|
|
|
|
|
|
|
Отчёт: в Китае не
доверяют властям и друг другу
|
Trung Quốc: người
dân không tin tưởng chính quyền và không tin lẫn nhau
|
|
ntdtv.ru
|
ntdtv.ru
|
|
|
|
|
Все больше китайцев не доверяет ни властям, ни друг другу.
О такой тенденции свидетельствует свежий годовой отчет Академии общественных
наук КНР.
|
Ngày càng nhiều người dân Trung Quốc không tin vào chính
quyền, không tin tưởng lẫn nhau. Báo cáo hàng năm mới đây của Viện hàn
lâm khoa học xã hội CHND Trung Hoa chứng minh xu hướng như
thế.
|
|
Согласно докладу, основное недовольство в китайском
обществе вызывают три категории: коррумпированные чиновники, бизнесмены и
госучреждения.
|
Theo báo cáo, sự bất mãn chủ yếu trong xã hội Trung Quốc
gây nên bởi ba phạm trù: quan chức tham nhũng, doanh nhân và cơ quan nhà
nước.
|
|
К влиятельным общественным институтам в Китае относятся
СМИ. Бывший профессор Шаньдунского университета Сунь Вэньгуан подтверждает,
что люди перестали им доверять.
|
Các phương tiện truyền thông thuộc định chế xã hội có ảnh
hướng. Cựu giáo sư đại học Sơn Đông
Sun Wenguang khẳng định rằng mọi người đã không tin tưởng lẫn nhau.
|
|
[Сунь Вэньгуан,
бывший профессор Шаньдунского университета]:
«Китайские СМИ
часто сообщают ложную информацию, чтобы скрыть правду. Особенно, когда речь
идет о сокрытии скандалов в компартии Китая».
|
Sun Wenguang, cựu giáo sư đại học Sơn Đông:
"Các phương tiện truyền thông Trung Quốc thường đưa
tin sai lệch để che đậy sự thật. Đặc biệt, khi nói về sự oa trữ những vụ bê
bối trong đảng CS Trung Quốc".
|
|
Профессор Сунь также указывает на неэффективность
китайской системы подачи жалоб. Желающих подать прошение в вышестоящую
инстанцию в стране очень много, однако полиция и спецслужбы часто просто не
дают петиционерам такой возможности – их задерживают, им угрожают и нередко
избивают.
|
Giáo sư Sun cũng chỉ ra tính không hiệu quả của hệ thống
khiếu nại ở Trung Quốc. Những người muốn đệ trình đơn từ lên cấp cao nhất ở trong nước có rất
nhiều, tuy nhiên cảnh sát và các cơ quan an ninh thường không cho những người
này cơ hội như thế - họ bị bắt giữ, bị đe dọa và không hiếm khi bị đánh đập.
|
|
В отчете китайской Академии общественных наук также
сообщается, что менее половины китайских граждан доверяют людям. Лишь 20-30%
говорят, что могут доверять незнакомцам.
|
Trong báo cáo của Viện hàn lâm khoa học xã hội cũng thông
báo rằng khoảng một nửa người dân Trung Quốc không còn tin tưởng lẫn nhau.
Chỉ 20-30% nói rằng có thể tin người lạ.
|
|
В отчёте приводится трагический случай с двухлетней
девочкой, который произошел в 2011 году. Ее сбил автомобиль, после чего мимо
истекающей кровью малышки прошло 18 человек, прежде чем кто-то остановился,
чтобы помочь. Через неделю девочка скончалась в больнице.
|
Trong báo cáo dẫn ra một trường hợp bi thảm với một cô bé
hai tuổi xảy ra vào năm 2011. Ô tô cán cô bé, sau đó có đến 18 người đi ngang
qua bé gái đầm đìa máu trước khi có ai đó dừng lại gọi xe cấp cứu. Một tuần
sau cô bé qua đời tại bệnh viện.
|
|
Также приводится случай с еще одним китайцем, который,
пытаясь помочь пострадавшей пожилой женщине, отвёз её в больницу. Однако т ам
его обвинили в причинении женщине телесных повреждений, чтобы вынудить его
оплатить ее лечение.
|
Báo cáo cũng dẫn ra trường hợp với một người đàn ông Trung
Quốc. Người nay muốn giúp đỡ một cụ bà bị thương và đưa bà đến bệnh viện. Tuy
nhiên ở đó ông đã bị khép tội gây thương tích đối với cụ bà và buộc ông trả
tiền điều trị cho bà.
|
|
В отчёте также говорится о так называемых «обратных
настроениях». Так называют тенденцию в обществе, когда граждане приветствуют
асоциальные действия, разочаровавшись в действиях стражей порядка.
|
Trong báo cáo cũng nêu ra những cái gọi là "trạng
thái ngược". Họ gọi xu hướng như vậy khi các công dân hoan nghênh các
hành động vỡ mộng với các hành vi của những người bảo vệ pháp luật.
|
|
Ярким примером является случай с неким Ян Цзя. В 2008 году
его подвергли допросу за нарушение правил дорожного движения, однако в
участке жестоко избили. После неудачной попытки подать жалобу он пришёл в
полицию и убил шестерых офицеров. Однако в обществе вместо осуждения он
получил поддержку. Его приветствовали как героя, который восстал против
властей, злоупотребляющих своими полномочиями.
|
Ví dụ điển hình là trường hợp với một Yan Tszia nào đó.
