|
|
|
|
Gold and Economic
Freedom
|
Vàng và Tự do kinh
tế
|
|
by Alan Greenspan
|
|
|
|
|
|
An almost hysterical antagonism toward the gold standard
is one issue which unites statists of all persuasions. They seem to sense —
perhaps more clearly and subtly than many consistent defenders of
laissez-faire — that gold and economic freedom are inseparable, that the gold
standard is an instrument of laissez-faire and that each implies and requires
the other.
|
Dù có những quan điểm khác nhau, nhưng tất cả những người
ủng hộ vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế (statist [1]) đều có một
đặc điểm chung, đặc điểm này đã đoàn kết họ lại, đó là sự cự tuyệt bản vị
vàng [2] tới mức cuồng tín. Dường như họ đã nhận ra – thậm chí là rõ rệt và
tinh vi hơn so với nhóm bảo vệ chủ thuyết thị trường tự do (laissez-faire
[1]) – rằng vàng và tự do kinh tế là hai phạm trù không thể tách rời, rằng
vàng là công cụ bổ trợ cho thị trường tự do, cái này mặc nhiên dẫn đến cái
kia và cả hai đều là điều kiện cần phải có của nhau.
|
|
In order to understand the source of their antagonism, it
is necessary first to understand the specific role of gold in a free society.
|
Để hiểu nguồn gốc của sự cự tuyệt trên, trước hết chúng ta
cần làm rõ vai trò đặc biệt của vàng trong một xã hội tự do.
|
|
Money is the common denominator of all economic
transactions. It is that commodity which serves as a medium of exchange, is
universally acceptable to all participants in an exchange economy as payment
for their goods or services, and can, therefore, be used as a standard of
market value and as a store of value, ie, as a means of saving.
|
Tiền tệ là mẫu số chung của mọi giao dịch kinh tế. Chính
nhờ vai trò là hàng hóa trao đổi trung gian trong giao dịch, tiền được chấp
nhận là một công cụ thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ bởi tất cả chủ thể
tham gia vào nền kinh tế trao đổi, nên do đó có thể được sử dụng làm tiêu
chuẩn xác định giá trị thị trường cũng như công cụ dự trữ của cải (ví dụ tiền
là phương thức để tiết kiệm).
|
|
The existence of such a commodity is a precondition of a
division of labor economy. If men did not have some commodity of objective
value which was generally acceptable as money, they would have to resort to
primitive barter or be forced to live on self-sufficient farms and forgo the
inestimable advantages of specialization. If men had no means to store value,
ie, to save, neither long-range planning nor exchange would be possible.
|
Sự hiện diện của loại hàng hóa đặc biệt trên là điều kiện
cần thiết để hình thành một nền kinh tế có sự phân chia lao động. Nếu không
có một loại hàng hóa mang giá trị khách quan được chấp nhận rộng rãi như tiền
tệ, con người sẽ phải phụ thuộc vào phương thức trao đổi hàng-đổi-hàng, hoặc
buộc phải tự cung tự cấp bằng tư liệu sản xuất cá nhân và chấp nhận mất đi
lợi thế không thể tính toán được của chuyên môn hóa. Nếu con người không có
một phương thức để dự trữ của cải (như gửi tiết kiệm chẳng hạn), hoạt động
trao đổi và lên kế hoạch lâu dài sẽ là bất khả thi.
|
|
What medium of exchange will be acceptable to all
participants in an economy is not determined arbitrarily. First, the medium
of exchange should be durable. In a primitive society of meager wealth, wheat
might be sufficiently durable to serve as a medium, since all exchanges would
occur only during and immediately after the harvest, leaving no value-surplus
to store. But where store-of-value considerations are important, as they are
in richer, more civilized societies, the medium of exchange must be a durable
commodity, usually a metal. A metal is generally chosen because it is
homogeneous and divisible: every unit is the same as every other and it can
be blended or formed in any quantity. Precious jewels, for example, are
neither homogeneous nor divisible. More important, the commodity chosen as a
medium must be a luxury. Human desires for luxuries are unlimited and,
therefore, luxury goods are always in demand and will always be acceptable.
Wheat is a luxury in underfed civilizations, but not in a prosperous society.
Cigarettes ordinarily would not serve as money, but they did in post-World
War II Europe where they were considered a luxury. The term "luxury
good" implies scarcity and high unit value. Having a high unit value,
such a good is easily portable; for instance, an ounce of gold is worth a
half-ton of pig iron.
|
Phương tiện trao đổi nào sẽ được tất cả các chủ thể tham
gia vào nền kinh tế chấp nhận không phải được xác định một cách tùy tiện.
Trước hết, phương tiện trao đổi phải có độ bền cao. Trong thời kỳ sơ khai khi
xã hội còn khan hiếm của cải, lúa mì có thể được xem là phương tiện trao đổi
tồn tại đủ lâu cho quá trình trao đổi, do quá trình đó chỉ diễn ra trong và
ngay sau vụ gặt, và cũng không có giá trị thặng dư để dự trữ. Tuy nhiên ở các
xã hội giàu có, văn minh hơn – nơi việc dữ trữ của cải đóng vai trò quan
trọng – phương tiện trao đổi phải là vật có độ bền cao. Thông thường sẽ là
kim loại, bởi chúng có tính đồng đều và có thể phân chia được: mỗi đơn vị đều
giống hệt nhau và có thể kết hợp lẫn tạo ra bất kỳ số lượng nào mong muốn.
Ngược lại, đá quý lại không có tính chất đồng đều và phân chia được. Quan
trọng hơn, vật được chọn làm phương tiện thanh toán phải có giá trị cao. Khao
khát của con người đối với các vật xa xỉ là không có giới hạn, do đó, hàng
hóa xa xỉ luôn được xã hội chấp nhận rộng rãi và có nhu cầu cao. Nếu như các
xã hội thiếu thốn lương thực xem lúa mì là hàng hóa xa xỉ thì nó lại không có
nhiều giá trị trong các xã hội thịnh vượng. Bình thường thuốc lá không được
xem là tiền, nhưng trong thời kỳ hậu thế chiến thứ Hai ở châu Âu, nó là một
loại hàng hóa xa xỉ. Cụm từ “hàng hóa xa xỉ” ám chỉ sự khan hiếm và giá trị
đơn vị cao. Chính nhờ giá trị đơn vị cao, hàng hóa đó với số lượng ít nhưng
có giá trị lớn nên dễ dàng di chuyển. Ví dụ: một ounce vàng tương đương đến
nửa tấn gang đúc thổi.
|
|
In the early stages of a developing money economy, several
media of exchange might be used, since a wide variety of commodities would
fulfill the foregoing conditions. However, one of the commodities will
gradually displace all others, by being more widely acceptable. Preferences
on what to hold as a store of value will shift to the most widely acceptable
commodity, which, in turn, will make it still more acceptable. The shift is
progressive until that commodity becomes the sole medium of exchange. The use
of a single medium is highly advantageous for the same reasons that a money
economy is superior to a barter economy: it makes exchanges possible on an
incalculably wider scale.
|
Trong các giai đoạn đầu của nền kinh tế tiền tệ, có khá
nhiều phương tiện trao đổi được sử dụng bởi khi đó không ít các vật liệu có
thể đáp ứng điều kiện về phương tiện trao đổi đã nói ở trên. Tuy nhiên, theo
thời gian, một trong số các loại vật liệu đó sẽ thay thế dần các loại còn lại
khi được chấp nhận ngày càng rộng rãi. Lựa chọn về công cụ dự trữ giá trị
cũng sẽ hướng đến loại phương tiện trao đổi đang được chấp nhận rộng rãi
nhất, và theo đó càng làm phương tiện đó càng trở nên phổ biến. Xu hướng dịch
chuyển tiếp tục diễn ra cho đến khi chỉ còn tồn tại một phương tiện trao đổi
duy nhất. Việc sử dụng duy nhất một phương tiện trao đổi cũng có lý do tương
đương vì sao nền kinh tế tiền tệ ưu việt hơn nền kinh tế trao đổi
hàng-đổi-hàng: giúp cho hoạt động giao dịch khả thi trên quy mô rộng lớn hơn
rất nhiều.
|
|
Whether the single medium is gold, silver, seashells,
cattle, or tobacco is optional, depending on the context and development of a
given economy. In fact, all have been employed, at various times, as media of
exchange. Even in the present century, two major commodities, gold and
silver, have been used as international media of exchange, with gold becoming
the predominant one. Gold, having both artistic and functional uses and being
relatively scarce, has significant advantages over all other media of
exchange. Since the beginning of World War I, it has been virtually the sole
international standard of exchange. If all goods and services were to be paid
for in gold, large payments would be difficult to execute and this would tend
to limit the extent of a society's divisions of labor and specialization.
