|
|
|
THE VALUE OF
PHILOSOPHY
|
Giá trị của triết học
|
Bertrand Russell
The Problems of Philosophy
|
Bertrand Russell
Những vấn đề của triết học
|
HAVING now come to the end of our brief and very incomplete
review of the problems of philosophy, it will be well to consider, in
conclusion, what is the value of philosophy and why it ought to be studied.
It is the more necessary to consider this question, in view of the fact that
many men, under the influence of science or of practical affairs, are
inclined to doubt whether philosophy is anything better than innocent but
useless trifling, hair-splitting distinctions, and controversies on matters
concerning which knowledge is impossible.
|
ĐÃ
đến lúc phải kết thúc nhận xét ngắn gọn và rất không đầy đủ của chúng ta về
những vấn đề của triết học, và cũng hay khi xem xét, để kết luận, giá trị của
triết học là gì và lý do tại sao cần phải nghiên cứu triết học. Việc xem xét
câu hỏi này càng tỏ ra bức thiết hơn vì trên thực tế, do sự ảnh hưởng của
khoa học hay của các hoạt động đời sống, nhiều người có xu hướng tự hỏi không
biết ngoài những lối phân biệt chẻ tư ngọn tóc, tuy vô hại nhưng cũng chẳng
có ích gì, và những cuộc tranh cãi về các vấn đề mà khả năng nhận thức của ta
không với tới được, triết học còn có cái gì khác đáng quan tâm hơn không.
|
This view of philosophy appears to result, partly from a
wrong conception of the ends of life, partly from a wrong conception of the
kind of goods which philosophy strives to achieve. Physical science, through
the medium of inventions, is useful to innumerable people who are wholly
ignorant of it; thus the study of physical science is to be recommended, not
only, or primarily, because of the effect on the student, but rather because
of the effect on mankind in general. This utility does not belong to
philosophy. If the study of philosophy has any value at all for others than
students of philosophy, it must be only indirectly, through its effects upon
the lives of those who study it. It is in these effects, therefore, if
anywhere, that the value of philosophy must be primarily sought.
|
Quan
niệm này về triết học có vẻ như một phần xuất phát từ một quan niệm sai lầm
về mục đích của đời sống, phần khác từ một quan niệm sai lầm về loại ích lợi
mà triết học cố gắng thành tựu. Bộ môn khoa học vật lý, thông qua các phát
minh, có ích cho hằng bao nhiêu người mù tịt về nó; vì thế, môn khoa học vật lý
được khuyên học, không chỉ trước hết vì sự tác động của nó đến người học, mà
còn vì sự tác động của nó đối với nhân loại nói chung. Lợi ích kiểu như vậy
không thuộc về triết học. Tuy nhiên, nếu việc học triết học có giá trị nào đó
đối với những người không học triết học, thì đó tất chỉ là gián tiếp, thông
qua những sự tác động của nó đến cuộc sống của những người học triết học. Do
đó, chính trong những sự tác động này, chứ không phải ở đâu khác, mà giá trị
của triết học phải được tìm trước nhất.
|
But further, if we are not to fail in our endeavour to
determine the value of philosophy, we must first free our minds from the
prejudices of what are wrongly called 'practical' men. The 'practical' man,
as this word is often used, is one who recognizes only material needs, who
realizes that men must have food for the body, but is oblivious of the
necessity of providing food for the mind. If all men were well off, if
poverty and disease had been reduced to their lowest possible point, there
would still remain much to be done to produce a valuable society; and even in
the existing world the goods of the mind are at least as important as the
goods of the body. It is exclusively among the goods of the mind that the
value of philosophy is to be found; and only those who are not indifferent to
these goods can be persuaded that the study of philosophy is not a waste of
time.
|
Hơn
nữa, nếu không muốn thất bại trong việc nỗ lực xác định giá trị của triết
học, trước hết chúng ta phải giải thoát tâm trí mình khỏi các thành kiến về
những gì được gọi sai là những người “có óc thực tế”. Người “có óc thực tế”,
như từ này thường được dùng, là người chỉ thừa nhận những nhu cầu vật chất,
là người hiểu rõ rằng con người cần phải có thức ăn cho thân thể, nhưng lại
quên mất sự cần thiết của việc cung cấp thức ăn cho tinh thần. Nếu mọi người
đều sống sung túc, giả thử sự nghèo khổ và bệnh tật được giảm thiểu đến mức
thấp nhất, thì ắt sẽ vẫn còn nhiều điều phải làm để tạo ra một xã hội có giá
trị; và ngay cả trong thế giới hiện tại, các lợi ích tinh thần ít ra cũng
quan trọng như các lợi ích thân xác. Giá trị của triết học chỉ có thể được
tìm thấy giữa các lợi ích của tinh thần mà thôi, và chỉ những ai không dửng
dưng với các lợi ích này mới có thể được thuyết phục rằng việc học triết học không
phải là việc phí thời giờ.
|
Philosophy, like all other studies, aims primarily at
knowledge. The knowledge it aims at is the kind of knowledge which gives
unity and system to the body of the sciences, and the kind which results from
a critical examination of the grounds of our convictions, prejudices, and
beliefs. But it cannot be maintained that philosophy has had any very great
measure of success in its attempts to provide definite answers to its
questions. If you ask a mathematician, a mineralogist, a historian, or any other
man of learning, what definite body of truths has been ascertained by his
science, his answer will last as long as you are willing to listen. But if
you put the same question to a philosopher, he will, if he is candid, have to
confess that his study has not achieved positive results such as have been
achieved by other sciences. It is true that this is partly accounted for by
the fact that, as soon as definite knowledge concerning any subject becomes
possible, this subject ceases to be called philosophy, and becomes a separate
science. The whole study of the heavens, which now belongs to astronomy, was
once included in philosophy; Newton's great work was called 'the mathematical
principles of natural philosophy'. Similarly, the study of the human mind, which
was a part of philosophy, has now been separated from philosophy and has
become the science of psychology. Thus, to a great extent, the uncertainty of
philosophy is more apparent than real: those questions which are already
capable of definite answers are placed in the sciences, while those only to
which, at present, no definite answer can be given, remain to form the
residue which is called philosophy.
|
Giống
như tất cả các môn học khác, triết học trước hết nhắm đến tri thức. Tri thức
mà nó nhắm đến là loại tri thức mang lại tính thống nhất và hệ thống cho toàn
bộ các môn khoa học, và là loại tri thức nảy sinh từ một sự khảo sát có tính
phê phán về các cơ sở của những sự xác tín, các thành kiến và các lòng tin
của chúng ta. Nhưng ta không thể một mực cho rằng triết học đã đạt được nhiều
thành công trong việc nỗ lực đưa ra các câu trả lời rõ ràng cho các câu hỏi
của nó. Nếu bạn hỏi một nhà toán học, một nhà khoáng vật học, một nhà sử học,
hay bất cứ một học giả nào khác, rằng bộ môn khoa học của ông ta xác minh
nhóm chân lý xác định nào, câu trả lời của ông ta sẽ kéo dài bao lâu nếu bạn
còn muốn nghe. Nhưng nếu bạn đặt câu hỏi như vậy cho một nhà triết học, ông
ta sẽ, giả định là ông ấy thành thật, buộc phải thú nhận rằng môn học của ông
ta không đạt được những kết quả tích cực như các môn khoa học khác. Đúng là
điều này được giải thích một phần bởi sự kiện là ngay cả khi ta có thể có
được sự hiểu biết rõ ràng về bất cứ môn học nào, thì môn học ấy không còn
được gọi là môn triết học, và nó trở thành một môn khoa học riêng. Toàn bộ bộ
môn nghiên cứu về các thiên thể, nay thuộc khoa thiên văn học, trước kia được
gộp vào môn triết học; công trình vĩ đại của Newton được gọi là “các nguyên
tắc toán học của triết học tự nhiên”. Cũng giống như vậy, bộ môn nghiên cứu
về tâm thức con người, vốn là một bộ phận của triết học, nay đã tách khỏi môn
triết học và trở thành bộ môn khoa học về tâm lý. Vì thế, xét trên đại thể,
sự không chắc chắn của triết học mang tính bề ngoài hơn là thực chất: các câu
hỏi nào có thể có sẵn các câu trả lời rõ ràng thì được đặt vào trong các môn
khoa học, trong khi chỉ những câu hỏi mà hiện nay không thể mang lại một câu
trả lời rõ ràng nào thì tiếp tục tạo thành bộ môn còn lại được gọi là triết học.
