MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, January 13, 2013

Отчёт: в Китае не доверяют властям и друг другу Trung Quốc: người dân không tin tưởng chính quyền và không tin lẫn nhau





Отчёт: в Китае не доверяют властям и друг другу

Trung Quốc: người dân không tin tưởng chính quyền và không tin lẫn nhau

ntdtv.ru
ntdtv.ru


Все больше китайцев не доверяет ни властям, ни друг другу. О такой тенденции свидетельствует свежий годовой отчет Академии общественных наук КНР.

Ngày càng nhiều người dân Trung Quốc không tin vào chính quyền, không tin tưởng lẫn nhau. Báo cáo hàng năm mới đây của Viện hàn lâm  khoa học xã  hội CHND Trung Hoa chứng minh xu hướng như thế.

Согласно докладу, основное недовольство в китайском обществе вызывают три категории: коррумпированные чиновники, бизнесмены и госучреждения.

Theo báo cáo, sự bất mãn chủ yếu trong xã hội Trung Quốc gây nên bởi ba phạm trù: quan chức tham nhũng, doanh nhân và cơ quan nhà nước.

К влиятельным общественным институтам в Китае относятся СМИ. Бывший профессор Шаньдунского университета Сунь Вэньгуан подтверждает, что люди перестали им доверять.

Các phương tiện truyền thông thuộc định chế xã hội có ảnh hướng. Cựu giáo sư  đại học Sơn Đông Sun Wenguang khẳng định rằng mọi người đã không tin tưởng lẫn nhau.

    [Сунь Вэньгуан, бывший профессор Шаньдунского университета]:
    «Китайские СМИ часто сообщают ложную информацию, чтобы скрыть правду. Особенно, когда речь идет о сокрытии скандалов в компартии Китая».

Sun Wenguang, cựu giáo sư đại học Sơn Đông:
"Các phương tiện truyền thông Trung Quốc thường đưa tin sai lệch để che đậy sự thật. Đặc biệt, khi nói về sự oa trữ những vụ bê bối trong đảng CS Trung Quốc".

Профессор Сунь также указывает на неэффективность китайской системы подачи жалоб. Желающих подать прошение в вышестоящую инстанцию в стране очень много, однако полиция и спецслужбы часто просто не дают петиционерам такой возможности – их задерживают, им угрожают и нередко избивают. 

Giáo sư Sun cũng chỉ ra tính không hiệu quả của hệ thống khiếu nại ở Trung Quốc. Những người muốn đệ trình đơn  từ lên cấp cao nhất ở trong nước có rất nhiều, tuy nhiên cảnh sát và các cơ quan an ninh thường không cho những người này cơ hội như thế - họ bị bắt giữ, bị đe dọa và không hiếm khi bị đánh đập.

В отчете китайской Академии общественных наук также сообщается, что менее половины китайских граждан доверяют людям. Лишь 20-30% говорят, что могут доверять незнакомцам.

Trong báo cáo của Viện hàn lâm khoa học xã hội cũng thông báo rằng khoảng một nửa người dân Trung Quốc không còn tin tưởng lẫn nhau. Chỉ 20-30% nói rằng có thể tin người lạ.

В отчёте приводится трагический случай с двухлетней девочкой, который произошел в 2011 году. Ее сбил автомобиль, после чего мимо истекающей кровью малышки прошло 18 человек, прежде чем кто-то остановился, чтобы помочь. Через неделю девочка скончалась в больнице.

Trong báo cáo dẫn ra một trường hợp bi thảm với một cô bé hai tuổi xảy ra vào năm 2011. Ô tô cán cô bé, sau đó có đến 18 người đi ngang qua bé gái đầm đìa máu trước khi có ai đó dừng lại gọi xe cấp cứu. Một tuần sau cô bé qua đời tại bệnh viện.

Также приводится случай с еще одним китайцем, который, пытаясь помочь пострадавшей пожилой женщине, отвёз её в больницу. Однако т ам его обвинили в причинении женщине телесных повреждений, чтобы вынудить его оплатить ее лечение.

Báo cáo cũng dẫn ra trường hợp với một người đàn ông Trung Quốc. Người nay muốn giúp đỡ một cụ bà bị thương và đưa bà đến bệnh viện. Tuy nhiên ở đó ông đã bị khép tội gây thương tích đối với cụ bà và buộc ông trả tiền điều trị cho bà.

В отчёте также говорится о так называемых «обратных настроениях». Так называют тенденцию в обществе, когда граждане приветствуют асоциальные действия, разочаровавшись в действиях стражей порядка.


Trong báo cáo cũng nêu ra những cái gọi là "trạng thái ngược". Họ gọi xu hướng như vậy khi các công dân hoan nghênh các hành động vỡ mộng với các hành vi của những người bảo vệ pháp luật.

Ярким примером является случай с неким Ян Цзя. В 2008 году его подвергли допросу за нарушение правил дорожного движения, однако в участке жестоко избили. После неудачной попытки подать жалобу он пришёл в полицию и убил шестерых офицеров. Однако в обществе вместо осуждения он получил поддержку. Его приветствовали как героя, который восстал против властей, злоупотребляющих своими полномочиями.

Ví dụ điển hình là trường hợp với một Yan Tszia nào đó. Vào năm 2008 ông bị thẩm vấn vì vi phạm luật lệ giao thông, tuy nhiên tại cảnh sát khu vực ông đã bị đánh đập. Sau nỗ lực kiện tụng bất thành, ông đã đến cơ quan cảnh sát và giết hại sáu sĩ quan. Tuy nhiên trong xã hội thay vì lên án, ông nhận được sự ủng hộ. Họ chào đón ông như người anh hùng đã đứng lên chống  các quan chức lạm dụng chức quyền của mình.



