MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, January 20, 2013

Gold and Economic Freedom Vàng và Tự do kinh tế




Gold and Economic Freedom

Vàng và Tự do kinh tế
by Alan Greenspan



An almost hysterical antagonism toward the gold standard is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense — perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of laissez-faire — that gold and economic freedom are inseparable, that the gold standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires the other.

Dù có những quan điểm khác nhau, nhưng tất cả những người ủng hộ vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế (statist [1]) đều có một đặc điểm chung, đặc điểm này đã đoàn kết họ lại, đó là sự cự tuyệt bản vị vàng [2] tới mức cuồng tín. Dường như họ đã nhận ra – thậm chí là rõ rệt và tinh vi hơn so với nhóm bảo vệ chủ thuyết thị trường tự do (laissez-faire [1]) – rằng vàng và tự do kinh tế là hai phạm trù không thể tách rời, rằng vàng là công cụ bổ trợ cho thị trường tự do, cái này mặc nhiên dẫn đến cái kia và cả hai đều là điều kiện cần phải có của nhau.

In order to understand the source of their antagonism, it is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.

Để hiểu nguồn gốc của sự cự tuyệt trên, trước hết chúng ta cần làm rõ vai trò đặc biệt của vàng trong một xã hội tự do.


Money is the common denominator of all economic transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of market value and as a store of value, ie, as a means of saving.

Tiền tệ là mẫu số chung của mọi giao dịch kinh tế. Chính nhờ vai trò là hàng hóa trao đổi trung gian trong giao dịch, tiền được chấp nhận là một công cụ thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ bởi tất cả chủ thể tham gia vào nền kinh tế trao đổi, nên do đó có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn xác định giá trị thị trường cũng như công cụ dự trữ của cải (ví dụ tiền là phương thức để tiết kiệm).


The existence of such a commodity is a precondition of a division of labor economy. If men did not have some commodity of objective value which was generally acceptable as money, they would have to resort to primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value, ie, to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.


Sự hiện diện của loại hàng hóa đặc biệt trên là điều kiện cần thiết để hình thành một nền kinh tế có sự phân chia lao động. Nếu không có một loại hàng hóa mang giá trị khách quan được chấp nhận rộng rãi như tiền tệ, con người sẽ phải phụ thuộc vào phương thức trao đổi hàng-đổi-hàng, hoặc buộc phải tự cung tự cấp bằng tư liệu sản xuất cá nhân và chấp nhận mất đi lợi thế không thể tính toán được của chuyên môn hóa. Nếu con người không có một phương thức để dự trữ của cải (như gửi tiết kiệm chẳng hạn), hoạt động trao đổi và lên kế hoạch lâu dài sẽ là bất khả thi.


What medium of exchange will be acceptable to all participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus to store. But where store-of-value considerations are important, as they are in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and, therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable. Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society. Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value, such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a half-ton of pig iron.

Phương tiện trao đổi nào sẽ được tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế chấp nhận không phải được xác định một cách tùy tiện. Trước hết, phương tiện trao đổi phải có độ bền cao. Trong thời kỳ sơ khai khi xã hội còn khan hiếm của cải, lúa mì có thể được xem là phương tiện trao đổi tồn tại đủ lâu cho quá trình trao đổi, do quá trình đó chỉ diễn ra trong và ngay sau vụ gặt, và cũng không có giá trị thặng dư để dự trữ. Tuy nhiên ở các xã hội giàu có, văn minh hơn – nơi việc dữ trữ của cải đóng vai trò quan trọng – phương tiện trao đổi phải là vật có độ bền cao. Thông thường sẽ là kim loại, bởi chúng có tính đồng đều và có thể phân chia được: mỗi đơn vị đều giống hệt nhau và có thể kết hợp lẫn tạo ra bất kỳ số lượng nào mong muốn. Ngược lại, đá quý lại không có tính chất đồng đều và phân chia được. Quan trọng hơn, vật được chọn làm phương tiện thanh toán phải có giá trị cao. Khao khát của con người đối với các vật xa xỉ là không có giới hạn, do đó, hàng hóa xa xỉ luôn được xã hội chấp nhận rộng rãi và có nhu cầu cao. Nếu như các xã hội thiếu thốn lương thực xem lúa mì là hàng hóa xa xỉ thì nó lại không có nhiều giá trị trong các xã hội thịnh vượng. Bình thường thuốc lá không được xem là tiền, nhưng trong thời kỳ hậu thế chiến thứ Hai ở châu Âu, nó là một loại hàng hóa xa xỉ. Cụm từ “hàng hóa xa xỉ” ám chỉ sự khan hiếm và giá trị đơn vị cao. Chính nhờ giá trị đơn vị cao, hàng hóa đó với số lượng ít nhưng có giá trị lớn nên dễ dàng di chuyển. Ví dụ: một ounce vàng tương đương đến nửa tấn gang đúc thổi.


In the early stages of a developing money economy, several media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences on what to hold as a store of value will shift to the most widely acceptable commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an incalculably wider scale.


Trong các giai đoạn đầu của nền kinh tế tiền tệ, có khá nhiều phương tiện trao đổi được sử dụng bởi khi đó không ít các vật liệu có thể đáp ứng điều kiện về phương tiện trao đổi đã nói ở trên. Tuy nhiên, theo thời gian, một trong số các loại vật liệu đó sẽ thay thế dần các loại còn lại khi được chấp nhận ngày càng rộng rãi. Lựa chọn về công cụ dự trữ giá trị cũng sẽ hướng đến loại phương tiện trao đổi đang được chấp nhận rộng rãi nhất, và theo đó càng làm phương tiện đó càng trở nên phổ biến. Xu hướng dịch chuyển tiếp tục diễn ra cho đến khi chỉ còn tồn tại một phương tiện trao đổi duy nhất. Việc sử dụng duy nhất một phương tiện trao đổi cũng có lý do tương đương vì sao nền kinh tế tiền tệ ưu việt hơn nền kinh tế trao đổi hàng-đổi-hàng: giúp cho hoạt động giao dịch khả thi trên quy mô rộng lớn hơn rất nhiều.


Whether the single medium is gold, silver, seashells, cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being relatively scarce, has significant advantages over all other media of exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole international standard of exchange. If all goods and services were to be paid for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization. Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the development of a banking system and credit instruments (bank notes and deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.


Tùy thuộc vào bối cảnh và mức độ phát triển của một nền kinh tế, phương tiện trao đổi duy nhất đó có thể là vàng, bạc, vỏ sò, gia súc hay thuốc lá. Trên thực tế, tất cả đối tượng nêu trên đều đã được xem là phương tiện trao đổi trong quá khứ. Thậm chí ở thế kỷ hiện tại, hai trong số loại hàng hóa trung gian trao đổi lớn nhất, vàng và bạc đã được sử dụng làm phương tiện trao đổi quốc tế - với vàng là phương tiện chiếm áp đảo. Vàng, sở hữu giá trị sử dụng lẫn tính thẩm mỹ cao, đồng thời là một kim loại tương đối hiếm, nhìn chung chiếm ưu thế hơn hẳn so với các phương tiện trao đổi còn lại. Từ đầu thế chiến thứ nhất cho đến nay, vàng gần như được xem là phương tiện trao đổi tiêu chuẩn duy nhất của thế giới. Tuy nhiên, nếu toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được chi trả bằng vàng, các phi vụ thanh toán có giá trị lớn sẽ rất khó để thực hiện, đồng thời điều này có thể hạn chế mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa của xã hội. Do đó, một giải pháp hợp lý cho mặt bất cập của phương tiện trao đổi này là hình thành một hệ thống ngân hàng và công cụ tín dụng (giấy bạc ngân hàng và hạn mức giữ vàng) có vai trò thay thế nhưng đồng thời cũng có thể chuyển đổi thành vàng.