|
This is, however, only a part of the truth concerning the
uncertainty of philosophy. There are many questions -- and among them those
that are of the profoundest interest to our spiritual life -- which, so far
as we can see, must remain insoluble to the human intellect unless its powers
become of quite a different order from what they are now. Has the universe
any unity of plan or purpose, or is it a fortuitous concourse of atoms? Is
consciousness a permanent part of the universe, giving hope of indefinite
growth in wisdom, or is it a transitory accident on a small planet on which
life must ultimately become impossible? Are good and evil of importance to
the universe or only to man? Such questions are asked by philosophy, and
variously answered by various philosophers. But it would seem that, whether
answers be otherwise discoverable or not, the answers suggested by philosophy
are none of them demonstrably true. Yet, however slight may be the hope of
discovering an answer, it is part of the business of philosophy to continue
the consideration of such questions, to make us aware of their importance, to
examine all the approaches to them, and to keep alive that speculative
interest in the universe which is apt to be killed by confining ourselves to
definitely ascertainable knowledge.
|
Tuy
nhiên, đây chỉ là một phần sự thật về tính không chắc chắn của triết học. Có
nhiều câu hỏi - trong số đó có những câu hỏi thuộc về mối quan tâm sâu sắc
nhất đến đời sống tâm linh của chúng ta - chắc hẳn, trong chừng mực chúng ta
có thể biết được, vẫn không thể giải quyết được đối với trí năng của con
người, trừ phi sức mạnh của trí năng này hoàn toàn trở thành một loại khác
với bây giờ. Vũ trụ có sự thống nhất về kế hoạch hay mục đích nào không, hay
chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử? Ý thức có phải là một bộ
phận thường hằng của vũ trụ, mang lại hi vọng vào việc gia tăng sự hiểu biết
đến vô hạn, hay nó chỉ là cái ngẫu nhiên nhất thời trên một hành tinh nhỏ bé,
nơi mà rốt cuộc cũng chẳng còn sự sống nào ở đó? Cái thiện và cái ác có quan
trọng đối với vũ trụ không hay chỉ quan trọng đối với con người? Những câu
hỏi như thế được triết học nêu ra, và được các nhà triết học trả lời một cách
khác nhau. Nhưng có vẻ dù các câu trả lời có được tìm ra theo cách khác hay không,
thì các câu trả lời được triết học đề xuất đều không có câu nào thực sự rõ
ràng. Thế nhưng, cho dù hi vọng tìm ra câu trả lời có thể mong manh, thì một
phần công việc của triết học là tiếp tục xem xét những câu hỏi như thế, làm
chúng ta ý thức về tầm quan trọng của chúng, khảo sát tất cả các lối tiếp cận
chúng và duy trì mối quan tâm tư biện đến vũ trụ để nó không bị tiêu tan bởi
việc chúng ta bó hẹp mình vào tri thức có thể minh xác một cách rõ ràng.
|
Many philosophers, it is true, have held that philosophy
could establish the truth of certain answers to such fundamental questions.
They have supposed that what is of most importance in religious beliefs could
be proved by strict demonstration to be true. In order to judge of such
attempts, it is necessary to take a survey of human knowledge, and to form an
opinion as to its methods and its limitations. On such a subject it would be
unwise to pronounce dogmatically; but if the investigations of our previous
chapters have not led us astray, we shall be compelled to renounce the hope of
finding philosophical proofs of religious beliefs. We cannot, therefore,
include as part of the value of philosophy any definite set of answers to
such questions. Hence, once more, the value of philosophy must not depend
upon any supposed body of definitely ascertainable knowledge to be acquired
by those who study it.
|
Đúng
là có nhiều nhà triết học đã cho rằng triết học có thể xác lập chân lý của
những câu trả lời nào đó cho những câu hỏi nền tảng như vậy. Họ từng nghĩ rằng
cái quan trọng nhất nơi lòng tin tôn giáo có thể được chứng minh bằng một lối
chứng minh chặt chẽ là đúng. Để đánh giá những nỗ lực như thế, ta cần phải
tiến hành một cuộc khảo sát [định lượng] về tri thức của con người và hình
thành một ý kiến về các phương pháp và những giới hạn của nó. Ắt sẽ thật dại
dột khi tuyên bố một cách giáo điều về một chủ đề như vậy; nhưng nếu các phần
nghiên cứu trong các chương trước của chúng tôi không dẫn ta đi lạc đường, chúng
ta sẽ buộc phải từ bỏ hi vọng tìm ra các luận chứng triết học về các lòng tin
tôn giáo. Do đó, chúng ta không thể xem bất cứ tập hợp các câu trả lời rõ ràng
nào cho các câu hỏi như thế là bộ phận của giá trị của triết học. Vì thế, một
lần nữa, giá trị của triết học nhất định không phụ thuộc vào bất cứ cái gì
được cho là khối tri thức có thể minh xác một cách chắc chắn mà người học
triết học đòi hỏi phải có.
|
The value of philosophy is, in fact, to be sought largely
in its very uncertainty. The man who has no tincture of philosophy goes
through life imprisoned in the prejudices derived from common sense, from the
habitual beliefs of his age or his nation, and from convictions which have
grown up in his mind without the co-operation or consent of his deliberate
reason. To such a man the world tends to become definite, finite, obvious;
common objects rouse no questions, and unfamiliar possibilities are
contemptuously rejected. As soon as we begin to philosophize, on the
contrary, we find, as we saw in our opening chapters, that even the most
everyday things lead to problems to which only very incomplete answers can be
given. Philosophy, though unable to tell us with certainty what is the true
answer to the doubts which it raises, is able to suggest many possibilities
which enlarge our thoughts and free them from the tyranny of custom. Thus,
while diminishing our feeling of certainty as to what things are, it greatly
increases our knowledge as to what they may be; it removes the somewhat
arrogant dogmatism of those who have never travelled into the region of
liberating doubt, and it keeps alive our sense of wonder by showing familiar
things in an unfamiliar aspect.
|
Trên
thực tế, giá trị của triết học chủ yếu phải được tìm trong chính sự không
chắc chắn (uncertainty) của nó. Người không có chút kiến thức sơ đẳng nào về triết
học sống một đời sống bị giam hãm trong các thành kiến bắt nguồn từ cảm nghĩ
thông thường (common sense), từ lòng tin quen thuộc của thời đại hay của dân
tộc mình, và từ những sự xác tín đã lớn mạnh trong tâm trí mình mà không có
sự phối hợp hay đồng thuận của lý trí thận trọng của mình. Với một người như
vậy, thế giới có xu hướng trở nên xác định, hữu hạn, hiển nhiên; các đối
tượng thông thường không gợi lên những câu hỏi, và các khả thể không quen
thuộc bị bác bỏ với sự miệt thị. Trái lại, ngay khi bắt đầu triết lý, chúng
ta thấy rằng, như đã thấy ở chương thứ nhất, ngay cả những điều bình thường
nhất trong đời sống thường nhật cũng dẫn đến những vấn đề mà chỉ có thể có
những câu trả lời rất không đầy đủ. Triết học, cho dù không thể cho ta biết
một cách chắc chắn đâu là câu trả lời đúng cho các mối nghi ngờ mà nó nêu ra,
có thể gợi ra nhiều khả thể giúp mở rộng tư tưởng của chúng ta và giải thoát
chúng ra khỏi sự bạo quyền của tập tục. Vì thế, trong khi giảm thiểu cảm giác
chắc chắn của chúng ta về sự vật là gì, nó làm cho tri thức của chúng ta về
những gì mà sự vật có thể là tăng lên rất nhiều; nó xóa bỏ chủ nghĩa giáo điều
có phần kiêu ngạo của những ai chưa bao giờ đi vào miền đất của sự hoài nghi
có sức mạnh giải phóng, và nó làm cho cảm giác ngạc nhiên của chúng ta sinh
động bằng cách chỉ cho chúng ta thấy một phương diện mới mẻ nơi các sự vật
quen thuộc.
|
Apart from its utility in showing unsuspected
possibilities, philosophy has a value -- perhaps its chief value -- through
the greatness of the objects which it contemplates, and the freedom from
narrow and personal aims resulting from this contemplation. The life of the
instinctive man is shut up within the circle of his private interests: family
and friends may be included, but the outer world is not regarded except as it
may help or hinder what comes within the circle of instinctive wishes. In
such a life there is something feverish and confined, in comparison with
which the philosophic life is calm and free. The private world of instinctive
interests is a small one, set in the midst of a great and powerful world
which must, sooner or later, lay our private world in ruins. Unless we can so
enlarge our interests as to include the whole outer world, we remain like a
garrison in a beleagured fortress, knowing that the enemy prevents escape and
that ultimate surrender is inevitable. In such a life there is no peace, but
a constant strife between the insistence of desire and the powerlessness of
will. In one way or another, if our life is to be great and free, we must
escape this prison and this strife.
