MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Wednesday, February 6, 2013

What Happens When China Goes “Gray”? Điều gì xảy ra khi dân số Trung Quốc già đi?




What Happens When China Goes “Gray”?
Điều gì xảy ra khi dân số Trung Quốc già đi?

By Mark W. Frazier
The Diplomat
January 14, 2013

Mark W. Frazier
The Diplomat
Ngày 14 tháng 1 năm 2013

As China's major trading partners try to control rising public pension and health care costs, they may not realize they also have an important stake in China's ongoing struggle to fashion a safety net for its own rapidly aging population. Many observers assume China has no pensions or healthcare insurance for the 185 million people over the age of 60 (13.7% of population), the highest official retirement age for most workers. They may well believe this explains why Chinese families save so much–more than 30% of household income–and therefore spend less on consumer goods, including imports from trading partners.

Khi các đối tác thương mại lớn của Trung Quốc cố gắng kiểm soát tăng lương hưu công cộng và chi phí chăm sóc sức khỏe, họ có thể không nhận ra họ cũng góp phần quan trọng trong nổ lực liên tục của Trung Quốc nhằm định hình một mạng lưới an toàn cho dân số đang già đi nhanh chóng của mình. Nhiều nhà quan sát cho rằng Trung Quốc không có lương hưu hoặc bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho 185 triệu người trên 60 tuổi (13,7% dân số), tuổi nghỉ hưu chính thức cao nhất đối với phần lớn công nhân. Người ta cũng có thể tin rằng điều này giải thích lý do tại sao gia đình Trung Quốc tiết kiệm nhiều hơn 30% thu nhập của hộ gia đình và do đó chi tiêu ít hơn về hàng hóa tiêu dùng, bao gồm cả nhập khẩu từ các đối tác thương mại.

But this line of reasoning is faulty because China already has large and rapidly growing public pension and health insurance programs in the cities, and is in the process of extending them to rural areas. It's time that China's trading partners, especially the United States, understand what this means for China's economic future and, by extension, their own.

Tuy nhiên, lối lập luận kiểu này đã bị lỗi bởi vì Trung Quốc đã có lương hưu công cọng lớn và phát triển nhanh chóng cùng với các chương trình bảo hiểm y tế ở các thành phố, và đang trong quá trình mở rộng đến các khu vực nông thôn. Đã đến lúc các đối tác thương mại của Trung Quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ, hiểu điều này có ý nghĩa gì đối với tương lai kinh tế của Trung Quốc và nói rộng ra, của chính họ.

For all the criticism of outgoing President Hu Jintao for presiding over a “do-nothing” administration, he did manage to oversee a substantial increase spending on China's public support systems. As a result, pensions have now become the most expensive function of the Chinese government—which already spends a lot on infrastructure, housing and defense. In 2011, pension expenditures rose to 1.28 trillion renminbi (RMB, U.S.$205 billion), up from only 489 billion RMB in 2006. These and civil service pensions cover only about half of those over age 60, but at current rates of growth universal coverage—and vastly higher expenditures—are not far off. The number of urban workers (including migrants from rural areas who in theory are in the cities temporarily) contributing to the public pension system now exceeds 290 million, while rural pensions are also growing rapidly. With so many new people paying in, the government's future pension obligations are rising quickly. A recent report issued by the Bank of China and Deutsche Bank estimated that China’s pension system will have a U.S.$2.9 trillion gap between assets and liabilities by the end of 2013. By 2033 the gap is expected to reach U.S.$10.9 trillion, or 38.7% of GDP.


Đối với tất cả những lời chỉ trích vị Chủ tịch sắp mãn nhiệm Hồ Cẩm Đào về việc điều hành một chính phủ "không làm gì", thì ông đã thực sự tìm cách giám sát việc tăng chi tiêu đáng kể để hỗ trợ hệ thống công cộng của Trung Quốc. Kết quả là, lương hưu hiện đã trở thành trách nhiệm tốn kém nhất của Chính phủ Trung Quốc – trong khi phải chi rất nhiều cho nhà ở, cơ sở hạ tầng và quốc phòng. Trong năm 2011, chi phí lương hưu tăng đến 1,28 nghìn tỷ Nhân dân tệ (RMB, 205 tỷ USD), tăng so với chỉ có 489 tỷ nhân dân tệ trong năm 2006. Những chi tiêu này cọng với khoản trả lương hưu dịch vụ dân sự cũng chỉ bao gồm khoảng một nửa số người trên 60 tuổi, nhưng với mức tăng trưởng hiện tại, việc chi lương hưu cho toàn bộ dân số trên 60 - và các chi phí cao hơn nhiều - không còn xa nữa. Số lượng công nhân đô thị (bao gồm cả người di cư từ khu vực nông thôn, những người về lý thuyết là tạm trú ở các thành phố) đóng góp cho hệ thống lương hưu công cộng hiện nay vượt quá 290 triệu USD, trong khi lương hưu nông thôn cũng đang tăng lên nhanh chóng. Với rất nhiều người mới tham gia quỹ hưu, nghĩa vụ của chính phủ trợ cấp trong tương lai đang tăng lên một cách nhanh chóng. Một báo cáo gần đây do Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Deutsche Bank đưa ra đã ước tính rằng hệ thống lương hưu của Trung Quốc sẽ có một khoảng cách chênh lệch 2,9 nghìn tỷ USD giữa tài sản có và nợ phải trả vào cuối năm 2013. By 2033 khoảng cách dự kiến ​​sẽ đạt tới 10,9 nghìn tỷ đồng, tăng 38,7% GDP.