A free banking system based on gold is able to extend credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to the production requirements of the economy. Individual owners of gold are induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against which they can draw checks). But since it is rarely the case that all depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits). But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.


Một hệ thống ngân hàng tự do dựa trên vàng sẽ có khả năng mở rộng tín dụng, và qua đó phát hành giấy bạc ngân hàng (tiền tệ) và dự trữ vàng, dựa trên nhu cầu sản xuất của nền kinh tế. Các cá nhân sở hữu vàng trong xã hội được khuyến khích, thông qua lãi suất được ngân hàng chi trả, gửi vàng vào ngân hàng (và ký séc dựa trên số vàng gửi giữ). Vì khả năng tất cả người gửi giữ đồng loạt rút vàng của họ ra khỏi ngân hàng vào cùng một thời điểm là rất hiếm, ngân hàng chỉ cần giữ lại một phần trong tổng số vàng ký gửi của khách hàng làm mức dự trữ bắt buộc. Điều này cho phép ngân hàng cho vay vượt mức dự trữ vàng của mình (như vậy có nghĩa ngân hàng đang nắm quyền sở hữu đối với vàng nhiều hơn là ý nghĩa vàng giữ vai trò đảm bảo an toàn cho mức dự trữ). Dẫu vậy, mức cho vay của ngân hàng cũng không thể tùy tiện: ngân hàng phải cân nhắc mức này trong mối liên hệ với lượng vàng dự trữ và “sức khỏe” các dự án đầu tư của nó.


When banks loan money to finance productive and profitable endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be generally available. But when the business ventures financed by bank credit are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to improve their profitability before they can obtain credit for further expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the protector of an economy's stability and balanced growth. When gold is accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free international gold standard serves to foster a world-wide division of labor and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all are defined in terms of gold the economies of the different countries act as one — so long as there are no restraints on trade or on the movement of capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns in all countries. For example, if banks in one country extend credit too liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the "easy money" country, inducing tighter credit standards and a return to competitively higher interest rates again.


Khi ngân hàng cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh hiệu quả và mang lại lợi nhuận, ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi lại các khoản cho vay của mình, nhờ vậy tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng và luôn có sẵn ở mức an toàn. Nhưng khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả, ít lợi nhuận và chậm thanh toán các khoản vay, một thời gian không lâu sau ngân hàng nhận thấy dư nợ vượt hơn lượng vàng dự trữ. Lúc này, ngân hàng bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động cho vay của nó – thông thường bằng cách tăng lãi suất cho vay. Kết quả là nguồn vốn dành cho các hoạt động kinh doanh sẽ thu hẹp lại, đồng thời các con nợ hiện tại buộc phải cải thiện hiệu quả kinh doanh trước khi có thể tiếp cận thêm nguồn vốn trong tương lai. Do đó, dưới cơ chế bản vị vàng, hệ thống các ngân hàng tự do sẽ đóng vai trò là người bảo đảm cho sự ổn định và phát triển cân bằng của nền kinh tế. Một khi vàng được công nhận là phương tiện trao đổi ở hầu hết hay toàn bộ các quốc gia trên thế giới, một hệ thống tiêu chuẩn tự do và không bị can thiệp của vàng có tác dụng hỗ trợ quá trình phân công lao động trên toàn cầu và mở rộng thông thương quốc tế. Mặc dù đơn vị trao đổi (đô-la Mỹ, bảng Anh, đồng franc Pháp, vv…) thay đổi ở mỗi nước, trong điều kiện tất cả đều được xác định bởi vàng, nền kinh tế của mọi quốc gia đều vận hành như nhau – miễn là không có rào cản nào đối với thương mại hay sự tách nghẽn dòng lưu thông vốn. Tín dụng, lãi suất, và giá cả có xu hướng giống nhau ở tất cả các quốc gia. Ví dụ, nếu ngân hàng của một nước có chính sách tín dụng quá lỏng lẻo, lãi suất ở quốc gia đó sẽ hạ, qua đó khiến người sở hữu vàng sẽ chuyển sang ngân hàng ở quốc gia có mức lãi suất cao hơn để gửi giữ vàng. Sự chuyển dịch này sẽ nhanh chóng dẫn đến một tình trạng thiếu hụt vàng dự trữ ở quốc gia có chính sách tín dụng lỏng lẻo, lúc này buộc nó phải thắt chặt tín dụng để có thể lấy lại mức lãi suất cao có khả năng cạnh tranh với quốc gia khác.


A fully free banking system and fully consistent gold standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking system in the United States (and in most of the world) was based on gold and even though governments intervened occasionally, banking was more free than controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before they could develop into the post-World War I type of disaster. The readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a sound basis to resume expansion.


Thế giới vẫn chưa thành lập được một hệ thống ngân hàng tự do đầy đủ và một cơ chế bản vị vàng ổn định. Tuy nhiên, trước Thế chiến thứ nhất, hệ thống ngân hàng ở Mỹ (và ở hầu hết các nơi khác trên thế giới) đều dựa trên vàng; và mặc dù thỉnh thoảng vẫn có sự can thiệp của nhà nước, nhìn chung ngành ngân hàng vẫn tự do nhiều hơn là bị kiểm soát. Sau một thời gian nhất định, do tăng trưởng tín dụng quá nhanh, dư nợ chạm mốc giới hạn của mức dự trữ vàng, các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất cho vay lên cao, tín dụng bị cắt giảm, và hệ quả là nền kinh tế bước vào một giai đoạn khủng hoảng sâu tạm thời (so với cuộc khủng hoảng năm 1920 và 1932, tình trạng suy thoái trước Thế chiến thứ nhất ít nghiêm trọng hơn hẳn). Chính nhờ mức giới hạn của lượng vàng dự trữ mà các hoạt động mở rộng kinh doanh mất cân đối đã được kìm hãm lại trước khi chúng trở nên trầm trọng hơn và có thể dẫn đến một thảm họa như hậu Thế chiến thứ nhất. Giai đoạn để các ngân hàng điều chỉnh lại hoạt động tín dụng của chúng tương đối ngắn, do đó nền kinh tế nhanh chóng khôi phục lại một nền tảng ổn định để tiếp tục phát triển.


But the process of cure was misdiagnosed as the disease: if shortage of bank reserves was causing a business decline — argued economic interventionists — why not find a way of supplying increased reserves to the banks so they never need be short! If banks can continue to loan money indefinitely — it was claimed — there need never be any slumps in business. And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of the federal government. Technically, we remained on the gold standard; individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay depositors.

Tuy nhiên, “bài thuốc” chữa trị cũng sai như chính cách căn bệnh được chẩn đoán: nếu sự thiếu hụt lượng vàng dự trữ ở ngân hàng là nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế - theo lập luận của các học giả kinh tế thuộc chủ thuyết can thiệp (economic interventionists) – vậy tại sao không tìm cách nâng mức dự trữ ở các ngân hàng lên để không còn xảy ra tình trạng thiếu hụt? Họ cho rằng nếu các ngân hàng có thể cấp tín dụng không giới hạn, khi đó hoạt động kinh doanh sẽ không bao giờ trì trệ. Và thế là Hệ thống Dự trữ Liên bang đã ra đời vào năm 1913. Hệ thống này được tạo nên bởi 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang vùng, trên danh nghĩa thuộc sở hữu tư nhân nhưng thực tế do nhà nước cấp vốn, kiểm soát và hỗ trợ. Hoạt động cung cấp tín dụng ở các ngân hàng này trên thực tế (tuy không được quy định bằng văn bản pháp lý) có nguồn cung ứng từ tiền thuế của nhà nước liên bang. Về cơ bản, chúng ta vẫn sử dụng bản vị vàng; cá nhân vẫn có thể tự do sở hữu vàng, đồng thời vàng vẫn tiếp tục được dùng làm công cụ dự trữ tại các ngân hàng. Nhưng mặt khác, giờ đây song song với vàng, tín dụng do nhóm ngân hàng Dự trữ Liên bang cung cấp (“dự trữ bằng giấy tờ có giá” – “paper reserves” ) đã trở thành nguồn thanh toán hợp pháp cho các khách hàng gửi giữ vàng.

