|
|
|
|
For China, It’s All
About America
|
Đối với Trung Quốc,
Mỹ là nỗi ám ảnh duy nhất
|
|
By Michael Auslin
The Diplomat, July 6, 2012
|
Michael Auslin
The Diplomat, 6/72012
|
|
|
|
|
After a while, an undertone creeps into discussions with
Chinese counterparts on regional and global issues. Whether meeting with Ministry of Foreign
Affairs officials, academics and policy analysts, or the media, an American
soon begins to sense that part of the conversation is missing. What’s absent is not boilerplate about
values, opportunities, or common interests, but rather a sense of China’s broader
set of relationships. Ultimately, as
one European diplomat put it to me, when it comes to China’s foreign policy,
it’s all about the United States. This
monofocus on America tells us a great deal about China’s worldview, but it
also reveals the degree to which Washington is hampered in forging a better
working relationship with Beijing.
|
Chỉ sau một hồi vào chuyện, một ý nghĩ thầm kín thường lén
vào trong các cuộc đối thoại với các đồng nhiệm Trung Quốc (TQ) về các vấn đề
khu vực và toàn cầu. Dù đó là một cuộc họp với các quan chức Bộ Ngoại giao,
các học giả hay những nhà phân tích chính sách, bất cứ một người Mỹ nào cũng
sớm nhận ra rằng có một điều gì thiếu sót trong cuộc đối thoại. Điều thiếu
sót đó không phải là những thông tin có sẵn về các giá trị xã hội, về cơ hội,
hay lợi ích chung, nhưng nói đúng ra, chúng ta nhận thấy TQ không có được một
chuỗi quan hệ hữu nghị rộng lớn. Rốt cuộc, như một nhà ngoại giao châu Âu đã
diễn tả với tôi, trong chính sách đối ngoại của TQ, Hoa Kỳ đã trở thành mối
bận tâm chủ yếu. Sự tập trung vào một đối tượng duy nhất này (monofocus) giúp
chúng ta hiểu rất nhiều về thế giới quan của TQ, nhưng đồng thời cũng cho
chúng ta thấy mức độ hạn chế của Washington trong việc tạo ra một quan hệ hữu
hiệu hơn với Bắc Kinh.
|
|
Unlike the United States, which has had a complex, yet
robust set of alliances and more informal partnerships in Asia since the
1950s, China has not formed deep ties with any Asian state. There is no analogue in Chinese foreign
policy to America’s relationship with Japan or its initiatives with
Singapore. While there is always
skepticism abroad about Washington’s true intentions towards it’s Asian
partners, and a resignation about the inherently unequal power relationship
between America and any of its smaller allies, there is also recognition that
the United States usually seeks some type of mutually-beneficial status. Although a superpower (or perhaps because
of it), American diplomats have a basic predisposition towards equality in
their negotiations and agreements. The
U.S. military, for its part, has spent decades helping to train foreign armed
forces, provide humanitarian aid, and of course serve as an ultimate
guarantor of regional stability, at least theoretically.
|
Khác với Hoa Kỳ, là quốc gia luôn luôn có một chuỗi liên
minh mặc dù phức tạp nhưng vững mạnh và các quan hệ đối tác không chính thức
tại châu Á kể từ những năm 1950, TQ chưa thiết lập được những quan hệ sâu sắc
với bất cứ quốc gia châu Á nào. Không có một cái gì trong chính sách đối
ngoại của TQ có thể sánh với quan hệ hữu nghị của Mỹ đối với Nhật Bản hay
những nỗ lực của Mỹ đối với Singapore. Mặc dù người nước ngoài luôn luôn ngờ
vực những ý định đích thực của Washington đối với các quốc gia đối tác tại
châu Á, và đành phải chấp nhận một tương quan quyền lực bất bình đẳng nội tại
giữa Mỹ và bất cứ đồng minh nào nhỏ bé hơn, nhưng người ta cũng phải nhìn
nhận rằng Hoa Kỳ thường tìm kiếm một loại quan hệ dựa vào nguyên tắc hai bên
đều có lợi. Mặc dù là một siêu cường (hay vì uy tín của một siêu cường), các
nhà ngoại giao Mỹ có một thiên hướng cơ bản nhắm tới sự bình đẳng trong các
cuộc đàm phán và các thoả ước của họ. Về phần mình, quân đội Hoa Kỳ đã trải
qua nhiều thập kỷ trợ giúp huấn luyện các quân đội nước ngoài, cấp viện trợ
nhân đạo, và dĩ nhiên đóng vai trò tối hậu là đảm bảo ổn định khu vực, ít ra
trên mặt lý thuyết.
|
|
China’s foreign policy, at least today, is far
different. Once it may have seen
itself as a co-leader of the global Communist bloc, or as the center of a
Sinic grouping of nations up to the nineteenth century. Now, its foreign gaze is centered squarely
on its relationship with the United States.