What happened in the past decade or so to cause China, with an annual per capita income of around $5,000 (adjusted for purchasing power), to begin to acquire pension burdens found in richer and heavily indebted industrial states? What will this mean for trading partners who keep urging the Chinese government to rebalance its economy toward greater consumption (and imports) and away from relying so heavily on exports?


Điều xảy ra trong khoảng một thập kỷ qua khiến Trung Quốc, với thu nhập bình quân đầu người hàng năm mỗi khoảng $ 5000 (điều chỉnh theo sức mua), bắt đầu hứng chịu gánh nặng lương hưu như đã thấy thấy nhiều quốc gia công nghiệp giàu có hơn và nợ nần nhiều hơn? Điều này sẽ có ý nghĩa đối với các đối tác làm ăn đang tiếp tục kêu gọi chính phủ Trung Quốc tái cân bằng nền kinh tế của nó hướng tới tiêu thụ (và nhập khẩu) nhiều hơn và tránh dựa dẫm quá nhiều vào xuất khẩu?


Essentially what happened is that Beijing designed a pension system in the late 1990s that will leave households with much less to spend than many observers assume. Urged by World Bank economists and foreign pension experts, the Chinese government put in place a hybrid pension arrangement that relies on both traditional pay-as-you-go collections from employers and mandatory individual accounts, from which workers were to finance anywhere from one half to two-thirds of their retirement needs. (They also were expected to buy pension and annuity products from commercial providers). But that pension design has resulted in a double whammy: households consume less in order to save for retirement needs, while the government's long term pension debt is escalating rapidly because local governments raided the individual accounts to pay benefits to current retirees.


Về cơ bản, chuyện đã xảy ra là Bắc Kinh đã thiết kế một hệ thống lương hưu cuối những năm 1990 mà sẽ để lại cho các hộ gia đình rất ít tiền để chi tiêu so với nhiều nhà quan sát giả định. Được thúc đẩy bởi các nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia lương hưu nước ngoài, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một thỏa thuận lương hưu kiểu lai dựa trên cả hai kiểu đóng góp theo truyền thống - pay-as-you-go* từ người sử dụng lao động và và đóng góp từ các tài khoản cá nhân bắt buộc, mà từ đó người lao động được để trợ cấp tào chính khoảng từ một nửa đến hai phần ba nhu cầu lương hưu. (Họ cũng được dự kiến ​​sẽ mua các sản phẩm lương hưu và tiền trợ cấp hàng năm từ các nhà cung cấp dịch vụ thương mại). Nhưng thiết kế lương hưu này cũng đã dẫn đến một kiểu thiệt đôi thiệt kép: các hộ gia đình sẽ tiêu thụ ít lại để tiết kiệm cho các nhu cầu nghỉ hưu, trong khi nợ lương hưu dài hạn của chính phủ đang leo thang nhanh chóng bởi vì các chính quyền địa phương đã khai thác triệt để các tài khoản cá nhân để chi trả quyền lợi cho người về hưu hiện tại.



*"pay as you go defined benefit" (PAYG - DB) có nghĩa là tiền lương hưu chi trả cho những người đã về hưu ở thời điểm hiện tại được lấy từ những đóng góp cho quỹ lương hưu của những người đang lao động. Và mức chi trả được xác định trước theo luật bảo hiểm xã hội.

The central government has tried to prevent local governments from tapping current pension assets, but has done so only by allowing them to accumulate further debt. Moreover, many local administrations bristle under the requirement that pension assets must be invested in low-interest bonds and bank deposits. Don't be surprised if future pension scandals like the one that rocked Shanghai in 2006 are exposed as local administrations seek a higher, though riskier return on their pension assets.


Chính quyền trung ương đã cố gắng để ngăn chặn chính quyền địa phương khai thác quỹ lương hưu hiện tại, nhưng chỉ làm điều đó chỉ bằng cách cho phép họ tích lũy thêm nợ. Hơn nữa, nhiều chính quyền địa phương nổi đóa trước yêu cầu rằng các quỹ lương hưu phải được đầu tư vào trái phiếu và tiền gửi ngân hàng với lãi suất thấp. Chớ có ngạc nhiên nếu các vụ bê bối lương hưu trong tương lai giống như vụ bê bố đã làm rung chuyển Thượng Hải vào năm 2006 được bộc lộ khi các chính quyền địa phương tìm kiếm một khoản lãi cao hơn mặc dù có rủi ro hơn từ quỹ lương hưu của họ.


As China's population ages, scholars and officials are seriously considering proposals to phase out the one-child policy that is beginning to curb the flow of new workers into the economy, as well as raise retirement ages (currently 60 for men, 5 or 10 years earlier for women). But such adjustments are just as politically difficult in China as in in Western democracies because, as it turns out, not wanting to work longer is a widely held preference. Many Chinese also view the relatively early retirement age as a way to make vacancies for the millions of young people who enter the labor market each year. If older workers continue working into their twilight years, young workers may encounter greater difficulty in trying to find employment. This would pose its own issues for the country.


