MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Friday, August 17, 2012

LIPSTICK ON YOUR COLLAR




LIPSTICK ON YOU COLLAR
VẾT SON TRÊN CỔ ÁO

Connie Francis

Connie Francis
(Yeah, yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.)
(Yeah, yeah, yeah, yeah, yeah, yeah.)


When you left me all alone at the record hop
Told me you were goin' out for a soda pop
You were gone for quite a while, half an hour or more
You came back and man oh, man, this is what I saw.

Khi đang ngồi chơi trong quán ăn
Anh kêu rằng anh muốn đi
Đi mua một bao thuốc lá thơm
Trong ngôi chợ bên góc đường

Anh ra đi sao thấy hơi lâu
Đi qua 30 phút hơn
Khi anh vô trong mắt anh sao
Thấy có những nét dối gian

Lipstick on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue
Bet your bottom dollar you and I are through
Cause, lipstick on you collar told a tale on you, yeah.

Kìa son môi trên áo anh
Thì ra anh đã dối em
Kìa son môi trên áo anh
Nhìn sao anh không nói thêm
Đã thế chớ trách sao
Em không yêu anh đâu
Vết son môi in trên cổ áo
Chẳng thèm anh nữa đâụ


You said it belonged to me, made me stop and think
Then I noticed yours was red, mine was baby pink
Who walked in but Mary Jane, lipstick all a mess
Were you smoochin' my best friend, guess the answers yes.

Anh nói rằng son kia của em
Em chau mày thêm tức thêm giận
Son em màu hồng tươi hãy xem
Son kia màu đỏ thẫm như mận

Anh bôi son cô đó hay sao
Son môi lem nhem thấy nghê
Anh đã đưa cô ta tới nơi đâu
Bao lâu nay anh đã đi

Lipstick on you collar told a tale on you
Lipstick on you collar said you were untrue
Bet your bottom dollar you and I are through
Cause, lipstick on you collar told a tale on you, boy.

Kìa son môi trên áo anh
Thì ra anh đã dối em
Kìa son môi trên áo anh
Nhìn xem em không nói thêm

Told a tale on you, man.
Told a tale on you, yeah.
Told a tale on you...
Đã thế chớ trách sao
Em không yêu anh đâu
Vết son môi in trên cổ áo
Chẳng thèm anh nữa đâu ...... nhe !


Sunday, August 12, 2012

The South China Sea - Troubled waters Biển Đông – Vùng biển rắc rối




The South China Sea - Troubled waters

Biển Đông –  Vùng biển rắc rối

by Banyan
Banyan

Aug 6th 2012
6/8/2012


LONG a zone of contention among a number of littoral states, the South China Sea is fast becoming the focus of one of the most serious bilateral disputes between America and China. Over the weekend China’s foreign ministry summoned an American diplomat to express “strong dissatisfaction and resolute opposition” to a statement issued by the state department on August 3rd.

Là một khu vực tranh chấp giữa các nước duyên hải, từ lâu Biển Đông nhanh chóng trở thành tâm điểm của một trong những tranh chấp song phương nghiêm trọng nhất giữa Mỹ và Trung Quốc. Cuối tuần qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc triệu tập một nhà ngoại giao Hoa Kỳ để bày tỏ “sự bất bình mạnh mẽ và cương quyết phản đối” về một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 3 tháng 8.  


Tensions in the sea have mounted this year, especially between China and the Philippines on the one hand, and between China and the Vietnam on the other. Although there has not been a serious armed clash in the sea since 1988, and none is likely now, there are worries that in the current climate some low-level confrontation might escalate by accident.


Năm nay, các vụ căng thẳng trên biển đã gia tăng cao, nhất là giữa Trung Quốc và Phillippines và mặt khác, giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mặc dù đã không có một cuộc va chạm quân sự nghiêm trọng nào xảy ra trên biển kể từ năm 1988, và bây giờ cũng khó có thể xảy ra, đã có những mối lo ngại rằng với tình hình hiện tại thì một cuộc đối đầu ở mức độ nhẹ có thể leo thang bất ngờ.

The specific Chinese complaint this weekend was over America’s criticism of its recent upgrading of the administrative level of Sansha city, on one of the Paracel islands (known in China as the Xisha), from a county to a prefecture, and the establishment of a new military garrison there. In its riposte China judged its own decision to be “normal and reasonable”, though only a few hundred people live on the islets covered by the vast new maritime prefecture.

Than phiền chính yếu của Trung Quốc là sự chỉ trích của Hoa Kỳ về việc Trung Quốc nâng cấp hành chính của thành phố Tam Sa, trên một hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa), từ cấp huyện hạt lên cấp quận, và việc thành lập một đơn vị đồn trú quân đội mới ở đó. Trong lời đáp trả, Trung Quốc xem quyết định của họ là “bình thường và hợp lý”, cho dù chỉ có vài trăm người sống trên những đảo nhỏ, bao quanh cái quận trên biển mới thành lập đó là vùng nước mênh mông.


More broadly, China complains that America is taking sides in the many territorial disputes in the sea. China and Taiwan both claim virtually all the sea. Vietnam claims the Paracels, from which it was evicted by China in 1974, as well as the Spratly chain further to the south. In the south both overlap extensively with the exclusive economic zone the Philippines claims under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).


Một cách tổng quát hơn, Trung Quốc than phiền rằng Hoa Kỳ chọn phe trong nhiều tranh chấp lãnh thổ trên biển. Cả Trung Quốc và Đài Loan đều đòi chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Việt Nam đòi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa do đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm năm 1974, cũng như chuỗi đảo Trường Sa về phía nam. Trong vùng biển phía nam, đòi hỏi của cả hai nước [Trung Quốc và Việt Nam] đều chồng lấn với tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế của Philippines theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Further complicating things, Malaysia and Brunei also have smaller territorial claims, and the regional club to which they, the Philippines and Vietnam all belong, the Association of South-East Asian Nations (ASEAN), has tried to play a co-ordinating and mediating role.


Càng phức tạp hơn, Malaysia và Brunei cũng có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhỏ hơn, và Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) mà Việt Nam và Philippines là thành viên, đã cố gắng thực hiện vai trò liên lạc và hòa giải.


America insists it is entirely neutral on the territorial disputes. However China has long seen it as a troublemaker, especially since, at a security forum in Hanoi two years ago, Hillary Clinton, the secretary of state, declared the United States’ “national interest” in the affairs of the sea.

