra. Các đảng chính trị đối lập đơn giản là không
được phép. Trong khi Abdullah được xếp cùng hàng với những nhà độc tài khác
trong khu vực - ông ta đã chào mừng lãnh tụ Tunisia lưu vong Zine el Abidine Ben
Ali và đã viện trợ cho Hosni Mubarak của Ai cập - một cuộc nổi dậy của dân
chúng trong cái quốc gia bị hạn chế nhưng tương đối giàu có này, có vẻ ít có
khả năng xảy ra hơn so với các nơi khác ở Trung Đông. Tuy nhiên, sự nắm quyền
của nhà nước Saudi có hai điểm yếu: gia đình trị từ chối tạo ra một hệ thống
dân chủ, ngay cả khi xã hội Saudi đang khao khát được tự do hơn, và sự tiếp
tục hiện diện của mạng lưới những kẻ Islamist chính thống chủ nghĩa đe dọa
phá hủy uy tín của Abdullah như một gương mặt của ổn định ở nước ngoài.
|
|
10. Abdelaziz
Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
10. Abdelaziz
Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
The 73-year-old Abdelaziz Bouteflika has been Algeria's
President since 1999, a long-term operator within the ruling National
Liberation Front — the party of socialist revolutionaries whose bloody
independence struggle won Algeria its independence from France in 1962 but
then rapidly transformed into a hegemonic one-party, army-backed regime. In
the 1990s, the ruling regime fought a vicious war with Islamists, who had
been denied their rightful place in the government after the army scrapped
elections. During his tenure, Bouteflika has attempted to nurse relations
with other parties and improve the country's poor record of democracy, but
political freedoms remain checked while observers point to rampant corruption
among the Algerian ruling class. Despite the country's natural-gas wealth,
unemployment is high and a strikingly young population itches for greater
opportunities. After a citizens' uprising ousted Tunisian President Zine el
Abidine Ben Ali in January, Bouteflika, whose country is considerably poorer
than neighboring Tunisia, looks set to face a budding popular revolt as well.
Tunisia's rebellion was sparked when one marginalized youth set himself
aflame. Seven such copycat self-immolations have taken place in Algeria since.
|
Abdelaziz Bouteflika 73 tuổi là tổng thống Algeria từ năm
1999, một nhà hoạt động lâu dài trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc - đảng của
những người cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh đẫm máu của họ đã
giành được độc lập cho Algeria từ tay Pháp năm 1962, nhưng sau đó nhanh chóng
chuyển thành chế độ độc đảng lãnh đạo, dựa trên quân đội. Từ những năm 1990
chế độ thống trị này tiến hành một cuộc chiến tranh dữ dội với những người
Islamist, những người đã bị từ chối chỗ đứng chính đáng trong chính phủ sau
khi quân đội loại bỏ các cuộc bầu cử. Trong nhiệm kỳ của mình, Bouteflika đã
thử nuôi dưỡng những mối quan hệ với các đảng khác cải thiện hồ sơ tệ hại của
đất nước về dân chủ, nhưng các quyền tự do chính trị vẫn còn bị kiểm soát
trong khi các nhà quan sát chỉ ra nạn tham nhũng đang tăng tiến trong giai
cấp thống trị của Algeria. Mặc dầu đất nước này giầu có nguồn khí đốt tự
nhiên, tỉ lệ thất nghiệp cao và dân cư đặc biệt trẻ đang khao khát những cơ
hội tốt hơn. Sau cuộc nổi dậy của công dân đuổi tổng thống Tunisia Zine el
Abidine Ben Ali vào tháng Giêng, Boutelflika - nước ông nghèo hơn nhiều so
với nước láng giềng Tunisia - trông có vẻ cũng phải bắt đầu đối mặt với một
cuộc nổi dậy của dân chúng đang nảy nở. Cuộc nổi dậy của Tunisia bùng cháy
khi một thanh niên bị hất ra lề đường châm lửa tự thiêu. Từ đó đến nay ở
Algeria đã có bảy trường hợp bắt chước tự hy sinh như vậy.
|
|
|
Translated by Hiếu Tân
|
|
|
|
|
http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,2045407_2045416_2045422,00.html
|
|
В чем подлинная причина революции в Египте? Nguyên nhân thật sự của cuộc cách mạng Ai Câp
|
|
|
|
В чем подлинная
причина революции в Египте?
|
Nguyên nhân thật sự
của cuộc cách mạng Ai Câp
|
|
Нехемия Штрасслер ("Haaretz", Израиль
|
Nechemia Shtrassler (Haaretz, Israel)
|
|
© REUTERS/Asmaa
Waguih
|
© REUTERS/Asmaa
Waguih
|
|
Еще две недели назад Египет считался страной с достаточно
успешной экономикой. Его относили к категории "пробуждающихся"
рыночных хозяйств, демонстрирующих устойчивый экономический рост в течение
целого десятилетия. Сам Хосни Мубарак удостоился похвалы за введенные им
экономические реформы, включавшие приватизацию и борьбу с засильем
бюрократии. Чиновники Международного валютного фонда с волнением рассказывали
о внушительном росте иностранных инвестиций в египетскую экономику,
цитировали популярный слоган каирских властей: "Египет открыт для
бизнеса".
|
Mới hai tuần trước Ai Cập còn được coi là đất nước có nền
kinh tế phát triển khá. Nước này được liệt vào một trong số những nền kinh tế
“đang thức tỉnh”, có sự phát triển kinh tế ổn định trong suốt cả chục năm.
Còn Hosni Mubarak thì xứng đáng được ngợi khen vì những cải cách kinh tế mà
ông ta đã tiến hành, trong đó có quá trình giải tư và chống tệ quan liêu. Các
quan chức của IMF hồi hộp nói về sự phát triển đấy ấn tượng của những khỏan
đầu tư trực tiếp của nước ngòai vào nền kinh tế Ai Cập, và thường xuyên viện
dẫn khẩu hiệu của chính quyền Ai Cập: “Ai Cập mở cửa cho kinh doanh”.
|
|
И вдруг начались массовые демонстрации, И тогда
экономистам стало ясно, что они прозевали самое главное. Стабильное
экономическое положение неожиданно стало плохим, а просвещенный
Мубарак-реформатор превратился в безжалостного Мубарака-диктатора.
Международные кредитные компании поспешили снизить рейтинг Египта, а Барак
Обама не только не протянул дружественному египетскому президенту руку
помощи, а, напротив, стал всячески ему намекать на необходимость немедленной
отставки.
|
Thế rồi những cuộc biểu tình bất ngờ bùng phát. Lúc đó các
nhà kinh tế học mới nhận ra rằng họ đã bỏ sót điều quan trọng nhất. Tình
trạng kinh tế ổn định bất ngờ bị xấu đi, còn nhà cải cách với tinh thần khai
sáng Mubarak thì biến thành nhà độc tài. Các tổ chức tín dụng quốc tế lập tức
hạ điểm tín nhiệm của Ai Cập, còn Barak Obama thì không những không chìa bàn
tay hữu nghị ra cho tổng thống Ai Cập mà còn tìm mọi cách nhắc nhở ông ta
rằng cần phải từ chức ngay.
|
|
Так, в одночасье, Египет превратился в символ нищеты,
обремененное социально-экономическими недугами государство третьего мира, в
котором имеет место колоссальный разрыв в доходах между узкой прослойкой
богатой элиты и десятками миллионов людей, которые живут на два доллара в
день. Не случайно нынешние народные волнения называют "интифадой
голодных".
