MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Tuesday, July 17, 2012

Battlefield Vietnam Chiến trường Việt Nam

 Battlefield Vietnam Chiến trường Việt Nam
 1



2



3



4



5



6



7



8



9



10



11



12
 


Monday, July 16, 2012

How Much Power Does China’s ‘People’s’ Army Have? Quân đội “Nhân dân” Trung Quốc có sức mạnh như thế nào?




How Much Power Does China’s ‘People’s’ Army Have?

Quân đội “Nhân dân” Trung Quốc có sức mạnh như thế nào?

By Peter Mattis
July 13, 2012
Peter Mattis
July 13/7/2012

Heated rhetoric out of Chinese military commentators in recent months has some observers wondering whether the People’s Liberation Army (PLA) is playing an increasing role in Beijing’s foreign and national security policymaking. China’s ostensibly more assertive turn—seemingly in line with hawkish pundits—even if more clever, makes the question of military influence in Zhongnanhai important for understanding whether the U.S. policy of shaping China is actually working.

Những luận điệu nóng giận phát ra từ các nhà bình luận quân sự của Trung Quốc trong mấy tháng qua khiến một số nhà quan sát tự hỏi, có phải chăng lực lượng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QĐTQ) đang đóng vai trò ngày càng lớn trong chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Bắc Kinh? Bước ngoặt mà nhìn bề ngoài có vẻ quyết liệt hơn của Trung Quốc – dường như phù hợp với quan điểm của các học giả phái diều hâu – ngay cả có thông minh đi chăng nữa, thì cũng làm cho câu chuyện ảnh hưởng quân sự ở Trung Nam Hải trở thành một vấn đề quan trọng để có thể hiểu chính sách của Mỹ nhằm định hình Trung Quốc có thật sự hiệu quả không.

Can the apparently rising influence in Beijing of the PLA be explained without resorting to the regularly heated rhetoric from hawkish commentators—whose authority is at best unclear—such as the prolific Yang Yi and Luo Yuan? The short answer is yes and evidence is accumulating to this effect. The full implications of PLA influence, however, are far from clear.

Liệu có thể giải thích ảnh hưởng có vẻ ngày càng tăng của QĐTQ ở Bắc Kinh mà không cần nhắc đến những lời lẽ thường xuyên sôi sục của phái bình luận diều hâu – những người mà quyền lực của họ trong trường hợp tốt đẹp nhất thì cũng vẫn khó hiểu – như hai nhà bình luận rất năng suất là Dương Nghị (Yang Yi) và La Nguyên (Luo Yuan)? Câu trả lời ngắn gọn là có, và số bằng chứng chứng minh điều này đang nhiều dần lên. Tuy nhiên, những hàm ý về ảnh hưởng của QĐTQ thì vẫn chưa rõ ràng.


First, at a time when political factions seem less coherent and relevant than before, observers should note the PLA controls just over 20 percent of the Central Committee—the body that ostensibly selects the Politburo and its Standing Committee. The PLA may not be a kingmaker; however, it may be able to veto senior selections at the 18th Party Congress this fall. This potentially puts the military in the position to extract concessions, collect promises, and encourage the politically ambitious to support PLA preferences.

Thứ nhất là, vào thời điểm khi mà các phe phái chính trị dường như ít gắn kết và ít đúng đắn hơn trước, thì các nhà quan sát nên lưu ý rằng PLA kiểm soát chỉ hơn 20% Ban Chấp hành Trung ương Đảng – cơ quan mà về hình thức là có quyền chọn ra Bộ Chính trị và Ban Thường vụ Bộ Chính trị. QĐTQ có thể không phải là lực lượng chi phối việc bổ nhiệm; tuy nhiên, họ có quyền phủ quyết những gương mặt được lựa chọn cho vị trí lãnh đạo cấp cao, tại Đại hội Đảng 18 mùa thu tới đây. Điều này có khả năng đặt quân đội vào vị trí có quyền ép các lực lượng khác phải nhượng bộ, hứa hẹn, và khuyến khích các tham vọng chính trị nhằm ủng hộ ưu thế của QĐTQ.


Observers however should be careful not to read too much into this—at least not without further research. The last major study of PLA factions was published almost 20 years ago and we do not know the cohesion of the PLA’s Central Committee representation as a power bloc. Moreover, the PLA has only two seats on the Politburo and none on the Standing Committee, so the military’s role in politicking may be indirect and not necessarily day-to-day.


Tuy vậy, giới quan sát nên thận trọng, không nên đi quá sâu vào chuyện này – ít nhất là nếu không có những nghiên cứu xa hơn. Nghiên cứu lớn và gần đây nhất về các phe phái trong QĐTQ được xuất bản cách đây gần 20 năm, và chúng ta không biết đến sự gắn kết của Ban Chấp hành Trung ương của QĐTQ như một khối quyền lực. Hơn thế nữa, QĐTQ chỉ có hai ghế trong Bộ Chính trị, không có ghế nào trong Ban Thường vụ, do đó vai trò của quân đội trong chính trị có thể là gián tiếp và không nhất thiết là có ảnh hưởng hàng ngày.


Second, as David Finkelstein of CNA Corporation noted earlier this year, the PLA also can present the leadership with policy options. During the 1995/96 Taiwan Strait crises, the PLA had to admit to the civilian leadership that it could do very little either to Taiwan or to the U.S. forces deployed to the area. That is no longer the case today. Whether the evacuation of Chinese citizens from Libya or the anti-piracy patrols in the Gulf of Aden or new capabilities to coerce (but not take) Taiwan, the PLA has proven it has something to offer Chinese policymakers. Those who can present options and solutions almost always win out at the decision-making table over those who present only obstacles.

Thứ hai là, như ông David Finkelstein thuộc Tập đoàn CNA đã nói từ đầu năm nay, QĐTQ cũng có thể lãnh đạo bằng các lựa chọn chính sách. Trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan năm 1995-1996, QĐTQ phải thừa nhận trước các lãnh đạo dân sự rằng họ hầu như không làm gì được Đài Loan, cũng không làm gì được lực lượng quân đội do Mỹ triển khai tới khu vực. Ngày nay chuyện đó không còn nữa. Cho dù là bàn về việc sơ tán công dân Trung Quốc khỏi Lybia, việc tuần tra chống cướp biển ở Vịnh Aden, hay về những năng lực mới để cưỡng chiếm (nhưng không tiếp quản) Đài Loan, QĐTQ đều đã chứng tỏ rằng họ có nhiều thứ để dâng cho Trung Quốc. Những người có thể đưa ra các lựa chọn và giải pháp thì gần như luôn luôn chiến thắng trên bàn ra quyết định, trước những người chỉ đem lại trở ngại.


Third, the PLA is becoming increasingly professional as a fighting force with a wider array of capabilities across the land, sea, air, and space domains. In pursuit of modernization, the Chinese military is trying to break down the service stovepipes across these domains.  The growing focus on precision operations on top of a “system of systems operational capabilities” to cross these stovepipes will allow the PLA to fight in a fundamentally different way.  The PLA repeatedly has surprised observers with the pace of its modernization; however, it is still an army in transition amidst great change in doctrine and technology. This means understanding what the PLA can do is a far more difficult task than it was when China invaded Vietnam in 1979 or sent the “People’s volunteers” into Korea in 1950.


Thứ ba là, QĐTQ đang ngày càng chuyên nghiệp hóa như một lực lượng chiến đấu, với một dải rất rộng khả năng tác chiến trên đất liền, biển, đường không, và tên miền không gian. Nhằm hiện đại hóa, quân đội Trung Hoa đang cố gắng phá vỡ các ứng dụng kiểu “ống khói” (stovepipe services) ở các miền (domain) này. Sự tập trung ngày càng lớn của Trung Quốc vào thao tác chính xác, bên cạnh một “hệ thống của các hệ thống có năng lực vận hành” để vượt qua những “ống khói” đó, sẽ giúp cho QĐTQ chiến đấu theo một cách khác về căn bản. QĐTQ đã liên tục làm giới quan sát ngạc nhiên vì tốc độ hiện đại hóa của họ; tuy nhiên, họ vẫn là một quân đội đang trong thời kỳ quá độ, đứng trước những thay đổi lớn về lý thuyết và công nghệ. Điều đó có nghĩa là hiểu được QĐTQ có thể làm gì là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều, so với khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào năm 1979, hoặc là khi họ gửi “các tình nguyện viên nhân dân” sang Hàn Quốc vào năm 1950.