Hoa Kỳ nhấn mạnh vai trò trung lập của mình trong các tranh chấp lãnh thổ. Nhưng Trung Quốc vẫn xem Hoa Kỳ là kẻ gây rối, nhất là kể từ khi tại Diễn đàn An ninh Khu vực ở Hà Nội hai năm trước, bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” đối với các vấn đề trên biển.


China blames America for encouraging—and perhaps even instigating—a more aggressive approach from both the Philippines and Vietnam. It asks why the American statement chose “to turn a blind eye” to what China sees as provocations by (unnamed) other countries.


Trung Quốc đổ lỗi cho Hoa Kỳ đã khuyến khích – và có lẽ ngay cả kích động – một thái độ hung hăng hơn từ Phillippines và Việt Nam. Trung Quốc đặt câu hỏi tại sao tuyên bố của Hoa Kỳ chọn thái độ “làm ngơ” trước những điều Trung Quốc coi là sự khiêu khích bởi những quốc gia khác (không nêu tên).


This is a reference to Vietnam’s adoption of a maritime law asserting its territorial claims, and to recent disputes with it and the Philippines over fishing and the opening of disputed waters to oil and gas exploration. One reason tempers are rising is that the seas are so abundant in resources.


Điều này ám chỉ việc Việt Nam phê chuẩn luật biển, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và những tranh chấp mới đây với Trung Quốc và Philippines về vấn đề đánh bắt cá và mở [thầu] các vùng biển tranh chấp để khai thác dầu khí. Một lý do cho các cơn thịnh nộ gia tăng là vùng biển có quá nhiều tài nguyên.


The most serious recent confrontation, between the Philippines and China over the Scarborough Shoal, has eased after both sides withdrew their armed patrols and competing fishing boats, as storms approached. But the Philippines says the Chinese boats left the mouth of the lagoon roped off to prevent other fishermen from entering.

Cuộc đối đầu nghiêm trọng nhất gần đây giữa Philippines với Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough đã giảm cường độ sau khi cả hai bên rút các tàu tuần tra có trang bị vũ trang và tàu đánh cá về, khi những cơn bão ập tới. Nhưng Philippines nói các tàu Trung Quốc đã để lại dây chắn ngang cửa bãi cạn để ngăn cản ngư dân lui tới.


The American statement backs the multilateral approach to the disputes championed by ASEAN. Its members are still smarting over their failure—for the first time in the organisation’s 45-year history—to agree on a joint statement after their annual foreign ministers’ meeting, which they held last month in Phnom Penh. It was blocked because Cambodia, a faithful Chinese client, refused to accept wording on the South China Sea demanded by some of its fellow members.

Tuyên bố của Mỹ ủng hộ phương pháp đa phương để giải quyết tranh chấp do ASEAN chủ trương. Các thành viên ASEAN vẫn đang khổ sở về sự thất bại của họ – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm kể từ khi tổ chức này thành lập – về việc cho ra một tuyên bố chung sau cuộc họp giữa các bộ trưởng ngoại giao hàng năm, đã tổ chức hồi tháng trước tại Phnom Penh. Bản tuyên bố chung đã bị ngăn chặn bởi vì Cambodia, một thân chủ trung thành với Trung Quốc, đã từ chối không chấp nhận cách diễn đạt về biển Đông theo yêu cầu của một số thành viên khác. 


Dogged Indonesian diplomacy subsequently managed to cobble together a palatable, if bland, ASEAN position on the sea. China is working (ever so slowly) with ASEAN towards a regional code of conduct to lessen the risks of conflict. But it insists the territorial disputes are a series of bilateral issues. It does not want its smaller neighbours ganging up on it, still less if they are backed up by America.


Đường lối ngoại giao bền bỉ của Indonesia tiếp theo đã cố hàn gắn lại tình trạng có thể chấp nhận được, cho dù tẻ nhạt, lập trường của ASEAN về Biển Đông. Trung Quốc đang làm việc (một cách quá chậm) với ASEAN về bộ quy tắc ứng xử khu vực để làm giảm những nguy cơ xung đột. Nhưng Trung Quốc nhấn mạnh các tranh chấp lãnh thổ là vấn đề song phương. Trung Quốc không muốn những nước láng giềng nhỏ hơn quy tụ lại để chống [Trung Quốc], càng không muốn các nước này được Mỹ hỗ trợ.       


It has a point when it says that the American statement was one-sided. And it must be suspicious that, despite its denials, America is backing its rivals’ claims. Mrs Clinton, for example, has taken to using the term “the West Philippine Sea”. It is also understandable for China to fear that America is trying to capitalise on the disputes, to cement its position in the region, in keeping with the global “rebalancing” of its military posture in favour of Asia and the Pacific.


Trung Quốc có lý do để nói rằng tuyên bố của Hoa Kỳ là đứng về một phe. Và họ hẳn phải nghi ngờ rằng, mặc dù chối bỏ, Hoa Kỳ đang hỗ trợ tuyên bố của các đối thủ của Trung Quốc. Chẳng hạn như, bà Clinton đã dùng cụm từ “Biển Tây Philippines”. Điều cũng dễ hiểu là Trung Quốc sợ Hoa Kỳ trục lợi trong vấn đề tranh chấp để củng cố vị thế trong khu vực, qua việc “tái cân bằng” lực lượng quân sự nghiêng về châu Á – Thái Bình dương.

That the American approach is broadly appreciated in the region, however, must give China pause. There are two reasons for the welcome to America. The first is the perception that China has become more strident and more of a bully in asserting its claims.

Tuy nhiên, sự tiếp cận của Hoa Kỳ được hoan nghênh rộng rãi trong khu vực, đã phải làm cho Trung Quốc khựng lại. Có hai lý do để chào đón Hoa Kỳ. Thứ nhất là, nhận thức rằng Trung Quốc đã trở nên hung hăng và bắt nạt hơn trong việc xác lập chủ quyền.


The second is that it remains unclear what those claims are based on. China couches many of its statements by reference to the islands, islets and rocks over which it claims sovereignty, and their associated waters, as if it were following UNCLOS. But it has not renounced the “nine-dashed line” (see map) which it says gives it historic rights over virtually the entire sea. China’s neighbours have reason to worry China sees their sea as its lake
Thứ hai là Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng về các tuyên bố đó dựa trên cơ sở gì. Trung Quốc diễn tả trong nhiều tuyên bố có nhắc tới các hòn đảo, đảo nhỏ và đá mà họ tuyên bố chủ quyền, và các các vùng biển liên quan, như thể họ tuân theo luật lệ của UNCLOS. Nhưng Trung Quốc đã không từ bỏ “đường chín đoạn” (xem ảnh) mà họ cho rằng họ có chủ quyền lịch sử đối với toàn bộ khu vực. Các nước láng giềng của Trung Quốc có lý để lo sợ Trung Quốc xem biển của họ như ao nhà của Trung Quốc.