Translated by Kichbu




http://ntdtv.ru/novosti-kitaya/otchet-v-kitae-ne-doveryayut-vlastyam-i-drug-drugu

Collision Course in the South China Sea TIẾN TRÌNH XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG






Collision Course in the South China Sea

TIẾN TRÌNH XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG
By Vikram Nehru
National Interest,
August 23, 2012
Vikram Nehru
National Interest,
23-8-2012

Tensions in the South China Sea are ratcheting up. China and the Southeast Asian nations with competing territorial claims seem set on a collision course. Though still low, the probability of conflict is rising inexorably.
Căng thẳng trên Biển Đông đang phát triển chỉ theo một hướng. Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền mâu thuẫn dường như đã bắt đầu một quá trình xung đột. Dù vẫn còn ở mức thấp nhưng xác suất xung đột nổ ra đang trên đà tăng.


The current trajectory is lose-lose-lose for all concerned, including China, Southeast Asia and third-party countries in the Pacific Rim, such as the United States, that have a large stake in a peaceful South China Sea. At this point, the focus should not be resolving competing claims. Instead, diplomats must try to lower temperatures and get all sides to implement confidence-building measures to ensure peace and stability in the region. Only when cooler heads prevail can the concerned countries turn their attention to resolving the longer-term questions of the sovereignty and jurisdiction of the islands in the South China Sea.

Quỹ đạo hiện tại là “thua-thua-thua” đối với tất cả bên liên quan, kể cả Trung Quốc, Đông Nam Á lẫn các nước thuộc bên thứ ba trong Vành đai Thái Bình Dương như Mỹ – vốn dĩ có quyền lợi lớn nếu Biển Đông được hòa bình. Vào thời điểm này, trọng tâm không nên là giải quyết các yêu sách đối kháng nhau. Thay vì thế, giới ngoại giao phải cố gắng hạ nhiệt và làm sao để các bên đều tiến hành các biện pháp xây dựng lòng tin, nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực. Chỉ khi nào những cái đầu nóng đã nguội đi, thì các nước có liên quan mới có thể chuyển sự chú ý sang việc giải quyết những vấn đề dài hạn hơn, về chủ quyền và quyền tài phán của các đảo trên Biển Đông.


The forty-year history of disputes in the region has seen a steady escalation in tension punctuated by occasional conflicts that have been quickly contained. Based on the vaguely defined "nine-dash line" (reduced from eleven dashes in 1953), China claims sovereignty over the Paracel and Spratly Islands and their adjacent seas in accordance with the United Nations Convention on the Law of the Sea. The other side is represented by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and includes Brunei, Malaysia, Philippines and Vietnam, which have more modest, but nevertheless competing, claims that overlap with each other and with China.

Lịch sử 40 năm tranh chấp trong khu vực đã có sự leo thang đều đều, xen kẽ với những cuộc xung đột mà thường là nhanh chóng được kiềm chế. Căn cứ vào “đường 9 đoạn” được xác định mơ hồ (giảm từ 11 đoạn năm 1953 xuống còn 9 đoạn), Trung Quốc ra yêu sách đòi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng vùng biển lân cận, theo Công ước LHQ về Luật Biển. Bên kia, đại diện là Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm có Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước này đưa ra yêu sách khiêm tốn hơn, nhưng cũng mâu thuẫn, chồng lấn lên yêu sách của nhau và của Trung Quốc.


The latest escalation in friction started with a confrontation between China and the Philippines over the Scarborough Shoal. There also were competing international bids by China and Vietnam for oil exploration in areas of the South China Sea contested by the two countries. Efforts by the Philippines and Vietnam to get the support of their ASEAN counterparts at a recent ministerial meeting resulted in ASEAN's inability to issue a communiqué for the first time in the organization's forty-five-year history.

Lần leo thang xung đột gần đây nhất bắt đầu từ vụ đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines quanh khu vực bãi cạn Scarborough. Cũng đã có những lời mời thầu quốc tế mâu thuẫn nhau của Trung Quốc và Việt Nam, mời chào thăm dò dầu khí trong khu vực Biển Đông mà hai nước đang tranh chấp. Các nỗ lực của Philippines và Việt Nam nhằm giành được sự ủng hộ của đối tác ASEAN tại cuộc họp bộ trưởng ngoại giao gần đây, đã đưa đến việc ASEAN không thể ra được thông cáo chung – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của tổ chức này có chuyện như vậy.


Cambodia, ASEAN's chair for 2012, refused to make reference to disputes in the South China Sea, starkly revealing the not-so-subtle influence of China. But thanks to shuttle diplomacy by Indonesia's energetic foreign minister, Marty Natalegawa, ASEAN emerged with a face-saving "common position" that reiterated six principles adhering to the declaration of a code of conduct and the Law of the Sea. ASEAN's joint communiqué, however, still hasn't been issued.


Campuchia, Chủ tịch ASEAN năm 2012, từ chối nhắc đến tranh chấp trên Biển Đông, rõ ràng đã cho thấy sự tác động không lấy gì làm tế nhị lắm của Trung Quốc. Nhưng nhờ có hoạt động ngoại giao con thoi của vị ngoại trưởng mạnh mẽ của ASEAN, ông Marty Natalegawa, ASEAN đã đạt được một “lập trường chung” để giữ thể diện. Lập trường này nhắc lại sáu nguyên tắc tuân theo tuyên bố về cách ứng xử và vào Luật Biển. Tuy nhiên, tuyên bố chung của ASEAN thì vẫn chưa được đưa ra.


Following Vietnam's June 2012 approval of a maritime law that declared sovereignty and jurisdiction over the Spratly and Paracel Islands in the South China Sea, China objected strongly and upped the ante by announcing steps to actively administer the disputed islands and the Macclesfield Bank, as well as 772,000 square miles of ocean within its "nine-dashed line." Sansha, a 1.5-kilometer islet in a disputed part of the South China Sea, has been declared a city that will include a local government responsible for overseeing the area. Legislators and a mayor have been elected, and the Chinese authorities announced plans to station a People's Liberation Army garrison there to monitor—and defend, if necessary—China's claims over the area.