|
Ngoài
tính thiết thực của nó trong việc cho thấy những khả thể chưa được biết tới,
triết học có một giá trị - có lẽ là giá trị chủ yếu - qua tính chất lớn lao
của các đối tượng mà nó chiêm ngưỡng và sự thoát ly khỏi những mục đích cá
nhân hẹp hòi có được nhờ sự chiêm ngưỡng này. Đời sống của con người bản năng
bị khóa chặt trong vòng tròn các mối quan tâm riêng tư của họ: gia đình, bạn
bè có thể được tính đến, nhưng thế giới bên ngoài lại không được xét tới
ngoại trừ việc thế giới ấy tạo thuận lợi hay cản trở những gì diễn ra bên
trong vòng tròn các ước muốn của bản năng. Một cuộc sống như vậy là cái gì đó
bồn chồn và tù túng, còn đời sống triết lý thì thanh thản và tự do. Thế giới
riêng tư của các mối quan tâm của bản năng là một thế giới nhỏ nhoi, nằm
trong một thế giới to lớn và đầy sức mạnh, mà sớm muộn gì nó cũng tàn phá thế
giới riêng tư của chúng ta. Trừ phi chúng ta có thể mở rộng các mối quan tâm của
chúng ta đến mức bao gồm toàn bộ thế giới bên ngoài, chúng ta vẫn giống như
một anh lính đồn trú trong một pháo đài bị bao vây và biết rằng phe địch đã
chặn lối thoát và việc đầu hàng là một kết cục không thể tránh khỏi. Trong
một đời sống như vậy, không có sự yên bình nào, mà chỉ có một sự xung đột
thường xuyên giữa sự đòi hỏi không ngừng của lòng ham muốn và sự bất lực của
ý chí. Bằng cách này hay cách khác, nếu đời sống của chúng ta muốn trở nên
khoáng đạt và tự do, chúng ta phải thoát ra khỏi cái nhà tù và sự xung đột
này.
|
One way of escape is by philosophic contemplation.
Philosophic contemplation does not, in its widest survey, divide the universe
into two hostile camps -- friends and foes, helpful and hostile, good and bad
-- it views the whole impartially. Philosophic contemplation, when it is
unalloyed, does not aim at proving that the rest of the universe is akin to
man. All acquisition of knowledge is an enlargement of the Self, but this
enlargement is best attained when it is not directly sought. It is obtained
when the desire for knowledge is alone operative, by a study which does not
wish in advance that its objects should have this or that character, but
adapts the Self to the characters which it finds in its objects. This
enlargement of Self is not obtained when, taking the Self as it is, we try to
show that the world is so similar to this Self that knowledge of it is
possible without any admission of what seems alien. The desire to prove this
is a form of self-assertion and, like all self-assertion, it is an obstacle
to the growth of Self which it desires, and of which the Self knows that it
is capable. Self-assertion, in philosophic speculation as elsewhere, views
the world as a means to its own ends; thus it makes the world of less account
than Self, and the Self sets bounds to the greatness of its goods. In
contemplation, on the contrary, we start from the not-Self, and through its
greatness the boundaries of Self are enlarged; through the infinity of the
universe the mind which contemplates it achieves some share in infinity.
|
Có
một lối thoát là bằng sự chiêm ngắm triết học. Sự chiêm ngắm triết học -
trong cái nhìn bao quát rộng nhất của nó - không phân chia vũ trụ thành hai
phe thù địch - bạn và thù, có ích và có hại, tốt và xấu - mà nó nhìn cái toàn
thể một cách vô tư. Sự chiêm ngắm triết học, khi nó thuần khiết, không nhằm
vào việc chứng minh rằng phần còn lại của vũ trụ thì giống với con người. Mọi
sự sở đắc về tri thức là một sự mở rộng của Bản ngã (enlargement of the
Self), nhưng sự mở rộng này được đạt đến tốt nhất khi nó không được theo đuổi
trực tiếp. Chỉ có một lòng ham muốn tri thức thì chúng ta mới có được sự mở
rộng đó, bởi lẽ công việc nghiên cứu không định trước rằng các đối tượng
nghiên cứu có tính chất này hay tính chất khác, mà làm cho Bản ngã thích ứng
với các tính chất mà nó phát hiện thấy trong các đối tượng của nó. Sự mở rộng
này của Bản ngã không đạt được khi, xét Bản ngã như là bản ngã, chúng ta cố
gắng cho thấy rằng thế giới rất giống với Bản ngã này, đến mức ta có thể biết
về nó mà không cần thừa nhận gì về cái tựa hồ như xa lạ. Sự tha thiết chứng
tỏ như vậy là một hình thức khẳng định mình (Self-assertion) và, như bao sự
khẳng định mình khác, nó là một chướng ngại đối với sự trưởng thành của Bản
ngã mà nó mong muốn, và sự trưởng thành mà Bản ngã biết rằng nó có thể. Trong
sự tư biện triết học cũng như trong những hoạt động khác, sự khẳng định mình
xem thế giới là một phương tiện cho những mục đích riêng của nó; vì thế, nó
làm cho thế giới kém quan trọng hơn so với Bản ngã, và Bản ngã đặt định những
giới hạn cho sự lớn lao của những lợi ích của nó. Trái lại, trong sự chiêm
ngắm, chúng ta khởi sự từ cái phi-Bản ngã (non-Self), và qua sự lớn lao của
nó, các giới hạn của Bản ngã được mở rộng ra; qua tính vô hạn của vũ trụ,
tinh thần con người, vốn là cái chiêm ngắm nó, có được phần vô hạn nào đó.
|
For this reason greatness of soul is not fostered by those
philosophies which assimilate the universe to Man. Knowledge is a form of
union of Self and not-Self; like all union, it is impaired by dominion, and
therefore by any attempt to force the universe into conformity with what we
find in ourselves. There is a widespread philosophical tendency towards the
view which tells us that Man is the measure of all things, that truth is
man-made, that space and time and the world of universals are properties of
the mind, and that, if there be anything not created by the mind, it is
unknowable and of no account for us. This view, if our previous discussions
were correct, is untrue; but in addition to being untrue, it has the effect
of robbing philosophic contemplation of all that gives it value, since it
fetters contemplation to Self. What it calls knowledge is not a union with
the not-Self, but a set of prejudices, habits, and desires, making an
impenetrable veil between us and the world beyond. The man who finds pleasure
in such a theory of knowledge is like the man who never leaves the domestic
circle for fear his word might not be law.
|
Vì
lý do này, sự lớn lao của tâm hồn không được nuôi dưỡng bằng những thứ triết
học đồng nhất vũ trụ với Con người. Tri thức là một hình thức hợp nhất Bản ngã
và cái phi-Bản ngã; giống như mọi sự hợp nhất, nó bị mài mòn bởi sự thống
trị, và do đó, bởi bất cứ nỗ lực nào cưỡng ép vũ trụ phải phù hợp với những
gì ta tìm thấy trong chính mình. Có một xu hướng triết học rộng lớn đang hướng
tới quan niệm cho rằng Con người là thước đo của mọi vật, rằng chân lý là do
con người tạo ra, rằng không gian, thời gian và thế giới của những cái phổ
quát là các thuộc tính của tinh thần con người, và rằng nếu không có bất cứ
cái gì do tinh thần con người tạo ra, thì tinh thần ấy là bất khả tri và
không thể giải thích được đối với chúng ta. Nếu như những phần bàn luận ở các
chương trước của chúng tôi đúng, thì quan niệm này không đúng; nhưng ngoài
việc không đúng ra, nó còn có tác dụng là cướp đi tất cả những gì có giá trị mà
sự chiêm ngắm triết học mang lại, bởi lẽ nó kìm kẹp sự chiêm ngắm vào Bản
ngã. Cái gọi là tri thức không phải là sự hợp nhất với cái phi-Bản ngã, mà là
một tập hợp các thành kiến, các thói quen và các ham muốn, làm thành một tấm
mạng che không thể xuyên qua được giữa chúng ta với thế giới phía bên ngoài.
Người chỉ biết tìm niềm vui trong một lý thuyết về tri thức như vậy giống như
người không bao giờ rời khỏi vòng quẩn quanh trong gia đình vì sợ lời của
mình có thể bị chệch lề lối.
|
The true philosophic contemplation, on the contrary, finds
its satisfaction in every enlargement of the not-Self, in everything that
magnifies the objects contemplated, and thereby the subject contemplating.
