|
|
|
|
Vietnam, Philippines
'bullying' ASEAN over sea conflict: Cambodian sources
|
Việt Nam,
Philippines 'bắt nạt' khối ASEAN trong xung đột biển Đông: nguồn tin Campuchia
|
|
By Puy Kea
PHNOM PENH, July 12, Kyodo
|
Puy Kea
PHNOM PENH, 12 Tháng Bảy, Kyodo
|
|
Vietnam and the Philippines have demanded that ASEAN adopt
strong language to reflect their positions in territorial disputes with China
in the South China Sea, leaving the 10-member grouping unable to adopt a
communique three days after an ASEAN foreign ministers meeting, Cambodian
diplomatic sources said Thursday.
|
Việt Nam và Philippines đã yêu cầu rằng ASEAN thông qua
ngôn ngữ mạnh mẽ để phản ánh lập trường của của họ trong tranh chấp lãnh thổ
với Trung Quốc ở Biển Đông, nhóm 10 thành viên không thể thông qua một thông
cáo sau một cuộc họp các Ngoại trưởng ASEAN, các nguồn tin ngoại giao
Campuchia hôm thứ Năm cho hay.
|
|
One Cambodian diplomatic source described the positions
taken by Vietnamese and Philippine officials as "bullying."
|
Một nguồn tin ngoại giao Campuchia mô tả các lập trường
được đưa ra bởi các quan chức Việt Nam và Philippines là "bắt nạt".
|
|
Vietnam has demanded that the communique includes a
reference to "the maritime boundary of exclusive economic zone and
continental shelves disputes between the Philippines, Vietnam and
China," while the Philippines wants the mention of "Scarborough
Shoal" in the document, the sources said.
|
Việt Nam đã yêu cầu thông cáo bao gồm một tham chiếu đến
"ranh giới biển của các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tranh
chấp giữa Philippines, Việt Nam và Trung Quốc", trong khi Philippines muốn
đề cập đến "Scarborough Shoal" trong tài liệu, các nguồn tin cho
biết.
|
|
Cambodia, as chair of the ASEAN meetings and a close
friend of China, is not happy with the demands put up by Vietnam and the
Philippines, the sources said.
|
Cam-pu-chia, chủ tịch của các cuộc họp ASEAN và là người
bạn thân thiết của Trung Quốc, không hài lòng với các yêu cầu Việt Nam và Philippines
nêu ra, các nguồn tin cho biết.
|
|
The sources said Cambodia has warned that if the deadlock
continues, a joint communique that is usually released soon after the annual
meeting would be scrapped altogether.
|
Các nguồn tin cũng cho biết Campuchia đã cảnh báo rằng nếu
tiếp tục bế tắc, một thông cáo chung thường được phát hành ngay sau khi cuộc
họp thường niên sẽ được loại bỏ hoàn toàn.
|
|
The controversy over the language in the communique for
the ASEAN foreign ministers' meeting spilled over to a meeting between the
Chinese and ASEAN foreign ministers on Wednesday.
|
Các tranh cãi về ngôn ngữ trong thông cáo của cuộc họp
ngoại trưởng các nước ASEAN đã tràn qua một cuộc họp giữa Trung Quốc và Bộ
trưởng Ngoại giao ASEAN hôm thứ Tư.
|
|
Speaking at the meeting, Chinese Foreign Minister Yang
Jiechi said "some ASEAN member states have taken unilateral provocative
action on the issues of South China Sea," diplomatic sources said.
|
Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc
Dương Khiết Trì cho biết "một số thành viên các nước ASEAN đã đơn phương
hành động khiêu khích về các vấn đề của Biển Đông", nguồn tin ngoại giao
cho biết.
|
|
Yang effectively put on hold an agreement reached earlier
by senior ASEAN and Chinese officials to open negotiations for a legally binding
"code of conduct" in the South China Sea, saying the talks would
have to wait until "the condition is ripe," the sources said.
|
Yang đã thành công khi trì hoãn một thỏa thuận đạt được trước
đó của cấp cao ASEAN và các quan chức Trung Quốc để mở các cuộc đàm phán cho
một "quy tắc ứng xử" có tính ràng buộc pháp lý ở Biển Đông, ông nói
rằng các cuộc đàm phán sẽ phải chờ đợi cho đến khi "điều kiện đã chín
muồi", các nguồn tin cho hay.
|
|
The Scarborough Shoal was the scene of a stand-off between
Chinese and Philippine government vessels earlier this year. Both the
Philippines and China claim sovereignty of the shoal.
|
Bãi đá ngầm Scarborough là hiện trường của một sự đối đầu bế
tắc giữa các tàu của chính phủ Trung Quốc và Philippines vào đầu năm nay. Cả Philippines
và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của bãi này.
|
|
Vietnam, which disputes China's claims to the Spratly and
Paracel island groups, has decried recent Chinese "patrolling" of
the contested seas and a recent announcement by the Chinese National Offshore
Oil Corp. that it will invite international bids for oil and gas exploration
in an area of the Paracels.
|
Việt Nam, tranh chấp với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc
đối với nhóm đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã chỉ trích Trung Quốc gần đây đã
"tuần tra" vùng biển tranh chấp và việc Tập đoàn Dầu khí Đại Dương
Quốc gia Trung Quốc công bố gần đây về mở hồ sơ dự thầu quốc tế và thăm dò
dầu khí trong một khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa.
|
|
|
|
|
http://english.kyodonews.jp/news/2012/07/169301.html
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Friday, July 13, 2012
Vietnam, Philippines 'bullying' ASEAN over sea conflict: Cambodian sources Việt Nam, Philippines 'bắt nạt' khối ASEAN trong xung đột biển Đông: nguồn tin Campuchia
The South China Sea: “Disputed waters” everywhere? Biển Đông: "Tranh chấp vùng biển" ở khắp mọi nơi?
|
|
|
The South China Sea:
“Disputed waters” everywhere?
|
Biển Đông: "Tranh
chấp vùng biển" ở khắp mọi nơi?
|
No. 123/2012 dated 11 July 2012
|
Số. 123/2012 ngày 11/7/2012
|
By Huy Duong
|
By Huy Duong
|
Synopsis
Since 2011, the disputes over maritime space in the South
China Sea have involved not only which country has sovereign and
jurisdictional rights over an area, but also whether an area constitutes
disputed waters. This is an important question that must be answered with
certain principles.
|
Tóm tắt
Từ năm 2011, tranh chấp về không gian hàng hải trong vùng
biển Nam Trung Hoa đã lôi kéo không chỉ quốc gia có quyền chủ quyền và quyền
tài phán về một khu vực, mà còn về việc liệu có một khu vực tạo thành vùng
biển tranh chấp hay không. Đây là một câu hỏi quan trọng là phải được trả lời
với một số nguyên tắc nhất định.
|
Commentary
China’s National Offshore Oil Corporation has, on 23 June
2012, invited bids for nine blocks for oil & gas
exploration in the South China Sea. The blocks lie inside
Vietnam’s declared Exclusive Economic Zone,
bounded to the West by China’s “U-shaped line”, and
extending to 57 nautical miles off the Vietnamese
mainland. Vietnam’s Ministry of Foreign Affairs stated on
26 June 2012 that this area “lies entirely within Viet Nam’s 200-nautical
mile exclusive economic zone and continental shelf ... It is absolutely not a
disputed area”. China’s MOFA responded that its jurisdiction applies to this
area and referred to the “proper settlement of maritime disputes”, thereby
asserting that the area is disputed.
|
Bình luận
Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Quốc gia Trung Quốc, ngày
23 Tháng Sáu năm 2012, mở hồ sơ dự thầu cho chín lô dầu khí thăm dò ở Biển
Đông. Các lô nằm bên trong Khu độc quyền kinh tế đã tuyên bố của Việt Nam, phía
Tây giáp "đường chữ U" của Trung Quốc, và mở rộng đến 57 hải lý
ngoài khơi đất liện của Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố hôm 26
Tháng Sáu 2012 rằng khu vực này "hoàn toàn nằm trong phạm vi 200 hải lý
của khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam... Đó là hoàn toàn
không phải là một khu vực tranh chấp". Bộ Ngoại giao Trung Quốc trả lời
rằng thẩm quyền của TQ áp dụng đối với khu vực này và đề cập đến "giải
quyết tốt các tranh chấp hàng hải", qua đó khẳng định rằng khu vực này
là khu vực tranh chấp.
|
This controversy on whether an area constitutes disputed
waters echoes the incident in May 2011 in which China’s Maritime Surveillance
ships cut the seismic cable being towed by a Vietnamese geological survey vessel.