Fourth, today’s civilian leadership has almost no direct experience with military affairs and must rely entirely on the PLA for military and, to a slightly lesser extent, political-military expertise. Unlike Mao Zedong or Deng Xiaoping, Hu Jintao and his apparent successor Xi Jinping do not have the direct experience with using military force to achieve political ends and probably have to rely on others for that expertise. In a system that deliberately limits civilian access to the military, this means Hu and Xi must depend in large part on their limited experience with military affairs to make judgments about appropriate courses of action. Do they know what questions to ask? Does the PLA present jargon-free, sensible decision memos that they understand? How responsive is the PLA and the Central Military Commission staff to requests for further information?


Thứ tư là, lãnh đạo dân sự ngày nay hầu như không có kinh nghiệm trực tiếp nào với các vấn đề quân sự, và phải phụ thuộc hoàn toàn vào QĐTQ để có thể có được chuyên môn quân sự, và ở một mức độ thấp hơn là chuyên môn chính trị-quân sự. Không như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, Hồ Cẩm Đào và người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông – Tập Cận Bình – không có kinh nghiệm trực tiếp với việc sử dụng sức mạnh quân sự để đạt mục đích chính trị, và có lẽ sẽ phải phụ thuộc vào lực lượng khác để có được kinh nghiệm ấy. Trong một hệ thống vốn dĩ cố ý giới hạn quyền dân sự tiếp cận với quân sự, điều ấy có nghĩa là Hồ và Tập phải phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm ít ỏi về quân sự của họ mỗi khi cần đưa ra đánh giá về những hành động thích hợp nào đó. Họ có biết phải hỏi những câu gì không? QĐTQ có đưa ra các quyết định sáng suốt, không chứa biệt ngữ gì, để họ hiểu không? QĐTQ và Ban Quân sự Trung ương phản ứng nhanh tới mức nào trước các đề nghị tăng cường cung cấp thông tin?


It also is not clear if Hu and Xi can find intellectual support when they need it. Whether searching for military affairs articles on the China National Knowledge Infrastructure or perusing Chinese bookstores, PLA authors dominate strategic studies. In contrast to the United Kingdom or the United States, China does not seem to have a well-developed civilian defense analysis sector.

Cũng chưa rõ liệu Hồ và Tập có thể tìm được sự ủng hộ về tri thức khi họ cần hay không. Cho dù là việc tìm kiếm các bài báo quân sự trên tờ Hạ tầng Tri thức Quốc gia Trung Hoa, hay là nghiên cứu tủ sách Trung Quốc, các tác giả của QĐTQ cũng giữ địa vị thống trị trong nghiên cứu chiến lược. Ngược với Anh hay Mỹ, Trung Quốc dường như không có một giới phân tích quốc phòng dân sự phát triển mạnh.


If the White House, for example, wants an alternative assessment to the Pentagon, it can go to any of a number of research institutes and think tanks—e.g. Center for Strategic and Budgetary Assessments, Center for Strategic and International Studies, and the Center for a New American Security to name but a few, and not counting the Federally-Funded Research and Development Centers—and get professionally done military analysis. If Zhongnanhai however wants to shake the trees, it is not clear that China’s leaders can get any assessment independent of the PLA. This gives the PLA tremendous power—even unintentionally—to obscure what it is really doing and the full implications of its actions without penetrating scrutiny.


Chẳng hạn, nếu quan chức Nhà Trắng muốn có một bản đánh giá khác ngoài bản của Lầu Năm Góc, họ có thể đi tới bất kỳ cơ quan nào trong số một loạt viện nghiên cứu, viện tư tưởng (think tank) – ví dụ Trung tâm Đánh giá Chiến lược và Ngân sách, Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược, và Trung tâm An ninh Hoa Kỳ mới – và nhận được những bản phân tích quân sự được làm rất chuyên nghiệp. Trong khi đó, nếu Trung Nam Hải muốn rung cây, cũng chẳng biết liệu lãnh đạo Trung Quốc có thể có được bản đánh giá độc lập nào từ QĐTQ không. Điều này tạo cho QĐTQ quyền lực cực lớn – thậm chí họ không cố ý như thế – để che đậy những gì họ đang thực sự làm và ảnh hưởng đầy đủ của các hành động của họ, mà không cần xem xét kỹ lưỡng.


Observers often point to the anti-satellite missile test in 2007 as a sign that China’s decision-making process lacks coordination. Some suggested the senior civilian leadership was not informed—or fully informed. But what if the PLA only presented Hu Jintao with a memo asking “Should we continue with the planned test of experimental program X?” Banal bureaucratese can hide a tremendous amount unless someone has the time and energy to pursue the full implications. And at that time, Hu was the only civilian with authority over the PLA.

Giới quan sát thường nhắc đến vụ thử tên lửa chống vệ tinh hồi năm 2007, coi đó như dấu hiệu cho rằng quá trình ra quyết định ở Trung Quốc rất thiếu sự phối hợp. Một số người có ý nói là lãnh đạo dân sự cấp cao đã không được thông tin – hoặc không được thông tin đầy đủ. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu QĐTQ chỉ trình cho Hồ Cẩm Đào một mẩu giấy đề nghị “Chúng ta có nên tiếp tục cuộc thử nghiệm đã lên kế hoạch đối với chương trình X không?”. Đám công chức quan liêu có thể che giấu được rất nhiều thứ, trừ phi có ai đấy có đủ thời gian và sức lực để tìm hiểu mọi chuyện. Và vào thời điểm đó thì Hồ là vị lãnh đạo dân sự duy nhất có quyền lực đối với QĐTQ.


The PLA’s influence probably is increasing for a number of reasons. Irrespective of the personalities involved, the PLA is well-positioned to press its interests and its views within the Chinese foreign and national security policymaking apparatus. However, it remains unclear whether there is an institutional voice on party politics and national policy—not just the PLA’s material interests and how to fight—and whether that voice is coherent across the military’s different branches.


Ảnh hưởng của QĐTQ có lẽ đang gia tăng, nhờ một số lý do. Bất kể những người tham gia có là ai, QĐTQ có vị trí rất vững vàng để có thể áp đặt lợi ích và quan điểm của họ lên bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh của Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn chưa rõ liệu có tồn tại một tiếng nói có tính chất tổ chức về chính trị đảng phái và chính sách quốc gia – không chỉ là lợi ích vật chất của QĐTQ và biện pháp chiến đấu – và liệu tiếng nói đó có nhất quán ở tất cả các chi nhánh khác nhau của quân đội không?


Even if the PLA has a greater say in Chinese foreign and national security policy, what the PLA says is not obvious. Dealing with challenges of modernization is more likely to keep the PLA focused internally and there are clear signs the PLA makes a determined effort to self-assess. The Central Military Commission headed by President Hu endorsed the most important evaluation, known as the “two incompatibles,”—PLA capabilities are incompatible with winning a war under informatized conditions and incompatible with fulfilling the PLA’s historic missions. This does not sound like hawks, constantly edging the leadership to take action. And the sophistication of PLA doctrinal and technological innovation suggests the generals are not slavering warmongers enamored of a brutish approach.