Vào năm 2008 ông bị thẩm vấn vì vi phạm luật lệ giao thông, tuy nhiên tại
cảnh sát khu vực ông đã bị đánh đập. Sau nỗ lực kiện tụng bất thành, ông đã
đến cơ quan cảnh sát và giết hại sáu sĩ quan. Tuy nhiên trong xã hội thay vì
lên án, ông nhận được sự ủng hộ. Họ chào đón ông như người anh hùng đã đứng
lên chống các quan chức lạm dụng chức
quyền của mình.
|
|
|
|
|
|
Translated by Kichbu
|
|
|
|
|
|
|
|
http://ntdtv.ru/novosti-kitaya/otchet-v-kitae-ne-doveryayut-vlastyam-i-drug-drugu
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, January 13, 2013
Отчёт: в Китае не доверяют властям и друг другу Trung Quốc: người dân không tin tưởng chính quyền và không tin lẫn nhau
Collision Course in the South China Sea TIẾN TRÌNH XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG
|
|
|
|
Collision Course in
the South China Sea
|
TIẾN TRÌNH XUNG ĐỘT BIỂN
ĐÔNG
|
|
By Vikram Nehru
National Interest,
August 23, 2012
|
Vikram Nehru
National Interest,
23-8-2012
|
|
Tensions in the South China Sea are ratcheting up. China
and the Southeast Asian nations with competing territorial claims seem set on
a collision course. Though still low, the probability of conflict is rising
inexorably.
|
Căng thẳng trên Biển Đông đang phát triển chỉ theo một
hướng. Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền mâu thuẫn
dường như đã bắt đầu một quá trình xung đột. Dù vẫn còn ở mức thấp nhưng xác
suất xung đột nổ ra đang trên đà tăng.
|
|
The current trajectory is lose-lose-lose for all
concerned, including China, Southeast Asia and third-party countries in the
Pacific Rim, such as the United States, that have a large stake in a peaceful
South China Sea. At this point, the focus should not be resolving competing
claims. Instead, diplomats must try to lower temperatures and get all sides
to implement confidence-building measures to ensure peace and stability in
the region. Only when cooler heads prevail can the concerned countries turn
their attention to resolving the longer-term questions of the sovereignty and
jurisdiction of the islands in the South China Sea.
|
Quỹ đạo hiện tại là “thua-thua-thua” đối với tất cả bên
liên quan, kể cả Trung Quốc, Đông Nam Á lẫn các nước thuộc bên thứ ba trong
Vành đai Thái Bình Dương như Mỹ – vốn dĩ có quyền lợi lớn nếu Biển Đông được
hòa bình. Vào thời điểm này, trọng tâm không nên là giải quyết các yêu sách
đối kháng nhau. Thay vì thế, giới ngoại giao phải cố gắng hạ nhiệt và làm sao
để các bên đều tiến hành các biện pháp xây dựng lòng tin, nhằm đảm bảo hòa
bình và ổn định trong khu vực. Chỉ khi nào những cái đầu nóng đã nguội đi,
thì các nước có liên quan mới có thể chuyển sự chú ý sang việc giải quyết
những vấn đề dài hạn hơn, về chủ quyền và quyền tài phán của các đảo trên
Biển Đông.
|
|
The forty-year history of disputes in the region has seen
a steady escalation in tension punctuated by occasional conflicts that have
been quickly contained. Based on the vaguely defined "nine-dash
line" (reduced from eleven dashes in 1953), China claims sovereignty
over the Paracel and Spratly Islands and their adjacent seas in accordance
with the United Nations Convention on the Law of the Sea. The other side is
represented by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and
includes Brunei, Malaysia, Philippines and Vietnam, which have more modest,
but nevertheless competing, claims that overlap with each other and with
China.
|
Lịch sử 40 năm tranh chấp trong khu vực đã có sự leo thang
đều đều, xen kẽ với những cuộc xung đột mà thường là nhanh chóng được kiềm
chế. Căn cứ vào “đường 9 đoạn” được xác định mơ hồ (giảm từ 11 đoạn năm 1953
xuống còn 9 đoạn), Trung Quốc ra yêu sách đòi chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, cùng vùng biển lân cận, theo Công ước LHQ về Luật
Biển. Bên kia, đại diện là Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm có
Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước này đưa ra yêu sách
khiêm tốn hơn, nhưng cũng mâu thuẫn, chồng lấn lên yêu sách của nhau và của
Trung Quốc.
|
|
The latest escalation in friction started with a
confrontation between China and the Philippines over the Scarborough Shoal.
There also were competing international bids by China and Vietnam for oil
exploration in areas of the South China Sea contested by the two countries.
Efforts by the Philippines and Vietnam to get the support of their ASEAN
counterparts at a recent ministerial meeting resulted in ASEAN's inability to
issue a communiqué for the first time in the organization's forty-five-year
history.
|
Lần leo thang xung đột gần đây nhất bắt đầu từ vụ đối đầu
giữa Trung Quốc và Philippines quanh khu vực bãi cạn Scarborough. Cũng đã có
những lời mời thầu quốc tế mâu thuẫn nhau của Trung Quốc và Việt Nam, mời
chào thăm dò dầu khí trong khu vực Biển Đông mà hai nước đang tranh chấp. Các
nỗ lực của Philippines và Việt Nam nhằm giành được sự ủng hộ của đối tác
ASEAN tại cuộc họp bộ trưởng ngoại giao gần đây, đã đưa đến việc ASEAN không
thể ra được thông cáo chung – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của tổ chức
này có chuyện như vậy.
|
|
Cambodia, ASEAN's chair for 2012, refused to make
reference to disputes in the South China Sea, starkly revealing the
not-so-subtle influence of China. But thanks to shuttle diplomacy by
Indonesia's energetic foreign minister, Marty Natalegawa, ASEAN emerged with
a face-saving "common position" that reiterated six principles
adhering to the declaration of a code of conduct and the Law of the Sea.
ASEAN's joint communiqué, however, still hasn't been issued.
|
Campuchia, Chủ tịch ASEAN năm 2012, từ chối nhắc đến tranh
chấp trên Biển Đông, rõ ràng đã cho thấy sự tác động không lấy gì làm tế nhị
lắm của Trung Quốc. Nhưng nhờ có hoạt động ngoại giao con thoi của vị ngoại
trưởng mạnh mẽ của ASEAN, ông Marty Natalegawa, ASEAN đã đạt được một “lập
trường chung” để giữ thể diện. Lập trường này nhắc lại sáu nguyên tắc tuân
theo tuyên bố về cách ứng xử và vào Luật Biển. Tuy nhiên, tuyên bố chung của
ASEAN thì vẫn chưa được đưa ra.
|
|
Following Vietnam's June 2012 approval of a maritime law
that declared sovereignty and jurisdiction over the Spratly and Paracel
Islands in the South China Sea, China objected strongly and upped the ante by
announcing steps to actively administer the disputed islands and the
Macclesfield Bank, as well as 772,000 square miles of ocean within its
"nine-dashed line." Sansha, a 1.5-kilometer islet in a disputed
part of the South China Sea, has been declared a city that will include a
local government responsible for overseeing the area. Legislators and a mayor
have been elected, and the Chinese authorities announced plans to station a
People's Liberation Army garrison there to monitor—and defend, if
necessary—China's claims over the area.