Sau khi Việt Nam phê chuẩn luật biển vào tháng 6-2012, tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông, Trung Quốc đã phản đối cực lực và đã khiến cho tình hình căng thẳng thêm bằng việc tuyên bố các bước để chủ động quản lý các hòn đảo tranh chấp, bãi ngầm Macclesfield (Trung Quốc: Trung Sa – ND), cũng như toàn vùng biển 772.000 dặm vuông (tương đương gần 2 triệu km vuông – ND) nằm trong “đường 9 đoạn”. Tam Sa – hòn đảo nhỏ diện tích 1,5 km2 nằm ở vùng tranh cãi trên Biển Đông – đã vừa được tuyên bố là một thành phố có chính quyền địa phương chịu trách nhiệm cai quản khu vực. Đại biểu quốc hội cùng một viên thị trưởng đã được bầu chọn, và chính quyền Trung Hoa công bố kế hoạch đặt một đơn vị đồn trú của Quân đội Giải phóng Nhân Dân (PLA) ở trên đảo này để giám sát – và nếu cần thì bảo vệ – việc thực thi chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực.


These developments merely escalated tensions and served neither China's broader strategic interests nor those of the Southeast Asian claimant nations.

Các diễn biến đó chỉ làm căng thẳng thêm leo thang, không phục vụ cho những lợi ích chiến lược lớn hơn của Trung Quốc, cũng chẳng có ích gì cho các nước Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền.

China's recent actions in the South China Sea are likely to severely damage its ability to influence the region and the world on other more important issues. For example, China's economic strength relies in part on its economic integration with Southeast Asia that has helped build globally competitive production networks. That integration, which depends on good bilateral relations with its neighbors, is now jeopardized.

Những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông chắc chắn sẽ phá hoại một cách nghiêm trọng khả năng họ gây ảnh hưởng lên khu vực và thế giới trong những vấn đề quan trọng hơn. Ví dụ, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc một phần vào mức độ hội nhập kinh tế của họ với Đông Nam Á, góp phần tạo ra những mạng lưới sản xuất mang tính cạnh tranh toàn cầu. Sự hội nhập đó phụ thuộc vào việc xây dựng được quan hệ song phương hữu hảo với các nước láng giềng, và giờ đây nó đang bị phá hoại.


China already has few friends in the region. In a speech last year, Vice Premier Li Keqiang (expected to be China's next prime minister) said that China sought to assure the world that its intentions are to cooperate with other countries to smooth its emergence as a global power. This idea of China's peaceful rise has been a cornerstone of Beijing's foreign-policy strategy. Unfortunately, its Southeast Asian neighbors do not see China's actions matching its rhetoric.

Trung Quốc cũng đã có vài người bạn trong khu vực. Trong một diễn văn đọc hồi năm ngoái, Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường – người mà theo dự kiến sẽ trở thành thủ tướng tiếp theo của Trung Quốc – tuyên bố, Trung Quốc muốn đảm bảo với thế giới rằng họ có ý định hợp tác với các nước khác để làm dịu bớt sự trỗi dậy như một siêu cường toàn cầu của họ. Quan điểm về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc vốn là hòn đá tảng trong chiến lược đối ngoại của Bắc Kinh. Thật không may là các nước láng giềng Đông Nam Á lại thấy hành động của Trung Quốc chẳng đi đôi với những luận điệu hoa mỹ của họ.


By taking provocative actions in the South China Sea themselves, Vietnam and the Philippines are not altogether blameless in the latest series of events. They don't need reminding, however, that a confrontation with China is not in their interests or those of the rest of Southeast Asia.


Bản thân Việt Nam và Phlippines, bằng những hành động khiêu khích của chính họ, cũng không phải là hoàn toàn vô tội trong hàng loạt sự cố gần đây. Tuy nhiên, cũng không cần phải nhắc họ rằng, đối đầu với Trung Quốc chẳng có lợi gì cho họ cũng như cho phần còn lại của Đông Nam Á.

The region's impressive economic performance over the last two decades has benefitted enormously from China's growth engine. Major investments have been made in developing production networks, and continued good relations with China hold out promise for more. Worsening relations could put this at risk. More importantly, Southeast Asian countries recognize the dangers of any armed conflict with China, which could increase manifold if the United States were to be drawn into the fight.

Đà phát triển kinh tế đầy ấn tượng của khu vực trong hai thập niên qua đã hưởng lợi rất lớn từ cỗ máy tăng trưởng Trung Quốc. Những khoản đầu tư lớn đã được rót vào mạng lưới sản xuất đang phát triển, và quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, nếu được duy trì, còn hứa hẹn nhiều nữa. Quan hệ xấu đi có thể gây rủi ro. Quan trọng hơn, các nước Đông Nam Á đã nhận ra sự nguy hiểm của bất kỳ cuộc xung đột có vũ trang nào với Trung Quốc – xung đột ấy có thể nhân rộng nếu Mỹ bị kéo vào cuộc chiến.

Finally, the growing risk of conflict is not in the interest of the global community, especially for countries that rely on peaceful passage through the South China Sea and those on the Pacific Rim. The global economy, already suffering from myriad challenges, cannot afford yet another layer of uncertainty.


Cuối cùng, rủi ro xung đột ngày càng gia tăng không hề có lợi cho cộng đồng quốc tế, đặc biệt là cho những nước phụ thuộc vào hoạt động hàng hải bình yên trên Biển Đông, và những nước nằm trong Vành đai Thái Bình Dương. Nền kinh tế toàn cầu vốn dĩ đã phải chịu đựng vô vàn khó khăn, sẽ không thể chịu thêm một sự bất định nữa.


