|
|
|
|
|
|
|
Preparing for War
with China
|
Chuẩn bị chiến tranh
với Trung Quốc
|
|
James Holmes
|
James Holmes
|
|
National Interest, August 16, 2012
|
National Interest, 16/8/2012
|
|
|
|
|
For an operational concept that has never been published,
the U.S. military’s AirSea Battle doctrine has elicited some fiery
commentary. Or maybe it stokes controversy precisely because the armed forces
haven’t made it official. Its details are subject to speculation. The chief
source of information about it remains an unclassified, unofficial study
published in 2010 by the Washington-based Center for Strategic and Budgetary
Assessments.
|
Do một khái niệm tác chiến vừa được công bố mà Học thuyết Tác
chiến Hải-Không của quân đội Mỹ đã gây nên những bình phẩm gay gắt. Có thể nó
gây nên các cuộc tranh cãi chỉ vì các lực lượng vũ trang vẫn chưa coi nó là
chính thức. Các chi tiết của nó là chủ đề của những lời ức đoán.Nguồn thông
tin chính về nó vẫn còn là một nghiên cứu không chính thức không thuộc loại bí
mật được Trung tâm đánh giá Chiến lược và Ngân sách có trụ sở tại Washington
công bố năm 2010.
|
|
The debate over AirSea Battle swirls mostly around
technology and whether the doctrine is aimed at China. To answer the latter
question first: Yes, it is about China. It has to be.
|
Cuộc tranh cãi về học thuyết Tác chiến Hải-Không chủ yếu xoay
quanh khía cạnh công nghệ và câu hỏi phải chăng học thuyết này nhằm vào Trung
Quốc. Có thể trả lời câu hỏi này trước: đúng, nó nhắm tới Trung Quốc.
|
|
This is no prophecy of doom. From a political standpoint,
war with China is neither inevitable nor all that likely. But military people
plan against the most formidable capabilities they may encounter. And from an
operational standpoint, China’s People’s Liberation Army (PLA) presents the
sternest “anti-access” challenge of any prospective antagonist. Either
strategists, planners and warfighters prepare for the hardest case, or the
United States must write off important regions or options.
|
Không có tiên đoán nào về sự diệt vong. Xét về khía cạnh
chính trị, cuộc chiến tranh với Trung Quốc không phải là không tránh khỏi,
cũng không phải là ít khả năng xảy ra. Nhưng giới chức quân đội đang lên kế
hoạch chống lại các khả năng kinh khủng nhất mà họ có thể phải đương đầu. Và
xét về khía cạnh chiến sự, Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đặt ra thách
thức "chống tiếp cận" cứng rắn nhất so với bất kỳ địch thủ nào
trong tương lai. Các chiến lược gia, các nhà hoạch định và cả binh sĩ đều
chuẩn bị cho tình huống gay cấn nhất, cả nước Mỹ phải xác định những khu vực
và lựa chọn quan trọng.
|
|
The PLA thus represents the benchmark for U.S. military
success in maritime Asia, by most accounts today’s crucible of great-power
competition. Other potential opponents, notably the Iranian military, fall
into what the Pentagon terms “lesser-included” challenges. If U.S. forces can
pierce the toughest anti-access defenses out there—if they can crack the
hardest nut—the softer defenses erected by weaker opponents will prove
manageable.
|
Như vậy, PLA được coi là cái mốc chuẩn cho sự thành công
của quân đội Mỹ tại khu vực biển ở châu Á, nơi hầu hết mọi người đều gọi là
cuộc thử thách gắt gao về cạnh tranh giữa các nước lớn trong thời đại ngày
nay. Các đối thủ tiềm năng khác, đặc biệt là quân đội Iran, được Lầu Năm Góc
xếp vào loại các thách thức "thức yếu". Bởi nếu các lực lượng của
Mỹ có thể chọc thủng hệ thống phòng thủ "chống tiếp cận" cứng rắn
nhất ở bên ngoài thì các hệ thống phòng thủ mềm hơn mà các đối thủ yếu hơn
dựng lên sẽ hoàn toàn dễ dàng bị quản lý.
|
|
That focus on anti-access is why AirSea Battle is about
China—because it’s the gold standard, not because anyone expects, let alone
wants, war in the Western Pacific.
|
Sự chú trọng tới chiến lược "chống tiếp cận"
giải thích tại sao học thuyết Tác chiến Hải Không là nhằm vào Trung Quốc - vì
tiêu chuẩn vàng của họ, không phải vì ai đó mong chờ xảy ra chiến tranh tại
Tây Thái Bình Dương.
|
|
The Technology
Anti-access is a catchy new name for the old concept of
layered defense. Like all naval officers, I was reared on it. Think about air
defense. When an aircraft-carrier task force goes in harm’s way, commanders
dispatch “combat air patrols” around the fleet, concentrating along the
“threat axis,” or direction from which air attack appears most likely.
Interceptors from the carrier air wing constitute the first, outermost line
of defense.
|
Công nghệ
"Chống tiếp cận" là một cái tên mới, hấp dẫn cho
một khái niệm cũ về phòng thủ từng lớp. Giống như mọi sỹ quan hải quân, tôi
đã phản ứng mạnh về nó. Hãy bàn về phòng không. Khi một đội đặc nhiệm tàu sân
bay có dấu hiệu bị tổn hại, các chỉ huy sẽ loại bỏ "kiểm soát không
chiến" xung quanh hạm đội, tập trung vào "trục đe dọa", hoặc
vào hướng dễ bị tấn công từ trên không nhất. Các lá chắn từ đơn vị không quân
trên tàu sân bay tạo thành hàng phòng thủ đầu tiên và ngoài cùng.
|
|
Then come surface-to-air missiles from the fleet’s picket
ships. If attackers get past the fighter- and missile-engagement zones,
“point” defenses such as short-range radar-guided missiles or gatling guns
essay a last-ditch effort. Each defensive system engages assailants as they
come within reach. Multiple engagements translate into multiple chances for a
kill, improving the fleet’s chances of withstanding the assault. A corollary:
defenses become denser and denser as an adversary closes in.
|
Sau đó tới các tên lửa hạm đối không trên các tàu của hạm
đội. Nếu kẻ tấn công vượt qua được các vùng chiến của tên lửa, các vũ khí
phòng thủ "mũi nhọn" như tên lửa tầm ngắn do radar điều khiển hoặc
súng sẽ tham chiến như một nỗ lực cuối cùng. Mỗi hệ thống phòng thủ chiến đấu
với kẻ tấn công khi chúng vào tầm với. Nhiều lớp như vậy sẽ làm tăng cơ hội
sát thương, tức là tăng khả năng chống cự của hạm đội. Kết quả tất yếu là:
các hệ thống phòng thủ ngày càng dày đặc khi kẻ thù càng tới gần.
|
|
The same logic applies to coastal defense but on a grand
scale. A nation intent on warding off adversaries fields a variety of weapons
and platforms to strike at sea and aloft. These systems have varying ranges
and design parameters. Tactical aircraft can fly hundreds of miles offshore
and fire missiles that extend their lethal reach still farther. Missile-armed
patrol boats have small fuel tanks and limited at-sea endurance, so they
stick relatively close to home. The same goes for diesel-electric submarines.
|
Logic tương tự cũng được áp dụng trong phòng thủ ven biển
nhưng trên một quy mô lớn. Một quốc gia muốn tránh kẻ thù bằng cách tung ra
một loạt vũ khí và học thuyết để tấn công trên biển và trên không. Các hệ
thống này có phạm vi khác nhau và được thiết kế các thông số khác nhau. Máy
bay chiến đấu chiến thuật có thể bay hàng trăm dặm ở ngoài khơi và bắn tên
lửa có tầm sát thương xa hơn thế. Các tàu tuần tra gắn tên lửa chỉ mang các
thùng chứa dầu nhỏ và hạn chế khả năng hoạt động ngoài khơi, vì vậy chúng chủ
yếu được cài cắm ở gần nhà. Tương tự với các tàu ngầm chạy bằng động cơ điện
diesel.
|
|
If anti-access is about mounting layered defenses, AirSea
Battle is about developing technologies and tactics for penetrating them.