When business in the United States underwent a mild contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous, however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable). The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates in the United States would fall to a level comparable with those in Great Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political embarrassment of having to raise interest rates. The "Fed" succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of the world, in the process. The excess credit which the Fed pumped into the economy spilled over into the stock market, triggering a fantastic speculative boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by 1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the 1930's.

Khi hoạt động kinh doanh ở Hoa Kỳ thu hẹp nhẹ trong năm 1927, Cục Dự trữ Liên bang đã tạo ra phương thức dự trữ bằng giấy tờ có giá với hi vọng có thể tránh được một tình trạng thiếu hụt dự trữ có thể xảy ra cho các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn, Cục Dự trữ Liên bang còn trợ giúp Anh Quốc – nước vào thời điểm đó đang để mất vàng về tay chúng ta vì Ngân hàng nước Anh nhất quyết không tăng lãi suất theo đúng quy luật thị trường (vì điều này không có lợi về mặt chính trị). Lập luận của những người đứng đầu như sau: nếu Cục Dự trữ Liên bang bơm một lượng lớn dự trữ giấy tờ có giá vào các ngân hàng ở Mỹ, lãi suất trong nước sẽ hạ xuống một mức tương thích với mức lãi suất ở Anh; điều này sẽ giúp nước Anh không để mất vàng nữa, đồng thời tránh được một phen bẽ mặt chính trị vì phải nâng mức lãi suất lên cao. Và “Cục” đã thành công; nước Anh không còn mất vàng, nhưng ngược lại nền kinh tế của cả thế giới đã gần như bị hủy hoại. Lượng tín dụng thừa thãi mà Cục Dự trữ bơm vào nền kinh tế bắt đầu tràn qua thị trường chứng khoán, để rồi tạo ra tâm lý đầu cơ khắp nơi. Một cách muộn màng, các quan chức của Cục Dự trữ Liên bang cố gắng giảm đi lượng dự trữ dư thừa, cuối cùng họ cũng thành công trong việc kìm hãm làn sóng nở rộ của hoạt động đầu cơ. Tuy nhiên mọi chuyện đã quá trễ: đến năm 1929, bất ổn do hoạt động đầu cơ gây ra là quá lớn đến nỗi động thái kiểm soát lượng dự trữ như trên của Cục chỉ làm trầm trọng thêm xu hướng cắt giảm chi tiêu và hệ quả kéo theo là niềm tin đối với hoạt động kinh doanh bốc hơi. Kết cục, nền kinh tế Mỹ sụp đổ hoàn toàn. Tình hình ở Anh còn nghiêm trọng hơn nữa. Thay vì chấp nhận khắc phục hậu quả của những sai sót trước kia, nước này bãi bỏ hoàn toàn cơ chế bản vị vàng vào năm 1931- một quyết định đã xé tan tành những hi vọng còn sót lại và gây nên sự đổ vỡ dây chuyền của các hệ thống ngân hàng toàn cầu. Kinh tế thế giới rơi vào cuộc Đoại Suy thoái trong suốt những năm 1930.


With a logic reminiscent of a generation earlier, statists argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed gold standard"; yet it is gold that took the blame.)

Bằng một lập luận tương tư với thế hệ trước đó, một nhà nghiên cứu tin rằng bản vị vàng chính là nguyên nhân chính gây ra bê bối tín dụng để rồi đến lượt nó dẫn đến cuộc Đại Suy thoái. Họ cho rằng nếu bản vị vàng không tồn tại, khi Anh Quốc bãi bỏ việc thanh toán bằng vàng vào năm 1931, hệ thống ngân hàng của cả thế giới đã không bị sụp đổ như vậy (Điều mỉa mai là, kể từ năm 1913 cho đến nay, thứ chúng ta sử dụng không chỉ có mỗi bản vị vàng, mà đó là sự pha trộn bản vị vàng với các tiêu chuẩn khác; thế nhưng chỉ có vàng mới đáng bị lên án mà thôi.)

But the opposition to the gold standard in any form — from a growing number of welfare-state advocates — was prompted by a much subtler insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which governments confiscate the wealth of the productive members of a society to support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to recognize that if they wished to retain political power, the amount of taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive deficit spending, ie, they had to borrow money, by issuing government bonds, to finance welfare expenditures on a large scale.

Tuy nhiên, dù ở bất kỳ hình thức nào, sự cự tuyệt đối với vàng từ số lượng các tiếng nói đang ngày một lớn dần ủng hộ nhà nước phúc lợi đều xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa khó nhìn thấy hơn: đó là việc họ đã nhận ra bản vị vàng và thâm hụt ngân sách (dấu hiệu đặc trưng của nhà nước phúc lợi) là hai phạm trù không thể đi đôi với nhau. Bỏ qua hết các thuật ngữ bác học, một nhà nước phúc lợi về bản chất không khác gì một cơ chế mà chính phủ sử dụng nhằm tịch thu của cải do các thành viên có ích của xã hội làm ra để cung ứng cho các chương trình phúc lợi. Một số lượng lớn của cải tịch thu đến từ việc đánh thuế. Nhưng những người ủng hộ nhà nước phúc lợi cũng nhanh chóng nhận ra rằng nếu muốn duy trì quyền lực chính trị, các sắc thuế buộc phải hạn chế và do đó, lúc này chính phủ buộc phải chi tiêu thâm hụt ngân sách lớn, như vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ để có thể tài trợ cho các chương trình phúc lợi trên quy mô lớn.


Under a gold standard, the amount of credit that an economy can support is determined by the economy's tangible assets, since every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created paper reserves in the form of government bonds which — through a complex series of steps — the banks accept in place of tangible assets and treat as if they were an actual deposit, ie, as the equivalent of what was formerly a deposit of gold.
Dưới sự điều chỉnh của bản vị vàng, lượng tín dụng mà một nền kinh tế có thể cung cấp được quyết định bởi các tài sản hữu hình của nền kinh tế đó, vì mọi công cụ tín dụng xét cho cùng đều là tuyên bố nắm giữ tài sản hữu hình. Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ không được xác định bởi tài sản hữu hình mà chúng chỉ là lời hứa sẽ chi trả cho người nắm giữ trái phiếu bằng tiền thuế của chính phủ, đồng thời chúng cũng không được thị trường tài chính dễ dàng đón nhận. Chính phủ chỉ có thể bán trái phiếu với số lượng lớn ra công chúng trong điều kiện lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất ngân hàng. Do đó, khi bản vị vàng hiện diện, tình trạng thâm hụt ngân sách được hạn chế xuống mức rất thấp. Ngược lại, việc bãi bỏ bản vị vàng sẽ tạo điều kiện cho phía ủng hộ nhà nước phúc lợi thông qua hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng không giới hạn. Để thực hiện mục tiêu trên, họ đã tạo ra công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá, mà cụ thể là trái phiếu chính phủ. Qua nhiều thủ tục phức tạp, các ngân hàng sẽ chấp nhận loại giấy tờ này như một tài sản gửi giữ thay thế cho vàng.


The holder of a government bond or of a bank deposit created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset. But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets. The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy, prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods purchased by the government for welfare or other purposes with the money proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.