At that time, Vietnam asserted that the incident took place in undisputed
waters, while China disagreed.
|
Tranh cãi về việc có một khu vực tạo thành vùng biển tranh
chấp này lặp lại sự kiện tháng 5 năm 2011, trong đó của tàu Giám sát hàng hải
Trung Quốc cắt cáp địa chấn của một tàu khảo sát địa chất Việt Nam. Vào thời
điểm đó, Việt Nam khẳng định rằng sự cố đã diễn ra trong vùng biển có chủ
quyền không thể tranh cãi, trong khi Trung Quốc không đồng ý.
|
A similar controversy exists between China and the
Philippines regarding the EEZ in the Reed Bank area, which the Philippines
regards as not being part of the Spratlys and therefore undisputedly its own,
while China maintains otherwise.
|
Một tranh cãi tương tự tồn tại giữa Trung Quốc và Việt Nam
liên quan đến các đặc khu kinh tế trong khu vực Reed Bank, mà Philippines coi
như không phải là một phần của quần đảo Trường Sa và do đó là của riêng họ
không có tranh chấp, trong khi Trung Quốc duy trì quan điểm khác.
|
The need to define
the disputed areas
These controversies raise the question “Where are the
disputed areas in the South China Sea?” Surprisingly, no claimant to the
disputed islands and rocks in the South China Sea has declared the limits of
its claims to maritime space as derived from these features, so the boundaries
of the disputed areas are unknown. Since the disputes have proved
intractable, the need to manage them and reduce the risks of conflict
breaking out is paramount. Unfortunately, the absence of declared, let alone
agreed, boundaries for the disputed areas, makes managing the disputes
extremely difficult. It also increases the risk of mismatched expectations
and conflicts.
|
Sự cần thiết phải
xác định các khu vực tranh chấp
Những tranh cãi này dẫn đến câu hỏi "Những khu vực nào
là khu vực tranh chấp ở biển Đông?" Đáng ngạc nhiên, không có nước yêu
sách chủ quyền nào tuyên bố các giới hạn chủ quyền về không gian hàng hải đối các đảo và mõm đá tranh chấp trên
Biển Đông như đã thấy, do đó, ranh giới của khu vực tranh chấp chưa được
biết. Do các tranh chấp tỏ ra khó giả quyết, cần phải quản lý và giảm rủi ro bùng
nổ xung đột là tối quan trọng. Thật không may, không hề có các ranh giới khu
vực tranh chấp đã được tuyên bố chứ đừng nói là đồng ý, khiến cho việc quản
lý các tranh chấp trở nên vô cùng khó khăn. Nó cũng làm tăng nguy cơ của
những kỳ vọng và những xung đột không phù hợp.
|
An example is the Declaration of Conduct of Parties in the
South China Sea 2002 between ASEAN and China. The fact that this does not
delineate and differentiate disputed areas and undisputed ones is a limitation
similar to that of having a single speed limit for motorways and urban
streets. Similarly, if the new Code of Conduct does not delineate and
differentiate disputed and undisputed areas, it will suffer from the same
limitation.
|
Một ví dụ là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
2002 giữa ASEAN và Trung Quốc. Thực tế rằng văn bản này không phân định và
phân biệt khu vực tranh chấp và không tranh chấp là một hạn chế tương tự như
có một giới hạn tốc độ duy nhất cho đường cao tốc và đường phố đô thị. Tương
tự như vậy, nếu Quy rắc mới về ứng xử không phân định và phân biệt các khu
vực tranh chấp và không tranh chấp, nó sẽ bị hạn chế.
|
Another example is China’s proposal to set aside the
disputes and pursue joint development. While joint development is in
principle a valid approach for managing the disputes, it cannot work in
practice without the claimants agreeing on the boundaries of the disputed
areas, i.e., on the actual areas to be subjected to joint development.
|
Một ví dụ khác là đề nghị của Trung Quốc là bỏ qua một bên
những tranh chấp và theo đuổi phát triển chung. Trong khi hợp tác phát triển về
nguyên tắc một cách tiếp cận hợp lệ để quản lý các tranh chấp, nó không có
thể hoạt động trong thực tế nếu không có các bên tranh chấp thỏa thuận về
ranh giới của khu vực tranh chấp, tức là, trên các khu vực thực tế được liên
doanh phát triển.
|
Principles for determining
disputed areas
There is a view that if there exist conflicting claims in
one area then that area is disputed. However, setting the common denominator
this low would allow any country to make any area a disputed one by making a
conflicting claim there. For example, China could start declaring
specifically that the U-shaped line represents a boundary for maritime space
to make the whole area inside it disputed. Similarly the Philippines and
Vietnam could do the equivalent with a C-shaped line and a D-shaped one
respectively. This would make it impossible to contain or manage the disputes.
|
Nguyên tắc xác định
khu vực tranh chấp
Có một quan điểm rằng nếu có tồn tại các mâu thuẫn trong
một khu vực thì khu vực đó là khu vực tranh chấp. Tuy nhiên, thiết lập các
mẫu số chung thấp này sẽ cho phép bất kỳ nước nào muốn làm cho bất kỳ một khu
vực trở thành tranh chấp bằng cách đưa ra yêu sách xung đột ở đó. Ví dụ,
Trung Quốc có thể bắt đầu tuyên bố cụ thể rằng đường chữ U đại diện cho một
ranh giới không gian hàng hải để làm cho toàn bộ khu vực bên trong nó trở
thành tranh chấp. Tương tự, Philippines và Việt Nam có thể làm điều tương
đương với một đường chữ C- và đường hình chữ D cho mỗi nước. Điều này hẳn sẽ
làm cho không thể nào kìm hãm hoặc quản lý các tranh chấp.
|
Instead, the common denominator for the notion of
“disputed area” has to be based on UNCLOS, which stipulates specific maritime
zones and embodies the principle that claims to these zones must be derived
from land and insular territories. This common denominator can be further
clarified by international law of maritime delimitation.
|
Thay vào đó, mẫu số chung cho khái niệm "khu vực
tranh chấp" phải dựa trên UNCLOS, trong đó quy định cụ thể khu vực hàng
hải và thể hiện nguyên tắc tuyên bố các khu vực này phải được bắt nguồn từ
đất liền và các vùng lãnh thổ đảo. Mẫu số chung này có thể được tiếp tục làm
rõ theo quy định của pháp luật quốc tế về phân định hàng hải.
|
It is clear that the 12-nautical-mile territorial sea
around the islands and rocks of the Paracels, Spratlys and Scarborough Shoal
are disputed. Beyond this, the picture becomes more complicated.
Nevertheless, it is possible to specify the range of the spectrum of
opinions.
|
Rõ ràng là lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo, đá, quần
đảo Trường Sa quần đảo Hoàng Sa và Scarborough Shoal đang có tranh chấp.