|
Ai Cập lập tức trở thành biểu tượng của nghèo đói, trở về
với địa vị của đất nước thuộc thế giới thứ ba với rất nhiều vấn đề kinh tế-xã
hội, trong đó tầng lớp tinh hoa thiểu số có mức thu nhập cao hơn hẳn hàng chục
triệu người dân, những người chỉ sống với hai dollar một ngày. Không phải vô
tình mà những cuộc bạo lọan của dân chúng hiện nay được gọi là “Intifada của
những người nghèo đói”.
|
|
Экономисты немедленно пришли к оригинальному выводу, что в
Египте отсутствует средний класс, и даже те, кому удается получить
академическое образование (миллион выпускников высших учебных заведений в
год) находит работу либо на уборке, либо в мелкой розничной торговле. Стоит
напомнить, что тунисская революция, которая послужила детонатором вспышки
гнева в Египте, началась с того, что 26-летний выпускник университета поджег
себя потому, что полиция конфисковала его овощной лоток.
|
Các nhà kinh tế học lập tức rút ra kết luận độc đáo là ờ
Ai Cập không có tầng lớp trung lưu, thậm chí họ còn nói rằng những người có
bằng đại học hiện nay (một triệu người tốt nghiệp đại học một năm) chỉ có mỗi
việc là lau nhà hay làm trong ngành bán lẻ mà thôi. Xin nói thêm rằng cuộc
cách mạng ở Tunisia - ngòi nổ cho cơn tức giận sự bùng phát ở Ai Cập - bắt
đầu từ việc một chàng thanh niên 26 tuổi, tốt nghiệp đại học, đã tự thiêu sau
khi cảnh sát tịch thu quầy rau của anh ta.
|
|
Валовой национальный продукт Египта составляет 220
миллиардов долларов, ровно столько, сколько в Израиле. Правда, Египте живут
80 миллионов человек, а в Израиле 7,5 миллионов. Поэтому уровень жизни в
Египте составляет 10% от израильского. Если добавить к этому колоссальный
разрыв в доходах между бедными и богатыми, можно понять, откуда произрастают
отчаяние и гнев.
|
Tổng sản phẩm quốc nội của Ai Cập là 220 tỉ dollar, đúng
bằng Israel, nhưng Ai Cập có 80 triệu người, trong khi Israel chỉ có 7,5
triệu dân. Vì vậy mà mức sống của người Ai Cập chỉ bằng 10% dân Israel. Nếu
cộng thêm vào đây cách biệt thu nhập cực kì to lớn giữa người giàu và người
nghèo thì người ta sẽ hiểu ngay nguyên nhân của sự tuyệt vọng và bất bình của
dân chúng nước này.
|
|
2010 год Египет завершил с высокой инфляцией - 13%.
Продукты питания подорожали на 20%, безработица достигла 25%. В государстве,
где 40% доходов населения идут на продовольствие (в Израиле эта цифра
составляет 17 %), это является центральной причиной для гнева и недовольства
народных масс, которые не в состоянии себя прокормить. Кроме того, Египет
страдает от коррупции во властных эшелонах, от отсутствия свободы слова.
Правоохранительные органы арестовывают людей , когда им заблагорассудится;
парламентские выборы фиктивны. Как иначе можно достигать 97% голосов в
течение 30 лет?
|
Năm 2010 lạm phát ở Ai Cập là 13%. Giá lương thực thực
phẩm tăng 20%, thất nghiệp chiếm đến 25% dân số. Trong một nước mà 40% thu
nhập được giành để mua lương thực thực phẩm (ở Israel con số này là 17 %),
thì đấy chính là nguyên nhân quan trọng nhất của sự tức giận và bất bình của
quần chúng nhân dân, những người không thể “vắt mũi bỏ vào miệng” được nữa.
Ngòai ra, Ai Cập còn bị nạn tham nhũng và thiếu vắng tự do ngôn luận nữa. Các
cơ quan bảo vệ pháp luật có thể bắt người bất cứ lúc nào, bầu cử quốc hội chỉ
là giả tạo. Nếu không thì làm sao có thể giành được đến 97% phiếu bầu trong
suốt 30 năm?
|
|
Революции в арабских странах всегда заканчиваются
плачевно. Они начинаются из-за бедственного экономического положения и
повышения цен на продукты питания. Народные массы выходят на улицы, власти
приказывают армии подавить бунт. Если армии это удается – революция
откладывается на несколько лет. Если нет – военные присоединяются к
демонстрантам, и диктатор теряет власть. Затем проходят "свободные
выборы", результаты которых не имеют никакого отношения к демократии, к
которой простодушно призывают Египет Обама и Ангела Меркель. Хорошо
организованные группировки захыватывают власть в стране. Так радикальные исламисты
захватили власть в Иране, ХАМАС в Газе, "Хизбалла" в Ливане. Все
опасаются, что подобный сценарий повторится в Египте, и к власти придут
"Братья-мусульмане".
|
Những cuộc cách mạng trong các nước Arab bao giờ cũng kết
thúc một cách đáng buồn. Cách mạng bao giờ cũng bắt đầu là do hòan cảnh kinh
tế khó khăn, giá lương thực thực phẩm leo thang. Quần chúng xuống đường còn
chính quyền thì hạ lệnh cho quân đội đàn áp. Nếu quân đội thành công thì cách
mạng sẽ bị đẩy lùi trong một vài năm. Nếu không – quân đội sẽ liên kết với
người biểu tình và nhà độc tài phải ra đi. Sau đó sẽ là “những cuộc bầu cử tự
do”, mà kết quả sẽ chẳng ăn nhập gì với nền dân chủ mà Obama và Agela Merkel
đang kêu gọi. Những nhóm có tổ chức tốt sẽ nắm được quyền lực. Đấy là những
người Hồi giáo ở Iran hay Hamas ở dải Gaza, Hesbola ở Liban. Mọi người đều sợ
rằng kịch bản tương tự cũng sẽ diễn ra ở Ai Cập và Huynh đệ Hồi giáo (Muslim
Brotherhood) sẽ nằm được quyền lực ở Ai Cập.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
|
|
|
http://inosmi.ru/asia/20110207/166306050.html
|
|
Friday, June 29, 2012
An Asian security standoff Thế khó xử về an ninh tại châu Á
|
|
|
|
An Asian security
standoff
|
Thế khó xử về an
ninh tại châu Á
|
|
Alan Dupont
April 25, 2012
|
Alan Dupont
April 25/4/2012
|
|
Pivotal moments in history are seldom anticipated. And
when change is systemic, this rule is even truer. There are unmistakable
signs in East Asia, however, that the old, U.S.-dominated order can no longer
be sustained in the face of Chinas emerging challenge and the relative
weakness of both the United States and Japan.
|
Những thời điểm quan trọng trong lịch sử hiếm khi được báo
trước. Và khi thay đổi đó mang tính hệ thống, thì quy luật này càng đúng hơn.
Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng tại Đông Á cho thấy trật tự cũ do Mỹ chế
ngự có thể không còn kéo dài nữa trước thách thức ngày càng lớn của Trung
Quốc và sự yếu đi tương đối của cả Mỹ và Nhật Bản.
|
|
A failure of American diplomacy to adjust to these new
power realities, or of China to accommodate long-standing U.S. and Japanese
interests, could jeopardize the promise of the much-heralded Asian century
and return East Asia to its bloody and fractious past. What emerges in this
critical region will have global consequences.
|
Một sai lầm trong chính sách ngoại giao của Mỹ khi chỉnh
sửa thực tế quyền lực mới này, hoặc một sai lầm của Trung Quốc trong việc
thích nghi với các lợi ích lâu nay của Mỹ và Nhật, đều có thể gây nguy hiểm
cho tương lai hứa hẹn của kỷ nguyên châu Á đã được tiên liệu, và đưa Đông Á
trở lại quá khứ đẫm máu và chia rẽ. Và điều gì sẽ xảy ra trong khu vực quan
trọng này cũng sẽ gây hậu quả tới toàn cầu.
|
|
As the locus of economic and military power shifts
decisively from the Atlantic to the Pacific, it is clear that East Asia has
never been so centrally important to the international order. Never before have
the world's three preeminent states--the United States, Japan and China--all
been Asia-Pacific powers. This raises the stakes for everyone should the Old
Order fail precipitously.
|
Các trọng tâm quyền lực kinh tế và quân sự chắc chắn đang
thay đổi từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, rõ ràng Đông Á chưa bao giờ
quan trọng đến như vậy trong trật tự quốc tế. Trước đây, thế giới chưa bao
giờ chứng kiến ba cường quốc ưu việt nhất - Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc - cùng
nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc này khiến mọi người đều cá
cược rằng Trật tự thế giới cũ sẽ sụp đổ nhanh chóng.
|
|
For nearly seven decades, this order has been underpinned
by U.S. economic and military strength, dating back to the defeat of Japan at
the end of World War II and reinforced forty-five years later by the collapse
of the Soviet Union. During the Cold War, American preeminence in East Asia
was vitiated by both the illusion and reality of Soviet military power.
Thereafter, for a brief "unipolar moment," the United States seemed
able to do as it pleased without worrying about peer competitors or balancing
coalitions.
|
Trong gần bảy thập kỷ, trật tự ấy đã gắn với sức mạnh kinh
tế và quân sự của Mỹ, kể từ thất bại của Nhật Bản sau chiến tranh Thế giới II
và được củng cố 55 năm sau đó bởi sự tan rã của Liên bang Xô Viết. Trong thời
Chiến tranh Lạnh, vai trò bá chủ của Mỹ ở Đông Á bị lu mờ bởi nỗi ám ảnh và
thực tế về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Nhưng sau đó, trong một thời gian
ngắn "đơn cực", Mỹ dường như có thể chẳng cần phải lo ngại đến việc
có một đối thủ cạnh tranh nào ngang tầm hoặc liên minh nào đủ sức đối trọng.
|
|
In retrospect, President George W. Bush's first term may
be seen as the apogee of Pax Americana. Since then, it has been mostly
downhill for a United States weakened by ten years of war, a gridlocked
political system and the lingering contagion from the 2008 global financial
crisis. President Obama's pivot to Asia, and his attempt to quarantine the
region from defense-budget cuts, cannot disguise the sober reality that the
U.S. capacity to shape East Asia is no longer what it was.
|
Nhìn lại quá khứ, nhiệm kỳ đầu của Tổng thống George W.
Bush có thể được xem là thời cực thịnh của Nền hòa bình kiểu Mỹ (Pax
Americana). Sau đó, nó đã hầu như tụt dốc vì nước Mỹ bị yếu đi sau 10 năm
tham chiến ở khắp nơi, một hệ thống chính trị tắc nghẽn và hậu quả của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Việc chính quyền Tổng thống Obama
đặt trọng tâm vào châu Á, và ý định của ông "cách ly" khu vực này
khỏi những cắt giảm ngân sách quốc phòng, cũng không thể che giấu thực tế rõ
ràng rằng khả năng Mỹ định hình Đông Á không còn như trước nữa.
|
|
Once seen as the reliable northern anchor of the U.S.
alliance system in East Asia and lauded for its dependability and dynamism,
Japan's two-decade political and economic malaise is a significant cause of
the weakening of the Old Order.
|
Một thời từng được xem là cái "mỏ neo" phương
Bắc đáng tin cậy của hệ thống liên minh của Mỹ tại Đông Á và được tán dương
về khả năng tự chủ và năng động của mình, nay Nhật Bản sau hai mươi năm vật
vã với "căn bệnh" chính trị và kinh tế lại trở thành nguyên nhân
chính dẫn tới sự yếu đi của Trật tự cũ.
|
|
The near meltdown of the tsunami-crippled Fukushima
nuclear-power plant in 2011 can be seen as a metaphor for the corrosion of
Japan's increasingly inward-looking body politic. The country lacks
confidence and is beset by a host of domestic problems. Leadership stasis has
made it difficult for the United States to reinvigorate the strategic
partnership with Japan or to be sure where the country is heading. This is
reflected in the failure to reach agreement on the relocation of the
important Marine base on Okinawa.
|
Việc nhà máy điện hạt nhân Fukushima gần sụp đổ sau trận
sóng thần kinh hoàng năm 2011 có thể được xem là một bằng chứng cho thấy sự
ăn mòn của bộ máy chính trị ngày càng hướng nội của Nhật Bản. Nước này thiếu
niềm tin và bị bủa vây bởi một loạt các vấn đề trong nước. Bế tắc lãnh đạo đã
khiến Mỹ gặp khó khăn trong việc củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nhật
Bản, cũng như muốn đảm bảo rằng đất nước Mặt trời mọc đang tiến về phía
trước. Điều này được phản ánh trong việc hai nước không thể đạt thỏa thuận về
tái bố chí căn cứ hải quân quan trọng của Mỹ trên đảo Okinawa của Nhật Bản.
|
|
While Japan remains a major economy, its gross domestic
product has not grown for twenty years, and the country suffered the
indignity of being overtaken by China as the world's second-largest economy
in 2011. Aging and shrinking demographically, Japan faces the prospect of
being consigned to the second rank of East Asia's middle powers unless it can
recapture its lost elan and purpose.
|
Trong khi Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế lớn, GDP của họ
lại không tăng trưởng trong 20 năm qua, và nước này phải chịu sự nhục nhã của
việc bị Trung Quốc vượt mặt, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào
năm 2011. Trong khi đó, dân số Nhật Bản tiếp tục già đi và bị thu hẹp, khiến
nước này phải đối mặt với tương lai bị tụt xuống vị trí thứ hai trong bảng
xếp hạng các nước trung lưu ở Đông Á.
|
|
But China's rise is the main reason for the loss of
Washington's once-unrivaled ability to influence the region's affairs. With a
population of 1.4 billion, more than the rest of East Asia and the United
States combined, China is a megastate that for millennia was the dominant
polity in Asia and now makes little secret of its desire to reclaim its
former status. These dreams are no longer illusory, for modern China has the
strategic clout to realize them.
|
Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc là lý do chính dẫn tới sự
mất khả năng từng một thời vô song của Mỹ đối với các vấn đề trong khu vực.