Thus a logical extension of the creation of a medium of exchange is the
development of a banking system and credit instruments (bank notes and
deposits) which act as a substitute for, but are convertible into, gold.
|
Tùy thuộc vào bối cảnh và mức độ phát triển của một nền
kinh tế, phương tiện trao đổi duy nhất đó có thể là vàng, bạc, vỏ sò, gia súc
hay thuốc lá. Trên thực tế, tất cả đối tượng nêu trên đều đã được xem là phương
tiện trao đổi trong quá khứ. Thậm chí ở thế kỷ hiện tại, hai trong số loại
hàng hóa trung gian trao đổi lớn nhất, vàng và bạc đã được sử dụng làm phương
tiện trao đổi quốc tế - với vàng là phương tiện chiếm áp đảo. Vàng, sở hữu
giá trị sử dụng lẫn tính thẩm mỹ cao, đồng thời là một kim loại tương đối
hiếm, nhìn chung chiếm ưu thế hơn hẳn so với các phương tiện trao đổi còn
lại. Từ đầu thế chiến thứ nhất cho đến nay, vàng gần như được xem là phương
tiện trao đổi tiêu chuẩn duy nhất của thế giới. Tuy nhiên, nếu toàn bộ hàng
hóa và dịch vụ được chi trả bằng vàng, các phi vụ thanh toán có giá trị lớn
sẽ rất khó để thực hiện, đồng thời điều này có thể hạn chế mức độ phân công
lao động và chuyên môn hóa của xã hội. Do đó, một giải pháp hợp lý cho mặt bất
cập của phương tiện trao đổi này là hình thành một hệ thống ngân hàng và công
cụ tín dụng (giấy bạc ngân hàng và hạn mức giữ vàng) có vai trò thay thế
nhưng đồng thời cũng có thể chuyển đổi thành vàng.
|
|
A free banking system based on gold is able to extend
credit and thus to create bank notes (currency) and deposits, according to
the production requirements of the economy. Individual owners of gold are
induced, by payments of interest, to deposit their gold in a bank (against
which they can draw checks). But since it is rarely the case that all
depositors want to withdraw all their gold at the same time, the banker need
keep only a fraction of his total deposits in gold as reserves. This enables
the banker to loan out more than the amount of his gold deposits (which means
that he holds claims to gold rather than gold as security of his deposits).
But the amount of loans which he can afford to make is not arbitrary: he has
to gauge it in relation to his reserves and to the status of his investments.
|
Một hệ thống ngân hàng tự do dựa trên vàng sẽ có khả năng
mở rộng tín dụng, và qua đó phát hành giấy bạc ngân hàng (tiền tệ) và dự trữ
vàng, dựa trên nhu cầu sản xuất của nền kinh tế. Các cá nhân sở hữu vàng
trong xã hội được khuyến khích, thông qua lãi suất được ngân hàng chi trả,
gửi vàng vào ngân hàng (và ký séc dựa trên số vàng gửi giữ). Vì khả năng tất
cả người gửi giữ đồng loạt rút vàng của họ ra khỏi ngân hàng vào cùng một
thời điểm là rất hiếm, ngân hàng chỉ cần giữ lại một phần trong tổng số vàng
ký gửi của khách hàng làm mức dự trữ bắt buộc. Điều này cho phép ngân hàng
cho vay vượt mức dự trữ vàng của mình (như vậy có nghĩa ngân hàng đang nắm
quyền sở hữu đối với vàng nhiều hơn là ý nghĩa vàng giữ vai trò đảm bảo an
toàn cho mức dự trữ). Dẫu vậy, mức cho vay của ngân hàng cũng không thể tùy
tiện: ngân hàng phải cân nhắc mức này trong mối liên hệ với lượng vàng dự trữ
và “sức khỏe” các dự án đầu tư của nó.
|
|
When banks loan money to finance productive and profitable
endeavors, the loans are paid off rapidly and bank credit continues to be
generally available. But when the business ventures financed by bank credit
are less profitable and slow to pay off, bankers soon find that their loans
outstanding are excessive relative to their gold reserves, and they begin to
curtail new lending, usually by charging higher interest rates. This tends to
restrict the financing of new ventures and requires the existing borrowers to
improve their profitability before they can obtain credit for further
expansion. Thus, under the gold standard, a free banking system stands as the
protector of an economy's stability and balanced growth. When gold is
accepted as the medium of exchange by most or all nations, an unhampered free
international gold standard serves to foster a world-wide division of labor
and the broadest international trade. Even though the units of exchange (the
dollar, the pound, the franc, etc.) differ from country to country, when all
are defined in terms of gold the economies of the different countries act as
one — so long as there are no restraints on trade or on the movement of
capital. Credit, interest rates, and prices tend to follow similar patterns
in all countries. For example, if banks in one country extend credit too
liberally, interest rates in that country will tend to fall, inducing
depositors to shift their gold to higher-interest paying banks in other
countries. This will immediately cause a shortage of bank reserves in the
"easy money" country, inducing tighter credit standards and a
return to competitively higher interest rates again.
|
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanh
hiệu quả và mang lại lợi nhuận, ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi lại các
khoản cho vay của mình, nhờ vậy tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng trưởng và
luôn có sẵn ở mức an toàn. Nhưng khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả, ít
lợi nhuận và chậm thanh toán các khoản vay, một thời gian không lâu sau ngân
hàng nhận thấy dư nợ vượt hơn lượng vàng dự trữ. Lúc này, ngân hàng bắt đầu
điều chỉnh lại hoạt động cho vay của nó – thông thường bằng cách tăng lãi
suất cho vay. Kết quả là nguồn vốn dành cho các hoạt động kinh doanh sẽ thu
hẹp lại, đồng thời các con nợ hiện tại buộc phải cải thiện hiệu quả kinh doanh
trước khi có thể tiếp cận thêm nguồn vốn trong tương lai. Do đó, dưới cơ chế
bản vị vàng, hệ thống các ngân hàng tự do sẽ đóng vai trò là người bảo đảm
cho sự ổn định và phát triển cân bằng của nền kinh tế. Một khi vàng được công
nhận là phương tiện trao đổi ở hầu hết hay toàn bộ các quốc gia trên thế
giới, một hệ thống tiêu chuẩn tự do và không bị can thiệp của vàng có tác
dụng hỗ trợ quá trình phân công lao động trên toàn cầu và mở rộng thông
thương quốc tế. Mặc dù đơn vị trao đổi (đô-la Mỹ, bảng Anh, đồng franc Pháp,
vv…) thay đổi ở mỗi nước, trong điều kiện tất cả đều được xác định bởi vàng,
nền kinh tế của mọi quốc gia đều vận hành như nhau – miễn là không có rào cản
nào đối với thương mại hay sự tách nghẽn dòng lưu thông vốn. Tín dụng, lãi
suất, và giá cả có xu hướng giống nhau ở tất cả các quốc gia. Ví dụ, nếu ngân
hàng của một nước có chính sách tín dụng quá lỏng lẻo, lãi suất ở quốc gia đó
sẽ hạ, qua đó khiến người sở hữu vàng sẽ chuyển sang ngân hàng ở quốc gia có
mức lãi suất cao hơn để gửi giữ vàng. Sự chuyển dịch này sẽ nhanh chóng dẫn
đến một tình trạng thiếu hụt vàng dự trữ ở quốc gia có chính sách tín dụng
lỏng lẻo, lúc này buộc nó phải thắt chặt tín dụng để có thể lấy lại mức lãi
suất cao có khả năng cạnh tranh với quốc gia khác.
|
|
A fully free banking system and fully consistent gold
standard have not as yet been achieved. But prior to World War I, the banking
system in the United States (and in most of the world) was based on gold and
even though governments intervened occasionally, banking was more free than
controlled. Periodically, as a result of overly rapid credit expansion, banks
became loaned up to the limit of their gold reserves, interest rates rose
sharply, new credit was cut off, and the economy went into a sharp, but
short-lived recession. (Compared with the depressions of 1920 and 1932, the
pre-World War I business declines were mild indeed.) It was limited gold
reserves that stopped the unbalanced expansions of business activity, before
they could develop into the post-World War I type of disaster. The
readjustment periods were short and the economies quickly reestablished a
sound basis to resume expansion.
|
Thế giới vẫn chưa thành lập được một hệ thống ngân hàng tự
do đầy đủ và một cơ chế bản vị vàng ổn định. Tuy nhiên, trước Thế chiến thứ
nhất, hệ thống ngân hàng ở Mỹ (và ở hầu hết các nơi khác trên thế giới) đều
dựa trên vàng; và mặc dù thỉnh thoảng vẫn có sự can thiệp của nhà nước, nhìn
chung ngành ngân hàng vẫn tự do nhiều hơn là bị kiểm soát. Sau một thời gian
nhất định, do tăng trưởng tín dụng quá nhanh, dư nợ chạm mốc giới hạn của mức
dự trữ vàng, các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất cho vay lên cao, tín dụng
bị cắt giảm, và hệ quả là nền kinh tế bước vào một giai đoạn khủng hoảng sâu
tạm thời (so với cuộc khủng hoảng năm 1920 và 1932, tình trạng suy thoái
trước Thế chiến thứ nhất ít nghiêm trọng hơn hẳn). Chính nhờ mức giới hạn của
lượng vàng dự trữ mà các hoạt động mở rộng kinh doanh mất cân đối đã được kìm
hãm lại trước khi chúng trở nên trầm trọng hơn và có thể dẫn đến một thảm họa
như hậu Thế chiến thứ nhất. Giai đoạn để các ngân hàng điều chỉnh lại hoạt
động tín dụng của chúng tương đối ngắn, do đó nền kinh tế nhanh chóng khôi
phục lại một nền tảng ổn định để tiếp tục phát triển.
|
|
But the process of cure was misdiagnosed as the disease:
if shortage of bank reserves was causing a business decline — argued economic
interventionists — why not find a way of supplying increased reserves to the
banks so they never need be short! If banks can continue to loan money
indefinitely — it was claimed — there need never be any slumps in business.