Translated by Trần Văn Minh




http://www.economist.com/blogs/analects/2012/08/south-china-

No More Growth Miracles Không còn những kỳ tích phát triển






No More Growth Miracles

Không còn những kỳ tích phát triển
Dani Rodrik
Dani Rodrik

Theo Project Syndicate
Aug. 8, 2012
Theo Project Syndicate
8/8/2012


CAMBRIDGE – A year ago, economic analysts were giddy with optimism about the prospects for economic growth in the developing world. In contrast to the United States and Europe, where the growth outlook looked weak at best, emerging markets were expected to sustain their strong performance from the decade preceding the global financial crisis, and thus become the engine of the global economy.

CAMBRIDGE – Một năm trước, các nhà phân tích kinh tế còn đang quay cuồng với những dự đoán lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Ngược lại với Hoa Kỳ và Châu Âu, nơi mà tăng trưởng – nếu có – chỉ là èo uột, các thị trường mới nổi dự kiến sẽ tiếp tục duy trì tốc độ phát triển mạnh mẽ của một thập niên trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, và do đó trở thành động cơ chính của nền kinh tế toàn cầu.


Economists at Citigroup, for example, boldly concluded that circumstances had never been this conducive to broad, sustained growth around the world, and projected rapidly rising global output until 2050, led by developing countries in Asia and Africa. The accounting and consulting firm PwC predicted that per capita GDP growth in China, India, and Nigeria would exceed 4.5% well into the middle of the century. The consulting firm McKinsey & Company christened Africa, long synonymous with economic failure, the land of “lions on the move.”

Ví dụ, các nhà kinh tế tại Citigroup mạnh dạn kết luận rằng chưa bao giờ có những điều kiện thuận lợi để đạt được tốc độ phát triển rộng rãi và bền vững trên toàn cầu như hiện nay, và dự kiến sản lượng toàn cầu sẽ tăng nhanh cho tới năm 2050, dẫn dắt bởi các quốc gia đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi. Công ty kế toán và tư vấn PwC dự đoán rằng GDP theo đầu người ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nigeria sẽ tăng hơn 4,5% [mỗi năm] vào giữa thế kỷ này. Công ty tư vấn McKinsey & Company chúc phúc cho Châu Phi, một nơi từ lâu vẫn đồng nghĩa với sự thất bại kinh tế, gọi đây là mảnh đất của ”những con sư tử thức giấc”.


Today, such talk has been displaced by concern about what The Economist calls “the great slowdown.” Recent economic data in China, India, Brazil, and Turkey point to the weakest growth performance in these countries in years. Optimism has given way to doubt.

Tới hôm nay, những dự đoán như thế đã bị thay thế bởi lo ngại về cái mà tờ Economist gọi là ”đại suy thoái”. Những dữ liệu kinh tế gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin và Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra rằng các quốc gia này đang trải nghiệm một tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Sự lạc quan đang nhường chỗ cho nghi ngờ.


Of course, just as it was inappropriate to extrapolate from the previous decade of strong growth, one should not read too much into short-term fluctuations. Nevertheless, there are strong reasons to believe that rapid growth will prove the exception rather than the rule in the decades ahead.

Tất nhiên, cũng giống như không nên dùng tốc độ tăng trưởng mạnh của thập niên vừa rồi để dự đoán tương lai, chúng ta không nên quá tin vào những biến động ngắn hạn. Tuy nhiên, có nhiều lý do chính đáng để tin rằng tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ sẽ chỉ là trường hợp ngoại lệ, chứ không phải hiện tượng phổ biến, trong vài thập niên tới.

To see why, we need to understand how “growth miracles” are made. Except for a handful of small countries that benefited from natural-resource bonanzas, all of the successful economies of the last six decades owe their growth to rapid industrialization. If there is one thing that everyone agrees on about the East Asian recipe, it is that Japan, South Korea, Singapore, Taiwan, and of course China all were exceptionally good at moving their labor from the countryside (or informal activities) to organized manufacturing. Earlier cases of successful economic catch-up, such as the US or Germany, were no different
Để thấy lý do tại sao, chúng ta cần phải hiểu ”những nền kinh tế phát triển thần kỳ” này được tạo ra bằng cách nào. Ngoại trừ một số ít quốc gia nhỏ bé hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên, tất cả những nền kinh tế thành công trong 60 năm qua đều phát triển nhờ quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng. Nếu có một thứ mà mọi người có thể nhất trí về ”công thức [phát triển] Đông Á”, thì đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và tất nhiên cả Trung Quốc đều rất giỏi trong việc dịch chuyển lực lượng lao động của mình từ nông thôn sang nền sản xuất có tổ chức. Những trường hợp của các nền kinh tế thành công trong việc bắt kịp với các quốc gia giàu có hơn trước đây, như Hoa Kỳ hay Đức, cũng không khác biệt.


Manufacturing enables rapid catch-up because it is relatively easy to copy and implement foreign production technologies, even in poor countries that suffer from multiple disadvantages. Remarkably, my research shows that manufacturing industries tend to close the gap with the technology frontier at the rate of about 3% per year regardless of policies, institutions, or geography. Consequently, countries that are able to transform farmers into factory workers reap a huge growth bonus.


Sản xuất cho phép đuổi kịp nhanh chóng bởi vì nó tương đối dễ sao chép và thực thi các công nghệ sản xuất của nước ngoài, ngay cả ở những quốc gia nghèo đang rất nhiều khó khăn. Điều đáng chú ý là, nghiên cứu của tôi cho thấy các nước công nghiệp sản xuất có xu hướng rút ngắn khoảng cách công nghệ với tỷ lệ trung bình 3% một năm, bất chấp sự khác biệt về khu vực địa lý, chính sách hay thể chế. Kết quả là các quốc gia có khả năng biến nông dân thành công nhân nhà máy sẽ gặt hái một tốc độ tăng trưởng thần tốc.


To be sure, some modern service activities are capable of productivity convergence as well. But most high-productivity services require a wide array of skills and institutional capabilities that developing economies accumulate only gradually. A poor country can easily compete with Sweden in a wide range of manufactures; but it takes many decades, if not centuries, to catch up with Sweden’s institutions.