Everything, in contemplation, that is personal or private, everything that
depends upon habit, self-interest, or desire, distorts the object, and hence impairs
the union which the intellect seeks. By thus making a barrier between subject
and object, such personal and private things become a prison to the
intellect. The free intellect will see as God might see, without a here and
now, without hopes and fears, without the trammels of customary beliefs and
traditional prejudices, calmly, dispassionately, in the sole and exclusive
desire of knowledge -- knowledge as impersonal, as purely contemplative, as
it is possible for man to attain. Hence also the free intellect will value
more the abstract and universal knowledge into which the accidents of private
history do not enter, than the knowledge brought by the senses, and
dependent, as such knowledge must be, upon an exclusive and personal point of
view and a body whose sense-organs distort as much as they reveal.
|
Sự
chiêm nghiệm triết học thực sự, trái lại, tìm được sự thỏa mãn trong bất cứ
sự mở rộng nào của cái phi-Bản ngã, trong bất cứ cái gì phóng lớn các đối
tượng được chiêm ngắm, và qua đó chủ thể đang chiêm ngắm. Trong sự chiêm
ngắm, bất cứ cái gì là cá nhân hay riêng tư, bất cứ cái gì phụ thuộc vào tập
quán, tư lợi, hay dục vọng, cũng đều làm xuyên tạc đối tượng và làm suy yếu
sự hợp nhất mà trí tuệ tìm kiếm. Vì thế, khi dựng lên một hàng rào giữa chủ
thể và khách thể, các sự vật cá nhân hay riêng tư như vậy trở thành ngục tù
đối với trí tuệ. Trí tuệ tự do sẽ thấy rõ như Thượng đế, không có cái ở đây và bây giờ, không có những niềm hi vọng và những nỗi lo sợ,
không có những trở ngại của các lòng tin theo tập tục và các tiên kiến truyền
thống, một cách bình lặng, điềm nhiên, niềm ham muốn duy nhất, và chỉ niềm
ham muốn ấy thôi: niềm ham muốn tri thức - một thứ tri thức vô ngã, chiêm
ngắm thuần túy, một thứ tri thức mà con người có thể đạt được. Do đó, trí tuệ
tự do cũng sẽ đề cao giá trị của tri thức trừu tượng và phổ quát, mà các ngẫu
nhiên của lịch sử riêng tư không bước vào được, hơn so với tri thức do các giác
quan mang lại, và phụ thuộc vào một điểm nhìn riêng tư độc nhất và cơ thể mà
các cơ quan cảm giác của nó bộc lộ ra bao nhiêu thì xuyên tạc đi bấy nhiêu,
loại tri thức này vốn là vậy.
|
The mind which has become accustomed to the freedom and
impartiality of philosophic contemplation will preserve something of the same
freedom and impartiality in the world of action and emotion. It will view its
purposes and desires as parts of the whole, with the absence of insistence
that results from seeing them as infinitesimal fragments in a world of which
all the rest is unaffected by any one man's deeds. The impartiality which, in
contemplation, is the unalloyed desire for truth, is the very same quality of
mind which, in action, is justice, and in emotion is that universal love
which can be given to all, and not only to those who are judged useful or
admirable. Thus contemplation enlarges not only the objects of our thoughts,
but also the objects of our actions and our affections: it makes us citizens
of the universe, not only of one walled city at war with all the rest. In
this citizenship of the universe consists man's true freedom, and his liberation
from the thraldom of narrow hopes and fears.
|
Tinh
thần con người một khi trở nên quen với sự tự do và tính vô tư của sự chiêm
ngắm triết học thì nó sẽ giữ lại cái gì đó giống với sự tự do và tính vô tư
trong thế giới của hành động và cảm xúc. Nó sẽ xem các mục đích và ham muốn
của nó là bộ phận của cái toàn bộ chứ không có [thái độ] khăng khăng cố chấp,
vốn là [thái độ] có nguồn gốc từ việc xem chúng như là các phân mảnh vô cùng
nhỏ trong một thế giới mà hành vi của bất cứ ai cũng không ảnh hưởng gì đến
toàn bộ những người khác. Trong sự chiêm ngắm, tính vô tư là sự ham muốn chân
lý thuần khiết, là cùng một phẩm chất của tinh thần, [mà] trong hành động,
phẩm chất ấy là sự công bằng, và trong xúc cảm phẩm chất ấy là tình yêu phổ
quát có thể được mang lại cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho những ai
được đánh giá là cừ khôi hay đáng ngưỡng mộ. Như thế, sự chiêm ngắm không chỉ
mở rộng các đối tượng của các tư tưởng của chúng ta, mà còn mở rộng các đối tượng
của các hành động và tình cảm yêu mến của chúng ta: nó làm cho chúng ta trở
thành các công dân của thế giới, chứ không chỉ của một thành phố có tường lũy
bao bọc trong cuộc chiến với tất cả phần còn lại [của thế giới]. Trong tư
cách công dân thế giới này có cả sự tự do chân thực của con người và sự giải
phóng con người ra khỏi tình trạng nô dịch của những niềm hi vọng và những
nỗi lo sợ hẹp hòi.
|
Thus, to sum up our discussion of the value of philosophy;
Philosophy is to be studied, not for the sake of any definite answers to its
questions since no definite answers can, as a rule, be known to be true, but
rather for the sake of the questions themselves; because these questions
enlarge our conception of what is possible, enrich our intellectual
imagination and diminish the dogmatic assurance which closes the mind against
speculation; but above all because, through the greatness of the universe
which philosophy contemplates, the mind also is rendered great, and becomes
capable of that union with the universe which constitutes its highest good.
|
Vì vậy, nội dung bàn luận của chúng tôi về giá trị của
triết học được tóm lại như sau: Chúng ta cần phải học triết học, không phải
vì [cần có] một câu trả lời dứt khoát nào cho các câu hỏi, bởi theo lẽ
thường, không một câu trả lời dứt khoát nào có thể được coi là chân lý, mà là
vì bản thân những câu hỏi; vì những câu hỏi này mở rộng quan niệm của chúng
ta về cái khả hữu, làm giàu trí tưởng tượng trí tuệ của chúng ta và giảm bớt
những sự chắc chắn có tính cách giáo điều vốn là cái khép kín tinh thần của
chúng ta trước sự tư biện; nhưng trên hết vì, qua sự lớn lao của thế giới mà
triết học chiêm ngắm, tinh thần cũng trở nên lớn lao, và có thể hợp nhất với
thế giới, sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất của nó.
|
Translated by ĐINH HỒNG PHÚC
|
|
http://www.skepdic.com/russell.html
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, December 16, 2012
THE VALUE OF PHILOSOPHY Giá trị của triết học
CHINA HIDES BEHIND WHITE PAINT Trung Quốc ẩn núp phía sau màu sơn trắng
China Builds a Nimitz Class Carrier
CHINA HIDES BEHIND
WHITE PAINT
|
Trung Quốc ẩn núp
phía sau màu sơn trắng
|
Strategy Page
|
Strategy Page
|
December 11, 2012
|
11 tháng 12, 2012
|
The recent Chinese announcement that it would begin
enforcing new rules, starting January 1st, that will have Chinese naval
patrols escorting, or expelling, foreign ships from most of the South China
Sea has mobilized a lot of resistance. But the Chinese have been clever about
how they will go about this. China is not planning on having grey painted
navy ships do the intercepting and harassing but white painted coast guard
vessels. White paint and vertical red stripes on the hull is an
internationally recognized way to present coast guard ships. This is much
less threatening than warships. China also calls in civilian vessels (owners
of these privately owned ships understand that refusing to help is not an
option) to get in the way of foreign ships the coast guard wants gone. Thus
if foreign warships open fire to try and scare away these harassing vessels
they become the bad guys.
|
Gần đây nhiều nước đã cực lực phản đối thông báo của Trung
Quốc về các quy định mới, sẽ bắt đầu từ ngày 01 tháng Một tới đây, bao gồm
việc hải quân Trung Quốc sẽ tuần tra và hộ tống hoặc trục xuất tàu nước ngoài
trong vùng Biển Đông. Nhưng Trung Quốc đã rất thông minh về cách ứng xử của
họ đối với việc này. Trung Quốc không có kế hoạch phủ lớp sơn màu xám lên các
tàu hải quân để ngăn chặn và quấy rối các tàu nước ngoài, ngược lại, họ đã sử
dụng lớp sơn trắng của các tàu tuần duyên. Màu sơn trắng và các sọc đỏ dọc
trên thân tàu được quốc tế công nhận là màu sơn của tàu tuần duyên. Điều này
ít nhất là không mang lại nhiều đe dọa so với các tàu chiến. Trung Quốc cũng
kêu gọi các tàu dân sự (trong đó chủ sở hữu của các tàu này hiểu rằng từ chối
giúp đỡ không phải là cách mà họ có thể lựa chọn) nhập cuộc ngăn chắn các tàu
nước ngoài. Vì vậy, nếu các tàu chiến nước ngoài nổ súng để đe dọa và xua
đuổi các tàu quấy rối này thì ngay lập tức họ trở thành những kẻ xấu.