And so the Federal Reserve System was organized in 1913. It consisted of
twelve regional Federal Reserve banks nominally owned by private bankers, but
in fact government sponsored, controlled, and supported. Credit extended by
these banks is in practice (though not legally) backed by the taxing power of
the federal government. Technically, we remained on the gold standard;
individuals were still free to own gold, and gold continued to be used as
bank reserves. But now, in addition to gold, credit extended by the Federal
Reserve banks ("paper reserves") could serve as legal tender to pay
depositors.
|
Tuy nhiên, “bài thuốc” chữa trị cũng sai như chính cách
căn bệnh được chẩn đoán: nếu sự thiếu hụt lượng vàng dự trữ ở ngân hàng là
nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế - theo lập luận của các học giả kinh tế
thuộc chủ thuyết can thiệp (economic interventionists) – vậy tại sao không
tìm cách nâng mức dự trữ ở các ngân hàng lên để không còn xảy ra tình trạng
thiếu hụt? Họ cho rằng nếu các ngân hàng có thể cấp tín dụng không giới hạn,
khi đó hoạt động kinh doanh sẽ không bao giờ trì trệ. Và thế là Hệ thống Dự
trữ Liên bang đã ra đời vào năm 1913. Hệ thống này được tạo nên bởi 12 ngân
hàng Dự trữ Liên bang vùng, trên danh nghĩa thuộc sở hữu tư nhân nhưng thực
tế do nhà nước cấp vốn, kiểm soát và hỗ trợ. Hoạt động cung cấp tín dụng ở
các ngân hàng này trên thực tế (tuy không được quy định bằng văn bản pháp lý)
có nguồn cung ứng từ tiền thuế của nhà nước liên bang. Về cơ bản, chúng ta
vẫn sử dụng bản vị vàng; cá nhân vẫn có thể tự do sở hữu vàng, đồng thời vàng
vẫn tiếp tục được dùng làm công cụ dự trữ tại các ngân hàng. Nhưng mặt khác,
giờ đây song song với vàng, tín dụng do nhóm ngân hàng Dự trữ Liên bang cung
cấp (“dự trữ bằng giấy tờ có giá” – “paper reserves” ) đã trở thành nguồn
thanh toán hợp pháp cho các khách hàng gửi giữ vàng.
|
|
When business in the United States underwent a mild
contraction in 1927, the Federal Reserve created more paper reserves in the
hope of forestalling any possible bank reserve shortage. More disastrous,
however, was the Federal Reserve's attempt to assist Great Britain who had
been losing gold to us because the Bank of England refused to allow interest
rates to rise when market forces dictated (it was politically unpalatable).
The reasoning of the authorities involved was as follows: if the Federal
Reserve pumped excessive paper reserves into American banks, interest rates
in the United States would fall to a level comparable with those in Great
Britain; this would act to stop Britain's gold loss and avoid the political
embarrassment of having to raise interest rates. The "Fed"
succeeded; it stopped the gold loss, but it nearly destroyed the economies of
the world, in the process. The excess credit which the Fed pumped into the
economy spilled over into the stock market, triggering a fantastic speculative
boom. Belatedly, Federal Reserve officials attempted to sop up the excess
reserves and finally succeeded in braking the boom. But it was too late: by
1929 the speculative imbalances had become so overwhelming that the attempt
precipitated a sharp retrenching and a consequent demoralizing of business
confidence. As a result, the American economy collapsed. Great Britain fared
even worse, and rather than absorb the full consequences of her previous
folly, she abandoned the gold standard completely in 1931, tearing asunder
what remained of the fabric of confidence and inducing a world-wide series of
bank failures. The world economies plunged into the Great Depression of the
1930's.
|
Khi hoạt động kinh doanh ở Hoa Kỳ thu hẹp nhẹ trong năm
1927, Cục Dự trữ Liên bang đã tạo ra phương thức dự trữ bằng giấy tờ có giá
với hi vọng có thể tránh được một tình trạng thiếu hụt dự trữ có thể xảy ra
cho các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn, Cục Dự trữ Liên bang còn trợ
giúp Anh Quốc – nước vào thời điểm đó đang để mất vàng về tay chúng ta vì
Ngân hàng nước Anh nhất quyết không tăng lãi suất theo đúng quy luật thị
trường (vì điều này không có lợi về mặt chính trị). Lập luận của những người
đứng đầu như sau: nếu Cục Dự trữ Liên bang bơm một lượng lớn dự trữ giấy tờ
có giá vào các ngân hàng ở Mỹ, lãi suất trong nước sẽ hạ xuống một mức tương
thích với mức lãi suất ở Anh; điều này sẽ giúp nước Anh không để mất vàng
nữa, đồng thời tránh được một phen bẽ mặt chính trị vì phải nâng mức lãi suất
lên cao. Và “Cục” đã thành công; nước Anh không còn mất vàng, nhưng ngược lại
nền kinh tế của cả thế giới đã gần như bị hủy hoại. Lượng tín dụng thừa thãi
mà Cục Dự trữ bơm vào nền kinh tế bắt đầu tràn qua thị trường chứng khoán, để
rồi tạo ra tâm lý đầu cơ khắp nơi. Một cách muộn màng, các quan chức của Cục
Dự trữ Liên bang cố gắng giảm đi lượng dự trữ dư thừa, cuối cùng họ cũng
thành công trong việc kìm hãm làn sóng nở rộ của hoạt động đầu cơ. Tuy nhiên
mọi chuyện đã quá trễ: đến năm 1929, bất ổn do hoạt động đầu cơ gây ra là quá
lớn đến nỗi động thái kiểm soát lượng dự trữ như trên của Cục chỉ làm trầm
trọng thêm xu hướng cắt giảm chi tiêu và hệ quả kéo theo là niềm tin đối với
hoạt động kinh doanh bốc hơi. Kết cục, nền kinh tế Mỹ sụp đổ hoàn toàn. Tình
hình ở Anh còn nghiêm trọng hơn nữa. Thay vì chấp nhận khắc phục hậu quả của
những sai sót trước kia, nước này bãi bỏ hoàn toàn cơ chế bản vị vàng vào năm
1931- một quyết định đã xé tan tành những hi vọng còn sót lại và gây nên sự
đổ vỡ dây chuyền của các hệ thống ngân hàng toàn cầu. Kinh tế thế giới rơi
vào cuộc Đoại Suy thoái trong suốt những năm 1930.
|
|
With a logic reminiscent of a generation earlier, statists
argued that the gold standard was largely to blame for the credit debacle
which led to the Great Depression. If the gold standard had not existed, they
argued, Britain's abandonment of gold payments in 1931 would not have caused
the failure of banks all over the world. (The irony was that since 1913, we
had been, not on a gold standard, but on what may be termed "a mixed
gold standard"; yet it is gold that took the blame.)
|
Bằng một lập luận tương tư với thế hệ trước đó, một nhà
nghiên cứu tin rằng bản vị vàng chính là nguyên nhân chính gây ra bê bối tín
dụng để rồi đến lượt nó dẫn đến cuộc Đại Suy thoái. Họ cho rằng nếu bản vị
vàng không tồn tại, khi Anh Quốc bãi bỏ việc thanh toán bằng vàng vào năm
1931, hệ thống ngân hàng của cả thế giới đã không bị sụp đổ như vậy (Điều mỉa
mai là, kể từ năm 1913 cho đến nay, thứ chúng ta sử dụng không chỉ có mỗi bản
vị vàng, mà đó là sự pha trộn bản vị vàng với các tiêu chuẩn khác; thế nhưng
chỉ có vàng mới đáng bị lên án mà thôi.)
|
|
But the opposition to the gold standard in any form — from
a growing number of welfare-state advocates — was prompted by a much subtler
insight: the realization that the gold standard is incompatible with chronic
deficit spending (the hallmark of the welfare state). Stripped of its
academic jargon, the welfare state is nothing more than a mechanism by which
governments confiscate the wealth of the productive members of a society to
support a wide variety of welfare schemes. A substantial part of the
confiscation is effected by taxation. But the welfare statists were quick to
recognize that if they wished to retain political power, the amount of
taxation had to be limited and they had to resort to programs of massive
deficit spending, ie, they had to borrow money, by issuing government bonds,
to finance welfare expenditures on a large scale.
|
Tuy nhiên, dù ở bất kỳ hình thức nào, sự cự tuyệt đối với
vàng từ số lượng các tiếng nói đang ngày một lớn dần ủng hộ nhà nước phúc lợi
đều xuất phát từ một nguyên nhân sâu xa khó nhìn thấy hơn: đó là việc họ đã
nhận ra bản vị vàng và thâm hụt ngân sách (dấu hiệu đặc trưng của nhà nước
phúc lợi) là hai phạm trù không thể đi đôi với nhau. Bỏ qua hết các thuật ngữ
bác học, một nhà nước phúc lợi về bản chất không khác gì một cơ chế mà chính
phủ sử dụng nhằm tịch thu của cải do các thành viên có ích của xã hội làm ra
để cung ứng cho các chương trình phúc lợi. Một số lượng lớn của cải tịch thu
đến từ việc đánh thuế. Nhưng những người ủng hộ nhà nước phúc lợi cũng nhanh
chóng nhận ra rằng nếu muốn duy trì quyền lực chính trị, các sắc thuế buộc
phải hạn chế và do đó, lúc này chính phủ buộc phải chi tiêu thâm hụt ngân
sách lớn, như vay tiền thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ để có
thể tài trợ cho các chương trình phúc lợi trên quy mô lớn.
