MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Tuesday, September 4, 2012

Preparing for War with China Chuẩn bị chiến tranh với Trung Quốc






Preparing for War with China

Chuẩn bị chiến tranh với Trung Quốc

James Holmes
James Holmes
National Interest, August 16, 2012
National Interest, 16/8/2012


For an operational concept that has never been published, the U.S. military’s AirSea Battle doctrine has elicited some fiery commentary. Or maybe it stokes controversy precisely because the armed forces haven’t made it official. Its details are subject to speculation. The chief source of information about it remains an unclassified, unofficial study published in 2010 by the Washington-based Center for Strategic and Budgetary Assessments.

Do một khái niệm tác chiến vừa được công bố mà Học thuyết Tác chiến Hải-Không của quân đội Mỹ đã gây nên những bình phẩm gay gắt. Có thể nó gây nên các cuộc tranh cãi chỉ vì các lực lượng vũ trang vẫn chưa coi nó là chính thức. Các chi tiết của nó là chủ đề của những lời ức đoán.Nguồn thông tin chính về nó vẫn còn là một nghiên cứu không chính thức không thuộc loại bí mật được Trung tâm đánh giá Chiến lược và Ngân sách có trụ sở tại Washington công bố năm 2010.


The debate over AirSea Battle swirls mostly around technology and whether the doctrine is aimed at China. To answer the latter question first: Yes, it is about China. It has to be.

Cuộc tranh cãi về học thuyết Tác chiến Hải-Không chủ yếu xoay quanh khía cạnh công nghệ và câu hỏi phải chăng học thuyết này nhằm vào Trung Quốc. Có thể trả lời câu hỏi này trước: đúng, nó nhắm tới Trung Quốc.


This is no prophecy of doom. From a political standpoint, war with China is neither inevitable nor all that likely. But military people plan against the most formidable capabilities they may encounter. And from an operational standpoint, China’s People’s Liberation Army (PLA) presents the sternest “anti-access” challenge of any prospective antagonist. Either strategists, planners and warfighters prepare for the hardest case, or the United States must write off important regions or options.

Không có tiên đoán nào về sự diệt vong. Xét về khía cạnh chính trị, cuộc chiến tranh với Trung Quốc không phải là không tránh khỏi, cũng không phải là ít khả năng xảy ra. Nhưng giới chức quân đội đang lên kế hoạch chống lại các khả năng kinh khủng nhất mà họ có thể phải đương đầu. Và xét về khía cạnh chiến sự, Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đặt ra thách thức "chống tiếp cận" cứng rắn nhất so với bất kỳ địch thủ nào trong tương lai. Các chiến lược gia, các nhà hoạch định và cả binh sĩ đều chuẩn bị cho tình huống gay cấn nhất, cả nước Mỹ phải xác định những khu vực và lựa chọn quan trọng.


The PLA thus represents the benchmark for U.S. military success in maritime Asia, by most accounts today’s crucible of great-power competition. Other potential opponents, notably the Iranian military, fall into what the Pentagon terms “lesser-included” challenges. If U.S. forces can pierce the toughest anti-access defenses out there—if they can crack the hardest nut—the softer defenses erected by weaker opponents will prove manageable.

Như vậy, PLA được coi là cái mốc chuẩn cho sự thành công của quân đội Mỹ tại khu vực biển ở châu Á, nơi hầu hết mọi người đều gọi là cuộc thử thách gắt gao về cạnh tranh giữa các nước lớn trong thời đại ngày nay. Các đối thủ tiềm năng khác, đặc biệt là quân đội Iran, được Lầu Năm Góc xếp vào loại các thách thức "thức yếu". Bởi nếu các lực lượng của Mỹ có thể chọc thủng hệ thống phòng thủ "chống tiếp cận" cứng rắn nhất ở bên ngoài thì các hệ thống phòng thủ mềm hơn mà các đối thủ yếu hơn dựng lên sẽ hoàn toàn dễ dàng bị quản lý.


That focus on anti-access is why AirSea Battle is about China—because it’s the gold standard, not because anyone expects, let alone wants, war in the Western Pacific.

Sự chú trọng tới chiến lược "chống tiếp cận" giải thích tại sao học thuyết Tác chiến Hải Không là nhằm vào Trung Quốc - vì tiêu chuẩn vàng của họ, không phải vì ai đó mong chờ xảy ra chiến tranh tại Tây Thái Bình Dương.


The Technology

Anti-access is a catchy new name for the old concept of layered defense. Like all naval officers, I was reared on it. Think about air defense. When an aircraft-carrier task force goes in harm’s way, commanders dispatch “combat air patrols” around the fleet, concentrating along the “threat axis,” or direction from which air attack appears most likely. Interceptors from the carrier air wing constitute the first, outermost line of defense.

Công nghệ

"Chống tiếp cận" là một cái tên mới, hấp dẫn cho một khái niệm cũ về phòng thủ từng lớp. Giống như mọi sỹ quan hải quân, tôi đã phản ứng mạnh về nó. Hãy bàn về phòng không. Khi một đội đặc nhiệm tàu sân bay có dấu hiệu bị tổn hại, các chỉ huy sẽ loại bỏ "kiểm soát không chiến" xung quanh hạm đội, tập trung vào "trục đe dọa", hoặc vào hướng dễ bị tấn công từ trên không nhất. Các lá chắn từ đơn vị không quân trên tàu sân bay tạo thành hàng phòng thủ đầu tiên và ngoài cùng.


Then come surface-to-air missiles from the fleet’s picket ships. If attackers get past the fighter- and missile-engagement zones, “point” defenses such as short-range radar-guided missiles or gatling guns essay a last-ditch effort. Each defensive system engages assailants as they come within reach. Multiple engagements translate into multiple chances for a kill, improving the fleet’s chances of withstanding the assault. A corollary: defenses become denser and denser as an adversary closes in.

Sau đó tới các tên lửa hạm đối không trên các tàu của hạm đội. Nếu kẻ tấn công vượt qua được các vùng chiến của tên lửa, các vũ khí phòng thủ "mũi nhọn" như tên lửa tầm ngắn do radar điều khiển hoặc súng sẽ tham chiến như một nỗ lực cuối cùng. Mỗi hệ thống phòng thủ chiến đấu với kẻ tấn công khi chúng vào tầm với. Nhiều lớp như vậy sẽ làm tăng cơ hội sát thương, tức là tăng khả năng chống cự của hạm đội. Kết quả tất yếu là: các hệ thống phòng thủ ngày càng dày đặc khi kẻ thù càng tới gần.


The same logic applies to coastal defense but on a grand scale. A nation intent on warding off adversaries fields a variety of weapons and platforms to strike at sea and aloft. These systems have varying ranges and design parameters. Tactical aircraft can fly hundreds of miles offshore and fire missiles that extend their lethal reach still farther. Missile-armed patrol boats have small fuel tanks and limited at-sea endurance, so they stick relatively close to home. The same goes for diesel-electric submarines.


Logic tương tự cũng được áp dụng trong phòng thủ ven biển nhưng trên một quy mô lớn. Một quốc gia muốn tránh kẻ thù bằng cách tung ra một loạt vũ khí và học thuyết để tấn công trên biển và trên không. Các hệ thống này có phạm vi khác nhau và được thiết kế các thông số khác nhau. Máy bay chiến đấu chiến thuật có thể bay hàng trăm dặm ở ngoài khơi và bắn tên lửa có tầm sát thương xa hơn thế. Các tàu tuần tra gắn tên lửa chỉ mang các thùng chứa dầu nhỏ và hạn chế khả năng hoạt động ngoài khơi, vì vậy chúng chủ yếu được cài cắm ở gần nhà. Tương tự với các tàu ngầm chạy bằng động cơ điện diesel.