Chắc chắn là một số hoạt động dịch vụ hiện đại cũng có khả năng giúp các quốc gia chậm phát triển đuổi kịp các quốc gia phát triển về năng lực sản xuất. Nhưng phần lớn các dịch vụ có năng suất cao lại cần nhiều kỹ năng và thể chế mà các quốc gia phát triển chỉ có thể tích lũy từ từ. Một quốc gia nghèo có thể nhanh chóng cạnh tranh với Thụy Điển ở nhiều ngành sản xuất; nhưng nó phải mất nhiều thập niên, nếu không nói thế kỷ, để bắt kịp với Thụy Điển về mặt thể chế.

Consider India, which demonstrates the limitations of relying on services rather than industry in the early stages of development. The country has developed remarkable strengths in IT services, such as software and call centers. But the bulk of the Indian labor force lacks the skills and education to be absorbed into such sectors. In East Asia, unskilled workers were put to work in urban factories, making several times what they earned in the countryside. In India, they remain on the land or move to petty services where their productivity is not much higher.

Hãy xem ví dụ Ấn Độ, để thấy hạn chế trong việc dựa vào dịch vụ thay vì công nghiệp trong giai đoạn đầu quá trình phát triển. Ấn Độ đã phát triển rất mạnh trong lĩnh vực dịch vụ tin học, như phần mềm và các trung tâm chăm sóc khách hàng (call center). Nhưng một số lượng lớn lực lượng lao động Ấn Độ thiếu kỹ năng và giáo dục để có thể được hấp thu vào khu vực dịch vụ này. Ở Đông Á, lao động không có trình độ được đưa vào làm việc ở các nhà máy, kiếm được vài lần so với số tiền họ kiếm được ở nông thôn. Ở Ấn Độ, những người này tiếp tục ở lại nông thôn hoặc dịch chuyển vào những khu vực dịch vụ nhỏ bé, nơi năng suất của họ không cao hơn là bao.


Successful long-term development therefore requires a two-pronged push. It requires an industrialization drive, accompanied by the steady accumulation of human capital and institutional capabilities to sustain services-driven growth once industrialization reaches its limits. Without the industrialization drive, economic takeoff becomes quite difficult. Without sustained investments in human capital and institution-building, growth is condemned to peter out.


Do đó, phát triển dài hạn thành công cần được thúc đẩy từ hai hướng: Nó cần có động lực từ công nghiệp hóa, đi kèm với sự tích lũy ổn định về vốn xã hội và khả năng thể chế để duy trì một nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng dịch vụ, một khi công nghiệp hóa đã đạt tới giới hạn. Không có sự thúc đẩy của công nghiệp hóa, sự cất cánh của nền kinh tế trở nên khó khăn. Nhưng không có đầu tư bền vững vào vốn con người và việc xây dựng thể chế, thì sự tăng trưởng sẽ có ngày cạn kiệt.


But this time-tested recipe has become a lot less effective these days, owing to changes in manufacturing technologies and the global context. First, technological advances have rendered manufacturing much more skill- and capital-intensive than it was in the past, even at the low-quality end of the spectrum. As a result, the capacity of manufacturing to absorb labor has become much more limited. It will be impossible for the next generation of industrializing countries to move 25% or more of their workforce into manufacturing, as East Asian economies did.


Nhưng ngày nay công thức đã được thời gian thử nghiệm này trở nên kém hiệu quả hơn nhiều, bởi những thay đổi trong công nghệ sản xuất và bối cảnh toàn cầu. Thứ nhất, các tiến bộ công nghệ đã khiến sản suất thâm dụng vốn và cần trình độ cao hơn trước, ngay cả ở phân đoạn chất lượng thấp. Kết quả là, khả năng hấp thụ lực lượng lao động của khu vực sản xuất ngày càng giảm. Và nó sẽ rất khó để các nước công nghiệp hóa thế hệ kế tiếp chuyển 25% hoặc hơn lực lượng lao động của mình vào khu vực sản xuất, như cách mà các nền kinh tế Đông Á đã thành công.


Second, globalization in general, and the rise of China in particular, has greatly increased competition on world markets, making it difficult for newcomers to make space for themselves. Although Chinese labor is becoming more expensive, China remains a formidable competitor for any country contemplating entry into manufactures.


Thứ hai, toàn cầu hóa nói chung, và sự trỗi dậy của Trung Quốc nói riêng, đã làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường thế giới lên rất nhiều, gây trở ngại cho các quốc gia mới nổi tiến vào không gian này. Mặc dù lao động ở Trung Quốc ngày càng trở nên đắt đỏ hơn, Trung Quốc vẫn là một đối thủ cạnh tranh đáng gờm cho bất kỳ quốc gia nào dự tính tiến vào lĩnh vực sản xuất.


Moreover, rich countries are unlikely to be as permissive towards industrialization policies as they were in the past. Policymakers in the industrial core looked the other way as rapidly growing East Asian countries acquired Western technologies and industrial capabilities through unorthodox policies such as subsidies, local content requirements, reverse engineering, and currency undervaluation. Core countries also kept their domestic markets open, allowing East Asian countries to export freely the manufactured products that resulted.


Hơn nữa, các quốc gia giàu có không còn bi quan về các chính sách công nghiệp hóa như họ đã từng trong quá khứ. Các nhà hoạch định chinh sách trong các quốc gia công nghiệp phát triển đã nhìn ra chỗ khác khi các quốc gia phát triển nhanh chóng ở Đông Á thu thập công nghệ và trình độ kỹ thuật phương Tây thông qua các chính sách không chính thống như trợ cấp, đòi hỏi nội địa hóa, nghiên cứu đảo ngược (reverse engineering), và định giá nội tệ thấp. Các quốc gia này cũng đã để ngỏ thị trường của mình cho các quốc gia Đông Á xuất khẩu thoải mái các mặt hàng đầu ra của nền sản xuất.

Now, however, as rich countries struggle under the combined weight of high debt, low growth, unemployment, and inequality, they will apply greater pressure on developing nations to abide by World Trade Organization rules, which narrow the space for industrial subsidies. Currency undervaluation à la China will not go unnoticed. Protectionism, even if not in overt form, will be politically difficult to resist.