Certainly, the potential costs of conflict for the region and the world far outweigh any potential economic benefits contained in the seabed of the South China Sea—much of which is unknown in any case. Rather than the availability of hydrocarbons and fisheries, the South China Sea dispute is now increasingly being driven by domestic public opinion in the countries concerned that is fueled by military lobbies and strong nationalist sentiments.


Tất nhiên, chi phí tiềm ẩn của xung đột, đối với khu vực và thế giới, vượt xa bất kỳ lợi ích kinh tế tiềm năng nào có thể có được nhờ đáy biển – phần lớn các lợi ích này chưa bao giờ được xác định rõ. Không còn là chuyện băng cháy và nguồn cá, tranh chấp Biển Đông giờ đây ngày càng bị lôi kéo bởi ý kiến công luận ở mỗi nước liên quan, mà công luận thì lại bị kích động bởi những vận động hành lang của phe quân sự và tình cảm dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ.


Stepping back from the brink is in everyone's interests. But this has to be done in a way that builds mutual trust and confidence. The current escalating tit-for-tat dynamic between China and the two ASEAN claimants—Vietnam and the Philippines—must be stopped, difficult as that may be, and perhaps even reversed. It necessarily will involve a series of carefully choreographed actions to gradually unwind present positions in a way that can satisfy their respective domestic constituencies.


Lùi khỏi miệng vực sẽ là có lợi cho tất cả mọi người. Nhưng việc này phải được thực hiện theo một cách tạo ra sự tin cậy lẫn nhau. Sự leo thang kiểu ăn miếng trả miếng hiện nay giữa Trung Quốc và hai quốc gia ASEAN có yêu sách chủ quyền khác – Việt Nam và  Phlippines – cần phải chấm dứt, dù rất khó, và thậm chí cần thay đổi hoàn toàn. Cần đi kèm với một loạt hành động được “biên đạo” cẩn thận để dần dần tháo gỡ các lập trường hiện nay, theo một cách có thể thỏa mãn các cử tri của mỗi nước.


Given his recent success at shuttle diplomacy, Indonesia’s Natalegawa could well be the man to thread this needle. Perhaps helped by a small team of internationally recognized statesmen, he could shuttle between the three key claimant countries—China, Philippines and Vietnam—to broker a deal. Natalegawa's recently burnished credentials as a diplomat have earned him the confidence of both sides. Moreover, such an approach could satisfy Beijing's reluctance to enter multilateral negotiations over the South China Sea while still arranging a collective stand-down.


Với thành công gần đây của mình trong hoạt động ngoại giao con thoi, ngoại trưởng Natalegawa của Indonesia rất có thể sẽ là người luồn kim (nguyên văn: thread the needle, nghĩa bóng là tìm đường lách qua các quan điểm đối kháng, đối lập nhau). Có lẽ ông sẽ được một nhóm nhỏ những chính khách có uy tín quốc tế hỗ trợ, để ông thực hiện ngoại giao con thoi nhằm làm trung gian hòa giải ba nước chính có yêu sách chủ quyền: Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Ủy nhiệm thư rất được ca ngợi gần đây của ông, với tư cách nhà ngoại giao, đã khiến ông giành được sự tin cậy của cả hai bên. Hơn thế nữa, cách tiếp nhận như của ông Natalegawa có thể làm thỏa mãn Bắc Kinh, vốn dĩ rất miễn cưỡng, không muốn phải đàm phán đa phương về vấn đề Biển Đông trong khi vẫn đang phải sắp xếp một cuộc thay đổi nhân sự tập thể.


But make no mistake, the real leadership and courage will need to come from the claimant countries themselves. Given the high stakes involved, let's hope that such leadership is forthcoming.
Nhưng đừng lầm. Năng lực lãnh đạo và lòng can đảm thực sự cần phải đến từ chính các nước có yêu sách chủ quyền. Trong tình hình có nhiều lợi ích lớn liên quan đến khu vực, chúng ta hãy hy vọng rằng nhà lãnh đạo như thế sắp xuất hiện.


Vikram Nehru is a senior associate and Bakrie Chair in Southeast Asian Studies at the Carnegie Endowment for International Peace.
Tác giả: Vikram Nehru là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie.


Translated by Đỗ Quyên




http://nationalinterest.org/commentary/collision-course-the-south-china-sea-7380?page=1

The Dangerous Math of Chinese Island Disputes BÀI TOÁN TRANH CHẤP BIỂN ĐẢO NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC





The Dangerous Math of Chinese Island Disputes

BÀI TOÁN TRANH CHẤP BIỂN ĐẢO NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC

By M. TAYLOR FRAVEL
Thursday, Oct. 25.
M. Taylor Fravel
31/10/2012

If history is any guide, there's a real risk Beijing will use force against Japan over the Senkakus.

Nếu lịch sử có bất kỳ một hướng dẫn nào thì có nhiều nguy cơ Bắc Kinh sẽ sử dụng vũ lực chống lại Nhật Bản để lấy quần đảo Senkaku.


China's standoff with Japan over the rocky Senkaku (Diaoyu) Islands has entered its second month. The current confrontation, however, is more dangerous than is commonly believed. China's past behavior in other territorial disputes demonstrates why the Senkaku standoff is primed to explode.

Vụ tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) đang bước vào tháng thứ hai. Cuộc đối đầu hiện nay lại nguy hiểm hơn những gì đang được nhiều người chứng kiến. Những hành vi trong quá khứ của Trung Quốc liên quan đến các vụ tranh chấp lãnh thổ khác chứng minh lý do tại sao những bế tắc tại Senkaku là tiền đề để vụ này có thể bùng nổ.