If anti-access is about mounting layered defenses, AirSea Battle is about developing technologies and tactics for penetrating them. Thus, in some sense China and America are replaying the interwar years. War planning commenced in earnest following World War I. Imperial Japan planned to shut the U.S. Pacific Fleet out of the waters, skies and landmasses within a defense perimeter enclosing the Western Pacific, the China seas, Southeast Asia and parts of the Bay of Bengal. Not to be outdone, U.S. Navy officers devised and tested out war plans for breaching Japanese anti-access measures.


Nếu chiến lược chống tiếp cận là nấc cao hơn của phòng thù từng lớp, thì Tác chiến Hải Không nhằm phát triển các công nghệ và chiến thuật để thâm nhập chúng. Như vậy, hiểu theo cách nào đó thì Trung Quốc và Mỹ đang chiếu lại những năm giữa hai cuộc chiến tranh. Việc hoạch định chiến tranh đã bắt đầu ngay sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhật Hoàng đã lên kế hoạch đuổi cổ hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ khỏi các vùng biển, vùng trời và lãnh thổ nằm trong chu vi phòng thủ của mình, bao chùm Tây Thái Bình Dương, các biển của Trung Quốc, Đông Nam Á và nhiều phần ở Vịnh Bengal. Không để bị lấn át, các sĩ quan Hải quân Mỹ đã bày mưu và thử nghiệm các kế hoạch chiến đấu để phá hỏng các biện pháp chống tiếp cận của Nhật Bản.


Weirdly, planners on both sides of the Pacific largely agreed on how the coming conflict would unfold. Japan would lash out at the U.S.-held Philippines. U.S. leaders would order the Pacific Fleet to relieve the islands, confronting the Imperial Japanese Navy with a numerical mismatch. Anti-access, Japanese style, meant forward-deploying warplanes to islands along the defense perimeter and submarines to adjacent waters. Aerial and undersea attacks would whittle the U.S. fleet down as it lumbered westward—evening the odds before a decisive battle somewhere in Asian waters.

Rất lạ là các nhà hoạch định ở cả hai bên bờ Thái Bình Dương đều đã có suy nghĩ giống nhau về cách thức cuộc xung đột sẽ diễn ra. Nhật Bản sẽ đánh bất ngờ vào Philippines (đang được Mỹ ủng hộ). Giới chức Mỹ sẽ ra lệnh cho Hạm đội Thái Bình Dương bảo vệ các đảo, chống lại Hải quân Hoàng gia Nhật nhưng với số lượng không tương xứng. Chiến lược chống tiếp cận kiểu Nhật là các máy bay chiến đấu được dàn quân phía trước các đảo dọc theo chu vi phòng thủ và tàu ngầm thì được huy động ở các vùng nước liền kề. Các cuộc tấn công trên không và dưới biển sẽ đuổi cổ hạm đội của Mỹ về hướng Tây trước khi xảy ra một trận chiến quyết định ở đâu đó trong các vùng biển của châu Á.

Submarines and land-based tactical aircraft remain among the panoply of anti-access weaponry. Complementing them are missile-armed patrol boats acting as offshore pickets; shore-fired antiship cruise missiles; and antiship ballistic missiles with ranges conservatively estimated at over nine hundred statute miles. Beijing would expect the PLA Navy surface fleet to handle whatever remnants of the U.S. Pacific Fleet limped into East Asian waters following repeated aerial and subsurface onslaughts.


Các tàu ngầm và máy bay chiến thuật trên mặt đất vẫn là một phần của "bộ áo giáp" vũ khí chống tiếp cận. Bổ sung cho chúng là các tàu tuần tra gắn tên lửa hoạt động như đội quân cảnh ngoài khơi; các tên lửa hành trình chống hạm được bắn từ mặt đất; và các tên lửa đạn đạo chống hạm với tầm xa có thể lên tới hơn 900 dặm. Bắc Kinh có thể hy vọng hạm đội mặt đất của Hải quân PLA đối phó với bất kỳ thứ gì còn sót lại của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đang ì ạch trên các vùng biển ở Đông Á sau các cuộc công kích liên tiếp từ trên không và dưới mặt nước.

The Human Element

The hardware dimension of the U.S.-China strategic competition, however, is inextricable from the all-important human dimension. Weapons don’t fight wars, as strategic thinkers from U.S. Air Force colonel John Boyd to Chinese Communist Party chairman Mao Zedong remind us; people who operate weapons do. Both individuals and the big institutions they serve have deep-seated worldviews and ideas about how to cope with the strategic surroundings. A culture that comports with strategic and operational circumstances represents an asset. A culture that flouts reality is a huge liability.


Yếu tố con người

Tuy nhiên, khía cạnh vũ khí hạng nặng trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung không thể tách khỏi khía cạnh nhân lực vốn là vô cùng quan trọng. Các loại vũ khí không tự nó giao đấu trong các cuộc chiến tranh. Các nhà tư tưởng chiến lược từ Đại tá John Boyd thuộc lực lượng Không quân Mỹ đến Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã nói: chính con người vận hành các vũ khí làm nên việc này. Từng cá nhân và các thể chế lớn mà họ phục vụ đều có thế giới quan và các ý tưởng sâu sắc về việc làm thế nào để đối phó với các vùng biên chiến lược. Một nền văn hóa thích ứng với hoàn cảnh chiến lược và tác chiến là một tài sản. Một nền văn hóa lăng nhục thực tế là một trách nhiệm rất lớn.


So the struggle between AirSea Battle and anti-access is about more than developing gee-whiz technologies. A culture war is brewing between two great powers with very different conceptions of the relationship among land, air and sea power. And again, ideas matter. As naval historian Julian S. Corbett explains, armaments are “the expression in material of strategical and tactical ideas that prevail at any given time.” What hardware a nation’s armed forces acquire speaks volumes about how strategic leaders think about war—and how they may wage it.


Như vậy, sự đấu tranh giữa học thuyết Tác chiến Hải Không và chiến lược "chống tiếp cận" liên quan đến việc phát triển các công nghệ mới tinh vi. Một cuộc chiến tranh văn hóa được hình thành giữa hai cường quốc lớn với nhiều khái niệm khác nhau trong quan hệ giữa bộ binh, không quân và hải quân. Một lần nữa, lại là vấn đề các ý tưởng! Theo nhà sử học về hải quân Julian S. Corbett, các loại vũ khí là "cách thể hiện ra bên ngoài của các tư tưởng chiến thuật và chiến lược được ưa chuộng vào một thời điểm nào đó". Các loại vũ khí hạng nặng mà lực lượng vũ trang của một quốc gia mua sắm cho thấy mức độ giới lãnh đạo chiến lược nước đó nghĩ về chiến tranh, và cách họ có thể bắt đầu cuộc chiến ấy.


China conceives of land-based forces as intrinsic to sea power and has done so at least since the inception of the People’s Republic. This composite conception of sea power comes as second nature for the PLA. Mao Zedong reportedly issued the PLA Navy’s founders three curt instructions: “fly, dive, fast!” Commanders, that is, premised maritime defense on short-range aircraft flying from airfields ashore, diesel submarines diving beneath the waves, and fast patrol boats armed with guns and missiles. These were the ancestors of today’s ultramodern anti-access force.

