MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, December 16, 2012

THE VALUE OF PHILOSOPHY Giá trị của triết học





THE VALUE OF PHILOSOPHY

Giá trị của triết học
Bertrand Russell
The Problems of Philosophy
Bertrand Russell
Những vấn đề của triết học

HAVING now come to the end of our brief and very incomplete review of the problems of philosophy, it will be well to consider, in conclusion, what is the value of philosophy and why it ought to be studied. It is the more necessary to consider this question, in view of the fact that many men, under the influence of science or of practical affairs, are inclined to doubt whether philosophy is anything better than innocent but useless trifling, hair-splitting distinctions, and controversies on matters concerning which knowledge is impossible.

ĐÃ đến lúc phải kết thúc nhận xét ngắn gọn và rất không đầy đủ của chúng ta về những vấn đề của triết học, và cũng hay khi xem xét, để kết luận, giá trị của triết học là gì và lý do tại sao cần phải nghiên cứu triết học. Việc xem xét câu hỏi này càng tỏ ra bức thiết hơn vì trên thực tế, do sự ảnh hưởng của khoa học hay của các hoạt động đời sống, nhiều người có xu hướng tự hỏi không biết ngoài những lối phân biệt chẻ tư ngọn tóc, tuy vô hại nhưng cũng chẳng có ích gì, và những cuộc tranh cãi về các vấn đề mà khả năng nhận thức của ta không với tới được, triết học còn có cái gì khác đáng quan tâm hơn không.

This view of philosophy appears to result, partly from a wrong conception of the ends of life, partly from a wrong conception of the kind of goods which philosophy strives to achieve. Physical science, through the medium of inventions, is useful to innumerable people who are wholly ignorant of it; thus the study of physical science is to be recommended, not only, or primarily, because of the effect on the student, but rather because of the effect on mankind in general. This utility does not belong to philosophy. If the study of philosophy has any value at all for others than students of philosophy, it must be only indirectly, through its effects upon the lives of those who study it. It is in these effects, therefore, if anywhere, that the value of philosophy must be primarily sought.

Quan niệm này về triết học có vẻ như một phần xuất phát từ một quan niệm sai lầm về mục đích của đời sống, phần khác từ một quan niệm sai lầm về loại ích lợi mà triết học cố gắng thành tựu. Bộ môn khoa học vật lý, thông qua các phát minh, có ích cho hằng bao nhiêu người mù tịt về nó; vì thế, môn khoa học vật lý được khuyên học, không chỉ trước hết vì sự tác động của nó đến người học, mà còn vì sự tác động của nó đối với nhân loại nói chung. Lợi ích kiểu như vậy không thuộc về triết học. Tuy nhiên, nếu việc học triết học có giá trị nào đó đối với những người không học triết học, thì đó tất chỉ là gián tiếp, thông qua những sự tác động của nó đến cuộc sống của những người học triết học. Do đó, chính trong những sự tác động này, chứ không phải ở đâu khác, mà giá trị của triết học phải được tìm trước nhất.

But further, if we are not to fail in our endeavour to determine the value of philosophy, we must first free our minds from the prejudices of what are wrongly called 'practical' men. The 'practical' man, as this word is often used, is one who recognizes only material needs, who realizes that men must have food for the body, but is oblivious of the necessity of providing food for the mind. If all men were well off, if poverty and disease had been reduced to their lowest possible point, there would still remain much to be done to produce a valuable society; and even in the existing world the goods of the mind are at least as important as the goods of the body. It is exclusively among the goods of the mind that the value of philosophy is to be found; and only those who are not indifferent to these goods can be persuaded that the study of philosophy is not a waste of time.


Hơn nữa, nếu không muốn thất bại trong việc nỗ lực xác định giá trị của triết học, trước hết chúng ta phải giải thoát tâm trí mình khỏi các thành kiến về những gì được gọi sai là những người “có óc thực tế”. Người “có óc thực tế”, như từ này thường được dùng, là người chỉ thừa nhận những nhu cầu vật chất, là người hiểu rõ rằng con người cần phải có thức ăn cho thân thể, nhưng lại quên mất sự cần thiết của việc cung cấp thức ăn cho tinh thần. Nếu mọi người đều sống sung túc, giả thử sự nghèo khổ và bệnh tật được giảm thiểu đến mức thấp nhất, thì ắt sẽ vẫn còn nhiều điều phải làm để tạo ra một xã hội có giá trị; và ngay cả trong thế giới hiện tại, các lợi ích tinh thần ít ra cũng quan trọng như các lợi ích thân xác. Giá trị của triết học chỉ có thể được tìm thấy giữa các lợi ích của tinh thần mà thôi, và chỉ những ai không dửng dưng với các lợi ích này mới có thể được thuyết phục rằng việc học triết học không phải là việc phí thời giờ.

Philosophy, like all other studies, aims primarily at knowledge. The knowledge it aims at is the kind of knowledge which gives unity and system to the body of the sciences, and the kind which results from a critical examination of the grounds of our convictions, prejudices, and beliefs. But it cannot be maintained that philosophy has had any very great measure of success in its attempts to provide definite answers to its questions. If you ask a mathematician, a mineralogist, a historian, or any other man of learning, what definite body of truths has been ascertained by his science, his answer will last as long as you are willing to listen. But if you put the same question to a philosopher, he will, if he is candid, have to confess that his study has not achieved positive results such as have been achieved by other sciences. It is true that this is partly accounted for by the fact that, as soon as definite knowledge concerning any subject becomes possible, this subject ceases to be called philosophy, and becomes a separate science. The whole study of the heavens, which now belongs to astronomy, was once included in philosophy; Newton's great work was called 'the mathematical principles of natural philosophy'. Similarly, the study of the human mind, which was a part of philosophy, has now been separated from philosophy and has become the science of psychology. Thus, to a great extent, the uncertainty of philosophy is more apparent than real: those questions which are already capable of definite answers are placed in the sciences, while those only to which, at present, no definite answer can be given, remain to form the residue which is called philosophy.


Giống như tất cả các môn học khác, triết học trước hết nhắm đến tri thức. Tri thức mà nó nhắm đến là loại tri thức mang lại tính thống nhất và hệ thống cho toàn bộ các môn khoa học, và là loại tri thức nảy sinh từ một sự khảo sát có tính phê phán về các cơ sở của những sự xác tín, các thành kiến và các lòng tin của chúng ta. Nhưng ta không thể một mực cho rằng triết học đã đạt được nhiều thành công trong việc nỗ lực đưa ra các câu trả lời rõ ràng cho các câu hỏi của nó. Nếu bạn hỏi một nhà toán học, một nhà khoáng vật học, một nhà sử học, hay bất cứ một học giả nào khác, rằng bộ môn khoa học của ông ta xác minh nhóm chân lý xác định nào, câu trả lời của ông ta sẽ kéo dài bao lâu nếu bạn còn muốn nghe. Nhưng nếu bạn đặt câu hỏi như vậy cho một nhà triết học, ông ta sẽ, giả định là ông ấy thành thật, buộc phải thú nhận rằng môn học của ông ta không đạt được những kết quả tích cực như các môn khoa học khác. Đúng là điều này được giải thích một phần bởi sự kiện là ngay cả khi ta có thể có được sự hiểu biết rõ ràng về bất cứ môn học nào, thì môn học ấy không còn được gọi là môn triết học, và nó trở thành một môn khoa học riêng. Toàn bộ bộ môn nghiên cứu về các thiên thể, nay thuộc khoa thiên văn học, trước kia được gộp vào môn triết học; công trình vĩ đại của Newton được gọi là “các nguyên tắc toán học của triết học tự nhiên”. Cũng giống như vậy, bộ môn nghiên cứu về tâm thức con người, vốn là một bộ phận của triết học, nay đã tách khỏi môn triết học và trở thành bộ môn khoa học về tâm lý. Vì thế, xét trên đại thể, sự không chắc chắn của triết học mang tính bề ngoài hơn là thực chất: các câu hỏi nào có thể có sẵn các câu trả lời rõ ràng thì được đặt vào trong các môn khoa học, trong khi chỉ những câu hỏi mà hiện nay không thể mang lại một câu trả lời rõ ràng nào thì tiếp tục tạo thành bộ môn còn lại được gọi là triết học.