Everything else is refracted through that lens. Other relationships are considered for
their utility to China’s goals of furthering its influence and countering
America’s position, both in East Asia and other regions. It is this that colors discussions with
Chinese interlocutors, lending a sense of intellectual vertigo to any
meeting. China, one comes to believe, sees
itself operating in an international vacuum, yet the container enclosing that
vacuum is America. To break the
container is to free China from an artificial constraint, and will allow it
to expand naturally into its surroundings, as a gas does when released from a
vial.
|
Chính sách đối ngoại của TQ, ít ra cho đến nay, là khác xa
với Mỹ. Có một thời, TQ có lẽ đã tự coi mình là một đồng lãnh đạo (co-leader)
của khối cộng sản toàn cầu, hoặc [trước đó] là trung tâm của nhóm các nước
chịu ảnh hưởng Hán mãi cho đến thế kỷ 19. Hiện nay, cái nhìn đối ngoại của TQ
đặt ngay trung tâm của quan hệ Mỹ-Hoa. Mọi thứ khác đều bị khúc xạ qua lăng
kính ấy. Các mối quan hệ quốc tế khác đều được cân nhắc theo lợi ích của
chúng với những mục tiêu của Bắc Kinh trong việc bành trướng ảnh hưởng TQ và
chống lại địa vị của Mỹ, tại Đông Á lẫn các khu vực khác. Chính điều này đã
ảnh hưởng lên các cuộc đối thoại với người TQ, tạo một cảm giác mất thăng
bằng tri thức (intellectual vertigo) cho bất cứ một cuộc họp nào. Người ta đi
đến chỗ phải nghĩ rằng TQ tự thấy mình sinh hoạt trong một khoảng không quốc
tế (international vacuum), nhưng cái bình chứa bao bọc khoảng không ấy là nước
Mỹ. Đánh vỡ cái bình chứa ấy tức là giải thoát TQ khỏi vòng cương tỏa nhân
tạo, và sẽ cho phép nó tự động bành trướng vào các nước chung quanh, như một
chất khí lan rộng khi được tháo ra tự một cái lọ.
|
|
Such a view, of course, is not to deny that China has functional
relationships with a number of states.
Like any great country, China depends on other nations for markets and
as a source of raw materials. Trade is central to China’s continuing need to
develop its economy, which in turn has provided it with international
influence.
|
Tất nhiên, quan điểm này không hề phủ nhận rằng Trung Quốc
có những mối quan hệ hữu hiệu với một số quốc gia. Như bất cứ một nước lớn
nào, TQ tùy thuộc vào các nước khác để có thị trường và coi chúng như là một
nguồn nguyên liệu thô. Thương mại chiếm một vị trí rất quan trọng cho nhu cầu
phát triển kinh tế liên tục của TQ, và sức mạnh kinh tế lại tạo ảnh hưởng
quốc tế cho TQ.
|
|
Yet even granting that need for trading partners, when it
comes to forming a picture of its global environment, China’s thinkers and
policymakers seem to naturally subordinate their perception of these
relationships to the political competition with the United States. We can imagine these foreign connections
falling mainly into three categories, differentiated by their role in the
Sino-U.S. competition for regional and global influence. The first category is client states,
primarily North Korea, but also Sudan or until recently Burma. These are
countries dependent on China for critical aid and support, but also ones
directly antagonistic to U.S. interests.