Trung Quốc coi các lực lượng có căn cứ trên mặt đất là cốt lõi của lực lượng hải quân và quan điểm này có từ khi ra đời nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Khái niệm bổ trợ này về hải quân là bản chất thứ hai của PLA. Mao Trạch Đông đã nhiều lần đưa ra ba chỉ dẫn ngắn gọn về nền tảng của Hải quân PLA: "bay, lặn, nhanh!". Như vậy, các tư lệnh giả thuyết phòng vệ biển dựa trên việc sử dụng các máy bay tầm ngắn từ căn cứ không quân trên bờ, các tàu ngầm chạy bằng diesel lặn sâu dưới các con sóng, và các tàu tuần tra nhanh được trang bị súng và tên lửa. Đây là hình thức sơ khai của lực lượng chống tiếp cận siêu hiện đại ngày nay.


Maoist China viewed sea power as more than the fleet. It was an amalgam of seagoing and land-based platforms and weaponry. Accordingly, the navy remained close to home throughout Mao’s long tenure as CCP chairman. That’s markedly different from the U.S. Navy, which kept squadrons on foreign station from its earliest history. Forward deployment is in American seafarers’ DNA. Think Thomas Jefferson and the Barbary Wars. China, by contrast, has not forward deployed warships since the Ming Dynasty—and even then it did so only intermittently. The ongoing counterpiracy deployment off Somalia thus marks a break with centuries of historical practice.

Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đề cao sức mạnh hải quân hơn các hạm đội. Đó là một sự pha trộn của các nền tảng và vũ khí trên đất liền và ở ngoài khơi. Do đó, hải quân vẫn gắn liền với đất liền trong suốt thời Mao Trạch Đông là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quan niệm trên hoàn toàn khác với Hải quân Mỹ, vốn duy trì các hạm đội ở các căn cứ ngoài nước ngay từ những ngày đầu lịch sử. Việc huy động lực lượng ra nước ngoài nằm trong "ADN" của lực lượng biển của Mỹ. Ngược lại, Trung Quốc không hề huy động tàu chiến ra nước ngoài kể từ triều nhà Minh, thậm chí sau đó, họ cũng chỉ thỉnh thoảng làm việc này. Vì vậy, việc huy động lực lượng chống cướp biển ở ngoài khơi Somalia đánh dấu một bước ngoặt sau nhiều thế kỷ.



The PLA Navy has remained true to its Maoist history even while constructing a blue-water fleet. Coastal defense remains the service’s core function, although it has vastly expanded its defensive zone.

Hải quân PLA vẫn đúng với lịch sử thời Mao Trạch Đông ngay cả khi họ xây dựng một hạm đội biển xanh. Bảo vệ bờ biển vẫn là chức năng cốt lõi của lực lượng này, dù họ đã mở rộng đáng kể khu vực phòng thủ của mình.


If the PLA Navy needs to reinvent its institutional culture to operate far from Chinese coasts, the U.S. military faces an even stiffer cultural challenge in orienting itself to new realities. The post–Cold War U.S. military came to see naval power as a supporting arm of land power. The U.S. Navy projected power onto distant shores, supporting the army, Marines and air force as these sister services prosecuted air and ground campaigns in theaters such as Iraq and Afghanistan.

Nếu Hải quân PLA cần tạo lại văn hóa thể chế của mình để hoạt động ra xa bờ biển Trung Quốc, thì quân đội Mỹ phải đối mặt với một thách thức văn hóa thậm chí còn lớn hơn trong việc hướng Đông tới các thực tế mới. Quân đội Mỹ thời hậu chiến tranh Lạnh coi sức mạnh hải quân là vũ khí hỗ trợ sức mạnh bộ binh. Hải quân Mỹ phô trương sức mạnh ở ngoài khơi xa, hỗ trợ bộ binh, lực lượng lính thủy đánh bộ và không quân, như trường hợp các đơn vị "chị em một nhà" này theo đuổi các chiến dịch không - bộ phối hợp trong các mối đe dọa như ở Iraq hay Afghanistan.


Facing no competitor of the Soviet Navy’s stature, the U.S. Navy leadership issued guidance stating that the navy could assume it commanded the sea. There was no one to contest its mastery. Thus, in the words of the 1992 directive "...From the Sea," the service could “afford to de-emphasize efforts in some naval warfare areas.” In practice, that meant capabilities like antisubmarine warfare and mine countermeasures—capabilities critical to surviving and prospering in anti-access settings—languished for two decades.

Không có đối thủ tầm cỡ Hải quân Liên Xô, giới lãnh đạo Hải quân Mỹ đưa ra chỉ đạo nói rằng hải quân có thể cho rằng nó chỉ huy biển. Không có ai để tranh cãi về địa vị chủ nhân của nó. Do đó, trong lời lẽ của các chỉ thị năm 1992 có viết "... Từ Biển," dịch vụ này "có thể đủ khả năng để giàm bớt nỗ lực trong một số lĩnh vực chiến tranh hải quân". Trên thực tế, điều đó có nghĩa là các năng lực như chiến tranh chống tàu ngầm và đáp trả ngư lôi - các năng lực quan trọng để sống sót và thành công trong việc chống tiếp cận - đã phai mờ sau hai thập kỷ.


Only now are they being rejuvenated. As the anti-access challenge has come into focus, the navy has started scrambling to upgrade its weaponry and relearn half-forgotten skills. In all likelihood, the air force is in worse straits. Despite Billy Mitchell’s early experiments with using air power to defend American coasts—remember his famous 1920 sinking of a battleship from the air—the modern U.S. Air Force does not consider fighting at sea one of its central purposes. The services have some way to go before they can put forth the cohesive effort AirSea Battle demands.


Hiện nay, các năng lực này đang tái sinh. Khi thách thức chống tiếp cận trở thành trọng tâm, hải quân đã bắt đầu chạy đua nâng cấp vũ khí và tái huấn luyện các kỹ năng đã bị quên lãng một nửa. Nhiều khả năng, Không quân rơi vào tình cảnh khó khăn hơn. Bất chấp các cuộc thử nghiệm ban đầu của Billy Mitchell với việc sử dụng không quân để bảo vệ các bờ biển của Mỹ - còn nhớ vụ đánh chìm một chiến hạm từ trên không năm 1920 nổi tiếng của ông - Không quân Mỹ hiện đại không coi chiến đấu trên biển là một trong các mục đích chính.

Punching the Pillow

In short, the Asian continental power takes a holistic view of sea power, while the power that rules the waves thinks of sea power as subsidiary to land power. This cultural inversion would favor PLA defenders in a U.S.-China war. After all, fighting offshore is familiar terrain for them, whereas U.S. leaders long assumed they no longer had to fight for sea control. The services must dispel that ingrained assumption. The advantage goes to China unless the U.S. Navy and Air Force undertake a cultural transformation ahead of time, learning to work together in the maritime domain.


Đấm bị bông

Nói tóm lại, cường quốc lục địa châu Á có cái nhìn chính thể luận đối với sức mạnh biển, trong khi cường quốc điều khiển các con sóng lại coi sức mạnh biển là sự bổ trợ cho bộ binh. Sự đảo ngược về văn hóa này sẽ có lợi cho những người ủng hộ PLA nếu xảy ra chiến tranh Mỹ - Trung. Sau cùng, việc chiến đấu ở ngoài khơi là rất quen thuộc đối với họ, trong khi các lãnh đạo Mỹ từ lâu cho rằng họ không còn phải đấu tranh để kiểm soát biển. Các đơn vị phải xóa tan suy nghĩ thâm căn cố đế này. Lợi thế thuộc về Trung Quốc, trừ phi Hải quân và Không quân Mỹ có sự biến chuyển về văn hóa trong thời gian tới, và học cách phối hợp với nhau trên biển.