This is, however, only a part of the truth concerning the uncertainty of philosophy. There are many questions -- and among them those that are of the profoundest interest to our spiritual life -- which, so far as we can see, must remain insoluble to the human intellect unless its powers become of quite a different order from what they are now. Has the universe any unity of plan or purpose, or is it a fortuitous concourse of atoms? Is consciousness a permanent part of the universe, giving hope of indefinite growth in wisdom, or is it a transitory accident on a small planet on which life must ultimately become impossible? Are good and evil of importance to the universe or only to man? Such questions are asked by philosophy, and variously answered by various philosophers. But it would seem that, whether answers be otherwise discoverable or not, the answers suggested by philosophy are none of them demonstrably true. Yet, however slight may be the hope of discovering an answer, it is part of the business of philosophy to continue the consideration of such questions, to make us aware of their importance, to examine all the approaches to them, and to keep alive that speculative interest in the universe which is apt to be killed by confining ourselves to definitely ascertainable knowledge.


Tuy nhiên, đây chỉ là một phần sự thật về tính không chắc chắn của triết học. Có nhiều câu hỏi - trong số đó có những câu hỏi thuộc về mối quan tâm sâu sắc nhất đến đời sống tâm linh của chúng ta - chắc hẳn, trong chừng mực chúng ta có thể biết được, vẫn không thể giải quyết được đối với trí năng của con người, trừ phi sức mạnh của trí năng này hoàn toàn trở thành một loại khác với bây giờ. Vũ trụ có sự thống nhất về kế hoạch hay mục đích nào không, hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử? Ý thức có phải là một bộ phận thường hằng của vũ trụ, mang lại hi vọng vào việc gia tăng sự hiểu biết đến vô hạn, hay nó chỉ là cái ngẫu nhiên nhất thời trên một hành tinh nhỏ bé, nơi mà rốt cuộc cũng chẳng còn sự sống nào ở đó? Cái thiện và cái ác có quan trọng đối với vũ trụ không hay chỉ quan trọng đối với con người? Những câu hỏi như thế được triết học nêu ra, và được các nhà triết học trả lời một cách khác nhau. Nhưng có vẻ dù các câu trả lời có được tìm ra theo cách khác hay không, thì các câu trả lời được triết học đề xuất đều không có câu nào thực sự rõ ràng. Thế nhưng, cho dù hi vọng tìm ra câu trả lời có thể mong manh, thì một phần công việc của triết học là tiếp tục xem xét những câu hỏi như thế, làm chúng ta ý thức về tầm quan trọng của chúng, khảo sát tất cả các lối tiếp cận chúng và duy trì mối quan tâm tư biện đến vũ trụ để nó không bị tiêu tan bởi việc chúng ta bó hẹp mình vào tri thức có thể minh xác một cách rõ ràng.

Many philosophers, it is true, have held that philosophy could establish the truth of certain answers to such fundamental questions. They have supposed that what is of most importance in religious beliefs could be proved by strict demonstration to be true. In order to judge of such attempts, it is necessary to take a survey of human knowledge, and to form an opinion as to its methods and its limitations. On such a subject it would be unwise to pronounce dogmatically; but if the investigations of our previous chapters have not led us astray, we shall be compelled to renounce the hope of finding philosophical proofs of religious beliefs. We cannot, therefore, include as part of the value of philosophy any definite set of answers to such questions. Hence, once more, the value of philosophy must not depend upon any supposed body of definitely ascertainable knowledge to be acquired by those who study it.


Đúng là có nhiều nhà triết học đã cho rằng triết học có thể xác lập chân lý của những câu trả lời nào đó cho những câu hỏi nền tảng như vậy. Họ từng nghĩ rằng cái quan trọng nhất nơi lòng tin tôn giáo có thể được chứng minh bằng một lối chứng minh chặt chẽ là đúng. Để đánh giá những nỗ lực như thế, ta cần phải tiến hành một cuộc khảo sát [định lượng] về tri thức của con người và hình thành một ý kiến về các phương pháp và những giới hạn của nó. Ắt sẽ thật dại dột khi tuyên bố một cách giáo điều về một chủ đề như vậy; nhưng nếu các phần nghiên cứu trong các chương trước của chúng tôi không dẫn ta đi lạc đường, chúng ta sẽ buộc phải từ bỏ hi vọng tìm ra các luận chứng triết học về các lòng tin tôn giáo. Do đó, chúng ta không thể xem bất cứ tập hợp các câu trả lời rõ ràng nào cho các câu hỏi như thế là bộ phận của giá trị của triết học. Vì thế, một lần nữa, giá trị của triết học nhất định không phụ thuộc vào bất cứ cái gì được cho là khối tri thức có thể minh xác một cách chắc chắn mà người học triết học đòi hỏi phải có.

The value of philosophy is, in fact, to be sought largely in its very uncertainty. The man who has no tincture of philosophy goes through life imprisoned in the prejudices derived from common sense, from the habitual beliefs of his age or his nation, and from convictions which have grown up in his mind without the co-operation or consent of his deliberate reason. To such a man the world tends to become definite, finite, obvious; common objects rouse no questions, and unfamiliar possibilities are contemptuously rejected. As soon as we begin to philosophize, on the contrary, we find, as we saw in our opening chapters, that even the most everyday things lead to problems to which only very incomplete answers can be given. Philosophy, though unable to tell us with certainty what is the true answer to the doubts which it raises, is able to suggest many possibilities which enlarge our thoughts and free them from the tyranny of custom. Thus, while diminishing our feeling of certainty as to what things are, it greatly increases our knowledge as to what they may be; it removes the somewhat arrogant dogmatism of those who have never travelled into the region of liberating doubt, and it keeps alive our sense of wonder by showing familiar things in an unfamiliar aspect.


Trên thực tế, giá trị của triết học chủ yếu phải được tìm trong chính sự không chắc chắn (uncertainty) của nó. Người không có chút kiến thức sơ đẳng nào về triết học sống một đời sống bị giam hãm trong các thành kiến bắt nguồn từ cảm nghĩ thông thường (common sense), từ lòng tin quen thuộc của thời đại hay của dân tộc mình, và từ những sự xác tín đã lớn mạnh trong tâm trí mình mà không có sự phối hợp hay đồng thuận của lý trí thận trọng của mình. Với một người như vậy, thế giới có xu hướng trở nên xác định, hữu hạn, hiển nhiên; các đối tượng thông thường không gợi lên những câu hỏi, và các khả thể không quen thuộc bị bác bỏ với sự miệt thị. Trái lại, ngay khi bắt đầu triết lý, chúng ta thấy rằng, như đã thấy ở chương thứ nhất, ngay cả những điều bình thường nhất trong đời sống thường nhật cũng dẫn đến những vấn đề mà chỉ có thể có những câu trả lời rất không đầy đủ. Triết học, cho dù không thể cho ta biết một cách chắc chắn đâu là câu trả lời đúng cho các mối nghi ngờ mà nó nêu ra, có thể gợi ra nhiều khả thể giúp mở rộng tư tưởng của chúng ta và giải thoát chúng ra khỏi sự bạo quyền của tập tục. Vì thế, trong khi giảm thiểu cảm giác chắc chắn của chúng ta về sự vật là gì, nó làm cho tri thức của chúng ta về những gì mà sự vật có thể là tăng lên rất nhiều; nó xóa bỏ chủ nghĩa giáo điều có phần kiêu ngạo của những ai chưa bao giờ đi vào miền đất của sự hoài nghi có sức mạnh giải phóng, và nó làm cho cảm giác ngạc nhiên của chúng ta sinh động bằng cách chỉ cho chúng ta thấy một phương diện mới mẻ nơi các sự vật quen thuộc.

Apart from its utility in showing unsuspected possibilities, philosophy has a value -- perhaps its chief value -- through the greatness of the objects which it contemplates, and the freedom from narrow and personal aims resulting from this contemplation. The life of the instinctive man is shut up within the circle of his private interests: family and friends may be included, but the outer world is not regarded except as it may help or hinder what comes within the circle of instinctive wishes. In such a life there is something feverish and confined, in comparison with which the philosophic life is calm and free. The private world of instinctive interests is a small one, set in the midst of a great and powerful world which must, sooner or later, lay our private world in ruins. Unless we can so enlarge our interests as to include the whole outer world, we remain like a garrison in a beleagured fortress, knowing that the enemy prevents escape and that ultimate surrender is inevitable. In such a life there is no peace, but a constant strife between the insistence of desire and the powerlessness of will. In one way or another, if our life is to be great and free, we must escape this prison and this strife.