Với dân số 1,4 tỷ người, hơn toàn bộ phần còn lại của Đông Á và Mỹ cộng lại,
Trung Quốc là một nước trung tâm có tới nghìn năm chế ngự châu Á và giờ đang
âm thầm muốn giành lại quy chế này. Giấc mơ của họ không hề viển vông, bởi
nước Trung Quốc hiện đại có các nền tảng chiến lược để thực hiện điều đó.
|
|
Its population and economy dwarf those of Fascist Germany,
Imperial Japan and the Soviet Union--previous and ultimately vanquished
challengers of U.S. power. China's reemergence poses strategic challenges of
a complexity and magnitude not previously experienced by the United States,
or the rest of East Asia, for that matter.
|
Dân số và nền kinh tế của họ vượt xa Đức Quốc xã, Phát xít
Nhật và cả Liên Xô - trước đây là những đối thủ bị sức mạnh Mỹ đánh bại. Sự
tái nổi lên của Trung Quốc đặt ra những thách thức chiến lược của một tình
thế phức tạp và quy mô lớn chưa từng thấy đối với Mỹ, cũng như phần còn lại
của Đông Á.
|
|
The principal unknown is the path Chinas leaders will
follow, often posed in overly stark and simplistic terms as a choice between
responsible stakeholder or revisionist state. In fact, China is likely to be
both, conforming to the norms of the international system except when its
core interests conflict with those norms.
|
Điều quan trọng còn chưa được biết rõ là con đường mà giới
lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi theo, được đặt ra như một sự lựa chọn giữa việc là
một quốc gia theo chủ nghĩa xét lại hay một cổ đông có trách nhiệm. Trên thực
tế, Trung Quốc có thể là cả hai, phù hợp với các chuẩn mực của hệ thống quốc
tế trừ khi các lợi ích cốt lõi của họ xung đột với các chuẩn mực này.
|
|
While long anticipated--indeed, U.S. policy planners were
warning of these strategic implications as far back as the mid-1990s--the
Middle Kingdom's new prominence in East Asia has been boosted by two seminal
recent events, one financial and the other geopolitical.
|
Trong khi được tiên liệu từ lâu - thực tế là các nhà hoạch
định chính sách của Mỹ đã cảnh báo về các tác động chiến lược này từ giữa
những năm 1990 - vai trò chế ngự mới của Trung Quốc tại Đông Á còn được thúc
đẩy bởi hai sự kiện mới xảy ra gần đây, một về tài chính và một về địa chính
trị.
|
|
The 2008 global financial crisis led many in China to
believe that the United States was in decline, suffering from imperial
overreach and living beyond its means. This belief is perhaps overstated, but
owing more than a trillion dollars to China has dearly placed the United
States in the distinctly uncomfortable position of being seen as a financial
supplicant to its principal competitor.
|
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến nhiều
người ở Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, kết quả của việc tiêu sài quá
mức kiếm được. Niềm tin này có thể đã bị cường điệu quá, nhưng việc sở hữu
hơn 1.000 tỷ USD đối với Trung Quốc rõ ràng đã đặt Mỹ vào vị trí không hề
thoải mái khi bị coi là một "người được chu cấp" bởi đối thủ cạnh
tranh chính của mình.
|
|
Perceptions of U.S. financial weakness have clearly emboldened
Chinese leaders to seek geopolitical advantage over the United States in
contested spaces, especially in East Asia. Of greatest concern is Beijing's
evident determination to aggressively defend its claims to disputed islands,
waters and resources in the East China and South China seas.
|
Quan niệm về sự suy yếu tài chính của Mỹ rõ ràng đã khuyến
khích giới lãnh đạo Trung Quốc tìm các lợi thế địa chính trị so với Mỹ trong
các không gian cạnh tranh đặc biệt là tại Đông Á. Đáng quan tâm nhất là sự
kiên quyết của Bắc Kinh trong việc bảo vệ các yêu sách của mình đối với các
vùng biển đảo và tài nguyên đang tranh chấp tại biển Hoa Đông và biển Đông.
|
|
Relations with the other major Asian powers, Japan and
India, have become increasingly testy, and many Southeast Asian nations are
fearful that China will pay only lip service to regional egalitarianism as it
becomes more powerful, both economically and militarily. In the past two
years, China has declared the eponymous South China Sea to be a "core
interest" and made abundantly clear that it will continue to support the
bellicose North Korean regime despite that maverick state's repeated provocations
and violations of international norms.
|
Trong quan hệ với các nước lớn khác ở châu Á, như Nhật Bản
và Ấn Độ, Trung Quốc tỏ ra ngày càng hay gắt gỏng, và nhiều quốc gia Đông Nam
Á lo ngại rằng Trung Quốc sẽ chỉ hứa hão về chủ nghĩa công bằng khu vực khi
họ trở nên hùng mạnh hơn về kinh tế và quân sự. Trong hai năm qua, Trung Quốc
tuyên bố biển Đông là một "lợi ích cốt lõi" và nhiều lần nêu rõ
rằng sẽ tiếp tục bảo vệ chính quyền của Triều Tiên bất chấp các khiêu khích
liên tiếp của Bình Nhưỡng.
|
|
At the heart of U.S. and regional anxieties about Chinas
future military intentions is the ambitious "far-sea defense"
strategy, designed to push the U.S. Navy as far from Chinese shores as
possible. China is bent on turning its three coastal fleets into a genuine
blue-water navy capable of controlling the western Pacific and eventually
projecting significant maritime power into the central Pacific and the Indian
Ocean.
|
Trung tâm những nỗi lo của Mỹ và khu vực về các ý định
quân sự của Trung Quốc trong tương lai là các tham vọng chiến lược "bảo
vệ biển xa", nhằm đẩy Hải quân Mỹ ra xa bờ biển Trung Quốc nhất có thể.
Trung Quốc có "khiếu" biến ba hạm đội bảo vệ bờ biển của mình thành
một lực lượng hải quân biển xa có khả năng kiểm soát Tây Thái Bình Dương và
cả việc phô trương sức mạnh biển đáng kể tự Trung Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương.
|
|
Beijing's strategic aim seems to be a Monroe Doctrine with
Chinese characteristics, and it is rapidly acquiring the capabilities to
realize this ambitious goal. From a Chinese perspective, this makes perfect
strategic sense. After all, if a rising America could construct a Monroe
Doctrine in the nineteenth century as a blunt but effective instrument for
keeping other powers out of the Western Hemisphere, why should an ascendant,
twenty-first-century China not seek a comparable outcome in the western
Pacific? The problem is that Beijing's determination to push back the U.S.
Navy threatens to destabilize the regional balance of power and escalate
tensions not only with America but also with Japan.
|
Mục đích chiến lược của Bắc Kinh dường như là một Học
thuyết Monroe kiểu Trung Quốc, và họ đang nhanh chóng tăng cường các năng lực
để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này. Từ một viễn cảnh Trung Quốc, việc
này có ý nghĩa chiến lược đầy đủ. Rốt cuộc, nếu một nước Mỹ nổi lên có thể
tạo ra một Học thuyết Monroe trong thế kỷ 19 thì tại sao một Trung Quốc đang
lên trong thế kỷ 21 lại không tìm kiếm một kết cục giống như vậy ở Tây Thái
Bình Dương? Vấn đề là quyết tâm của Bắc Kinh đẩy lùi Hải quân Mỹ ra xa lại
đang làm xáo trộn cán cân quyền lực tại khu vực và leo thang căng thẳng không
chỉ với Mỹ mà cả với Nhật Bản.
|
|
Relations between China and Japan are already fraught with
tensions. Neither side seems capable of moving beyond the historical enmities
infecting its contemporary behavior and precluding any genuine rapprochement,
despite Japan's booming trade with China and increasing level of economic
interdependence.
|
Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản vốn đã đầy những căng
thẳng. Chẳng bên nào có khả năng vượt qua những thù hằn trong lịch sử đang
ảnh hưởng tới cách hành xử hiện tại của họ và ngăn cản mọi khả năng xích lại
gần nhau, bất chấp thực tế là thương mại song phương đang "bùng nổ"
và họ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
|
|
These underlying tensions periodically erupt, exposing the
deep fault lines between the two nations and underlining the potential for
miscalculation. The most serious recent example occurred on September 7,
2010, when simmering tensions over ownership of the disputed Diaoyu or
Senkaku Islands in the East China Sea boiled over into a serious
confrontation after a Chinese fishing trawler appeared to deliberately ram a
pursuing Japanese Coast Guard vessel. This brought Sino-Japanese relations to
a post-World War II low. Opinion polls showed extremely high levels of mutual
disaffection, with 87 percent of Japanese and 79 percent of Chinese surveyed
regarding the other country as "untrustworthy." Fully 79 percent of
Japanese considered China a military threat.