Reinventing military institutions in peacetime invariably poses a high-order leadership challenge. It often takes some trauma—like defeat—to clear minds. What to do, short of that doomsday scenario?

Tái thành lập các thể chế quân sự trong thời bình luôn đặt ra một thách thức lớn cho các lãnh đạo cấp cao. Nó sẽ gây ra một số sang chấn - như sự thất bại - đối với những ký ức còn rõ ràng. Phải làm gì đây, kịch bản ngày tận thế chăng?

First, we need an official AirSea Battle concept to jolt the services into action and impart direction. Let’s publish one. Second, the navy and air force must embrace the concept, forging themselves into a joint weapon of sea combat. And third, national leaders must hold the services accountable for this project.

Trước tiên, Mỹ cần một khái niệm Tác chiến Hải Không để kích hoạt các đơn vị hành động và đưa ra định hướng. Sau đó công bố nó. Thứ hai, hải quân và không quân phải bám lấy khái niệm này, buộc mình vào một kho vũ khí chung của chiến tranh trên biển. Và thứ ba, các lãnh đạo đất nước phải có trách nhiệm giải thích với từng đơn vị về kế hoạch này.


Franklin Roosevelt once compared the U.S. Navy to a pillow. Civilian officials could punch it as hard as they liked, but it sprang back to the same shape. One suspects the U.S. Air Force bureaucracy is the same way.
Keep punching, Washington.

Franklin Roosevelt từng so sánh Hải quân Mỹ với một chiếc gối bông. Giới chức dân sự có thể đấm vào đó mạnh nhất có thể, nhưng nó sẽ bật lại đúng như vậy. Một số người e rằng Không quân Mỹ cũng như vậy quan lieu như thế.
Washington, cứ đấm đi.

James Holmes is an associate professor of strategy at the Naval War College and a contributor to Competitive Strategies for the 21st Century, just out from Stanford University Press. The views voiced here are his alone.
James Holmes là một giáo sư về chiến lược tại Đại học Hải Chiến. Ông là cộng tác viên cho Chiến lược cạnh tranh cho thế kỷ 21, do Đại học Stanford xuất bản. Những quan điểm nêu lên ở đây chỉ là quan điểm riêng của tác giả.


Translated by Châu Giang


http://nationalinterest.org/commentary/preparing-war-china-7352?page=show

Thursday, August 23, 2012

The China Challenge Thách thức từ Trung Quốc





The China Challenge

Thách thức từ Trung Quốc

Robert W. Merry
The National Interest
August 21, 2012

Robert W. Merry
The National Interest
21/8/2012

Senator James Webb’s recent op-ed in the Wall Street Journal constitutes a powerful warning to the man who will occupy the White House Oval Office after January’s inauguration day, whether he is President Obama in a second term or Republican challenger Mitt Romney in a first term. Webb, the Virginia Democrat who will relinquish his Senate seat after November’s election, called attention to China’s ever growing aggressiveness in laying claim to vast and far-flung areas of Asia, including 200 islands (in many instances mere “islets” of uninhabited but strategically significant rock) and two million square kilometers of water.

Bài chính luận mới đây của Thượng nghị sĩ James Webb trên báo Wall Street Journal là lời cảnh báo mạnh mẽ cho người sẽ làm chủ Phòng Bầu dục của Nhà Trắng sau ngày đăng quang vào tháng Giêng năm tới, cho dù người đó là Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ thứ hai hoặc đối thủ từ đảng Cộng hòa Mitt Romney trong nhiệm kỳ thứ nhất. Ông Webb, đảng Dân chủ bang Virginia, người sẽ rời chiếc ghế ở Thượng viện sau cuộc bầu cử vào tháng 11-2012, đã kêu gọi chú ý tới sự lộng hành tăng nhanh chưa từng thấy của Trung Quốc trong việc đòi hỏi chủ quyền những khu vực rộng bao la ở châu Á, bao gồm 200 hòn đảo (trong nhiều trường hợp chỉ là những núi đá không cư trú được nhưng có ý nghĩa về chiến lược) và hai triệu ki-lô-mét vuông mặt nước.


“For all practical purposes,” writes Webb, “China has unilaterally decided to annex an area that extends eastward from the East Asian mainland as far as the Philippines, and nearly as far south as the Strait of Malacca.” This huge territorial claim, which includes nearly the entire South China Sea, clashes with territorial claims of China’s neighbors in the region, including Vietnam, Japan and the Philippines. Brushing aside these counter-claims, China has created a new administrative “prefecture,” called “Sansha,” with headquarters in the Paracel Islands and lines of authority that go directly to the central government in Beijing.

Ông Webb viết: “Vì tất cả những mục tiêu thực tế đó, Trung Quốc đã đơn phương quyết định thôn tính một khu vực từ lục địa Đông Á trải rộng về phía đông xa tới Philippines và về phía nam gần tới Eo biển Malacca”. Yêu sách lãnh thổ khổng lồ này, bao gồm gần như toàn bộ vùng Biển Đông, xung đột với yêu sách lãnh thổ của các nước láng giềng của Trung Quốc trong khu vực, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản và Philippines. Gạt qua một bên những yêu sách đối nghịch này, Trung Quốc đã tạo ra một đơn vị hành chính mới, gọi là “thành phố Tam Sa” đặt trụ sở tại quần đảo Hoàng Sa và có quyền báo cáo trực tiếp với chính phủ trung ương ở Bắc Kinh.


The Paracels are more than 200 miles southeast of China’s southernmost point of territory, and for decades Vietnam vehemently has claimed sovereignty over them. But now they will house offices for 45 Chinese legislators appointed to administer the new prefecture, along with a 15-member Standing Committee, a mayor and a vice-mayor. Writes Webb: “China’s new 'prefecture' is nearly twice as large as the combined land masses of Vietnam, South Korea, Japan and the Philippines.”


Quần đảo Hoàng Sa cách hơn 200 dặm về phía đông nam điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc và trong nhiều thập niên qua Việt Nam đã mạnh mẽ tuyên bố chủ quyền trên quần đảo này. Nhưng giờ đây, quần đảo là nơi đặt văn phòng cho khoảng 45 “dân biểu” Trung Quốc được bổ nhiệm để cai trị thành phố mới, cùng với một ủy ban thường trực 15 thành viên, 1 thị trưởng và 1 phó thị trưởng. “'Thành phố' mới của Trung Quốc rộng gần gấp đôi tổng diện tích đất liền của Việt Nam, Nam Hàn, Nhật Bản và Philippines cộng lại”, ông Webb viết.


At stake is control of sea lanes, fishing rights and large mineral deposits, as well as the question of who will exercise strategic dominance in the region. China seems bent on wresting that strategic dominance from the United States so it can become the region’s dominant power. Gone would be America’s decades-long capacity to maintain stability—and hence prosperity—in the region.


Việc kiểm soát các tuyến đường biển, quyền đánh bắt cá và trữ lượng khoáng sản khổng lồ cũng như vấn đề ai sẽ nắm quyền thống trị chiến lược trong khu vực đều đang bị đe dọa. Có vẻ như Trung Quốc nhất quyết giật khỏi tay Hoa Kỳ quyền thống trị chiến lược ấy để họ có thể trở thành cường quốc thống trị của khu vực. Khả năng của Hoa Kỳ từ trước tới nay trong việc duy trì sự ổn định - và từ đó là sự thịnh vượng - của khu vực sẽ không còn nữa.


Webb is not the first to issue such a warning, but his piece accentuates a central reality of this unfolding drama—namely, that the drama is unfolding much more rapidly than most people in the United States realize. Asia is watching to determine whether America will, as Webb puts it, “live up to its uncomfortable but necessary role as the true guarantor of stability in East Asia, or whether the region will again be dominated by belligerence and intimidation.”