Những người nắm giữ trái phiếu chính phủ hoặc tài khoản gửi giữ (bank deposit) được tạo ra bởi công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá tin rằng họ đang có quyền sở hữu đối với một tài sản thực tế. Tuy nhiên, sự thật là lúc này số lượng giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại vượt hơn rất nhiều so với tài sản thực tế. Con người không thể thao túng quy luật tự nhiên của cung và cầu. Khi nguồn cung vốn (từ các giấy tờ sở hữu) tăng lên tương đối so với nguồn cung các tài sản hữu hình trong nền kinh tế, giá cả cuối cùng sẽ đội lên, khiến cho thu nhập của các thành viên làm ra của cải trong xã hội sụt giảm giá trị so với hàng hóa. Sau khi nền kinh tế đã cân bằng trở lại, người ta nhận thấy rằng giá trị đã mất lúc này nằm ở lượng hàng hóa được chính phủ mua lại thông qua chương trình phúc lợi hoặc một số chương trình khác bằng tiền lãi thu được từ các khoản cho vay của nhóm ngân hàng được tài trợ bởi trái phiếu chính phủ.


In the absence of the gold standard, there is no way to protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store of value. If there were, the government would have to make its holding illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example, to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits would lose their purchasing power and government-created bank credit would be worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.


Khi không có sự điều chỉnh của bản vị vàng, sẽ không có cách nào bảo vệ thu nhập của xã hội khỏi tình trạng tịch thu của cải từ chính phủ trong thời kỳ lạm phát, cũng như sẽ không có một công cụ dự trữ giá trị an toàn. Giả sử nếu có, chính phủ rồi sẽ buộc phải bãi bỏ nó như đã làm với vàng. Đặt trường hợp nếu tất cả mọi người quyết định chuyển đổi tài khoản gửi giữ của mình thành bạc, đồng đỏ hay một loại hàng hóa nào khác và sau đó từ chối chấp nhận séc thanh toán cho hàng hóa, khi ấy tài khoản gửi giữ sẽ mất đi khả năng thanh toán, còn tín dụng ngân hàng do chính phủ tạo ra sẽ không còn giá trị đối với hàng hóa. Chính sách tài khóa của một nhà nước phúc lợi luôn đi đôi với tình trạng thiếu biện pháp tự bảo vệ của các chủ sở hữu của cải trong xã hội.


This is the shabby secret of the welfare statists' tirades against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in understanding the statists' antagonism toward the gold standard.

Đây chính là bí mật xấu xí của phe ủng hộ nhà nước phúc lợi và cự tuyệt vàng. Nói một cách đơn giản, chính sách chi tiêu thâm hụt ngân sách là một cơ chế tịch thu của cải xã hội. Vàng chính là vật cản ngăn chặn quá trình ngấm ngầm này, đồng thời nó cũng đóng vai trò bảo vệ cho quyền sở hữu. Nếu hiểu được điều này, sẽ không khó để một người nhìn ra nguyên nhân vì sao nhà nước phúc lợi lại nhất quyết “không đội trời chung” với vàng đến thế.




Published in Ayn Rand's "Objectivist" newsletter in 1966, and reprinted in her book, Capitalism: The Unknown Ideal , in 1967.

Bài viết được in trong thư ngỏ “Chủ nghĩa khách quan” của Ayn Rand vào năm 1966 và được tái bản trong tác phẩm Capitalism: The Unknown Ideal của bà vào năm 1967.


Translated by Alex Truong and edited by Nguyễn Công Huân






Ghi chú của nhóm dịch giả

[1] "Statist" là những người theo chủ nghĩa nhà nước ( statism ). Những người này ủng hộ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, và họ cho rằng nhà nước phải kiểm soát và có những kế hoạch đối với nền kinh tế. Ngược lại với chủ nghĩa nhà nước là những chủ nghĩa thị trường tự do (laissez-faire), những người theo chủ nghĩa thị trường tự do ủng hộ một thị trường tự điều chỉnh mà không có sự can thiệp của nhà nước.

[2] Bản vị vàng (gold standard) là hệ thống tiền tệ sử dụng vàng làm đơn vị tiền tệ gốc, tiêu chuẩn.





Saturday, January 19, 2013

Red riding hood Cô gái áo choàng đỏ





Red riding hood

Cô gái áo choàng đỏ

Je suis Caroline, photographe et rêveuse. Bienvenue sur mon blog où je partage mes travaux récents: voyages imaginaires dans le monde de l'enfance, explorations du féminin, et bonheurs du quotidien... Entrez, prenons une tasse de thé, et rêvons!

“Once upon a time there was a girl who lived on the outskirts of the forest. She was lively and bright, and she wore a red cloak, for that way if she ever went astray she would always stand out against the trees and the bushes. As the years went by, and she became more woman than girl, she grew more and more beautiful. many men wanted her for their bride, but she turned them all down. None was good enough for her, for she was cleverer than every man she met and they presented no challenge to her.

I am Caroline, photographer and dreamer. Welcome to my blog where I share my recent work: imaginary travels into the world of childhood, explorations of feminity, and daily happiness. Come in, let's have a cup of tea and dream together!

"Nghe kể rằng ngày xưa xưa lắm có một cô gái sống nơi ven rừng. Cô gái trông sống động, tươi sáng, và luôn mặc một chiếc áo choàng màu đỏ, nhờ cách đó nếu cô có đi đi lạc lối, cô cũng sẽ luôn luôn nổi bật lên trên màu cây lá. Nhiều năm trôi qua, và khi cô đã ra dáng phụ nữ nhiều hơn con gái, thì càng ngày càng xin đẹp hơn, nhiều chàng muốn có cô làm cô dâu, nhưng cô từ chối tất cả bọn họ. Không ai xứng đáng với , vì cô thông minh hơn tất cả những người đàn ông cô đã gặp và họ đã không thể hiện chút bản lĩnh nào trước cô cả.



Her grandmother lived in a cottage in the forest, and the girl would visit her often, bringing her baskets of bread and meat and staying with her for a time. While her grandmother slept, the girl would wander among the trees, tasting the wild berries and strange fruits of the woods. One day, as she walked in a dark grove, a wolf came.
Bà ngoại cô sống trong một ngôi nhà nhỏ trong rừng, và cô gái thường tới thăm bà đều đặn, mang theo giỏ bánh mì và thịt và ở lại với bà một thời gian. Trong khi bà ngoại ngủ, cô gái hay đi lang thang giữa rừng, nếm các loại quả dại và trái cây kỳ lạ trong rừng. Một ngày nọ, khi cô bước vào một khu rừng tối, một con chó sói xuất hiện.



It was wary of her and tried to pass without being seen, but the girl’s senses were too acute. She saw the wolf, and looked into its eyes and fell in love with the strangeness of it.

Con sói cảnh giác trước gái đã tìm cách đi qua không bị cô gái phát hiện, nhưng các giác quan của cô gái đã quá tinh nhạy. thấy chàng sói, nhìn vào đôi mắt của và ngay lập tức yêu cái dáng vẻ kì lạ của .



When it turned away, she followed it, traveling deeper into the forest than she had ever gone before. The wolf tried to lose her in places where there were no trails to follow, no paths to be seen, but the girl was too quick for it, and mile after mile the chase continued. At last, the wolf grew weary of the pursuit, and it turned to face her. It bared its fangs and growled a warning, but she was not afraid.


Khi quay đi, cô gái đi theo sau,đi sâu vào rừng tới những nơi chưa từng biết. Con sói đã cố gắng để thoát khỏi cô gái ở những nơi có không con đường mòn nào để đi theo, không dấu chân để lần theo, nhưng cô gái đã quá nhanh chóng học được điều đó, và từ dặm đường này đến dặm đường kia cô tiếp tục đuổi theo. Cuối cùng, sói ta mệt mỏi trước sự săn đuổi của nàng, và nó quay lại đối mặt với nàng. nhe nanh vuốt gầm lên lời cảnh báo, nhưng nàng không hề sợ hãi.