Thus, in some sense China and America are replaying the interwar years. War
planning commenced in earnest following World War I. Imperial Japan planned
to shut the U.S. Pacific Fleet out of the waters, skies and landmasses within
a defense perimeter enclosing the Western Pacific, the China seas, Southeast
Asia and parts of the Bay of Bengal. Not to be outdone, U.S. Navy officers
devised and tested out war plans for breaching Japanese anti-access measures.
|
Nếu chiến lược chống tiếp cận là nấc cao hơn của phòng thù
từng lớp, thì Tác chiến Hải Không nhằm phát triển các công nghệ và chiến
thuật để thâm nhập chúng. Như vậy, hiểu theo cách nào đó thì Trung Quốc và Mỹ
đang chiếu lại những năm giữa hai cuộc chiến tranh. Việc hoạch định chiến
tranh đã bắt đầu ngay sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhật Hoàng đã
lên kế hoạch đuổi cổ hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ khỏi các vùng biển, vùng
trời và lãnh thổ nằm trong chu vi phòng thủ của mình, bao chùm Tây Thái Bình
Dương, các biển của Trung Quốc, Đông Nam Á và nhiều phần ở Vịnh Bengal. Không
để bị lấn át, các sĩ quan Hải quân Mỹ đã bày mưu và thử nghiệm các kế hoạch
chiến đấu để phá hỏng các biện pháp chống tiếp cận của Nhật Bản.
|
|
Weirdly, planners on both sides of the Pacific largely
agreed on how the coming conflict would unfold. Japan would lash out at the
U.S.-held Philippines. U.S. leaders would order the Pacific Fleet to relieve
the islands, confronting the Imperial Japanese Navy with a numerical
mismatch. Anti-access, Japanese style, meant forward-deploying warplanes to
islands along the defense perimeter and submarines to adjacent waters. Aerial
and undersea attacks would whittle the U.S. fleet down as it lumbered
westward—evening the odds before a decisive battle somewhere in Asian waters.
|
Rất lạ là các nhà hoạch định ở cả hai bên bờ Thái Bình
Dương đều đã có suy nghĩ giống nhau về cách thức cuộc xung đột sẽ diễn ra.
Nhật Bản sẽ đánh bất ngờ vào Philippines (đang được Mỹ ủng hộ). Giới chức Mỹ
sẽ ra lệnh cho Hạm đội Thái Bình Dương bảo vệ các đảo, chống lại Hải quân
Hoàng gia Nhật nhưng với số lượng không tương xứng. Chiến lược chống tiếp cận
kiểu Nhật là các máy bay chiến đấu được dàn quân phía trước các đảo dọc theo
chu vi phòng thủ và tàu ngầm thì được huy động ở các vùng nước liền kề. Các cuộc
tấn công trên không và dưới biển sẽ đuổi cổ hạm đội của Mỹ về hướng Tây trước
khi xảy ra một trận chiến quyết định ở đâu đó trong các vùng biển của châu Á.
|
|
Submarines and land-based tactical aircraft remain among
the panoply of anti-access weaponry. Complementing them are missile-armed
patrol boats acting as offshore pickets; shore-fired antiship cruise
missiles; and antiship ballistic missiles with ranges conservatively
estimated at over nine hundred statute miles. Beijing would expect the PLA
Navy surface fleet to handle whatever remnants of the U.S. Pacific Fleet limped
into East Asian waters following repeated aerial and subsurface onslaughts.
|
Các tàu ngầm và máy bay chiến thuật trên mặt đất vẫn là
một phần của "bộ áo giáp" vũ khí chống tiếp cận. Bổ sung cho chúng
là các tàu tuần tra gắn tên lửa hoạt động như đội quân cảnh ngoài khơi; các
tên lửa hành trình chống hạm được bắn từ mặt đất; và các tên lửa đạn đạo
chống hạm với tầm xa có thể lên tới hơn 900 dặm. Bắc Kinh có thể hy vọng hạm
đội mặt đất của Hải quân PLA đối phó với bất kỳ thứ gì còn sót lại của Hạm
đội Thái Bình Dương của Mỹ đang ì ạch trên các vùng biển ở Đông Á sau các
cuộc công kích liên tiếp từ trên không và dưới mặt nước.
|
|
The Human Element
The hardware dimension of the U.S.-China strategic competition,
however, is inextricable from the all-important human dimension. Weapons
don’t fight wars, as strategic thinkers from U.S. Air Force colonel John Boyd
to Chinese Communist Party chairman Mao Zedong remind us; people who operate
weapons do. Both individuals and the big institutions they serve have
deep-seated worldviews and ideas about how to cope with the strategic
surroundings. A culture that comports with strategic and operational
circumstances represents an asset. A culture that flouts reality is a huge
liability.
|
Yếu tố con người
Tuy nhiên, khía cạnh vũ khí hạng nặng trong cuộc cạnh
tranh chiến lược Mỹ - Trung không thể tách khỏi khía cạnh nhân lực vốn là vô
cùng quan trọng. Các loại vũ khí không tự nó giao đấu trong các cuộc chiến
tranh. Các nhà tư tưởng chiến lược từ Đại tá John Boyd thuộc lực lượng Không
quân Mỹ đến Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã nói: chính
con người vận hành các vũ khí làm nên việc này. Từng cá nhân và các thể chế
lớn mà họ phục vụ đều có thế giới quan và các ý tưởng sâu sắc về việc làm thế
nào để đối phó với các vùng biên chiến lược. Một nền văn hóa thích ứng với hoàn cảnh chiến lược
và tác chiến là một tài sản. Một nền văn hóa lăng nhục thực tế là một trách
nhiệm rất lớn.
|
|
So the struggle between AirSea Battle and anti-access is
about more than developing gee-whiz technologies. A culture war is brewing
between two great powers with very different conceptions of the relationship
among land, air and sea power. And again, ideas matter. As naval historian
Julian S. Corbett explains, armaments are “the expression in material of
strategical and tactical ideas that prevail at any given time.” What hardware
a nation’s armed forces acquire speaks volumes about how strategic leaders
think about war—and how they may wage it.
|
Như vậy, sự đấu tranh giữa học thuyết Tác chiến Hải Không và
chiến lược "chống tiếp cận" liên quan đến việc phát triển các công
nghệ mới tinh vi. Một cuộc chiến tranh văn hóa được hình thành giữa hai cường
quốc lớn với nhiều khái niệm khác nhau trong quan hệ giữa bộ binh, không quân
và hải quân. Một lần nữa, lại là vấn đề các ý tưởng! Theo nhà sử học về hải
quân Julian S. Corbett, các loại vũ khí là "cách thể hiện ra bên ngoài
của các tư tưởng chiến thuật và chiến lược được ưa chuộng vào một thời điểm
nào đó". Các loại vũ khí hạng nặng mà lực lượng vũ trang của một quốc
gia mua sắm cho thấy mức độ giới lãnh đạo chiến lược nước đó nghĩ về chiến
tranh, và cách họ có thể bắt đầu cuộc chiến ấy.
|
|
China conceives of land-based forces as intrinsic to sea
power and has done so at least since the inception of the People’s Republic.
This composite conception of sea power comes as second nature for the PLA.