Ông Webb không phải là người đầu tiên đưa ra lời cảnh báo như vậy, nhưng bài nghị luận của ông nêu bật một thực tế cốt lõi của tấn kịch đang lộ ra - đúng ra là một tấn kịch đang lộ ra nhanh hơn nhiều so với những gì mà phần lớn người dân Hoa Kỳ nhận thức được. Châu Á đang nhìn để quyết định xem có phải Hoa Kỳ sẽ “làm trọn vai trò khó khăn nhưng cần thiết là người bảo đảm sự ổn định ở Đông Á hay không, liệu khu vực này có sẽ một lần nữa bị thống trị bởi sự hiếu chiến và hăm dọa hay không”, như ông Webb diễn tả.


China today represents the most fundamental geopolitical challenge facing the United States, and it has been a long time since the need for American boldness and imagination has been as acute as it is now in light of the Beijing challenge. Therefore, not only must next year’s president respond to this challenge, but he must also prepare the nation for it. That suggests a number of policy imperatives.


Trung Quốc ngày nay là một sự thách thức địa chính trị quan trọng nhất mà Hoa Kỳ đang đối mặt. Nhiều năm tháng đã trôi đi kể từ khi Hoa Kỳ lại cần có sự dũng cảm và sáng tạo sắc bén như bây giờ dưới ánh sáng sự thách đố của Bắc Kinh. Do đó, vị tổng thống đăng quang năm tới không chỉ phải đối phó với thách thức này mà ông ta cũng phải chuẩn bị để đất nước sẵn sàng cho thách thức ấy. Điều đó gợi ra một số nhu cầu bức thiết về chính sách.


A smooth exit from Afghanistan: Upon taking office, President Obama ratcheted up the Afghan mission to include a major counterinsurgency effort, which meant a large dose of nation-building. Since then, he has ratcheted down the mission under a concept called “Afghan good enough.” What this means precisely has not been spelled out by the president, who has said, however, that by the end of 2014 Afghans will be “fully responsible for the security of their country.”


Rút ra khỏi Afghanistan một cách suôn sẻ: Khi lên cầm quyền, Tổng thống Obama đã nâng cấp sứ mệnh ở Afghanistan, bao hàm cả một nỗ lực chống bạo loạn, nghĩa là một công cuộc xây dựng quốc gia to lớn. Nhưng kể từ đó, ông đã hạ cấp cái sứ mệnh này theo một quan niệm gọi là “Afghanistan đủ tốt”. Ý nghĩa chính xác là gì thì tổng thống chưa bao giờ nói rõ ra, tuy nhiên ông đã nói rằng, đến cuối năm 2014, Afghanistan sẽ “hoàn toàn chịu trách nhiệm về an ninh của đất nước họ”.


In light of the China challenge, “Afghan good enough” is not good enough. And a vague 2014 deadline, without any clear explanation of what kind of U.S. effort would continue beyond that time, lacks the kind of policy clarity the country needs. In his book on Obama’s foreign policy, Confront and Conceal, the New York Times’ David E. Sanger writes that a decade from now visitors to that country will see few traces of the American experiment there—“apart from military hardware and bases.” In reality, though, there is little need for U.S. bases in Afghanistan. Al Qaeda is washed up in the region (though problematical elsewhere); the Taliban doesn’t represent any kind of major threat to America; the Afghans will go their own way, as they have for centuries notwithstanding multiple efforts to subdue the place; and the United States can’t afford the effort in terms of blood, treasure or focus.


Dưới ánh sáng sự thách thức mang tên Trung Quốc, “Afghanistan đủ tốt” sẽ không đủ tốt nữa. Và một hạn cuối cùng mơ hồ năm 2014, không có thêm lời giải thích rõ ràng về những nỗ lực nào của Hoa Kỳ sẽ được thực hiện tiếp tục sau thời hạn đó, sẽ thiếu đi sự trong sáng về chính sách mà đất nước cần. Trong cuốn sách về chính sách ngoại giao của ông Obama, cuốn “Đối đầu và Che giấu”, nhà báo David E. Sanger của báo New York Times viết rằng một thập niên nữa kể từ hôm nay, du khách thăm viếng Afghanistan sẽ nhìn thấy rất ít dấu vết cuộc thử nghiệm của Hoa Kỳ tại đó - “ngoại trừ những căn cứ và những thiết bị quân sự”. Dù vậy, trong thực tế, Hoa Kỳ không có nhu cầu đặt nhiều căn cứ quân sự ở Afghanistan. Al-Qaeda đã bị quét sạch khỏi khu vực này (dù vẫn là vấn đề ở nơi khác); Taliban không phải là mối đe dọa chính đối với nước Mỹ; người dân Afghanistan sẽ đi con đường của họ như họ đã đi trong nhiều thế kỷ qua bất chấp những nỗ lực chinh phục đất nước họ và Hoa Kỳ cũng không đủ sức duy trì nỗ lực của mình bằng máu, tài sản và sự tập trung.


Get right with Russia: In his recent book, The Revenge of Geography, Robert D. Kaplan writes that China’s ability to project power into the Pacific is made possible by its dominance over its Central Asian land borders, “from Manchuria counterclockwise around to Tibet.” He explains: “Merely by going to sea in the manner that it is, China demonstrates its favorable position on the land in the heart of Asia.” But it is not in the interest of Russia to have China serene on its western borders, positioned to increase its influence in Central Asia and control the extraction of valuable natural resources there. Neither is it in the interest of the United States (or Russia) to see China emboldened in its territorial demands in the Pacific because it feels secure in its land position.


Dàn hòa với Nga: Trong cuốn sách mới ra gần đây của mình “Sự trả thù của địa lý”, Robert D. Kaplan viết rằng, sở dĩ Trung Quốc có khả năng triển khai lực lượng ra Thái Bình Dương là vì họ thống trị được các biên giới trên đất liền vùng Trung Á, “từ Mãn Châu Lý (Manchuria) ngược chiều kim đồng hồ đến Tây Tạng”. Ông Kaplan giải thích: “Chỉ đơn giản với cách vươn ra biển theo kiểu hiện nay, Trung Quốc đã thể hiện cái vị trí ưu thế của mình trên đất liền ở trái tim châu Á”. Tuy nhiên, lợi ích của nước Nga không phải là để Trung Quốc thanh thản trên vùng biên giới phía tây của mình, gia tăng ảnh hưởng lên vùng Trung Á và kiểm soát việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quý giá ở đó. Cũng không phải là lợi ích của Hoa Kỳ (hoặc của Nga) khi nhìn thấy Trung Quốc liều lĩnh trong các đòi hỏi lãnh thổ trong Thái Bình Dương chỉ vì Bắc Kinh cảm thấy an toàn trên đất liền.


Thus, if China represents America’s greatest strategic threat, a strong relationship with Russia represents one of its greatest strategic imperatives. It’s time for the United States to downplay its discomfort with Russia’s authoritarian rule and widespread civic corruption. As troubling as Russia is, it hardly represents the kind of evil entity that Franklin Roosevelt and Winston Churchill snuggled up to during World War II. As a regional power, Russia has legitimate regional interests, and the United States should acknowledge those and incorporate them into its effort to establish a sound and mutually beneficial relationship with Russia—one that, if necessary, can be helpful in any future confrontation with China.