Khi dân số Trung Quốc già đi, các học giả và các quan chức đang nghiêm túc xem xét đề xuất bãi bỏ chính sách một con mà được bắt đầu để kiềm chế các dòng công nhân mới đi vào nền kinh tế, cũng như tăng độ tuổi nghỉ hưu (hiện 60 đối với nam giới, sớm hơn 5 hoặc 10 năm đối với nữ). Tuy nhiên, điều chỉnh như vậy quả là khó khăn về mặt chính trị ở Trung Quốc cũng như ở các nền dân chủ phương Tây bởi vì, hóa ra là, người ta hầu hết không mong muốn làm việc lâu hơn. Nhiều người Trung Quốc cũng xem tuổi nghỉ hưu tương đối sớm như là một cách để tao ra vị trí tuyển dụng cho hàng triệu thanh niên bước vào thị trường lao động mỗi năm. Nếu người lao động lớn tuổi tiếp tục làm việc vào những năm xế chiều, công nhân trẻ có thể gặp phải khó khăn lớn hơn trong nỗ lực tìm kiếm việc làm. Điều này sẽ gây ra các vấn đề khác nữa cho đất nước.


What does all this mean for the Asian, European, and American economies that trade with China? First, they should understand that China's aging problem is a slow-motion fiscal crisis. China is not Greece, but local debt burdens are already enormous, and these calculations do not include the mounting pension obligations that local governments have incurred. Just as in America and Europe, the tendency in China is for local officials running state-level pension funds to ramp up current benefits and let future generations pay for them. China's National Social Security Fund is the largest in the world at $150 billion, but these assets (some of which are permitted to be invested in stocks) still fall well short of the liabilities racked up by provincial and city pension funds.


Toàn bộ điều này có nghĩa gì đối với các nền kinh tế châu Á, châu Âu, và Mỹ mà có quan hệ làm ăn với Trung Quốc? Trước hết, họ nên hiểu rằng vấn đề lão hóa của Trung Quốc là một cuộc khủng hoảng tài chính chuyển động chậm. Trung Quốc không phải là Hy Lạp, nhưng gánh nặng nợ địa phương đã rất lớn, và những tính toán này không bao gồm trách nhiệm trả lương hưu ngày càng cao mà chính quyền địa phương phải gánh chịu. Cũng như ở Mỹ và châu Âu, xu hướng ở Trung Quốc là cho các quan chức địa phương điều hành các quỹ hưu trí cấp nhà nước để tăng lợi ích hiện tại và để các thế hệ tương lai trả tiền cho họ. Quỹ an sinh xã hội quốc gia của Trung Quốc là lớn nhất thế giới với mức 150 tỷ USD, nhưng các tài sản này (một số trong đó được phép đầu tư vào cổ phiếu) vẫn ít hơn các khoản nợ chồng chất của các quỹ hưu trí tỉnh, thành phố.


Second, we should realize that as China moves towards universal pension and medical coverage (a likely prospect under its 2010 Social Insurance Law), the effect on household savings will be limited. True, families may no longer need to save for the high costs of catastrophic illnesses. But it is quite plausible that any reduction in household savings arising from the new safety net will be offset by mandatory payments by both workers and employers into the new welfare programs. In other words, don't count on the new safety net to rebalance China's economy, because it won’t give discretionary income much of a lift. This means that countries that have large bilateral trade deficits with China should not expect a turnaround at some uncertain date when Chinese households suddenly have imagined new spending powers.


Thứ hai, chúng ta nên nhận ra rằng khi Trung Quốc chuyển sang lương hưu và bảo hiểm y tế phổ quát (một triển vọng tiềm năng với Luật Bảo hiểm xã hội 2010 của nước này), tác động đối với tiết kiệm hộ gia đình sẽ bị hạn chế. Đúng là, gia đình có thể không còn cần phải tiết kiệm nhiều cho các chi phí cao về bệnh hiểm nghèo. Nhưng điều khá chính đáng là bất kỳ sự giảm tiết kiệm hộ gia đình nào mà xuất phát từ các mạng lưới an sinh mới cũng sẽ được bù đắp bằng các khoản thanh toán bắt buộc của cả người lao động và người sử dụng lao động cho các chương trình phúc lợi mới. Nói cách khác, không nên dựa dẫm vào mạng lưới an sinh mới để tái cân bằng nền kinh tế của Trung Quốc, bởi vì nó sẽ không làm cho thu nhập tùy nghi nhiều khả năng tăng lên. Điều này có nghĩa là các quốc gia có thâm hụt thương mại song phương với Trung Quốc không nên mong đợi một sự thay đổi vào một ngày không nào đó không rõ khi các hộ gia đình Trung Quốc đột nhiên tưởng tượng ra được sức chi tiêu mới.


Finally, we must consider the larger implications aging has on China and major economies such as the United States, Europe, and Japan. Aging trends don’t make the decline of these economies inevitable, of course, but it is time to calibrate expectations. Aging will curb or even reduce household consumption, which is the primary driver of Chinese exports to industrialized economies and what many hope will fuel future exports to China. All these governments need to find ways to slow the growth of health care and pension costs. In the United States and China, for example, insurance and other financial services providers (state-owned in China) make large profits on fees and other administrative charges for handling the funds that pass through their accounts. Cutting these costs is essential. More broadly, all these societies will be compelled to rethink the outdated notion that work is over and retirement begins at some arbitrary age defined by law.