|
|
Under a gold standard, the amount of credit that an
economy can support is determined by the economy's tangible assets, since
every credit instrument is ultimately a claim on some tangible asset. But
government bonds are not backed by tangible wealth, only by the government's promise
to pay out of future tax revenues, and cannot easily be absorbed by the
financial markets. A large volume of new government bonds can be sold to the
public only at progressively higher interest rates. Thus, government deficit
spending under a gold standard is severely limited. The abandonment of the
gold standard made it possible for the welfare statists to use the banking
system as a means to an unlimited expansion of credit. They have created
paper reserves in the form of government bonds which — through a complex
series of steps — the banks accept in place of tangible assets and treat as
if they were an actual deposit, ie, as the equivalent of what was formerly a
deposit of gold.
|
Dưới sự điều chỉnh của bản vị vàng, lượng tín dụng mà một
nền kinh tế có thể cung cấp được quyết định bởi các tài sản hữu hình của nền
kinh tế đó, vì mọi công cụ tín dụng xét cho cùng đều là tuyên bố nắm giữ tài
sản hữu hình. Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ không được xác định bởi tài sản
hữu hình mà chúng chỉ là lời hứa sẽ chi trả cho người nắm giữ trái phiếu bằng
tiền thuế của chính phủ, đồng thời chúng cũng không được thị trường tài chính
dễ dàng đón nhận. Chính phủ chỉ có thể bán trái phiếu với số lượng lớn ra
công chúng trong điều kiện lãi suất của trái phiếu phải cao hơn lãi suất ngân
hàng. Do đó, khi bản vị vàng hiện diện, tình trạng thâm hụt ngân sách được
hạn chế xuống mức rất thấp. Ngược lại, việc bãi bỏ bản vị vàng sẽ tạo điều
kiện cho phía ủng hộ nhà nước phúc lợi thông qua hệ thống ngân hàng mở rộng
tín dụng không giới hạn. Để thực hiện mục tiêu trên, họ đã tạo ra công cụ dự
trữ bằng giấy tờ có giá, mà cụ thể là trái phiếu chính phủ. Qua nhiều thủ tục
phức tạp, các ngân hàng sẽ chấp nhận loại giấy tờ này như một tài sản gửi giữ
thay thế cho vàng.
|
|
The holder of a government bond or of a bank deposit
created by paper reserves believes that he has a valid claim on a real asset.
But the fact is that there are now more claims outstanding than real assets.
The law of supply and demand is not to be conned. As the supply of money (of
claims) increases relative to the supply of tangible assets in the economy,
prices must eventually rise. Thus the earnings saved by the productive
members of the society lose value in terms of goods. When the economy's books
are finally balanced, one finds that this loss in value represents the goods
purchased by the government for welfare or other purposes with the money
proceeds of the government bonds financed by bank credit expansion.
|
Những người nắm giữ trái phiếu chính phủ hoặc tài khoản
gửi giữ (bank deposit) được tạo ra bởi công cụ dự trữ bằng giấy tờ có giá tin
rằng họ đang có quyền sở hữu đối với một tài sản thực tế. Tuy nhiên, sự thật
là lúc này số lượng giấy tờ chứng minh quyền sở hữu lại vượt hơn rất nhiều so
với tài sản thực tế. Con người không thể thao túng quy luật tự nhiên của cung
và cầu. Khi nguồn cung vốn (từ các giấy tờ sở hữu) tăng lên tương đối so với
nguồn cung các tài sản hữu hình trong nền kinh tế, giá cả cuối cùng sẽ đội
lên, khiến cho thu nhập của các thành viên làm ra của cải trong xã hội sụt
giảm giá trị so với hàng hóa. Sau khi nền kinh tế đã cân bằng trở lại, người
ta nhận thấy rằng giá trị đã mất lúc này nằm ở lượng hàng hóa được chính phủ
mua lại thông qua chương trình phúc lợi hoặc một số chương trình khác bằng
tiền lãi thu được từ các khoản cho vay của nhóm ngân hàng được tài trợ bởi
trái phiếu chính phủ.
|
|
In the absence of the gold standard, there is no way to
protect savings from confiscation through inflation. There is no safe store
of value. If there were, the government would have to make its holding
illegal, as was done in the case of gold. If everyone decided, for example,
to convert all his bank deposits to silver or copper or any other good, and
thereafter declined to accept checks as payment for goods, bank deposits
would lose their purchasing power and government-created bank credit would be
worthless as a claim on goods. The financial policy of the welfare state
requires that there be no way for the owners of wealth to protect themselves.
|
Khi không có sự điều chỉnh của bản vị vàng, sẽ không có
cách nào bảo vệ thu nhập của xã hội khỏi tình trạng tịch thu của cải từ chính
phủ trong thời kỳ lạm phát, cũng như sẽ không có một công cụ dự trữ giá trị
an toàn. Giả sử nếu có, chính phủ rồi sẽ buộc phải bãi bỏ nó như đã làm với
vàng. Đặt trường hợp nếu tất cả mọi người quyết định chuyển đổi tài khoản gửi
giữ của mình thành bạc, đồng đỏ hay một loại hàng hóa nào khác và sau đó từ
chối chấp nhận séc thanh toán cho hàng hóa, khi ấy tài khoản gửi giữ sẽ mất
đi khả năng thanh toán, còn tín dụng ngân hàng do chính phủ tạo ra sẽ không
còn giá trị đối với hàng hóa. Chính sách tài khóa của một nhà nước phúc lợi
luôn đi đôi với tình trạng thiếu biện pháp tự bảo vệ của các chủ sở hữu của
cải trong xã hội.
|
|
This is the shabby secret of the welfare statists' tirades
against gold. Deficit spending is simply a scheme for the confiscation of
wealth. Gold stands in the way of this insidious process. It stands as a protector
of property rights. If one grasps this, one has no difficulty in
understanding the statists' antagonism toward the gold standard.
|
Đây chính là bí mật xấu xí của phe ủng hộ nhà nước phúc
lợi và cự tuyệt vàng. Nói một cách đơn giản, chính sách chi tiêu thâm hụt
ngân sách là một cơ chế tịch thu của cải xã hội. Vàng chính là vật cản ngăn
chặn quá trình ngấm ngầm này, đồng thời nó cũng đóng vai trò bảo vệ cho quyền
sở hữu. Nếu hiểu được điều này, sẽ không khó để một người nhìn ra nguyên nhân
vì sao nhà nước phúc lợi lại nhất quyết “không đội trời chung” với vàng đến
thế.
|
|
|
|
|
Published in Ayn
Rand's "Objectivist" newsletter in 1966, and reprinted in her book,
Capitalism: The Unknown Ideal , in 1967.
|
Bài viết được in
trong thư ngỏ “Chủ nghĩa khách quan” của Ayn Rand vào năm 1966 và được tái
bản trong tác phẩm Capitalism: The Unknown Ideal của bà vào năm 1967.
|
|
|
Translated by Alex
Truong and edited by Nguyễn Công Huân
|
|
|
|
|
|
Ghi chú của nhóm dịch giả
[1]
"Statist" là những người theo chủ nghĩa nhà nước ( statism ). Những
người này ủng hộ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, và họ cho rằng nhà
nước phải kiểm soát và có những kế hoạch đối với nền kinh tế. Ngược lại với
chủ nghĩa nhà nước là những chủ nghĩa thị trường tự do (laissez-faire), những
người theo chủ nghĩa thị trường tự do ủng hộ một thị trường tự điều chỉnh mà
không có sự can thiệp của nhà nước.
[2] Bản vị vàng
(gold standard) là hệ thống tiền tệ sử dụng vàng làm đơn vị tiền tệ gốc, tiêu
chuẩn.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, January 20, 2013
Gold and Economic Freedom Vàng và Tự do kinh tế
Saturday, January 19, 2013
Red riding hood Cô gái áo choàng đỏ
|
|
|
Red riding hood
|
Cô gái áo choàng đỏ
|
Je suis Caroline, photographe et rêveuse. Bienvenue sur mon blog où je
partage mes travaux récents: voyages imaginaires dans le monde de l'enfance,
explorations du féminin, et bonheurs du quotidien... Entrez, prenons une tasse de thé, et rêvons!
“Once upon a time there was a girl who lived on the
outskirts of the forest. She was lively and bright, and she wore a red cloak,
for that way if she ever went astray she would always stand out against the
trees and the bushes. As the years went by, and she became more woman than
girl, she grew more and more beautiful. many men wanted her for their bride,
but she turned them all down. None was good enough for her, for she was
cleverer than every man she met and they presented no challenge to her.
|
I am Caroline, photographer and dreamer. Welcome
to my blog where I share my recent work: imaginary travels into the world of
childhood, explorations of feminity, and daily happiness. Come in, let's have a
cup of tea and dream together!