Như vậy, nếu Trung Quốc là mối đe dọa chiến lược lớn nhất của Hoa Kỳ thì một mối quan hệ vững chắc với Nga lại là một trong những nhu cầu chiến lược lớn nhất. Đã đến lúc Hoa Kỳ bớt đi nỗi khó chịu của mình trước sự cai trị độc tài và tham nhũng tràn lan của Nga. Nước Nga dù gây phiền toái đến mấy thì đó cũng không phải là loại thực thể xấu xa mà Franklin Roosevelt và Winston Churchill đã chung vai sát cánh trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ Hai. Là một cường quốc khu vực, nước Nga có những quyền lợi khu vực chính đáng; Hoa Kỳ phải công nhận những lợi ích này và tích hợp chúng vào nỗ lực của mình nhằm thiết lập một mối quan hệ bền vững, đôi bên cùng có lợi với nước Nga - một mối quan hệ mà nếu cần có thể trở nên hữu ích trong bất kỳ cuộc đối đầu nào với Trung Quốc trong tương lai.


Avoid war with Iran: The United States currently is on a path to war with Iran, and it is a path that was blazed primarily by Israel, which has issued threats of a possible unilateral strike against Iran to stiffen America’s stance against the Islamic Republic. So far, Israeli Prime Minister Benjamin Netanyahu has managed to get Obama to foreclose any U.S. acceptance of an Iranian nuclear weapons capability (meaning no deterrence policy). That leaves open the question whether the United States should permit—and whether Iran would accept—low-level uranium enrichment for peaceful purposes only. Netanyahu is against such an approach, and it isn’t clear it could pave the way to a peaceful resolution of the issue in any event. But the current tough sanctions will not, in and of themselves, get the desired response from Iran if that response entails an Iranian humiliation. That’s why the peaceful-enrichment approach should guide U.S. thinking on the matter, even if that means an open rupture with Netanyahu.

Tránh chiến tranh với Iran: Hoa Kỳ hiện đang trên con đường đi tới chiến tranh với Iran và con đường đó lúc đầu được vạch ra bởi Israel - quốc gia đã đưa ra lời đe dọa tấn công đơn phương vào Iran để gia tăng thái độ của Hoa Kỳ chống lại nước Cộng hòa Hồi giáo này. Cho đến nay, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu vẫn tìm cách buộc ông Obama ngăn cản bất kỳ ý định nào của Hoa Kỳ chấp nhận khả năng Iran có thể có vũ khí hạt nhân (nghĩa là không đưa ra chính sách cản trở). Điều đó để ngỏ vấn đề liệu Hoa Kỳ có nên cho phép - và liệu Iran có chấp nhận - việc làm giàu uranium ở mức độ thấp chỉ dùng cho mục đích hòa bình hay không. Netanyahu chống lại một giải pháp như vậy và chưa rõ điều đó có thể mở đường tiến tới một giải pháp hòa bình cho vấn đề hay không. Nhưng những biện pháp cấm vận ngặt nghèo hiện hành sẽ không tạo ra được phản ứng mong muốn từ Iran nếu phản ứng đó tỏ ra là một nỗi nhục đối với Iran. Đó là lý do tại sao trong vấn đề này tư duy của Hoa Kỳ nên hướng tới giải pháp làm giàu uranium với mục đích hòa bình, cho dù điều đó có nghĩa là một cuộc tuyệt giao công khai với Netanyahu.


The American people would rally behind the president in such circumstances if the president levels with them about the stakes involved. U.S. leaders shouldn’t get sucked in to the kind of journalistic saber rattling that was visible on last week’s cover of The Weekly Standard, which showed a photo of Iran’s Supreme Leader, Ali Khamenei, under the headline: “The Most Dangerous Man in the World.” America’s most dangerous threat is thousands of miles from that man. And the United States should not seek a military confrontation with Iran, if it can be avoided, because such a conflict would pulverize the global economy and likely unleash far more instability into the region.


Nhân dân Hoa Kỳ nên tập hợp sau lưng tổng thống trong những tình huống như vậy nếu tổng thống nói thẳng với người dân về những được mất có liên quan. Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ không nên vướng vào những vụ giễu võ giương oai theo kiểu báo chí, được thấy rõ trên bìa tạp chí The Weekly Standard tuần qua, trên đó in hình nhà lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei dưới dòng tít lớn: “Con người nguy hiểm nhất thế giới”. Mối đe dọa lớn nhất đối với nước Mỹ đang nằm cách người đàn ông này hàng ngàn dặm. Và Hoa Kỳ cũng không nên tìm kiếm một cuộc đụng độ quân sự với Iran, nếu có thể tránh được, bởi vì một cuộc xung đột như vậy sẽ phá hủy hoàn toàn nền kinh tế thế giới và có thể gây bất ổn lan tràn khắp khu vực.


No more U.S. boots on the soil of Islam: The Middle East is in turmoil, and the entire region is in danger of being destabilized by the civil war in Syria. Events there could deal a heavy blow to the interests of the United States, the West and much of the rest of the industrialized world. Actual U.S. military action could prove necessary to stabilize the region, but the United States should do everything possible to avoid such a course. Another U.S. intervention in the region would prove highly incendiary. But sitting by and watching is not an appropriate policy either. The situation calls for deft, imaginative and stealthy efforts, always in conjunction with Islamic powers in the region, particularly Turkey, to avert the worst possible outcomes and keep the situation under wraps to the greatest extent possible. The pressures for U.S. involvement in Syria on humanitarian grounds should be resisted forcefully.


Không đặt chân lên đất Hồi giáo nữa: Trung Đông đang hỗn loạn và cả khu vực này đang có nguy cơ mất ổn định vì cuộc nội chiến ở Syria. Những biến cố ở đó có thể giáng một đòn nặng nề vào các quyền lợi của Hoa Kỳ, của phương Tây và của đa số các quốc gia công nghiệp còn lại. Một hành động quân sự của Hoa Kỳ thực sự có thể là cần thiết để ổn định khu vực này nhưng Hoa Kỳ nhất thiết phải làm mọi chuyện có thể làm được để tránh một hành động như vậy. Một cuộc can thiệp nữa của Hoa Kỳ vào khu vực này chắc chắn sẽ kích động một phong trào chống đối mạnh mẽ hơn. Nhưng thủ tọa bàng quan cũng không phải là chính sách thích hợp. Tình huống hiện nay đòi hỏi những nỗ lực thầm lặng, sáng tạo và khôn khéo, luôn kết hợp với các thế lực Hồi giáo trong khu vực, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, để tránh những hậu quả tồi tệ nhất có thể xảy ra và giữ cho tình hình luôn nằm trong tầm kiểm soát tới mức tối đa. Nên chống lại mạnh mẽ các áp lực đòi Hoa Kỳ phải can dự vào Syria trên cơ sở nhân đạo.


The need for economic growth: Obama has not been a successful president in the economic realm. Economic growth has been languid throughout most of his presidency. This needs to change abruptly. But addressing the growth problem without exacerbating the country’s ominous debt problem isn’t going to be easy. That’s why the next presidential term must be devoted assiduously to a comprehensive fiscal reform designed to address out-of-control federal spending while boosting economic activity and growth. Entitlement reform will have to be combined with a comprehensive tax reform that slashes tax rates while eliminating large numbers of tax preferences, including many that have been considered sacred cows for decades. Only by restoring its fiscal health can the country face major challenges of the kind that looms in Asia. But this will take presidential leadership in abundance, the kind of leadership that we have not seen for a long time.