|
Sau khi Việt Nam phê chuẩn luật biển vào tháng 6-2012,
tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
trên Biển Đông, Trung Quốc đã phản đối cực lực và đã khiến cho tình hình căng
thẳng thêm bằng việc tuyên bố các bước để chủ động quản lý các hòn đảo tranh
chấp, bãi ngầm Macclesfield (Trung Quốc: Trung Sa – ND), cũng như toàn vùng
biển 772.000 dặm vuông (tương đương gần 2 triệu km vuông – ND) nằm trong
“đường 9 đoạn”. Tam Sa – hòn đảo nhỏ diện tích 1,5 km2 nằm ở vùng tranh cãi trên
Biển Đông – đã vừa được tuyên bố là một thành phố có chính quyền địa phương
chịu trách nhiệm cai quản khu vực. Đại biểu quốc hội cùng một viên thị trưởng
đã được bầu chọn, và chính quyền Trung Hoa công bố kế hoạch đặt một đơn vị
đồn trú của Quân đội Giải phóng Nhân Dân (PLA) ở trên đảo này để giám sát –
và nếu cần thì bảo vệ – việc thực thi chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực.
|
|
These developments merely escalated tensions and served
neither China's broader strategic interests nor those of the Southeast Asian
claimant nations.
|
Các diễn biến đó chỉ làm căng thẳng thêm leo thang, không
phục vụ cho những lợi ích chiến lược lớn hơn của Trung Quốc, cũng chẳng có
ích gì cho các nước Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền.
|
|
China's recent actions in the South China Sea are likely
to severely damage its ability to influence the region and the world on other
more important issues. For example, China's economic strength relies in part
on its economic integration with Southeast Asia that has helped build
globally competitive production networks. That integration, which depends on good
bilateral relations with its neighbors, is now jeopardized.
|
Những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông chắc
chắn sẽ phá hoại một cách nghiêm trọng khả năng họ gây ảnh hưởng lên khu vực
và thế giới trong những vấn đề quan trọng hơn. Ví dụ, sức mạnh kinh tế của
Trung Quốc phụ thuộc một phần vào mức độ hội nhập kinh tế của họ với Đông Nam
Á, góp phần tạo ra những mạng lưới sản xuất mang tính cạnh tranh toàn cầu. Sự
hội nhập đó phụ thuộc vào việc xây dựng được quan hệ song phương hữu hảo với
các nước láng giềng, và giờ đây nó đang bị phá hoại.
|
|
China already has few friends in the region. In a speech
last year, Vice Premier Li Keqiang (expected to be China's next prime
minister) said that China sought to assure the world that its intentions are
to cooperate with other countries to smooth its emergence as a global power.
This idea of China's peaceful rise has been a cornerstone of Beijing's
foreign-policy strategy. Unfortunately, its Southeast Asian neighbors do not
see China's actions matching its rhetoric.
|
Trung Quốc cũng đã có vài người bạn trong khu vực. Trong
một diễn văn đọc hồi năm ngoái, Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường – người mà theo
dự kiến sẽ trở thành thủ tướng tiếp theo của Trung Quốc – tuyên bố, Trung
Quốc muốn đảm bảo với thế giới rằng họ có ý định hợp tác với các nước khác để
làm dịu bớt sự trỗi dậy như một siêu cường toàn cầu của họ. Quan điểm về sự
trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc vốn là hòn đá tảng trong chiến lược đối
ngoại của Bắc Kinh. Thật không may là các nước láng giềng Đông Nam Á lại thấy
hành động của Trung Quốc chẳng đi đôi với những luận điệu hoa mỹ của họ.
|
|
By taking provocative actions in the South China Sea
themselves, Vietnam and the Philippines are not altogether blameless in the
latest series of events. They don't need reminding, however, that a
confrontation with China is not in their interests or those of the rest of
Southeast Asia.
|
Bản thân Việt Nam và Phlippines, bằng những hành động
khiêu khích của chính họ, cũng không phải là hoàn toàn vô tội trong hàng loạt
sự cố gần đây. Tuy nhiên, cũng không cần phải nhắc họ rằng, đối đầu với Trung
Quốc chẳng có lợi gì cho họ cũng như cho phần còn lại của Đông Nam Á.
|
|
The region's impressive economic performance over the last
two decades has benefitted enormously from China's growth engine. Major
investments have been made in developing production networks, and continued
good relations with China hold out promise for more. Worsening relations
could put this at risk. More importantly, Southeast Asian countries recognize
the dangers of any armed conflict with China, which could increase manifold
if the United States were to be drawn into the fight.
|
Đà phát triển kinh tế đầy ấn tượng của khu vực trong hai
thập niên qua đã hưởng lợi rất lớn từ cỗ máy tăng trưởng Trung Quốc. Những
khoản đầu tư lớn đã được rót vào mạng lưới sản xuất đang phát triển, và quan
hệ hữu hảo với Trung Quốc, nếu được duy trì, còn hứa hẹn nhiều nữa. Quan hệ
xấu đi có thể gây rủi ro. Quan trọng hơn, các nước Đông Nam Á đã nhận ra sự
nguy hiểm của bất kỳ cuộc xung đột có vũ trang nào với Trung Quốc – xung đột
ấy có thể nhân rộng nếu Mỹ bị kéo vào cuộc chiến.
|
|
Finally, the growing risk of conflict is not in the
interest of the global community, especially for countries that rely on
peaceful passage through the South China Sea and those on the Pacific Rim.