"Nghe kể rằng
ngày xưa xưa lắm có một cô gái sống nơi ven rừng. Cô gái trông sống động, tươi sáng, và luôn
mặc một chiếc áo choàng màu đỏ, nhờ cách đó
nếu cô có đi đi lạc lối, cô cũng
sẽ luôn luôn nổi bật lên trên màu cây lá. Nhiều năm trôi qua, và khi cô đã ra dáng phụ nữ nhiều hơn
con gái, thì càng ngày càng xin đẹp hơn, nhiều chàng muốn
có cô làm cô dâu, nhưng cô từ chối tất cả bọn họ. Không ai xứng đáng với cô, vì cô thông minh hơn
tất cả những người đàn ông cô đã gặp và họ
đã không thể hiện chút bản lĩnh nào trước cô cả.
|
|
|
|
Her grandmother lived in a
cottage in the forest, and the girl would visit her often, bringing her baskets
of bread and meat and staying with her for a time. While her grandmother
slept, the girl would wander among the trees, tasting the wild berries and
strange fruits of the woods. One day, as she walked in a dark grove, a wolf
came.
|
Bà ngoại cô sống
trong một ngôi nhà nhỏ trong rừng, và cô gái thường tới thăm
bà đều đặn, mang theo giỏ bánh mì và thịt
và ở lại với bà một thời gian. Trong khi
bà ngoại ngủ, cô
gái hay đi lang thang giữa rừng, nếm các loại quả dại và trái
cây kỳ lạ trong rừng. Một ngày
nọ, khi cô bước vào một khu rừng tối, một
con chó sói xuất hiện.
|
|
|
|
It was wary of her and tried
to pass without being seen, but the girl’s senses were too acute. She saw the
wolf, and looked into its eyes and fell in love with the strangeness of it.
|
Con sói cảnh giác trước cô gái và đã tìm cách đi qua mà không bị cô gái phát hiện,
nhưng các giác quan của cô gái đã quá tinh nhạy. Cô thấy chàng sói, và
nhìn vào đôi mắt của nó và ngay lập
tức yêu cái dáng vẻ kì lạ của nó.
|
|
|
|
When it turned away, she
followed it, traveling deeper into the forest than she had ever gone before.
The wolf tried to lose her in places where there were no trails to follow, no
paths to be seen, but the girl was too quick for it, and mile after mile the
chase continued. At last, the wolf grew weary of the pursuit, and it turned to face
her. It bared its fangs and growled a warning, but she was not afraid.
|
Khi nó quay đi, cô gái đi theo sau, cô đi sâu vào rừng
tới những nơi chưa từng biết. Con sói
đã cố gắng để thoát khỏi cô gái ở những
nơi có không có con đường mòn nào để đi theo, không có dấu chân
để lần theo, nhưng cô gái đã quá nhanh chóng học được điều đó,
và từ dặm đường này đến dặm đường kia cô tiếp tục đuổi theo. Cuối
cùng, sói ta mệt mỏi trước
sự săn đuổi của nàng, và nó quay lại
đối mặt với nàng. Nó nhe nanh vuốt và
gầm lên lời cảnh báo, nhưng nàng không hề sợ hãi.
|
|
|
|
Lovely wolf… she whispered.
You have nothing to fear from me.
She reached out her hand and
placed it upon the wolf’s head. She ran her fingers through its fur and
calmed it. And the wolf saw what beautiful eyes she had (all the better to
see him with) , and what gentle hands (all the better to stroke him with).
the girl leaned forward, and she kissed the wolf. She cast off her red cloak
and put her basket of flowers aside, and she lay with the animal.”
|
Chàng sói đáng
yêu ơi... cô gái thì
thầm. Chàng không có
gì phải sợ tôi đâu
Cô đưa tay đặt
lên đầu sói. Cô lướt những ngón tay của mình luồn qua lớp lông
chàng sói và khiến nó bình tĩnh. Và chàng sói nhìn thấy
đẹp mắt cô gái đẹp ôi là đẹp (nhất
là khi đôi mắt ấy lại ngắm nhìn mình), và bàn tay nhẹ nhàng biết bao (nhất là khi đôi tay lại vuốt ve mình). cô
gái nghiêng người về phía trước, và cô hôn chàng sói. Nàng cởi chiếc áo choàng đỏ
của mình và đặt
giỏ hoa sang
một bên, và cô thả mình bên chàng
sói. "
|
|
|
|
Ce jour là, le rêve, c’était…
Se lever si tôt que nous
étions seuls dans les rues sombres et endormies de Paris.
Partir sur nos vélos, le long
du canal, dans le noir et le froid, dans une course avec le soleil, pour
arriver avant, pour être les premiers, pour voir la forêt s’éveiller.
Sentir les feuilles, les
branches, craquer sous nos pieds. Trouver dans nos sacs cette couverture
rouge, voir tout à coup du sens, un clin d’oeil.
Une fois passé le froid, la
forêt, nos sourires émerveillés, nos rires, une fois passée l’incongruité,
une fois passée l’inspiration. Une fois rentrés.
Voir du sens, après. Se
déstabiliser. Penser aux loups de nos vies.
Lire ce passage du roman de
John Connoly ( The book of Lost Things, le livre des choses perdues.) et
sourire, et penser à elle, à nous, à la forêt et au rouge, penser à notre
force, et se demander qui de la jeune fille ou du loup attrappe l’autre dans
le filet de son regard.
Penser aux femmes qui courent
avec les loups. Penser à la femme sauvage.
Et avoir confiance.
|
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra
chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của
Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông,
trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai
sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành
cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột
nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua,
một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí
và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt
cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng
đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong
tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm
cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh
của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và
tự hỏi liệu có những người thực sự quyến
rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo
những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại
ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy
lẫn nhau.
|
|
|
|
That day the dream was…
To get up so early that we
were alone, out in the dark, sleepy streets of Paris.
To leave on our bikes, along
the river, in the dark and cold, in a race against the sun, to get there
first, to see the forest wake.
Feel the leaves, the twigs,
cracking under our feet. Finding the red blanket in our bag and suddenly
seeing a tale.
And once the cold was over,
once we were done with the forest, with the smiles, with the strangeness and
the inspiration. With the exhilaration. Once we were back.
Seeing meaning then, feeling
uneasy. Thinking of the wolves in our lives, how they’d crept in.
Coming across this passage in
John Connoly’s novel (the book of lost things), and smiling, and thinking of
her, of us, of the forest and of the red, thinking of our strength.
Thinking of the girl and the
wolf, and wonder who really catches the other with their eyes.
Thinking of women running with
wolves.
Thinking of the wild woman.
Trusting ourselves and each
other.
|
Ngày hôm đó là giấc mơ...
Thức dậy quá sớm thành ra
chúng ta chỉ có một mình, lang thang trên những con phố tối tăm ngái ngủ của
Paris.
Đi xe đạp dọc theo con sông,
trong bóng tối và rét lạnh, trong một cuộc chạy đua với ánh nắng mặt trời, ai
sẽ tới trước, để xem rừng thức giấc.
Cảm nhận những chiếc lá, cành
cây, gãy vỡ dưới bước chân chúng ta. Tìm tấm chăn màu đỏ trong túi và đột
nhiên nhìn thấy cả một câu chuyện cổ tích.
Và một khi cái lạnh đã qua,
một khi chúng ta đã được hòa nhập với rừng, với những nụ cười, với vẻ kỳ bí
và nguồn cảm hứng. Với niềm phấn chấn. Một hôm chúng ta đã trở lại.
Thấy được ý nghĩa lúc đó, chợt
cảm thấy khó chịu. Suy nghĩ về những con sói trong cuộc sống của chúng ta, chúng
đã lẻn bước chân vào như thế nào.
Tình cờ đọc đoạn này trong
tiểu thuyết của John Connoly (cuốn sách nói về những điều đã mất), và mỉm
cười, và nghĩ về cô gái, về chúng ta, về rừng và của màu đỏ, nghĩ về sức mạnh
của chúng ta.
Nghĩ về cô gái và con sói, và
tự hỏi liệu có những người thực sự quyến
rũ được kẻ khác với đôi mắt của mình chăng.
Nghĩ về những phụ nữ chạy theo
những con sói.
Nghĩ về người phụ nữ man dại
ấy.