Mao Zedong reportedly issued the PLA Navy’s founders three curt instructions:
“fly, dive, fast!” Commanders, that is, premised maritime defense on
short-range aircraft flying from airfields ashore, diesel submarines diving
beneath the waves, and fast patrol boats armed with guns and missiles. These
were the ancestors of today’s ultramodern anti-access force.
|
Trung Quốc coi các lực lượng có căn cứ trên mặt đất là cốt
lõi của lực lượng hải quân và quan điểm này có từ khi ra đời nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa. Khái niệm bổ trợ này về hải quân là bản chất thứ hai của
PLA. Mao Trạch Đông đã nhiều lần đưa ra ba chỉ dẫn ngắn gọn về nền tảng của
Hải quân PLA: "bay, lặn, nhanh!". Như vậy, các tư lệnh giả thuyết
phòng vệ biển dựa trên việc sử dụng các máy bay tầm ngắn từ căn cứ không quân
trên bờ, các tàu ngầm chạy bằng diesel lặn sâu dưới các con sóng, và các tàu
tuần tra nhanh được trang bị súng và tên lửa. Đây là hình thức sơ khai của
lực lượng chống tiếp cận siêu hiện đại ngày nay.
|
|
Maoist China viewed sea power as more than the fleet. It
was an amalgam of seagoing and land-based platforms and weaponry.
Accordingly, the navy remained close to home throughout Mao’s long tenure as
CCP chairman. That’s markedly different from the U.S. Navy, which kept
squadrons on foreign station from its earliest history. Forward deployment is
in American seafarers’ DNA. Think Thomas Jefferson and the Barbary Wars.
China, by contrast, has not forward deployed warships since the Ming
Dynasty—and even then it did so only intermittently. The ongoing
counterpiracy deployment off Somalia thus marks a break with centuries of
historical practice.
|
Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đề cao sức mạnh hải quân
hơn các hạm đội. Đó là một sự pha trộn của các nền tảng và vũ khí trên đất
liền và ở ngoài khơi. Do đó, hải quân vẫn gắn liền với đất liền trong suốt
thời Mao Trạch Đông là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quan niệm trên hoàn
toàn khác với Hải quân Mỹ, vốn duy trì các hạm đội ở các căn cứ ngoài nước
ngay từ những ngày đầu lịch sử. Việc huy động lực lượng ra nước ngoài nằm
trong "ADN" của lực lượng biển của Mỹ. Ngược lại, Trung Quốc không
hề huy động tàu chiến ra nước ngoài kể từ triều nhà Minh, thậm chí sau đó, họ
cũng chỉ thỉnh thoảng làm việc này. Vì vậy, việc huy động lực lượng chống
cướp biển ở ngoài khơi Somalia đánh dấu một bước ngoặt sau nhiều thế kỷ.
|
|
The PLA Navy has remained true to its Maoist history even
while constructing a blue-water fleet. Coastal defense remains the service’s
core function, although it has vastly expanded its defensive zone.
|
Hải quân PLA vẫn đúng với lịch sử thời Mao Trạch Đông ngay
cả khi họ xây dựng một hạm đội biển xanh. Bảo vệ bờ biển vẫn là chức năng cốt
lõi của lực lượng này, dù họ đã mở rộng đáng kể khu vực phòng thủ của mình.
|
|
If the PLA Navy needs to reinvent its institutional
culture to operate far from Chinese coasts, the U.S. military faces an even
stiffer cultural challenge in orienting itself to new realities. The
post–Cold War U.S. military came to see naval power as a supporting arm of
land power. The U.S. Navy projected power onto distant shores, supporting the
army, Marines and air force as these sister services prosecuted air and
ground campaigns in theaters such as Iraq and Afghanistan.
|
Nếu Hải quân PLA cần tạo lại văn hóa thể chế của mình để
hoạt động ra xa bờ biển Trung Quốc, thì quân đội Mỹ phải đối mặt với một
thách thức văn hóa thậm chí còn lớn hơn trong việc hướng Đông tới các thực tế
mới. Quân đội Mỹ thời hậu chiến tranh Lạnh coi sức mạnh hải quân là vũ khí hỗ
trợ sức mạnh bộ binh. Hải quân Mỹ phô trương sức mạnh ở ngoài khơi xa, hỗ trợ
bộ binh, lực lượng lính thủy đánh bộ và không quân, như trường hợp các đơn vị
"chị em một nhà" này theo đuổi các chiến dịch không - bộ phối hợp
trong các mối đe dọa như ở Iraq hay Afghanistan.
|
|
Facing no competitor of the Soviet Navy’s stature, the
U.S. Navy leadership issued guidance stating that the navy could assume it
commanded the sea. There was no one to contest its mastery. Thus, in the
words of the 1992 directive "...From the Sea," the service could
“afford to de-emphasize efforts in some naval warfare areas.” In practice,
that meant capabilities like antisubmarine warfare and mine
countermeasures—capabilities critical to surviving and prospering in
anti-access settings—languished for two decades.
|
Không có đối thủ tầm cỡ Hải quân Liên Xô, giới lãnh đạo
Hải quân Mỹ đưa ra chỉ đạo nói rằng hải quân có thể cho rằng nó chỉ huy biển.
Không có ai để tranh cãi về địa vị chủ nhân của nó. Do đó, trong lời lẽ của
các chỉ thị năm 1992 có viết "... Từ Biển," dịch vụ này "có
thể đủ khả năng để giàm bớt nỗ lực trong một số lĩnh vực chiến tranh hải quân".
Trên thực tế, điều đó có nghĩa là các năng lực như chiến tranh chống tàu ngầm
và đáp trả ngư lôi - các năng lực quan trọng để sống sót và thành công trong
việc chống tiếp cận - đã phai mờ sau hai thập kỷ.
|
|
Only now are they being rejuvenated. As the anti-access
challenge has come into focus, the navy has started scrambling to upgrade its
weaponry and relearn half-forgotten skills. In all likelihood, the air force
is in worse straits. Despite Billy Mitchell’s early experiments with using
air power to defend American coasts—remember his famous 1920 sinking of a
battleship from the air—the modern U.S. Air Force does not consider fighting
at sea one of its central purposes. The services have some way to go before
they can put forth the cohesive effort AirSea Battle demands.
|
Hiện nay, các năng lực này đang tái sinh. Khi thách thức
chống tiếp cận trở thành trọng tâm, hải quân đã bắt đầu chạy đua nâng cấp vũ
khí và tái huấn luyện các kỹ năng đã bị quên lãng một nửa. Nhiều khả năng,
Không quân rơi vào tình cảnh khó khăn hơn. Bất chấp các cuộc thử nghiệm ban
đầu của Billy Mitchell với việc sử dụng không quân để bảo vệ các bờ biển của
Mỹ - còn nhớ vụ đánh chìm một chiến hạm từ trên không năm 1920 nổi tiếng của
ông - Không quân Mỹ hiện đại không coi chiến đấu trên biển là một trong các
mục đích chính.
|
|
Punching the Pillow
In short, the Asian continental power takes a holistic
view of sea power, while the power that rules the waves thinks of sea power
as subsidiary to land power. This cultural inversion would favor PLA
defenders in a U.S.-China war. After all, fighting offshore is familiar
terrain for them, whereas U.S. leaders long assumed they no longer had to
fight for sea control. The services must dispel that ingrained assumption.
The advantage goes to China unless the U.S. Navy and Air Force undertake a
cultural transformation ahead of time, learning to work together in the
maritime domain.
|
Đấm bị bông
Nói tóm lại, cường quốc lục địa châu Á có cái nhìn chính
thể luận đối với sức mạnh biển, trong khi cường quốc điều khiển các con sóng
lại coi sức mạnh biển là sự bổ trợ cho bộ binh. Sự đảo ngược về văn hóa này
sẽ có lợi cho những người ủng hộ PLA nếu xảy ra chiến tranh Mỹ - Trung. Sau
cùng, việc chiến đấu ở ngoài khơi là rất quen thuộc đối với họ, trong khi các
lãnh đạo Mỹ từ lâu cho rằng họ không còn phải đấu tranh để kiểm soát biển.