Ngoài tính thiết thực của nó trong việc cho thấy những khả thể chưa được biết tới, triết học có một giá trị - có lẽ là giá trị chủ yếu - qua tính chất lớn lao của các đối tượng mà nó chiêm ngưỡng và sự thoát ly khỏi những mục đích cá nhân hẹp hòi có được nhờ sự chiêm ngưỡng này. Đời sống của con người bản năng bị khóa chặt trong vòng tròn các mối quan tâm riêng tư của họ: gia đình, bạn bè có thể được tính đến, nhưng thế giới bên ngoài lại không được xét tới ngoại trừ việc thế giới ấy tạo thuận lợi hay cản trở những gì diễn ra bên trong vòng tròn các ước muốn của bản năng. Một cuộc sống như vậy là cái gì đó bồn chồn và tù túng, còn đời sống triết lý thì thanh thản và tự do. Thế giới riêng tư của các mối quan tâm của bản năng là một thế giới nhỏ nhoi, nằm trong một thế giới to lớn và đầy sức mạnh, mà sớm muộn gì nó cũng tàn phá thế giới riêng tư của chúng ta. Trừ phi chúng ta có thể mở rộng các mối quan tâm của chúng ta đến mức bao gồm toàn bộ thế giới bên ngoài, chúng ta vẫn giống như một anh lính đồn trú trong một pháo đài bị bao vây và biết rằng phe địch đã chặn lối thoát và việc đầu hàng là một kết cục không thể tránh khỏi. Trong một đời sống như vậy, không có sự yên bình nào, mà chỉ có một sự xung đột thường xuyên giữa sự đòi hỏi không ngừng của lòng ham muốn và sự bất lực của ý chí. Bằng cách này hay cách khác, nếu đời sống của chúng ta muốn trở nên khoáng đạt và tự do, chúng ta phải thoát ra khỏi cái nhà tù và sự xung đột này.

One way of escape is by philosophic contemplation. Philosophic contemplation does not, in its widest survey, divide the universe into two hostile camps -- friends and foes, helpful and hostile, good and bad -- it views the whole impartially. Philosophic contemplation, when it is unalloyed, does not aim at proving that the rest of the universe is akin to man. All acquisition of knowledge is an enlargement of the Self, but this enlargement is best attained when it is not directly sought. It is obtained when the desire for knowledge is alone operative, by a study which does not wish in advance that its objects should have this or that character, but adapts the Self to the characters which it finds in its objects. This enlargement of Self is not obtained when, taking the Self as it is, we try to show that the world is so similar to this Self that knowledge of it is possible without any admission of what seems alien. The desire to prove this is a form of self-assertion and, like all self-assertion, it is an obstacle to the growth of Self which it desires, and of which the Self knows that it is capable. Self-assertion, in philosophic speculation as elsewhere, views the world as a means to its own ends; thus it makes the world of less account than Self, and the Self sets bounds to the greatness of its goods. In contemplation, on the contrary, we start from the not-Self, and through its greatness the boundaries of Self are enlarged; through the infinity of the universe the mind which contemplates it achieves some share in infinity.


Có một lối thoát là bằng sự chiêm ngắm triết học. Sự chiêm ngắm triết học - trong cái nhìn bao quát rộng nhất của nó - không phân chia vũ trụ thành hai phe thù địch - bạn và thù, có ích và có hại, tốt và xấu - mà nó nhìn cái toàn thể một cách vô tư. Sự chiêm ngắm triết học, khi nó thuần khiết, không nhằm vào việc chứng minh rằng phần còn lại của vũ trụ thì giống với con người. Mọi sự sở đắc về tri thức là một sự mở rộng của Bản ngã (enlargement of the Self), nhưng sự mở rộng này được đạt đến tốt nhất khi nó không được theo đuổi trực tiếp. Chỉ có một lòng ham muốn tri thức thì chúng ta mới có được sự mở rộng đó, bởi lẽ công việc nghiên cứu không định trước rằng các đối tượng nghiên cứu có tính chất này hay tính chất khác, mà làm cho Bản ngã thích ứng với các tính chất mà nó phát hiện thấy trong các đối tượng của nó. Sự mở rộng này của Bản ngã không đạt được khi, xét Bản ngã như là bản ngã, chúng ta cố gắng cho thấy rằng thế giới rất giống với Bản ngã này, đến mức ta có thể biết về nó mà không cần thừa nhận gì về cái tựa hồ như xa lạ. Sự tha thiết chứng tỏ như vậy là một hình thức khẳng định mình (Self-assertion) và, như bao sự khẳng định mình khác, nó là một chướng ngại đối với sự trưởng thành của Bản ngã mà nó mong muốn, và sự trưởng thành mà Bản ngã biết rằng nó có thể. Trong sự tư biện triết học cũng như trong những hoạt động khác, sự khẳng định mình xem thế giới là một phương tiện cho những mục đích riêng của nó; vì thế, nó làm cho thế giới kém quan trọng hơn so với Bản ngã, và Bản ngã đặt định những giới hạn cho sự lớn lao của những lợi ích của nó. Trái lại, trong sự chiêm ngắm, chúng ta khởi sự từ cái phi-Bản ngã (non-Self), và qua sự lớn lao của nó, các giới hạn của Bản ngã được mở rộng ra; qua tính vô hạn của vũ trụ, tinh thần con người, vốn là cái chiêm ngắm nó, có được phần vô hạn nào đó.

For this reason greatness of soul is not fostered by those philosophies which assimilate the universe to Man. Knowledge is a form of union of Self and not-Self; like all union, it is impaired by dominion, and therefore by any attempt to force the universe into conformity with what we find in ourselves. There is a widespread philosophical tendency towards the view which tells us that Man is the measure of all things, that truth is man-made, that space and time and the world of universals are properties of the mind, and that, if there be anything not created by the mind, it is unknowable and of no account for us. This view, if our previous discussions were correct, is untrue; but in addition to being untrue, it has the effect of robbing philosophic contemplation of all that gives it value, since it fetters contemplation to Self. What it calls knowledge is not a union with the not-Self, but a set of prejudices, habits, and desires, making an impenetrable veil between us and the world beyond. The man who finds pleasure in such a theory of knowledge is like the man who never leaves the domestic circle for fear his word might not be law.


Vì lý do này, sự lớn lao của tâm hồn không được nuôi dưỡng bằng những thứ triết học đồng nhất vũ trụ với Con người. Tri thức là một hình thức hợp nhất Bản ngã và cái phi-Bản ngã; giống như mọi sự hợp nhất, nó bị mài mòn bởi sự thống trị, và do đó, bởi bất cứ nỗ lực nào cưỡng ép vũ trụ phải phù hợp với những gì ta tìm thấy trong chính mình. Có một xu hướng triết học rộng lớn đang hướng tới quan niệm cho rằng Con người là thước đo của mọi vật, rằng chân lý là do con người tạo ra, rằng không gian, thời gian và thế giới của những cái phổ quát là các thuộc tính của tinh thần con người, và rằng nếu không có bất cứ cái gì do tinh thần con người tạo ra, thì tinh thần ấy là bất khả tri và không thể giải thích được đối với chúng ta. Nếu như những phần bàn luận ở các chương trước của chúng tôi đúng, thì quan niệm này không đúng; nhưng ngoài việc không đúng ra, nó còn có tác dụng là cướp đi tất cả những gì có giá trị mà sự chiêm ngắm triết học mang lại, bởi lẽ nó kìm kẹp sự chiêm ngắm vào Bản ngã. Cái gọi là tri thức không phải là sự hợp nhất với cái phi-Bản ngã, mà là một tập hợp các thành kiến, các thói quen và các ham muốn, làm thành một tấm mạng che không thể xuyên qua được giữa chúng ta với thế giới phía bên ngoài. Người chỉ biết tìm niềm vui trong một lý thuyết về tri thức như vậy giống như người không bao giờ rời khỏi vòng quẩn quanh trong gia đình vì sợ lời của mình có thể bị chệch lề lối.