Since 1949, China has been involved in 23 territorial disputes with its neighbors on land and at sea. Seventeen of them have been settled, usually through compromise agreements. Nevertheless, China has used force, often more than once, in six of these disputes. And it's these cases that most closely parallel the Senkaku impasse.

Kể từ năm 1949, Trung Quốc đã tham gia vào 23 vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trên đất liền và trên biển. Mười bảy vụ trong số đó đã được giải quyết êm thỏa, thường là thông qua các hiệp định thỏa hiệp giữa các nước. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực sáu lần trong các vụ tranh chấp này. Và đó là những trường hợp tương tự nhất đối với bế tắc tại Senkaku.

To start, China has usually only used force in territorial disputes with its most militarily capable neighbors. These include wars or major clashes with India, Russia and Vietnam (several times), as well as crises involving Taiwan. These states have had the greatest ability to check China's territorial ambitions.

Thông thường thì Trung Quốc chỉ sử dụng vũ lực trong các vụ tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng có lực lượng quân sự mà họ có khả năng đối phó. Chúng bao gồm các cuộc chiến tranh hoặc các vụ đụng độ lớn với Ấn Độ, Nga và Việt Nam (nhiều lần), cũng như các cuộc khủng hoảng liên quan đến Đài Loan. Các quốc gia này có khả năng kiểm soát lớn nhất đối với những tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.


In disputes with weaker states, such as Mongolia or Nepal, Beijing has eschewed force because it could negotiate from a position of strength. Japan is now China's most powerful maritime neighbor, with a modern navy and a large coast guard.

Trong các vụ tranh chấp với những quốc gia yếu hơn, như Mông Cổ hay Nepal, thì Bắc Kinh đã né tránh đề cập đến vũ lực vì họ có thể sử dụng sức mạnh [quân sự] trong các cuộc đàm phán. Hiện nay, Nhật Bản là hàng xóm hàng hải mạnh nhất đối với Trung Quốc, với một lực lượng hải quân hiện đại và đội ngũ lính tuần duyên khá lớn.

China has also used force most frequently in disputes over offshore islands such as the Senkakus. Along its land border, China has used force only in about one-fifth of 16 disputes. By contrast, China has used force in half of its four island disputes. Islands are seen as possessing much more strategic, military and economic value because they influence sea-lane security and may hold vast stocks of hydrocarbons and fish.

Trung Quốc cũng đã thường xuyên sử dụng vũ lực trong các tranh chấp liên quan đến biển đảo gần bờ của họ như quần đảo Senkaku. Dọc theo biên giới gần đất liền, Trung Quốc đã ụng sử dụng vũ lực chỉ 1/5 trong tổng số 16 vụ tranh chấp. Ngược lại, một nữa các vụ còn khác thì Trung Quốc đã sử dụng vũ lực đối với 4 hòn đảo tranh chấp. Các quần đảo thường được coi là có giá trị nhiều hơn vì các điều kiện chiến lược, quân sự và kinh tế bởi chúng ảnh hưởng đến an ninh đường biển và có thể chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, khí đốt và ngư trường.

In addition, China has mostly used force to strengthen its position in disputes where it has occupied little or none of the land that it claims. In 1988, for example, China clashed with Vietnam as it occupied six coral reefs that are part of the Spratly Islands. China had claimed sovereignty over the Spratlys for decades—but had not controlled any part of them before this occupation.


Ngoài ra, Trung Quốc đã chủ yếu sử dụng vũ lực để củng cố vị trí của họ, đặc biệt tại những nơi mà họ chiếm rất ít hoặc thậm chí là không có chủ quyền, điều này có thể giúp họ tuyên bố chủ quyền sau khi chiếm đoạt chúng. Ví dụ như năm 1988, Trung Quốc đã đụng độ với Việt Nam và sau đó họ đã chiếm sáu rạn san hô, một phần trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa trong nhiều thập kỷ, nhưng họ không kiểm soát được bất kỳ một phần đất nào cho đến khi họ chiếm đóng khu vực này.

In cases where China already possessed some of the contested territory, such as a border dispute with Kazakhstan, China had a strong bargaining position and little reason to use force. But in the East China Sea, China does not currently hold any of the Senkaku Islands, which are under Japanese control.

Trong trường hợp Trung Quốc đã kiểm soát được một phần lãnh thổ có tranh chấp, chẳng hạn như trường hợp tranh chấp biên giới với Kazakhstan, thì phía Trung Quốc có vị thế mạnh mẽ hơn, do đó họ ít sử dụng vũ lực để chiếm đoạt. Nhưng trường hợp ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc hiện không nắm giữ bất kỳ một phần chủ quyền nào tại quần đảo Senkaku. Quần đảo này hiện đang thuộc quyền kiểm soát của Nhật Bản.


Most importantly, China has used force in territorial disputes during periods of regime insecurity, when leaders have a greater incentive to show resolve: They believe that opposing states seek to take advantage of China's domestic woes, and that a weak or limited response might increase popular discontent.

Quan trọng nhất, Trung Quốc thường sử dụng vũ lực trong các vụ tranh chấp lãnh thổ giữa các thời kỳ mà chế độ của họ suy yếu nhất, vì các nhà lãnh đạo hướng tới động lực lớn hơn là giải quyết vấn đề nội bộ: Họ tin rằng các thành phần đối lập tìm cách tận dụng thời điểm khủng hoảng trong nước, và rằng một phản ứng yếu hoặc hạn chế có thể làm gia tăng những thành phần bất mãn.

China's leaders today may feel on the ropes for several reasons—elite conflict at the highest levels of the ruling Chinese Communist Party; a slowing economy that undermines the legitimacy of the CCP; and a delicate transition of power from one generation of leaders to the next. These factors increase the value of using firm action to signal resolve to both Japan and the Chinese public. They also decrease Beijing's willingness to compromise or be seen as backing down.