|
Những căng thẳng rõ ràng này cứ đến hẹn lại lên, cho thấy
những đường hướng sai lầm sâu sắc giữa hai nước và nguy cơ tính toán nhầm. Ví
dụ nghiêm trọng nhất gần đây xảy ra ngày 7/9/2010, khi căng thẳng lên cao
liên quan đến quyền sở hữu quần đảo đang tranh chấp mà Trung Quốc gọi là Điếu
Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku trên biển Hoa Đông dẫn tới một sự đối đầu
nghiêm trọng sau khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu của Lực lượng bảo
vệ bờ biển Nhật Bản trong một vụ rượt đuổi. Vụ việc đã kéo tụt quan hệ Trung
- Nhật xuống mức thấp hơn thời hậu chiến tranh Lạnh. Các cuộc thăm dò dư luận
cho thấy người dân hai nước rất không hài lòng về nhau: 87% người Nhật và 79%
người Trung Quốc coi nước kia là "không đáng tin cậy"; 79% người
Nhật coi Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự.
|
|
It would be wrong to infer from these actions that China
is intent on military confrontation with the United States and Japan or that
it is yet in a position to supplant America as the region's most influential power.
But China's new assertiveness illustrates the structural tensions that
inevitably occur when a rising power challenges the existing order and, by
definition, the place of the previously dominant state.
|
Có thể là sai khi suy diễn từ các hành động này rằng Trung
Quốc đang có ý định đối đầu quân sự với Mỹ và Nhật Bản, hay cho rằng họ sắp
thay thế Mỹ là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Nhưng thái độ xác
quyết mới đây của Trung Quốc cho thấy căng thẳng về thể chế tất yếu xảy ra
khi một cường quốc mới nổi thách thức trật tự đang tồn tại, và như vậy, thách
thức vị trí của quốc gia đang bá chủ trước đó.
|
|
As Harvard's Richard Rosecrance and Peking University's
Jia Qingguo have documented, over the past five hundred years, six of the
seven hegemonic challenges to the existing order have led to serious
conflict. We also know that strong economic and trade links between aspiring
and incumbent hegemons do not, by themselves, reduce the risk of conflict, as
Britain and Germany demonstrated a century ago when their deepening economic
interdependence couldn't prevent their going to war in 1914. Thus, it would
be an egregious mistake to conclude that strengthening ties between China and
the United States make military conflict between them unthinkable.
|
Giáo sư Richard Rosecrance (trường Đại học Harvard, Mỹ) và
giáo sư Jia Qingguo (trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) phân tích rằng
trong 500 năm qua, sáu trong số bảy thách thức lớn đối với trật tự đang tồn
tại đã dẫn tới xung đột nghiêm trọng. Chúng ta đều biết rằng các mối liên hệ
kinh tế và thương mại giữa các cường quốc muốn chế ngự và đang chế ngự không
thể giảm bớt nguy cơ xung đột, như trường hợp Anh và Đức một thế kỷ trước,
khi sự phụ thuộc sâu sắc vào nhau về kinh tế cũng không giúp họ tránh phải
lao vào chiến tranh năm 1914. Vì vậy, sẽ là một sai lầm lớn nếu kết luận rằng
quan hệ mật thiết giữa Mỹ và Trung Quốc khiến cuộc xung đột quân sự là điều
không tưởng.
|
|
Some liberals argue that the unique character, cultural
identity and historical experience of China make it intrinsically less
aggressive than other nations. According to this view, the Middle Kingdom is
an exceptional state and marches to a different foreign-policy tune. However,
the proposition that China has historically been less aggressive or less
expansionist than its Western or Eastern counterparts does not withstand
scrutiny.
|
Một số nhân vật tự do cho rằng đặc điểm duy nhất, bản sắc
văn hóa và kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc khiến họ ít hiếu chiến hơn các
nước khác. Theo quan điểm này, Trung Quốc là một nước đặc biệt và có chính
sách đối ngoại rất khác biệt. Tuy nhiên, phân tích cho rằng Trung Quốc xét về
lịch sử ít hiếu chiến hơn hay ít theo chủ nghĩa bành chướng hơn các nước
phương Tây hay phương Đông cũng không thuyết phục.
|
|
Like many powerful nations, and the United States in
particular, China has a long tradition of territorial expansionism and
subduing or coercing neighboring peoples and states. Although different in
character from European colonialism, the endgame of Chinas tributary-state
system has been the imposition of a Chinese suzerain over neighboring peoples
and polities, a point not lost today on fellow Asians.
|
Giống như nhiều quốc gia hùng mạnh khác, và đặc biệt là
Mỹ, Trung Quốc có một truyền thống bành chướng lãnh thổ lâu dài, họ đã đánh
bại hoặc ép buộc người dân và các quốc gia láng giềng. Dù khác về bản chất so
với chủ nghĩa đô hộ của châu Âu, nhưng mục đích của hệ thống chư hầu của
Trung Quốc là sự áp đặt một Trung Quốc bá chủ đối với nhân dân và xã hội láng
giềng, một đặc điểm vẫn còn tồn tại tới ngày nay đối với các nước châu Á.
|
|
While Beijing regards reunification with Taiwan and
pacification of Tibet as a restoration of Chinese authority over ancestral
lands lost through the perfidious interference of foreigners, it is possible
to draw an altogether different conclusion: Beijing's policies toward Taiwan
and Tibet reflect China's likely behavior toward the wider region. Certainly,
Chinas revanchism has done little to build confidence that a Pax Sinica would
be demonstrably fairer, more stable and peaceful than Pax Americana.
|
Trong khi Bắc Kinh xem việc tái thống nhất đảo Đài Loan và
bình định Tây Tạng là việc lập lại quyền của Trung Quốc đối với các mảnh đất
của tổ tiên đã mất vào tay những người nước ngoài phản bội, thì hoàn toàn có
thể đưa ra một kết luận khác: các chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan và
Tây Tạng cho thấy cách hành xử tương tự của Trung Quốc đối với cả khu vực
rộng lớn hơn. Chắc chắn, chính sách phục thù của Trung Quốc không giúp xây
dựng niềm tin rằng một Nền hòa bình kiểu Trung Quốc (Pax Sinica) có thể tỏ ra
là công bằng hơn, ổn định và hòa bình hơn Pax Americana.
|
|
But if Pax Sinica lacks appeal and Pax Americana cannot
endure in its current form, what kind of new order might emerge in East Asia
that could maintain peace and accommodate the aspirations of all the region's
states?
|
Nhưng nếu Pax Sinica hụt hơi và Pax Americana không thể
kéo dài dạng thức hiện nay của nó, thì kiểu trật tự mới nào sẽ nổi lên tại
Đông Á có thể giúp duy trì hòa bình và thể hiện được nguyện vọng của tất cả
các nước trong khu vực?
|
|
One possibility is a "Concert of Asia." Drawing
their inspiration from the post-Napoleonic accord of powers that controlled
Europe for much of the nineteenth century, supporters of a Concert of Asia
maintain that in the absence of a dominant state, a contemporary Asian
version of the European concert holds out the best prospect for regional
peace and stability. To be credible and enduring, however, only the strongest
powers would be entitled to a seat at the table. The five obvious candidates
are the United States, China, Japan, India and Indonesia.