Ngoài các khu vực này, bức trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, có thể xác định
phạm vi của một phổ ý kiến.
|
At the first end of the spectrum is the view that none of
the disputed features deserves EEZ or continental shelf. This would mean that
the disputed areas are confined exclusively to the 12-nautical-mile
territorial sea generated from valid baselines and base points around these
features.
|
Ở một đầu của phổ này là quan điểm mà không ai trong số bên
tranh chấp xứng đáng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Điều
này có nghĩa rằng các khu vực tranh chấp được hạn chế độc quyền lãnh hải 12
hải lý được tạo ra từ đường cơ sở hợp lệ và các điểm cơ sở xung quanh các thực
thể này.
|
At the other end of the spectrum is the counterfactual
hypothesis that the outermost features of the Paracels, Spratlys and
Scarborough Shoal are all islands which are entitled to EEZ and which deserve
100% EEZ delimitation in areas where this entitlement overlaps with that of
uncontested territories. Under this hypothesis the boundaries of the disputed
areas would be the equidistance lines between uncontested territories and the
outermost features of these three clusters. In reality, not every one of
these outermost features is entitled to EEZ.
|
Ở đầu kia của quang phổ là giả thuyết cho rằng các thực thể ngoài cùng của quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa và bãi Scarborough
là tất cả các hải đảo được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và xứng đáng được
hưởng 100% phân định vùng đặc quyền kinh tế trong các khu vực mà quyền được
hưởng này chồng lấn với các vùng lãnh thổ không tranh chấp. Theo giả thuyết
này, ranh giới của khu vực tranh chấp sẽ là dòng trung tuyến giữa các vùng
lãnh thổ không tranh chấp và các thực thể ngoài cùng của cả ba cụm đảo này.
Trong thực tế, không phải tất cả các thực thể ngoài cùng này được hưởng quy
chế Đặc khu kinh tế.
|
Additionally, according to international law of maritime
delimitation, every feature of the three clusters should have only limited or
no effect in EEZ delimitation in areas where its potential EEZ entitlement
overlaps with that of larger landmasses. This means that in reality the
extent of the EEZ belonging to the disputed features will fall short of the
equidistance lines. Therefore, in areas of overlapping EEZ entitlements,
boundaries for the disputed areas that are consistent with international law
would be near the first end of the spectrum, and cannot extend to near or
past the equidistance lines.
|
Ngoài ra, theo luật quốc tế về phân định hàng hải, tất cả
các thực thể của ba cụm đảo có chỉ nên hưởng phân định vùng đặc quyền kinh tế
giới hạn hoặc không có hiệu lực trong về khu vực đặc quyền kinh tế nếu quyền
hưởng khu vực đặc quyền kinh tế của nó chồng lấn vớ quyền hưởng khu vực đặc
quyền kinh tế của vùng đất liền lớn hơn. Điều này có nghĩa rằng trong thực tế
mức độ của các vùng đặc quyền kinh tế của các thực thể tranh chấp sẽ nằm chưa
tới các đường trung tuyến. Vì vậy, trong các khu vực chồng lấn về quyền hưởng
khu vực đặc quyền kinh tế, ranh giới khu vực tranh chấp phù hợp với luật pháp
quốc tế là gần một đầu cuối của phổ ý kiến, và không thể mở rộng đến gần hoặc
qua đường trung tuyến.
|
Basis for dispute
management
Instead of adopting a common denominator that is too low
to assert that an arbitrary area of the South China Sea constitutes disputed
waters, the claimants should use one that is based on UNCLOS and
international law of maritime delimitation. Furthermore, they should jointly
determine where on this spectrum the boundaries of the disputed areas are.
This can be done either through negotiation or by submitting the question to
an international court.
|
Cơ sở để quản lý
tranh chấp
Thay vì áp dụng một mẫu số chung vốn quá thấp để khẳng
định rằng một khu vực nào đó trên Biển Đông có tạo thành vùng biển tranh chấp
hay không, thì quốc gia yêu sách chủ quyền nên sử dụng một trong những mẫu số
dựa trên UNCLOS và luật pháp quốc tế về phân định hàng hải. Hơn nữa, họ phải
cùng nhau xác định vị trí của ranh giới của khu vực tranh chấp trên phổ này.
Điều này có thể được thực hiện hoặc thông qua đàm phán hoặc bằng cách gửi câu
hỏi đến một tòa án quốc tế.
|
The existence of agreed boundaries for the disputed areas
will be the necessary basis for dispute management measures. Boundaries that
are near the first end of the spectrum, in addition to being consistent with international
law, will also keep the disputed areas small, thus improving the likelihood
of the claimants agreeing on these measures.
|
Sự tồn tại của các ranh giới đã đồng ý cho các khu vực
tranh chấp sẽ là cơ sở cần thiết cho các biện pháp quản lý tranh chấp. Ranh
giới đó nằm gần cuối phổ, ngoài việc phù hợp với luật pháp quốc tế, cũng còn
giữ cho các khu vực tranh chấp nhỏ lại, do đó cải thiện khả năng của các bên
tranh chấp thỏa thuận về các biện pháp này.
|
RSIS COMMENTARIES
RSIS Commentaries
are intended to provide timely and, where appropriate, policy relevant
background and analysis of contemporary developments. The views of the
authors are their own and do not represent the official position of the S. Rajaratnam
School of International Studies, NTU. These commentaries may be reproduced
electronically or in print with prior permission from RSIS. Due recognition
must be given to the author or authors and RSIS. Please email: RSISPublication@ntu.edu.sg
or call (+65) 6790 6982 to speak to the Editor RSIS Commentaries, Yang Razali
Kassim.
|
Bình Luận của RSIS
Bình luận RSIS có ý định cung cấp các bài viết có liên quan về chính sách và phân tích kịp
thời và thích hợp về các phát triển hiện thời. Quan điểm của các tác giả là của
riêng họ và không đại diện cho lập trường chính thức của Khoa Quốc tế học S. Rajaratnam,
NTU. Những bình luận này có thể được sao chép dạng điện tử hoặc in ấn với sự cho
phép trước của RSIS. Để được công nhận phải gởi thư cho tác giả hoặc các tác giả
và RSIS. Xin vui lòng email: RSISPublication@ntu.edu.sg hoặc gọi số (+65)
6790 6982 để nói chuyện với Biên tập viên của Bình Luận RSIS, Yang Razali
Kassim.
|
Dr Huy Duong is a
UK-based IT consultant and commentator on maritime affairs. He contributed
this article specially to RSIS Commentaries.
|
Tiến sĩ Huy Dương là
một tư vấn và nhà bình luận của IT, Vương quốc Anh về các vấn đề hàng hải. Ông đã đóng
góp bài viết này đặc biệt cho Bình Luận RSIS
|
Translated by nguyenquangy
|
|
http://www.rsis.edu.sg/publications/Perspective/RSIS1232012.pdf
|
|
Thursday, July 12, 2012
The End of the Vietnamese Miracle Phép mầu Việt Nam còn đâu
|
|
|
|
The End of the
Vietnamese Miracle
|
Phép mầu Việt Nam
còn đâu
|
|
So much for the next Asian success story.
|
Câu chuyện thành công tiếp theo ở châu Á còn chăng?
|
|
BY GEOFFREY CAIN | JULY 11, 2012
|
GEOFFREY CAIN | JULY 11/7/2012
|
|
HO CHI MINH CITY – In what was once one of Asia's most
exciting emerging markets, Nguyen Van Nguyen sees only gloom ahead. Since
2008, his business in southern Vietnam's economic capital has suffered
through two volatile bouts of inflation, peaking in August 2011 at 23 percent
-- at the time, Asia's highest inflation rate. Now he's only accepting small
overseas orders for Binh Minh, his once-thriving bamboo-screen factory in Ho
Chi Minh City, to hedge against price fluctuations. He says customers in
Australia, Europe, and the United States have decreased their orders
following weakening global demand. Production costs across the industry have
risen approximately 30 percent while customers are only willing to pay about
10 percent more, says Dang Quoc Hung, vice president of Association for
Handicraft and Wood Industry in Ho Chi Minh City. Nguyen's hiring fewer
workers for the summer high season and cutting their pay to about $120 a
month, down from $200. "We can only work at a slow speed, and things are
hard now," he lamented in late June.