Cuối cùng, chúng ta phải xem xét những tác động lớn hơn mà lão hóa tác động lên Trung Quốc và các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu, và Nhật Bản. Tất nhiên, xu hướng lão hóa không làm cho sự suy giảm của các nền kinh tế này trở nên không thể tránh khỏi, nhưng đã đến lúc phải hiệu chuẩn các kỳ vọng. Lão hóa sẽ hạn chế hoặc thậm chí giảm chi tiêu hộ gia đình, mà đó chính là động cơ chính của xuất khẩu Trung Quốc tới các nền kinh tế công nghiệp và là cái mà nhiều người hy vọng sẽ tiếp nhiên liệu cho xuất khẩu của Trung Quốc trong tương lai. Tất cả các chính phủ cần phải tìm cách để làm chậm sự tăng trưởng của chi phí chăm sóc sức khỏe và lương hưu. Tại Hoa Kỳ và Trung Quốc, chẳng hạn, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tài chính khác (thuộc sở hữu nhà nước tại Trung Quốc) tạo được lợi nhuận lớn so với chi trả và các khỏa chi phí hành chính khác để xử lý các ngân khoản đi qua tài khoản của họ. Cắt giảm các chi phí này là cần thiết. Nói rộng hơn, tất cả các xã hội này sẽ buộc phải suy nghĩ lại về khái niệm đã lỗi thời rằng công việc đã kết thúc và hưu trí bắt đầu vào một độ tuổi thiếu căn cứ theo quy định của pháp luật.


Aging and the policies to cope with a graying population are first and foremost domestic issues, but, as is so often the case, the consequences of Beijing’s pension policies will resonate far beyond its borders. Those who manage economic relations with China should focus less on trade deficits and exchange rates and spend more time thinking through the long-term implications of aging, and what it will mean for patterns of trade and investment among the world's largest economies.


Lão hóa và các chính sách để đối phó với dân số già là vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất trong nước, nhưng, thông thường thì đúng là những hậu quả của chính sách trợ cấp của Bắc Kinh sẽ cộng hưởng vượt xa biên giới của mình. Những người quản lý các mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc nên tập trung ít hơn vào thâm hụt thương mại và tỷ giá hối đoái và dành nhiều thời gian suy nghĩ kỹ về những tác động lâu dài của sự lão hóa, và những gì nó sẽ tác động đối với các mô hình thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế lớn nhất thế giới.


Mark W. Frazier is Professor of Politics and Co-Academic Director of the India-China Institute at the New School and the author of: Socialist Insecurity: Pensions and the Politics of Uneven Development in China (2010).

Mark W. Frazier là Giáo sư Chính trị và Giám đốc đào tạo của Viện Ấn Độ-Trung Quốc tại New School và là tác giả của Bất ổn xã hội: lương hưu và chính trị của sự phát triển không đồng đều ở Trung Quốc (2010).


http://thediplomat.com/2013/01/14/has-china-become-an-entitlement-society-too/?all=true

Hard Times for Press Freedom in Asia Thời khốn khó cho tự do báo chí ở châu Á




Hard Times for Press Freedom in Asia

Thời khốn khó cho tự do báo chí ở châu Á

By Zachary Keck
The Diplomat
February 1, 2013

Zachary Keck
The Diplomat
Ngày 01 tháng 2 năm 2013
Nearly half of the twenty countries with the least amount of press freedom in the world are located in the Asia-Pacific, according to Reporters Without Borders’ 2013 World Press Freedom Index.

Gần một nửa trong số hai mươi quốc gia có ít tự do báo chí nhất trên thế giới được nằm ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, theo xếp hạng tự do báo chí Thế giới năm 2013 của tổ chức Phóng viên Không Biên giới.

Of the twenty countries making the bottom of the list, nine are located in the Asia-Pacific. In ascending order these countries are: North Korea, Iran, China, Vietnam, Laos, Uzbekistan, Sri Lanka and Kazakhstan.

Trong số hai mươi quốc gia dưới cùng của danh sách, chín nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Theo thứ tự lên dần, thì các quốc gia này là: Bắc Triều Tiên, Iran, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Uzbekistan, Sri Lanka và Kazakhstan.
Of these nine “worst of the worst,” only Kazakhstan and Uzbekistan saw significant changes from their positions during the last year, with the former dropping six spots and the latter declining by seven spots from the 2012 World Press Freedom Index.

Trong số chin nước "tồi nhất trong những nước tồi nhất", chỉ Kazakhstan và Uzbekistan là đã có những thay đổi đáng kể vị trí xếp hạng của họ trong năm qua, với Kazakhstan giảm 6 bậc và Uzbekistan giảm 7 bậc với chỉ số xếp hạng tự do báo chí Thế giới năm 2012.

Other parts of Asia saw more dramatic swings over the course of 2012. Most of these were in the wrong direction.

Các phần khác của châu Á có biến động ấn tượng hơn trong suốt năm 2012. Hầu hết các nước này vận động sai hướng.
Singapore, for instance, dropped 14 spots from 135 to 149. Other countries in Southeast Asia fared worse, with Malaysia dropping 23 spots to 145th and Cambodia plummeting 26 spots to 143th of 179 countries surveyed.
Xin-ga-po, ví dụ, giảm 14 bậc từ 135 thành 149. Các quốc gia khác ở Đông Nam Á ở tình trạng tồi tệ hơn, với Malaysia giảm 23 bậc xuống vị trí 145 và Campuchia sụt giảm 26 bậc và đứng ở vị trí thứ 143 trong 179 quốc gia được khảo sát.

In between the two with the 144th most free press freedoms in the world was Bangladesh, which had dropped 15 spots on the year. It was not alone among South Asian nations that saw a decline in press freedom last year. In fact, Pakistan dropped 7 spots, India declined by 9 places, and Nepal by 12. Maldives, which suffered from political stability all year, declined 30 spots but still ranked at 103, much higher than Pakistan’s 159, India’s 140, and Nepal’s 118 rankings.