The true philosophic contemplation, on the contrary, finds its satisfaction in every enlargement of the not-Self, in everything that magnifies the objects contemplated, and thereby the subject contemplating. Everything, in contemplation, that is personal or private, everything that depends upon habit, self-interest, or desire, distorts the object, and hence impairs the union which the intellect seeks. By thus making a barrier between subject and object, such personal and private things become a prison to the intellect. The free intellect will see as God might see, without a here and now, without hopes and fears, without the trammels of customary beliefs and traditional prejudices, calmly, dispassionately, in the sole and exclusive desire of knowledge -- knowledge as impersonal, as purely contemplative, as it is possible for man to attain. Hence also the free intellect will value more the abstract and universal knowledge into which the accidents of private history do not enter, than the knowledge brought by the senses, and dependent, as such knowledge must be, upon an exclusive and personal point of view and a body whose sense-organs distort as much as they reveal.

Sự chiêm nghiệm triết học thực sự, trái lại, tìm được sự thỏa mãn trong bất cứ sự mở rộng nào của cái phi-Bản ngã, trong bất cứ cái gì phóng lớn các đối tượng được chiêm ngắm, và qua đó chủ thể đang chiêm ngắm. Trong sự chiêm ngắm, bất cứ cái gì là cá nhân hay riêng tư, bất cứ cái gì phụ thuộc vào tập quán, tư lợi, hay dục vọng, cũng đều làm xuyên tạc đối tượng và làm suy yếu sự hợp nhất mà trí tuệ tìm kiếm. Vì thế, khi dựng lên một hàng rào giữa chủ thể và khách thể, các sự vật cá nhân hay riêng tư như vậy trở thành ngục tù đối với trí tuệ. Trí tuệ tự do sẽ thấy rõ như Thượng đế, không có cái ở đâybây giờ, không có những niềm hi vọng và những nỗi lo sợ, không có những trở ngại của các lòng tin theo tập tục và các tiên kiến truyền thống, một cách bình lặng, điềm nhiên, niềm ham muốn duy nhất, và chỉ niềm ham muốn ấy thôi: niềm ham muốn tri thức - một thứ tri thức vô ngã, chiêm ngắm thuần túy, một thứ tri thức mà con người có thể đạt được. Do đó, trí tuệ tự do cũng sẽ đề cao giá trị của tri thức trừu tượng và phổ quát, mà các ngẫu nhiên của lịch sử riêng tư không bước vào được, hơn so với tri thức do các giác quan mang lại, và phụ thuộc vào một điểm nhìn riêng tư độc nhất và cơ thể mà các cơ quan cảm giác của nó bộc lộ ra bao nhiêu thì xuyên tạc đi bấy nhiêu, loại tri thức này vốn là vậy.

The mind which has become accustomed to the freedom and impartiality of philosophic contemplation will preserve something of the same freedom and impartiality in the world of action and emotion. It will view its purposes and desires as parts of the whole, with the absence of insistence that results from seeing them as infinitesimal fragments in a world of which all the rest is unaffected by any one man's deeds. The impartiality which, in contemplation, is the unalloyed desire for truth, is the very same quality of mind which, in action, is justice, and in emotion is that universal love which can be given to all, and not only to those who are judged useful or admirable. Thus contemplation enlarges not only the objects of our thoughts, but also the objects of our actions and our affections: it makes us citizens of the universe, not only of one walled city at war with all the rest. In this citizenship of the universe consists man's true freedom, and his liberation from the thraldom of narrow hopes and fears.
Tinh thần con người một khi trở nên quen với sự tự do và tính vô tư của sự chiêm ngắm triết học thì nó sẽ giữ lại cái gì đó giống với sự tự do và tính vô tư trong thế giới của hành động và cảm xúc. Nó sẽ xem các mục đích và ham muốn của nó là bộ phận của cái toàn bộ chứ không có [thái độ] khăng khăng cố chấp, vốn là [thái độ] có nguồn gốc từ việc xem chúng như là các phân mảnh vô cùng nhỏ trong một thế giới mà hành vi của bất cứ ai cũng không ảnh hưởng gì đến toàn bộ những người khác. Trong sự chiêm ngắm, tính vô tư là sự ham muốn chân lý thuần khiết, là cùng một phẩm chất của tinh thần, [mà] trong hành động, phẩm chất ấy là sự công bằng, và trong xúc cảm phẩm chất ấy là tình yêu phổ quát có thể được mang lại cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho những ai được đánh giá là cừ khôi hay đáng ngưỡng mộ. Như thế, sự chiêm ngắm không chỉ mở rộng các đối tượng của các tư tưởng của chúng ta, mà còn mở rộng các đối tượng của các hành động và tình cảm yêu mến của chúng ta: nó làm cho chúng ta trở thành các công dân của thế giới, chứ không chỉ của một thành phố có tường lũy bao bọc trong cuộc chiến với tất cả phần còn lại [của thế giới]. Trong tư cách công dân thế giới này có cả sự tự do chân thực của con người và sự giải phóng con người ra khỏi tình trạng nô dịch của những niềm hi vọng và những nỗi lo sợ hẹp hòi.

Thus, to sum up our discussion of the value of philosophy; Philosophy is to be studied, not for the sake of any definite answers to its questions since no definite answers can, as a rule, be known to be true, but rather for the sake of the questions themselves; because these questions enlarge our conception of what is possible, enrich our intellectual imagination and diminish the dogmatic assurance which closes the mind against speculation; but above all because, through the greatness of the universe which philosophy contemplates, the mind also is rendered great, and becomes capable of that union with the universe which constitutes its highest good.

Vì vậy, nội dung bàn luận của chúng tôi về giá trị của triết học được tóm lại như sau: Chúng ta cần phải học triết học, không phải vì [cần có] một câu trả lời dứt khoát nào cho các câu hỏi, bởi theo lẽ thường, không một câu trả lời dứt khoát nào có thể được coi là chân lý, mà là vì bản thân những câu hỏi; vì những câu hỏi này mở rộng quan niệm của chúng ta về cái khả hữu, làm giàu trí tưởng tượng trí tuệ của chúng ta và giảm bớt những sự chắc chắn có tính cách giáo điều vốn là cái khép kín tinh thần của chúng ta trước sự tư biện; nhưng trên hết vì, qua sự lớn lao của thế giới mà triết học chiêm ngắm, tinh thần cũng trở nên lớn lao, và có thể hợp nhất với thế giới, sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất của nó.


Translated by ĐINH HỒNG PHÚC


http://www.skepdic.com/russell.html

CHINA HIDES BEHIND WHITE PAINT Trung Quốc ẩn núp phía sau màu sơn trắng

China Builds a Nimitz Class Carrier


CHINA HIDES BEHIND WHITE PAINT

Trung Quốc ẩn núp phía sau màu sơn trắng

Strategy Page
Strategy Page
December 11, 2012
11 tháng 12, 2012


The recent Chinese announcement that it would begin enforcing new rules, starting January 1st, that will have Chinese naval patrols escorting, or expelling, foreign ships from most of the South China Sea has mobilized a lot of resistance. But the Chinese have been clever about how they will go about this. China is not planning on having grey painted navy ships do the intercepting and harassing but white painted coast guard vessels. White paint and vertical red stripes on the hull is an internationally recognized way to present coast guard ships. This is much less threatening than warships. China also calls in civilian vessels (owners of these privately owned ships understand that refusing to help is not an option) to get in the way of foreign ships the coast guard wants gone. Thus if foreign warships open fire to try and scare away these harassing vessels they become the bad guys.