Tin tưởng bản thân và tin cậy
lẫn nhau.
|
|
|
|
|
|
|
Monday, January 14, 2013
The Life of the Party Vận mệnh của Đảng
|
|
|
The Life of the
Party
|
Vận mệnh của Đảng
|
FOREIGN AFFAIRS
January/February 2013
ESSAY
|
FOREIGN AFFAIRS
tháng 1/2 năm 2013
TIỂU LUẬN
|
The Post-Democratic
Future Begins in China
ERIC X. LI is a
venture capitalist and political scientist in Shanghai.
|
Tương lai Hậu-Dân chủ manh nha ở Trung Quốc
Eric X. Li là nhà đầu tư mạo hiểm và nhà
nghiên cứu chính trị tại Thượng Hải
|
In November 2012, the Chinese Communist Party (CCP) held
its 18th National Congress, setting in motion a once-in-a-decade transfer of
power to a new generation of leaders. As expected, Xi Jinping took over as
general secretary and will become the president of the People's Republic this
March. The turnover was a smooth and well-orchestrated demonstration by a
confidently rising superpower. That didn't stop international media and even
some Chinese intellectuals, however, from portraying it as a moment of
crisis. In an issue that was published before the beginning of the congress,
for example, The Economist quoted unnamed scholars at a recent conference as
saying that China is "unstable at the grass roots, dejected at the
middle strata and out of control at the top." To be sure, months before
the handover, the scandal surrounding Bo Xilai, the former party boss of the
Chongqing municipality, had shattered the CCP's long-held facade of unity,
which had underwritten domestic political stability since the Tiananmen
Square upheavals in 1989. To make matters worse, the Chinese economy, which
had sustained double-digit GDP growth for two decades, slowed, decelerating
for seven straight quarters. China's economic model of rapid
industrialization, labor-intensive manufacturing, large-scale government
investments in infrastructure, and export growth seemed to have nearly run
its course. Some in China and the West have gone so far as to predict the
demise of the one-party state, which they allege cannot survive if leading
politicians stop delivering economic miracles.
|
Tháng 11 năm 2012, Đảng Cộng
sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã tổ chức Đại hộ Toàn quốc lần thứ 18, thiết lập động tác một lần trong
một thập kỷ chuyển
giao quyền lực cho một thế hệ mới của các nhà lãnh đạo. Như
dự kiến, ông Tập Cận Bình đã nắm chức tổng bí thư và sẽ trở thành chủ tịch
của Cộng hòa Nhân dân trong tháng Ba. Chuyển giao quyền lực đã được tiến hành
êm thấm, nhẹ nhàng bởi một siêu cường đang lên đầy tự tin. Tuy nhiên, điều đó
không ngăn các phương tiện truyền thông quốc tế và thậm chí cả một số trí
thức Trung Quốc mô tả nó như là một thời điểm khủng hoảng. Ví dụ, trong một số
báo được xuất bản trước khi bắt đầu Đại hội, tờ Nhà Kinh tế đã dẫn lời học giả giấu tên tại một hội nghị gần đây
nói rằng Trung Quốc là "không ổn định ở cấp cơ sở, thất vọng ở tầng lớp
trung lưu và ngoài tầm kiểm soát ở tần chóp bu." Điều này chắc chắn là
đúng khi, vài tháng trước khi chuyển giao, vụ bê bối xung quanh Bạc Hy Lai,
ông cựu bí thư đảng của thành phố Trùng Khánh, đã hé lộ bộ mặt lâu nay có vẻ đoàn
kết của ĐCSTQ, vốn đã bảo đảm ổn định chính trị trong nước kể từ cuộc biến
động ở Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Vấn đề tồi tệ hơn, khi nền
kinh tế Trung Quốc, vốn duy trì tăng trưởng GDP hai con số suốt hai thập kỷ, đã
bị chậm lại, giảm xuống còn chỉ 7.4. Mô hình kinh tế công nghiệp hóa nhanh
chóng, sản xuất thâm dụng lao động, các khoản đầu tư của chính phủ vào cơ sở
hạ tầng quy mô lớn, và tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc dường như đã tới
cùng đường. Một số người ở Trung Quốc và phương Tây còn đi xa khi dự đoán sự sụp
đổ của nhà nước độc đảng, mà họ cáo buộc không thể tồn tại nếu các chính trị
gia hàng đầu ngừng tạo ra các phép lạ kinh tế.
|
Such pessimism, however, is misplaced. There is no doubt
that daunting challenges await Xi. But those who suggest that the CCP will
not be able to deal with them fundamentally misread China's politics and the
resilience of its governing institutions. Beijing will be able to meet the
country's ills with dynamism and resilience, thanks to the CCP's
adaptability, system of meritocracy, and legitimacy with the Chinese people.
In the next decade, China will continue to rise, not fade. The country's
leaders will consolidate the one party model and, in the process, challenge
the West's conventional wisdom about political development and the inevitable
march toward electoral democracy. In the capital of the Middle Kingdom, the
world might witness the birth of a post-democratic future.
|
Bi quan như vậy, tuy nhiên, là
không đúng. Không thể nghi ngờ rằng những thách thức khó khăn đang chờ đợi ông
Tập. Tuy nhiên, những người cho rằng rằng ĐCSTQ sẽ không thể đối phó với
chúng một cách cơ bản đã nhận định sai chính trị Trung Quốc và khả năng phục
hồi của các thể chế cầm quyền. Bắc Kinh sẽ có thể đối phó với những yếu kém
của đất nước bằng tính năng động và khả năng phục hồi, nhờ vào khả năng thích
ứng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hệ thống chế độ nhân tài, và tính chính
danh của đảng với người dân Trung Quốc. Trong thập kỷ tới, Trung Quốc sẽ tiếp
tục tăng trưởng, không lụi tàn. Các nhà lãnh đạo của đất nước sẽ củng cố mô
hình độc đảng, và trong quá trình này, họ sẽ thách thức sự khôn ngoan thông
thường của phương Tây về phát triển chính trị và chắc chắn hướng tới dân chủ thông
qua bầu cử. Tại thủ đô của Vương Triều, thế giới có thể chứng kiến sự ra đời của một tương lai hậu dân chủ.
|
ON-THE-JOB LEARNING
The assertion that one-party rule is inherently incapable
of self-correction does not reflect the historical record. During its 63
years in power, the CCP has shown extraordinary adaptability. Since its
founding in 1949, the People's Republic has pursued a broad range of economic
policies. First, the CCP initiated radical land collectivization in the early
1950s. This was followed by the policies of the Great Leap Forward in the
late 1950s and the Cultural Revolution in the late 1960s to mid-1970s. After
them came the quasi-privatization of farmland in the early 1970s, Deng
Xiaoping's market reforms in the late 1970s, and Jiang Zemin's opening up of
the CCP's membership to private businesspeople in the 1990s. The underlying
goal has always been economic health, and when a policy did not work-for
example, the disastrous Great Leap Forward and Cultural Revolution-China was
able to find something that did: for example, Deng's reforms, which catapulted
the Chinese economy into the position of second largest in the world.
|
VỪA LÀM VỪA HỌC HỎI
Sự khẳng định rằng chế độ độc
đảng vốn đã không có khả năng tự sửa chữa không phản ánh ghi nhận lịch sử.
Trong suốt 63 năm cầm quyền, ĐCSTQ đã thể hiện khả năng thích ứng phi thường.
Kể từ khi thành lập vào năm 1949, Cộng hòa Nhân dân đã theo đuổi một loạt các
chính sách kinh tế. Đầu tiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tập thể hóa đất
đai triệt để trong đầu những năm 1950. Tiếp theo đó là các chính sách của Đại
nhảy vọt cuối những năm 1950 và cuộc Cách mạng văn hóa vào cuối những năm 1960
đến giữa những năm 1970. Sau đó là đến nửa tư nhân hóa đất nông nghiệp vào
những năm 1970, cải cách thị trường cuối những năm 1970, và việc Đặng Tiểu
Bình, Giang Trạch Dân mở cửa để các thành viên của ĐCSTQ trở thành các doanh
nhân tư nhân trong những năm 1990. Mục tiêu cơ bản luôn luôn là sự lành mạnh
của nền kinh tế, và khi một chính sách không hiệu quả, ví dụ, các chính sách thảm
họa Đại nhảy vọt và Cách mạng văn hóa, thì Trung Quốc là có thể tìm thấy cái
khác có tác dụng để thay vào: ví dụ, cải cách của Đặng Tiểu Bình đã làm bệ
phóng cho nền kinh tế Trung Quốc vào bay vào vị trí lớn thứ hai trên thế
giới.
|
On the institutional front as well, the CCP has not shied
away from reform. One example is the introduction in the 1980s and 1990s of
term limits for most political positions (and even of age limits, of 68–70,
for the party's most senior leadership). Before this, political leaders had
been able to use their positions to accumulate power and perpetuate their
rules. Mao Zedong was a case in point. He had ended the civil wars that had
plagued China and repelled foreign invasions to become the father of modern
China. Yet his prolonged rule led to disastrous mistakes, such as the
Cultural Revolution. Now, it is nearly impossible for the few at the top to
consolidate long-term power. Upward mobility within the party has also
increased.
|
Về bình diện thể chế cũng thế,
ĐCSTQ đã không tránh cải cách. Một ví dụ là đưa vào áp dụng vào những năm
1980 và 1990 giới hạn nhiệm kỳ cho hầu hết các vị trí chính trị (và ngay cả
giới hạn tuổi, 68-70, lãnh đạo nhất cao cấp của đảng). Trước đó, các nhà lãnh
đạo chính trị đã có thể sử dụng vị trí của họ để tập trung quyền lực và duy
trì các quy định của họ. Mao Trạch Đông là một trường hợp rõ nhất. Ông đã kết
thúc các cuộc nội chiến hoành hành Trung Quốc và đã đẩy lùi xâm lược nước
ngoài để trở thành người sáng lập Trung Quốc hiện đại. Tuy nhiên, sự trị vì
kéo dài của ông ta đã dẫn đến những sai lầm tai hại, chẳng hạn như Cách mạng
Văn hóa. Bây giờ, nó gần như là một ít người ở phía trên không thể củng cố
quyền lực lâu dài. Thăng tiến trong nội bộ đảng cũng đã tăng lên.
|
In terms of foreign policy, China has also changed course
many times to achieve national greatness. It moved from a close alliance with
Moscow in the 1950s to a virtual alliance with the United States in the 1970s
and 1980s as it sought to contain the Soviet Union. Today, its pursuit of a
more independent foreign policy has once more put it at odds with the United
States. But in its ongoing quest for greatness, China is seeking to defy
recent historical precedents and rise peacefully, avoiding the militarism
that plagued Germany and Japan in the first half of the last century.
|
Về chính sách đối ngoại, Trung
Quốc cũng đã đổi hướng nhiều lần để đạt được tầm vóc vĩ đại của quốc gia. Nó chuyển từ một
liên minh chặt chẽ với Moscow trong những năm 1950 thành một đồng minh ảo với
Hoa Kỳ trong những năm 1970 và 1980 khi nó tìm cách kìm hãm Liên Xô. Ngày
nay, việc theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập hơn một lần nữa đặt nó vào
vị trí xung đột với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong khi tiếp tục tìm kiếm địa vị
nước lớn, Trung Quốc đang tìm cách thách thức tiền lệ lịch sử gần đây và trổi
dậy một cách hòa bình, tránh chủ nghĩa quân phiệt mà đã hoành hành nước Đức
và Nhật Bản trong nửa đầu của thế kỷ trước.
|
As China undergoes its ten-year transition, calls at home
and abroad for another round of political reform have increased. One radical
camp in China and abroad is urging the party to allow multiparty elections or
at least accept formal intraparty factions. In this view, only full-scale
adversarial politics can ensure that China gets the leadership it needs.