Các đơn vị phải xóa tan suy nghĩ thâm căn cố đế này. Lợi thế thuộc về Trung
Quốc, trừ phi Hải quân và Không quân Mỹ có sự biến chuyển về văn hóa trong
thời gian tới, và học cách phối hợp với nhau trên biển.
|
|
Reinventing military institutions in peacetime invariably
poses a high-order leadership challenge. It often takes some trauma—like
defeat—to clear minds. What to do, short of that doomsday scenario?
|
Tái thành lập các thể chế quân sự trong thời bình luôn đặt
ra một thách thức lớn cho các lãnh đạo cấp cao. Nó sẽ gây ra một số sang chấn
- như sự thất bại - đối với những ký ức còn rõ ràng. Phải làm gì đây, kịch
bản ngày tận thế chăng?
|
|
First, we need an official AirSea Battle concept to jolt
the services into action and impart direction. Let’s publish one. Second, the
navy and air force must embrace the concept, forging themselves into a joint
weapon of sea combat. And third, national leaders must hold the services
accountable for this project.
|
Trước tiên, Mỹ cần một khái niệm Tác chiến Hải Không để
kích hoạt các đơn vị hành động và đưa ra định hướng. Sau đó công bố nó. Thứ
hai, hải quân và không quân phải bám lấy khái niệm này, buộc mình vào một kho
vũ khí chung của chiến tranh trên biển. Và thứ ba, các lãnh đạo đất nước phải
có trách nhiệm giải thích với từng đơn vị về kế hoạch này.
|
|
Franklin Roosevelt once compared the U.S. Navy to a
pillow. Civilian officials could punch it as hard as they liked, but it
sprang back to the same shape. One suspects the U.S. Air Force bureaucracy is
the same way.
Keep punching, Washington.
|
Franklin Roosevelt từng so sánh Hải quân Mỹ với một chiếc gối
bông. Giới chức dân sự có thể đấm vào đó mạnh nhất có thể, nhưng nó sẽ bật
lại đúng như vậy. Một số người e rằng Không quân Mỹ cũng như vậy quan lieu như
thế.
Washington, cứ đấm đi.
|
|
James Holmes is an
associate professor of strategy at the Naval War College and a contributor to
Competitive Strategies for the 21st Century, just out from Stanford
University Press. The views voiced here are his alone.
|
James Holmes là một
giáo sư về chiến lược tại Đại học Hải Chiến. Ông là cộng tác viên cho Chiến
lược cạnh tranh cho thế kỷ 21, do Đại học Stanford xuất bản. Những quan điểm nêu
lên ở đây chỉ là quan điểm riêng của tác giả.
|
|
|
Translated by Châu Giang
|
|
|
|
|
http://nationalinterest.org/commentary/preparing-war-china-7352?page=show
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Tuesday, September 4, 2012
Preparing for War with China Chuẩn bị chiến tranh với Trung Quốc
Thursday, August 23, 2012
The China Challenge Thách thức từ Trung Quốc
|
|
|
|
|
|
|
The China Challenge
|
Thách thức từ Trung
Quốc
|
|
Robert W. Merry
The National Interest
August 21, 2012
|
Robert W. Merry
The National Interest
21/8/2012
|
|
Senator James Webb’s recent op-ed in the Wall Street
Journal constitutes a powerful warning to the man who will occupy the White
House Oval Office after January’s inauguration day, whether he is President
Obama in a second term or Republican challenger Mitt Romney in a first term.
Webb, the Virginia Democrat who will relinquish his Senate seat after
November’s election, called attention to China’s ever growing aggressiveness
in laying claim to vast and far-flung areas of Asia, including 200 islands
(in many instances mere “islets” of uninhabited but strategically significant
rock) and two million square kilometers of water.
|
Bài chính luận mới đây của Thượng nghị sĩ James Webb trên
báo Wall Street Journal là lời cảnh báo mạnh mẽ cho người sẽ làm chủ Phòng
Bầu dục của Nhà Trắng sau ngày đăng quang vào tháng Giêng năm tới, cho dù
người đó là Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ thứ hai hoặc đối thủ từ đảng Cộng
hòa Mitt Romney trong nhiệm kỳ thứ nhất. Ông Webb, đảng Dân chủ bang
Virginia, người sẽ rời chiếc ghế ở Thượng viện sau cuộc bầu cử vào tháng
11-2012, đã kêu gọi chú ý tới sự lộng hành tăng nhanh chưa từng thấy của
Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền những khu vực rộng bao la ở châu Á,
bao gồm 200 hòn đảo (trong nhiều trường hợp chỉ là những núi đá không cư trú
được nhưng có ý nghĩa về chiến lược) và hai triệu ki-lô-mét vuông mặt nước.
|
|
“For all practical purposes,” writes Webb, “China has
unilaterally decided to annex an area that extends eastward from the East
Asian mainland as far as the Philippines, and nearly as far south as the
Strait of Malacca.” This huge territorial claim, which includes nearly the
entire South China Sea, clashes with territorial claims of China’s neighbors
in the region, including Vietnam, Japan and the Philippines. Brushing aside
these counter-claims, China has created a new administrative “prefecture,”
called “Sansha,” with headquarters in the Paracel Islands and lines of
authority that go directly to the central government in Beijing.
|
Ông Webb viết: “Vì tất cả những mục tiêu thực tế đó, Trung
Quốc đã đơn phương quyết định thôn tính một khu vực từ lục địa Đông Á trải
rộng về phía đông xa tới Philippines và về phía nam gần tới Eo biển Malacca”.
Yêu sách lãnh thổ khổng lồ này, bao gồm gần như toàn bộ vùng Biển Đông, xung
đột với yêu sách lãnh thổ của các nước láng giềng của Trung Quốc trong khu
vực, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản và Philippines. Gạt qua một bên những yêu
sách đối nghịch này, Trung Quốc đã tạo ra một đơn vị hành chính mới, gọi là
“thành phố Tam Sa” đặt trụ sở tại quần đảo Hoàng Sa và có quyền báo cáo trực
tiếp với chính phủ trung ương ở Bắc Kinh.
|
|
The Paracels are more than 200 miles southeast of China’s
southernmost point of territory, and for decades Vietnam vehemently has
claimed sovereignty over them. But now they will house offices for 45 Chinese
legislators appointed to administer the new prefecture, along with a
15-member Standing Committee, a mayor and a vice-mayor. Writes Webb: “China’s
new 'prefecture' is nearly twice as large as the combined land masses of
Vietnam, South Korea, Japan and the Philippines.”
|
Quần đảo Hoàng Sa cách hơn 200 dặm về phía đông nam điểm
cực nam của lãnh thổ Trung Quốc và trong nhiều thập niên qua Việt Nam đã mạnh
mẽ tuyên bố chủ quyền trên quần đảo này. Nhưng giờ đây, quần đảo là nơi đặt
văn phòng cho khoảng 45 “dân biểu” Trung Quốc được bổ nhiệm để cai trị thành
phố mới, cùng với một ủy ban thường trực 15 thành viên, 1 thị trưởng và 1 phó
thị trưởng. “'Thành phố' mới của Trung Quốc rộng gần gấp đôi tổng diện tích
đất liền của Việt Nam, Nam Hàn, Nhật Bản và Philippines cộng lại”, ông Webb
viết.
|
|
At stake is control of sea lanes, fishing rights and large
mineral deposits, as well as the question of who will exercise strategic
dominance in the region. China seems bent on wresting that strategic
dominance from the United States so it can become the region’s dominant
power. Gone would be America’s decades-long capacity to maintain
stability—and hence prosperity—in the region.
|
Việc kiểm soát các tuyến đường biển, quyền đánh bắt cá và
trữ lượng khoáng sản khổng lồ cũng như vấn đề ai sẽ nắm quyền thống trị chiến
lược trong khu vực đều đang bị đe dọa. Có vẻ như Trung Quốc nhất quyết giật
khỏi tay Hoa Kỳ quyền thống trị chiến lược ấy để họ có thể trở thành cường
quốc thống trị của khu vực. Khả năng của Hoa Kỳ từ trước tới nay trong việc
duy trì sự ổn định - và từ đó là sự thịnh vượng - của khu vực sẽ không còn
nữa.