The global economy, already suffering from myriad challenges, cannot afford
yet another layer of uncertainty.
|
Cuối cùng, rủi ro xung đột ngày càng gia tăng không hề có
lợi cho cộng đồng quốc tế, đặc biệt là cho những nước phụ thuộc vào hoạt động
hàng hải bình yên trên Biển Đông, và những nước nằm trong Vành đai Thái Bình
Dương. Nền kinh tế toàn cầu vốn dĩ đã phải chịu đựng vô vàn khó khăn, sẽ
không thể chịu thêm một sự bất định nữa.
|
|
Certainly, the potential costs of conflict for the region and
the world far outweigh any potential economic benefits contained in the
seabed of the South China Sea—much of which is unknown in any case. Rather
than the availability of hydrocarbons and fisheries, the South China Sea
dispute is now increasingly being driven by domestic public opinion in the
countries concerned that is fueled by military lobbies and strong nationalist
sentiments.
|
Tất nhiên, chi phí tiềm ẩn của xung đột, đối với khu vực
và thế giới, vượt xa bất kỳ lợi ích kinh tế tiềm năng nào có thể có được nhờ
đáy biển – phần lớn các lợi ích này chưa bao giờ được xác định rõ. Không còn
là chuyện băng cháy và nguồn cá, tranh chấp Biển Đông giờ đây ngày càng bị
lôi kéo bởi ý kiến công luận ở mỗi nước liên quan, mà công luận thì lại bị
kích động bởi những vận động hành lang của phe quân sự và tình cảm dân tộc
chủ nghĩa mạnh mẽ.
|
|
Stepping back from the brink is in everyone's interests.
But this has to be done in a way that builds mutual trust and confidence. The
current escalating tit-for-tat dynamic between China and the two ASEAN
claimants—Vietnam and the Philippines—must be stopped, difficult as that may
be, and perhaps even reversed. It necessarily will involve a series of
carefully choreographed actions to gradually unwind present positions in a
way that can satisfy their respective domestic constituencies.
|
Lùi khỏi miệng vực sẽ là có lợi cho tất cả mọi người.
Nhưng việc này phải được thực hiện theo một cách tạo ra sự tin cậy lẫn nhau.
Sự leo thang kiểu ăn miếng trả miếng hiện nay giữa Trung Quốc và hai quốc gia
ASEAN có yêu sách chủ quyền khác – Việt Nam và Phlippines – cần phải chấm dứt, dù rất khó,
và thậm chí cần thay đổi hoàn toàn. Cần đi kèm với một loạt hành động được
“biên đạo” cẩn thận để dần dần tháo gỡ các lập trường hiện nay, theo một cách
có thể thỏa mãn các cử tri của mỗi nước.
|
|
Given his recent success at shuttle diplomacy, Indonesia’s
Natalegawa could well be the man to thread this needle. Perhaps helped by a
small team of internationally recognized statesmen, he could shuttle between
the three key claimant countries—China, Philippines and Vietnam—to broker a
deal. Natalegawa's recently burnished credentials as a diplomat have earned
him the confidence of both sides. Moreover, such an approach could satisfy
Beijing's reluctance to enter multilateral negotiations over the South China
Sea while still arranging a collective stand-down.
|
Với thành công gần đây của mình trong hoạt động ngoại giao
con thoi, ngoại trưởng Natalegawa của Indonesia rất có thể sẽ là người luồn
kim (nguyên văn: thread the needle, nghĩa bóng là tìm đường lách qua các quan
điểm đối kháng, đối lập nhau). Có lẽ ông sẽ được một nhóm nhỏ những chính
khách có uy tín quốc tế hỗ trợ, để ông thực hiện ngoại giao con thoi nhằm làm
trung gian hòa giải ba nước chính có yêu sách chủ quyền: Trung Quốc,
Philippines và Việt Nam. Ủy nhiệm thư rất được ca ngợi gần đây của ông, với
tư cách nhà ngoại giao, đã khiến ông giành được sự tin cậy của cả hai bên.
Hơn thế nữa, cách tiếp nhận như của ông Natalegawa có thể làm thỏa mãn Bắc
Kinh, vốn dĩ rất miễn cưỡng, không muốn phải đàm phán đa phương về vấn đề
Biển Đông trong khi vẫn đang phải sắp xếp một cuộc thay đổi nhân sự tập thể.
|
|
But make no mistake, the real leadership and courage will
need to come from the claimant countries themselves. Given the high stakes
involved, let's hope that such leadership is forthcoming.
|
Nhưng đừng lầm. Năng lực lãnh đạo và lòng can đảm thực sự
cần phải đến từ chính các nước có yêu sách chủ quyền. Trong tình hình có
nhiều lợi ích lớn liên quan đến khu vực, chúng ta hãy hy vọng rằng nhà lãnh
đạo như thế sắp xuất hiện.
|
|
Vikram Nehru is a
senior associate and Bakrie Chair in Southeast Asian Studies at the Carnegie
Endowment for International Peace.
|
Tác giả: Vikram
Nehru là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Quỹ
Hòa bình Quốc tế Carnegie.
|
|
|
Translated by Đỗ Quyên
|
|
|
|
|
|
|
|
http://nationalinterest.org/commentary/collision-course-the-south-china-sea-7380?page=1
|
|
The Dangerous Math of Chinese Island Disputes BÀI TOÁN TRANH CHẤP BIỂN ĐẢO NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC
|
|
|
|
The Dangerous Math
of Chinese Island Disputes
|
BÀI TOÁN TRANH CHẤP
BIỂN ĐẢO NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC
|
|
By M. TAYLOR FRAVEL
Thursday, Oct. 25.
|
M. Taylor Fravel
31/10/2012
|
|
If history is any
guide, there's a real risk Beijing will use force against Japan over the
Senkakus.
|
Nếu lịch sử có bất
kỳ một hướng dẫn nào thì có nhiều nguy cơ Bắc Kinh sẽ sử dụng vũ lực chống
lại Nhật Bản để lấy quần đảo Senkaku.
|
|
China's standoff with Japan over the rocky Senkaku
(Diaoyu) Islands has entered its second month. The current confrontation,
however, is more dangerous than is commonly believed. China's past behavior
in other territorial disputes demonstrates why the Senkaku standoff is primed
to explode.
|
Vụ tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên
quan đến quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) đang bước vào tháng thứ hai. Cuộc đối
đầu hiện nay lại nguy hiểm hơn những gì đang được nhiều người chứng kiến.