However sincere, these demands all miss a basic fact: the CCP has arguably
been one of the most self-reforming political organizations in recent world
history. There is no doubt that China's new leaders face a different world
than Hu Jintao did when he took over in 2002, but chances are good that Xi's
CCP will be able to adapt to and meet whatever new challenges the rapidly
changing domestic and international environments pose. In part, that is
because the CCP is heavily meritocratic and promotes those with proven
experience and capabilities.
|
Khi Trung Quốc trải qua quá
trình chuyển đổi mười năm, những lời kêu gọi trong và ngoài nước về một đợt cải
cách chính trị đã tăng lên. Một phe cấp tiến ở Trung Quốc và nước ngoài đang
thúc giục đảng cho phép tổ chức bầu cử đa đảng, hoặc ít nhất là chấp nhận các
phe phái trong nội bộ chính đảng. Theo quan điểm này, chỉ có chính trị có đối
lập đầy đủ mới có thể đảm bảo rằng Trung Quốc tìm được các nhà lãnh đạo cần
thiết. Tuy nhiên, thành thực mà nói, tất cả những đòi hỏi đều bỏ lỡ một thực
tế cơ bản: ĐCSTQ đã được cho là một trong những tổ chức biết tự cải cách
chính trị nhất trong lịch sử thế giới gần đây. Không có gì nghi ngờ rằng lãnh
đạo mới của Trung Quốc phải đối mặt với một thế giới khác hơn so với Hồ Cẩm
Đào, khi ông lên cầm quyền vào năm 2002, nhưng có cơ hội tốt là ồn Tập của
Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có thể thích ứng và đáp ứng bất cứ áp đặt nào của
các thách thức mới do sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và
quốc tế tạo ra. Một phần, đó là vì ĐCSTQ là rất trọng nhân tài và nâng đỡ những
người tỏ rõ có kinh nghiệm và khả năng.
|
MAKING THE GRADE
China watchers in the West have used reports of
corruption-compounded by sensational political scandals such as the Bo Xilai
affair-to portray the ruling party as incurably diseased. The disease exists,
to be sure, but the most important treatment is the party itself. As
counterintuitive as it might seem to Westerners, the CCP, whose political
preeminence is enshrined in the Chinese constitution, is one of the most
meritocratic political institutions in the world.
|
TIẾN BỘ
Các nhà quan sát Trung Quốc ở phương Tây đã sử dụng
các báo cáo về tham
nhũng bị phức
tạp hóa bởi
các vụ bê bối chính trị giật gân như chuyện Bạc Hy Lai để miêu tả, đảng cầm quyền đang mắc bệnh nan y vô phương cứu
chữa. Chắc chắn là bệnh này có thật nhưng điều trị quan
trọng nhất là chính bản thân đảng. Có vẻ như trái với trực giác của người
phương Tây, ĐCSTQ, mà tính ưu việt chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp
Trung Quốc, là một trong những thể chế chính trị trọng nhân tài nhất trên thế
giới.
|
Of the 25 members that made up the pre-18th-Congress
Politburo, the highest ruling body of the CCP, only five (the so-called
princelings) came from privileged backgrounds. The other 20, including the
president, Hu, and the premier, Wen Jiabao, came from middle- or lower-class
backgrounds. In the CCP's larger Central Committee, which was made up of more
than 300 people, the percentage of people born into wealth and power was even
smaller. The vast majority of those in government worked and competed their way
through the ranks to the top. Admittedly, the new general secretary, Xi, is
the son of a previous party leader. However, an overwhelming number of those
who moved up the ranks this past fall had humbler beginnings.
|
Trong số 25 thành viên Bộ
Chính trị trước đại
hội 18, cơ quan cầm quyền cao nhất của Đảng Cộng sản Trung
Quốc, chỉ có năm (người gọi
là thái tử đảng) nguồn
gốc đặc quyền. 20 người kia, bao gồm cả Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, và Thủ tướng Ôn
Gia Bảo, xuất thân từ các tần lớp trung bình hoặc thấp hơn. Trong Ủy ban
Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc lớn hơn, bao gồm hơn 300 người, tỷ lệ
phần trăm của những người sinh ra giới giàu có và quyền lực thậm chí còn nhỏ
hơn. Đại đa số những người trong chính phủ làm việc và cạnh tranh theo các
cấp bậc để tiến lên đỉnh cao. Phải thừa nhận rằng, Tổng bí thư mới, ông Tập,
là con trai của một lãnh đạo đảng trước kia. Tuy nhiên, một số lượng áp đảo
của những người thăng cấp mùa thu vừa qua đều có khởi đầu khiêm tốn.
|
So how does China ensure meritocracy? At the heart of the
story is a powerful institution that is seldom studied in the West, the
Organization Department of the CCP. This department carries out an elaborate
process of bureaucratic selection, evaluation, and promotion that would be
the envy of any corporation. Patronage continues to play a role, but by and
large, merit determines who will rise through the ranks.
|
Vì vậy, làm thế nào để Trung
Quốc đảm bảo chế độ nhân tài? Trung tâm của câu chuyện là một thể chế mạnh mẽ
mà hiếm khi được nghiên cứu ở phương Tây: Ban Tổ chức của ĐCSTQ. Bộ phận này tiến
hành một quá trình công phu để lựa chọn, đánh giá và thăng cấp các chức vụ mà
bất kỳ công ty nào cũng phải ghen tị. Bảo trợ tiếp tục đóng một vai trò,
nhưng phần lớn, công lao xác định những người sẽ tiến thân qua các cấp bậc.
|
Every year, the government and its affiliated
organizations recruit university graduates into entry-level positions in one
of the three state-controlled systems: the civil service, state-owned
enterprises, and government-affiliated social organizations such as
universities or community programs. Most new recruits enter at the lowest
level, or ke yuan. After a few years, the Organization Department reviews
their performance and can promote them up through four increasingly elite
managerial ranks: fu ke, ke, fu chu, and chu. The range of positions at these
levels is wide, covering anything from running the health-care system in a
poor village to attracting commercial investment in a city district. Once a
year, the Organization Department reviews quantitative performance records
for each official in each of these grades; carries out interviews with superiors,
peers, and subordinates; and vets personal conduct. Extensive and frequent
public opinion surveys are also conducted on questions ranging from
satisfaction with the country's general direction to opinions about more
mundane and specific local policies. Once the department has gathered a
complete dossier on all the candidates, and has confirmed the public's
general satisfaction or dissatisfaction with their performances, committees
discuss the data and promote winners.
|
Hàng năm, chính phủ và các tổ
chức liên quan tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học của nó vào
vị trí khởi đầu trong
một trong ba hệ thống do
nhà nước kiểm soát: các dịch vụ dân sự, doanh nghiệp nhà nước, và các tổ
chức xã hội thuộc
Chính phủ, chẳng hạn như các trường đại học hoặc các chương trình cộng đồng.
Hầu hết các tân binh mới gia nhập ở mức lương thấp nhất, hoặc mức khởi điểm.