Gần đây nhiều nước đã cực lực phản đối thông báo của Trung Quốc về các quy định mới, sẽ bắt đầu từ ngày 01 tháng Một tới đây, bao gồm việc hải quân Trung Quốc sẽ tuần tra và hộ tống hoặc trục xuất tàu nước ngoài trong vùng Biển Đông. Nhưng Trung Quốc đã rất thông minh về cách ứng xử của họ đối với việc này. Trung Quốc không có kế hoạch phủ lớp sơn màu xám lên các tàu hải quân để ngăn chặn và quấy rối các tàu nước ngoài, ngược lại, họ đã sử dụng lớp sơn trắng của các tàu tuần duyên. Màu sơn trắng và các sọc đỏ dọc trên thân tàu được quốc tế công nhận là màu sơn của tàu tuần duyên. Điều này ít nhất là không mang lại nhiều đe dọa so với các tàu chiến. Trung Quốc cũng kêu gọi các tàu dân sự (trong đó chủ sở hữu của các tàu này hiểu rằng từ chối giúp đỡ không phải là cách mà họ có thể lựa chọn) nhập cuộc ngăn chắn các tàu nước ngoài. Vì vậy, nếu các tàu chiến nước ngoài nổ súng để đe dọa và xua đuổi các tàu quấy rối này thì ngay lập tức họ trở thành những kẻ xấu.


China has three 1,500 ton coastal patrol ships ("cutters" in American parlance) being built simultaneously, next to each other as part of a 36 ship order. All these are for the China Marine Surveillance (CMS). Seven of the new ships are the size of corvettes (1,500 tons), while the rest are smaller (15 are 1,000 ton ships and 14 are 600 tons). For a long time coastal patrol was carried out by navy cast-offs. But in the last decade the coastal patrol force has been getting more and more new ships (as well as more retired navy small ships). Delivery of all 36 CMS ships is to be completed in the next two years. Meanwhile China is transferring more elderly navy small (corvette type) warships to the various law enforcement agencies responsible for coastal security. As of January 1st China will officially include the coasts of many uninhabited islets, rocks, and reefs in the South China Sea in that jurisdiction. This will make a lot of areas that the rest of the world considers international waters into Chinese coastal waters. China needs a lot more ships to patrol all this.

Trung Quốc có khoảng ba tàu tuần duyên hạng nặng 1.500 tấn (được biết đến với tên gọi “máy cắt” theo cách nói của người Mỹ) đang được xây dựng, một phần trong số 36 chiếc trong đơn đặt hàng. Tất cả các tàu này thuộc Cơ quan Giám sát Biển Trung Quốc. Bảy trong số các tàu mới này có kích thước của tàu hộ tống (1.500 tấn), trong khi phần còn lại là các số nhỏ hơn (15 chiếc có trọng lượng 1.000 tấn và 14 chiếc có trọng lượng 600 tấn). Trong một thời gian dài, việc tuần tra ven biển được thực hiện bởi lược lượng hải quân. Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, lực lượng tuần duyên đã có được nhiều tàu mới hơn. Kế hoạch giao 36 chiếc tàu cho CMS sẽ được hoàn thành trong vòng hai năm tới. Trong khi đó, Trung Quốc đang chuyển giao lại các loại tàu chiến nhỏ hơn (tàu hộ tống loại nhỏ) cho các cơ quan thực thi pháp luật khác nhau chịu trách nhiệm về an ninh biển. Ngày 1 tháng Một tới đây Trung Quốc sẽ chính thức ra lệnh kiểm soát các bờ biển tại các đảo không có người ở, cũng như các bãi đá ngầm và rạn san hô ở khu vực Biển Đông. Điều này sẽ làm cho rất nhiều các khu vực được xem là thuộc vùng biển quốc tế, được Trung Quốc đưa vào chủ quyền của nước này. Và hiện Trung Quốc đang cần thêm tàu để có thể thực hiện những hoạt động này.


The CMS service is one of five Chinese organizations responsible for law enforcement along the coast. The others are the Coast Guard, which is a military force of white painted vessels that constantly patrols the coasts. The Maritime Safety Administration handles search and rescue along the coast. The Fisheries Law Enforcement Command polices fishing grounds. The Customs Service polices smuggling. China has multiple coastal patrol organizations because it is the custom in communist dictatorships to have more than one security organization doing the same task, so each outfit can keep an eye on the other.

CMS là một trong năm cơ quan chịu trách nhiệm thực thi pháp luật dọc theo bờ biển của Trung Quốc. Các cơ quan khác bao gồm Cảnh sát biển, một lực lượng quân sự có các tàu mang lớp sơn trắng liên tục tuần tra các bờ biển. Cơ quan Quản lý An toàn Hàng hải chuyên phụ trách tìm kiếm và cứu hộ dọc theo bờ biển. Cơ quan Thực thi Chính sách Thuỷ sản phụ trách việc đánh bắt cá trái phép. Và Cơ quan Hải quan chuyên chống buôn lậu. Trung Quốc có nhiều cơ quan tuần tra duyên hải bởi vì nước này theo chế độ độc tài cộng sản, việc có nhiều cơ quan an ninh làm các nhiệm vụ tương tự nhau để họ có thể kiểm soát lẫn nhau.


CMS is the most recent of these agencies, having been established in 1998. It is actually the police force for the Chinese Oceanic Administration, which is responsible for surveying non-territorial waters that China has economic control over (the exclusive economic zones or EEZ) and for enforcing environmental laws in its coastal waters. The new ship building program will expand the CMS strength from 9,000 to 10,000 personnel. CMS already has 300 boats and ten aircraft.

CMS là cơ quan mới nhất được thành lập vào năm 1998. Cơ quan này thực sự là lực lượng cảnh sát Quản lý đại dương của Trung Quốc, có trách nhiệm khảo sát các vùng biển mà Trung Quốc có đặc quyền kinh tế (vùng đặc quyền kinh tế hoặc – exclusive economic zone) và thực thi các pháp luật về môi trường ở các vùng này. Chương trình xây dựng tàu mới này sẽ mở rộng sức mạnh của CMS từ 9.000 đến 10.000 nhân viên. CMS hiện đã có 300 tàu thuyền và 10 máy bay.


In addition, CMS collects and coordinates data from marine surveillance activities in ten large coastal cities and 170 coastal counties. When there is an armed confrontation over contested islands in the South China Sea it's usually CMS patrol boats that are frequently described as "Chinese warships." The CMS and the four other “coast guard” forces have several hundred large ships (over 1,000 tons, including several that are over 3,000 tons) and thousands of smaller patrol boats. China is building small bases in the disputed islands that can serve as home port for the small patrol boats. It should be noted that many of these patrol vessels are designed to be equipped with heavier weapons (missiles, torpedoes) in wartime.


Ngoài ra, CMS thu thập và phối hợp các dữ liệu hoạt động giám sát biển tại mười thành phố lớn và 170 quận ven biển. Khi có các cuộc đối đầu vũ trang tại các đảo tranh chấp ở Biển Đông, CMS là các tàu tuần tra thường xuyên được mô tả là “tàu chiến của Trung Quốc”. CMS và bốn “cơ quan bảo vệ bờ biển” khác của Trung Quốc có hàng trăm tàu cỡ lớn (hơn 1.000 tấn, trong đó có một số có trọng lượng hơn 3.000 tấn) và hàng ngàn tàu tuần tra nhỏ hơn. Trung Quốc hiện đang xây dựng cơ sở hạ tầng ở các đảo có tranh chấp để có thể phục vụ cho các tàu tuần tra nhỏ loại này. Cần lưu ý rằng nhiều trong số các tàu tuần tra này được trang bị các vũ khí hạng nặng (như tên lửa, ngư lôi) nêu có chiến tranh xảy ra.


Thus the current expansion is mostly about the EEZ and patrolling it more frequently and aggressively. International law (the 1994 Law of the Sea treaty) recognizes the waters 22 kilometers from land as under the jurisdiction of the nation controlling the nearest land. That means ships cannot enter these "territorial waters" without permission. However, the waters 360 kilometers from land are considered the Exclusive Economic Zone (EEZ) of the nation controlling the nearest land. The EEZ owner can control who fishes there and extracts natural resources (mostly oil and gas) from the ocean floor. But the EEZ owner cannot prohibit free passage or the laying of pipelines and communications cables. China has already claimed that foreign ships have been conducting illegal espionage in their EEZ. But the 1994 treaty says nothing about such matters. China is simply doing what China has been doing for centuries, trying to impose its will on neighbors or anyone venturing into what China considers areas under its control.