|
Thành phố Hồ Chí Minh – Tại cái nơi đã từng là một trong
những thị trường đang nổi lên sôi động nhất châu Á, Nguyen Van Nguyen chỉ
nhìn thấy phía trước là bầu trời ảm đạm. Kể từ năm 2008, công ty của ông ở
thủ phủ kinh tế miền nam Việt Nam đã trải qua hai lần lạm phát rất đột ngột,
đạt đỉnh vào tháng 8-2011 ở mức 23% – là mức lạm phát cao nhất châu Á vào thời
điểm đó. Giờ đây, đề tự bảo hiểm trước rủi ro giá cả, ông chỉ nhận những đơn
đặt hàng nhỏ từ nước ngoài cho nhà máy của mình – Bình Minh – nhà máy sản
xuất mành trúc ở TP.HCM, từng một thời thịnh vượng. Ông bảo rằng khách hàng ở
Australia, châu Âu, và Mỹ đều đã giảm bớt số đơn đặt hàng, sau khi nhu cầu
toàn cầu suy thoái. Chi phí sản xuất trong ngành đã tăng xấp xỉ 30%, trong
khi khách hàng chỉ còn sẵn sàng trả thêm chừng 10% nữa – theo ông Dang Quoc
Hung, phó chủ tịch Hiệp hội Thủ công Mỹ nghệ và Đồ Gỗ ở TP.HCM. Ông Nguyen
cũng thuê ít công nhân hơn cho mùa cao điểm là những tháng hè, và giảm lương
của họ từ 200 USD xuống còn khoảng 120 USD/tháng. “Chúng tôi chỉ có thể làm
chầm chậm thôi, mọi việc bây giờ khó khăn lắm” – ông than vãn như vậy hồi
cuối tháng 6.
|
|
The Communist Party of Vietnam would prefer that investors
see cases like Nguyen's as simply one-off local effects of the global
economic slowdown, not of a systemic weakening. In the two decades since the Communist
Party instituted economic reforms in 1986, annual GDP growth averaged a
remarkable 7.1 percent. Indeed, four years ago, Vietnam seemed like the next
Asian success story. Before joining the World Trade Organization in 2007, the
country's leaders pledged to do even better, speeding up a vast restructuring
and privatization of their wasteful state-owned enterprises (SOEs), a process
they euphemistically called "equitization." The International
Monetary Fund predicted in 2007 that cheaper imports as a result of WTO
accession could contain inflation, and that structural reforms could level
the playing field between local and foreign competitors. But on Hillary
Clinton's visit to the capitol Hanoi earlier this week, Prime Minister Nguyen
Tan Dung was forced onto the defensive, promising favorable conditions for
foreign investors as he tries to keep the "Vietnam miracle" alive.
|
Đảng Cộng sản Việt Nam muốn các nhà đầu tư nhìn nhận những
trường hợp như của ông Nguyên chỉ đơn giản là tác động tức thời ở địa phương
của suy thoái kinh tế toàn cầu, chứ không phải là một sự suy yếu đi của cả hệ
thống. Trong hai thập niên kể từ khi Đảng thiết lập cải cách kinh tế vào năm
1986, tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức trung bình ấn tượng 7,1%. Quả thật,
bốn năm về trước, Việt Nam có vẻ như là câu chuyện thành công tiếp theo ở
châu Á. Trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007,
các nhà lãnh đạo của đất nước này cam kết sẽ còn làm tốt hơn, đẩy nhanh tốc
độ một tiến trình khổng lồ – tái cơ cấu và tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà
nước làm ăn tốn kém của họ – tiến trình này được gọi tránh đi là “cổ phần
hóa”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hồi năm 2007 dự đoán rằng, một trong các kết quả
của việc gia nhập WTO là nhập khẩu rẻ hơn, có thể kìm giữ lạm phát, và cải
cách cơ cấu có thể san bằng sân chơi giữa các đối thủ cạnh tranh nước ngoài
và sở tại. Nhưng tại chuyến thăm của bà Hillary Clinton tới Hà Nội vào đầu
tuần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bị buộc phải rơi vào thế phòng vệ,
phải hứa hẹn các điều kiện ưu đãi cho giới đầu tư nước ngoài, khi ông cố gắng
duy trì “phép màu Việt Nam”.
|
|
Over the past decade, rising labor costs in China meant
that its days as the factory of the world were numbered. Stable Vietnam, with
its young, cheap workforce and serviceable infrastructure, seemed like the
logical next choice. Foreign investment poured in throughout the mid-2000s,
with net inflows more than tripling to $9.6 billion in 2008 from two years
earlier. Vietnam was the "next Asian tiger in the making," said
Goldman Sachs. "Foreign investors didn't care about governance or policy.
They were driven by low labor costs," says Edmund Malesky, a political
economist at the University of California at San Diego who focuses on
Vietnam.
|
Trong thập niên vừa qua, tiền công lao động tăng lên ở
Trung Quốc đưa đến kết quả là những ngày họ đóng vai trò “công xưởng của thế
giới” không còn bao lâu. Một Việt Nam ổn định, với lực lượng lao động trẻ
tuổi và rẻ tiền, cơ sở hạ tầng tiện lợi, dường như là sự lựa chọn hợp logic
tiếp sau Trung Quốc. Đầu tư nước ngoài tràn vào trong suốt những năm giữa
thập niên 2000, với vốn ròng tăng hơn ba lần, đạt 9,6 tỷ USD vào năm 2008 so
với hai năm trước đó. Việt Nam là “con hổ châu Á tiếp theo đang thành hình”,
Goldman Sachs bảo vậy. Ông Edmund Malesky, một nhà kinh tế chính trị ở ĐH
California, San Diego và chuyên sâu nghiên cứu về Việt Nam, nói: “Các nhà đầu
tư nước ngoài không quan tâm đến năng lực điều hành của chính phủ hay là
chính sách. Họ chỉ bị thu hút bởi động lực là tiền công lao động rẻ”.
|
|
Ignoring the politics, it turned out, was a costly
oversight. Few businesspeople predicted the Vietnam of 2012: a country
struggling with a weak currency, inflation, red tape, and cronyism that has
led to billions of dollars of waste -- and home to a government that makes
decisions like building oddly placed ports or roads that serve little
economic value.
|
Nhưng rồi té ra phớt lờ chính trị lại là một sơ suất tốn
kém. Rất ít doanh nhân dự đoán được tình hình Việt Nam năm 2012: một đất nước
phải vật lộn với đồng nội tệ yếu, lạm phát, quan liêu, chủ nghĩa tư bản thân
hữu dẫn đến lãng phí hàng tỷ USD, và là đất nước có một chính phủ ra các
quyết định như xây cảng, xây đường ở những nơi rất kỳ cục mà hầu như không có
giá trị kinh tế.
|
|
Things started to turn south when Vietnam embarked on a
$100 billion expansion in the domestic credit stock from 2007 to 2010, a
program accelerated by the 2008 economic crisis. Instead of being directed
towards private businesses, the government channeled the funds to politically
connected SOEs, who used them to expand fervently into areas outside of their
expertise, creating an increased demand for resources that fedinflation.
Flush with cash, they were able to drive out smaller, more efficient
competitors. The massive state-run shipbuilder Vinashin, which employed some
60,000 workers and oversaw 28 shipyards, diversified into almost 300 units,
including motorbike manufacturing and hotels, after it raised an additional
$1 billion from international investors in 2007. Officials hoped it would
drive growth like South Korea's semi-public conglomerates.
|
Mọi thứ bắt đầu đi xuống khi Việt Nam khởi động một chương
trình mở rộng tín dụng nội địa, trị giá 100 tỷ USD, từ năm 2007 tới năm 2010.