|
China has three 1,500 ton coastal patrol ships
("cutters" in American parlance) being built simultaneously, next
to each other as part of a 36 ship order. All these are for the China Marine
Surveillance (CMS). Seven of the new ships are the size of corvettes (1,500
tons), while the rest are smaller (15 are 1,000 ton ships and 14 are 600
tons). For a long time coastal patrol was carried out by navy cast-offs. But
in the last decade the coastal patrol force has been getting more and more
new ships (as well as more retired navy small ships). Delivery of all 36 CMS
ships is to be completed in the next two years. Meanwhile China is
transferring more elderly navy small (corvette type) warships to the various
law enforcement agencies responsible for coastal security. As of January 1st
China will officially include the coasts of many uninhabited islets, rocks,
and reefs in the South China Sea in that jurisdiction. This will make a lot
of areas that the rest of the world considers international waters into
Chinese coastal waters. China needs a lot more ships to patrol all this.
|
Trung Quốc có khoảng ba tàu tuần duyên hạng nặng 1.500 tấn
(được biết đến với tên gọi “máy cắt” theo cách nói của người Mỹ) đang được
xây dựng, một phần trong số 36 chiếc trong đơn đặt hàng. Tất cả các tàu này
thuộc Cơ quan Giám sát Biển Trung Quốc. Bảy trong số các tàu mới này có kích
thước của tàu hộ tống (1.500 tấn), trong khi phần còn lại là các số nhỏ hơn
(15 chiếc có trọng lượng 1.000 tấn và 14 chiếc có trọng lượng 600 tấn). Trong
một thời gian dài, việc tuần tra ven biển được thực hiện bởi lược lượng hải
quân. Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, lực lượng tuần duyên đã có được nhiều
tàu mới hơn. Kế hoạch giao 36 chiếc tàu cho CMS sẽ được hoàn thành trong vòng
hai năm tới. Trong khi đó, Trung Quốc đang chuyển giao lại các loại tàu chiến
nhỏ hơn (tàu hộ tống loại nhỏ) cho các cơ quan thực thi pháp luật khác nhau
chịu trách nhiệm về an ninh biển. Ngày 1 tháng Một tới đây Trung Quốc sẽ
chính thức ra lệnh kiểm soát các bờ biển tại các đảo không có người ở, cũng
như các bãi đá ngầm và rạn san hô ở khu vực Biển Đông. Điều này sẽ làm cho
rất nhiều các khu vực được xem là thuộc vùng biển quốc tế, được Trung Quốc
đưa vào chủ quyền của nước này. Và hiện Trung Quốc đang cần thêm tàu để có
thể thực hiện những hoạt động này.
|
The CMS service is one of five Chinese organizations
responsible for law enforcement along the coast. The others are the Coast
Guard, which is a military force of white painted vessels that constantly
patrols the coasts. The Maritime Safety Administration handles search and
rescue along the coast. The Fisheries Law Enforcement Command polices fishing
grounds. The Customs Service polices smuggling. China has multiple coastal
patrol organizations because it is the custom in communist dictatorships to
have more than one security organization doing the same task, so each outfit
can keep an eye on the other.
|
CMS là một trong năm cơ quan chịu trách nhiệm thực thi
pháp luật dọc theo bờ biển của Trung Quốc. Các cơ quan khác bao gồm Cảnh sát
biển, một lực lượng quân sự có các tàu mang lớp sơn trắng liên tục tuần tra
các bờ biển. Cơ quan Quản lý An toàn Hàng hải chuyên phụ trách tìm kiếm và
cứu hộ dọc theo bờ biển. Cơ quan Thực thi Chính sách Thuỷ sản phụ trách việc
đánh bắt cá trái phép. Và Cơ quan Hải quan chuyên chống buôn lậu. Trung Quốc
có nhiều cơ quan tuần tra duyên hải bởi vì nước này theo chế độ độc tài cộng
sản, việc có nhiều cơ quan an ninh làm các nhiệm vụ tương tự nhau để họ có
thể kiểm soát lẫn nhau.
|
CMS is the most recent of these agencies, having been
established in 1998. It is actually the police force for the Chinese Oceanic
Administration, which is responsible for surveying non-territorial waters
that China has economic control over (the exclusive economic zones or EEZ)
and for enforcing environmental laws in its coastal waters. The new ship
building program will expand the CMS strength from 9,000 to 10,000 personnel.
CMS already has 300 boats and ten aircraft.
|
CMS là cơ quan mới nhất được thành lập vào năm 1998. Cơ
quan này thực sự là lực lượng cảnh sát Quản lý đại dương của Trung Quốc, có
trách nhiệm khảo sát các vùng biển mà Trung Quốc có đặc quyền kinh tế (vùng
đặc quyền kinh tế hoặc – exclusive economic zone) và thực thi các pháp luật
về môi trường ở các vùng này. Chương trình xây dựng tàu mới này sẽ mở rộng
sức mạnh của CMS từ 9.000 đến 10.000 nhân viên. CMS hiện đã có 300 tàu thuyền
và 10 máy bay.
|
In addition, CMS collects and coordinates data from marine
surveillance activities in ten large coastal cities and 170 coastal counties.
When there is an armed confrontation over contested islands in the South
China Sea it's usually CMS patrol boats that are frequently described as
"Chinese warships." The CMS and the four other “coast guard” forces
have several hundred large ships (over 1,000 tons, including several that are
over 3,000 tons) and thousands of smaller patrol boats. China is building
small bases in the disputed islands that can serve as home port for the small
patrol boats. It should be noted that many of these patrol vessels are designed
to be equipped with heavier weapons (missiles, torpedoes) in wartime.
|
Ngoài ra, CMS thu thập và phối hợp các dữ liệu hoạt động
giám sát biển tại mười thành phố lớn và 170 quận ven biển. Khi có các cuộc
đối đầu vũ trang tại các đảo tranh chấp ở Biển Đông, CMS là các tàu tuần tra
thường xuyên được mô tả là “tàu chiến của Trung Quốc”. CMS và bốn “cơ quan
bảo vệ bờ biển” khác của Trung Quốc có hàng trăm tàu cỡ lớn (hơn 1.000 tấn,
trong đó có một số có trọng lượng hơn 3.000 tấn) và hàng ngàn tàu tuần tra
nhỏ hơn. Trung Quốc hiện đang xây dựng cơ sở hạ tầng ở các đảo có tranh chấp
để có thể phục vụ cho các tàu tuần tra nhỏ loại này. Cần lưu ý rằng nhiều
trong số các tàu tuần tra này được trang bị các vũ khí hạng nặng (như tên
lửa, ngư lôi) nêu có chiến tranh xảy ra.
|
Thus the current expansion is mostly about the EEZ and
patrolling it more frequently and aggressively. International law (the 1994
Law of the Sea treaty) recognizes the waters 22 kilometers from land as under
the jurisdiction of the nation controlling the nearest land. That means ships
cannot enter these "territorial waters" without permission.
However, the waters 360 kilometers from land are considered the Exclusive Economic
Zone (EEZ) of the nation controlling the nearest land. The EEZ owner can
control who fishes there and extracts natural resources (mostly oil and gas)
from the ocean floor. But the EEZ owner cannot prohibit free passage or the
laying of pipelines and communications cables. China has already claimed that
foreign ships have been conducting illegal espionage in their EEZ. But the
1994 treaty says nothing about such matters. China is simply doing what China
has been doing for centuries, trying to impose its will on neighbors or
anyone venturing into what China considers areas under its control.
|
Vì vậy, Trung Quốc thường xuyên tuần tra và tích cực hơn
tại các vùng biển mà họ có đặc quyền kinh tế. Luật pháp quốc tế (Hiệp ước
Biển năm 1994) công nhận vùng biển cách đất liền 22 kilomet và cho phép nước
nào có chủ quyền được kiểm soát khu vực này. Điều đó có nghĩa rằng các tàu
[nước ngoài] không được phép đi vào “vùng lãnh hải” nếu như không phép của
nước có chủ quyền. Tuy nhiên, các vùng biển cách đất liền 360 kilomet được
xem là khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ). Các nước có chủ quyền ở vùng đặc
quyền kinh tế này có thể kiểm soát các tàu đánh cá và những chất được chiết
xuất từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (chủ yếu là dầu khí) từ đáy biển.