|
Một khả năng là "Bản đồng ca châu Á". Lấy cảm
hứng từ thỏa thuận quyền lực hậu Napoleon, điều hành châu Âu trong đa phần
thế kỷ 19, những người ủng hộ một Bản hòa đồng ca châu Á cho rằng nếu thiếu
một quốc gia có thể đứng đầu, một phiên bản châu Á đương đại của sự phối hợp
châu Âu có thể duy trì tốt hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên để
trở nên đáng tin cậy và được đảm bảo, chỉ các nước mạnh nhất mới có quyền
giành một ghế quanh chiếc bàn tròn. Năm ứng cử viên dễ thấy là Mỹ, Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia.
|
|
One clear problem with this formulation is the dubious
assumption that East Asia's smaller nations would readily agree to have their
individual or collective interests adjudicated by the large powers. This runs
counter to the whole thrust of East Asian regionalism over the past two
decades, with its emphasis on the empowerment of smaller states and the
collective management of the region's security problems.
|
Một vấn đề rõ ràng với mô hình này là liệu các nước nhỏ
hơn ở Đông Á có sẵn sàng nhất trí gắn lợi ích cá nhân hoặc tập thể của mình
với các nước lớn hay không. Điều này đi ngược lại cuộc công kích chủ nghĩa
khu vực Đông Á trong hai thập kỷ qua, khi mà các nước nhỏ hơn nhấn mạnh đến
quyền của mình và cách xử lý tập thể đối với các vấn đề an ninh khu vực.
|
|
It also ignores the global diffusion of power that has
accompanied what Fareed Zakaria calls the "rise of the rest."
Robust, medium-sized states are demanding a greater say in regional and
international affairs, and they are not going to accept readily any return to
a past of great-power dominance.
|
Việc này cũng chưa tính đến sự phân bố quyền lực toàn cầu
đi kèm với cái mà Fareed Zakaria gọi là "sự nổi lên của phần còn
lại". Các nước tầm trung đòi một tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề khu
vực và quốc tế, và sẽ không chấp nhận sự trở lại của bất kỳ cường quốc bá chủ
nào trước đây.
|
|
It is also difficult to see the major powers agreeing to
accept a stewardship role of the kind envisaged in a Concert of Asia. Japan
is too weak; China is unwilling, and its political values are too different;
India is preoccupied with its own problems; Indonesia's geopolitical
ambitions are confined to Southeast Asia; and the United States has neither
the inclination nor the resources to take on an enhanced leadership role in
Asia.
|
Cũng rất khó để thấy các nước lớn đạt nhất trí về một vai
trò quản lý của mô hình Bản đồng ca châu Á. Nhật Bản quá yếu; Trung Quốc thì
không sẵn sàng, và các giá trị chính trị của họ quá khác; Ấn Độ thì chỉ quan
tâm đến các vấn đề của mình; còn các tham vọng địa chính trị của Indonesia
lại gắn với Đông Nam Á; Mỹ chẳng có nguồn lực để đóng một vai trò lãnh đạo
nổi bật tại châu Á.
|
|
|
|
|
What of the argument that America should accept the
inevitable and share power with China as an equal? Paralleling the G-2 would
be an Asia2, allowing Beijing and Washington to divide the region into
spheres of influence in much the same way as the United States and the Soviet
Union managed a politically bifurcated Europe during the early part of the
Cold War.
|
Còn về ý kiến cho rằng Mỹ nên chấp nhận sự tất yếu và chia
sẻ quyền lực với Trung Quốc như một nước bình đẳng? Song song với G-2 sẽ là
một châu Á -2, cho phép Bắc Kinh và Washington chia sẻ khu vực thành các vòng
ảnh hưởng giống như Mỹ và Liên Xô từng quản lý một nửa châu Âu trong thời đầu
chiến tranh Lạnh.
|
|
While superficially appealing because it holds out the
prospect of a peaceful transition to a new international order, power sharing
between the United States and China is unlikely to work for two reasons.
First, no U.S. administration, regardless of its political complexion, would
voluntarily relinquish power to China, just as China wouldn't if the roles
were reversed. Second, China's new great-power status is hardly untrammeled.
Nor is it guaranteed to last, for the country faces formidable environmental,
resource, economic and demographic challenges, not to mention a rival United
States that shows no sign of lapsing into terminal decline despite its
current economic travails. Sooner than it thinks, Beijing may have to
confront the prospect of a resurgent Washington determined to reassert its
strategic interests.
|
Dù trông bề ngoài có vẻ hấp dẫn vì cho thấy triển vọng một
sự chuyển tiếp hào bình sang một trật tự quốc tế mới, nhưng cách chia sẻ
quyền lực này giữa Mỹ và Trung Quốc ít khả năng xảy ra vì hai lý do. Một là
không có chính quyền nào ở Mỹ, vì tính phức tạp chính trị của họ, lại sẵn
lòng chia miếng bánh quyền lực với Trung Quốc, và Trung Quốc cũng vậy. Thứ
hai, quy chế nước lớn mới của Trung Quốc khó mà bị cản trở. Nó cũng không
được đảm bảo là sẽ kéo dài, vì đất nước này đang phải đối mặt với các thách
thức lớn về môi trường, tài nguyên, kinh tế và dân số, chưa kể tới một đối
thủ là Mỹ đang không có dấu hiệu nào rơi vào suy yếu bất chấp tình hình kinh
tế khó khăn hiện nay của họ. Sớm hơn họ nghĩ, Bắc Kinh có thể phải đương đầu
với nguy cơ một Washington trỗi dậy quyết tâm giành lại các lợi ích chiến
lược của mình.
|
|
The question, then, is: How can China and the United
States ensure that healthy competition does not give way to an entrenched
bloody-mindedness that aggravates existing insecurities and results in
serious conflict? That may be difficult, if not impossible, should Beijing
maintain its current political and military strategy in the western Pacific.
|
Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào Trung Quốc và Mỹ
có thể đảm bảo rằng cuộc cạnh tranh lành mạnh sẽ không dẫn tới một sự dửng
dưng làm nghiêm trọng thêm sự bấp bênh vốn có và dẫn tới xung đột nghiêm
trọng? Có thể Bắc Kinh sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, duy trì
chiến lược chính trị và quân sự hiện nay của mình tại Tây Thái Bình Dương.
|
|
Like any other state, China is entitled to modernize its
armed forces and protect its legitimate security interests. But Beijing's
assertion of its territorial claims in the East and South China seas has been
counterproductive--alienating neighbors, raising international concerns about
China's strategic ambitions and provoking hedging behavior in the region.