Lovely wolf… she whispered. You have nothing to fear from me.
She reached out her hand and placed it upon the wolf’s head. She ran her fingers through its fur and calmed it. And the wolf saw what beautiful eyes she had (all the better to see him with) , and what gentle hands (all the better to stroke him with). the girl leaned forward, and she kissed the wolf. She cast off her red cloak and put her basket of flowers aside, and she lay with the animal.”

Chàng sói đáng yêu ơi... gái thì thầm. Chàng không có gì phải sợ tôi đâu
Cô đưa tay đặt lên đầu sói. lướt những ngón tay của mình luồn qua lớp lông chàng sói và khiến nó bình tĩnh. chàng sói nhìn thấy đẹp mắt cô gái đẹp ôi là đẹp (nhất là khi đôi mắt ấy lại ngắm nhìn mình), bàn tay nhẹ nhàng biết bao (nhất là khi đôi tay lại vuốt ve mình). cô gái nghiêng người về phía trước, hôn chàng sói. Nàng cởi chiếc áo choàng đỏ của mình và đặt giỏ hoa sang một bên, và thả mình bên chàng sói. "




Ce jour là, le rêve, c’était…
Se lever si tôt que nous étions seuls dans les rues sombres et endormies de Paris.
Partir sur nos vélos, le long du canal, dans le noir et le froid, dans une course avec le soleil, pour arriver avant, pour être les premiers, pour voir la forêt s’éveiller.
Sentir les feuilles, les branches, craquer sous nos pieds. Trouver dans nos sacs cette couverture rouge, voir tout à coup du sens, un clin d’oeil.
Une fois passé le froid, la forêt, nos sourires émerveillés, nos rires, une fois passée l’incongruité, une fois passée l’inspiration. Une fois rentrés.
Voir du sens, après. Se déstabiliser. Penser aux loups de nos vies.
Lire ce passage du roman de John Connoly ( The book of Lost Things, le livre des choses perdues.) et sourire, et penser à elle, à nous, à la forêt et au rouge, penser à notre force, et se demander qui de la jeune fille ou du loup attrappe l’autre dans le filet de son regard.
Penser aux femmes qui courent avec les loups. Penser à la femme sauvage.
Et avoir confiance.
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông, trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua, một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và tự hỏi liệu  có những người thực sự quyến rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy lẫn nhau.



That day the dream was…
To get up so early that we were alone, out in the dark, sleepy streets of Paris.
To leave on our bikes, along the river, in the dark and cold, in a race against the sun, to get there first, to see the forest wake.
Feel the leaves, the twigs, cracking under our feet. Finding the red blanket in our bag and suddenly seeing a tale.
And once the cold was over, once we were done with the forest, with the smiles, with the strangeness and the inspiration. With the exhilaration. Once we were back.
Seeing meaning then, feeling uneasy. Thinking of the wolves in our lives, how they’d crept in.
Coming across this passage in John Connoly’s novel (the book of lost things), and smiling, and thinking of her, of us, of the forest and of the red, thinking of our strength.
Thinking of the girl and the wolf, and wonder who really catches the other with their eyes.
Thinking of women running with wolves.
Thinking of the wild woman.
Trusting ourselves and each other.
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông, trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua, một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và tự hỏi liệu  có những người thực sự quyến rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy lẫn nhau.








Monday, January 14, 2013

The Life of the Party Vận mệnh của Đảng




The Life of the Party

Vận mệnh của Đảng
FOREIGN AFFAIRS
January/February 2013
ESSAY

FOREIGN AFFAIRS
tháng 1/2 năm 2013
TIỂU LUẬN
The Post-Democratic Future Begins in China
ERIC X. LI is a venture capitalist and political scientist in Shanghai.

Tương lai Hậu-Dân chủ manh nha ở Trung Quốc
Eric X. Li là nhà đầu tư mạo hiểm và nhà nghiên cứu chính trị tại Thượng Hải
In November 2012, the Chinese Communist Party (CCP) held its 18th National Congress, setting in motion a once-in-a-decade transfer of power to a new generation of leaders. As expected, Xi Jinping took over as general secretary and will become the president of the People's Republic this March. The turnover was a smooth and well-orchestrated demonstration by a confidently rising superpower. That didn't stop international media and even some Chinese intellectuals, however, from portraying it as a moment of crisis. In an issue that was published before the beginning of the congress, for example, The Economist quoted unnamed scholars at a recent conference as saying that China is "unstable at the grass roots, dejected at the middle strata and out of control at the top." To be sure, months before the handover, the scandal surrounding Bo Xilai, the former party boss of the Chongqing municipality, had shattered the CCP's long-held facade of unity, which had underwritten domestic political stability since the Tiananmen Square upheavals in 1989. To make matters worse, the Chinese economy, which had sustained double-digit GDP growth for two decades, slowed, decelerating for seven straight quarters. China's economic model of rapid industrialization, labor-intensive manufacturing, large-scale government investments in infrastructure, and export growth seemed to have nearly run its course. Some in China and the West have gone so far as to predict the demise of the one-party state, which they allege cannot survive if leading politicians stop delivering economic miracles.

Tháng 11 năm 2012, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã tổ chức Đại hộ Toàn quốc lần thứ 18, thiết lập động tác một lần trong một thập kỷ chuyển giao quyền lực cho một thế hệ mới của các nhà lãnh đạo. Như dự kiến, ông Tập Cận Bình đã nắm chức tổng bí thư và sẽ trở thành chủ tịch của Cộng hòa Nhân dân trong tháng Ba. Chuyển giao quyền lực đã được tiến hành êm thấm, nhẹ nhàng bởi một siêu cường đang lên đầy tự tin. Tuy nhiên, điều đó không ngăn các phương tiện truyền thông quốc tế và thậm chí cả một số trí thức Trung Quốc mô tả nó như là một thời điểm khủng hoảng. Ví dụ, trong một số báo được xuất bản trước khi bắt đầu Đại hội, tờ Nhà Kinh tế đã dẫn lời học giả giấu tên tại một hội nghị gần đây nói rằng Trung Quốc là "không ổn định ở cấp cơ sở, thất vọng ở tầng lớp trung lưu và ngoài tầm kiểm soát ở tần chóp bu." Điều này chắc chắn là đúng khi, vài tháng trước khi chuyển giao, vụ bê bối xung quanh Bạc Hy Lai, ông cựu bí thư đảng của thành phố Trùng Khánh, đã hé lộ bộ mặt lâu nay có vẻ đoàn kết của ĐCSTQ, vốn đã bảo đảm ổn định chính trị trong nước kể từ cuộc biến động ở Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Vấn đề tồi tệ hơn, khi nền kinh tế Trung Quốc, vốn duy trì tăng trưởng GDP hai con số suốt hai thập kỷ, đã bị chậm lại, giảm xuống còn chỉ 7.4. Mô hình kinh tế công nghiệp hóa nhanh chóng, sản xuất thâm dụng lao động, các khoản đầu tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng quy mô lớn, và tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc dường như đã tới cùng đường. Một số người ở Trung Quốc và phương Tây còn đi xa khi dự đoán sự sụp đổ của nhà nước độc đảng, mà họ cáo buộc không thể tồn tại nếu các chính trị gia hàng đầu ngừng tạo ra các phép lạ kinh tế.


Such pessimism, however, is misplaced. There is no doubt that daunting challenges await Xi. But those who suggest that the CCP will not be able to deal with them fundamentally misread China's politics and the resilience of its governing institutions. Beijing will be able to meet the country's ills with dynamism and resilience, thanks to the CCP's adaptability, system of meritocracy, and legitimacy with the Chinese people. In the next decade, China will continue to rise, not fade. The country's leaders will consolidate the one party model and, in the process, challenge the West's conventional wisdom about political development and the inevitable march toward electoral democracy. In the capital of the Middle Kingdom, the world might witness the birth of a post-democratic future.