Ở giữa hai nước Malaysia và Campuchia với vị trí thứ 144 trong nhóm các nước có tự do báo chí nhất thế giới là Bangladesh, nước này cũng đã giảm 15 bậc năm qua. Quốc gia này chỉ là một mình trong số các quốc gia châu Á chứng kiến một sự suy giảm về tự do báo chí năm ngoái. Quả thực, Việt Nam giảm 7 bậc, Ấn Độ giảm 9, và Nepal 12. Maldives, do phải ổn định chính trị suốt cả năm, nên đã giảm 30 bậc nhưng vẫn còn xếp hạng 103, cao hơn nhiều so với vị trí 159 của Pakistan, 140 của Ấn Độ, và xếp hạng 118 của Nepal.


Reporters Without Borders noted that India’s ranking this year was its “lowest since 2002 because of increasing impunity for violence against journalists and because Internet censorship continues to grow.”


Phóng viên Không Biên giới ghi nhận rằng Ấn Độ xếp hạng năm nay là "thấp nhất kể từ năm 2002 vì có sự làm ngơ ngày càng tăng đối với bạo hành chống lại các nhà báo và bởi vì việc kiểm soát Internet tiếp tục gia tăng".

Even the democratic states in Northeast Asia saw at least marginal setbacks, with South Korea falling six spots to finish 50th, and Taiwan dropping two spots to finish 47th.
Ngay cả những quốc gia dân chủ ở Đông Bắc Á đã cũng chứng kiến ​​ít nhất đôi chút thụt lùi, với Hàn Quốc giảm 6 bậc xuống thứ 50, và Đài Loan giảm hai bậc xuống thứ 47.

Most shocking however was Japan, which fell a whopping 31 places from 22nd place to 53th in terms of press freedoms over the course of 2012. Reporters Without Borders justified this steep drop by pointing to growing “censorship of nuclear industry coverage and its failure to reform the ‘kisha club’* system.”

Tuy nhiên, gây sốc nhất lại là Nhật Bản, giảm 31 rơi bịch từ 22 xuống 53 về tự do báo chí trong suốt năm 2012. Phóng viên Không Biên giới đã giải thích sự rơi thẳng đứng này bằng cách chỉ ra việc "kiểm duyệt ngày cáng tăng các bài viết về ngành công nghiệp hạt nhân và thất bại trong việc cải cách hệ thống câu lạc bộ Kisha."*

*A kisha club (記者クラブ kisha kurabu), or "reporters' club", from the Japanese word kisha (記者), meaning reporter, is a Japanese news-gathering association of reporters from specific news organizations, whose reporting centers on a press room set up by sources such as the Prime Minister's Official Residence, government ministries, local authorities, the police, or corporate bodies.
* Một câu lạc bộ Kisha (記者 クラブ Kisha kurabu), hoặc "câu lạc bộ các phóng viên", (từ Kisha trong tiếng Nhật (记者) có nghĩa là phóng viên) một Hiệp hội các phóng viên Nhật Bản thu thập tin tức từ các tổ chức thông tấn cụ thể, mà việc thông tin tập trung vào một phòng báo chí thiết lập tại các nguồn như phóng viên thường trú chính thức của Thủ tướng, các Bộ, của Chính phủ, chính quyền địa phương, cảnh sát, hoặc các cơ quan doanh nghiệp.

There were some bright spots in Asia, however. Notably, Myanmar climbed another 18 spots last year, finishing at 151. This is only four spots behind the Philippines who finished the year at 147 out of 179 countries after dropping six places. Reporters Without Borders noted in its analysis that Myanmar had previously “been in the bottom 15 every year since 2002 but now, thanks to the Burmese spring’s unprecedented reforms, it has reached its best-ever position.”


Tuy nhiên đã có một số điểm sáng ở châu Á. Đáng chú ý là Myanmar đã tăng 18 bậc kể từ năm ngoái, với vị trí xếp hạng 151. Myanmar chỉ thua  Philippines có bốn bậc, khi kết thúc năm 2012 nước này xếp hạng 147 trong 179 quốc gia sau khi giảm sáu bậc. Phóng viên Không Biên giới đã lưu ý trong phân tích của mình rằng Myanmar trước đó hằng năm đều "ở trong nhóm 15 dưới đáy kể từ năm 2002, nhưng bây giờ, nhờ những cải cách chưa từng có của mùa xuân Miến Điện, nó đã đạt đến vị trí tốt nhất chưa từng thấy."

Afghanistan saw even more dramatic improvements, rising 22 places to finish 128th. Reporters Without Borders cited “the fact that no journalists are in prison” as the reason for Kabul’s rise in its rankings. At the same time, it said that Afghanistan continued to face many challenges and suggested it was not optimistic about Afghanistan’s media freedom after foreign troops leave the country at the end of next year.

Afghanistan chứng kiến những cải thiện thậm chí còn ấn tượng hơn, tăng 22 bậc với xếp hạng 128. Phóng viên Không Biên giới đã nêu "thực tế là không có nhà báo nào bị bỏ tù" như là lý do cho sự thăng tiến trong bảng xếp hạng của Kabul. Đồng thời, tổ chức này nói rằng Afghanistan vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức và gợi ý rằng không mấy lạc quan về tự do báo chí của Afghanistan sau khi quân đội nước ngoài rời khỏi đất nước vào cuối năm tới.
With the 9th ranking New Zealand was the only country outside of Europe to be ranked among the top ten countries with the most press freedoms. The next highest ranked Asia-Pacific country was Australia at 26.