|
|
Webb is not the first to issue such a warning, but his
piece accentuates a central reality of this unfolding drama—namely, that the
drama is unfolding much more rapidly than most people in the United States
realize. Asia is watching to determine whether America will, as Webb puts it,
“live up to its uncomfortable but necessary role as the true guarantor of
stability in East Asia, or whether the region will again be dominated by
belligerence and intimidation.”
|
Ông Webb không phải là người đầu tiên đưa ra lời cảnh báo
như vậy, nhưng bài nghị luận của ông nêu bật một thực tế cốt lõi của tấn kịch
đang lộ ra - đúng ra là một tấn kịch đang lộ ra nhanh hơn nhiều so với những
gì mà phần lớn người dân Hoa Kỳ nhận thức được. Châu Á đang nhìn để quyết
định xem có phải Hoa Kỳ sẽ “làm trọn vai trò khó khăn nhưng cần thiết là
người bảo đảm sự ổn định ở Đông Á hay không, liệu khu vực này có sẽ một lần
nữa bị thống trị bởi sự hiếu chiến và hăm dọa hay không”, như ông Webb diễn
tả.
|
|
China today represents the most fundamental geopolitical
challenge facing the United States, and it has been a long time since the
need for American boldness and imagination has been as acute as it is now in
light of the Beijing challenge. Therefore, not only must next year’s
president respond to this challenge, but he must also prepare the nation for
it. That suggests a number of policy imperatives.
|
Trung Quốc ngày nay là một sự thách thức địa chính trị
quan trọng nhất mà Hoa Kỳ đang đối mặt. Nhiều năm tháng đã trôi đi kể từ khi
Hoa Kỳ lại cần có sự dũng cảm và sáng tạo sắc bén như bây giờ dưới ánh sáng
sự thách đố của Bắc Kinh. Do đó, vị tổng thống đăng quang năm tới không chỉ
phải đối phó với thách thức này mà ông ta cũng phải chuẩn bị để đất nước sẵn
sàng cho thách thức ấy. Điều đó gợi ra một số nhu cầu bức thiết về chính
sách.
|
|
A smooth exit from Afghanistan: Upon taking office,
President Obama ratcheted up the Afghan mission to include a major
counterinsurgency effort, which meant a large dose of nation-building. Since
then, he has ratcheted down the mission under a concept called “Afghan good
enough.” What this means precisely has not been spelled out by the president,
who has said, however, that by the end of 2014 Afghans will be “fully
responsible for the security of their country.”
|
Rút ra khỏi Afghanistan một cách suôn sẻ: Khi lên cầm
quyền, Tổng thống Obama đã nâng cấp sứ mệnh ở Afghanistan, bao hàm cả một nỗ
lực chống bạo loạn, nghĩa là một công cuộc xây dựng quốc gia to lớn. Nhưng kể
từ đó, ông đã hạ cấp cái sứ mệnh này theo một quan niệm gọi là “Afghanistan
đủ tốt”. Ý nghĩa chính xác là gì thì tổng thống chưa bao giờ nói rõ ra, tuy
nhiên ông đã nói rằng, đến cuối năm 2014, Afghanistan sẽ “hoàn toàn chịu
trách nhiệm về an ninh của đất nước họ”.
|
|
In light of the China challenge, “Afghan good enough” is
not good enough. And a vague 2014 deadline, without any clear explanation of
what kind of U.S. effort would continue beyond that time, lacks the kind of
policy clarity the country needs. In his book on Obama’s foreign policy,
Confront and Conceal, the New York Times’ David E. Sanger writes that a
decade from now visitors to that country will see few traces of the American
experiment there—“apart from military hardware and bases.” In reality,
though, there is little need for U.S. bases in Afghanistan. Al Qaeda is washed
up in the region (though problematical elsewhere); the Taliban doesn’t
represent any kind of major threat to America; the Afghans will go their own
way, as they have for centuries notwithstanding multiple efforts to subdue
the place; and the United States can’t afford the effort in terms of blood,
treasure or focus.
|
Dưới ánh sáng sự thách thức mang tên Trung Quốc,
“Afghanistan đủ tốt” sẽ không đủ tốt nữa. Và một hạn cuối cùng mơ hồ năm
2014, không có thêm lời giải thích rõ ràng về những nỗ lực nào của Hoa Kỳ sẽ
được thực hiện tiếp tục sau thời hạn đó, sẽ thiếu đi sự trong sáng về chính
sách mà đất nước cần. Trong cuốn sách về chính sách ngoại giao của ông Obama,
cuốn “Đối đầu và Che giấu”, nhà báo David E. Sanger của báo New York Times
viết rằng một thập niên nữa kể từ hôm nay, du khách thăm viếng Afghanistan sẽ
nhìn thấy rất ít dấu vết cuộc thử nghiệm của Hoa Kỳ tại đó - “ngoại trừ những
căn cứ và những thiết bị quân sự”. Dù vậy, trong thực tế, Hoa Kỳ không có nhu
cầu đặt nhiều căn cứ quân sự ở Afghanistan. Al-Qaeda đã bị quét sạch khỏi khu
vực này (dù vẫn là vấn đề ở nơi khác); Taliban không phải là mối đe dọa chính
đối với nước Mỹ; người dân Afghanistan sẽ đi con đường của họ như họ đã đi
trong nhiều thế kỷ qua bất chấp những nỗ lực chinh phục đất nước họ và Hoa Kỳ
cũng không đủ sức duy trì nỗ lực của mình bằng máu, tài sản và sự tập trung.
|
|
Get right with Russia: In his recent book, The Revenge of
Geography, Robert D. Kaplan writes that China’s ability to project power into
the Pacific is made possible by its dominance over its Central Asian land
borders, “from Manchuria counterclockwise around to Tibet.” He explains:
“Merely by going to sea in the manner that it is, China demonstrates its
favorable position on the land in the heart of Asia.” But it is not in the
interest of Russia to have China serene on its western borders, positioned to
increase its influence in Central Asia and control the extraction of valuable
natural resources there. Neither is it in the interest of the United States
(or Russia) to see China emboldened in its territorial demands in the Pacific
because it feels secure in its land position.
|
Dàn hòa với Nga: Trong cuốn sách mới ra gần đây của mình
“Sự trả thù của địa lý”, Robert D. Kaplan viết rằng, sở dĩ Trung Quốc có khả
năng triển khai lực lượng ra Thái Bình Dương là vì họ thống trị được các biên
giới trên đất liền vùng Trung Á, “từ Mãn Châu Lý (Manchuria) ngược chiều kim
đồng hồ đến Tây Tạng”. Ông Kaplan giải thích: “Chỉ đơn giản với cách vươn ra
biển theo kiểu hiện nay, Trung Quốc đã thể hiện cái vị trí ưu thế của mình
trên đất liền ở trái tim châu Á”. Tuy nhiên, lợi ích của nước Nga không phải
là để Trung Quốc thanh thản trên vùng biên giới phía tây của mình, gia tăng
ảnh hưởng lên vùng Trung Á và kiểm soát việc khai thác tài nguyên thiên nhiên
quý giá ở đó. Cũng không phải là lợi ích của Hoa Kỳ (hoặc của Nga) khi nhìn
thấy Trung Quốc liều lĩnh trong các đòi hỏi lãnh thổ trong Thái Bình Dương
chỉ vì Bắc Kinh cảm thấy an toàn trên đất liền.
|
|
Thus, if China represents America’s greatest strategic
threat, a strong relationship with Russia represents one of its greatest
strategic imperatives. It’s time for the United States to downplay its
discomfort with Russia’s authoritarian rule and widespread civic corruption.
As troubling as Russia is, it hardly represents the kind of evil entity that
Franklin Roosevelt and Winston Churchill snuggled up to during World War II.