Do cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, chương trình càng được tăng tốc. Thay vì
hướng đến các doanh nghiệp tư nhân, chính phủ lại chuyển các quỹ tới tay
những doanh nghiệp nhà nước có mối quan hệ về chính trị. Các đơn vị đó sử
dụng vốn này để bành trướng mạnh mẽ vào những lĩnh vực ngoài ngành nghề
chuyên môn của họ, tạo ra nhu cầu ngày càng tăng về nguồn lực và dẫn đến lạm
phát. Sẵn lắm tiền mặt, họ đã có thể loại bỏ những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn
nhưng lại hiệu quả hơn. Hãng đóng tàu quốc doanh khổng lồ Vinashin, nơi tuyển
dụng khoảng 60.000 công nhân và cai quản 28 xưởng đóng tàu, chia thành gần
300 đơn vị, gồm cả cơ sở sản xuất xe máy, khách sạn. Trước đó họ đã nhận được
thêm 1 tỷ USD từ các nhà đầu tư quốc tế, trong năm 2007. Giới chức lãnh đạo
hy vọng nó sẽ là lực kéo tăng trưởng kinh tế, giống như các tập đoàn
(công-lô-mê-rát) nửa công nửa tư nhân của Hàn Quốc.
|
|
But in 2010, Vinashin was found to be falsifying its
financial reports, and it nearly collapsed under $4.4 billion worth of debt
owed to both local and international creditors, a number equivalent to almost
5 percent of GDP. It eventually defaulted on a $400 million loan arranged by
Credit Suisse. Prime Minister Nguyen Tan Dung -- who backed Vinashin as his
pet project central to the state-run economy -- was forced to apologize
before the National Assembly during a painful self-criticism session. Dung's
rivals, seeking to protect their own corporate fiefdoms and political
offices, had found their scapegoat: Authorities sentenced eight executives
last March. But instead of speeding up its much promised and grindingly slow
process of privatization initiated in the 1990s, authorities swept the
debacle under the rug.
|
Nhưng, vào năm 2010, Vinashin bị phát hiện là đã làm giả
chứng từ tài chính, và tập đoàn gần như sụp đổ vì khoản nợ trị giá 4,4 tỷ
USD, cả với chủ nợ trong nước lẫn quốc tế. Con số này tương đương gần 5% GDP.
Cuối cùng Vinashin vỡ nợ một khoản 400 triệu USD của Credit Suisse. Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng – người hậu thuẫn cho Vinashin bởi đó là dự án ưa thích của
ông, dự án trung tâm của nền kinh tế do nhà nước điều hành – buộc phải xin
lỗi Quốc hội trong một phiên tự phê bình rất đau đớn. Các đối thủ của Dũng,
khi tìm cách bảo vệ lợi ích riêng của công ty mình và chỗ đứng chính trị của
mình, đã tìm ra con dê tế thần: Tháng 3, chính quyền kết án 8 nhân viên điều
hành. Nhưng thay vì đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa nhiều hứa hẹn mà chậm chạp
thê thảm, được khởi động suốt từ những năm 1990, thì chính quyền giấu nhẹm
mọi sự thất bại của họ.
|
|
The government went into damage-control mode, refusing to
back the $400 million Credit Suisse loan as the conglomerate remained
uncommunicative with European creditors. Responding to the crisis, Moody's
downgraded Vietnam's sovereign credit rating one notch to B1 from Ba3,
signifying a "high credit risk" below investment grade.
|
Chính phủ bắt đầu kiểm soát thiệt hại, từ chối bảo trợ cho
khoản 400 triệu USD vay từ Credit Suisse trong khi Vinashin vẫn không chịu
cởi mở thông tin với giới chủ nợ châu Âu. Phản ứng trước khủng hoảng, Moody
hạ điểm tín dụng chủ quyền của Việt Nam một điểm, từ B1 xuống Ba3, đánh dấu
“rủi ro tín dụng cao” dưới điểm về đầu tư.
|
|
Other Vinashin-like breakdowns were in the works, but
secretive kickback networks allowed them to cover up their failing books for
years, according to several state-employed newspaper editors interviewed in
2011. In May 2012, an ongoing government investigation revealed that the
state-owned shipping company Vinalines had defaulted on five loans worth $1.1
billion, and accumulated debt of $2.1 billion, more than four times its
equity. Since February, four executives have been arrested for mismanaging
state resources; authorities, meanwhile, are on the hunt for its fugitive
former chairman.
|
Theo một số biên tập viên ở vài tờ báo quốc doanh, được
phỏng vấn năm 2011, thì các vụ sụp đổ tương tự Vinashin khác cũng đã xảy ra,
nhưng mạng lưới mánh mung bí mật cho phép họ che giấu sổ sách chứng từ thua
lỗ trong nhiều năm. Vào tháng 5-2012, một cuộc điều tra của chính phủ cho
thấy tập đoàn đóng tàu quốc doanh Vinalines đã vỡ nợ đối với 4 khoản nợ, trị
giá 1,1 tỷ USD, và nợ lũy tiến 2,1 tỷ USD, gấp hơn bốn lần tài sản của họ. Kể
từ tháng 2, đã có 4 nhân viên điều hành bị bắt vì quản lý yếu kém nguồn lực
nhà nước; trong khi đó thì chính quyền đang truy nã vị cựu chủ tịch của hãng
này (đã bỏ trốn).
|
|
Foreign investors, facing higher costs of labor and
materials, began to worry that Vietnam was losing its low-priced edge. Four
foreign investors complained in interviews over the last 2 years that
state-owned companies abused their position as government-connected industry
gatekeepers. "They're a pain in the ass," said one American
business lawyer in Ho Chi Minh City. "Nobody wants to deal with these
guys."
|
Giới đầu tư ngoại quốc, đối diện với chi phí lao động và
nguyên vật liệu tăng cao, bắt đầu lo sợ rằng Việt Nam đang mất đi lợi thế giá
thấp. Bốn nhà đầu tư nước ngoài than phiền trong các cuộc phỏng vấn diễn ra
hai năm qua, rằng các doanh nghiệp quốc doanh đã lạm dụng địa vị “người gác
cổng trong nghề” có mối liên hệ mật thiết tới chính phủ. “Họ là ung nhọt” –
môt luật sư kinh doanh người Mỹ ở TP.HCM nói. “Chẳng ai muốn dây dưa với đám
ấy”.
|
|
While Vietnamese officials are now assuring investors that
the worst is over, a government audit released in early July revealed that at
least thirty other large SOEs carry worrisome debt burdens. The deeper
problem is that in Vietnam, unlike in China, the Communist Party elite are
paranoid about sharing the spoils with private, and especially foreign,
businessmen. In China, the party has generally kept its markets competitive
by bringing private businesspeople into the fold, improving governance,
privatizing around 90,000 firms worth more than $1.4 trillion between 1998
and 2005, and more recently purging neo-Maoist gangsters like former
Chongqing Party Secretary Bo Xilai. Vietnamese leaders still haven't figured
out how to fix their economy without relinquishing some form of political
control -- a step they're unwilling to take.
|
Trong khi giới chức Việt Nam đang cố gắng đảm bảo với các
nhà đầu tư rằng thời điểm tồi tệ nhất đã qua, thì một báo cáo kiểm toán nhà
nước phát hành hồi đầu tháng 7 tiết lộ rằng ít nhất 30 doanh nghiệp nhà nước
lớn khác cũng đang mắc những gánh nợ rất đáng lo ngại. Vấn đề sâu xa hơn nữa
là ở Việt Nam, không giống như ở Trung Quốc, giới tinh hoa trong Đảng Cộng
sản không ảo tưởng gì về chuyện chia lợi lộc với tư nhân, đặc biệt là doanh
nhân nước ngoài. Ở Trung Quốc, nhìn chung đảng giữ tính cạnh tranh của thị
trường bằng cách bảo vệ doanh nghiệp tư nhân, cải thiện chất lượng điều hành
của chính phủ, tư nhân hóa khoảng 90.000 doanh nghiệp trị giá hơn 1,4 nghìn
tỷ USD từ năm 1998 đến năm 2005, và gần đây là tiến hành thanh trừng các tay
mao ít mới như Bí thư Tỉnh ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Giới lãnh đạo Việt Nam
thì vẫn chưa xác định được phải sửa chữa, điều chỉnh nền kinh tế của mình như
thế nào mà không phải từ bỏ một số hình thức kiểm soát về chính trị nào đó –
một bước mà họ không muốn tiến hành.
|
|
Instead of cleaning up the cobwebs between SOEs and their
patron politicians, the power players have launched campaigns against a new
generation of nouveau riche entrepreneurs-cum-lawmakers. In late May, the
National Assembly voted 96 percent in favor of ousting deputy Dang Thi Hoang
Yen, one of only a few non-Communist Party tycoons in the legislature on
trumped up charges of lying on her resume.