Với thứ hạng 9 New Zealand là quốc gia duy nhất ngoài châu Âu được nằm trong 10 quốc gia hàng đầu thế giới về tự do báo chí nhiều nhất. Quốc gia tiếp theo được xếp hạng cao nhất thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương là Australia với vị trí 26.
Reporters Without Borders is a French-based non-governmental organization that advocates for freedom of information and freedom of expression as the “the foundation of any democracy.”
Phóng viên Không Biên giới là một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Pháp, bênh cho quyền tự do thông tin và tự do ngôn luận như là "nền tảng của nền dân chủ."



Zachary Keck is assistant editor of The Diplomat. He is on Twitter: @ZacharyKeck.
Zachary Keck là trợ lý biên tập viên của The Diplomat. Địa chỉ trên Twitter: @ ZacharyKeck.




http://thediplomat.com/the-editor/2013/02/01/hard-times-for-press-freedom-in-asia/

Tuesday, February 5, 2013

The Myth of Xi Jinping’s “New” Leadership Bí ẩn về "tân" quyền lãnh đạo của Tập Cận Bình






The Myth of Xi Jinping’s “New” Leadership

Bí ẩn về "tân" quyền lãnh đạo của Tập Cận Bình
By Peter Mattis
The Diplomat
February 6, 2013
By Peter Mattis
The Diplomat
06 tháng 2 năm 2013


As China prepares to finalize the leadership transition that began last November and will conclude in March, there is no shortage of proposals for world leaders to engage China’s new leader Xi Jinping as the foundation for the future of relations with China. The idea is to get in “on the ground floor” as Xi takes over from Chinese President Hu Jintao, who will give up his last title to Xi at the National People’s Congress in March. The problem, however, is that opening was five years ago when Xi made the Politburo Standing Committee—if not before, when he was Fujian and later Shanghai Party Secretary and clearly destined for greater things. If foreign governments and particularly the United States want to develop strong personal relationships, then they have to start before China’s leaders achieve positions where every interaction becomes political. Otherwise, their energy is better spent elsewhere.

Khi Trung Quốc chuẩn bị hoàn tất quá trình chuyển đổi lãnh đạo bắt đầu từ cuối tháng mười một và sẽ kết thúc tháng ba, có không ít những đề nghị để các nhà lãnh đạo thế giới hợp tác với vào nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc Tập Cận Bình như là nền tảng cho tương lai của mối quan hệ với Trung Quốc. Ý tưởng là để len được vào "phòng khách" khi Tập đảm nhận quyền lực từ Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, người sẽ từ bỏ chức danh cuối cùng của ông cho Tập tại Quốc hội Trung Quốc vào tháng ba. Tuy nhiên, vấn đề là sự mở màn đã bắt đầu năm năm trước đây khi Tập vào ban Thường vụ Bộ Chính trị - nếu như không phải là trước đó nữa, khi ông làm Bí thư Đảng ủy Phúc Kiến và sau đó là Bí thư Đảng ủy Thượng Hải và rõ ràng được dành cho những chức vụ lớn hơn. Nếu chính phủ nước ngoài và đặc biệt là Mỹ muốn phát triển mối quan hệ cá nhân mạnh mẽ, sau đó họ phải bắt đầu trước khi các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đạt được vị trí mà ở đó tất cả các tương tác đều trở thành chính trị. Nếu không, năng lượng của họ là được phân tán đi những nơi khác.


When observers call Xi a “leader-in-waiting,” they are forgetting that China is guided by the collective decision making in the Politburo Standing Committee. Xi’s vice presidency is one of those fictional protocol assignments that makes it easier for China to interact with foreign governments. The position, however, is worth less than even the U.S. vice presidency, which John Adams derided as being “the most insignificant office that ever the invention of man contrived or his imagination conceived.”


Khi các nhà quan sát gọi Tập là "lãnh đạo chờ đợi", họ quên rằng Trung Quốc được lãnh đạo bởi việc ra quyết định tập thể của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị. Chức Phó Chủ tịch của Tập là một trong những phân công có tính nghi thức tượng trưng làm khiến  Trung Quốc dễ dàng hơn khi tương tác với các chính phủ nước ngoài. Tuy nhiên, vị trí này, giá trị kém hơn so với ngay cả phó tổng thống Mỹ, mà John Adams chế giễu là "chức vụ không có ý nghĩa nhất mà con người đã từng phát minh ra hoặc tưởng tượng ra".



Even if Xi Jinping only took over the party reins at the 18th Party Congress last November, he already was an important Chinese leader at the center of power. President of the Central Party School, a position Xi held from 2007 to 2012, is the kind of title that sounds unimportant and mostly administrative. But the Central Party School post is important for at least three reasons.

Ngay khi Tập Cận Bình nắm cương vị lãnh đạo đảng tại Đại hội Đảng lần thứ 18 cuối tháng mười một, thì ông đã là một nhà lãnh đạo quan trọng của Trung Quốc trung tâm quyền lực. Giám đốc Trường Đảng Trung ương, một chức vụ Xi nắm giữ từ 2007 đến 2012, là loại chức danh nghe có vẻ không quan trọng và chủ yếu là hành chính. Tuy nhiên, vị trí Trường Đảng Trung ương là rất quan trọng vì ít nhất ba lý do sau.

First, almost every rising star in the Chinese Communist Party (CCP) will pass through the Central Party School for mid-career or senior executive education. Like the China Youth League, where Hu Jintao built a factional base, running the school allows for talent spotting for and relationship building with the officials who can support a leader through loyal policy execution as he moves up the greasy pole of Chinese politics.