Bi quan như vậy, tuy nhiên, là không đúng. Không thể nghi ngờ rằng những thách thức khó khăn đang chờ đợi ông Tập. Tuy nhiên, những người cho rằng rằng ĐCSTQ sẽ không thể đối phó với chúng một cách cơ bản đã nhận định sai chính trị Trung Quốc và khả năng phục hồi của các thể chế cầm quyền. Bắc Kinh sẽ có thể đối phó với những yếu kém của đất nước bằng tính năng động và khả năng phục hồi, nhờ vào khả năng thích ứng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hệ thống chế độ nhân tài, và tính chính danh của đảng với người dân Trung Quốc. Trong thập kỷ tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng, không lụi tàn. Các nhà lãnh đạo của đất nước sẽ củng cố mô hình độc đảng, và trong quá trình này, họ sẽ thách thức sự khôn ngoan thông thường của phương Tây về phát triển chính trị và chắc chắn hướng tới dân chủ thông qua bầu cử. Tại thủ đô của Vương Triều, thế giới có thể chứng kiến ​​sự ra đời của một tương lai hậu dân chủ.

ON-THE-JOB LEARNING
The assertion that one-party rule is inherently incapable of self-correction does not reflect the historical record. During its 63 years in power, the CCP has shown extraordinary adaptability. Since its founding in 1949, the People's Republic has pursued a broad range of economic policies. First, the CCP initiated radical land collectivization in the early 1950s. This was followed by the policies of the Great Leap Forward in the late 1950s and the Cultural Revolution in the late 1960s to mid-1970s. After them came the quasi-privatization of farmland in the early 1970s, Deng Xiaoping's market reforms in the late 1970s, and Jiang Zemin's opening up of the CCP's membership to private businesspeople in the 1990s. The underlying goal has always been economic health, and when a policy did not work-for example, the disastrous Great Leap Forward and Cultural Revolution-China was able to find something that did: for example, Deng's reforms, which catapulted the Chinese economy into the position of second largest in the world.

VỪA LÀM VỪA HỌC HỎI
Sự khẳng định rằng chế độ độc đảng vốn đã không có khả năng tự sửa chữa không phản ánh ghi nhận lịch sử. Trong suốt 63 năm cầm quyền, ĐCSTQ đã thể hiện khả năng thích ứng phi thường. Kể từ khi thành lập vào năm 1949, Cộng hòa Nhân dân đã theo đuổi một loạt các chính sách kinh tế. Đầu tiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tập thể hóa đất đai triệt để trong đầu những năm 1950. Tiếp theo đó là các chính sách của Đại nhảy vọt cuối những năm 1950 và cuộc Cách mạng văn hóa vào cuối những năm 1960 đến giữa những năm 1970. Sau đó là đến nửa tư nhân hóa đất nông nghiệp vào những năm 1970, cải cách thị trường cuối những năm 1970, và việc Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân mở cửa để các thành viên của ĐCSTQ trở thành các doanh nhân tư nhân trong những năm 1990. Mục tiêu cơ bản luôn luôn là sự lành mạnh của nền kinh tế, và khi một chính sách không hiệu quả, ví dụ, các chính sách thảm họa Đại nhảy vọt và Cách mạng văn hóa, thì Trung Quốc là có thể tìm thấy cái khác có tác dụng để thay vào: ví dụ, cải cách của Đặng Tiểu Bình đã làm bệ phóng cho nền kinh tế Trung Quốc vào bay vào vị trí lớn thứ hai trên thế giới.

On the institutional front as well, the CCP has not shied away from reform. One example is the introduction in the 1980s and 1990s of term limits for most political positions (and even of age limits, of 68–70, for the party's most senior leadership). Before this, political leaders had been able to use their positions to accumulate power and perpetuate their rules. Mao Zedong was a case in point. He had ended the civil wars that had plagued China and repelled foreign invasions to become the father of modern China. Yet his prolonged rule led to disastrous mistakes, such as the Cultural Revolution. Now, it is nearly impossible for the few at the top to consolidate long-term power. Upward mobility within the party has also increased.

Về bình diện thể chế cũng thế, ĐCSTQ đã không tránh cải cách. Một ví dụ là đưa vào áp dụng vào những năm 1980 và 1990 giới hạn nhiệm kỳ cho hầu hết các vị trí chính trị (và ngay cả giới hạn tuổi, 68-70, lãnh đạo nhất cao cấp của đảng). Trước đó, các nhà lãnh đạo chính trị đã có thể sử dụng vị trí của họ để tập trung quyền lực và duy trì các quy định của họ. Mao Trạch Đông là một trường hợp rõ nhất. Ông đã kết thúc các cuộc nội chiến hoành hành Trung Quốc và đã đẩy lùi xâm lược nước ngoài để trở thành người sáng lập Trung Quốc hiện đại. Tuy nhiên, sự trị vì kéo dài của ông ta đã dẫn đến những sai lầm tai hại, chẳng hạn như Cách mạng Văn hóa. Bây giờ, nó gần như là một ít người ở phía trên không thể củng cố quyền lực lâu dài. Thăng tiến trong nội bộ đảng cũng đã tăng lên.

In terms of foreign policy, China has also changed course many times to achieve national greatness. It moved from a close alliance with Moscow in the 1950s to a virtual alliance with the United States in the 1970s and 1980s as it sought to contain the Soviet Union. Today, its pursuit of a more independent foreign policy has once more put it at odds with the United States. But in its ongoing quest for greatness, China is seeking to defy recent historical precedents and rise peacefully, avoiding the militarism that plagued Germany and Japan in the first half of the last century.

Về chính sách đối ngoại, Trung Quốc cũng đã đổi hướng nhiều lần để đạt được tầm vóc vĩ đại của quốc gia. Nó chuyển từ một liên minh chặt chẽ với Moscow trong những năm 1950 thành một đồng minh ảo với Hoa Kỳ trong những năm 1970 và 1980 khi nó tìm cách kìm hãm Liên Xô. Ngày nay, việc theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập hơn một lần nữa đặt nó vào vị trí xung đột với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong khi tiếp tục tìm kiếm địa vị nước lớn, Trung Quốc đang tìm cách thách thức tiền lệ lịch sử gần đây và trổi dậy một cách hòa bình, tránh chủ nghĩa quân phiệt mà đã hoành hành nước Đức và Nhật Bản trong nửa đầu của thế kỷ trước.

As China undergoes its ten-year transition, calls at home and abroad for another round of political reform have increased. One radical camp in China and abroad is urging the party to allow multiparty elections or at least accept formal intraparty factions. In this view, only full-scale adversarial politics can ensure that China gets the leadership it needs. However sincere, these demands all miss a basic fact: the CCP has arguably been one of the most self-reforming political organizations in recent world history. There is no doubt that China's new leaders face a different world than Hu Jintao did when he took over in 2002, but chances are good that Xi's CCP will be able to adapt to and meet whatever new challenges the rapidly changing domestic and international environments pose. In part, that is because the CCP is heavily meritocratic and promotes those with proven experience and capabilities.

Khi Trung Quốc trải qua quá trình chuyển đổi mười năm, những lời kêu gọi trong và ngoài nước về một đợt cải cách chính trị đã tăng lên. Một phe cấp tiến ở Trung Quốc và nước ngoài đang thúc giục đảng cho phép tổ chức bầu cử đa đảng, hoặc ít nhất là chấp nhận các phe phái trong nội bộ chính đảng. Theo quan điểm này, chỉ có chính trị có đối lập đầy đủ mới có thể đảm bảo rằng Trung Quốc tìm được các nhà lãnh đạo cần thiết. Tuy nhiên, thành thực mà nói, tất cả những đòi hỏi đều bỏ lỡ một thực tế cơ bản: ĐCSTQ đã được cho là một trong những tổ chức biết tự cải cách chính trị nhất trong lịch sử thế giới gần đây. Không có gì nghi ngờ rằng lãnh đạo mới của Trung Quốc phải đối mặt với một thế giới khác hơn so với Hồ Cẩm Đào, khi ông lên cầm quyền vào năm 2002, nhưng có cơ hội tốt là ồn Tập của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có thể thích ứng và đáp ứng bất cứ áp đặt nào của các thách thức mới do sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế tạo ra. Một phần, đó là vì ĐCSTQ là rất trọng nhân tài và nâng đỡ những người tỏ rõ có kinh nghiệm và khả năng.