As a regional power, Russia has legitimate regional interests, and the United
States should acknowledge those and incorporate them into its effort to
establish a sound and mutually beneficial relationship with Russia—one that,
if necessary, can be helpful in any future confrontation with China.
|
Như vậy, nếu Trung Quốc là mối đe dọa chiến lược lớn nhất
của Hoa Kỳ thì một mối quan hệ vững chắc với Nga lại là một trong những nhu
cầu chiến lược lớn nhất. Đã đến lúc Hoa Kỳ bớt đi nỗi khó chịu của mình trước
sự cai trị độc tài và tham nhũng tràn lan của Nga. Nước Nga dù gây phiền toái
đến mấy thì đó cũng không phải là loại thực thể xấu xa mà Franklin Roosevelt
và Winston Churchill đã chung vai sát cánh trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế
giới lần thứ Hai. Là một cường quốc khu vực, nước Nga có những quyền lợi khu
vực chính đáng; Hoa Kỳ phải công nhận những lợi ích này và tích hợp chúng vào
nỗ lực của mình nhằm thiết lập một mối quan hệ bền vững, đôi bên cùng có lợi
với nước Nga - một mối quan hệ mà nếu cần có thể trở nên hữu ích trong bất kỳ
cuộc đối đầu nào với Trung Quốc trong tương lai.
|
|
Avoid war with Iran: The United States currently is on a
path to war with Iran, and it is a path that was blazed primarily by Israel,
which has issued threats of a possible unilateral strike against Iran to
stiffen America’s stance against the Islamic Republic. So far, Israeli Prime
Minister Benjamin Netanyahu has managed to get Obama to foreclose any U.S.
acceptance of an Iranian nuclear weapons capability (meaning no deterrence
policy). That leaves open the question whether the United States should
permit—and whether Iran would accept—low-level uranium enrichment for
peaceful purposes only. Netanyahu is against such an approach, and it isn’t
clear it could pave the way to a peaceful resolution of the issue in any
event. But the current tough sanctions will not, in and of themselves, get
the desired response from Iran if that response entails an Iranian
humiliation. That’s why the peaceful-enrichment approach should guide U.S.
thinking on the matter, even if that means an open rupture with Netanyahu.
|
Tránh chiến tranh với Iran: Hoa Kỳ hiện đang trên con
đường đi tới chiến tranh với Iran và con đường đó lúc đầu được vạch ra bởi
Israel - quốc gia đã đưa ra lời đe dọa tấn công đơn phương vào Iran để gia
tăng thái độ của Hoa Kỳ chống lại nước Cộng hòa Hồi giáo này. Cho đến nay,
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu vẫn tìm cách buộc ông Obama ngăn cản bất
kỳ ý định nào của Hoa Kỳ chấp nhận khả năng Iran có thể có vũ khí hạt nhân
(nghĩa là không đưa ra chính sách cản trở). Điều đó để ngỏ vấn đề liệu Hoa Kỳ
có nên cho phép - và liệu Iran có chấp nhận - việc làm giàu uranium ở mức độ
thấp chỉ dùng cho mục đích hòa bình hay không. Netanyahu chống lại một giải
pháp như vậy và chưa rõ điều đó có thể mở đường tiến tới một giải pháp hòa
bình cho vấn đề hay không. Nhưng những biện pháp cấm vận ngặt nghèo hiện hành
sẽ không tạo ra được phản ứng mong muốn từ Iran nếu phản ứng đó tỏ ra là một
nỗi nhục đối với Iran. Đó là lý do tại sao trong vấn đề này tư duy của Hoa Kỳ
nên hướng tới giải pháp làm giàu uranium với mục đích hòa bình, cho dù điều
đó có nghĩa là một cuộc tuyệt giao công khai với Netanyahu.
|
|
The American people would rally behind the president in
such circumstances if the president levels with them about the stakes
involved. U.S. leaders shouldn’t get sucked in to the kind of journalistic
saber rattling that was visible on last week’s cover of The Weekly Standard,
which showed a photo of Iran’s Supreme Leader, Ali Khamenei, under the
headline: “The Most Dangerous Man in the World.” America’s most dangerous
threat is thousands of miles from that man. And the United States should not
seek a military confrontation with Iran, if it can be avoided, because such a
conflict would pulverize the global economy and likely unleash far more
instability into the region.
|
Nhân dân Hoa Kỳ nên tập hợp sau lưng tổng thống trong
những tình huống như vậy nếu tổng thống nói thẳng với người dân về những được
mất có liên quan. Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ không nên vướng vào những vụ giễu
võ giương oai theo kiểu báo chí, được thấy rõ trên bìa tạp chí The Weekly
Standard tuần qua, trên đó in hình nhà lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei
dưới dòng tít lớn: “Con người nguy hiểm nhất thế giới”. Mối đe dọa lớn nhất
đối với nước Mỹ đang nằm cách người đàn ông này hàng ngàn dặm. Và Hoa Kỳ cũng
không nên tìm kiếm một cuộc đụng độ quân sự với Iran, nếu có thể tránh được,
bởi vì một cuộc xung đột như vậy sẽ phá hủy hoàn toàn nền kinh tế thế giới và
có thể gây bất ổn lan tràn khắp khu vực.
|
|
No more U.S. boots on the soil of Islam: The Middle East
is in turmoil, and the entire region is in danger of being destabilized by
the civil war in Syria. Events there could deal a heavy blow to the interests
of the United States, the West and much of the rest of the industrialized
world. Actual U.S. military action could prove necessary to stabilize the
region, but the United States should do everything possible to avoid such a
course. Another U.S. intervention in the region would prove highly
incendiary. But sitting by and watching is not an appropriate policy either.
The situation calls for deft, imaginative and stealthy efforts, always in
conjunction with Islamic powers in the region, particularly Turkey, to avert
the worst possible outcomes and keep the situation under wraps to the
greatest extent possible. The pressures for U.S. involvement in Syria on
humanitarian grounds should be resisted forcefully.
|
Không đặt chân lên đất Hồi giáo nữa: Trung Đông đang hỗn
loạn và cả khu vực này đang có nguy cơ mất ổn định vì cuộc nội chiến ở Syria.
Những biến cố ở đó có thể giáng một đòn nặng nề vào các quyền lợi của Hoa Kỳ,
của phương Tây và của đa số các quốc gia công nghiệp còn lại. Một hành động
quân sự của Hoa Kỳ thực sự có thể là cần thiết để ổn định khu vực này nhưng
Hoa Kỳ nhất thiết phải làm mọi chuyện có thể làm được để tránh một hành động
như vậy. Một cuộc can thiệp nữa của Hoa Kỳ vào khu vực này chắc chắn sẽ kích
động một phong trào chống đối mạnh mẽ hơn. Nhưng thủ tọa bàng quan cũng không
phải là chính sách thích hợp. Tình huống hiện nay đòi hỏi những nỗ lực thầm
lặng, sáng tạo và khôn khéo, luôn kết hợp với các thế lực Hồi giáo trong khu
vực, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, để tránh những hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra
và giữ cho tình hình luôn nằm trong tầm kiểm soát tới mức tối đa. Nên chống
lại mạnh mẽ các áp lực đòi Hoa Kỳ phải can dự vào Syria trên cơ sở nhân đạo.
|
|
The need for economic growth: Obama has not been a
successful president in the economic realm. Economic growth has been languid
throughout most of his presidency. This needs to change abruptly. But
addressing the growth problem without exacerbating the country’s ominous debt
problem isn’t going to be easy. That’s why the next presidential term must be
devoted assiduously to a comprehensive fiscal reform designed to address
out-of-control federal spending while boosting economic activity and growth.