Ngay cả khi QĐTQ có tiếng nói lớn hơn trong chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Trung Quốc, những gì QĐTQ nói cũng không rõ ràng. Đương đầu với các khó khăn trong hiện đại hóa là việc nhiều khả năng sẽ khiến QĐTQ phải tập trung vào nội bộ, và có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy QĐTQ có một nỗ lực, một quyết tâm tự đánh giá. Ủy ban Quân sự Trung ương do Chủ tịch Hồ đứng đầu đã phê chuẩn bản đánh giá quan trọng nhất, gọi là “hai điểm bất tương hợp” – năng lực của QĐTQ không phù hợp để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh tin học hóa và không phù hợp để đáp ứng các sứ mệnh lịch sử của QĐTQ. Điều này nghe không giống giọng diều hâu, cái giọng luôn đòi lãnh đạo phải hành động. Và những ngụy biện tinh vi của các lý thuyết QĐTQ cùng các đổi mới công nghệ của họ cho thấy các tướng lĩnh không phải là những kẻ hiếu chiến, đang mong muốn một cách tiếp cận thô bạo.


The real concern should be whether China’s civilian leaders have the intellectual experience or the ability to draw on military expertise independent of the PLA to manage the PLA’s increasing competence and influence. The Party controls the gun—1.8 million out of roughly 3 million PLA and armed police personnel are party members—but this is not a question about whether the PLA is rogue or will turn on Zhongnanhai. This issue is to what extent China’s civilian policymakers, especially Hu and Xi, truly understand the capabilities and limitations of the PLA and the options it puts forward—and how that understanding affects decisions of war and peace.


Mối lo lắng thực sự nên là, liệu các lãnh đạo dân sự của Trung Quốc có kinh nghiệm tri thức hay là năng lực để tiếp cận thông tin quân sự độc lập với QĐTQ, để kiểm soát sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của QĐTQ. Đảng kiểm soát súng – 1,8 triệu trong tổng số xấp xỉ 3 triệu quân nhân QĐTQ và cảnh sát có vũ trang là đảng viên – nhưng vấn đề ở đây không phải là QĐTQ có bất lương không, có quan tâm tới Trung Nam Hải không. Vấn đề là các nhà hoạch định chính sách dân sự Trung Quốc, đặc biệt Hồ và Tập, thật sự hiểu năng lực và giới hạn của QĐTQ cũng như những lựa chọn QĐTQ đưa ra đến mức nào – và sự hiểu đó ảnh hưởng tới các quyết định liên quan tới chiến tranh và hòa bình ra sao.


Peter Mattis is Editor of China Brief at the Jamestown Foundation.
Tác giả: Peter Mattis là chủ bút tờ China Brief của Quỹ Jamestown.



Translated by Đỗ Quyên


http://thediplomat.com/china-power/how-much-power-does-chinas-peoples-army-have/

Remarks of President Barack Obama: Back to School Event Phát biểu của Tổng thống Barack Obama: Nhân ngày khai trường





Remarks of President Barack Obama: Back to School Event

Phát biểu của Tổng thống Barack Obama: Nhân ngày khai trường
Hello, everybody! Thank you. Thank you. Thank you, everybody. All right, everybody go ahead and have a seat. How is everybody doing today? (Applause.) How about Tim Spicer? (Applause.) I am here with students at Wakefield High School in Arlington, Virginia. And we’ve got students tuning in from all across America, from kindergarten through 12th grade. And I am just so glad that all could join us today. And I want to thank Wakefield for being such an outstanding host. Give yourselves a big round of applause. (Applause.)

Xin chào, tất cả mọi người! Xin cảm ơn. Cảm ơn. Cảm ơn các bạn, tất cả mọi người. Được rồi, tất cả mọi người lên phía trước để có một chỗ ngồi. Mọi người hôm nay thế nào? (Vỗ tay) Tim Spicer thế nào? (Vỗ tay) Tôi ở đây với các học sinh tại trường Trung học Wakefield ở Arlington, Virginia. Và chúng ta có các học sinh theo dõi trên khắp nước Mỹ, từ mẫu giáo đến lớp 12. Và tôi rất vui mừng rằng tất cả mọi người đều có thể tham gia cùng chúng ta ngày hôm nay. Và tôi muốn cảm ơn trường Wakefield là một chủ nhà xuất sắc. Hãy tự thưởng cho các bạn một vòng tràng pháo tay thật lớn. (Vỗ tay)

I know that for many of you, today is the first day of school. And for those of you in kindergarten, or starting middle or high school, it’s your first day in a new school, so it’s understandable if you’re a little nervous. I imagine there are some seniors out there who are feeling pretty good right now -- (applause) -- with just one more year to go. And no matter what grade you’re in, some of you are probably wishing it were still summer and you could’ve stayed in bed just a little bit longer this morning.

Tôi biết rằng đối với nhiều người trong các em, hôm nay là ngày đầu tiên đến trường. Và đối với những người bạn học lớp mẫu giáo, hoặc bắt đầu học trung học hoặc trung học phổ thông, đây là ngày đầu tiên của bạn trong một trường học mới, vì vậy thật dễ hiểu nếu các em có một chút lo lắng. Tôi tưởng tượng có một số học sinh lớp trên, những người cảm thấy khá tốt ổn bây giờ - (Vỗ tay) - chỉ còn thêm một năm là rời trường. Và cho dù các em học lớp mấy đi nữa, một số bạn có thể còn ước muốn bbaay giò vẫn còn mùa hè và bạn có thể ngủ rốn trên giường lâu hơn một chút vào buổi sáng này.

I know that feeling. When I was young, my family lived overseas. I lived in Indonesia for a few years. And my mother, she didn’t have the money to send me where all the American kids went to school, but she thought it was important for me to keep up with an American education. So she decided to teach me extra lessons herself, Monday through Friday. But because she had to go to work, the only time she could do it was at 4:30 in the morning.

Tôi biết cảm giác đó. Khi tôi còn trẻ, gia đình tôi sống ở nước ngoài. Tôi sống ở Indonesia một vài năm. Và mẹ tôi, không có tiền để gửi cho tôi tới nơi mà tất cả các trẻ em Mỹ đã đi học, nhưng bà nghĩ rằng điều quan trọng là tôi phải theo kịp một nền giáo dục Mỹ. Vì vậy, bà quyết định tự mình dạy cho tôi những bài học thêm, từ Thứ Hai đến Thứ Sáu. Nhưng bởi vì bà phải đi làm, thời gian duy nhất có thể làm điều đó là lúc 4:30 sáng.


Now, as you might imagine, I wasn’t too happy about getting up that early. And a lot of times, I’d fall asleep right there at the kitchen table. But whenever I’d complain, my mother would just give me one of those looks and she’d say, "This is no picnic for me either, buster." (Laughter.)

Bây giờ các em có thể tưởng tượng rằng tôi không được vui cho lắm khi phải dậy sớm thế. Rất nhiều lần tôi đã ngủ gật ngay tại bàn ăn. Nhưng dù có phàn nàn thế nào đi chăng nữa thì mẹ tôi cũng chỉ lườm tôi và nói: “Đây cũng không phải là buổi dã ngoại của mẹ đâu, quỷ con”.

So I know that some of you are still adjusting to being back at school. But I’m here today because I have something important to discuss with you. I’m here because I want to talk with you about your education and what’s expected of all of you in this new school year.

Vì vậy tôi biết một số học sinh vẫn đang điều chỉnh để quen với việc trở lại trường học. Nhưng hôm nay tôi có mặt ở đây bởi vì tôi có điều quan trọng muốn thảo luận với các em. Tôi đến đây vì tôi muốn nói về vấn đề giáo dục và về những điều mọi người trông đợi ở các học sinh trong năm học mới này.

Now, I’ve given a lot of speeches about education. And I’ve talked about responsibility a lot.

Tôi đã phát biểu rất nhiều về giáo dục và tôi cũng đã nói rất nhiều về trách nhiệm.

I’ve talked about teachers’ responsibility for inspiring students and pushing you to learn.

Tôi đã nói rất nhiều về trách nhiệm của giáo viên, là phải truyền cảm hứng cho học sinh, và thúc đẩy học sinh học tập.

I’ve talked about your parents’ responsibility for making sure you stay on track, and you get your homework done, and don’t spend every waking hour in front of the TV or with the Xbox.

Tôi đã nói rất nhiều về trách nhiệm của cha mẹ, phải dạy các con đi đúng hướng, dặn dò các con làm bài tập và đảm bảo các con sẽ không dùng cả ngày để ngồi trước TV hoặc chơi game trên các máy Xbox.