Đầu tiên, hầu hết các ngôi sao đang lên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phải đi qua Trường Đảng Trung ương để có được đào tạo về điều hành lãnh đạo ở mức trung hay cao cấp. Cũng giống như Đoàn thanh niên Trung Quốc nơi Hồ Cẩm Đào đã xây dựng một cơ sở cho phe mình, việc điều hành trường Đảng cho phép tìm kiếm tài năng và xây dựng quan hệ với các quan chức mà có thể hỗ trợ một nhà lãnh đạo thông qua thực hiện chính sách trung thành khi người đó đã leo dần lên cái cột mỡ của chính trị Trung Quốc.

Second, few civilian positions allow substantial engagement with the People’s Liberation Army (PLA), not limited by the jurisdiction of a local defense mobilization committee or a garrison party committee. The Central Military Commission is one place. The Central Party School is another, because it plays an important role in setting ideology across the CCP. And the PLA has 1.8 million party members.

Thứ hai, rất ít vị trí dân sự cho phép tham gia đáng kể vào Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), mà vốn không bị giới hạn bởi thẩm quyền của một ủy ban huy động quốc phòng địa phương hoặc đảng ủy đơn vị. Ủy ban quân sự trung ương là một. Trường Đảng Trung ương là một nơi thứ hai, bởi vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ tư tưởng cho toàn ĐCSTQ. Và quân đội Trung Quốc có 1,8 triệu đảng viên.

Third and most importantly, the Central Party School presidency placed Xi Jinping on the Politburo Standing Committee and signaled that his star was on the rise. From 2002 to 2012, Hu Jintao may have been first among equals, but he had difficulty controlling the Politburo Standing Committee, giving relative autonomy to the other members. Not only would this situation give Xi more flexibility to build the political support to replace Hu—many aspiring deputies ranging from Liu Shaoqi and Lin Biao to Hu Yaobang and Zhao Ziyang have been axed because they accumulated power outside the control of Mao Zedong and Deng Xiaoping—but also would inject him into the center of deliberations requiring the standing committee’s collective approval.

Điều thứ ba và là điều quan trọng nhất, chức vụ giám đốc trường Đảng Trung ương đưa Tập Cận Bình vào Thường vụ Bộ Chính trị và báo hiệu ông ta là ngôi sao đang lên. Từ 2002-2012, ông Hồ Cẩm Đào có thể đã dẫn đầu trong số các ủy viên ngang sức ngang tài, nhưng ông gặp khó khăn trong việc kiểm soát Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, giao quyền tự chủ tương đối cho các thành viên khác. Tình trạng này không chỉ tạo cho Tập linh hoạt hơn để xây dựng hỗ trợ chính trị cho mình nhằm thay thế Hồ - nhiều đại biểu tham vọng khác nhau, từ Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu tới Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương đã bị tiêu diệt bởi vì họ dám tích lũy quyền lực bên ngoài sự kiểm soát của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình – mà còn đưa Tập vào trung tâm của các cuộc thảo luận đòi hỏi sựu chấp thuận tập thể của ủy ban thường vụ.



Foreign observers also should remember that Xi has held a number of other important policy posts in the final five years of Hu’s tenure. For example, Xi has held the Hong Kong and Macao portfolio, running the corresponding central leading small group since 2008. In October 2010, Xi Jinping became one of the vice chairmen of the Central Military Commission, China’s highest political-military authority, and the only other civilian apart from Hu.

Các quan sát viên nước ngoài cũng nên nhớ rằng Tập đã giữ một số chức vụ chính sách quan trọng khác trong năm năm cuối cùng của nhiệm kỳ của Hồ Cẩm Đào. Ví dụ, Tập đã giữ cương vị phụ trách Hồng Kông và Macao, điều hành nhóm nhỏ hàng đầu trung ương cho hai khu vực này từ năm 2008. Trong tháng 10 năm 2010, Tập Cận Bình đã trở thành một trong các Phó Chủ tịch Ủy ban quân sự trung ương, cơ cấu quyền lực chính trị-quân sự cao nhất của Trung Quốc, và là viên chức dân sự duy nhất ngoài Hồ Cẩm Đào.

There is a further strike against the idea that a personal relationship with Xi is the path forward. If China’s assertiveness after the global financial crisis stems from systemic internal insecurities, then these developments raise the question of why Xi Jinping would be receptive to the personal entreaties of foreign dignitaries. He is the first leader that is solely a product of that same government system with those insecurities and that same system that routinely blames domestic ills on Western hostile forces that seek to encircle, Westernize, and divide China.

Có thêm một cuộc tấn công chống lại ý tưởng cho rằng một mối quan hệ cá nhân với ông Tập là con đường tiến lên phía trước. Nếu sự quyết đoán của Trung Quốc sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ bất an nội bộ mang tính hệ thống, thì những phát triển này đặt ra câu hỏi về lý do tại sao ông Tập Cận Bình sẽ tiếp nhận những lời cầu xin cá nhân của quan chức nước ngoài. Ông là nhà lãnh đạo đầu tiên mà hoàn toàn là sản phẩm của hệ thống cầm quyền đầy những bất an và hệ thống đó thường xuyên đổ lỗi những tệ hại trong nước cho các lực lượng phương Tây thù địch tìm cách bao vây, Tây hóa, và chia rẽ Trung Quốc.