Những hành vi trong quá khứ của Trung Quốc liên quan đến các vụ tranh chấp lãnh
thổ khác chứng minh lý do tại sao những bế tắc tại Senkaku là tiền đề để vụ
này có thể bùng nổ.
|
|
Since 1949, China has been involved in 23 territorial
disputes with its neighbors on land and at sea. Seventeen of them have been
settled, usually through compromise agreements. Nevertheless, China has used
force, often more than once, in six of these disputes. And it's these cases
that most closely parallel the Senkaku impasse.
|
Kể từ năm 1949, Trung Quốc đã tham gia vào 23 vụ tranh
chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trên đất liền và trên biển. Mười bảy vụ
trong số đó đã được giải quyết êm thỏa, thường là thông qua các hiệp định
thỏa hiệp giữa các nước. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực sáu lần
trong các vụ tranh chấp này. Và đó là những trường hợp tương tự nhất đối với
bế tắc tại Senkaku.
|
|
To start, China has usually only used force in territorial
disputes with its most militarily capable neighbors. These include wars or
major clashes with India, Russia and Vietnam (several times), as well as
crises involving Taiwan. These states have had the greatest ability to check
China's territorial ambitions.
|
Thông thường thì Trung Quốc chỉ sử dụng vũ lực trong các
vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng có lực lượng quân sự mà họ có
khả năng đối phó. Chúng bao gồm các cuộc chiến tranh hoặc các vụ đụng độ lớn
với Ấn Độ, Nga và Việt Nam (nhiều lần), cũng như các cuộc khủng hoảng liên quan
đến Đài Loan. Các quốc gia này có khả năng kiểm soát lớn nhất đối với những
tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.
|
|
In disputes with weaker states, such as Mongolia or Nepal,
Beijing has eschewed force because it could negotiate from a position of
strength. Japan is now China's most powerful maritime neighbor, with a modern
navy and a large coast guard.
|
Trong các vụ tranh chấp với những quốc gia yếu hơn, như
Mông Cổ hay Nepal, thì Bắc Kinh đã né tránh đề cập đến vũ lực vì họ có thể sử
dụng sức mạnh [quân sự] trong các cuộc đàm phán. Hiện nay, Nhật Bản là hàng
xóm hàng hải mạnh nhất đối với Trung Quốc, với một lực lượng hải quân hiện
đại và đội ngũ lính tuần duyên khá lớn.
|
|
China has also used force most frequently in disputes over
offshore islands such as the Senkakus. Along its land border, China has used
force only in about one-fifth of 16 disputes. By contrast, China has used
force in half of its four island disputes. Islands are seen as possessing
much more strategic, military and economic value because they influence
sea-lane security and may hold vast stocks of hydrocarbons and fish.
|
Trung Quốc cũng đã thường xuyên sử dụng vũ lực trong các
tranh chấp liên quan đến biển đảo gần bờ của họ như quần đảo Senkaku. Dọc
theo biên giới gần đất liền, Trung Quốc đã ụng sử dụng vũ lực chỉ 1/5 trong
tổng số 16 vụ tranh chấp. Ngược lại, một nữa các vụ còn khác thì Trung Quốc
đã sử dụng vũ lực đối với 4 hòn đảo tranh chấp. Các quần đảo thường được coi
là có giá trị nhiều hơn vì các điều kiện chiến lược, quân sự và kinh tế bởi
chúng ảnh hưởng đến an ninh đường biển và có thể chứa đựng nhiều nguồn tài
nguyên thiên nhiên, khí đốt và ngư trường.
|
|
In addition, China has mostly used force to strengthen its
position in disputes where it has occupied little or none of the land that it
claims. In 1988, for example, China clashed with Vietnam as it occupied six
coral reefs that are part of the Spratly Islands. China had claimed
sovereignty over the Spratlys for decades—but had not controlled any part of
them before this occupation.
|
Ngoài ra, Trung Quốc đã chủ yếu sử dụng vũ lực để củng cố
vị trí của họ, đặc biệt tại những nơi mà họ chiếm rất ít hoặc thậm chí là
không có chủ quyền, điều này có thể giúp họ tuyên bố chủ quyền sau khi chiếm
đoạt chúng. Ví dụ như năm 1988, Trung Quốc đã đụng độ với Việt Nam và sau đó
họ đã chiếm sáu rạn san hô, một phần trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền
Việt Nam. Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa trong
nhiều thập kỷ, nhưng họ không kiểm soát được bất kỳ một phần đất nào cho đến
khi họ chiếm đóng khu vực này.
|
|
In cases where China already possessed some of the
contested territory, such as a border dispute with Kazakhstan, China had a
strong bargaining position and little reason to use force. But in the East
China Sea, China does not currently hold any of the Senkaku Islands, which are
under Japanese control.
|
Trong trường hợp Trung Quốc đã kiểm soát được một phần
lãnh thổ có tranh chấp, chẳng hạn như trường hợp tranh chấp biên giới với
Kazakhstan, thì phía Trung Quốc có vị thế mạnh mẽ hơn, do đó họ ít sử dụng vũ
lực để chiếm đoạt. Nhưng trường hợp ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc hiện không
nắm giữ bất kỳ một phần chủ quyền nào tại quần đảo Senkaku. Quần đảo này hiện
đang thuộc quyền kiểm soát của Nhật Bản.
|
|
Most importantly, China has used force in territorial
disputes during periods of regime insecurity, when leaders have a greater
incentive to show resolve: They believe that opposing states seek to take
advantage of China's domestic woes, and that a weak or limited response might
increase popular discontent.
|
Quan trọng nhất, Trung Quốc thường sử dụng vũ lực trong
các vụ tranh chấp lãnh thổ giữa các thời kỳ mà chế độ của họ suy yếu nhất, vì
các nhà lãnh đạo hướng tới động lực lớn hơn là giải quyết vấn đề nội bộ: Họ
tin rằng các thành phần đối lập tìm cách tận dụng thời điểm khủng hoảng trong
nước, và rằng một phản ứng yếu hoặc hạn chế có thể làm gia tăng những thành
phần bất mãn.
|
|
China's leaders today may feel on the ropes for several
reasons—elite conflict at the highest levels of the ruling Chinese Communist
Party; a slowing economy that undermines the legitimacy of the CCP; and a
delicate transition of power from one generation of leaders to the next.