Nhu cầu tăng trưởng kinh tế: Obama chưa phải là vị tổng thống thành công trong lĩnh vực kinh tế. Tăng trưởng kinh tế diễn ra khá èo uột trong gần hết nhiệm kỳ tổng thống của ông. Thực trạng này cần được thay đổi ngay lập tức. Nhưng xử lý vấn đề tăng trưởng mà không làm trầm trọng thêm vấn đề nợ công rất đáng ngại của đất nước lại không phải là chuyện dễ. Đó là lý do tại sao nhiệm kỳ tổng thống kế tiếp cần phải được dành hẳn một cách cần mẫn cho cuộc cải tổ toàn diện về ngân sách và tài khóa, được thiết kế để xử lý vấn đề chi tiêu ngoài tầm kiểm soát của liên bang trong lúc thúc đẩy hoạt động kinh tế và tăng trưởng. Chương trình cải tổ tài khóa sẽ phải được kết hợp với một chương trình cải tổ toàn diện về thuế khóa, giảm thuế suất đồng thời xóa bỏ một số lượng lớn các ưu đãi về thuế, bao gồm những ưu đãi mà nhiều thập niên qua vẫn được coi là những con bò thiêng không ai đụng đến được. Chỉ bằng cách khôi phục sự lành mạnh về tài khóa thì đất nước mới có thể đương đầu với những thách thức to lớn như kiểu thách thức đang hiển hiện lù lù ở châu Á. Nhưng tất cả những chuyện này đòi hỏi sự lãnh đạo của tổng thống phải được ủng hộ rộng rãi, một kiểu lãnh đạo mà đã lâu chúng ta chưa nhìn thấy.


As Webb’s Wall Street Journal article makes clear, Obama was wise in fashioning his “pivot” to Asia. But it isn’t enough merely to shift focus, dabble in Asian diplomacy and issue statements. As Webb writes, “The question is whether the China of 2012 truly wishes to resolve issues through acceptable international standards, and whether the America of 2012 has the will and the capacity to insist that this approach is the only path toward stability.”


Như bài báo của ông Webb trên báo Wall Street Journal đã làm rõ, ông Obama đã khôn ngoan khi khởi xướng cuộc “chuyển hướng” sang châu Á. Nhưng sẽ không đủ nếu chỉ chuyển dịch trọng tâm, tiến hành qua loa chính sách ngoại giao châu Á và đưa ra những lời tuyên bố. Như ông Webb đã viết, “Vấn đề là liệu Trung Quốc năm 2012 có thực sự mong muốn giải quyết các vấn đề thông qua các tiêu chuẩn được quốc tế chấp nhận hay không, và liệu Hoa Kỳ năm 2012 có ý chí và khả năng để nhấn mạnh rằng, giải pháp này là con đường duy nhất đi tới ổn định hay không”.


Precisely how America meets this challenge remains an open question. It will take deft, imaginative, flexible and tough-minded diplomacy, mixed with resolve and a clear understanding of the stakes involved. But it also will take recognition that the United States must focus on priorities, must accept that it can’t do everything everywhere in the world, and must avoid distractions as it faces with a cold eye its most pressing tests. Among those tests, none seems more pressing these days than China.


Nói một cách chính xác, Hoa Kỳ sẽ đáp ứng thách thức này như thế nào vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ. Nó cần có một đường lối ngoại giao khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt và cứng rắn, hòa trộn với sự cương quyết và sự hiểu biết rõ ràng về những được mất liên quan. Nhưng nó cũng đòi hỏi sự thừa nhận rằng Hoa Kỳ phải tập trung vào những ưu tiên, phải chấp nhận rằng mình không thể làm mọi việc ở mọi nơi trên thế giới và phải tránh bị xao lãng trong lúc đối mặt những thử thách nặng nề nhất bằng đôi mắt tỉnh táo. Trong những ngày tháng này, trong những thử thách đó, không thử thách nào nặng nề hơn Trung Quốc.


Robert W. Merry is editor of The National Interest and the author of books on American history and foreign policy. His most recent book is Where They Stand: The American Presidents in the Eyes of Voters and Historians.
Robert W. Merry là chủ bút tạp chí The National Interest và tác giả của nhiều tập sách về lịch sử và chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Cuốn sách gần đây nhất của ông là: “Họ đứng ở đâu: Các tổng thống Mỹ trong mắt của cử tri và sử gia”.


Translated by Hoàng Nguyễn


http://nationalinterest.org/commentary/the-china-challenge-7372?page=show

Monday, August 20, 2012

On Presidential Liars Khi các Tổng thống nói dối




On Presidential Liars

Khi các Tổng thống nói dối
by Howard Zinn

Howard Zinn
excerpted from the book
Howard Zinn on History
Seven Stories Press, 2000
Trích từ
Howard Zinn bàn về Lịch sử
Nxb Seven Stories Press, 2000


The year of 1998 was dominated in the news media by the sexual shenanigans of President Bill Clinton and a formerly obscure White House intern, Monica Lewinsky. This preoccupation illustrated perfectly the proclivity of the American media to fasten on the trivial at the expense of life-and death matters.

Năm 1998các phương tiện thông tin tràn ngập sự kiện bê bối tình dục của Tổng thống Bill Clinton và cô thực tập sinh Nhà Trắng khó hiểu, Monica Lewinsky. Mối bận tâm này minh họa hoàn hảo khuynh hướng của các phương tiện truyền thông Mỹ khai thác các chuyện vặt vãnh tầm thường trong khi bỏ qua các vấn đề hết sức quan trọng.

In all the excitement about Bill Clinton's sex life, and its repercussions on his presidency, have we as a nation lost-or did we never have-a sense of proportion?

Với bao nhiêu hào hứng về cuộc đời ái tình của Bill Clinton, với sự chấn động về ghế Tổng thống của ông ta, chúng ta đã bị mất nước chưa – hay chúng ta chưa hề bao giờ có nước để mà mất?


Clinton has lied to us, deceived us, and then covered up his deceptions, about his sexual shenanigans-which, however odious, caused no one to lose a life. Many other presidents have lied to us, and deceived us, especially since World War II, about activities that we had every right to know about, in which thousands, even millions of people, lost their lives. Let's recall some of that history.

Clinton đã nói dối chúng ta, lừa chúng ta, bưng bít không cho chúng ta biết, cái chuyện tính dục vớ vẩn của ông ta – cái chuyện mà dù có vớ vẩn đến đâu chăng nữa, cũng chưa làm ai chết cả. Nhiều Tổng thống khác cũng dối chúng ta, cũng lừa chúng ta, nhất là trong Thế chiến II (1), về những hoạt động khác mà chúng ta có quyền phải được biết, những hoạt động làm hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu mạng người chết, nào chúng ta có biết tí gì. Nào ôn lại chút lịch sử với nhau.


Let's start with Harry Truman, who lied to us and the world when he said the bomb dropped on Hiroshima was dropped on "a military target." Several hundred thousand civilians-men, women, children died. Truman also lied to the nation about our war in Korea, presenting this as necessary to stop the spread of Communism in the world (it did not, and indeed could not), to show that "aggression does not pay" (the world did not listen; aggressions continued), saying we were fighting for democracy (hardly, since South Korea was a military dictatorship). Over 50,000 Americans died. And perhaps two million Koreans.

Thử cùng bắt đầu bằng Henry Truman, nói dối với chúng ta và thế giới khi ông bảo bom ném xuống Hiroshima chỉ vào “khu quân sự”. Vài trăm ngàn thường dân chết – đàn ông, đàn bà, trẻ con mất mạng. Truman cũng nói dối cả nước về chiến tranh chúng ta đánh Triều Tiên, bảo để ngăn Cộng sản bành trướng trên thế giới (họ không hề, cũng không có khả năng làm chuyện này), và chứng tỏ là “sự gây hấn sẽ không bao giờ được gì” (thế giới biết rồi đấy, gây hấn cứ tiếp tục), bảo rằng chúng ta phải chiến đấu cho Dân chủ (khó thay, khi Nam Triều Tiên lại thành một chế độ quân sự độc tài). Trên 50,000 lính Mỹ chết. Và khoảng 2 triệu người Triều Tiên mất mạng.