If only Nixon could go to China, then perhaps only a princeling can change it. That decision, however, will be Xi’s and will depend on his ability to exercise power. Rather than pursue the false hope that a personal relationship can have a transformative effect on their countries’ relationship with China, foreign leaders should seek to engage Xi politely and professionally as befits a head of state. The efforts to develop closer personal relationships and to understand Chinese policymaking would be better spent elsewhere.
Nếu như Nixon có thể đi đến Trung Quốc, thì có lẽ chỉ một vương hầu mới có thể thay đổi điều đó. Quyết định đó, tuy nhiên, sẽ là của Tập Cận Bình và sẽ phụ thuộc vào khả năng của thực thi quyền lực của ông. Thay vì theo đuổi hy vọng sai lầm rằng một mối quan hệ cá nhân có thể có một hiệu ứng làm thay mối quan hệ của nước họ với Trung Quốc, các nhà lãnh đạo nước ngoài nên tìm cách tiếp cận ông Tập lịch sự và chuyên nghiệp với cương vị là người đứng đầu nhà nước. Những nỗ lực để phát triển mối quan hệ cá nhân gần gũi hơn và để hiểu rõ hơn hoạch định chính sách Trung Quốc nên dành ở nơi khác.

Such relationships have to begin before a rising leader’s position becomes too political and before they become surrounded by palace gatekeepers. The increasingly standard rules for leadership selection and promotion place considerable limits on who might succeed Xi in 2022 at the 20th Party Congress. Irrespective of the factional horse-trading that probably still takes place, suitable candidates most often need to have checked the boxes of provincial party secretary, a ministerial post under the State Council, and graduate education. These standards suggest there are really only three serious candidates to succeed Xi Jinping: Guangdong Party Secretary Hu Chunhua, Chongqing Party Secretary Sun Zhengcai, and Hunan Party Secretary Zhou Qiang. Only the first two, however, are on the Politburo. These are the men would-be presidents and foreign ministers should engage.

Những mối quan hệ đó phải bắt đầu trước khi vị trí của một nhà lãnh đạo đang lên trở nên quá chính trị và trước khi họ bị bao quanh bởi các người gác cổng cung điện. Các quy tắc ngày càng tiêu chuẩn để lựa chọn lãnh đạo thăng tiến tạo ra các giới hạn đáng kể về những người có thể kế thừa Tập vào năm 2022 tại Đại hội Đảng 20. Bất chấp sựu tranh đua phe phái có lẽ vẫn sẽ diễn ra, thông thường ứng viên phù hợp nhất cần phải đi qua bí thư tỉnh ủy, bộ trưởng một bộ thuộc Hội đồng Nhà nước, và giáo dục đại học. Các tiêu chuẩn này cho thấy thực sự chỉ có ba ứng cử viên nghiêm túc kế thừa Tập Cận Bình: Bí thư Quảng Đông Hồ Xuân Hoa, Bí thư Đảng ủy Trùng Khánh Tôn Chính Tài, Bí thư Đảng ủy và Hồ Nam Zhou Qiang. Tuy nhiên, chỉ có hai người đầu tiên nằm trong Bộ Chính trị. Đây là những người mà các tổng thống và bộ trưởng ngoại giao tương lai của các nước nên tiếp cận.
For the practically-oriented “get things done in China” crowd, the vagaries of Politburo Standing Committee policymaking mean that understanding the Chinese government is far more important than understanding China’s newest president. Speculating what Xi’s nationalism means or whether he is reformer is far less valuable than reading about the making of Chinese industrial policy or the nuts-and-bolts of how to make contracts enforceable—or understanding the relationship (or sometimes lack thereof) between Chinese government and business, and why that affects a foreign company’s ability to be successful in a specific locality.
Đối với đám đông được định hướng theo thực tế "hành xử tại Trung Quốc", những thay đổi bất thường trong hoạch định chính sách của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị có nghĩa là việc hiểu chính phủ Trung Quốc là quan trọng hơn nhiều so với hiểu chủ tịch mới nhất của Trung Quốc. Dự đoán chủ nghĩa là dân tộc của ông Tập có ý nghĩa thế nào hoặc liệu ông có là nhà cải cách hay không thì lại ít có giá trị hơn nhiều so với tìm hiểu về hoạc định chính sách công nghiệp của Trung Quốc hoặc thực chất các khâu để làm cho hợp đồng có hiệu lực thi hành là như thế nào - hoặc hiểu biết các mối quan hệ (hoặc đôi khi không có mối quan hệ nào) giữa chính phủ Trung Quốc và doanh nghiệp, và lý do tại sao điều đó có ảnh hưởng đến khả năng thành công của một công ty nước ngoài trong một địa phương cụ thể.

Xi Jinping already was a leader. He is not new to the top and the “ground floor” was long ago. Now is the time to focus on understanding how he affects the system below, how he can build his own political base, and how he can wield power.


Tập Cận Bình đã là một nhà lãnh đạo. Ông không phải là mới đối với vị trí chop bu và đã vào "tầng trệt" từ lâu. Bây giờ là lúc phải tập trung tìm hiểu bằng cách nào ông tạo ảnh hưởng đến các hệ thống bên dưới, làm thế nào ông xây dựng được cơ sở chính trị của riêng mình, và làm thế nào ông có thể vận hành quyền lực.

Peter Mattis is Editor of China Brief at The Jamestown Foundation.
Peter Mattis là biên tập viên của tờ báo Tin VắnTrung Quốc thuộc Quỹ Jamestown.




http://thediplomat.com/china-power/the-myth-of-xi-jinpings-new-leadership/?all=true