Giờ đây, các quốc gia giàu đang phải vận lộn với nợ, phát triển èo uột, thất nghiệp và bất bình đẳng; họ sẽ tạo áp lực lớn hơn để các quốc gia phát triển phải tuân thủ các luật lệ của WTO, giảm bớt liều lượng trợ cấp cho nền công nghiệp. Đánh giá thấp tiền tệ như kiểu Trung Quốc sẽ khó tránh khỏi sự chú ý. Chủ nghĩa bảo hộ, dù không phải dưới hình thức công khai, cũng sẽ khó phản đối về mặt chính trị.

Manufacturing industries will remain poor countries’ “escalator industries,” but the escalator will neither move as rapidly, nor go as high. Growth will need to rely to a much greater extent on sustained improvements in human capital, institutions, and governance. And that means that growth will remain slow and difficult at best.

Các ngành công nghiệp sản xuất sẽ tiếp tục là ”cái thang cuốn” cho các nước nghèo, nhưng thang cuốn này có thể không di chuyển nhanh, hay cao như trước. Phát triển sẽ phải dựa nhiều hơn vào sự tích lũy bền vững của vốn xã hội, thể chế và khả năng quản lý của nhà nước. Và điều này có nghĩa là phát triển có lẽ sẽ chậm và khó khăn.
Dani Rodrik is a professor at Harvard University’s Kennedy School of Government and a leading scholar of globalization and economic development.

Dani Rodrik là giáo sư tại Khoa Chính phủ học Kennedy thuộc Đại học Harvard và là học giả hàng đầu về toàn cầu hóa và phát triển kinh tế.

Translated by Nguyễn Công Huân


http://www.project-syndicate.org/commentary/no-more-growth-miracles-by-dani-rodrik

Saturday, August 11, 2012

China’s South China Sea jurisdictional claims: when politics and law collide Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột


 


China’s South China Sea jurisdictional claims: when politics and law collide

Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột
Sourabh Gupta

Sourabh Gupta

East Asia Forum
July 29, 2012
East Asia Forum
29/7/2012


A running thread through the tensions at various Southeast Asian regional forums over the past four summers has been the uncertainty and insecurity generated by China’s jurisdictional claims in the South China Sea.

Một chủ đề đã và đang được các nước bàn luận về những căng thẳng tại các diễn đàn khu vực Đông Nam Á khác nhau trong bốn mùa hè vừa qua thì trong tình trạng không rõ ràng và bấp bênh, được tạo ra bởi các tuyên bố về quyền tài phán của Trung Quốc trên biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam).


Legally, China claims sovereignty over the disputed islands and adjacent waters inthe Sea and sovereign rights over relevant waters as well as the seabed and subsoil there of — a claim in accordance with Law of the Seas (LOS) norms. But operationally, China’s oceanic law enforcement agencies have unilaterally, and at times forcefully, enforced their writ across the more expansive political perimeter bounded by the ‘nine - dashed line’.

Về mặt pháp lý, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên các đảo tranh chấp và vùng biển lân cận và các quyền chủ quyền trên vùng biển liên quan, cũng như dưới đáy biển và trong lòng đất ở đó – một yêu sách dựa theo các quy định về Luật Biển. Tuy nhiên, về mặt thi hành, các cơ quan thực thi luật biển của Trung Quốc đã đơn phương, và đôi khi một cách áp đặt, thi hành lệnh của họ trên vành đai chính trị mở rộng hơn, gắn với ‘đường chín đoạn đứt khúc’.


Plainly, these legal and political claims overlap but do not coincide. However, endlessdwelling on the supposedly impenetrable logic of the nine-dashed line’s extremity is side-tracking attention from what ought to be the central premise of this issue: that China’s claim to the primary land elements lying within the nine-dashed line — theSpratlys and the Paracels — is markedly superior to those of its rival claimants.

Rõ ràng, các tuyên bố về pháp lý và chính trị này chồng lên nhau nhưng không trùng khớp nhau. Tuy nhiên, nghĩ mãi về điều được cho là logic cốt lõi đằng sau đường chín đoạn đứt khúc là việc đánh lạc hướng sự chú ý đến điều phải là tiền đề trọng tâm của vấn đề này: Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các yếu tố đất đai chính, nằm trong đường chín đoạn đứt khúc – quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – rõ ràng là thuận lợi hơn so với các đối thủ đòi chủ quyền của họ.


Alone among claimants, China is capable of coupling ‘continuous and effective occupation’ of the islands, islets and reefs with a robust modern international law -based claim backed by relevant multilateral and bilateral instruments.

Một mình trong các nước tranh chấp, Trung Quốc có khả năng nối kết chuyện ‘chiếm đóng liên tục và hiệu quả’ các hòn đảo, đảo nhỏ và rặng san hô ngầm, với tuyên bố dựa trên luật pháp quốc tế hiện đại, mạnh mẽ, được hỗ trợ bằng các công cụ song phương và đa phương có liên quan.


In 1952, Japan renounced all right, title and claim to the Spratly and Paracel Islands to the Republic of China (Taiwan), by way of Article 2 of the bilateral Japan  – Taiwan Treaty of Taipei. This treaty followed — and referenced — the territorial renunciations of the Islands by Japan under the 1951 San Francisco Peace Treaty, which had not identified the beneficiary at the time — a treaty that was ratified byboth the Philippine and (South) Vietnamese governments. And although neithercountry is bound by provisions in the bilateral Japan  – Taiwan treaty, neither canproduce a Spratlys/Paracels cession or reversion clause in their own bilateral treatieswith Japan. Rather, their claims are supplementarily based on historical cartography in the case of Vietnam or, for the Philippines, ‘historical discovery’ that is (incredibly) of a post-World War II vintage!

Năm 1952, Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, từ bỏ giấy tờ xác nhận quyền sở hữu và từ bỏ tuyên bố chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đối với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), theo Điều 2 của Hiệp ước Đài Bắc, một hiệp ước song phương giữa Nhật Bản – Đài Loan. Hiệp ước này theo sau – và đã nhắc đến – là sự từ bỏ [chủ quyền] lãnh thổ của Nhật Bản đối với các hòn đảo theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951, Hiệp ước đã không xác định nước thụ hưởng vào thời điểm đó – một hiệp ước đã được Philippines và Chính phủ (miền Nam) Việt Nam phê chuẩn. Và mặc dù cả hai nước không bị ràng buộc bởi các điều khoản trong hiệp ước song phương Nhật – Đài, nhưng không nước nào đưa ra sự nhượng lại hay điều khoản thu hồi quần đảo Trường Sa/ Hoàng Sa trong các hiệp ước song phương của họ với Nhật Bản. Thay vào đó, các tuyên bố phụ của họ dựa trên bản đồ lịch sử trong trường hợp Việt Nam, hay với Philippines là ‘khám phá lịch sử’ (khó tin) từ thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới thứ II!