|
Thay vì làm sạch đống mạng nhện giữa các doanh nghiệp nhà
nước với những chính trị gia bảo hộ cho chúng, thì các tay chơi quyền lực lại
tổ chức nhiều chiến dịch chống lại tầng lớp doanh nhân mới giàu (nouveau
riche) kiêm đại biểu quốc hội. Hồi cuối tháng 5, Quốc hội bỏ phiếu với tỷ lệ
96% thuận để bãi nhiệm bà Đặng Thị Hoàng Yến – một trong chỉ một số rất ít
trùm kinh doanh có chân trong cơ quan lập pháp mà không phải đảng viên – vì
tội khai man lý lịch.
|
|
Yen's real crime: repeatedly calling for fair treatment of
private businesses, which comprise nearly half of the economy. "To clean
the house is more than the system can handle," says David Brown, a
former American diplomat in Hanoi.
|
Thật ra tội đúng của bà Yến là: liên tục kêu gọi đối xử
bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân, vốn dĩ chiếm gần nửa nền kinh tế. “Dọn
sạch cả căn nhà thì quá nhiều so với khả
năng xử lý của hệ thống” – ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao của
Mỹ tại Hà Nội, nhận xét.
|
|
In June, the government's tightening of credit helped
bring down inflation from 23 percent last August to 6.9 percent. The problem
now, complain small factory owners like Nguyen, is that the flood of easy
credit has increased the chances of a banking crisis. After two devastating
SOE collapses, the government is admitting that something might be
fundamentally wrong with its financial system. The country's central bank
head Nguyen Van Binh said in early June that about 10 percent of debt at
Vietnamese banks is bad. Instead of reforming the economy, the government is
suggesting more of the same: One plan is to create a national
asset-management agency with $4.8 billion to deal with the debts. But that
would mean setting up yet another bureaucracy caught within the patronage
networks between the party elites, banks, and companies.
|
Tới tháng 6, việc chính phủ thắt chặt tín dụng góp phần hạ
lạm phát từ 23% tháng 8 năm ngoái xuống còn 6,9%. Chủ sở hữu các nhà máy nhỏ
như nhà máy của ông Nguyên, than thở rằng vấn đề bây giờ là làn sóng tín dụng
dễ dãi đã làm tăng nguy cơ khủng hoảng ngân hàng. Sa hai vụ sụp đổ doanh
nghiệp nhà nước rất nặng nề, chính phủ đã đi đến lúc thừa nhận rằng hệ thống
tài chính có vấn đề gì đó sai căn bản. Giám đốc Ngân hàng trung ương của Việt
Nam, ông Nguyễn Văn Bình, có nói hồi đầu tháng 6 rằng khoảng 10% nợ của các
ngân hàng Việt Nam là nợ xấu. Thay vì cải cách nền kinh tế, chính phủ đang đề
xuất nhiều thứ cũng tương tự như cũ: Một kế hoạch là thành lập cơ quan quản
lý tài sản quốc gia, với 4,8 tỷ USD để thanh toán nợ. Nhưng điều đó có nghĩa
là lập ra một cơ quan hành chính quan liêu mới, nằm kẹt trong mạng lưới bảo
trợ giữa các thành viên cao cấp trong đảng, ngân hàng và doanh nghiệp.
|
|
Investors already complain about being overburdened with
red tape, and a lot of them are now thinking about moving to Indonesia,
Bangladesh, and Myanmar, said Denny Cowger, a corporate lawyer at Duane
Morris, an American law firm with offices in Hanoi and Ho Chi Minh City. In
the World Economic Forum's Global Competitive Report for 2011 and 2012,
Vietnam fell six places to number 65, due to
burdensome regulations, inflation, budget deficits, and strained
infrastructure) it commended the country for a fairly efficient labor market
and "innovation potential").
|
Các nhà đầu tư cũng đã than phiền về gánh nặng quá lớn do
nạn quan liêu gây ra, và nhiều nhà đầu tư giờ đây bắt đầu nghĩ đến việc
chuyển sang Indonesa, Bangladesh và Myanmar – Denny Cowger, một luật sư làm
cho Duane Morris, công ty luật của Mỹ có văn phòng ở Hà Nội và TPHCM, nói.
Trong Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2011 và
2012, Việt Nam tụt sáu bậc xuống vị trí 65, do luật lệ phiền toái, lạm phát,
thâm hụt ngân sách, và cơ sở hạ tầng không tốt (báo cáo đánh giá cao Việt Nam
do có thị trường lao động tương đối hiệu quả và có “tiềm năng đổi mới sáng
tạo”).
|
|
The state sector, meanwhile, continues to gobble up as
much as 40 percent of GDP. "The bottom line is that Vietnam must
undertake some fundamental domestic economic reforms to remain
competitive," said Carl Thayer, an emeritus professor at the University
of New South Wales. "It is more likely that Vietnam's leaders will use
the global financial crisis as an excuse for more of the same."
|
Trong khi đó, khy vực nhà nước tiếp tục ngốn tới 40% GDP.
“Vấn đề chính yếu là Việt Nam phải tiến hành một số cải cách kinh tế về căn
bản trong nước, để duy trì được tính cạnh tranh” – ông Carl Thayer, giáo sư
danh dự tại ĐH New South Wales, nói. “Có nhiều khả năng là giới lãnh đạo Việt
Nam sẽ sử dụng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như lời biện hộ cho những
thứ tương tự”.
|
|
Foreign Policy
|
Translated by Đan Thanh
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/07/11/the_end_of_the_vietnamese_miracle?page=0,0
|
|
5 Signs of the Chinese Economic Apocalypse Năm dấu hiệu đại họa kinh tế Trung Quốc
|
|
|
The lights are flickering in the world's economic
powerhouse.
|
Ánh sáng lập loè trong nhà máy cung cấp năng lượng cho nền
kinh tế thế giới.
|
5 Signs of the
Chinese Economic Apocalypse
|
Năm dấu hiệu đại họa
kinh tế Trung Quốc
|
BY TREFOR MOSS | JULY 2, 2012
|
TREFOR MOSS | JULY 2/7/2012
|
From hog ratios to growing coal stockpiles, the Chinese
economy is blinking red.
|
Từ sự lỗ lã trong việc nuôi heo đến các khối lượng than đá
tồn kho ngày một phình ra, kinh tế TQ đang báo động đỏ.
|
Although China's outlook may still be positive by, say,
European standards, the numbers show that the country's storied growth engine
has slipped out of gear. Businesses are taking fewer loans. Manufacturing
output has tanked. Interest rates have unexpectedly been cut. Imports are
flat. GDP growth projections are down, with some arguing that China might
already be in recession. In March, Premier Wen Jiabao put the 2012 growth
target at 7.5 percent; then seen as conservative, it's now viewed as
prescient. If realized, it would be China's lowest annual growth rate since
1990, when the country faced international isolation after the 1989 Tiananmen
Square massacre.
|
Mặc dù viễn tượng kinh tế TQ vẫn còn lạc quan theo tiêu
chuẩn của châu Âu, nhưng những con số thống kê bắt đầu cho thấy cỗ máy tăng
trưởng đầy huyền thoại của nước này đã khựng lại. Các doanh nghiệp càng ngày
càng bớt vay vốn. Lãi suất thình lình bị cắt giảm. Nhập khẩu không tăng thêm
chút nào. Những con số dự phóng mức tăng trưởng GDP trở nên thấp dần, trong
khi một số người cho rằng có lẽ TQ đã lâm vào tình trạng suy thoái. Vào tháng
Ba, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã đặt chỉ tiêu tăng trưởng ở mức 7,5%, một con số
vào thời điểm đó bị coi là bảo thủ, nhưng bây giờ bị coi là xa vời. Nếu được
thể hiện, đây sẽ là tỉ lệ tăng trưởng hằng năm thấp nhất của TQ kể từ 1990,
khi nước này đối diện sự cô lập quốc tế sau vụ thảm sát Thiên An Môn.
|
What are the concrete indications that China is
experiencing something more than just a spreadsheet slowdown? Here are five
real-world signs of China's economic malaise.
|
Những dấu hiệu cụ thể cho thấy TQ đang kinh qua một hiện
tượng nghiêm trọng hơn biểu đồ cho thấy là gì? Sau đây là 5 dấu hiệu được
biểu hiện trong thế giới thực của tệ trạng kinh tế TQ.