Các lãnh đạo Trung Quốc hiện nay có thể cảm thấy nhiều áp lực vì một số lý do: tranh chấp nội bộ giữa các đảng viên ưu tú cao cấp ở thượng tầng trong Đảng Cộng sản đang cầm quyền; một nền kinh tế chậm chạp làm suy yếu tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc; và quá trình chuyển đổi quyền lực từ thế hệ này sang thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Những yếu tố này làm tăng giá trị của việc sử dụng vũ lực nhằm báo hiệu cách giải quyết đối với Nhật Bản và cả công chúng Trung Quốc. Họ cũng làm giảm thiện chí thỏa hiệp của Bắc Kinh, hay một cách khác là Trung Quốc không muốn khoan nhượng.

To Chinese eyes, Japan's Senkaku moves look like attempts to capitalize on Chinese difficulties. The current standoff began in April, when nationalist Tokyo governor Shintaro Ishihara announced a plan to buy three of the islands from their private Japanese owner. Mr. Ishihara's announcement came just days after Beijing suspended Politburo member Bo Xilai from all his positions in the CCP—arguably the biggest upheaval in elite Chinese politics in more than two decades.

Đối với người Trung Quốc, nước cờ của Nhật Bản tại Senkaku trông giống như Nhật Bản đang cố gắng tận dụng những khó khăn của Trung Quốc. Những bế tắc hiện nay đã bắt đầu hồi tháng Tư, khi Thống đốc Tokyo Shintaro Ishihara, người được biết là có quan niệm dân tộc chủ nghĩa, đã công bố kế hoạch mua lại ba trong những hòn đảo từ chủ sở hữu người Nhật. Tuyên bố của ông Ishihara được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Bắc Kinh đình chỉ tất cả những chức vụ của Ủy viên Bộ Chính trị Bạc Hy Lai trong Đảng Cộng sản Trung Quốc – nhân vật được biết đến như một đảng viên ưu tú tại Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua.

Diplomatic positions hardened as China's economic growth slowed much faster than expected, an increasing source of worry for Beijing's leaders. Then Japanese Premier Yoshihiko Noda announced his decision to buy the islands on the July anniversary of the 1937 Marco Polo Bridge incident, which marked Japan's bid to conquer all of China. Finally, the sale was completed in September just days before the anniversary of the 1931 Japanese invasion of Manchuria.


Chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã trở nên cứng rắn hơn giữa lúc tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này bắt đầu chậm lại nhanh hơn so với dự kiến. Đây là một điều mà các lãnh đạo Bắc Kinh rất lo lắng. Sau đó, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda đã công bố quyết định mua lại hòn đảo này hôm tháng Bảy nhân dịp ngày kỷ niệm sự cố Marco Polo Bridge năm 1937, đánh dấu ngày Nhật Bản chiến thắng Trung Quốc. Vụ mua bán này đã được hoàn thành trong tháng Chín, chỉ vài ngày trước ngày kỷ niệm cuộc xâm lược của Nhật Bản tại Mãn Châu vào năm 1931.

The final destabilizing factor in the Senkaku standoff is that both sides are simultaneously engaged in other island disputes. South Korean President Lee Myung-bak recently broke with tradition and became the first Seoul leader to visit the disputed Dokdo (Takeshima) Islands, which are occupied by the Koreans but also claimed by Japan. Meanwhile, China has been dueling with Vietnam and the Philippines in the South China Sea. Tokyo and Beijing may both conclude that whoever prevails in the Senkakus will have a better chance at prevailing in these other disputes.


Cuối cùng, các yếu tố gây mất ổn định trong vụ bế tắc Senkaku khác là cả hai đều đang dính vào các tranh chấp với những nước khác. Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak mới đây đã phá vỡ truyền thống và trở thành lãnh đạo đầu tiên đến thăm khu vực tranh chấp tại đảo Dokdo (Takeshima), nơi đang được Hàn Quốc kiểm soát và tranh chấp với phía Nhật Bản. Trong khi đó, Trung Quốc đang đôi co với Việt Nam và Philippines ở Biển Đông. Tokyo và Bắc Kinh đều có thể kết luận rằng bất cứ ai chiếm ưu thế tại quần đảo Senkaku sẽ có cơ hội tốt hơn để tuyên bố chủ quyền tại những nơi có tranh chấp khác.


History is not destiny. China has not used force in a territorial dispute for more than 20 years. Escalation over the Senkakus may be avoided. Nevertheless, the current situation is fraught with danger. Should a fatal incident occur involving government ships from either country, a real crisis may begin whose end cannot be foretold.


Lịch sử không phải là định mệnh. Trung Quốc đã không sử dụng vũ lực trong các vụ tranh chấp lãnh thổ trong hơn 20 năm qua. Những căng thang đang leo thang tại quần đảo Senkaku có thể tránh được. Tuy nhiên, tình hình hiện nay là đầy nguy hiểm. Nếu một sự cố nghiêm trọng xảy ra liên quan đến các tàu chính phủ giữa hai nước thì đây có thể là một cuộc khủng hoảng thực sự mà kết quả không thể báo trước được.


Mr. Fravel is an associate professor of political science and member of the Security Studies Program at MIT, and author of "Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China's Territorial Disputes" (Princeton, 2008).
Ông Fravel là giáo sư khoa học chính trị và là thành viên của Chương trình Nghiên cứu An ninh tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là tác giả của cuốn sách “Biên giới mạnh mẽ, Quốc gia an toàn: Hợp tác và xung đột trong các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc” do Princeton xuất bản năm 2008 (Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes).



Translated by Đặng Khương




http://online.wsj.com/article/SB10001424052970203922804578082371509569896.html

Foods That Trigger Severe Headaches

Foods That Trigger Severe Headaches - Thức ăn gây nhức đầu.