MAKING THE GRADE
China watchers in the West have used reports of corruption-compounded by sensational political scandals such as the Bo Xilai affair-to portray the ruling party as incurably diseased. The disease exists, to be sure, but the most important treatment is the party itself. As counterintuitive as it might seem to Westerners, the CCP, whose political preeminence is enshrined in the Chinese constitution, is one of the most meritocratic political institutions in the world.

TIẾN BỘ
Các nhà quan sát Trung Quốc ở phương Tây đã sử dụng các báo cáo về tham nhũng bị phức tạp hóa bởi các vụ bê bối chính trị giật gân như chuyện Bạc Hy Lai để miêu tả, đảng cầm quyền đang mắc bệnh nan y vô phương cứu chữa. Chắc chắn là bệnh này có thật nhưng điều trị quan trọng nhất là chính bản thân đảng. Có vẻ như trái với trực giác của người phương Tây, ĐCSTQ, mà tính ưu việt chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp Trung Quốc, là một trong những thể chế chính trị trọng nhân tài nhất trên thế giới.

Of the 25 members that made up the pre-18th-Congress Politburo, the highest ruling body of the CCP, only five (the so-called princelings) came from privileged backgrounds. The other 20, including the president, Hu, and the premier, Wen Jiabao, came from middle- or lower-class backgrounds. In the CCP's larger Central Committee, which was made up of more than 300 people, the percentage of people born into wealth and power was even smaller. The vast majority of those in government worked and competed their way through the ranks to the top. Admittedly, the new general secretary, Xi, is the son of a previous party leader. However, an overwhelming number of those who moved up the ranks this past fall had humbler beginnings.

Trong số 25 thành viên Bộ Chính trị trước đại hội 18, cơ quan cầm quyền cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chỉ có năm (người gọi là thái tử đảng) nguồn gốc đặc quyền. 20 người kia, bao gồm cả Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, xuất thân từ các tần lớp trung bình hoặc thấp hơn. Trong Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc lớn hơn, bao gồm hơn 300 người, tỷ lệ phần trăm của những người sinh ra giới giàu có và quyền lực thậm chí còn nhỏ hơn. Đại đa số những người trong chính phủ làm việc và cạnh tranh theo các cấp bậc để tiến lên đỉnh cao. Phải thừa nhận rằng, Tổng bí thư mới, ông Tập, là con trai của một lãnh đạo đảng trước kia. Tuy nhiên, một số lượng áp đảo của những người thăng cấp mùa thu vừa qua đều có khởi đầu khiêm tốn.

So how does China ensure meritocracy? At the heart of the story is a powerful institution that is seldom studied in the West, the Organization Department of the CCP. This department carries out an elaborate process of bureaucratic selection, evaluation, and promotion that would be the envy of any corporation. Patronage continues to play a role, but by and large, merit determines who will rise through the ranks.


Vì vậy, làm thế nào để Trung Quốc đảm bảo chế độ nhân tài? Trung tâm của câu chuyện là một thể chế mạnh mẽ mà hiếm khi được nghiên cứu ở phương Tây: Ban Tổ chức của ĐCSTQ. Bộ phận này tiến hành một quá trình công phu để lựa chọn, đánh giá và thăng cấp các chức vụ mà bất kỳ công ty nào cũng phải ghen tị. Bảo trợ tiếp tục đóng một vai trò, nhưng phần lớn, công lao xác định những người sẽ tiến thân qua các cấp bậc.

Every year, the government and its affiliated organizations recruit university graduates into entry-level positions in one of the three state-controlled systems: the civil service, state-owned enterprises, and government-affiliated social organizations such as universities or community programs. Most new recruits enter at the lowest level, or ke yuan. After a few years, the Organization Department reviews their performance and can promote them up through four increasingly elite managerial ranks: fu ke, ke, fu chu, and chu. The range of positions at these levels is wide, covering anything from running the health-care system in a poor village to attracting commercial investment in a city district. Once a year, the Organization Department reviews quantitative performance records for each official in each of these grades; carries out interviews with superiors, peers, and subordinates; and vets personal conduct. Extensive and frequent public opinion surveys are also conducted on questions ranging from satisfaction with the country's general direction to opinions about more mundane and specific local policies. Once the department has gathered a complete dossier on all the candidates, and has confirmed the public's general satisfaction or dissatisfaction with their performances, committees discuss the data and promote winners.

Hàng năm, chính phủ và các tổ chức liên quan tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học của nó vào vị trí khởi đầu trong một trong ba hệ thống do nhà nước kiểm soát: các dịch vụ dân sự, doanh nghiệp nhà nước, và các tổ chức xã hội thuộc Chính phủ, chẳng hạn như các trường đại học hoặc các chương trình cộng đồng. Hầu hết các tân binh mới gia nhập ở mức lương thấp nhất, hoặc mức khởi điểm. Sau một vài năm, Ban tổ chức đánh giá hiệu suất của họ và có thể thăng cấp cho họ thông qua bốn cấp bậc quản lý  ưu tú: fu ke, ke, fu chu và chu. Phạm vi của các vị trí ở các mức độ này khá rộng, bao gồm từ điều hành hệ thống chăm sóc sức khỏe tại một làng quê nghèo đến thu hút đầu tư thương mại ở một huyện thành phố. Mỗi năm một lần, Ban tổ chức đánh giá thành tích công tác định lượng của mỗi cán bộ theo một trong bốn mức trên, thực hiện các cuộc phỏng vấn với cấp trên, đồng nhiệm và cấp dưới, và đánh giá hạnh kiểm cá nhân. Khảo sát ý kiến ​​công chúng rộng rãi và thường xuyên cũng được tiến hành theo các câu hỏi khác nhau, từ sự hài lòng với phương hướng chung của đất nước đến cho ý kiến ​​về chính sách địa phương sát sao và cụ thể hơn. Sau khi ban này đã thu thập đầy đủ hồ sơ về tất cả các ứng cử viên, và đã khẳng định sự hài lòng của công chúng nói chung hoặc không hài lòng với màn thành tích công tác của họ, các ủy ban thảo luận về dữ liệu và thăng cấp cho người chiến thắng.

After this stage, public employees' paths diverge, and individuals can be rotated through and out of all three tracks (the civil service, state-owned enterprises, and social organizations). An official might start out working on economic policy and then move to a job dealing with political or social issues. He or she could go from a traditional government position to a managerial role in a state-owned enterprise or a university. In many cases, the Organization Department will also send a large number of promising officials abroad to learn best practices around the world. The likes of Harvard University's Kennedy School of Government and the National University of Singapore regularly host Chinese officials in their training programs.

Sau giai đoạn này, 'con đường công chức phân kỳ, và các cá nhân có thể được luân chuyển qua cả ba lãnh vực (dịch vụ dân sự, doanh nghiệp nhà nước, và các tổ chức xã hội). Một quan chức có thể bắt đầu làm việc về chính sách kinh tế và sau đó chuyển sang công việc giải quyết các vấn đề chính trị hay xã hội. Người này có thể đi từ một vị trí truyền thống trong chính phủ với vai trò quản lý trong một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc một trường đại học. Trong nhiều trường hợp, Ban tổ chức cũng sẽ gửi một số lượng lớn các quan chức có tiềm năng hứa hẹn ra nước ngoài để tìm hiểu các hoạt động tốt nhất trên thế giới. Các trường như Chính phủ học Kennedy thuộc Đại học Harvard và Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên có các quan chức Trung Quốc trong các chương trình đào tạo của họ.