At the end of the day, ultimate title cannot be said to rest with any one party so longas a territorial claim is not resolved by way of a binding instrument betweenclaimant states. At best, there are better claims and less-better claims to the territory in question. But given China’s law-based claim is superior to that of rivalclaimants, why does it persist with the infamous nine-dashed line [1]?


Tóm lại, cuối cùng thì giấy tờ xác nhận chủ quyền không thể nói là nên trao cho bất kỳ nước nào, với điều kiện là tuyên bố lãnh thổ không được giải quyết bằng một công cụ ràng buộc giữa các nước tuyên bố chủ quyền. Tốt nhất, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của nước này có lý hơn hoặc ít thuyết phục hơn nước kia, đang được bàn đến. Nhưng với tuyên bố dựa trên luật pháp của Trung Quốc đã đưa ra thì vượt trội so với các tuyên bố chủ quyền của các đối thủ của họ, vì sao họ vẫn khăng khăng với đường chín đoạn đứt khúc đáng hổ thẹn [1]?


As the successor government of Taiwan, the mundane reason is that Beijing is proceeding from the claim line that it inherited from the Chiang Kai-shek regime asthe baseline for negotiation and compromise in an open territorial dispute. Beijing’s approach to negotiating its Himalayan boundary dispute with India is no different inthis regard. But the technical reason is more complicated. Were China to submit an LOS-compliant claim to its outer continental shelf limits in the South China Sea, the  UN Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS), tasked with examining its validity, would almost certainly strike down parts of the submission.
Khi chính phủ Đài Loan kế nhiệm, lý do quen thuộc là Bắc Kinh đang tiến hành đòi những phần mà họ thừa hưởng từ chế độ Tưởng Giới Thạch, như là chuẩn mực để đàm phán và thỏa hiệp trong một vụ tranh chấp lãnh thổ mở rộng. Phương pháp của Bắc Kinh trong đàm phán tranh chấp biên giới Hy Mã Lạp Sơn với Ấn Độ thì không khác nhau về mặt này. Nhưng lý do kỹ thuật thì phức tạp hơn. Trung Quốc có đệ trình tuyên bố chủ quyền tuân theo Luật Biển đối với các ranh giới bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông hay không, Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) kiểm tra tính hợp lệ của nó, gần như chắc chắn sẽ làm mất hiệu lực các phần trong nội dung đệ trình.


The CLCS appears on track to derecognising Japan’s claim that the two high–tide elevations — totally the size of five tatami mats — within the Okinotori atolls in the Pacific are in fact ‘islands’ capable of generating an EEZ (that is ironically larger in dimension than the land mass of Japan itself). By the same reasoning, many of the high-tide elevations under Beijing’s control in the South China Sea would be found to be mere ‘rocks’. Although CLCS findings are non - enforceable, it would dent China’s case to certain disputed resource-rich zones within the Sea — hence its preference for the nine-dashed line.

Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa sẽ có mặt đúng lúc để không thừa nhận tuyên bố của Nhật về hai vùng [đảo đá] nằm trên mặt nước khi thủy triều dâng cao – kích thước tổng cộng bằng năm chiếc chiếu tatami – trên các đảo san hô Okinotori ở Thái Bình Dương là “các hòn đảo” có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế (trớ trêu thay, nó lớn hơn toàn bộ đất đai của nước Nhật Bản). Cũng với lập luận tương tự, nhiều vùng [đảo đá] nằm trên mặt biển khi thủy triều dâng cao do Bắc Kinh kiểm soát trên Biển Đông, sẽ tìm thấy chỉ là ‘những hòn đá’. Mặc dù những phát hiện của Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa thì không được thi hành, nhưng nó sẽ làm suy yếu trường hợp của Trung Quốc đối với một số khu vực đang tranh chấp giàu tài nguyên trên biển – do đó sự họ ưu tiên đường chín đoạn đứt khúc.


The foremost motive for the nine- dashed line’s persistence is its intertwined character with the highly politicised, deterrence-based model of territorial dispute management that Beijing favours.
Động lực quan trọng nhất trong việc khăng khăng [đòi chủ quyền ở] đường chín đoạn đứt khúc là vấn đề đã bị chính trị hóa, mô hình quản lý tranh chấp lãnh thổ dựa trên sự ngăn chặn mà Bắc Kinh ưa chuộng

Territorial jurisdiction issues have never been treated as mere cartographic detail: they are tied to a larger political calculus of stability and good neighbourliness. In its maritime dimension, joint development of commonly held resources has been the established mode to implement this principle. Her
e, Manila’s misjudgement in abrogating its joint seismic study agreement with Vietnam and China in 2008(compounding the error by unilaterally issuing exploration licenses within a disputed section of the study area) has been the principal cause of the swift deterioration in bilateral ties with China.
Các vấn đề về quyền tài phán lãnh thổ chưa bao giờ chỉ được xem là chi tiết trong bản đồ: chúng được gắn với sự toan tính chính trị lớn hơn về sự ổn định và láng giềng tốt. Trong khuôn khổ hàng hải, việc khai thác chung ở những khu vực có tài nguyên là phương thức đã được thiết lập để thi hành nguyên tắc này. Ở đây, tính toán sai lầm của Manila trong việc bãi bỏ thỏa thuận nghiên cứu địa chấn chung với Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2008 (gom các sai lầm, đơn phương cấp giấy phép thăm dò trong vùng tranh chấp của khu vực nghiên cứu) là nguyên nhân chính gây ra sự suy thoái nhanh chóng trong quan hệ song phương với Trung Quốc.


Furthermore, territorial settlements have never been concluded under duress, and China’s rulers calibrate their approach between a hard -line and a flexible one to suitthe strategic circumstances at hand. The nine-dashed line has conveniently served as a hard-line expedient that Beijing’s competing maritime bureaucracies are not shy to lever to signal displeasure to other claimants.
Hơn nữa, việc giải quyết [tranh chấp] lãnh thổ chưa bao giờ được kết luận là do cưỡng ép, và những người cầm quyền Trung Quốc điều chỉnh phương pháp tiếp cận giữa một chính sách cứng rắn với một chính sách linh hoạt, thích hợp với tình huống chiến lược sắp tới. Đường chín đoạn đứt khúc thuận tiện trong việc phục vụ như là một chiến thuật cứng rắn mà những người quan liêu chạy đua trên biển của Bắc Kinh không dè dặt đưa ra để báo hiệu sự không hài lòng đối với các nước tuyên bố chủ quyền khác.