Tuy nhiên, chủ sở hữu vùng này không thể ngăn cấm quyền tự do qua lại đối với
các tàu nước ngoài hoặc lắp đặt các đường ống và cáp thông tin. Trong khi đó
thì phía Trung Quốc đã lên tiếng tuyên bố rằng các tàu nước ngoài đã tiến
hành các hoạt động gián điệp bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của
họ. Tuy nhiên, Hiệp ước năm 1994 đặc biệt không nói gì về những vấn đề như
vậy. Trung Quốc chỉ đơn giản thực hiện những gì họ đã làm trong nhiều thế kỷ
qua, cố gắng áp đặt ý chí của họ lên các nước láng giềng hay bất cứ nước nào
mạo hiểm đi vào những gì mà Trung Quốc xem là khu vực thuộc quyền kiểm soát
của họ.
|
For the last two centuries China has been prevented from
exercising its "traditional rights" in nearby waters because of the
superior power of foreign navies (first the cannon armed European sailing
ships, then, in the 19th century, newly built steel warships from Japan).
However, since the communists took over China 60 years ago, there have been
increasingly violent attempts to reassert Chinese control over areas that
have long (for centuries) been considered part of the "Middle
Kingdom" (or China, as in the "center of the world").
|
Trong hai thế kỷ vừa qua Trung Quốc đã bị ngăn cản thực
hiện các “quyền truyền thống” trong vùng biển gần đó vì sức mạnh vượt trội
của các lực lượng hải quân nước ngoài (đầu tiên là súng pháo cannon của châu
Âu, sau đó vào thế kỷ 19 là tàu chiến thép mới từ Nhật Bản). Tuy nhiên, kể từ
khi những người cộng sản lên chiếm quyền 60 năm trước đây, Trung Quốc đã sử
dụng bạo lực để tái khẳng định lại quyền kiểm soát của họ trong khu vực
(trong nhiều thế kỷ) mà họ xem là một phần của “Vương quốc Trung Tâm – Middle
Kingdom” (hoặc Trung Quốc, như là trung tâm “của thế giới”).
|
China is particularly concerned about the nearby Spratlys,
a group of some 100 islets, atolls, and reefs that total only about 5 square
kilometers of land but sprawl across some 410,000 square kilometers of the
South China Sea. Set amid some of the world's most productive fishing
grounds, the islands are believed to have enormous underwater oil and gas
reserves. Several nations have overlapping claims on the group. About 45 of
the islands are currently occupied by small numbers of military personnel.
China claims them all but occupies only 8, Vietnam has occupied or marked 25,
the Philippines 8, Malaysia 6, and Taiwan one.
|
Hiện nay Trung Quốc đặc biệt quan tâm quần đảo Trường Sa ở
gần đó, một nhóm đảo gồm khoảng 100 đảo nhỏ, rạn san hô, và các bãi đá ngầm
có tổng cộng khoảng 5 cây số vuông đất, nhưng bao gồm 410.000 cây số vuông
diện tích biển ở Biển Đông. Ngoài có tiếng là một ngư trường lớn nhất thế
giới, các đảo này còn được cho là có nguồn dầu mỏ và khí đốt rất lớn bên dưới
đáy biển. Một số quốc gia khác cũng đã lên tiếng tuyên bố chủ quyền. Hiện có
khoảng 45 trong số các hòn đảo tại đây được các nhóm quân sự chiếm đóng.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các hòn đảo tại đây nhưng họ chỉ
chiếm đóng được 8 đảo, Việt Nam đã chiếm hoặc đánh dấu 25 đảo, Philippines
chiếm 8 đảo, Malaysia có 6 đảo, và Đài Loan chiếm duy nhất 01 đảo.
|
China prefers to use non-military or paramilitary ships
(like those of the CMS) to harass foreign ships it wants out of the EEZ or
disputed warfare. This approach is less likely to spark an armed conflict and
makes it easier for the Chinese to claim they were the victims. These claims
of being a victim come across as a bad joke to China’s neighbors. That’s
because the new rules mean offshore areas of the Philippines, Malaysia,
Taiwan, Brunei, and Vietnam that international law does not recognize as
Chinese are now formally claimed by China. India and the United States have
both announced that they will not obey and that Indian and American warships
expect to move unmolested through the South China Sea in 2013.
|
Trung Quốc muốn sử dụng các tàu phi quân sự hoặc bán quân
sự (giống như tàu của CMS) để quấy rối các tàu nước ngoài nhằm đuổi họ ra
khỏi vùng đặc quyền kinh tế hay các khu vực có tranh chấp. Cách tiếp cận này
ít có khả năng châm ngòi cho một cuộc xung đột vũ trang và dễ dàng hơn cho
phía Trung Quốc tuyên bố họ là nạn nhân. Việc này diễn ra như một vỡ kịch đối
với các nước láng giềng khi Trung Quốc tuyên bố họ là nạn nhân. Đó là bởi vì
các quy định mới dưới luật pháp quốc tế tại các khu vực ngoài khơi bở biển
của Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei và Việt Nam không công nhận thuộc
chủ quyền của Trung Quốc như cách mà Trung Quốc đang làm. Ấn Độ và Hoa Kỳ đã
công bố rằng họ sẽ không tuân thủ các quy định trên [của Trung Quốc] và mong
rằng các tàu chiến của Ấn Độ và Hoa Kỳ không bị trở ngại khi di chuyển qua
khu vực Biển Đông vào năm 2013 tới đây.
|
Translated by Hiền Trang
|
|
http://www.strategypage.com/htmw/htsurf/articles/20121211.aspx
|
|
Friday, December 14, 2012
COULD ASIA REALLY GO TO WAR OVER THESE? LIỆU CHÂU Á CÓ THỰC SỰ ĐI ĐẾN CHIẾN TRANH VÌ NHỮNG HÒN ĐẢO?
|
|
|
|
COULD ASIA REALLY GO
TO WAR OVER THESE?
|
LIỆU CHÂU Á CÓ THỰC
SỰ ĐI ĐẾN CHIẾN TRANH VÌ NHỮNG HÒN ĐẢO?
|
|
The Economist
Sep 22nd 2012
|
The Economist
22/09/2012
|
|
The bickering over islands is a serious threat to the
region’s peace and prosperity
|
Tranh chấp xung quanh các quần đảo là một mối đe dọa
nghiêm trọng đối với hòa bình và sự thịnh vượng của khu vực.
|
|
THE countries of Asia do not exactly see the world in a
grain of sand, but they have identified grave threats to the national
interest in the tiny outcrops and shoals scattered off their coasts. The
summer has seen a succession of maritime disputes involving China, Japan,
South Korea, Vietnam, Taiwan and the Philippines. This week there were more
anti-Japanese riots in cities across China because of a dispute over a group
of uninhabited islands known to the Japanese as the Senkakus and to the
Chinese as the Diaoyus. Toyota and Honda closed down their factories. Amid
heated rhetoric on both sides, one Chinese newspaper has helpfully suggested
skipping the pointless diplomacy and moving straight to the main course by
serving up Japan with an atom bomb.
|
Những nước châu Á đúng là không nhìn thấy cả thế giới
trong một hạt cát, nhưng họ đã nhận ra được những mối đe dọa nghiêm trọng đến
lợi ích quốc gia tại các bãi đá nổi và đá ngầm nhỏ bé rải rác xung quanh bờ
biển của họ. Mùa Hè này đã chứng kiến một chuỗi những tranh chấp trên biển
liên quan đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và
Philíppin. Tháng 9/2012, đã xảy ra nhiều hơn những vụ nổi loạn chống Nhật tại
các thành phố ở Trung Quốc do tranh chấp xung quanh một nhóm đảo không người
ở mà người Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Toyota và Honda
đã đóng cửa các nhà máy của mình. Giữa giọng điệu nóng nảy từ hai phía, một
tờ báo Trung Quốc đã đề xuất đầy hữu ích rằng nên bỏ qua con đường ngoại giao
vô nghĩa và tiến thẳng đến trọng tâm bằng cách mang đến cho Nhật Bản một quả
bom nguyên tử.