I’ve talked a lot about your government’s responsibility for setting high standards, and supporting teachers and principals, and turning around schools that aren’t working, where students aren’t getting the opportunities that they deserve.

Và tôi đã nói rất nhiều về trách nhiệm của nhà nước trong việc lập ra các tiêu chuẩn giáo dục cao, ủng hộ các giáo viên, các hiệu trưởng và chỉnh đốn các trường học chưa tốt, nơi mà học sinh không có cơ hội mà học sinh đáng được hưởng.


But at the end of the day, we can have the most dedicated teachers, the most supportive parents, the best schools in the world -- and none of it will make a difference, none of it will matter unless all of you fulfill your responsibilities, unless you show up to those schools, unless you pay attention to those teachers, unless you listen to your parents and grandparents and other adults and put in the hard work it takes to succeed. That’s what I want to focus on today: the responsibility each of you has for your education.


Nhưng nếu có được tất cả điều đó, nếu chúng ta đã có được rất nhiều các giáo viên cống hiến hết mình, các bậc phụ huynh biết khuyến khích, giúp đỡ và những trường học hàng đầu thế giới, thì điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu như học sinh không làm tròn nhiệm vụ của mình, nếu như các em không đến học ở những trường học đó, nếu như các em không chú ý lắng nghe lời thầy cô giáo, nếu như các em không tiếp thu lời khuyên của cha mẹ, ông bà và những người lớn tuổi khác mà nổ lực hết mình để thành công. Và đó chính là điều tôi muốn nhấn mạnh ngày hôm nay: Trách nhiệm của học sinh đối với việc học của mình.


I want to start with the responsibility you have to yourself. Every single one of you has something that you’re good at. Every single one of you has something to offer. And you have a responsibility to yourself to discover what that is. That’s the opportunity an education can provide.

Và tôi muốn các em bắt đầu từ việc có trách nhiệm với chính bản thân mình. Mỗi một người trong các em đều có thể giỏi một thứ. Mỗi người đều có một thứ để cống hiến. Và các em có trách nhiệm khám phá ra thứ đó là gì. Đó chính là cơ hội mà giáo dục có thể mang lại.


Maybe you could be a great writer -- maybe even good enough to write a book or articles in a newspaper -- but you might not know it until you write that English paper -- that English class paper that’s assigned to you. Maybe you could be an innovator or an inventor -- maybe even good enough to come up with the next iPhone or the new medicine or vaccine -- but you might not know it until you do your project for your science class. Maybe you could be a mayor or a senator or a Supreme Court justice -- but you might not know that until you join student government or the debate team.


Có thể em sẽ là một nhà văn giỏi, có thể viết một cuốn sách hoặc một bài viết được đăng trên báo - nhưng em sẽ không thể nào biết được khả năng ấy cho đến khi em thử viết bài báo tiếng Anh ấy. Hoặc em có thể là một nhà phát minh, có khi đủ giỏi để làm ra một loại iPhone hay tìm ra một loại vắc-xin mới - nhưng có thể em không biết khả năng ấy cho đến khi thử làm một dự án cho môn học khoa học... Có lẽ các em có thể là một thị trưởng, thượng nghị sĩ hoặc một Chánh án Tòa án tối cao - nhưng các em có thể không biết điều đó cho đến khi các em tham gia chính phủ sinh viên hay nhóm tranh luận.

And no matter what you want to do with your life, I guarantee that you’ll need an education to do it. You want to be a doctor, or a teacher, or a police officer? You want to be a nurse or an architect, a lawyer or a member of our military? You’re going to need a good education for every single one of those careers. You cannot drop out of school and just drop into a good job. You’ve got to train for it and work for it and learn for it.

Dù các em muốn làm gì trong đời, tôi đảm bảo rằng các em cũng cần phải học để làm việc đó. Các em muốn làm một bác sĩ, một giáo viên, một cảnh sát giỏi? Các em muốn làm y tá hay một kiến trúc sư, một luật sư hoặc một nhân viên của quân đội? Các em sẽ cần phải có một sự giáo dục thật tốt cho những công việc trên. Các em không thể bỏ học mà bỗng dưng có được một công việc tốt. Các em phải rèn luyện để làm điều đó và phải làm việc và tìm học tập để làm điều đó.

And this isn’t just important for your own life and your own future. What you make of your education will decide nothing less than the future of this country. The future of America depends on you. What you’re learning in school today will determine whether we as a nation can meet our greatest challenges in the future.

Và việc đó không chỉ quan trọng cho cuộc sống và tương lai của riêng các em. Những thứ các em đạt được từ việc học tập còn quyết định cả tương lai của đất nước. Tương lại của đất nước phụ thuộc vào các em. Những gì các em học được ở trường ngày hôm nay sẽ quyết định liệu chúng ta, với tu cách một quốc gia, có chinh phục được những thử thách lớn lao trong tương lai hay không.


You’ll need the knowledge and problem-solving skills you learn in science and math to cure diseases like cancer and AIDS, and to develop new energy technologies and protect our environment. You’ll need the insights and critical-thinking skills you gain in history and social studies to fight poverty and homelessness, crime and discrimination, and make our nation more fair and more free. You’ll need the creativity and ingenuity you develop in all your classes to build new companies that will create new jobs and boost our economy.

Các em sẽ cần sự hiểu biết và các kĩ năng giải quyết vấn đề được học trong toán học và khoa học để chữa các bệnh như AIDS hoặc ung thư, và để khám phá những nguồn năng lượng mới và bảo vệ môi trường. Các em cần phải nhìn thấu và có các nhận xét sâu sắc trong môn lịch sử và các môn khoa học xã hội để chiến đấu với sự nghèo đói, không gia đình, tội phạm và sự phân biệt chủng tộc, và hơn nữa là làm cho đất nước độc lập và công bằng hơn. Các em cần sự sáng tạo và khôn khéo có được trong tất cả các môn học để xây dựng những công ty mới, tạo các việc làm mới và thúc đẩy nền kinh tế của chúng ta.

We need every single one of you to develop your talents and your skills and your intellect so you can help us old folks solve our most difficult problems. If you don’t do that -- if you quit on school -- you’re not just quitting on yourself, you’re quitting on your country.

Đất nước cần mỗi người các em thể hiện tài năng, kĩ năng và sự thông minh để giải quyết những vấn đề khó khăn nhất. Nếu các em không làm vậy, nếu các em bỏ học, các em sẽ không chỉ bỏ mặc chính mình, mà sẽ bỏ mặc cả đất nước mình nữa.

Now, I know it’s not always easy to do well in school. I know a lot of you have challenges in your lives right now that can make it hard to focus on your schoolwork.

Tôi biết không không phải lúc nào cũng có thể học giỏi ở trường. Tôi biết có rất nhiều học sinh đang gặp phải thách thức rất lớn và vì thế rất khó mà tập trung vào việc học tập.

I get it. I know what it’s like. My father left my family when I was two years old, and I was raised by a single mom who had to work and who struggled at times to pay the bills and wasn’t always able to give us the things that other kids had. There were times when I missed having a father in my life. There were times when I was lonely and I felt like I didn’t fit in.

Tôi hiểu điều đó. Tôi biết các khó khăn đó như thế nào. Bố tôi bỏ gia đình tôi khi tôi mới có hai tuổi, và tôi đã được nuôi nấng bởi một mình mẹ tôi, người luôn phải vật lộn để trả các hoá đơn và không thể cho tôi tất cả những gì những đứa trẻ khác có. Có những thời gian tôi nhớ bố kinh khủng và có những lúc tôi cô đơn đến nỗi mà cảm thấy không hoà hợp được.

So I wasn’t always as focused as I should have been on school, and I did some things I’m not proud of, and I got in more trouble than I should have. And my life could have easily taken a turn for the worse.

Và tôi không phải lúc nào cũng tập trung như cần thiết. Tôi đã làm những việc tôi không tự hào, và tôi dây vào rắc rối nhiều hơn tôi tưởng. Và cuộc đời tôi có thể sẽ chuyển sang chiều hướng tồi tệ hơn.