Entitlement reform will have to be combined with a comprehensive tax reform
that slashes tax rates while eliminating large numbers of tax preferences,
including many that have been considered sacred cows for decades. Only by
restoring its fiscal health can the country face major challenges of the kind
that looms in Asia. But this will take presidential leadership in abundance,
the kind of leadership that we have not seen for a long time.
|
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế: Obama chưa phải là vị tổng
thống thành công trong lĩnh vực kinh tế. Tăng trưởng kinh tế diễn ra khá èo
uột trong gần hết nhiệm kỳ tổng thống của ông. Thực trạng này cần được thay
đổi ngay lập tức. Nhưng xử lý vấn đề tăng trưởng mà không làm trầm trọng thêm
vấn đề nợ công rất đáng ngại của đất nước lại không phải là chuyện dễ. Đó là
lý do tại sao nhiệm kỳ tổng thống kế tiếp cần phải được dành hẳn một cách cần
mẫn cho cuộc cải tổ toàn diện về ngân sách và tài khóa, được thiết kế để xử
lý vấn đề chi tiêu ngoài tầm kiểm soát của liên bang trong lúc thúc đẩy hoạt
động kinh tế và tăng trưởng. Chương trình cải tổ tài khóa sẽ phải được kết
hợp với một chương trình cải tổ toàn diện về thuế khóa, giảm thuế suất đồng
thời xóa bỏ một số lượng lớn các ưu đãi về thuế, bao gồm những ưu đãi mà
nhiều thập niên qua vẫn được coi là những con bò thiêng không ai đụng đến
được. Chỉ bằng cách khôi phục sự lành mạnh về tài khóa thì đất nước mới có
thể đương đầu với những thách thức to lớn như kiểu thách thức đang hiển hiện
lù lù ở châu Á. Nhưng tất cả những chuyện này đòi hỏi sự lãnh đạo của tổng
thống phải được ủng hộ rộng rãi, một kiểu lãnh đạo mà đã lâu chúng ta chưa
nhìn thấy.
|
|
As Webb’s Wall Street Journal article makes clear, Obama
was wise in fashioning his “pivot” to Asia. But it isn’t enough merely to
shift focus, dabble in Asian diplomacy and issue statements. As Webb writes,
“The question is whether the China of 2012 truly wishes to resolve issues
through acceptable international standards, and whether the America of 2012
has the will and the capacity to insist that this approach is the only path
toward stability.”
|
Như bài báo của ông Webb trên báo Wall Street Journal đã
làm rõ, ông Obama đã khôn ngoan khi khởi xướng cuộc “chuyển hướng” sang châu
Á. Nhưng sẽ không đủ nếu chỉ chuyển dịch trọng tâm, tiến hành qua loa chính
sách ngoại giao châu Á và đưa ra những lời tuyên bố. Như ông Webb đã viết,
“Vấn đề là liệu Trung Quốc năm 2012 có thực sự mong muốn giải quyết các vấn
đề thông qua các tiêu chuẩn được quốc tế chấp nhận hay không, và liệu Hoa Kỳ
năm 2012 có ý chí và khả năng để nhấn mạnh rằng, giải pháp này là con đường
duy nhất đi tới ổn định hay không”.
|
|
Precisely how America meets this challenge remains an open
question. It will take deft, imaginative, flexible and tough-minded
diplomacy, mixed with resolve and a clear understanding of the stakes
involved. But it also will take recognition that the United States must focus
on priorities, must accept that it can’t do everything everywhere in the
world, and must avoid distractions as it faces with a cold eye its most
pressing tests. Among those tests, none seems more pressing these days than
China.
|
Nói một cách chính xác, Hoa Kỳ sẽ đáp ứng thách thức này
như thế nào vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ. Nó cần có một đường lối ngoại giao
khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt và cứng rắn, hòa trộn với sự cương quyết và sự
hiểu biết rõ ràng về những được mất liên quan. Nhưng nó cũng đòi hỏi sự thừa
nhận rằng Hoa Kỳ phải tập trung vào những ưu tiên, phải chấp nhận rằng mình
không thể làm mọi việc ở mọi nơi trên thế giới và phải tránh bị xao lãng
trong lúc đối mặt những thử thách nặng nề nhất bằng đôi mắt tỉnh táo. Trong
những ngày tháng này, trong những thử thách đó, không thử thách nào nặng nề
hơn Trung Quốc.
|
|
Robert W. Merry is
editor of The National Interest and the author of books on American history
and foreign policy. His most recent book is Where They Stand: The American
Presidents in the Eyes of Voters and Historians.
|
Robert W. Merry là
chủ bút tạp chí The National Interest và tác giả của nhiều tập sách về lịch
sử và chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Cuốn sách gần đây nhất của ông là: “Họ
đứng ở đâu: Các tổng thống Mỹ trong mắt của cử tri và sử gia”.
|
|
|
Translated by Hoàng Nguyễn
|
|
|
|
|
http://nationalinterest.org/commentary/the-china-challenge-7372?page=show
|
|
Monday, August 20, 2012
On Presidential Liars Khi các Tổng thống nói dối
|
|
|
On Presidential
Liars
|
Khi các Tổng thống
nói dối
|
by Howard Zinn
|
Howard Zinn
|
excerpted from the book
Howard Zinn on History
Seven Stories Press, 2000
|
Trích từ
Howard Zinn bàn về Lịch sử
Nxb Seven Stories Press, 2000
|
The year of 1998 was
dominated in the news media by the sexual shenanigans of President Bill
Clinton and a formerly obscure White House intern, Monica Lewinsky. This
preoccupation illustrated perfectly the proclivity of the American media to
fasten on the trivial at the expense of life-and death matters.
|
Năm 1998các phương tiện thông tin tràn ngập sự kiện bê bối tình dục của Tổng thống Bill Clinton và cô thực tập sinh Nhà Trắng khó hiểu, Monica Lewinsky. Mối bận tâm này minh họa hoàn hảo khuynh hướng của các phương tiện truyền thông Mỹ khai thác các chuyện vặt vãnh tầm thường trong khi bỏ qua các vấn đề hết sức quan trọng.
|
In all the excitement about Bill Clinton's sex life, and its
repercussions on his presidency, have we as a nation lost-or did we never
have-a sense of proportion?
|
Với bao nhiêu hào hứng về cuộc đời ái tình của Bill
Clinton, với sự chấn động về ghế Tổng thống của ông ta, chúng ta đã bị mất
nước chưa – hay chúng ta chưa hề bao giờ có nước để mà mất?
|
Clinton has lied to us, deceived us, and then covered up
his deceptions, about his sexual shenanigans-which, however odious, caused no
one to lose a life. Many other presidents have lied to us, and deceived us,
especially since World War II, about activities that we had every right to
know about, in which thousands, even millions of people, lost their lives.
Let's recall some of that history.
|
Clinton đã nói dối chúng ta, lừa chúng ta, bưng bít không
cho chúng ta biết, cái chuyện tính dục vớ vẩn của ông ta – cái chuyện mà dù
có vớ vẩn đến đâu chăng nữa, cũng chưa làm ai chết cả. Nhiều Tổng thống khác
cũng dối chúng ta, cũng lừa chúng ta, nhất là trong Thế chiến II (1), về
những hoạt động khác mà chúng ta có quyền phải được biết, những hoạt động làm
hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu mạng người chết, nào chúng ta có biết tí gì.
Nào ôn lại chút lịch sử với nhau.
|
Let's start with Harry Truman, who lied to us and the
world when he said the bomb dropped on Hiroshima was dropped on "a
military target." Several hundred thousand civilians-men, women,
children died. Truman also lied to the nation about our war in Korea,
presenting this as necessary to stop the spread of Communism in the world (it
did not, and indeed could not), to show that "aggression does not
pay" (the world did not listen; aggressions continued), saying we were
fighting for democracy (hardly, since South Korea was a military dictatorship).