|
|
That, thank goodness, is grotesque hyperbole: the
government in Beijing is belatedly trying to play down the dispute, aware of
the economic interests in keeping the peace. Which all sounds very rational,
until you consider history—especially the parallel between China’s rise and
that of imperial Germany over a century ago. Back then nobody in Europe had
an economic interest in conflict; but Germany felt that the world was too
slow to accommodate its growing power, and crude, irrational passions like
nationalism took hold. China is re-emerging after what it sees as 150 years
of humiliation, surrounded by anxious neighbours, many of them allied to
America. In that context, disputes about clumps of rock could become as
significant as the assassination of an archduke.
|
May mắn thay, đó chỉ là một lời nói phóng đại kỳ cục:
Chính quyền tại Bắc Kinh đang tìm cách giảm thiểu tranh chấp một cách muộn
màng, nhận thức được những lợi ích kinh tế trong việc duy trì nền hòa bình,
Điều này hoàn toàn nghe có vẻ rất hợp lý, cho đến khi người ta xét đến lịch
sử – đặc biệt là mối tương đồng giữa sự trỗi dậy của Trung Quốc và của một
nước Đức đế quốc trong một thế kỷ trước. Thời kỳ đó, không một ai ở châu Âu
có được lợi ích kinh tế trong xung đột; nhưng Đức đã nhận thấy rằng thế giới
quá chậm chạp đến nỗi không thể điều chỉnh cho phù hợp với sức mạnh đang ngày
càng gia tăng của mình, và những cơn thịnh nộ, tàn bạo và phi lý như chủ
nghĩa dân tộc được thiết lập. Trung Quốc lại đang nổi lên sau những điều mà
nó coi là 150 năm nhục nhã, bị vây quanh bởi những nước láng giềng đầy băn
khoăn, rất nhiều trong số đó là đồng minh của Mỹ. Trong bối cảnh đó, những
tranh chấp về các cụm đá có thể trở nên quan trọng như cuộc mưu sát một đại
công tước.
|
|
One mountain, two
tigers
Optimists point out that the latest scuffle is mainly a
piece of political theatre—the product of elections in Japan and a leadership
transition in China. The Senkakus row has boiled over now because the
Japanese government is buying some of the islands from a private Japanese
owner. The aim was to keep them out of the mischievous hands of Tokyo’s
China-bashing governor, who wanted to buy them himself. China, though, was
affronted. It strengthened its own claim and repeatedly sent patrol boats to
encroach on Japanese waters. That bolstered the leadership’s image, just
before Xi Jinping takes over.
|
Một ngọn núi, hai
con hổ
Những người lạc quan chỉ ra rằng cuộc xô xát gần đây nhất
chủ yếu là một vở kịch chính trị – một sản phẩm của những cuộc bầu cử ở Nhật
Bản và sự chuyển giao ban lãnh đạo ở Trung Quốc. Cuộc tranh cãi về đảo
Senkaku đã lên đến đỉnh điểm vì Chính phủ Nhật Bản mua lại một vài hòn đảo từ
các chủ sở hữu tư nhân Nhật Bản. Mục đích là để bảo vệ những đảo này khỏi bàn
tay tinh ranh của thị trưởng Tôkyô có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc,
người cũng muốn tự mình mua lại những hòn đảo này. Mặc dù vậy, Trung Quốc đã
bị xúc phạm. Nước này đã củng cố lời tuyên bố chủ quyền của mình và nhiều lần
phái tàu tuần tra đi xâm lấn lãnh hải của Nhật Bản. Điều đó đã củng cố thêm
hình ảnh của ban lãnh đạo, ngay trước khi ông Tập Cận Bình nhậm chức.
|
|
More generally, argue the optimists, Asia is too busy
making money to have time for making war. China is now Japan’s biggest
trading partner. Chinese tourists flock to Tokyo to snap up bags and designer
dresses on display in the shop windows on Omotesando. China is not interested
in territorial expansion. Anyway, the Chinese government has enough problems
at home: why would it look for trouble abroad?
|
Nhìn chung, những người lạc quan lập luận rằng châu Á đang
quá bận kiếm tiền đến mức không có thời gian để gây chiến. Trung Quốc hiện
nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Khách du lịch Trung Quốc
nườm nượp kéo đến Tôkyô để chộp mua ngay những chiếc túi xách và quần áo
thiết kế được trưng bày tại các tủ kính cửa hàng ở Omotesando. Trung Quốc
không thích thú gì với sự bành trướng lãnh thổ. Dù thế nào đi chăng nữa,
Chính phủ Trung Quốc đã gặp đủ vấn đề trong nước rồi: vậy tại sao nước này
phải tìm kiếm thêm những rắc rối ở ngoài nước?
|
|
Asia does indeed have reasons to keep relations good, and
this latest squabble will probably die down, just as others have in the past.
But each time an island row flares up, attitudes harden and trust erodes. Two
years ago, when Japan arrested the skipper of a Chinese fishing boat for
ramming a vessel just off the islands, it detected retaliation when China
blocked the sale of rare earths essential to Japanese industry.
|
Châu Á quả thực có lý do để duy trì cho những mối quan hệ
tốt đẹp và cuộc tranh cãi không đâu gần đây nhất có thể sẽ dịu đi, như những
cuộc tranh cãi khác đã từng xảy ra trong quá khứ. Nhưng mỗi khi một vụ tranh
cãi về hòn đảo bùng lên thì thái độ lại trở nên cứng rắn và niềm tin bị xói
mòn. Hai năm trước, khi Nhật Bản bắt giừ thuyền trưởng của một tàu cá Trung
Quốc vì đâm vào một tàu ngay sát quần đảo này, thì Nhật Bản đã nhận ra hành
động trả đũa khi Trung Quốc hạn chế việc bán đất hiếm cần thiết cho nền công
nghiệp của nước này.
|
|
Growing nationalism in Asia, especially China, aggravates
the threat (see article). Whatever the legality of Japan’s claim to the
islands, its roots lie in brutal empire-building. The media of all countries
play on prejudice that has often been inculcated in schools. Having helped
create nationalism and exploited it when it suited them, China’s leaders now
face vitriolic criticism if they do not fight their country’s corner. A
recent poll suggested that just over half of China’s citizens thought the
next few years would see a “military dispute” with Japan.
|
Chủ nghĩa dân tộc đang ngày càng gia tăng ở châu Á, đặc
biệt là Trung Quốc, đã làm trầm trọng thêm mối đe dọa này. Bất kể tính hợp
pháp của tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này là gì đi chăng
nữa, thì gốc rễ của nó vẫn nằm ở công cuộc xây dựng đế chế đầy tàn bạo. Giới
truyền thông ở các nước đã lợi dụng thành kiến vốn đã thường xuyên được khắc
sâu ở các trường học. Góp phần tạo ra chủ nghĩa dân tộc và tận dụng khi nó
phù hợp với mình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây phải đối mặt với lời
chỉ trích cay độc nếu họ không đấu tranh vì một phần của đất nước mình. Một
cuộc thăm dò gần đây đã cho thấy rằng chỉ hơn một nửa người dân Trung Quốc
nghĩ rằng trong một vài năm tới sẽ chứng kiến một “cuộc tranh chấp quân sự”
với Nhật Bản.
|
|
The islands matter, therefore, less because of fishing,
oil or gas than as counters in the high-stakes game for Asia’s future. Every
incident, however small, risks setting a precedent. Japan, Vietnam and the
Philippines fear that if they make concessions, China will sense weakness and
prepare the next demand. China fears that if it fails to press its case,
America and others will conclude that they are free to scheme against it.
|
Do đó, những quần đảo này có ý nghĩa ít vì việc đánh bắt
cá, dầu mỏ hay khí đốt hơn những toan tính trong một trò chơi đặt cược cao
cho tương lai của châu Á. Tất cả các sự kiện, dù nhỏ cũng đều có nguy cơ
thiết lập nên một tiền lệ. Nhật Bản, Việt Nam và Philíppin đều lo sợ rằng nếu
họ nhượng bộ thì Trung Quốc sẽ cảm nhận được điểm yếu và chuẩn bị cho một yêu
sách tiếp theo. Trung Quốc lo sợ rằng nếu nước này thất bại trong việc thúc
đẩy lý lẽ của mình thì Mỹ và những nước khác sẽ kết luận rằng họ được tự do
âm mưu chống lại Trung Quốc.
|
|
Co-operation and deterrence
Asia’s inability to deal with the islands raises doubts
about how it would cope with a genuine crisis, on the Korean peninsula, say,
or across the Strait of Taiwan. China’s growing taste for throwing its weight
around feeds deep-seated insecurities about the way it will behave as a
dominant power. And the tendency for the slightest tiff to escalate into a
full-blown row presents problems for America, which both aims to reassure
China that it welcomes its rise, and also uses the threat of military force
to guarantee that the Pacific is worthy of the name.