But I was -- I was lucky. I got a lot of second chances, and I had the opportunity to go to college and law school and follow my dreams. My wife, our First Lady Michelle Obama, she has a similar story. Neither of her parents had gone to college, and they didn’t have a lot of money. But they worked hard, and she worked hard, so that she could go to the best schools in this country.

Nhưng tôi đã may mắn. Tôi có rất nhiều cơ hội trong cuộc sống và tôi cũng có cơ hội được vào học đại học, vào trường luật, và theo đuổi ước mơ của tôi. Vợ của tôi, Michelle Obama cũng có câu chuyện tương tự. Bố mẹ cô ấy không học đại học, và họ cũng không giàu lắm. Nhưng họ làm việc rất chăm chỉ và cô ấy cũng vậy, vì thế mà cô ấy đã vào được những ngôi trường tốt nhất ở đất nước này.


Some of you might not have those advantages. Maybe you don’t have adults in your life who give you the support that you need. Maybe someone in your family has lost their job and there’s not enough money to go around. Maybe you live in a neighborhood where you don’t feel safe, or have friends who are pressuring you to do things you know aren’t right.

Một số học sinh có thể không có các lợi thế, không có những người lớn tuổi bên cạnh để ủng hộ, có thể một người trong gia đình mất việc, và không có đủ tiền để chi tiêu... Có thể các em sống trong một khu phố nơi các em không cảm thấy an toàn, hoặc có bạn bè đang gây sức ép các em làm những điều các em biết là không đúng.

But at the end of the day, the circumstances of your life -- what you look like, where you come from, how much money you have, what you’ve got going on at home -- none of that is an excuse for neglecting your homework or having a bad attitude in school. That’s no excuse for talking back to your teacher, or cutting class, or dropping out of school. There is no excuse for not trying.

Nhưng rồi cuối cùng, hoàn cảnh sống của các em, ngoại hình của các em, gốc gác gia đình, giàu hay nghèo, chuyện xảy ra trong gia đình của các em... không phải là lí do cho việc các em làm xao nhãng bài tập ở nhà hoặc có những thái độ xấu ở trường. Đó cũng không phải là lí do cho viêc cãi lại thầy cô giáo, trốn lớp hoặc bỏ học. Và những thứ đó không phải là lí do cho việc không chịu nỗ lực


Where you are right now doesn’t have to determine where you’ll end up. No one’s written your destiny for you, because here in America, you write your own destiny. You make your own future. That’s what young people like you are doing every day, all across America.


Điểm xuất phát của các em không quyết định các em sẽ đi được đến đâu. Không ai định đoạt vận mệnh cho các em mà các em định đoạt chính vận mệnh của mình. Quyết định chính tương lai của mình. Đó là việc mà những người trẻ tuổi vẫn làm trên khắp nước Mỹ.


Young people like Jazmin Perez, from Roma, Texas. Jazmin didn’t speak English when she first started school. Neither of her parents had gone to college. But she worked hard, earned good grades, and got a scholarship to Brown University -- is now in graduate school, studying public health, on her way to becoming Dr. Jazmin Perez.

Những người trẻ tuổi như Jazmin Perez đến từ Roma, Texas. Jazmin không nói tiếng Anh lúc cô đi học những năm đầu tiên. Rất ít người ở khu phố của cô có thể học đại học, và bố mẹ cô ấy cũng thế. Nhưng quan trọng là cô ấy học và làm việc rất chăm chỉ, giành được nhiều điểm tốt, được nhận vào Đại học Brown, và giờ đây cô ấy đang học cao học, ngành sức khoẻ cộng đồng, và sắp sửa trở thành “Tiến sĩ Jazmin Perez”.


I’m thinking about Andoni Schultz, from Los Altos, California, who’s fought brain cancer since he was three. He’s had to endure all sorts of treatments and surgeries, one of which affected his memory, so it took him much longer -- hundreds of extra hours -- to do his schoolwork. But he never fell behind. He’s headed to college this fall.

Tôi đang nghĩ về Andoni Schultz, đến từ Los Altos, California, chiến đấu với căn bệnh ung thư não từ khi cậu ấy mới 3 tuổi. Cậu bé đã chịu đựng đủ mọi sự điều trị và các ca phẫu thuật mà một trong số đó đã ảnh hưởng đến trí nhớ của cậu. Và cậu phải mất đến hàng trăm giờ hơn chúng ta để có thể làm xong bài tập. Nhưng cậu ấy không bao giờ tụt lại đằng sau, và cậu ấy sẽ vào đại học mùa thu này.


And then there’s Shantell Steve, from my hometown of Chicago, Illinois. Even when bouncing from foster home to foster home in the toughest neighborhoods in the city, she managed to get a job at a local health care center, start a program to keep young people out of gangs, and she’s on track to graduate high school with honors and go on to college.

Và có cả Shantell Steve, một người đồng hương với tôi ở Chicago, Illinois. Mặc dù lang bạt từ nhà nuôi dưỡng này đến nhà nuôi dưỡng khác, ở những nơi khó khăn nhất, cô ấy vẫn thành công trong việc kiếm được một việc làm ở trung tâm chăm sóc sức khoẻ, lập ra một chương trình để cứu mọi người khỏi những tên côn đồ, và cô ấy đã tốt nghiệp trung học phổ thông với bằng danh dự và đã học đại học.


And Jazmin, Andoni, and Shantell aren’t any different from any of you. They face challenges in their lives just like you do. In some cases they’ve got it a lot worse off than many of you. But they refused to give up. They chose to take responsibility for their lives, for their education, and set goals for themselves. And I expect all of you to do the same.
Còn Jazmin, Andoni và Shantell không khác với các em cho lắm. Họ gặp những thử thách trong đời cũng như các em vậy. Nhưng họ không bỏ cuộc. Họ đã chon sống trách nhiệm với cuộc đời mình, với việc học tập của mình và tự đặt ra mục đích cho mình. Và tôi mong muốn các em cũng làm như vậy.



That’s why today I’m calling on each of you to set your own goals for your education -- and do everything you can to meet them. Your goal can be something as simple as doing all your homework, paying attention in class, or spending some time each day reading a book.
Vì thế mà hôm nay, tôi kêu gọi mỗi học sinh hãy tự đặt ra mục tiêu cho việc học và hãy làm tất cả mọi thứ để đạt được mục tiêu đó. Thành công của các em có thể là những thứ nhỏ như là làm bài tập hay chú ý nghe cô giảng trong giờ, hoặc là mỗi ngày dành thời gian để đọc một cuốn sách.

Maybe you’ll decide to get involved in an extracurricular activity, or volunteer in your community. Maybe you’ll decide to stand up for kids who are being teased or bullied because of who they are or how they look, because you believe, like I do, that all young people deserve a safe environment to study and learn.
Có lẽ em sẽ quyết định tham gia vào một hoạt động ngoại khoá hoặc tình nguyện tại cộng đồng của mình. Có thể em sẽ quyết định bảo vệ cho những đứa trẻ vì xuất thân và ngoại hình của mình mà đang bị bắt nạt hoặc bóc lột, bởi vì cũng như tôi, các em cũng tin tưởng là tất cả trẻ con đều xứng đáng được học và dạy dỗ trong một môi trường an toàn...


Maybe you’ll decide to take better care of yourself so you can be more ready to learn. And along those lines, by the way, I hope all of you are washing your hands a lot, and that you stay home from school when you don’t feel well, so we can keep people from getting the flu this fall and winter.

Có lẽ các em sẽ quyết định chăm sóc tốt hơn cho chính mình, do đó các em có thể sẵn sàng hơn để học tập. Và theo hướng này, nhân đây, tôi hy vọng tất cả các bạn rửa tay rất nhiều, và bạn nên nghỉ học ở nhà khi bạn không cảm thấy khỏe, để chúng ta có thể giữ cho những người khác không mắc bệnh cúm vào mùa thu và mùa đông này.