Vietnam’s economic woes: where to from here? Kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu?




Vietnam’s economic woes: where to from here?

Kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu?

By Jake Maxwell Watts and Nguyen Phuong Linh
Financial Times

Jake Maxwell Watts & Nguyen Phuong Linh
Financial Times

Jan 10, 2013 

10/01/2013 

In both the developing and industrialised worlds, economic growth rates, like bad news, can be entirely relative. Vietnam’s respectable-sounding GDP growth of 5.08 per cent in 2012 was in fact a painful fall from 5.9 per cent in 2011 and marked its slowest pace in 13 years. Will 2013 be any better?

Về cả hai mặt phát triển và công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng kinh tế – như các tin tức xấu – có thể hoàn toàn là điều tương đối. Tăng trưởng GDP 5,08% đáng nể của Việt Nam trong năm 2012 là mức sụt giảm đau đớn so với 5,9% hồi năm 2011. Đây cũng là tốc độ tăng trưởng chậm nhất trong vòng 13 năm qua. Liệu năm 2013 sẽ tốt hơn chăng?

After charming emerging market investors for more than a decade, the southeast Asian country has had a bad year. High-profile corruption scandals, plummeting investor confidence and record levels of bad debt have battered the economy. In a 2013 New Year’s message to the nation, Prime Minister Nguyen Tan Dung admitted to “shortcomings in the government’s management” and “economic structural weaknesses”. What happened to Vietnam in 2012?

Sau khi trở thành thị trường mới nổi thu hút nhiều nguồn đầu tư nước ngoài hơn một thập kỷ qua, quốc gia Đông Nam Á này đã trải qua một năm tồi tệ. Hồ sơ tham nhũng tiếp tục tăng cao, niềm tin của các nhà đầu tư sụt giảm và nợ xấu chạm mức kỷ lục đã khiến nền kinh tế nước này trở nên khó khăn hơn. Trong một thông điệp nhân dịp năm mới 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận “chính phủ có những thiếu sót trong quản lý” và “cơ cấu nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém”. Điều gì đã xảy ra tại Việt Nam trong năm 2012?

Some analysts say a bad year was structurally inevitable for Vietnam. The economy grew at an average of 7 per cent a year throughout the 1990s and slowed slightly in the 2000s. Much of this development was driven by inefficient state-owned enterprises – a powerful force which, until recently, accounted for around 40 per cent of the country’s GDP.

Một số nhà phân tích nói rằng đối với hệ thống hiện hành thì Việt Nam không thể tránh khỏi một năm tồi tệ như hiện nay. Kinh tế tăng trưởng ở mức trung bình 7% mỗi năm trong suốt thập niên 1990 và bắt đầu chậm lại đôi chút trong những năm 2000. Phần lớn sự phát triển yếu kém này là do các doanh nghiệp nhà nước – lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế tại nước này – hoạt động kém hiệu quả và gần đây đã chiếm lên đến 40% GDP của cả nước.

But their vulnerabilities became apparent in the near-collapse of Vietnam Shipbuilding Industry Group, known as Vinashin. The group was bailed out by the government in 2010 after accruing more than $4.5bn in debt due largely to ill-judged investments in unrelated sectors such as motorbikes and power plants. Standard & Poor’s, the rating agency, said in December 2010: “Vinashin’s woes highlight the lack of transparency, weak accountability, and poor corporate governance in Vietnam, which is still in the early stages of transitioning from a centrally planned to a market-based economy.” Nine Vinashin executives were jailed in March 2012, around the same time that scandals at other debt-ridden SOEs stoked fears of further failures.

Tuy nhiên, lỗ hổng của họ trở nên rõ ràng hơn khi Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, được biết đến với tên Vinashin, đi đến bờ vực phá sản hồi năm 2010. Tập đoàn nay đã được chính phủ giải cứu trong năm 2010 sau khi tích luỹ hơn 4,5 tỳ USD nợ nần, phần lớn là do đầu tư vào các lĩnh vực thiếu chuyên môn như xe máy hay nhà máy điện. Cơ quan đánh giá tín dụng Standard & Poor cho biết hồi tháng Mười hai năm 2010: “Khủng hoảng ở Vinashin đã làm nổi bật sự thiếu minh bạch, trách nhiệm yếu kém, và quản trị doanh nghiệp nghèo nàn ở Việt Nam, và đây vẫn còn trong các giai đoạn đầu khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường nền”. Chín giám đốc điều hành Vinashin đã bị tuyên án tù hồi tháng Ba năm 2012, cùng với khoảng thời gian mà nhiều người lo ngại sẽ có thêm các vụ bê bối tại nhiều doanh nghiệp nhà nước khác.

Compounding the problems, turmoil hit the banking sector in 2012, after the founder of Asia Commercial Bank, one of Vietnam’s biggest lenders, was arrested in August on suspicion of conducting “illegal business”. The fallout from such scandals eventually led to an unprecedented government apology for its handling of the crises and downgrades of the country’s credit rating.

Sau đó vấn đề đã trở nên trầm trọng hơn khi sự bất ổn lan sang ngành ngân hàng trong năm 2012 sau khi người sáng lập Ngân hàng Thương mại Á châu – một trong những ngân hàng cho vay lớn nhất tại Việt Nam – bị bắt vào tháng Tám với cáo buộc “kinh doanh bất hợp pháp”. Những vụ bê bối này cuối cùng dẫn đến lời xin lỗi từ phía chính phủ vì đã không kịp xử lý cuộc khủng hoảng cũng như làm tín dụng của nước này ngày càng xấu thêm.

Soaring debt in Vietnam has left banks saddled with a mountain of bad loans while credit has dried up. Bad debt accounts for about 8 per cent of total lending by Vietnamese banks, while credit growth was 6.45 per cent in 2012, compared to 14 per cent in 2011.