These factors increase the value of using firm action to signal resolve to
both Japan and the Chinese public. They also decrease Beijing's willingness
to compromise or be seen as backing down.
|
Các lãnh đạo Trung Quốc hiện nay có thể cảm thấy nhiều áp
lực vì một số lý do: tranh chấp nội bộ giữa các đảng viên ưu tú cao cấp ở
thượng tầng trong Đảng Cộng sản đang cầm quyền; một nền kinh tế chậm chạp làm
suy yếu tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc; và quá trình chuyển đổi
quyền lực từ thế hệ này sang thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Những yếu tố này làm
tăng giá trị của việc sử dụng vũ lực nhằm báo hiệu cách giải quyết đối với
Nhật Bản và cả công chúng Trung Quốc. Họ cũng làm giảm thiện chí thỏa hiệp
của Bắc Kinh, hay một cách khác là Trung Quốc không muốn khoan nhượng.
|
|
To Chinese eyes, Japan's Senkaku moves look like attempts
to capitalize on Chinese difficulties. The current standoff began in April,
when nationalist Tokyo governor Shintaro Ishihara announced a plan to buy three
of the islands from their private Japanese owner. Mr. Ishihara's announcement
came just days after Beijing suspended Politburo member Bo Xilai from all his
positions in the CCP—arguably the biggest upheaval in elite Chinese politics
in more than two decades.
|
Đối với người Trung Quốc, nước cờ của Nhật Bản tại Senkaku
trông giống như Nhật Bản đang cố gắng tận dụng những khó khăn của Trung Quốc.
Những bế tắc hiện nay đã bắt đầu hồi tháng Tư, khi Thống đốc Tokyo Shintaro
Ishihara, người được biết là có quan niệm dân tộc chủ nghĩa, đã công bố kế
hoạch mua lại ba trong những hòn đảo từ chủ sở hữu người Nhật. Tuyên bố của
ông Ishihara được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Bắc Kinh đình chỉ tất cả những
chức vụ của Ủy viên Bộ Chính trị Bạc Hy Lai trong Đảng Cộng sản Trung Quốc –
nhân vật được biết đến như một đảng viên ưu tú tại Trung Quốc trong hơn hai
thập kỷ qua.
|
|
Diplomatic positions hardened as China's economic growth
slowed much faster than expected, an increasing source of worry for Beijing's
leaders. Then Japanese Premier Yoshihiko Noda announced his decision to buy
the islands on the July anniversary of the 1937 Marco Polo Bridge incident,
which marked Japan's bid to conquer all of China. Finally, the sale was
completed in September just days before the anniversary of the 1931 Japanese
invasion of Manchuria.
|
Chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã trở nên cứng rắn
hơn giữa lúc tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này bắt đầu chậm lại nhanh
hơn so với dự kiến. Đây là một điều mà các lãnh đạo Bắc Kinh rất lo lắng. Sau
đó, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda đã công bố quyết định mua lại hòn đảo
này hôm tháng Bảy nhân dịp ngày kỷ niệm sự cố Marco Polo Bridge năm 1937,
đánh dấu ngày Nhật Bản chiến thắng Trung Quốc. Vụ mua bán này đã được hoàn
thành trong tháng Chín, chỉ vài ngày trước ngày kỷ niệm cuộc xâm lược của
Nhật Bản tại Mãn Châu vào năm 1931.
|
|
The final destabilizing factor in the Senkaku standoff is
that both sides are simultaneously engaged in other island disputes. South
Korean President Lee Myung-bak recently broke with tradition and became the
first Seoul leader to visit the disputed Dokdo (Takeshima) Islands, which are
occupied by the Koreans but also claimed by Japan. Meanwhile, China has been
dueling with Vietnam and the Philippines in the South China Sea. Tokyo and
Beijing may both conclude that whoever prevails in the Senkakus will have a
better chance at prevailing in these other disputes.
|
Cuối cùng, các yếu tố gây mất ổn định trong vụ bế tắc
Senkaku khác là cả hai đều đang dính vào các tranh chấp với những nước khác.
Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak mới đây đã phá vỡ truyền thống và trở thành
lãnh đạo đầu tiên đến thăm khu vực tranh chấp tại đảo Dokdo (Takeshima), nơi
đang được Hàn Quốc kiểm soát và tranh chấp với phía Nhật Bản. Trong khi đó,
Trung Quốc đang đôi co với Việt Nam và Philippines ở Biển Đông. Tokyo và Bắc
Kinh đều có thể kết luận rằng bất cứ ai chiếm ưu thế tại quần đảo Senkaku sẽ
có cơ hội tốt hơn để tuyên bố chủ quyền tại những nơi có tranh chấp khác.
|
|
History is not destiny. China has not used force in a
territorial dispute for more than 20 years. Escalation over the Senkakus may
be avoided. Nevertheless, the current situation is fraught with danger.
Should a fatal incident occur involving government ships from either country,
a real crisis may begin whose end cannot be foretold.
|
Lịch sử không phải là định mệnh. Trung Quốc đã không sử
dụng vũ lực trong các vụ tranh chấp lãnh thổ trong hơn 20 năm qua. Những căng
thang đang leo thang tại quần đảo Senkaku có thể tránh được. Tuy nhiên, tình
hình hiện nay là đầy nguy hiểm. Nếu một sự cố nghiêm trọng xảy ra liên quan
đến các tàu chính phủ giữa hai nước thì đây có thể là một cuộc khủng hoảng
thực sự mà kết quả không thể báo trước được.
|
|
Mr. Fravel is an associate professor of political science
and member of the Security Studies Program at MIT, and author of "Strong
Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China's Territorial
Disputes" (Princeton, 2008).
|
Ông Fravel là giáo sư khoa học chính trị và là thành viên
của Chương trình Nghiên cứu An ninh tại Học viện Công nghệ Massachusetts
(MIT). Ông là tác giả của cuốn sách “Biên giới mạnh mẽ, Quốc gia an toàn: Hợp
tác và xung đột trong các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc” do Princeton
xuất bản năm 2008 (Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in
China’s Territorial Disputes).
|
|
|
|
|
|
Translated by Đặng
Khương
|
|
|
|
|
|
|
|
http://online.wsj.com/article/SB10001424052970203922804578082371509569896.html
|
|
Foods That Trigger Severe Headaches
Foods That Trigger Severe Headaches - Thức ăn gây nhức đầu.