But whatever you resolve to do, I want you to commit to it. I want you to really work at it. I know that sometimes you get that sense from TV that you can be rich and successful without any hard work -- that your ticket to success is through rapping or basketball or being a reality TV star. Chances are you’re not going to be any of those things.

Nhưng dù các em quyết tâm làm bất cứ điều gì, tôi muốn các em cam kết sẽ làm điều đó. Tôi muốn các em thực sự làm việc ở đó. Tôi biết đôi khi, các em xem trên TV và thấy rằng có thể giàu có và thành đạt mà không cần làm lụng gì cả - rằng chiếc vé thành công của bạn là thông qua nhạc rap, bóng rổ hay là một ngôi sao truyền hình thực tế. Rất có thể bạn sẽ không làm bất cứ thứ gì trong những nghề đã nêu đó.


The truth is, being successful is hard. You won’t love every subject that you study. You won’t click with every teacher that you have. Not every homework assignment will seem completely relevant to your life right at this minute. And you won’t necessarily succeed at everything the first time you try. That’s okay.

Nhưng sự thật là, để có được thành công rất khó. Các em sẽ không thích tất cả các môn học, không thích tất cả các giáo viên, không phải bài tập nào cũng thích hợp cho cuộc đời của các em trong hiện tại. Và các em sẽ không thể thành công từ lần đầu tiên. Điều đó là bình thường.

Some of the most successful people in the world are the ones who’ve had the most failures. J.K. Rowling’s -- who wrote Harry Potter -- her first Harry Potter book was rejected 12 times before it was finally published. Michael Jordan was cut from his high school basketball team. He lost hundreds of games and missed thousands of shots during his career. But he once said, "I have failed over and over and over again in my life. And that’s why I succeed."

Một trong số những người thành công nhất thế giới lại là những người có nhiều thất bại nhất. Tập Harry Potter đầu tiên của JK Rowling đã bị từ chối đến 12 lần trước khi nó được xuất bản. Michael Jordan đã bị loại ra khỏi đội bóng rổ của trường, anh ấy đã thua hàng trăm trận và trượt hàng ngàn quả trong sự nghiệp. Nhưng một lần anh ấy đã nói: “Tôi đã thua rất nhiều, rất nhiều và rất nhiều trong cuộc đời tôi và đó là lí do tại sao tôi thành công”.


These people succeeded because they understood that you can’t let your failures define you -- you have to let your failures teach you. You have to let them show you what to do differently the next time. So if you get into trouble, that doesn’t mean you’re a troublemaker, it means you need to try harder to act right. If you get a bad grade, that doesn’t mean you’re stupid, it just means you need to spend more time studying.

Những người này thành công vì họ hiểu rằng không thể để thất bại đánh bại mình, các em phải học hỏi từ những thất bại đó. Các em phải biết cách làm khác đi mỗi lần thất bại... Nếu các em có gặp rắc rối, nó không có nghĩa các em là người gây ra rắc rối, nó chỉ có nghĩa là các em cần nỗ lực hơn nữa để hành động đúng. Nếu các em nhận được một điểm thấp, điều đó không có nghĩa là các em ngu ngốc, nó chỉ có nghĩa là các em cần dành thêm thời gian học tập.



No one’s born being good at all things. You become good at things through hard work. You’re not a varsity athlete the first time you play a new sport. You don’t hit every note the first time you sing a song. You’ve got to practice. The same principle applies to your schoolwork. You might have to do a math problem a few times before you get it right. You might have to read something a few times before you understand it. You definitely have to do a few drafts of a paper before it’s good enough to hand in.

Không ai sinh ra đã giỏi mọi thứ, các em giỏi là nhờ chăm chỉ. Các em không thể là người chơi thể thao dẫn đầu ngay khi mới bắt đầu chơi một môn thể thao. Các em không hát ngay được mọi nốt nhạc khi lần đầu tiên hát một bài. Các em cần phải luyện tập. Nó cũng giống như việc làm bài tập về nhà. Các em có thể phải làm một bài toán vài lần trước khi làm đúng, và đọc một điều gì đó vài lần trước khi hiểu nó. Các em chắc chắn phải viết nháp vài lần một bài báo trước khi nó đủ tốt để nộp.


Don’t be afraid to ask questions. Don’t be afraid to ask for help when you need it. I do that every day. Asking for help isn’t a sign of weakness, it’s a sign of strength because it shows you have the courage to admit when you don’t know something, and that then allows you to learn something new. So find an adult that you trust -- a parent, a grandparent or teacher, a coach or a counselor -- and ask them to help you stay on track to meet your goals.

Đừng ngại hỏi. Đừng ngại đề nghị được giúp đỡ khi gặp khó khăn. Tôi làm thế mọi ngày. Đề nghị được giúp đỡ không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, đó là dấu hiệu của sự mạnh mẽ. Nó thể hiện các em có sự dũng cảm để được nhận câu trả lời cho những điều mình không biết, và để học hỏi những điều mới. Vì vậy hãy tìm một người lớn nào đó các em có thể tin tưởng, như bố mẹ, ông bà hoặc cô giáo, một huấn luyện viên hay người tư vấn… và đề nghị họ giúp các em vững bước trên con đường đạt được mục đích của mình.

And even when you’re struggling, even when you’re discouraged, and you feel like other people have given up on you, don’t ever give up on yourself, because when you give up on yourself, you give up on your country.

Kể cả khi các em phải vật lộn, ngay cả khi các em nản chí, và cảm thấy hình như mọi người đang bỏ rơi mình, các em cũng đừng bỏ cuộc. Vì nếu các em bỏ cuộc, thì cả đất nước này cũng bỏ cuộc.

The story of America isn’t about people who quit when things got tough. It’s about people who kept going, who tried harder, who loved their country too much to do anything less than their best.

Lịch sử nước Mỹ không phải là lịch sử của những người bỏ cuộc khi cuộc sống trở nên khó khăn. Đó là lịch sử của những con người tiến lên phía trước, phấn đấu nhiều hơn, yêu đất nước của mình nhiều tới mức không làm điều gì dưới sức mình.

It’s the story of students who sat where you sit 250 years ago, and went on to wage a revolution and they founded this nation. Young people. Students who sat where you sit 75 years ago who overcame a Depression and won a world war; who fought for civil rights and put a man on the moon. Students who sat where you sit 20 years ago who founded Google and Twitter and Facebook and changed the way we communicate with each other.

Đó là câu chuyện về những sinh viên đã ngồi ở chỗ các em ngồi cách đây 250 năm trước, đã tiến hành cách mạng và sinh ra dân tộc này. Đó là những sinh viên đã ngồi ở chỗ các em 75 năm trước để vượt qua khủng hoảng và chiến thắng chiến tranh thế giới, những người đấu tranh cho quyền con người và đưa con người lên mặt trăng. Những sinh viên 20 năm trước đã phát minh ra Google, Twitter và Facebook và thay đổi cách chúng ta giao tiếp với nhau.

So today, I want to ask all of you, what’s your contribution going to be? What problems are you going to solve? What discoveries will you make? What will a President who comes here in 20 or 50 or 100 years say about what all of you did for this country?

Vậy ngày hôm nay, tôi muốn hỏi các em, các em sẽ đóng góp được gì? Các em sẽ giải quyết những vấn đề gì? Khám phá những gì? Liệu tổng thống của đất nước trong 20 năm, 50 năm hay 100 năm nữa sẽ nói gì về các đóng góp của các em cho đất nước.

Now, your families, your teachers, and I are doing everything we can to make sure you have the education you need to answer these questions. I’m working hard to fix up your classrooms and get you the books and the equipment and the computers you need to learn.
Gia đình của các em, thầy cô giáo của các em và tôi đang cố gắng hết sức để đảm bảo các em có được nền giáo dục mà các em cần để trả lời các câu hỏi này. Tôi đang cố gắng rất nhiều để sửa sang lại trường học, cung cấp sách vở, các dụng cụ học tập và máy vi tính mà các em cần để học tập.