Vì vậy, Trung Quốc thường xuyên tuần tra và tích cực hơn tại các vùng biển mà họ có đặc quyền kinh tế. Luật pháp quốc tế (Hiệp ước Biển năm 1994) công nhận vùng biển cách đất liền 22 kilomet và cho phép nước nào có chủ quyền được kiểm soát khu vực này. Điều đó có nghĩa rằng các tàu [nước ngoài] không được phép đi vào “vùng lãnh hải” nếu như không phép của nước có chủ quyền. Tuy nhiên, các vùng biển cách đất liền 360 kilomet được xem là khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ). Các nước có chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế này có thể kiểm soát các tàu đánh cá và những chất được chiết xuất từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (chủ yếu là dầu khí) từ đáy biển. Tuy nhiên, chủ sở hữu vùng này không thể ngăn cấm quyền tự do qua lại đối với các tàu nước ngoài hoặc lắp đặt các đường ống và cáp thông tin. Trong khi đó thì phía Trung Quốc đã lên tiếng tuyên bố rằng các tàu nước ngoài đã tiến hành các hoạt động gián điệp bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của họ. Tuy nhiên, Hiệp ước năm 1994 đặc biệt không nói gì về những vấn đề như vậy. Trung Quốc chỉ đơn giản thực hiện những gì họ đã làm trong nhiều thế kỷ qua, cố gắng áp đặt ý chí của họ lên các nước láng giềng hay bất cứ nước nào mạo hiểm đi vào những gì mà Trung Quốc xem là khu vực thuộc quyền kiểm soát của họ.


For the last two centuries China has been prevented from exercising its "traditional rights" in nearby waters because of the superior power of foreign navies (first the cannon armed European sailing ships, then, in the 19th century, newly built steel warships from Japan). However, since the communists took over China 60 years ago, there have been increasingly violent attempts to reassert Chinese control over areas that have long (for centuries) been considered part of the "Middle Kingdom" (or China, as in the "center of the world").


Trong hai thế kỷ vừa qua Trung Quốc đã bị ngăn cản thực hiện các “quyền truyền thống” trong vùng biển gần đó vì sức mạnh vượt trội của các lực lượng hải quân nước ngoài (đầu tiên là súng pháo cannon của châu Âu, sau đó vào thế kỷ 19 là tàu chiến thép mới từ Nhật Bản). Tuy nhiên, kể từ khi những người cộng sản lên chiếm quyền 60 năm trước đây, Trung Quốc đã sử dụng bạo lực để tái khẳng định lại quyền kiểm soát của họ trong khu vực (trong nhiều thế kỷ) mà họ xem là một phần của “Vương quốc Trung Tâm – Middle Kingdom” (hoặc Trung Quốc, như là trung tâm “của thế giới”).


China is particularly concerned about the nearby Spratlys, a group of some 100 islets, atolls, and reefs that total only about 5 square kilometers of land but sprawl across some 410,000 square kilometers of the South China Sea. Set amid some of the world's most productive fishing grounds, the islands are believed to have enormous underwater oil and gas reserves. Several nations have overlapping claims on the group. About 45 of the islands are currently occupied by small numbers of military personnel. China claims them all but occupies only 8, Vietnam has occupied or marked 25, the Philippines 8, Malaysia 6, and Taiwan one.


Hiện nay Trung Quốc đặc biệt quan tâm quần đảo Trường Sa ở gần đó, một nhóm đảo gồm khoảng 100 đảo nhỏ, rạn san hô, và các bãi đá ngầm có tổng cộng khoảng 5 cây số vuông đất, nhưng bao gồm 410.000 cây số vuông diện tích biển ở Biển Đông. Ngoài có tiếng là một ngư trường lớn nhất thế giới, các đảo này còn được cho là có nguồn dầu mỏ và khí đốt rất lớn bên dưới đáy biển. Một số quốc gia khác cũng đã lên tiếng tuyên bố chủ quyền. Hiện có khoảng 45 trong số các hòn đảo tại đây được các nhóm quân sự chiếm đóng. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các hòn đảo tại đây nhưng họ chỉ chiếm đóng được 8 đảo, Việt Nam đã chiếm hoặc đánh dấu 25 đảo, Philippines chiếm 8 đảo, Malaysia có 6 đảo, và Đài Loan chiếm duy nhất 01 đảo.


China prefers to use non-military or paramilitary ships (like those of the CMS) to harass foreign ships it wants out of the EEZ or disputed warfare. This approach is less likely to spark an armed conflict and makes it easier for the Chinese to claim they were the victims. These claims of being a victim come across as a bad joke to China’s neighbors. That’s because the new rules mean offshore areas of the Philippines, Malaysia, Taiwan, Brunei, and Vietnam that international law does not recognize as Chinese are now formally claimed by China. India and the United States have both announced that they will not obey and that Indian and American warships expect to move unmolested through the South China Sea in 2013.

Trung Quốc muốn sử dụng các tàu phi quân sự hoặc bán quân sự (giống như tàu của CMS) để quấy rối các tàu nước ngoài nhằm đuổi họ ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế hay các khu vực có tranh chấp. Cách tiếp cận này ít có khả năng châm ngòi cho một cuộc xung đột vũ trang và dễ dàng hơn cho phía Trung Quốc tuyên bố họ là nạn nhân. Việc này diễn ra như một vỡ kịch đối với các nước láng giềng khi Trung Quốc tuyên bố họ là nạn nhân. Đó là bởi vì các quy định mới dưới luật pháp quốc tế tại các khu vực ngoài khơi bở biển của Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei và Việt Nam không công nhận thuộc chủ quyền của Trung Quốc như cách mà Trung Quốc đang làm. Ấn Độ và Hoa Kỳ đã công bố rằng họ sẽ không tuân thủ các quy định trên [của Trung Quốc] và mong rằng các tàu chiến của Ấn Độ và Hoa Kỳ không bị trở ngại khi di chuyển qua khu vực Biển Đông vào năm 2013 tới đây.




Translated by Hiền Trang




http://www.strategypage.com/htmw/htsurf/articles/20121211.aspx

Friday, December 14, 2012

COULD ASIA REALLY GO TO WAR OVER THESE? LIỆU CHÂU Á CÓ THỰC SỰ ĐI ĐẾN CHIẾN TRANH VÌ NHỮNG HÒN ĐẢO?




COULD ASIA REALLY GO TO WAR OVER THESE?

LIỆU CHÂU Á CÓ THỰC SỰ ĐI ĐẾN CHIẾN TRANH VÌ NHỮNG HÒN ĐẢO?

The Economist
Sep 22nd 2012
The Economist
22/09/2012

The bickering over islands is a serious threat to the region’s peace and prosperity

Tranh chấp xung quanh các quần đảo là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và sự thịnh vượng của khu vực.


THE countries of Asia do not exactly see the world in a grain of sand, but they have identified grave threats to the national interest in the tiny outcrops and shoals scattered off their coasts. The summer has seen a succession of maritime disputes involving China, Japan, South Korea, Vietnam, Taiwan and the Philippines. This week there were more anti-Japanese riots in cities across China because of a dispute over a group of uninhabited islands known to the Japanese as the Senkakus and to the Chinese as the Diaoyus. Toyota and Honda closed down their factories. Amid heated rhetoric on both sides, one Chinese newspaper has helpfully suggested skipping the pointless diplomacy and moving straight to the main course by serving up Japan with an atom bomb.

Những nước châu Á đúng là không nhìn thấy cả thế giới trong một hạt cát, nhưng họ đã nhận ra được những mối đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia tại các bãi đá nổi và đá ngầm nhỏ bé rải rác xung quanh bờ biển của họ. Mùa Hè này đã chứng kiến một chuỗi những tranh chấp trên biển liên quan đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và Philíppin. Tháng 9/2012, đã xảy ra nhiều hơn những vụ nổi loạn chống Nhật tại các thành phố ở Trung Quốc do tranh chấp xung quanh một nhóm đảo không người ở mà người Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Toyota và Honda đã đóng cửa các nhà máy của mình. Giữa giọng điệu nóng nảy từ hai phía, một tờ báo Trung Quốc đã đề xuất đầy hữu ích rằng nên bỏ qua con đường ngoại giao vô nghĩa và tiến thẳng đến trọng tâm bằng cách mang đến cho Nhật Bản một quả bom nguyên tử.