Eisenhower lied about our spy flights over the Soviet Union, even after one flier on such a mission was shot down. He deceived the nation and the world about the United States involvement in the coup that overthrew a democratic government in Guatemala and put in place a military junta that then took thousands of lives. He deceived the nation about the U.S. role in subverting a government in Iran which offended the oil corporations. The Shah of Iran was put back on the throne, meaning death and torture for his opponents. (In many of these events, the actual deceptions were carried on by his underlings, but the fact is that Eisenhower knew of them, and approved of them.)


Eisenhower xạo về phi cơ gián điệp của chúng ta bay trên Liên bang Xô Viết, ngay cả khi một chiếc bị bắn rơi. Ông này lừa chúng ta cùng thế giới về chuyện Hoa Kỳ can thiệp ở Guatemala, lật đổ chính phủ dân chủ ở đó, dựng lên chính quyền quân sự độc tài, sau đó hàng ngàn người mất mạng. Ông nói dối với cả nước về vai trò của Mỹ trong việc lật đổ Chính phủ Iran đã là trở ngại cho các công ty dầu lửa Hoa Kỳ, rồi đem ông vua (Shah) Iran lên trở lại ngai vàng, rồi thì vô số thủ tiêu, tra tấn những ai chống nhà vua (đa số trường hợp, bộ hạ tay chân Eisenhower đảm nhiệm chuyện nói dối về các vụ này, nhưng Eisenhower cũng biết thế, và đồng lòng).


Kennedy lied to the nation about the U.S. involvement in the 1961 failed invasion of Cuba, telling a press conference: "I can assure you that the United States has no intention of using force to overthrow the Castro regime."


Kennedy nói dối cả nước về việc dự phần vào cuộc đổ bộ thất bại vào Cuba, trắng trợn trong cuộc họp báo, “Tôi đoan chắc với quý vị rằng, Hiệp chúng quốc không có ý định dùng võ trang lật đổ chế độ Cuba”.


Kennedy, Johnson, and Nixon all lied to the nation about what was happening in Vietnam. Kennedy, while denying repeatedly that American fliers were involved in bombing of Vietnam, sent two helicopter companies there as early as 1962, and napalm began to be used. Johnson and Nixon both lied when they claimed only military targets were bombed (reporters knew the greatest number of deaths was among civilians). And Nixon deceived the nation about the secret bombing of Cambodia.


Kennedy, Johnson và Nixon đều nói dối cả nước về Việt Nam. Kennedy, một mặt chối bay chối biến là không có phi cơ Mỹ nào đến Việt Nam ném bom, mặt kia đã gửi đến 2 phi đội trực thăng ngay từ đầu 1962, là thời bắt đầu dùng bom lửa napalm. Johnson và Nixon cả hai cùng dối khi họ tuyên bố chỉ ném bom vào các mục tiêu quân sự (các phóng viên thì biết rõ số tổn thất thường dân rồi). Còn Nixon thì dối thêm về vụ đã bí mật ném bom Cambodia (2).


Reagan lied to the nation about his secret and illegal support of the contras in Nicaragua. He lied about the importance of Grenada in order to justify the American invasion of that little island. George Bush lied about the reasons for invading Panama, saying it was to stop the drug trade, but in fact the drug trade has flourished. And he deceived the nation about his real interest in the Persian Gulf, pretending to deep anguish about the fate of Kuwait, but actually more concerned about enhancing American power in Saudi Arabia and controlling the oil deposits of the region.

Reagan đã dối cho cả nước nghe về vụ ông hỗ trợ bí mật và bất hợp pháp cho phong trào contras tại Nicaragua. Ông ta dối về tầm quan trọng ở Grenada để tráo trở về sự đổ bộ của quân đội Mỹ lên cái đảo tí hon này. George Bush dối về lý do đem quân vào Panama, mồm thì bảo để phá đường dây ma túy, nhưng sự thật thì sau đó các đường dây ma túy tăng gia rộn ràng. Rồi ông lừa dân chúng về ý định thật của mình về vịnh Ba Tư, bảo là ông rất quan tâm đến số phận của Kuwait, thật ra thì chỉ để tâm vào quyền lực Mỹ ở Saudi Arabia và sự kiểm soát dầu lửa trong vùng.


Against this history of lies that brought death to so many people, Clinton's deceptions are ludicrous. Politicians and journalists who are indignant that he lied about sex with "that woman," were silent when he deceived the nation about the need to bomb a "nerve gas plant" in the Sudan. His administration could produce no evidence that the plant was anything but what the Sudanese government said it was-a plant that produced medicines for the Sudanese people.

Chống lại mọi sự dối trá lịch sử với cái kết quả biết bao mạng dân vô tội, sự dối trá của Clinton thật xoàng xĩnh. Các chính trị gia và các nhà báo làm ra vẻ căm phẫn với chuyện tính dục của ông ta với “mụ đàn bà kia”, lại câm như hến khi ông ta dối cả nước về sự cần thiết phải ném bom vào một “xưởng sản xuất hơi độc” tại Sudan. Bộ máy hành chính của ông ta không đưa ra được một minh chứng nào về việc này, đối chất với sự khẳng quyết của Chính phủ Sudan, là “căn cứ sản xuất” đó là nơi bào chế y-dược cho dân Sudan.


The president has lost his "moral authority," it is said, because of his lies about his sexual behavior. Did he-and indeed both Republicans and Democrats in Congress-not lose their moral authority when they took away basic benefits from single mothers, and food stamps from immigrants, when they failed to provide universal medical care, while spending hundreds of billions on an unnecessary military machine?

Tổng thống đã mất vẻ “quyền uy luân lý”, như người ta than thở, vì ông ta nói dối về chuyện tính dục của mình. Vậy ông ta – cả Cộng hòa và Dân chủ trong Quốc hội – có mất quyền uy luân lý không – khi họ tước đi quyền lợi căn bản của các bà mẹ độc thân, quyền sử dụng phiếu thực phẩm của người di dân, khi họ thất bại trong việc không thực hiện được quyền săn sóc y tế toàn cõi, trong khi phung phí hàng trăm tỉ Mỹ kim để phục vụ cho guồng máy chiến tranh không cần thiết?




We are seeing a shocking loss of perspective on the part of political leaders, the press, and the public. If politicians and journalists have lost their sense of moral proportion, must we, as citizens lose ours? Should we not pull back from our obsession with lies about sex, and concentrate on finding out the truth about policies that mean life or death for people in this country and all over the world?

Chúng ta đang kinh hoàng nhìn thấy sự mất viễn ảnh trong giới chính trị gia, báo chí, và công chúng. Nếu chính trị gia và các nhà báo đã mất ý niệm luân lý, thì chúng ta, những công dân đã có mất như họ không? Chúng ta có nên bớt sự chú trọng về chuyện tính dục dối trá, để tâm vào chuyện nhìn ra sự thật về các chính sách liên quan đến sự sống chết của bao mạng người, ngay tại nước này, cũng như ở các nước khác?


chú thích của người dịch:

(1) Trước Thế Chiến II đã có nói dối rồi.

(2) H. Zinn có lẽ sót mất chuyện, là ở Đông Dương, cả Lào cũng bị ném bom – không tuyên chiến.


Translated by Vũ Huy Quang

http://www.thirdworldtraveler.com/Zinn/Presidential_Liars_HZOH.html