But you’ve got to do your part, too. So I expect all of you to get serious this year. I expect you to put your best effort into everything you do. I expect great things from each of you. So don’t let us down. Don’t let your family down or your country down. Most of all, don’t let yourself down. Make us all proud.
Nhưng các em cũng phải làm tròn phần việc của mình. Tôi mong muốn các em học tập nghiêm túc trong năm học mới này. Tôi muốn các em làm việc hết sức có thể. Tôi mong muốn những điều tuyệt vời từ các em. Vì vậy đừng làm chúng tôi thất vọng, đừng để gia đình hay đất nước thất vọng. Trước hết đừng để bản thân các em phải thất vọng. Hãy làm cho tất cả chúng ta phải tự hào.

Thank you very much, everybody. God bless you. God bless America. Thank you.
Cảm ơn rất nhiều, tất cả mọi người. Cầu Chúa chúc lành cho các bạn. Cầu Chúa ban phúc lành cho nước Mỹ. Xin cảm ơn.

http://www.whitehouse.gov/MediaResources/PreparedSchoolRemarks

Sunday, July 15, 2012

Asian Leaders at Regional Meeting Fail to Resolve Disputes Over South China Sea Lãnh đạo châu Á tại hội nghị khu vực không giải quyết được tranh chấp biển Đông






China's foreign minister, Yang Jiechi, at the conference of the Association of Southeast Asian Nations in Phnom Penh on Thursday.

Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, tại hội nghị của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á tại Phnom Penh hôm thứ Năm.
Asian Leaders at Regional Meeting Fail to Resolve Disputes Over South China Sea

Lãnh đạo châu Á tại hội nghị khu vực không giải quyết được tranh chấp biển Đông

By JANE PERLEZ
New York Times, July 12, 2012

JANE PERLEZ
New York Times, July 12/7/2012

PHNOM PENH, Cambodia — Disputes in the strategically important South China Sea proved so contentious here  that an annual regional gathering  has ended without even a basic diplomatic communiqué, which appeared to have been blocked by China.

PHNOM PENH, Campuchia — Các tranh chấp trên biển Đông, vùng biển có tầm quan trọng chiến lược, cho thấy rất dễ gây bất đồng tại đây khi cuộc họp khu vực hàng năm [Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN] kết thúc mà không hề có thông cáo chung, hình như điều này đã bị Trung Quốc ngăn chặn.


The host for the conference of the Association of Southeast Asian Nations, Cambodia, a close ally of China, refused to play the customary role of seeking agreement among the 10 participating countries, thus undermining the possibility of an accord,  a senior diplomat from the association said Thursday.


Chủ trì hội nghị này của ASEAN là Campuchia, một đồng minh thân cận của Trung Quốc, đã từ chối đóng vai trò theo thông lệ là tìm kiếm sự đồng thuận từ 10 quốc gia thành viên, do vậy làm hủy hoại khả năng thống nhất lập trường trong khối, một quan chức ngoại giao cao cấp của hiệp hội này cho biết hôm thứ Năm.


“China bought the chair, simple as that,” said the diplomat, who declined to be identified publicly according to usual protocol. The diplomat pointed to an article on Thursday by China’s state news agency, Xinhua, in which the country’s foreign minister, Yang Jiechi, was quoted as thanking Cambodia’s prime minister for supporting China’s “core interests.”


“Trung Quốc đã mua đứt chiếc ghế [Camphuchia], đơn giản là thế”, đó là nhận xét của nhà ngoại giao, người từ chối công khai danh tính theo nghi thức ngoại giao thông thường. Vị này cũng chỉ rõ một bài viết hôm thứ Năm đăng trên Tân Hoa xã, thông tấn xã của nhà nước Trung Quốc, theo đó bộ trưởng ngoại giao nước này, Dương Khiết Trì, được trích lời bày tỏ cám ơn thủ tướng Campuchia vì ủng hộ “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.


Secretary of State Hillary Rodham Clinton, who met with foreign ministers at the conference of the Southeast Asian group, said in remarks clearly aimed at China that it was important that the disputes be resolved “without coercion, without intimidation, without threats and without use of force.”


Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton, người đã có cuộc gặp với các vị đồng nhiệm khối ASEAN tại hội nghị, đã đưa ra nhận định rất rõ nhằm vào Trung Quốc: điều quan trọng là các tranh chấp phải được giải quyết trên tinh thần “không chèn ép, không dọa nạt, không đe dọa, và không sử dụng vũ lực”.


A last-ditch effort  to reach agreement on a watered-down communique failed after Cambodia, backed by China, refused to agree, the senior diplomat said. The foreign ministers of Indonesia and Singapore tried to persuade the Cambodian foreign minister, Hor Nam Hong, to go along with a compromise, the diplomat said. But the Cambodian declined, saying it was a “matter of principle” for the association not to take sides in bilateral disputes. 


Theo tiết lộ của nhà ngoại giao cao cấp nói trên, cố gắng cuối cùng nhằm đạt sự đồng thuận về bản thông cáo chung có lời lẽ nhẹ nhàng hơn đã thất bại sau khi Campuchia, vốn được Trung Quốc chống lưng, tỏ ra không đồng ý. Vị này cũng cho hay các ngoại trưởng Indonesia và Singapore đã cố thuyết phục ngoại trưởng Campuchia Hor Nam Hong theo hướng thỏa hiệp. Nhưng quan chức Campuchia này đã bác bỏ, cho rằng đây là “vấn đề mang tính nguyên tắc” đối với hiệp hội ASEAN, là không đứng về bất cứ bên nào trong những tranh chấp song phương.


Vietnam and the Philippines, the two nations with the current disputes with China over the South China Sea, had agreed to the compromise, the diplomat said.   After some additional efforts at persuasion by the Singaporean and Indonesian foreign ministers, the Cambodian picked up his papers, and stormed out of the room, the diplomat said.


Cũng theo nhà ngoại giao này, Việt Nam và Philippines, hai quốc gia hiện đang có tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc, đã đồng ý đi đến thỏa hiệp [về bản thông cáo chung]. Sau khi ngoại trưởng Singapore và Indonesia gia tăng nỗ lực thuyết phục, vị đồng nhiệm phía Campuchia đã cầm lấy giấy tờ và giận dữ bỏ ra khỏi phòng họp.


The influence of China, which was represented here by Mr. Yang, hung over the behind-the-scenes deliberations on the South China Sea in many respects, dividing countries that are beholden to China and those that are willing to stand up to the Chinese.


Ảnh hưởng của Trung Quốc, với đại diện tại hội nghị là ông Dương Khiết Trì, đã tạo mối bận tâm đối với những toan tính phía sau hậu trường ở nhiều phương diện trên bàn cờ biển Đông, gây chia rẽ giữa nhóm nước đang “mang ơn” Trung Quốc và nhóm nước đang sẳn sàng đương đầu với Trung Quốc.


Cambodia receives large amounts of assistance from Beijing, including new military aid that it got a few months ago.


Campuchia nhận sự trợ giúp rất lớn từ Bắc Kinh, bao gồm khoản viện trợ quân sự mới toanh mà quốc gia này nhận được chỉ cách đây ít tháng.


Indonesia, which has no territorial claims in the South China Sea, tried to forge a last-minute consensus at the meeting but without success. The Indonesian foreign minister, Marty Natalegawa, praised Mrs. Clinton for “showing interest but giving space” in the effort to reach an agreement.


Indonesia, nước không có yêu sách lãnh thổ trên biển Đông, đã cố gắng tạo nên sự đồng thuận tại hội nghị vào phút chót, nhưng không thành công. Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa khen bà Clinton vì “đã thể hiện sự quan tâm nhưng cũng tạo bầu không khí cần thiết” trong nỗ lực nhằm đạt được thỏa thuận.


The Foreign Ministers of Indonesia and Singapore tried to persuade the Cambodian Foreign Minister, Hor Nam Hong, to go along with a compromise, the diplomat said. But the Cambodian declined, saying it was a “matter of principle” for the association not to take sides in bilateral disputes. 