Over time, the most successful workers are promoted again, to what are known as the fu ju and ju levels, at which point a typical assignment is to manage districts with populations in the millions or companies with hundreds of millions of dollars in revenues. To get a sense of how rigorous the selection process is, in 2012, there were 900,000 officials at the fu ke and ke levels and 600,000 at the fu chu and chu levels. There were only 40,000 at the fu ju and ju levels.

Theo thời gian, các nhân viên thành công nhất được thăng tiến lần nữa tới các mức ju fu và ju, mà ở mức này một nhiệm vụ điển hình là quản lý các huyện với dân số hàng triệu người hoặc các công ty với doanh thu hàng trăm triệu đô la. Để có được một hình dung về quá trình lựa chọn khắt khe như thế nào, hãy xem  năm 2012, có 900.000 quan chức tại mức ke fu và ke  và 600.000 chu fu và chu. Chỉ có 40.000 ở mức ju fu và ju.
After the ju level, a very talented few move up several more ranks and eventually make it to the party's Central Committee. The entire process could take two to three decades, and most of those who make it to the top have had managerial experience in just about every sector of Chinese society. Indeed, of the 25 Politburo members before the 18th Party Congress, 19 had run provinces larger than most countries in the world and ministries with budgets higher than that of the average nation's government. A person with Barack Obama's pre-presidential professional experience would not even be the manager of a small county in China's system.

Sau khi mức ju, một vài người rất tài năng leo lên nhiều cấp và cuối cùng tìm đường vào Ủy ban Trung ương đảng. Toàn bộ quá trình có thể mất 2-3 thập kỷ, và hầu hết những người đạt đến đỉnh cao đã có kinh nghiệm quản lý hầu như trong mọi lĩnh vực của xã hội Trung Quốc. Thật vậy, trong số 25 thành viên Bộ Chính trị trước khi Đại hội Đảng 18, 19 đã từng lãnh đạo các tỉnh lớn hơn so với hầu hết các nước trên thế giới và các Bộ, với ngân sách cao hơn ngân sách của chính phủ các quốc gia trung bình. Một người với kinh nghiệm chuyên môn như của Barack Obama trước khi làm tổng thống hẳn sẽ không làm được người quản lý của một quận nhỏ trong hệ thống của Trung Quốc.

Xi's career path is illustrative. Over the course of 30 years, Xi rose from being a fu ke level deputy county chief in a poor village to party secretary of Shanghai and a member of the Politburo. By the time he made it to the top, Xi had already managed areas with total populations of over 150 million and combined GDPs of more than $1.5 trillion. His career demonstrates that meritocracy drives Chinese politics and that those who end up leading the country have proven records.

Con đường sự nghiệp của ông Tập một đẫn chứng minh họa. Trong suốt 30 năm, ông Tập thăng tiến từ mức ke fu Phó huyện trưởng trong một làng nghèo tới Bí thư Thượng Hải và là một thành viên của Bộ Chính trị. Trước khi ông đạt đến đỉnh cao, ông đã quản lý khu vực có dân số tổng cộng hơn 150 triệu và tổng GDP hơn 1,5 nghìn tỷ USD. Sự nghiệp của ông thể hiện rằng chế độ nhân tài đã thúc đẩy chính trị Trung Quốc và rằng những người lãnh đạo đất nước đều có thành tích đã được chứng minh.

INNOVATE OR STAGNATE

China's centralized meritocracy also fosters government entrepreneurship. The practice of conducting top-down policy experiments in select locales and expanding the successful ones nationwide is well documented. The best-known example is Deng's creation of "special economic zones" in the 1980s. The first such zone was in Shenzhen. The district was encouraged to operate under market principles rather than the dictates of central planners. Shenzhen's economy grew rapidly, which prompted the central government to replicate the program in the cities of Zhuhai and Shantou, in Guangdong Province; Xiamen, in Fujian Province; and throughout Hainan Province.

ĐI MỚI HAY TRÌ TR

Chế độ nhân tài tập trung của Trung Quốc cũng thúc đẩy tinh thần kinh doanh của chính phủ. Việc thực hành tiến hành thí nghiệm chính sách từ trên xuống dưới trong địa phương lựa chọn rồi nhân rộng những thành công ra trên toàn quốc cũng là đã được đúc rút tốt. Ví dụ nổi tiếng nhất là Đặng Tiểu Bình đã tạo ra các "đặc khu kinh tế" trong những năm 1980. Vùng đầu tiên tại Thâm Quyến. Huyện này đã được khuyến khích để hoạt động theo nguyên tắc thị trường chứ không phải là mệnh lệnh của người lập kế hoạch. Kinh tế Thâm Quyến đã tăng trưởng nhanh chóng, khiến chính quyền trung ương phải nhân rộng chương trình này tại các thành phố Chu Hải và Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông, Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, và trên toàn tỉnh Hải Nam.

There are also thousands of policy experiments that rise up from the local level. The competitive government job market gives capable local officials incentives to take risks and differentiate themselves from the pack. Among the 2,326 party representatives who attended the 18th Party Congress, one such standout was Qiu He, who is vice party secretary of Yunnan Province. At the congress, Qiu was selected as an alternate member of the Central Committee, putting the 55-year-old maverick near the top of the nation's political establishment. Qiu is the ultimate political entrepreneur. Born into poverty in rural China, Qiu watched two of his eight siblings die of childhood illness and malnutrition. After taking the national college entrance exam, China's great equalizer, he was able to attend university. When he entered the work force, he held several low-level civil service jobs before being appointed party secretary of Shuyang County, in northern Jiangsu Province, in the 1990s. With a peasant population of 1.7 million and an annual per capita GDP of only $250 (less than one-fifth the national average), Shuyang was one of the poorest rural areas in the country. The county also suffered from the worst crime rate in the region and endemic government corruption.

Ngoài ra còn có hàng ngàn chính sách thí điểm xuất phát từ cấp địa phương. Thị trường việc làm của Chính phủ cạnh tranh khuyến khích các quan chức địa phương có năng lực chấp nhận rủi ro và phân biệt mình với các đồng nghiệp khác. Trong số 2.326 đại biểu tham dự Đại hội Đảng lần thứ 18, một trong những người nổi bật là Qiu He, phó bí thư đảng ủy  tỉnh Vân Nam. Tại Đại hội, Qiu đã được chọn làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, khiến người đàn ông 55 tuổi này ngấp nghé ban lãnh đạo chính trị của quốc gia. Qiu là doanh nhân làm chính trị có tiếng. Sinh ra trong nghèo đói ở nông thôn Trung Quốc, Qiu đã chứng kiến hai trong tám anh chị em ruột của mình chết vì bệnh tật và suy dinh dưỡng thời thơ ấu. Sau khi tham dự kỳ thi vào đại học quốc gia, thước đo quan trọng của Trung Quốc, ông đã có thể theo học đại học. Khi ông bước vào lực lượng lao động, ông giữ các chức vụ cấp thấp trong dịch vụ dân sự trước khi được bổ nhiệm làm bí thư đảng vùng Shuyang, ở phía bắc tỉnh Giang Tô, trong những năm 1990. Với dân số nông dân của 1,7 triệu và GDP bình quân đầu người hàng năm chỉ có $ 250 (ít hơn một phần năm mức trung bình của cả nước), Shuyang là một trong những khu vực nông thôn nghèo nhất trong cả nước. Vùng này cũng có tỷ lệ tội phạm tồi tệ nhất trong khu vực và tham nhũng lan tràn trong chính quyền.

còn tiếp