That, thank goodness, is grotesque hyperbole: the government in Beijing is belatedly trying to play down the dispute, aware of the economic interests in keeping the peace. Which all sounds very rational, until you consider history—especially the parallel between China’s rise and that of imperial Germany over a century ago. Back then nobody in Europe had an economic interest in conflict; but Germany felt that the world was too slow to accommodate its growing power, and crude, irrational passions like nationalism took hold. China is re-emerging after what it sees as 150 years of humiliation, surrounded by anxious neighbours, many of them allied to America. In that context, disputes about clumps of rock could become as significant as the assassination of an archduke.

May mắn thay, đó chỉ là một lời nói phóng đại kỳ cục: Chính quyền tại Bắc Kinh đang tìm cách giảm thiểu tranh chấp một cách muộn màng, nhận thức được những lợi ích kinh tế trong việc duy trì nền hòa bình, Điều này hoàn toàn nghe có vẻ rất hợp lý, cho đến khi người ta xét đến lịch sử – đặc biệt là mối tương đồng giữa sự trỗi dậy của Trung Quốc và của một nước Đức đế quốc trong một thế kỷ trước. Thời kỳ đó, không một ai ở châu Âu có được lợi ích kinh tế trong xung đột; nhưng Đức đã nhận thấy rằng thế giới quá chậm chạp đến nỗi không thể điều chỉnh cho phù hợp với sức mạnh đang ngày càng gia tăng của mình, và những cơn thịnh nộ, tàn bạo và phi lý như chủ nghĩa dân tộc được thiết lập. Trung Quốc lại đang nổi lên sau những điều mà nó coi là 150 năm nhục nhã, bị vây quanh bởi những nước láng giềng đầy băn khoăn, rất nhiều trong số đó là đồng minh của Mỹ. Trong bối cảnh đó, những tranh chấp về các cụm đá có thể trở nên quan trọng như cuộc mưu sát một đại công tước.


One mountain, two tigers

Optimists point out that the latest scuffle is mainly a piece of political theatre—the product of elections in Japan and a leadership transition in China. The Senkakus row has boiled over now because the Japanese government is buying some of the islands from a private Japanese owner. The aim was to keep them out of the mischievous hands of Tokyo’s China-bashing governor, who wanted to buy them himself. China, though, was affronted. It strengthened its own claim and repeatedly sent patrol boats to encroach on Japanese waters. That bolstered the leadership’s image, just before Xi Jinping takes over.

Một ngọn núi, hai con hổ

Những người lạc quan chỉ ra rằng cuộc xô xát gần đây nhất chủ yếu là một vở kịch chính trị – một sản phẩm của những cuộc bầu cử ở Nhật Bản và sự chuyển giao ban lãnh đạo ở Trung Quốc. Cuộc tranh cãi về đảo Senkaku đã lên đến đỉnh điểm vì Chính phủ Nhật Bản mua lại một vài hòn đảo từ các chủ sở hữu tư nhân Nhật Bản. Mục đích là để bảo vệ những đảo này khỏi bàn tay tinh ranh của thị trưởng Tôkyô có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, người cũng muốn tự mình mua lại những hòn đảo này. Mặc dù vậy, Trung Quốc đã bị xúc phạm. Nước này đã củng cố lời tuyên bố chủ quyền của mình và nhiều lần phái tàu tuần tra đi xâm lấn lãnh hải của Nhật Bản. Điều đó đã củng cố thêm hình ảnh của ban lãnh đạo, ngay trước khi ông Tập Cận Bình nhậm chức.


More generally, argue the optimists, Asia is too busy making money to have time for making war. China is now Japan’s biggest trading partner. Chinese tourists flock to Tokyo to snap up bags and designer dresses on display in the shop windows on Omotesando. China is not interested in territorial expansion. Anyway, the Chinese government has enough problems at home: why would it look for trouble abroad?

Nhìn chung, những người lạc quan lập luận rằng châu Á đang quá bận kiếm tiền đến mức không có thời gian để gây chiến. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Khách du lịch Trung Quốc nườm nượp kéo đến Tôkyô để chộp mua ngay những chiếc túi xách và quần áo thiết kế được trưng bày tại các tủ kính cửa hàng ở Omotesando. Trung Quốc không thích thú gì với sự bành trướng lãnh thổ. Dù thế nào đi chăng nữa, Chính phủ Trung Quốc đã gặp đủ vấn đề trong nước rồi: vậy tại sao nước này phải tìm kiếm thêm những rắc rối ở ngoài nước?


Asia does indeed have reasons to keep relations good, and this latest squabble will probably die down, just as others have in the past. But each time an island row flares up, attitudes harden and trust erodes. Two years ago, when Japan arrested the skipper of a Chinese fishing boat for ramming a vessel just off the islands, it detected retaliation when China blocked the sale of rare earths essential to Japanese industry.

Châu Á quả thực có lý do để duy trì cho những mối quan hệ tốt đẹp và cuộc tranh cãi không đâu gần đây nhất có thể sẽ dịu đi, như những cuộc tranh cãi khác đã từng xảy ra trong quá khứ. Nhưng mỗi khi một vụ tranh cãi về hòn đảo bùng lên thì thái độ lại trở nên cứng rắn và niềm tin bị xói mòn. Hai năm trước, khi Nhật Bản bắt giừ thuyền trưởng của một tàu cá Trung Quốc vì đâm vào một tàu ngay sát quần đảo này, thì Nhật Bản đã nhận ra hành động trả đũa khi Trung Quốc hạn chế việc bán đất hiếm cần thiết cho nền công nghiệp của nước này.


Growing nationalism in Asia, especially China, aggravates the threat (see article). Whatever the legality of Japan’s claim to the islands, its roots lie in brutal empire-building. The media of all countries play on prejudice that has often been inculcated in schools. Having helped create nationalism and exploited it when it suited them, China’s leaders now face vitriolic criticism if they do not fight their country’s corner. A recent poll suggested that just over half of China’s citizens thought the next few years would see a “military dispute” with Japan.


Chủ nghĩa dân tộc đang ngày càng gia tăng ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã làm trầm trọng thêm mối đe dọa này. Bất kể tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này là gì đi chăng nữa, thì gốc rễ của nó vẫn nằm ở công cuộc xây dựng đế chế đầy tàn bạo. Giới truyền thông ở các nước đã lợi dụng thành kiến vốn đã thường xuyên được khắc sâu ở các trường học. Góp phần tạo ra chủ nghĩa dân tộc và tận dụng khi nó phù hợp với mình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây phải đối mặt với lời chỉ trích cay độc nếu họ không đấu tranh vì một phần của đất nước mình. Một cuộc thăm dò gần đây đã cho thấy rằng chỉ hơn một nửa người dân Trung Quốc nghĩ rằng trong một vài năm tới sẽ chứng kiến một “cuộc tranh chấp quân sự” với Nhật Bản.


The islands matter, therefore, less because of fishing, oil or gas than as counters in the high-stakes game for Asia’s future. Every incident, however small, risks setting a precedent. Japan, Vietnam and the Philippines fear that if they make concessions, China will sense weakness and prepare the next demand. China fears that if it fails to press its case, America and others will conclude that they are free to scheme against it.


Do đó, những quần đảo này có ý nghĩa ít vì việc đánh bắt cá, dầu mỏ hay khí đốt hơn những toan tính trong một trò chơi đặt cược cao cho tương lai của châu Á. Tất cả các sự kiện, dù nhỏ cũng đều có nguy cơ thiết lập nên một tiền lệ. Nhật Bản, Việt Nam và Philíppin đều lo sợ rằng nếu họ nhượng bộ thì Trung Quốc sẽ cảm nhận được điểm yếu và chuẩn bị cho một yêu sách tiếp theo. Trung Quốc lo sợ rằng nếu nước này thất bại trong việc thúc đẩy lý lẽ của mình thì Mỹ và những nước khác sẽ kết luận rằng họ được tự do âm mưu chống lại Trung Quốc.