So what are the enabling circumstances that would motivate China to set the nine-dashed line aside and adhere to best international practice in issuing forth maritime  jurisdictional claims? Beijing has previously been willing to soften its inflated ‘natural prolongation’ principle with Korea and Japan to pursue fisheries and (in -principle) joint resource development, and the 2000 Gulf of Tonkin maritime delimitation agreement with Vietnam too was firmly in keeping with the highest international practices. Given the fast-paced development of international maritime law [2], which is accentuating the gap between political calculus-based and rules-based orders at sea, it is in China’s self-interest to submit an LOS-compliant claim to its outer continental-shelf limits in the South China Sea. Beijing’s gains in goodwill earned will far outweigh the territory, and resources, relinquished. It might also allow China leeway to subsequently initiate a region-wide conversation on introducing limits to objectionable, threat-based activities in EEZs by foreign navies, under the guise of navigational freedoms.


Vậy thì các tình huống có thể thúc đẩy Trung Quốc đặt đường chín đoạn đứt khúc qua một bên và tốt nhất tuân theo thông lệ quốc tế trong việc ban hành quy định về tuyên bố các quyền tài phán hàng hải sắp tới là gì? Trước đó, Bắc Kinh đã sẵn sàng nới lỏng nguyên tắc ‘mở rộng tự nhiên’ về mặt hình thức với Nam Hàn và Nhật Bản để theo đuổi nghề cá và (trên nguyên tắc) cùng hợp tác khai thác, và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 với Việt Nam cũng là để thi hành theo các thông lệ quốc tế cao nhất. Với sự phát triển nhanh của luật hàng hải quốc tế [2], bộ luật nhấn mạnh khoảng cách giữa trật tự dựa trên toan tính chính trị và trật tự dựa theo luật lệ trên biển, quyền lợi của chính Trung Quốc là đệ trình tuyên bố tuân theo Luật Biển về các giới hạn bên ngoài thềm lục địa trên Biển Đông. Lợi ích mà Bắc Kinh thu được về thiện chí sẽ nhiều hơn lợi ích về lãnh thổ và các nguồn tài nguyên, đã bị từ bỏ. Nó cũng có thể cho phép Trung Quốc có thêm thời gian để sau đó bắt đầu một cuộc đối thoại trên toàn khu vực về việc đưa ra các hạn chế khó chịu, các hoạt động đe dọa trong vùng đặc quyền kinh tế của các lực lượng hải quân nước ngoài, dưới vỏ bọc tự do đi lại.


Sourabh Gupta is Senior Research Associate at Samuels International Associates
Sourabh Gupta là nhà nghiên cứu cao cấp tại Samuels International Associates



Translated by by Duong Le Chi

Friday, August 3, 2012

Don’t Buy Any Chinese Products From August 1st To September 1st. And Beyond… Không Buy Bất kỳ sản phẩm Trung Quốc nào từ ngày 01 tháng 8 tới ngày 01 tháng 9. Và hơn thế nữa...




Don’t Buy Any Chinese Products From August 1st To September 1st. And Beyond…

Không Buy Bất kỳ sản phẩm Trung Quốc nào từ ngày 01 tháng 8 tới ngày 01 tháng 9. Và hơn thế nữa...

Well over 50 yrs ago I knew a lady who would not buy Christmas gifts if they were made in China. Her daughter will recognize her in the following.

Trên 50 năm trước đây, tôi biết được một bà nọ không thích mua quà Giáng Sinh nếu chúng được làm bên Tàu. Con gái bà ấy nhận rằng mẹ của mình đã phát biểu như sau.


Did y’all see Diane Sawyer’s special report? They removed ALL items from a typical, middle class family’s home that were not made in the USA .There was hardly anything left besides the kitchen sink. Literally. During the special they showed truckloads of items – USA made – being brought in to replace everything and talked about how to find these items and the difference in price etc.

Tất cả quý vị có thấy bài tường trình đặc biệt* của cô Diane Sawyer chưa ? Họ đã gỡ bỏ TẤT CẢ sản phẩm không phải của Mỹ (ra khỏi nhà bếp) của một gia đình trung lưu tiêu biểu. [và kết quả là] Không còn thấy bất cứ cái gì khác ngoài chậu rửa chén. Trong buổi tuờng trình đặc biệt đó, họ đã trình cho thấy những xe tải chở đầy hàng hóa – được làm tại Mỹ – đang được mang tới để thay thế mọi thứ, và bàn luận về cách tìm mua những hàng đó và sự sai biệt về giá cả vv…



*trên truyền hình đài ABC

It was interesting that Diane said if every American spent just $64 more than normal on USA made items this year, it would create something like 200,000 new jobs!


Điều thích thú là cô Diane đã nói rằng nều mọi người Mỹ chỉ tiêu thêm 64$ hơn mức bình thường để mua hàng của Mỹ trong năm nay, thì đìều này sẽ tạo được 200 ngàn công ăn việc làm mới !
I WAS BUYING FOOD THE OTHER DAY AT WALMART and ON THE LABEL OF SOME PRODUCTS IT SAID ‘FROM CHINA ‘. FOR EXAMPLE THE “OUR FAMILY” BRAND OF THE MANDARIN ORANGES SAYS RIGHT ON THE CAN ‘FROM CHINA ‘

Ngày hôm kia tôi mua thực phẩm tại cửa hàng Walmart và trên nhãn của một số hàng có ghi ‘LÀM TẠI TRUNG QUỐC’. Chẳng hạn nhãn hiệu ngay trên lon của loại quít “Our Family” ghi rõ ‘FROM CHINA’ )

I WAS SHOCKED SO FOR A FEW MORE CENTS I BOUGHT THE LIBERTY GOLD BRAND OR THE DOLE SINCE IT’S FROM CALIF.

Tôi bị choáng, cho nên bỏ thêm một vài xu, tôi đã mua được [cùng loại quít đó, dưới] nhãn hiệu LIBERTY GOLD BRAND hoặc DOLE vì nó được sản xuất từ Cali


Are we Americans as dumb as we appear — or — is it that we just do not think? The Chinese, knowingly and intentionally, export inferior and even toxic products and dangerous toys and goods to be sold in American markets.