China's challenge to U.S. maritime power in East Asia strikes at a deeply
held American conviction that continued naval dominance of the Pacific is not
only critical to U.S. security but also to the nation's standing as the
preeminent global power, something that all but guarantees a countervailing
military and political response.
|
Giống như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc tự cho mình
quyền hiện đại hóa lực lượng vũ trang và bảo vệ các lợi ích an ninh chính đáng
của mình. Nhưng thái độ xác quyết của Bắc Kinh trong yêu sách lãnh thổ tại
biển Đông lại phản tác dụng - làm các nước láng giềng xa lánh, khiến quốc tế
lo ngại về các tham vọng chiến lược của Trung Quốc và gây ra các hành động
bao vây trong khu vực. Thách thức của Trung Quốc đối với sức mạnh biển của Mỹ
tại Đông Á đánh vào niềm tin từ lâu của Mỹ rằng vai trò ưu việt về hải quân
tại Thái Bình Dương không chỉ quan trọng đối với an ninh của Mỹ mà cả đối với
vị trí cường quốc bá chủ toàn cầu của họ.
|
|
At issue here is Beijing's often harsh and uncompromising
official rhetoric when dealing with sensitive political and sovereignty
issues as well as the government's willingness to accept and even sometimes
foster nationalist sentiment at home, which is aggravating and complicating
disputes with the United States and Japan. A more pluralistic, globally connected
China would mean that foreign policy is no longer the exclusive preserve of
the Standing Committee of the Politburo and the small policy elite that
supports it in the Foreign Ministry and State Council. Nationalist sentiment
expressed through chat rooms, blogging and Internet sites is complicating,
and making less predictable, the management of Sino-U.S. and Sino-Japanese
relations.
|
Vấn đề ở đây là các phát biểu chính thức - thường gay gắt
và không thỏa hiệp - của Bắc Kinh khi nói về các vấn đề nhạy cảm chính trị
hay chủ quyền, cũng như việc chính phủ sẵn sàng chấp nhận, thậm chí đôi khi
còn thúc đẩy, tình cảm dân tộc trong nước, càng làm nghiêm trọng và phức tạp
thêm các cuộc tranh chấp với Mỹ và Nhật Bản. Một Trung Quốc ngày càng đa
nguyên và kết nối toàn cầu đồng nghĩa với việc chính sách đối ngoại không còn
là khu vực cấm của riêng Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị và nhóm nhỏ các quan
chức về chính sách tại Bộ Ngoại giao và Chính phủ ủng hộ chính sách đó. Chủ
nghĩa dân tộc thể hiện trên các chat rooms (diễn đàn trao đổi trên mạng
internet), các trang blog và các trang mạng internet đang khiến việc quản lý
các quan hệ Trung - Mỹ và Trung - Nhật trở nên phức tạp và khó lường hơn.
|
|
Of course, no country is immune from the demonization of
competitors, as attested by "Japan bashing" in the United States
during the 1980s. But the incubus of extreme nationalism is having a
particularly destabilizing effect in China, where sensationalist and emotive
reporting, more often associated with Western tabloids, is making it
difficult for Chinese leaders to avoid caricaturing rather than making
nuanced assessments of U.S. intentions and capabilities. If Beijing is not
yet ready for a free press, it must accept the responsibility for the
outbursts of a controlled press.
|
Tất nhiên, không có nước nào là không bị các nước đối thủ chưởi
rủa, nói xấu, mà điều này đã được chứng thực bởi việc "nói xấu Nhật Bản"
tại Hoa Kỳ trong những năm 1980. Nhưng Ác thần của chủ nghĩa dân tộc cực đoan
có một hiệu ứng đặc biệt gây bất ổn ở Trung Quốc, nơi mà các bài báo giật gân
và kích thích cảm xúc, mà thường được so sánh với báo lá cải phương Tây, đã làm
cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc khó tránh được cường điệu hóa thay vì đánh
giá ý định và khả năng có chủ ý của Mỹ. Nếu Bắc Kinh chưa sẵn sàng cho một
nền báo chí tự do, nó phải chịu trách nhiệm về các vụ nổ của một nền báo chí
có kiểm soát.
|
|
America's challenge, meanwhile, is to develop a more
coherent China strategy that explicitly recognizes Beijing's resource
anxieties and corollary need to take on greater responsibility for the
protection of sea-lanes in the western Pacific. What has been missing from
many Western explanations of China's more assertive recent behavior is
recognition of the economic importance that Beijing attaches to this vital
waterway, which is a major conduit for international trade and a rich
repository for minerals and valuable marine life. By 2030, up to 80 percent
of China's oil and 50 percent of its gas will be imported by sea, through the
Malacca Strait--a classic maritime choke point due to the narrowness and
shallowness of its approaches, the number of ships that pass through it
daily, and the Strait's vulnerability to interdiction or environmental
blockage.
|
Trong khi đó, thách thức của Mỹ là phát triển một chiến
lược gắn kết hơn về Trung Quốc, theo đó công khai thừa nhận các lo ngại về
tài nguyên của Tủng Quốc, từ đó có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ các hải
trình qua Tây Thái Bình Dương. Điều còn thiếu trong nhiều cách giải thích của
phương Tây về cách hành xử xác quyết hơn của Trung Quốc gần đây là sự thừa
nhận tầm quan trọng kinh tế mà Bắc Kinh gắn với vùng biển mang tính sống còn
này, được coi là một ống dẫn chính tới thương mại thế giới và một kho khoáng
sản giàu có và nguồn hải sản phong phú. Đến năm 2030, có tới 80% nhu cầu dầu
và 50% nhu cầu khí đốt của Trung Quốc sẽ phải nhập bằng đường biển, thông qua
eo biển Malacca - nơi được coi là một nút thắt cổ chai trên biển từ xưa vì nó
hẹp và cạn, hạn chế số lượng tàu bè qua lại hàng ngày, và vì nó dễ bị áp đặt
lệnh cấm hoặc phong tỏa môi trường.
|
|
The rate of growth in China's energy imports has few
historical parallels, if any. In less than twenty years, the country has
moved from a net exporter to importing more than 55 percent of its oil, with
crudeoil imports increasing by a staggering 17.5 percent in 2010 alone.
|
Tỷ lệ gia tăng nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc hiếm
thấy, nếu không muốn nói là chưa từng thấy trong lịch sử. Trong chưa đầy 20
năm, nước này đã chuyển từ một nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu hơn 55% nhu
cầu về dầu mỏ trong nước, với việc nhập khẩu dầu thô tăng tới tận 17,5% riêng
trong năm 2010.
|
|
This resource vulnerability weighs heavily on the minds of
Chinese decision makers who, in addition to worrying about terrorism, piracy
and environmental disruptions to their energy supplies, are acutely aware
that their major competitor exercises effective naval control over the
Malacca Strait and most of the western Pacific.
|
Tính dễ bị tổn thương về tài nguyên này tác động rất mạnh
tới suy nghĩ của các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc, những người
bên cạnh việc lo ngại chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và tình trạng xâu xé nguồn
cung năng lượng của họ, đã ý thức rõ rằng đối thủ cạnh tranh chính của họ
đang thể hiện quyền kiểm soát hải quân tại Eo biển Malacca và hầu hết vùng
Tây Thái Bình Dương.
|
|
Invoking the so-called Malacca dilemma, President Hu
Jintao first gave voice to these anxieties in 2005, and his officials have
made it clear since that China is no longer prepared to outsource sea-lane
security in the western Pacific to the U.S. Navy. Thus, whether the United
States and Japan like it or not, Chinese naval pennants will be sighted far
more frequently in the western Pacific and as far south as the Malacca
Strait. This is a natural consequence of Chinas growing economic and
strategic weight, just as the emergence of the U.S. Navy heralded the rise of
the United States as a major power at the dawn of the twentieth century.
|
Nêu ra thế tiến thoái lưỡng nan tại Malacca như trên, Chủ
tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ các lo ngại này vào năm 2005, và các quan chức dưới
quyền ông đã nói rõ rằng Trung Quốc không còn muốn giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh
cho các hải trình ở Tây Thái Bình Dương vào tay Hải quân Mỹ nữa. Như vậy, dù
Mỹ và Nhật Bản có thích hay không, lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ tiến xa
hơn ra Tây Thái Bình Dương, đến tận miền Nam Eo biển Malacca. Đây là một hậu
quả của sức nặng kinh tế và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc, giống
như sự nổi lên của Hải quân Mỹ đã báo trước sự nổi lên của Mỹ là một cường
quốc lớn từ cuối thế kỷ 20.