|
|
|
|
1. BYE-BYE BMW
The $586 billion stimulus package that enabled China to
sail through the 2009 global downturn only deferred the pain for local
governments. Now they're being asked to repay their debts, and that means
some serious belt-tightening at City Hall.
|
1. GIÃ TỪ BMW
Gói kích thích kinh tế 586 tỉ đô la Mỹ, mặc dù giúp TQ lèo
lái qua cuộc suy thoái toàn cầu 2009, cũng chỉ hoãn lại cơn đau cho các chính
quyền địa phương mà thôi. Bây giờ họ đang bị yêu cầu trả lại nợ, và điều này
có nghĩa là quan chức tại các sảnh đường thành phố phải biết cắt giảm ngân
sách.
|
The fleets of flashy cars that local officials indulgently
amassed during the boom years will be among the first things to go. The city
of Wenzhou is planning to auction off 80 percent of its vehicles this year --
that's 1,300 cars -- with similar fire sales occurring nationwide. Even
Ferrari is sounding nervous about the Chinese downturn, and not only because
Bo Guagua is seemingly off its list of potential customers.
|
Những đoàn xe bóng lộn mà các quan chức địa phương đã mua
chất đống cho bằng thích sẽ là những vật đầu tiên phải ra đi. Ủy ban hành
chánh thành phố Wenzhou đang lên kế hoạch bán đấu giá 80% số xe của nó năm
này – gồm 1800 chiếc – đồng bộ với cuộc bán đổ đang diễn ra khắp nước. Ngay
cả hãng Ferrari cũng đang nơm nớp lo sợ về cơn suy thoái của TQ, không phải
chỉ vì Bạc Qua Qua nằm ngoài danh sách của các khách hàng tiềm năng.
|
Part of the headache for municipal governments is that
land sales have dried up thanks to a central government initiative to cool
China's overheating property market, as well as a shortage of cash and
confidence among potential buyers. In June, the average housing price for 100
major Chinese cities rose for the first time in nine months, but prices are
still down 1.9 percent from last year. Some government premises could be next
on the block, once those official cars have been driven away by their new,
private owners. Then the extreme economizing begins: China's elaborate
official banquets could become a lot more prosaic.
|
Phần nào sự nhức đầu của các chính quyền địa phương phát
xuất từ sự kiện các thương vụ đất đai đã cạn kiệt vì một nỗ lực của chính
quyền trung ương nhằm làm hạ nhiệt thị trường bất động sản TQ vốn trở nên quá
nóng, cũng như sự thiếu tiền mặt và thiếu tin tưởng giữa các người có tiềm
năng mua nhà đất. Vào tháng Sáu, giá nhà trung bình tại 100 thành phố chính
của TQ bắt đầu tăng lên lần đầu tiên sau 9 tháng, nhưng giá nhà vẫn còn thấp
hơn năm ngoái khoảng 1,9%. Một số cơ ngơi nhà nước có thể bị đưa lên thớt để
cắt bỏ tiếp theo sau đó, một khi các chiếc xe công kia được các chủ mới là tư
nhân lái về nhà. Lúc đó chính sách cực kỳ tiết kiệm sẽ bắt đầu: các buổi tiệc
khoản đãi thịnh soạn dành cho quan chức có thể trở nên nhạt nhẽo hơn trước
rất nhiều.
|
|
|
|
2. RIOT IN GUANGDONG
Senior government officials have warned for decades that
economic slowdown could spell social unrest, and with few exceptions, China's
modern growth rate has been impressive enough to keep most people happy most
of the time. But as GDP growth dips below 8 percent for the first time in
years, China's social fabric could come under strain, especially as
thousands, if not millions, of migrant workers find their jobs under threat.
"It's clear the slowdown of export growth as a result of weakness in
Europe and the U.S. continues to weigh on the Chinese economy," Lu Ting,
an economist at Bank of America Corp. in Hong Kong recently told Bloomberg
Businessweek. Exporters are going bust, and some factories that remain open
have switched from three shifts to just one.
|
2. ĐỘNG LOẠN Ở QUẢNG
ĐÔNG
Các quan chức cao cấp trong chính quyền đã cảnh báo qua
nhiều thập kỷ rằng suy thoái kinh tế có thể đưa đến động loạn xã hội, và với
ít ngoại lệ, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hiện đại đủ gây ấn tượng khiến đa số
dân chúng gần như luôn luôn bằng lòng với cuộc sống. Nhưng khi mức tăng
trưởng chùng xuống dưới 8% lần đầu tiên, sau nhiều năm phát triển đi lên,
giềng mối xã hội TQ bắt đầu chịu nhiều sức ép, nhất là khi hàng ngàn, nếu
không phải hàng triệu, công nhân nhập cư (migrant workers) thấy công ăn việc
làm của mình bị đe dọa. “Rõ ràng rằng, mức tăng trưởng xuất khẩu bị chậm lại
do hậu quả kinh tế suy yếu tại châu Âu và Mỹ tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế
TQ”, Lu Ting, một chuyên gia kinh tế của Bank of America tại Hồng Kông đã
phát biểu với tuần báo Bloomberg Buninessweek như vậy. Nhiều nhà xuất khẩu sẽ
sạt nghiệp, và một số nhà máy nếu còn hoạt động sẽ chuyển từ 3 ca thành 1 ca
mà thôi.
|
Migrant workers have always supplied the elbow grease that
enables China's growth engine to purr. But it's critical to China's stability
that those workers feel they are sharing in the rewards. Their disaffection has
the potential to be China's undoing, as the southern manufacturing town of
Shaxi in Guangdong came to realize last week when it became the scene of
China's most recent large "mass incident." That incident appears to
have been contained, but the authorities can only cope with so many Shaxis at
once.
|
Công nhân nhập cư [từ các vùng nông thôn] từ trước đến nay
vẫn luôn cung cấp nguồn lao động chân tay rất cần cù, giúp cho cỗ máy tăng
trưởng kinh tế TQ chạy đều. Nhưng phải làm sao cho giới lao động đó cảm thấy
họ cũng chia sẻ thành quả của sự tăng trưởng kinh tế, là một điều bức thiết
cho sự ổn định của TQ. Sự bất mãn của họ có tiềm năng hủy hoại các thành tựu
của TQ, như trấn Sa Khê ở phía Nam tỉnh Quảng Đông đã chứng kiến khi nó trở
hành hiện trường của “sự cố quần chúng” to lớn gần đây nhất của TQ. Vụ bạo
loạn này có vẻ đã bị chặn đứng, nhưng nhà cầm quyền TQ chỉ đủ sức đối phó với
bấy nhiêu vụ trấn Sa Khê xảy ra cùng một lúc mà thôi.
|
|
|
|
3. VANISHING RICH
PEOPLE
When the going gets tough, the rich head to the airport.
Luxury goods sales, which have been booming in China,
began to slow earlier this year. But that doesn't mean that rich Chinese
people have stopped spending. They've just stopped spending in China. Late
last year, it became apparent that many wealthy Chinese were losing
confidence in the domestic market, as they began investing in convertible
assets, like foreign currency, rather than in fixed assets, such as real
estate. Now they are increasingly looking overseas to invest in high-end
property, partly because of domestic restrictions and bargains overseas, but
also as a hedge against political and economic uncertainty at home. This
dovetails with the revelation in late 2011 that over half of China's
millionaires are thinking about skipping the country and setting up
permanently abroad.
|
3. NGƯỜI GIÀU BỎ
NƯỚC RA ĐI
Khi tình hình trở nên khó khăn, dân giàu có cuốn gói ra
phi trường.