|
Hợp tác và răn đe
Việc châu Á không có khả năng giải quyết các vấn đề liên
quan đến những hòn đảo đã đặt ra những nghi ngờ về việc khu vực này sẽ đối
phó với một cuộc khủng hoảng thật sự trên bán đảo Triều Tiên và hai bờ eo
biển Đài Loan như thế nào. Việc Trung Quốc ngày càng thích cư xử một cách
kiêu căng hùng hổ nuôi dưỡng những điều không chắc chắn đã ăn sâu về cách mà
nước này sẽ hành xử với tư cách một cường quốc chi phối. Và xu hướng sự bất
hòa nhỏ nhặt nhất leo thang trở thành một cuộc cãi cọ bùng nổ mạnh mẽ là
những vấn đề cho Mỹ, mà vừa nhằm làm yên lòng Trung Quốc rằng Mỹ hoan nghênh
sự trỗi dậy của Trung Quốc vừa sử dụng mối đe dọa về sức mạnh quân sự để đảm
bảo ràng Thái Bình Dương xứng với cái tên của mình.
|
|
Some of the solutions will take a generation. Asian
politicians have to start defanging the nationalist serpents they have
nursed; honest textbooks would help a lot. For decades to come, China’s rise
will be the main focus of American foreign policy. Barack Obama’s “pivot”
towards Asia is a useful start in showing America’s commitment to its allies.
But China needs reassuring that, rather than seeking to contain it as Britain
did 19th-century Germany, America wants a responsible China to realise its
potential as a world power. A crudely political WTO complaint will add to
Chinese worries.
|
Một số giải pháp sẽ mất cả một thế hệ. Các chính trị gia
châu Á phải bắt đầu nhổ chiếc răng nọc của những con rắn dân tộc chủ nghĩa mà
họ đã nuôi dưỡng, những cuốn sách giáo khoa chân thực sẽ giúp được nhiều
điều. Trong những thập kỷ tới, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ vẫn là điểm
trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Sự chuyển hướng” của Barack
Obama sang châu Á là một khởi đầu hiệu quả trong việc thể hiện cam kết của Mỹ
với các đồng minh của mình. Nhưng Trung Quốc cần tái đảm bảo rằng thay vì nỗ
lực kiềm chế Trung Quốc như Anh đã làm trong thế kỷ 19 với Đức, Mỹ mong muốn
một Trung Quốc có trách nhiệm để hiện thực hóa tiềm năng của nước này với tư
cách một cường quốc thế giới. Một sự phàn nàn gay gắt về chính trị lên WTO sẽ
thêm vào những lo lắng của Trung Quốc.
|
|
Given the tensions over the islands (and Asia’s
irreconcilable versions of history), three immediate safeguards are needed.
One is to limit the scope for mishaps to escalate into crises. A collision at
sea would be less awkward if a code of conduct set out how vessels should
behave and what to do after an accident. Governments would find it easier to
work together in emergencies if they routinely worked together in regional
bodies. Yet, Asia’s many talking shops lack clout because no country has been
ready to cede authority to them.
|
Do những căng thẳng liên quan đến quần đảo này và những
phiên bản lịch sử không thể hòa giải của châu Á, 3 biện pháp bảo vệ ngay lập
tức là cần thiết. Một là hạn chế cơ hội để những rủi ro có thể leo thang
thành khủng hoảng. Một sự xung đột trên biển sẽ ít gây lúng túng hơn nếu một
bộ quy tắc ứng xử quy định các tàu nên cư xử như thế nào và phải làm gì sau
một vụ tai nạn. Các chính phủ sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với nhau trong
các tình huống khẩn cấp nếu họ thường xuyên làm việc với nhau trong các tổ
chức khu vực. Tuy nhiên, rất nhiều diễn đàn của châu Á thiếu tầm ảnh hưởng
bởi vì không nước nào sẵn sàng nhượng quyền lại cho các diễn đàn này.
|
|
A second safeguard is to rediscover ways to shelve
disputes over sovereignty, without prejudice. The incoming President Xi
should look at the success of his predecessor, Hu Jintao, who put the “Taiwan
issue” to one side. With the Senkakus (which Taiwan also claims), both Mao
Zedong and Deng Xiaoping were happy to leave sovereignty to a later
generation to decide. That makes even more sense if the islands’ resources
are worth something: even state-owned companies would hesitate to put their
oil platforms at risk of a military strike. Once sovereignty claims have been
shelved, countries can start to share out the resources—or better still,
declare the islands and their waters a marine nature reserve.
|
Biện pháp bảo vệ thứ hai là tìm ra lại những cách thức để
giải quyết những tranh chấp về chủ quyền, mà không gây tổn hại gì. Chủ tịch
Tập Cận Bình nên nhìn vào thành công của người tiền nhiệm của mình, Hồ cẩm
Đào, người đã gác “vấn đề Đài Loan” sang một bên. Với quần đảo Senkaku (mà
Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền), cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều
vui vẻ để lại vấn đề chủ quyền cho thế hệ sau quyết định. Điều đó thậm chí
còn có ý nghĩa hơn nếu các nguồn lực trên quần đảo này đáng giá một điều gì
đó: thậm chí các công ty nhà nước còn sẽ lưỡng lự khi đặt những giàn khoan
dầu của mình trước nguy cơ của một cuộc tấn công về quân sự. Một khi các
tuyên bố chủ quyền được giải quyết, các nước có thể bắt đầu phân chia những
nguồn lực – thậm chí khả quan hơn, có thể tuyên bố quần đảo và vùng lãnh hải
của mình là một khu bảo tồn thiên nhiên trên biển.
|
|
But not everything can be solved by co-operation, and so
the third safeguard is to bolster deterrence. With the Senkakus, America has been
unambiguous: although it takes no position on sovereignty, they are
administered by Japan and hence fall under its protection. This has enhanced
stability, because America will use its diplomatic prestige to stop the
dispute escalating and China knows it cannot invade. Mr Obama’s commitment to
other Asian islands, however, is unclear.
|
Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều có thể được giải quyết
bằng sự hợp tác và vì vậy biện pháp bảo vệ thứ 3 là tăng cường sự răn đe. Với
quần đảo Senkaku, Mỹ đã rõ ràng: mặc dù nước này không đứng về bên nào trong
vấn đề chủ quyền, nhưng quần đảo này do Nhật Bản quản lý và vì vậy nằm dưới
sự bảo vệ của Nhật Bản. Điều này đã củng cố thêm sự ổn định bởi vì Mỹ sẽ sử
dụng uy tín ngoại giao của mình để chấm dứt tranh chấp đang leo thang và
Trung Quốc biết là nước này không thể xâm lược. Tuy nhiên, cam kết của ông
Obama với các hòn đảo khác ở châu Á lại không rõ ràng.
|
|
The role of China is even more central. Its leaders insist
that its growing power represents no threat to its neighbours. They also
claim to understand history. A century ago in Europe, years of peace and
globalisation tempted leaders into thinking that they could afford to play
with nationalist fires without the risk of conflagration. After this summer,
Mr Xi and his neighbours need to grasp how much damage the islands are in
fact causing. Asia needs to escape from a descent into corrosive mistrust.
What better way for China to show that it is sincere about its peaceful rise
than to take the lead?
|
Vai trò của Trung Quốc thậm chí còn trung tâm hơn. Các nhà
lãnh đạo nước này nhấn mạnh rằng sức mạnh ngày càng tăng không đại diện cho
bất cứ một mối đe dọa nào đối với các nước láng giềng. Họ cũng quả quyết rằng
họ hiểu lịch sử. Một thế kỷ trước ở châu Âu, những năm tháng hòa bình và quá
trình toàn cầu hóa đã thu hút các nhà lãnh đạo nghĩ rằng họ có thể đùa với
những ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa mà không có nguy cơ xung đột lớn. Sau mùa Hè
này, Ông Tập Cận Bình và những người láng giềng cần phải hiểu được những quần
đảo này trên thực tế đang gây ra thiệt hại lớn đến mức nào. Châu Á cần phải
thoát khỏi một tình trạng tụt dốc dẫn đến sự mất lòng tin gây xói mòn. Vậy
đâu là cách thức tốt hơn để Trung Quốc thể hiện rằng đó là lòng chân thành về
một sự trỗi dậy hòa bình thay vì giành lấy vị trí lãnh đạo?
|
|
|
|
|
|
|
|
http://www.economist.com/node/21563316
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)