Vietnam’s economic woes: where to from here? Kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu?
|
|
|
|
Vietnam’s economic
woes: where to from here?
|
Kinh tế Việt Nam sẽ
đi về đâu?
|
|
By Jake Maxwell Watts and Nguyen Phuong Linh
Financial Times
|
Jake Maxwell Watts & Nguyen Phuong Linh
Financial Times
|
|
Jan 10, 2013
|
10/01/2013
|
|
In both the developing and industrialised worlds, economic
growth rates, like bad news, can be entirely relative. Vietnam’s
respectable-sounding GDP growth of 5.08 per cent in 2012 was in fact a
painful fall from 5.9 per cent in 2011 and marked its slowest pace in 13
years. Will 2013 be any better?
|
Về cả hai mặt phát triển và công nghiệp hóa, tốc độ tăng
trưởng kinh tế – như các tin tức xấu – có thể hoàn toàn là điều tương đối.
Tăng trưởng GDP 5,08% đáng nể của Việt Nam trong năm 2012 là mức sụt giảm đau
đớn so với 5,9% hồi năm 2011. Đây cũng là tốc độ tăng trưởng chậm nhất trong
vòng 13 năm qua. Liệu năm 2013 sẽ tốt hơn chăng?
|
|
After charming emerging market investors for more than a
decade, the southeast Asian country has had a bad year. High-profile
corruption scandals, plummeting investor confidence and record levels of bad
debt have battered the economy. In a 2013 New Year’s message to the nation, Prime
Minister Nguyen Tan Dung admitted to “shortcomings in the government’s management”
and “economic structural weaknesses”. What happened to Vietnam in 2012?
|
Sau khi trở thành thị trường mới nổi thu hút nhiều nguồn
đầu tư nước ngoài hơn một thập kỷ qua, quốc gia Đông Nam Á này đã trải qua
một năm tồi tệ. Hồ sơ tham nhũng tiếp tục tăng cao, niềm tin của các nhà đầu
tư sụt giảm và nợ xấu chạm mức kỷ lục đã khiến nền kinh tế nước này trở nên
khó khăn hơn. Trong một thông điệp nhân dịp năm mới 2013, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng đã thừa nhận “chính phủ có những thiếu sót trong quản lý” và “cơ cấu
nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém”. Điều gì đã xảy ra tại Việt Nam trong năm
2012?
|
|
Some analysts say a bad year was structurally inevitable
for Vietnam. The economy grew at an average of 7 per cent a year throughout
the 1990s and slowed slightly in the 2000s. Much of this development was
driven by inefficient state-owned enterprises – a powerful force which, until
recently, accounted for around 40 per cent of the country’s GDP.
|
Một số nhà phân tích nói rằng đối với hệ thống hiện hành
thì Việt Nam không thể tránh khỏi một năm tồi tệ như hiện nay. Kinh tế tăng
trưởng ở mức trung bình 7% mỗi năm trong suốt thập niên 1990 và bắt đầu chậm
lại đôi chút trong những năm 2000. Phần lớn sự phát triển yếu kém này là do
các doanh nghiệp nhà nước – lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế tại nước này
– hoạt động kém hiệu quả và gần đây đã chiếm lên đến 40% GDP của cả nước.
|
|
But their vulnerabilities became apparent in the near-collapse
of Vietnam Shipbuilding Industry Group, known as Vinashin. The group was
bailed out by the government in 2010 after accruing more than $4.5bn in debt
due largely to ill-judged investments in unrelated sectors such as motorbikes
and power plants. Standard & Poor’s, the rating agency, said in December
2010: “Vinashin’s woes highlight the lack of transparency, weak
accountability, and poor corporate governance in Vietnam, which is still in
the early stages of transitioning from a centrally planned to a market-based
economy.” Nine Vinashin executives were jailed in March 2012, around the same
time that scandals at other debt-ridden SOEs stoked fears of further
failures.
|
Tuy nhiên, lỗ hổng của họ trở nên rõ ràng hơn khi Tập đoàn
Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, được biết đến với tên Vinashin, đi đến bờ vực
phá sản hồi năm 2010. Tập đoàn nay đã được chính phủ giải cứu trong năm 2010
sau khi tích luỹ hơn 4,5 tỳ USD nợ nần, phần lớn là do đầu tư vào các lĩnh
vực thiếu chuyên môn như xe máy hay nhà máy điện. Cơ quan đánh giá tín dụng
Standard & Poor cho biết hồi tháng Mười hai năm 2010: “Khủng hoảng ở
Vinashin đã làm nổi bật sự thiếu minh bạch, trách nhiệm yếu kém, và quản trị
doanh nghiệp nghèo nàn ở Việt Nam, và đây vẫn còn trong các giai đoạn đầu khi
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường nền”. Chín
giám đốc điều hành Vinashin đã bị tuyên án tù hồi tháng Ba năm 2012, cùng với
khoảng thời gian mà nhiều người lo ngại sẽ có thêm các vụ bê bối tại nhiều
doanh nghiệp nhà nước khác.
|
|
Compounding the problems, turmoil hit the banking sector
in 2012, after the founder of Asia Commercial Bank, one of Vietnam’s biggest
lenders, was arrested in August on suspicion of conducting “illegal
business”. The fallout from such scandals eventually led to an unprecedented
government apology for its handling of the crises and downgrades of the
country’s credit rating.
|
Sau đó vấn đề đã trở nên trầm trọng hơn khi sự bất ổn lan
sang ngành ngân hàng trong năm 2012 sau khi người sáng lập Ngân hàng Thương
mại Á châu – một trong những ngân hàng cho vay lớn nhất tại Việt Nam – bị bắt
vào tháng Tám với cáo buộc “kinh doanh bất hợp pháp”. Những vụ bê bối này
cuối cùng dẫn đến lời xin lỗi từ phía chính phủ vì đã không kịp xử lý cuộc
khủng hoảng cũng như làm tín dụng của nước này ngày càng xấu thêm.