Lượng hàng xa xỉ bán ra, từ trước đến nay vốn rất phát đạt
tại TQ, đã bắt đầu chậm lại vào đầu năm này. Nhưng điều này không có nghĩa là
dân giàu có TQ ngừng tiêu tiền. Họ chỉ ngừng tiêu tiền tại TQ mà thôi. Vào
cuối năm ngoái, điều trở nên hiển nhiên là nhiều nhà giàu TQ đang mất tin
tưởng vào thị trường trong nước, khi họ bắt đầu đầu tư vào các tài sản có thể
hoán chuyển (convertible assets), như ngoại tệ, hơn là đầu tư vào các tài sản
cố định, như nhà đất. Hiện nay, ngày càng có nhiều người nhìn ra nước ngoài,
tìm cách đầu tư vào các tài sản sang trọng, một phần vì các hạn chế trong
nước và giá hời ở nước ngoài, nhưng còn là một cách đề phòng các bấp bênh
chính trị và kinh tế trong nước. Sự kiện này phù hợp với thông tin được tiết
lộ vào cuối năm 2011 rằng hơn một nửa triệu phú TQ đang toan tính bỏ nước ra
đi và tạo cơ sở làm ăn vĩnh viễn ở nước ngoài.
|
Chinese prosecutors have said that close to 19,000
officials have been caught in the last 12 years while trying to flee overseas
with money earned illegally; they use the term "naked official" for
one who has squirreled away an illicit fortune in some overseas bolt-hole,
has already safely installed his family there, and is now waiting for the
opportune moment to jump China's listing ship. China's wealthy and
politically powerful are often members of the same family, and if China
really does go into recession, a lot of rich people may decide to cut and run.
|
Các công tố viên TQ cho biết rằng khoảng 19 ngàn quan chức
đã bị bắt giữ trong vòng 12 năm qua, đang lúc họ tìm cách trốn ra nước ngoài
với lượng tiền kiếm được bất hợp pháp từ trong nước; họ dùng từ “quan chức
trần truồng” để diễn tả một người đã chuyển một gia tài bất hợp pháp ra thu
giấu ở nước ngoài, đã đưa vợ con ra sinh sống an toàn ở đó, và đang chờ giờ
phút thuận lợi để nhảy khỏi con tàu sắp lật của TQ. Những người giàu và có
thế lực chính trị của TQ thường là thành viên của cùng một gia đình, và nếu
TQ thật sự lâm vào nạn suy thoái kinh tế, nhiều nhà giàu có thể sẽ bỏ chạy ra
nước ngoài.
|
|
|
|
4. A LONG, HOT
SUMMER
Electricity consumption usually spikes over the summer, as
people turn on their air-conditioners to cope with the seasonal heat. But
this year, many Chinese appear to be braving the high temperatures to
economize. China's ports are piled high with coal that should be roaring in
the country's power plants. Lower manufacturing output is also to blame. Only
last year, Beijing talked about amassing an emergency coal stockpile to
prevent the stuff from running out. Now it looks as if China has imported
more fuel than it needs, as hard-pressed citizens, businesses, and factories
cut their electricity consumption in order to reduce their bills.
|
4. MỘT MÙA HÈ DAI
DẲNG VÀ OI BỨC
Việc tiêu thụ điện thường đạt cao điểm vào mùa hè, khi
nhiều người mở máy điều hòa không khí để chống chọi với cơn nóng theo mùa.
Nhưng năm nay, nhiều người TQ có vẻ can trường chịu đựng nhiệt độ cao để tiết
kiệm tiền. Các cảng của TQ đang tồn đọng những ụ than đá chất cao, mà đáng lẽ
phải được đốt trong các nhà máy phát điện của nước này. Đầu ra yếu kém của
ngành chế xuất cũng là lý do của tình trạng ứ đọng này. Chỉ một năm trước đây
thôi, Bắc Kinh bàn đến việc tích lũy một trữ lượng than đá khẩn cấp để tránh
tình trạng thiếu hụt. Nhưng hiện nay, dường như TQ đã nhập khẩu nhiên liệu
nhiều hơn cần thiết, trong khi người dân gặp khó khăn, các doanh nghiệp, và
nhà máy phải cắt giảm việc tiêu thụ điện để giảm hóa đơn.
|
The national price of coal has already dropped 10 percent
since late last year. This drop could further dent the global economy, which
would in turn cool demand for Chinese exports even more. That's globalization
for you: A Chinese person turns off the air-conditioning, and the world
economy catches a cold.
|
Giá than đá cả nước đã giảm 10% kể từ cuối năm ngoái. Việc
sụt giá này có thể gây tổn thương thêm cho nền kinh tế toàn cầu, mà hệ quả là
thế giới sẽ giảm bớt nhu cầu đối với hàng xuất khẩu TQ hơn nữa. Đấy là ảnh
hưởng của việc toàn cầu hóa đối với mọi người: Nếu mỗi một người TQ tắt máy
lạnh, thì cả nền kinh tế thế giới có thể bị cảm.
|
|
|
|
5. HOG RATIOS AND
"ROCKET EGGS"
As China consumes ever larger quantities of meat, the
prices of pork and beef have risen, fueled by the relentless demand. This has
made inflation a preoccupation of Chinese policymakers. By 2007, China was
eating 1.7 million pigs every day; in 2011 the country's National Bureau of
Statistics said pork prices had risen 57 percent year on year.
|
5. GIÁ THÀNH CỦA
VIỆC NUÔI LỢN VÀ “NHỮNG QUẢ TRỨNG THĂNG THIÊN”
Khi TQ tiêu thụ những lượng thịt lớn hơn bao giờ cả, giá
thịt heo và thịt bò đã tăng cao, được thúc đẩy do một nhu cầu bất tận. Tình
trạng này khiến nạn lạm phát trở thành một bận tâm của những nhà làm chính
sách TQ. Vào khoảng năm 2007, dân TQ đã tiêu thụ tới 1,7 triệu con lợn mỗi
ngày; vào năm 2011 Phòng Thống kê Quốc gia TQ cho biết giá thịt lợn đã tăng
57% trong năm ấy.
|
But over the last four months, demand for pork has dipped.
The resultant oversupply has caused the all-important hog-to-corn price ratio
to fall below the point where rearing pigs becomes profitable, and the
Chinese government had to step in and buy up pork to stabilize prices.
|
Nhưng trong 6 tháng vừa qua, nhu cầu thịt lợn đã giảm
nhanh. Do việc số cung vượt quá số cầu, giá thành được tính bằng tỉ số quan
trọng, giữa giá con lợn và giá ngô dùng nuôi nó, rơi xuống một mức mà việc nuôi
lợn không còn sinh lãi. Tình trạng này đã khiến chính phủ TQ phải can thiệp
và mua hết số thịt lợn để bình ổn giá cả.
|
Even as the pork price has dropped, the price of eggs has
shot up -- so quickly that shoppers have started to use the term "rocket
eggs." Furthermore, Chinese consumers, their confidence shaken not only
by the faltering economy but by a long string of food safety scandals, are
increasingly opting to grow their own fruit and vegetables so that they a)
won't be ripped off, and b) won't be eating cucumbers pumped full of things
that no cucumber should ever be subjected to.
|
Ngay khi giá thịt lợn giảm xuống, giá trứng lại tăng nhảy
vọt – một cách nhanh chóng đến nỗi những bà đi chợ đã bắt đầu dùng từ ngữ “những
quả trứng thăng thiên”. Hơn thế nữa, người tiêu thụ TQ, không những mất niềm
tin vào một nền kinh tế đang chao đảo
mà lại còn dao động vì những vụ tai tiếng về an toàn thực phẩm, đua nhau tự
trồng lấy rau quả để (a) khỏi mua với giá cắt cổ, và (b) để khỏi ăn những
trái dưa leo bị bơm đầy những hóa chất ngoài mức chịu được.
|
Vice President Xi Jinping is expected to assume China's
presidency in a once-in-a-decade leadership transition this fall. As the
cracks appear in his country's economic foundations, you have to wonder
whether he still fancies the job.
|
Phó Chủ tịch Tập Cận Bình được dự kiến nắm chức chủ tịch
nước TQ trong một cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo cứ 10 năm diễn ra một lần
vào mùa Thu này. Trong khi những vết nứt đang xuất hiện trong nền móng kinh
tế của nước ông, người ta phải tự hỏi là liệu ông có còn mơ mộng gì về chức
vụ đó không.
|
Translated by Trần Ngọc Cư
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2012/07/02/5_signs_of_the_chinese_economic_apocalypse?page=0,0
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)