Nợ nần gia tăng tại Việt Nam đã khiến các khoản nợ xấu ở các ngân hàng ngày thêm trầm trọng trong khi tín dụng đã cạn kiệt. Các khoản nợ xấu hiện đang ở mức khoảng 8% trong tổng số nợ cho vay tại các ngân hàng Việt Nam, trong khi tăng trưởng tín dụng là 6,45% vào năm 2012 so với 14% hồi năm 2011.

Vietnam’s once vibrant corporate sector faces rising costs of business and a dearth of funding sources. Almost 71 per cent of Hanoi’s 58,000 companies reported losses in 2012, according to the Hanoi People’s Committee, an arm of the ruling communist party.

Khu vực doanh nghiệp Việt Nam một thời thịnh vượng hiện đang phải đối mặt với nhiều chi phí ngày càng gia tăng và thiếu hụt nguồn kinh phí. Hầu như 71% trong tổng số 58,000 doanh nghiệp ở Hà Nội đã báo cáo thua lỗ trong năm 2012, theo Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, một cánh tay thuộc Đảng Cộng sản cầm quyền tại nước này.

The litany of woes is not all due to domestic mismanagement, note analysts. Vietnam, like many emerging economies, has suffered from the slowdown in key export markets including Europe and the US.

Các phân tích gia lưu ý rằng vấn đề không phải là tất cả đều do quản lý yếu kém. Việt Nam, tương tự như nhiều nền kinh tế mới nổi, đã phải hứng chịu sự suy giảm tại các thị trường xuất khẩu bao gồm cả châu Âu và Hoa Kỳ.
The good news is that economic difficulty has spurred government efforts to win back investor confidence. In some of Vietnam’s main markets, moves by governments to shore up consumer demand has prompted analysts – including HSBC in a report issued on Wednesday – to predict that international demand for Vietnamese goods will rebound in 2013.

Tin đáng mừng là những khó khăn kinh tế đã thúc đẩy chính phủ nỗ lực nhiều hơn nữa nhằm giành lại lòng tin của các nhà đầu tư. Trong một số thị trường chính tại Việt Nam, phần lớn nhờ sự thúc đẩy từ phía chính phủ nhằm vực dậy nhu cầu của người tiêu dùng đã khiến các nhà phân tích – bao gồm HSBC trong một báo cáo phát hành hôm thứ Tư –dự đoán rằng nhu cầu của quốc tế đối với hàng hóa Việt Nam sẽ tăng trở lại trong năm 2013.

There are also new signs of action at home. The Vietnamese central bank has pledged to halve the burden of bad debt in 2013 and the government has begun the arduous process of reforming the SOEs that dominate the economy.

Ngoài ra còn có một số dấu hiệu tốt ở ngay trong nội địa. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cam kết sẽ giảm một nửa gánh nặng nợ xấu trong năm 2013 và chính phủ đã bắt đầu quá trình cải cách gian khổ đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện đang chiếm ưu thế trong nền kinh tế.

But the tasks are daunting. The government forecasts GDP growth of 5.5 per cent in 2013, although analysts say that will depend on further economic reform, growth in the global economy and a resolution of the country’s bad debt problems.

Tuy nhiên, nhiệm vụ này rất khó khăn. Chính phủ dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2013 sẽ ở mức khoảng 5,5%, mặc dù các nhà phân tích cho rằng việc này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào những cải cách cũng như nền kinh tế toàn cầu và cách giải quyết các món nợ xấu tại Việt Nam.

The government is at last finally seeking advice from international bodies on SOE and banking reform, but investor confidence remains low and corruption levels high in both the state and private sectors.


Chính phủ cuối cùng cũng đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ quan quốc tế nhằm cải cách lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước và ngành ngân hàng, nhưng niềm tin của nhà các đầu tư vẫn còn ở mức rất thấp và tham nhũng vẫn tiếp tục tăng cao trong cả lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân.

Investors and analysts are left wondering whether the government is in a position to do what it takes to implement necessary reforms. Some investors, however, seem undeterred by uncertainty. In a separate note this week, HSBC identified Vietnam – alongside India and Indonesia – as among the countries most likely to benefit from a migration of foreign direct investment from China to southeast and south Asia and on Tuesday a US buyout group invested $200m in one of Vietnam’s largest food companies – the biggest ever single private equity investment in Vietnam. The message was clear: a bad year is no reason to write off Vietnam as an investment opportunity. How the government proceeds from here is the real test.
Các nhà đầu tư và các nhà phân tích đang tự hỏi liệu chính phủ có đủ mạnh để thực hiện các cải cách cần thiết hay không. Tuy nhiên, một số nhà đầu tư dường như vẫn không nao núng về tình hình không vững chắc tại nước này. Trong một bản lưu ý riêng hồi đầu tuần này, HSBC đã xác định Việt Nam – cùng với Ấn Độ và Indonesia – là những nước có thể hưởng lợi khi các nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy ra khỏi Trung Quốc. Hôm thứ Ba vừa qua, một nhóm các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã đầu tư 200 triệu USD vào một công ty thực phẩm lớn nhất ở Việt Nam – và đây cũng là số vốn đầu tư lớn nhất đối với một công ty cổ phần tại nước này. Thông điệp này rất rõ ràng: một năm tồi tệ không đồng nghĩa với việc từ bỏ lý do Việt Nam là một nơi có nhiều cơ hội tốt để đầu tư. Và đây sẽ là những thách thức thực sự đối với chính phủ Việt Nam trong những ngày tới đây.






Translated by Đỗ Đăng Khoa




http://blogs.ft.com/beyond-brics/2013/01/10/vietnams-economic-woes-where-to-from-here/#axzz2HqygbW8q