Co-operation and deterrence

Asia’s inability to deal with the islands raises doubts about how it would cope with a genuine crisis, on the Korean peninsula, say, or across the Strait of Taiwan. China’s growing taste for throwing its weight around feeds deep-seated insecurities about the way it will behave as a dominant power. And the tendency for the slightest tiff to escalate into a full-blown row presents problems for America, which both aims to reassure China that it welcomes its rise, and also uses the threat of military force to guarantee that the Pacific is worthy of the name.

Hợp tác và răn đe

Việc châu Á không có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến những hòn đảo đã đặt ra những nghi ngờ về việc khu vực này sẽ đối phó với một cuộc khủng hoảng thật sự trên bán đảo Triều Tiên và hai bờ eo biển Đài Loan như thế nào. Việc Trung Quốc ngày càng thích cư xử một cách kiêu căng hùng hổ nuôi dưỡng những điều không chắc chắn đã ăn sâu về cách mà nước này sẽ hành xử với tư cách một cường quốc chi phối. Và xu hướng sự bất hòa nhỏ nhặt nhất leo thang trở thành một cuộc cãi cọ bùng nổ mạnh mẽ là những vấn đề cho Mỹ, mà vừa nhằm làm yên lòng Trung Quốc rằng Mỹ hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc vừa sử dụng mối đe dọa về sức mạnh quân sự để đảm bảo ràng Thái Bình Dương xứng với cái tên của mình.


Some of the solutions will take a generation. Asian politicians have to start defanging the nationalist serpents they have nursed; honest textbooks would help a lot. For decades to come, China’s rise will be the main focus of American foreign policy. Barack Obama’s “pivot” towards Asia is a useful start in showing America’s commitment to its allies. But China needs reassuring that, rather than seeking to contain it as Britain did 19th-century Germany, America wants a responsible China to realise its potential as a world power. A crudely political WTO complaint will add to Chinese worries.

Một số giải pháp sẽ mất cả một thế hệ. Các chính trị gia châu Á phải bắt đầu nhổ chiếc răng nọc của những con rắn dân tộc chủ nghĩa mà họ đã nuôi dưỡng, những cuốn sách giáo khoa chân thực sẽ giúp được nhiều điều. Trong những thập kỷ tới, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ vẫn là điểm trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Sự chuyển hướng” của Barack Obama sang châu Á là một khởi đầu hiệu quả trong việc thể hiện cam kết của Mỹ với các đồng minh của mình. Nhưng Trung Quốc cần tái đảm bảo rằng thay vì nỗ lực kiềm chế Trung Quốc như Anh đã làm trong thế kỷ 19 với Đức, Mỹ mong muốn một Trung Quốc có trách nhiệm để hiện thực hóa tiềm năng của nước này với tư cách một cường quốc thế giới. Một sự phàn nàn gay gắt về chính trị lên WTO sẽ thêm vào những lo lắng của Trung Quốc.


Given the tensions over the islands (and Asia’s irreconcilable versions of history), three immediate safeguards are needed. One is to limit the scope for mishaps to escalate into crises. A collision at sea would be less awkward if a code of conduct set out how vessels should behave and what to do after an accident. Governments would find it easier to work together in emergencies if they routinely worked together in regional bodies. Yet, Asia’s many talking shops lack clout because no country has been ready to cede authority to them.

Do những căng thẳng liên quan đến quần đảo này và những phiên bản lịch sử không thể hòa giải của châu Á, 3 biện pháp bảo vệ ngay lập tức là cần thiết. Một là hạn chế cơ hội để những rủi ro có thể leo thang thành khủng hoảng. Một sự xung đột trên biển sẽ ít gây lúng túng hơn nếu một bộ quy tắc ứng xử quy định các tàu nên cư xử như thế nào và phải làm gì sau một vụ tai nạn. Các chính phủ sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với nhau trong các tình huống khẩn cấp nếu họ thường xuyên làm việc với nhau trong các tổ chức khu vực. Tuy nhiên, rất nhiều diễn đàn của châu Á thiếu tầm ảnh hưởng bởi vì không nước nào sẵn sàng nhượng quyền lại cho các diễn đàn này.


A second safeguard is to rediscover ways to shelve disputes over sovereignty, without prejudice. The incoming President Xi should look at the success of his predecessor, Hu Jintao, who put the “Taiwan issue” to one side. With the Senkakus (which Taiwan also claims), both Mao Zedong and Deng Xiaoping were happy to leave sovereignty to a later generation to decide. That makes even more sense if the islands’ resources are worth something: even state-owned companies would hesitate to put their oil platforms at risk of a military strike. Once sovereignty claims have been shelved, countries can start to share out the resources—or better still, declare the islands and their waters a marine nature reserve.


Biện pháp bảo vệ thứ hai là tìm ra lại những cách thức để giải quyết những tranh chấp về chủ quyền, mà không gây tổn hại gì. Chủ tịch Tập Cận Bình nên nhìn vào thành công của người tiền nhiệm của mình, Hồ cẩm Đào, người đã gác “vấn đề Đài Loan” sang một bên. Với quần đảo Senkaku (mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền), cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều vui vẻ để lại vấn đề chủ quyền cho thế hệ sau quyết định. Điều đó thậm chí còn có ý nghĩa hơn nếu các nguồn lực trên quần đảo này đáng giá một điều gì đó: thậm chí các công ty nhà nước còn sẽ lưỡng lự khi đặt những giàn khoan dầu của mình trước nguy cơ của một cuộc tấn công về quân sự. Một khi các tuyên bố chủ quyền được giải quyết, các nước có thể bắt đầu phân chia những nguồn lực – thậm chí khả quan hơn, có thể tuyên bố quần đảo và vùng lãnh hải của mình là một khu bảo tồn thiên nhiên trên biển.


But not everything can be solved by co-operation, and so the third safeguard is to bolster deterrence. With the Senkakus, America has been unambiguous: although it takes no position on sovereignty, they are administered by Japan and hence fall under its protection. This has enhanced stability, because America will use its diplomatic prestige to stop the dispute escalating and China knows it cannot invade. Mr Obama’s commitment to other Asian islands, however, is unclear.


Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều có thể được giải quyết bằng sự hợp tác và vì vậy biện pháp bảo vệ thứ 3 là tăng cường sự răn đe. Với quần đảo Senkaku, Mỹ đã rõ ràng: mặc dù nước này không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền, nhưng quần đảo này do Nhật Bản quản lý và vì vậy nằm dưới sự bảo vệ của Nhật Bản. Điều này đã củng cố thêm sự ổn định bởi vì Mỹ sẽ sử dụng uy tín ngoại giao của mình để chấm dứt tranh chấp đang leo thang và Trung Quốc biết là nước này không thể xâm lược. Tuy nhiên, cam kết của ông Obama với các hòn đảo khác ở châu Á lại không rõ ràng.


The role of China is even more central. Its leaders insist that its growing power represents no threat to its neighbours. They also claim to understand history. A century ago in Europe, years of peace and globalisation tempted leaders into thinking that they could afford to play with nationalist fires without the risk of conflagration. After this summer, Mr Xi and his neighbours need to grasp how much damage the islands are in fact causing. Asia needs to escape from a descent into corrosive mistrust. What better way for China to show that it is sincere about its peaceful rise than to take the lead?

Vai trò của Trung Quốc thậm chí còn trung tâm hơn. Các nhà lãnh đạo nước này nhấn mạnh rằng sức mạnh ngày càng tăng không đại diện cho bất cứ một mối đe dọa nào đối với các nước láng giềng. Họ cũng quả quyết rằng họ hiểu lịch sử. Một thế kỷ trước ở châu Âu, những năm tháng hòa bình và quá trình toàn cầu hóa đã thu hút các nhà lãnh đạo nghĩ rằng họ có thể đùa với những ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa mà không có nguy cơ xung đột lớn. Sau mùa Hè này, Ông Tập Cận Bình và những người láng giềng cần phải hiểu được những quần đảo này trên thực tế đang gây ra thiệt hại lớn đến mức nào. Châu Á cần phải thoát khỏi một tình trạng tụt dốc dẫn đến sự mất lòng tin gây xói mòn. Vậy đâu là cách thức tốt hơn để Trung Quốc thể hiện rằng đó là lòng chân thành về một sự trỗi dậy hòa bình thay vì giành lấy vị trí lãnh đạo?





http://www.economist.com/node/21563316