Sau một vài năm, Ban tổ chức đánh giá hiệu suất của họ và có thể thăng cấp
cho họ thông qua bốn cấp bậc quản lý ưu tú: fu ke, ke, fu chu và chu. Phạm vi của
các vị trí ở các mức độ này khá rộng, bao gồm từ điều hành hệ thống chăm sóc
sức khỏe tại một làng quê nghèo đến thu hút đầu tư thương mại ở một huyện
thành phố. Mỗi năm một lần, Ban tổ chức đánh giá thành tích công tác định
lượng của mỗi cán bộ theo một trong bốn mức trên, thực hiện các cuộc phỏng
vấn với cấp trên, đồng nhiệm và cấp dưới, và đánh giá hạnh kiểm cá nhân. Khảo
sát ý kiến công chúng rộng rãi và thường xuyên
cũng được tiến hành theo các câu hỏi khác nhau, từ sự hài lòng với phương hướng
chung của đất nước đến cho ý kiến về chính sách
địa phương sát sao và cụ thể hơn. Sau khi ban này đã thu thập đầy đủ hồ sơ về
tất cả các ứng cử viên, và đã khẳng định sự hài lòng của công chúng nói chung
hoặc không hài lòng với màn thành tích công tác của họ, các ủy ban thảo luận
về dữ liệu và thăng cấp cho người chiến thắng.
|
After this stage, public employees' paths diverge, and
individuals can be rotated through and out of all three tracks (the civil
service, state-owned enterprises, and social organizations). An official
might start out working on economic policy and then move to a job dealing
with political or social issues. He or she could go from a traditional
government position to a managerial role in a state-owned enterprise or a
university. In many cases, the Organization Department will also send a large
number of promising officials abroad to learn best practices around the
world. The likes of Harvard University's Kennedy School of Government and the
National University of Singapore regularly host Chinese officials in their
training programs.
|
Sau giai đoạn này, 'con đường
công chức phân kỳ, và các cá nhân có thể được luân chuyển qua cả ba lãnh vực (dịch vụ dân
sự, doanh nghiệp nhà nước, và các tổ chức xã hội). Một quan chức có thể bắt
đầu làm việc về chính sách kinh tế và sau đó chuyển sang công việc giải quyết
các vấn đề chính trị hay xã hội. Người này có thể đi từ một vị trí truyền
thống trong chính phủ với vai trò quản lý trong một doanh nghiệp thuộc sở hữu
nhà nước hoặc một trường đại học. Trong nhiều trường hợp, Ban tổ chức cũng sẽ
gửi một số lượng lớn các quan chức có tiềm năng hứa hẹn ra nước ngoài để tìm
hiểu các hoạt động tốt nhất trên thế giới. Các trường như Chính phủ học Kennedy
thuộc Đại học Harvard và Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên có các quan
chức Trung Quốc trong các chương trình đào tạo của họ.
|
Over time, the most successful workers are promoted again,
to what are known as the fu ju and ju levels, at which point a typical
assignment is to manage districts with populations in the millions or
companies with hundreds of millions of dollars in revenues. To get a sense of
how rigorous the selection process is, in 2012, there were 900,000 officials
at the fu ke and ke levels and 600,000 at the fu chu and chu levels. There
were only 40,000 at the fu ju and ju levels.
|
Theo thời gian, các nhân viên thành công
nhất được thăng tiến lần
nữa tới các mức ju
fu và ju, mà ở mức
này một nhiệm vụ điển hình là quản lý các huyện với dân số hàng triệu người hoặc các công
ty với doanh thu hàng trăm triệu đô la. Để có được một hình dung về quá trình
lựa chọn khắt khe như thế nào, hãy xem năm 2012, có 900.000 quan chức tại mức ke fu
và ke và 600.000 chu fu và chu. Chỉ có
40.000 ở mức ju fu và ju.
|
After the ju level, a very talented few move up several
more ranks and eventually make it to the party's Central Committee. The
entire process could take two to three decades, and most of those who make it
to the top have had managerial experience in just about every sector of
Chinese society. Indeed, of the 25 Politburo members before the 18th Party
Congress, 19 had run provinces larger than most countries in the world and
ministries with budgets higher than that of the average nation's government.
A person with Barack Obama's pre-presidential professional experience would
not even be the manager of a small county in China's system.
|
Sau khi mức ju, một vài người rất tài năng leo lên nhiều cấp và
cuối cùng tìm đường
vào Ủy ban Trung ương đảng. Toàn bộ quá trình có thể mất 2-3 thập kỷ, và hầu
hết những người đạt đến đỉnh cao đã có kinh nghiệm quản lý hầu như trong mọi
lĩnh vực của xã hội Trung Quốc. Thật vậy, trong số 25 thành viên Bộ Chính trị
trước khi Đại hội Đảng 18, 19 đã từng lãnh đạo các tỉnh lớn hơn so với hầu
hết các nước trên thế giới và các Bộ, với ngân sách cao hơn ngân sách của
chính phủ các quốc gia trung bình. Một người với kinh nghiệm chuyên môn như
của Barack Obama trước khi làm tổng thống hẳn sẽ không làm được người quản lý
của một quận nhỏ trong hệ thống của Trung Quốc.
|
Xi's career path is illustrative. Over the course of 30 years,
Xi rose from being a fu ke level deputy county chief in a poor village to
party secretary of Shanghai and a member of the Politburo. By the time he
made it to the top, Xi had already managed areas with total populations of
over 150 million and combined GDPs of more than $1.5 trillion. His career
demonstrates that meritocracy drives Chinese politics and that those who end
up leading the country have proven records.
|
Con đường sự nghiệp của ông Tập là một đẫn chứng minh
họa. Trong suốt 30 năm, ông Tập thăng tiến từ mức ke fu Phó huyện trưởng
trong một làng nghèo tới Bí thư Thượng Hải và là một thành viên của Bộ Chính
trị. Trước khi ông đạt đến đỉnh cao, ông đã quản lý khu vực có dân số tổng
cộng hơn 150 triệu và tổng GDP hơn 1,5 nghìn tỷ USD. Sự nghiệp của ông thể
hiện rằng chế độ nhân tài đã thúc đẩy chính trị Trung Quốc và rằng những
người lãnh đạo đất nước đều có thành tích đã được chứng minh.
|
INNOVATE OR STAGNATE
China's centralized meritocracy also fosters government
entrepreneurship. The practice of conducting top-down policy experiments in
select locales and expanding the successful ones nationwide is well
documented. The best-known example is Deng's creation of "special
economic zones" in the 1980s. The first such zone was in Shenzhen. The
district was encouraged to operate under market principles rather than the
dictates of central planners. Shenzhen's economy grew rapidly, which prompted
the central government to replicate the program in the cities of Zhuhai and
Shantou, in Guangdong Province; Xiamen, in Fujian Province; and throughout
Hainan Province.
|
ĐỔI MỚI HAY TRÌ TRỆ
Chế độ nhân tài tập trung của Trung Quốc cũng thúc đẩy tinh thần kinh doanh của chính phủ. Việc thực hành tiến hành thí nghiệm chính sách từ trên xuống dưới trong địa phương lựa chọn rồi nhân rộng những thành công ra trên toàn quốc cũng là đã được đúc rút tốt. Ví dụ nổi tiếng nhất là Đặng Tiểu Bình đã tạo ra các "đặc khu kinh tế" trong những năm 1980. Vùng đầu tiên tại Thâm Quyến. Huyện này đã được khuyến khích để hoạt động theo nguyên tắc thị trường chứ không phải là mệnh lệnh của người lập kế hoạch. Kinh tế Thâm Quyến đã tăng trưởng nhanh chóng, khiến chính quyền trung ương phải nhân rộng chương trình này tại các thành phố Chu Hải và Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông, Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, và trên toàn tỉnh Hải Nam. |
There are also thousands of policy experiments that rise
up from the local level. The competitive government job market gives capable
local officials incentives to take risks and differentiate themselves from
the pack. Among the 2,326 party representatives who attended the 18th Party
Congress, one such standout was Qiu He, who is vice party secretary of Yunnan
Province. At the congress, Qiu was selected as an alternate member of the
Central Committee, putting the 55-year-old maverick near the top of the
nation's political establishment. Qiu is the ultimate political entrepreneur.
Born into poverty in rural China, Qiu watched two of his eight siblings die
of childhood illness and malnutrition. After taking the national college
entrance exam, China's great equalizer, he was able to attend university.
When he entered the work force, he held several low-level civil service jobs
before being appointed party secretary of Shuyang County, in northern Jiangsu
Province, in the 1990s. With a peasant population of 1.7 million and an
annual per capita GDP of only $250 (less than one-fifth the national
average), Shuyang was one of the poorest rural areas in the country. The
county also suffered from the worst crime rate in the region and endemic
government corruption.
|
Ngoài ra còn có hàng ngàn chính
sách thí điểm xuất phát từ cấp địa
phương. Thị trường việc làm của Chính phủ cạnh tranh khuyến khích các quan
chức địa phương có năng lực chấp nhận rủi ro và phân biệt mình với các đồng
nghiệp khác. Trong số 2.326 đại biểu tham dự Đại hội Đảng lần thứ 18, một
trong những người nổi bật là Qiu He, phó bí thư đảng ủy tỉnh Vân Nam. Tại Đại hội, Qiu đã được chọn làm
ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, khiến người đàn ông 55 tuổi này ngấp
nghé ban lãnh đạo chính trị của quốc gia. Qiu là doanh nhân làm chính trị có
tiếng. Sinh ra trong nghèo đói ở nông thôn Trung Quốc, Qiu đã chứng kiến hai trong
tám anh chị em ruột của mình chết vì bệnh tật và suy dinh dưỡng thời thơ ấu.
Sau khi tham dự kỳ thi vào đại học quốc gia, thước đo quan trọng của Trung
Quốc, ông đã có thể theo học đại học. Khi ông bước vào lực lượng lao động,
ông giữ các chức vụ cấp thấp trong dịch vụ dân sự trước khi được bổ nhiệm làm
bí thư đảng vùng Shuyang, ở phía bắc tỉnh Giang Tô, trong những năm 1990. Với
dân số nông dân của 1,7 triệu và GDP bình quân đầu người hàng năm chỉ có $
250 (ít hơn một phần năm mức trung bình của cả nước), Shuyang là một trong
những khu vực nông thôn nghèo nhất trong cả nước. Vùng này cũng có tỷ lệ tội
phạm tồi tệ nhất trong khu vực và tham nhũng lan tràn trong chính quyền.
|
Subscribe to:
Posts (Atom)