|
|
Soaring debt in Vietnam has left banks saddled with a
mountain of bad loans while credit has dried up. Bad debt accounts for about
8 per cent of total lending by Vietnamese banks, while credit growth was 6.45
per cent in 2012, compared to 14 per cent in 2011.
|
Nợ nần gia tăng tại Việt Nam đã khiến các khoản nợ xấu ở các
ngân hàng ngày thêm trầm trọng trong khi tín dụng đã cạn kiệt. Các khoản nợ
xấu hiện đang ở mức khoảng 8% trong tổng số nợ cho vay tại các ngân hàng Việt
Nam, trong khi tăng trưởng tín dụng là 6,45% vào năm 2012 so với 14% hồi năm
2011.
|
|
Vietnam’s once vibrant corporate sector faces rising costs
of business and a dearth of funding sources. Almost 71 per cent of Hanoi’s
58,000 companies reported losses in 2012, according to the Hanoi People’s
Committee, an arm of the ruling communist party.
|
Khu vực doanh nghiệp Việt Nam một thời thịnh vượng hiện
đang phải đối mặt với nhiều chi phí ngày càng gia tăng và thiếu hụt nguồn
kinh phí. Hầu như 71% trong tổng số 58,000 doanh nghiệp ở Hà Nội đã báo cáo
thua lỗ trong năm 2012, theo Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, một cánh tay
thuộc Đảng Cộng sản cầm quyền tại nước này.
|
|
The litany of woes is not all due to domestic
mismanagement, note analysts. Vietnam, like many emerging economies, has
suffered from the slowdown in key export markets including Europe and the US.
|
Các phân tích gia lưu ý rằng vấn đề không phải là tất cả
đều do quản lý yếu kém. Việt Nam, tương tự như nhiều nền kinh tế mới nổi, đã
phải hứng chịu sự suy giảm tại các thị trường xuất khẩu bao gồm cả châu Âu và
Hoa Kỳ.
|
|
The good news is that economic difficulty has spurred
government efforts to win back investor confidence. In some of Vietnam’s main
markets, moves by governments to shore up consumer demand has prompted
analysts – including HSBC in a report issued on Wednesday – to predict that
international demand for Vietnamese goods will rebound in 2013.
|
Tin đáng mừng là những khó khăn kinh tế đã thúc đẩy chính
phủ nỗ lực nhiều hơn nữa nhằm giành lại lòng tin của các nhà đầu tư. Trong
một số thị trường chính tại Việt Nam, phần lớn nhờ sự thúc đẩy từ phía chính
phủ nhằm vực dậy nhu cầu của người tiêu dùng đã khiến các nhà phân tích – bao
gồm HSBC trong một báo cáo phát hành hôm thứ Tư –dự đoán rằng nhu cầu của
quốc tế đối với hàng hóa Việt Nam sẽ tăng trở lại trong năm 2013.
|
|
There are also new signs of action at home. The Vietnamese
central bank has pledged to halve the burden of bad debt in 2013 and the
government has begun the arduous process of reforming the SOEs that dominate
the economy.
|
Ngoài ra còn có một số dấu hiệu tốt ở ngay trong nội địa. Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cam kết sẽ giảm một nửa gánh nặng nợ xấu trong năm
2013 và chính phủ đã bắt đầu quá trình cải cách gian khổ đối với các doanh
nghiệp nhà nước hiện đang chiếm ưu thế trong nền kinh tế.
|
|
But the tasks are daunting. The government forecasts GDP
growth of 5.5 per cent in 2013, although analysts say that will depend on
further economic reform, growth in the global economy and a resolution of the
country’s bad debt problems.
|
Tuy nhiên, nhiệm vụ này rất khó khăn. Chính phủ dự báo tăng
trưởng GDP trong năm 2013 sẽ ở mức khoảng 5,5%, mặc dù các nhà phân tích cho
rằng việc này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào những cải cách cũng như nền kinh tế
toàn cầu và cách giải quyết các món nợ xấu tại Việt Nam.
|
|
The government is at last finally seeking advice from
international bodies on SOE and banking reform, but investor confidence
remains low and corruption levels high in both the state and private sectors.
|
Chính phủ cuối cùng cũng đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ
quan quốc tế nhằm cải cách lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước và ngành ngân hàng,
nhưng niềm tin của nhà các đầu tư vẫn còn ở mức rất thấp và tham nhũng vẫn
tiếp tục tăng cao trong cả lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân.
|
|
Investors and analysts are left wondering whether the
government is in a position to do what it takes to implement necessary
reforms. Some investors, however, seem undeterred by uncertainty. In a
separate note this week, HSBC identified Vietnam – alongside India and
Indonesia – as among the countries most likely to benefit from a migration of
foreign direct investment from China to southeast and south Asia and on
Tuesday a US buyout group invested $200m in one of Vietnam’s largest food
companies – the biggest ever single private equity investment in Vietnam. The
message was clear: a bad year is no reason to write off Vietnam as an
investment opportunity. How the government proceeds from here is the real
test.
|
Các nhà đầu tư và các nhà phân tích đang tự hỏi liệu chính
phủ có đủ mạnh để thực hiện các cải cách cần thiết hay không. Tuy nhiên, một
số nhà đầu tư dường như vẫn không nao núng về tình hình không vững chắc tại
nước này. Trong một bản lưu ý riêng hồi đầu tuần này, HSBC đã xác định Việt
Nam – cùng với Ấn Độ và Indonesia – là những nước có thể hưởng lợi khi các
nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy ra khỏi Trung Quốc. Hôm thứ Ba vừa qua, một
nhóm các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã đầu tư 200 triệu USD vào một công ty thực phẩm
lớn nhất ở Việt Nam – và đây cũng là số vốn đầu tư lớn nhất đối với một công
ty cổ phần tại nước này. Thông điệp này rất rõ ràng: một năm tồi tệ không
đồng nghĩa với việc từ bỏ lý do Việt Nam là một nơi có nhiều cơ hội tốt để đầu
tư. Và đây sẽ là những thách thức thực sự đối với chính phủ Việt Nam trong
những ngày tới đây.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Translated by Đỗ Đăng
Khoa
|
|
|
|
|
|
|
|
http://blogs.ft.com/beyond-brics/2013/01/10/vietnams-economic-woes-where-to-from-here/#axzz2HqygbW8q
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)