Các Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia và Singapore đã cố gắng thuyết phục Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Campuchia, Hor Nam Hong, để đi cùng với một sự thỏa hiệp, nhà ngoại giao cho biết. Tuy nhiên, Campuchia từ chối, nói rằng đó là một "vấn đề nguyên tắc" cho các hiệp hội không đứng về bên nào trong tranh chấp song phương.



Territorial disputes in the South China Sea have increased in the last several months between the Philippines and China, and between Vietnam and China. One conflict, which lasted for months, involved a standoff between lightly armed vessels belonging to China and to the Philippines at the Scarborough Shoal off the coast of the Philippines. Another dispute centered on a law enacted in Vietnam claiming sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, which China also claims.


Tranh chấp lãnh hải trên biển Đông đã leo thang trong vài tháng qua giữa Trung Quốc với Philippines, và giữa Việt Nam với Trung Quốc. Phải kể đến cuộc xung đột kéo dài hàng tháng nay, liên quan đến cuộc giằng co giữa các tàu vũ trang hạng nhẹ của Trung Quốc và Philippines tại bãi cạn Scarborough, ngoài khơi bờ biển Philippines. Một tranh cãi khác [giữa Trung Quốc và Việt Nam] tập trung vào Luật Biển vừa được Việt Nam thông qua, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi Trung Quốc cũng có yêu sách chủ quyền.


As the long-dominant United States and the fast-growing China both seek to increase their naval power in the Asia-Pacific region, the disputes have become more threatening.


Khi Mỹ, siêu cường giữ ưu thế vượt trội từ lâu và Trung Quốc, quốc gia đang vươn lên nhanh chóng theo đuổi sự tăng cường sức mạnh hải quân trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, những tranh chấp này đã trở thành nguy cơ đe dọa nhiều hơn.


China has repeatedly told American diplomats that the energy-rich South China Sea is none of Washington’s business.


Trung Quốc nhắc đi nhắc lại với giới chức ngoại giao Mỹ rằng vùng biển Đông giàu năng lượng không phải là công việc của Washington.


But the Obama administration has made clear that freedom of navigation is at stake in one of the world’s most important bodies of water for commerce.


Nhưng chính quyền Obama nêu rõ quyền tự do đi lại đang bị đe dọa tại một trong các vùng biển quan trọng nhất thế giới về mặt thương mại.


In her statement to the news media, Mrs. Clinton said, “The United States is a resident Pacific power,” a term intended to signal to China and the countries of the region that the United States is staying, and even increasing its presence.


Trong tuyên bố với giới truyền thông, bà Clinton khẳng định “Mỹ vẫn luôn là một cường quốc Thái Bình Dương”, một cụm từ nhằm đưa ra tín hiệu với Trung Quốc và các nước trong vùng, rằng Mỹ đang tiếp tục ở lại, và thậm chí đang gia tăng sự hiện diện của mình trong khu vực.


“No nation can fail to be concerned by the increase in tensions, the uptick in confrontational rhetoric and disagreement over resource exploitation,” Mrs. Clinton said.


“Không nước nào có thể cho rằng mình không liên quan đến sự gia tăng căng thẳng, cũng như hiện tượng châm thêm những lời lẽ đối đầu và bất đồng chung quanh vấn đề khai thác tài nguyên”, bà Clinton nhấn mạnh.


“We have seen worrisome instances of economic coercion and the problematic use of military and government vessels in connection with disputes among fishermen,” she said. The mention of economic coercion appeared to be a reference to China’s decision to stop importing Philippine bananas and to clamp down on Chinese tourist groups.


Bà nói, “chúng ta đã nhìn thấy một số trường hợp chèn ép về mặt kinh tế đáng quan ngại, và việc sử dụng lập lờ các tàu quân sự và tàu chính phủ can thiệp vào tranh chấp giữa các ngư dân trên biển”. Sự đề cập tình trạng chèn ép kinh tế có vẻ ám chỉ quyết định của Trung Quốc ngưng nhập khẩu chuối của Philippines và đình chỉ các đoàn khách du lịch Trung Quốc [đến Philippines].


China has made clear that it wants to deal with the South China Sea disputes with each country individually, and not through any regional forum. That stance has made the future of a code of conduct to resolve disputes in the South China Sea unclear.


Trung Quốc tuyên bố rõ họ muốn giải quyết tranh chấp biển Đông với từng quốc gia riêng lẻ, chứ không phải qua bất kỳ diễn đàn khu vực nào. Lập trường này đã làm cho tương lai của Bộ Quy tắc ứng xử (COC) nhằm giải quyết  các tranh chấp trên biển Đông trở nên mờ mịt.

Asian diplomats said Thursday that the main elements of a code of conduct, which the United States has urged the Southeast Asian group to adopt, had been agreed upon at this week’s gathering. The diplomats declined to specify the content of the proposed code.

Giới ngoại giao các nước châu Á cho biết hôm thứ Năm rằng, các yếu tố chính của Bộ Quy tắc Ứng xử biển Đông mà Mỹ vẫn thúc giục nhóm các nước Đông Nam Á thực hiện, đã được các nước đồng ý tại cuộc họp tuần này. Giới ngoại giao từ chối nêu rõ nội dung của Bộ quy tắc dự kiến.


The spokesman for China’s Ministry of Foreign Affairs has repeatedly said that China is willing to discuss a code of conduct only “when conditions mature.”


Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc lập lại tuyên bố Trung Quốc sẽ sẳn sàng thảo luận về COC chỉ khi “các điều kiện chín muồi”.

Last Sunday, Mrs. Clinton began a tour of Asia that is intended to show that the administration’s shift to that region reaches beyond military engagement.

Chủ nhật vừa qua, bà Clinton đã bắt đầu chuyến công du đến châu Á, chuyến đi nhằm biểu thị sự chuyển hướng của chính phủ Mỹ đối với khu vực này còn vượt xa hơn cả sự can dự về mặt quân sự.


The trip drew negative coverage in the Chinese press on Thursday. People’s Daily wrote that a trade agreement that Washington is seeking, called the Trans-Pacific Partnership, which excludes China, was an effort to weaken Asian integration. China Business News referred to “those hyping up the South China Sea issue,” a veiled reference to the United States.


Chuyến đi của bà Clinton đã thu hút làn sóng đưa tin tiêu cực trên báo chí Trung Quốc từ hôm thứ Năm. Tờ Nhân dân Nhật báo viết rằng, hiệp định thương mại mà Washington đang theo đuổi, gọi là Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, không bao gồm Trung Quốc, là nỗ lực làm suy yếu sự hội nhập của các nước châu Á. Tờ China Business News đề cập “những nước đang thổi phồng vấn đề biển Đông”, một sự ám chỉ úp mở với Mỹ.


The meeting here was held in a white-pillared conference hall, called the Peace Palace, that was built for the occasion by the Chinese government. When a Cambodian reporter asked Mrs. Clinton about American assistance to Cambodia, she made a reference to the difference between Chinese aid and that provided by the United States.


Cuộc họp được tổ chức trong một đại sảnh hội nghị với những hàng cột màu trắng, mang tên Cung Điện Hòa Bình, được chính phủ Trung Quốc đứng ra xây dựng phục vụ cho sự kiện này. Khi một phóng viên Campuchia hỏi bà Clinton về sự giúp đỡ của Mỹ dành cho nước này, bà viện dẫn sự khác nhau giữa viện trợ của Trung Quốc và của Mỹ.


“We can’t point to a big building,” she said, indicating that American aid was directed at feeding people in need, ensuring the survival of women who give birth and trying to improve people’s lives, especially those of children.
“Chúng tôi không thể nhắm đến việc xây dựng tòa nhà to lớn nào đó”,  bà cho biết viện trợ của Mỹ là nhằm giúp những người dân Campuchia đang trong hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo sức khỏe của các bà mẹ, cố gắng cải thiện cuộc sống người dân, đặc biệt là trẻ em.




http://www.nytimes.com/2012/07/13/world/asia/asian-leaders-fail-to-resolve-disputes-on-south-china-sea-during-asean-summit.html