|
|
Another danger point lies in various inconsistencies in
U.S. behavior and approaches to China. Over the past two decades, U.S. China
policy has been a confusing mix of engagement, partnership, competition,
hedging and lectures on China's internal political structure. With resentment
and hostility toward Beijing on the rise, American administrations face the
challenge of ensuring that China does not become a whipping boy for U.S.
domestic-policy failings or replace the Soviet Union as the new strategic
bogeyman. Any attempt to demonize China would be counterproductive to U.S.
strategic interests in East Asia. It would undercut moderates in the Chinese
leadership and encourage a reciprocal response that would aggravate existing
tensions.
|
Một điểm nguy hiểm khác nằm ở các mâu thuẫn trong cách
hành xử và cách tiếp cận của Mỹ với Trung Quốc. Trong hai thập kỷ qua, chính
sách Trung Quốc của Mỹ đã là một hỗn hợp giữa cam kết, đối tác, cạnh tranh,
bao vây và lên lớp về cấu trúc chính trị bên trong Trung Quốc. Khi sự oán
giận và thù địch đối với một Bắc Kinh đang nổi lên, chính quyền Mỹ đối mặt
với thách thức đảm bảo rằng Trung Quốc không trở thành một kẻ bung xung cho
sự lơ là chính sách đối nội của Mỹ hoặc thay thế Liên Xô làm "mẹ
mìn" chiến lược mới. Mọi âm mưu biến Trung Quốc thành quỷ sẽ phản tác
dụng đối với lợi ích chiến lược của Mỹ tại Đông Á. Nó có thể làm giảm bớt sự
ôn hòa của giới lãnh đạo Trung Quốc và khuyến khích một cách trả đũa có thể
làm nghiêm trọng thêm các căng thẳng sẵn có.
|
|
How the United States and China manage their relationship
will have strategic implications extending well beyond East Asia. As
competition increases, preventing conflicts from escalating will not be easy.
This isn't necessarily because Beijing seeks territorial expansion, has
become a revisionist power or has serious differences with Washington over
values. Presumably, these can be managed. The real danger is that China's
resource vulnerabilities, sense of entitlement and determination to restore
its historically dominant position in East Asia will deepen regional
anxieties about Chinese behavior and trigger a countervailing response from
the United States and Japan.
|
Mỹ và Trung Quốc quản lý quan hệ của mình như thế nào sẽ
có ảnh hưởng chiến lược đối với toàn khu vực Đông Á. Khi cạnh tranh gia tăng,
việc ngăn chặn các cuộc xung đột leo thang sẽ không hề dễ. Điều này không
phải là tất yếu vì Bắc Kinh tìm cách bành chướng lãnh thổ, trở thành một
cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hay có bất đồng sâu sắc với Washington về
các giá trị. Có lẽ, nó có thể được quản lý. Mối nguy hiểm thực sự là tính dễ
tổn thương về năng lượng của Trung Quốc, cảm giác mình được quyền làm và quyết
tâm lập lại vị thế bá chủ từng có trong lịch sử tại Đông Á sẽ làm sâu sắc
thêm những lo ngại trong khu vực về cách hành xử của Trung Quốc và gây ra
phản ứng đáp trả của Mỹ và Nhật.
|
|
This could pose a contemporary expression of the classic
security dilemma articulated a half century ago by the eminent American
international-relations theorist Kenneth Waltz: in seeking to enhance their own
security by building a strong military, large states often increase everyone
else's insecurity because this military force is frequently regarded as a
potential threat rather than as a reasonable, defensive measure.
|
Điều này có thể đặt ra một cách hiểu đương đại về thế tiến
thoái lưỡng nan về an ninh cổ điển từ nửa thế kỷ trước của nhà lý luận nổi
tiếng của Mỹ về quan hệ quốc tế Kenneth Waltz: trong khi tìm cách tăng cường
an ninh của mình bằng cách xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh, các nước
lớn thường làm gia tăng sự bất ổn của nước khác vì sức mạnh quân sự này
thường bị xem là một nguy cơ tiềm ẩn hơn là một biện pháp hợp lý và mang tính
phòng vệ.
|
|
Already, China's attempt to test Washington's resolve in
the western Pacific by "periphery probing" has resulted in a
predictably vigorous U.S. response. The U.S. Navy and Air Force are working
on plans to suppress and blind Chinas potent missile capabilities by means of
an emerging "air-sea battle" strategy, which is rapidly gaining
political traction in Washington. It would not take much for this to turn into
a full-blown arms race, drawing in other nations concerned by Chinas rising
military might. Avoiding worst-case outcomes will require a sustained,
long-term commitment to building trust and preventive diplomacy as well as
the establishment of an effective system of risk management that can prevent
localized disputes and incidents from escalating into major region-wide
conflicts.
|
Cũng vậy, ý định của Trung Quốc nhằm thử phản ứng của
Washington tại Tây Thái Bình Dương đã dẫn tới phản ứng gay gắt có thể dự đoán
của Mỹ. Hải quân và Không quân Mỹ đang nghiên cứu các kế hoạch nhằm ngăn chặn
và phá hủy các năng lực tên lửa lớn của Trung Quốc bằng một chiến lược
"chiến tranh không-biển" mới, chiến lược thu hút nhiều sự chú ý
trong giới chính trị ở Washington. Điều này không hẳn sẽ biến thành một cuộc
chạy đua vũ trang tổng lực, thể hiện bởi sự lo ngại của các nước khác trước
sức mạnh quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc. Tránh kết cục tồi tệ nhất sẽ
đòi hỏi một cam kết lâu dài, bền vững nhằm xây dựng lòng tin và ngoại giao đề
phòng, cũng như xây dựng một hệ thống quản lý nguy cơ hiệu quả có thể tránh
các tranh chấp và sự cố cục bộ leo thang thành các cuộc xung đột lớn trên
toàn khu vực.
|
|
In short, the dissolution of the Old Order in East Asia
has created a delicate power balance there, rendered intrinsically unstable
by China's regional ambitions, understandable though they may be, and America's
equally understandable resolve to preserve as much of its old regional
dominance as possible. Whether the two nations can successfully manage this
fragile transition and thus stabilize the regional power balance remains a
central question facing Asia--and the world beyond--in these times of global
flux.
|
Tóm lại, sự tan rã của Trật tự cũ tại Đông Á đã tạo ra một
thế cân bằng quyền lực mỏng manh, gây ra bất ổn bởi những tham vọng khu vực
(có thể hiểu được) của Trung Quốc, và sự quyết tâm có thể hiểu được của Mỹ
trong việc bảo vệ vị thế bá chủ khu vực vốn có của mình nhiều nhất có thể.
Liệu hai cường quốc này có thể quản lý thành công sự chuyển giao mong manh
này và từ đó ổn định thế cân bằng quyền lực trong khu vực hay không vẫn là
một câu hỏi trọng tâm mà châu Á - và cả thế giới - đang phải đối mặt trong
thời đại của những biến động toàn cầu này.
|
|
Alan Dupont is professor
of international security and director of the Institute for International
Security and Development at the University of New South Wales in Sydney,
Australia.
|
Alan Dupont, giáo sư
về an ninh quốc tế, Giám đốc Viện An ninh Quốc tế và Phát triển tại Đại học
New South Wales ở Sydney, Australia.
|
|
|
|
|
|
Translated by Châu Giang
|
|
|
|
|
http://findarticles.com/p/articles/mi_m2751/is_119/ai_n58608824/pg_5/?tag=content;col1
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)