Có phải chúng ta, là người Mỹ, tỏ ra ngớ ngẩn hay không – hoặc là – chỉ vì chúng ta không suy nghĩ ? Người Tàu họ ý thức rõ và cố tình xuất cảng những sản phẩm thấp kém và ngay cả độc hại, những đồ chơi và hàng hóa nguy hiểm để bán trong các chợ ở nước Mỹ.


70% of Americans,.. believe that thetrading privileges afforded to the Chineseshould be suspended.


70% dân Mỹ …nghĩ rằng các đặc quyền mua bán [mà chính quyền Mỹ] dành cho người Tàu cần phải bị đình chỉ.
Why do you need the government to suspend trading privileges? You Can..DO IT YOURSELF, AMERICA!


Tại sao quý vị lại cần chính quyền đình chỉ những đặc quyền mua bán này? Quý vị có thể TỰ LÀM ĐIỀU ĐÓ, HỠI MỸ QUỐC!


Simply look on the bottom of every product you buy, and if it says ‘Made in China ‘ or ‘PRC’ (and that now includes Hong Kong), simply choose another product, or none at all. You will be amazed at how dependent you are on Chinese products, and you will be equally amazed at what you can do without.


Chỉ đơn giản nhìn vào dưới mọi sản phẩm mà quý vị mua, nếu nó ghi “làm tại Trung Quốc” hoặc “PRC” (Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, nay gồm cả Hồng Kông) thì cũng đơn giản chọn một sản phẩm khác, hoặc là không mua gì cả. Quý vị sẽ cảm thấy kỳ lạ tại sao quý vị lại có thể bị lệ thuộc vào hàng hóa của Tàu đến thế và sẽ cảm thấy kỳ diệu không kém về những gì quý vị có thể làm mà không cần đến những sản phấm đó.


Who needs plastic eggs to celebrate Easter? If you must have eggs, use real ones and benefit some American farmer. Easter is just an example. The point is do not wait for the government to act. Just go ahead and assume control on your own.


Cần những quả trứng bằng nhựa để mừng lệ Phục Sinh ư ? Nếu quý vị phải cần đến trứng thì hãy dùng trứng thật để cho các nông gia Mỹ hưởng lợi. Trọng điểm là đừng chờ chính quyền hành động . Quý vị hãy tiến tới và nắm lấy quyền điều khiển lên chính bản thân mình.


THINK ABOUT THIS: If 200 million Americans each refuse to buy just $20 of Chinese goods, that’s a billion dollar trade imbalance resolved in our favor… fast!

HÃY NGHĨ ĐẾN ĐIỀU NÀY: Nếu mỗi một người trong 200 triệu người Mỹ từ chối không tiêu chỉ 20$ để mua hàng của Tàu thì mau chóng giải quyết được sự bất quân bình về mậu dịch là 1 tỷ dollar có lợì cho chúng ta.


Most of the people who have been reading about this matter are planning on implementing this on Aug. 1st and continue it until Sept. 1st. That is only one month of trading losses, but it will hit the Chinese for 1/12th of the total, or 8%, of their American exports. Then they might have to ask themselves if the benefits of their arrogance and lawlessness were worth it.



Hầu hết những người đã và đang đọc đến vấn đề này hẳn đang dự định bắt đầu thực thi nó vào ngày 1 tháng 8 này và tiếp tục cho đến ngày 1 tháng 9. Đó chỉ là một tháng để giải quyết những thất thoát về mậu dịch, nhưng nó sẽ đánh bọn Tàu khiến chúng mất đi 1/12 tổng sản lượng, hoặc 8% lượng sản phẩm xuất cảng của chúng qua Mỹ. Và chúng sẽ phải tự vấn rằng liệu những lợi lộc do sự ngạo mạn và vô luật pháp của chúng có xứng đáng với những mất mát thua lỗ này không.


Remember, August 1st to Sept. 1st! START NOW.

Nhớ nhé, từ ngày 1 tháng 8 đến 1 tháng 9 ! Hãy bắt đầu từ bây giờ.


Send this to everybody you know. Let’s show them that we are Americans and NOBODY can take us for granted.

Hãy gởi bài viết này đến mọi người quý vị quen biết. Hãy cho bọn chúng thấy rằng chúng ta là người Mỹ và KHÔNG AI có thể xem thường chúng ta.


If we can’t live without cheap Chinese goods for one month out of our lives, WE DESERVE WHAT WE GET!

Nếu chúng ta vì thiếu hàng hoá của Tàu mà không thể sống được qua một tháng trong cuộc sống thì... CHÚNG TA XỨNG ĐÁNG BỊ NHỮNG GÌ CHÚNG TA ĐANG BỊ !


Pass it on, America …Well, come to think of it, instead of doing it for just 1 month why not try to do it all the time.


HÃY TIẾP TUC CHUYỂN THÔNG ĐIỆP NÀY, HỞI NƯỚC MỸ…Vâng, hãy cố nghĩ đến việc là, thay vì chỉ thực hiện trong 1 tháng thì tại sao không cố tẩy chay mãi vào mọi lúc.


Remember, August 1st to Sept. 1st! START NOW.

Nhớ nhé, từ ngày 1 tháng 8 đến 1 tháng 9 ! Hãy bắt đầu từ bây giờ.

Send this to everybody you know. Let’s show them that we are Americans and NOBODY can take us for granted.

Hãy gởi bài viết này đến mọi người quý vị quen biết. Hãy cho bọn chúng thấy rằng chúng ta là người Mỹ và KHÔNG AI có thể xem thường chúng ta.


If we can’t live without cheap Chinese goods for one month out of our lives, WE DESERVE WHAT WE GET!

Nếu chúng ta vì thiếu hàng hoá của Tàu mà không thể sống được qua một tháng trong cuộc sống thì .. CHÚNG TA XỨNG ĐÁNG BỊ NHỮNG GÌ CHÚNG TA ĐANG BỊ !

Pass it on, America …Well, come to think of it, instead of doing it for just 1 month why not try to do it all the time.

HÃY TIẾP TụC CHUYỂN THÔNG ĐIỆP NÀY, HỠI NƯỚC MỸ…Vâng, hãy cố nghĩ đến việc là, thay vì chỉ thực hiện trong 1 tháng thì tại sao không cố tẩy chay mãi vào mọi lúc.


Translated by Hoang Lan Moc Chau

http://www.cyrilhuzeblog.com/2011/08/02/dont-buy-any-chinese-products-from-august-1st-to-september-1st-2011-and-beyond%E2%80%A6/