Over 50,000 Americans died. And perhaps two million Koreans.
|
Thử cùng bắt đầu bằng Henry Truman, nói dối với chúng ta
và thế giới khi ông bảo bom ném xuống Hiroshima chỉ vào “khu quân sự”. Vài
trăm ngàn thường dân chết – đàn ông, đàn bà, trẻ con mất mạng. Truman cũng
nói dối cả nước về chiến tranh chúng ta đánh Triều Tiên, bảo để ngăn Cộng sản
bành trướng trên thế giới (họ không hề, cũng không có khả năng làm chuyện
này), và chứng tỏ là “sự gây hấn sẽ không bao giờ được gì” (thế giới biết rồi
đấy, gây hấn cứ tiếp tục), bảo rằng chúng ta phải chiến đấu cho Dân chủ (khó
thay, khi Nam Triều Tiên lại thành một chế độ quân sự độc tài). Trên 50,000
lính Mỹ chết. Và khoảng 2 triệu người Triều Tiên mất mạng.
|
Eisenhower lied about our spy flights over the Soviet Union,
even after one flier on such a mission was shot down. He deceived the nation
and the world about the United States involvement in the coup that overthrew
a democratic government in Guatemala and put in place a military junta that
then took thousands of lives. He deceived the nation about the U.S. role in
subverting a government in Iran which offended the oil corporations. The Shah
of Iran was put back on the throne, meaning death and torture for his
opponents. (In many of these events, the actual deceptions were carried on by
his underlings, but the fact is that Eisenhower knew of them, and approved of
them.)
|
Eisenhower xạo về phi cơ gián điệp của chúng ta bay trên
Liên bang Xô Viết, ngay cả khi một chiếc bị bắn rơi. Ông này lừa chúng ta
cùng thế giới về chuyện Hoa Kỳ can thiệp ở Guatemala, lật đổ chính phủ dân
chủ ở đó, dựng lên chính quyền quân sự độc tài, sau đó hàng ngàn người mất
mạng. Ông nói dối với cả nước về vai trò của Mỹ trong việc lật đổ Chính phủ
Iran đã là trở ngại cho các công ty dầu lửa Hoa Kỳ, rồi đem ông vua (Shah)
Iran lên trở lại ngai vàng, rồi thì vô số thủ tiêu, tra tấn những ai chống
nhà vua (đa số trường hợp, bộ hạ tay chân Eisenhower đảm nhiệm chuyện nói dối
về các vụ này, nhưng Eisenhower cũng biết thế, và đồng lòng).
|
Kennedy lied to the nation about the U.S. involvement in
the 1961 failed invasion of Cuba, telling a press conference: "I can
assure you that the United States has no intention of using force to
overthrow the Castro regime."
|
Kennedy nói dối cả nước về việc dự phần vào cuộc đổ bộ
thất bại vào Cuba, trắng trợn trong cuộc họp báo, “Tôi đoan chắc với quý vị
rằng, Hiệp chúng quốc không có ý định dùng võ trang lật đổ chế độ Cuba”.
|
Kennedy, Johnson, and Nixon all lied to the nation about what
was happening in Vietnam. Kennedy, while denying repeatedly that American
fliers were involved in bombing of Vietnam, sent two helicopter companies
there as early as 1962, and napalm began to be used. Johnson and Nixon both
lied when they claimed only military targets were bombed (reporters knew the
greatest number of deaths was among civilians). And Nixon deceived the nation
about the secret bombing of Cambodia.
|
Kennedy, Johnson và Nixon đều nói dối cả nước về Việt Nam.
Kennedy, một mặt chối bay chối biến là không có phi cơ Mỹ nào đến Việt Nam
ném bom, mặt kia đã gửi đến 2 phi đội trực thăng ngay từ đầu 1962, là thời
bắt đầu dùng bom lửa napalm. Johnson và Nixon cả hai cùng dối khi họ tuyên bố
chỉ ném bom vào các mục tiêu quân sự (các phóng viên thì biết rõ số tổn thất
thường dân rồi). Còn Nixon thì dối thêm về vụ đã bí mật ném bom Cambodia (2).
|
Reagan lied to the nation about his secret and illegal
support of the contras in Nicaragua. He lied about the importance of Grenada
in order to justify the American invasion of that little island. George Bush
lied about the reasons for invading Panama, saying it was to stop the drug
trade, but in fact the drug trade has flourished. And he deceived the nation
about his real interest in the Persian Gulf, pretending to deep anguish about
the fate of Kuwait, but actually more concerned about enhancing American
power in Saudi Arabia and controlling the oil deposits of the region.
|
Reagan đã dối cho cả nước nghe về vụ ông hỗ trợ bí mật và
bất hợp pháp cho phong trào contras tại Nicaragua. Ông ta dối về tầm quan
trọng ở Grenada để tráo trở về sự đổ bộ của quân đội Mỹ lên cái đảo tí hon
này. George Bush dối về lý do đem quân vào Panama, mồm thì bảo để phá đường
dây ma túy, nhưng sự thật thì sau đó các đường dây ma túy tăng gia rộn ràng.
Rồi ông lừa dân chúng về ý định thật của mình về vịnh Ba Tư, bảo là ông rất
quan tâm đến số phận của Kuwait, thật ra thì chỉ để tâm vào quyền lực Mỹ ở
Saudi Arabia và sự kiểm soát dầu lửa trong vùng.
|
Against this history of lies that brought death to so many
people, Clinton's deceptions are ludicrous. Politicians and journalists who
are indignant that he lied about sex with "that woman," were silent
when he deceived the nation about the need to bomb a "nerve gas
plant" in the Sudan. His administration could produce no evidence that
the plant was anything but what the Sudanese government said it was-a plant
that produced medicines for the Sudanese people.
|
Chống lại mọi sự dối trá lịch sử với cái kết quả biết bao
mạng dân vô tội, sự dối trá của Clinton thật xoàng xĩnh. Các chính trị gia và
các nhà báo làm ra vẻ căm phẫn với chuyện tính dục của ông ta với “mụ đàn bà
kia”, lại câm như hến khi ông ta dối cả nước về sự cần thiết phải ném bom vào
một “xưởng sản xuất hơi độc” tại Sudan. Bộ máy hành chính của ông ta không
đưa ra được một minh chứng nào về việc này, đối chất với sự khẳng quyết của
Chính phủ Sudan, là “căn cứ sản xuất” đó là nơi bào chế y-dược cho dân Sudan.
|
The president has lost his "moral authority," it
is said, because of his lies about his sexual behavior. Did he-and indeed
both Republicans and Democrats in Congress-not lose their moral authority
when they took away basic benefits from single mothers, and food stamps from
immigrants, when they failed to provide universal medical care, while
spending hundreds of billions on an unnecessary military machine?
|
Tổng thống đã mất vẻ “quyền uy luân lý”, như người ta than
thở, vì ông ta nói dối về chuyện tính dục của mình. Vậy ông ta – cả Cộng hòa
và Dân chủ trong Quốc hội – có mất quyền uy luân lý không – khi họ tước đi
quyền lợi căn bản của các bà mẹ độc thân, quyền sử dụng phiếu thực phẩm của
người di dân, khi họ thất bại trong việc không thực hiện được quyền săn sóc y
tế toàn cõi, trong khi phung phí hàng trăm tỉ Mỹ kim để phục vụ cho guồng máy
chiến tranh không cần thiết?
|
We are seeing a shocking loss of perspective on the part
of political leaders, the press, and the public. If politicians and
journalists have lost their sense of moral proportion, must we, as citizens
lose ours? Should we not pull back from our obsession with lies about sex,
and concentrate on finding out the truth about policies that mean life or
death for people in this country and all over the world?
|
Chúng ta đang kinh hoàng nhìn thấy sự mất viễn ảnh trong
giới chính trị gia, báo chí, và công chúng. Nếu chính trị gia và các nhà báo
đã mất ý niệm luân lý, thì chúng ta, những công dân đã có mất như họ không?
Chúng ta có nên bớt sự chú trọng về chuyện tính dục dối trá, để tâm vào
chuyện nhìn ra sự thật về các chính sách liên quan đến sự sống chết của bao
mạng người, ngay tại nước này, cũng như ở các nước khác?
|
chú thích của người
dịch:
(1) Trước Thế Chiến
II đã có nói dối rồi.
(2) H. Zinn có lẽ
sót mất chuyện, là ở Đông Dương, cả Lào cũng bị ném bom – không tuyên chiến.
|
|
Translated by Vũ Huy
Quang
|
|
http://www.thirdworldtraveler.com/Zinn/Presidential_Liars_HZOH.html
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)