They are thus, in this formulation, “closest” to the U.S.-China
competition, and serve to absorb large amounts of U.S. attention and
planning. Beijing, while it may not control its North Korean clients,
nonetheless recognizes the utility of propping up the Kim regime, as it did
in supplying arms to Sudan’s junta. A
subset of this first category is states that are not clients of China, but
whose opposition to U.S. policies makes them an attractive target for Chinese
support. Iran (whose energy supplies are crucial for China) may play this
role the best, as Beijing’s constant refusal to support significant sanctions
against Tehran has helped drag out the crisis over its nuclear program for
years.
|
Tuy nhiên, dù coi các đối tác thương mại là một nhu cầu,
nhưng khi cần phải vẽ ra một bức tranh môi trường toàn cầu của TQ, các nhà tư
tưởng và các nhà làm chính sách TQ gần như tự động coi những mối quan hệ này
phụ thuộc vào cuộc cạnh tranh chính trị với Hoa Kỳ. Chúng ta có thể mường
tượng những quan hệ đối ngoại này chủ yếu rơi vào ba loại, được phân biệt nhờ
vai trò của chúng trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Hoa để giành ảnh hưởng khu vực hay
toàn cầu. Loại thứ nhất là các quốc gia lệ thuộc (client states), chủ yếu là
Bắc Hàn, nhưng cũng có thể là Sudan hoặc cho mãi gần đây, Miến Điện. Đây là
những nước lệ thuộc vào TQ về viện trợ và hậu thuẫn cần thiết, nhưng cũng còn
là những quốc gia trực tiếp chống lại các lợi ích của Mỹ. Như vậy theo công
thức này, những quốc gia lệ thuộc đứng ở “tuyến đầu” trong cuộc cạnh tranh
Mỹ-Hoa, và được sử dụng để lấy mất nhiều quan tâm và năng lượng hoạch định
chính sách của Mỹ. Mặc dù có thể không kiểm soát được các khách hàng Bắc Hàn
của mình, nhưng Bắc Kinh ghi nhận công dụng của việc chống đỡ chế độ Kim, như
trong trường hợp cung cấp vũ khí cho nhóm lãnh đạo Sudan. Một hệ phái của
loại quốc gia thứ nhất này là những quốc gia không lệ thuộc vào TQ, nhưng
việc chống đối các chính sách Mỹ của chúng làm chúng trở thành một mục tiêu
hấp dẫn cho sự hậu thuẫn của TQ. Iran (nước cung cấp năng lượng rất cần thiết
cho TQ) có lẽ đóng vai trò này phù hợp nhất, vì sự từ chối thường xuyên của
Bắc Kinh trong việc hậu thuẫn những biện pháp trừng phạt quan trọng chống lại
Teheran đã giúp kéo dài cuộc khủng hoảng về chương trình hạt nhân của Iran
qua nhiều năm.
|
|
A second category, and farther from direct U.S. interests,
are those countries with which China is developing particularly close trade
relationships. Obviously, economic
concerns are the major driver here, but there is an element of competition
with the United States that creeps into these arrangements, as well. At one level, China’s pursuit of
low-quality trade agreements (leaving out high standards of workers’ rights,
consumer quality protections, intellectual property rights, etc.), serves as
an alternate vision of trade architecture to those promoted by the United
States. The trade agreements with African
countries are also designed to garner predominant influence for Beijing on
that continent, as is the one with ASEAN that came into force in 2010. There is a strategic element to China’s
trade ties that provides not only the country with economically crucial
markets, but political returns as well.
|
Một loại quốc gia thứ hai, nằm ở một vị trí xa hơn đối với
các lợi ích trực tiếp của Mỹ, là những nước mà TQ đang phát triển những quan
hệ mậu dịch đặc biệt mật thiết. Rõ ràng là, những quan tâm kinh tế là động
lực chính ở đây, nhưng cũng có một yếu tố của sự cạnh tranh với Hoa Kỳ xâm
nhập vào trong những quan hệ kinh tế này. Ở một cấp độ, việc TQ theo đuổi
những hiệp định thương mại thiếu phẩm chất (nghĩa là gạt bỏ các chuẩn mực cao
về quyền công nhân, những biện pháp bảo vệ chất lượng sản phẩm cho giới tiêu
thụ, quyền sở hữu trí tuệ, v.v.) được coi như là một viễn kiến về cấu trúc
mậu dịch thay thế cho những quan điểm mậu dịch mà Hoa Kỳ theo đuổi. Những
hiệp định thương mại với các nước châu Phi cũng được thiết kế để giành ảnh
hưởng to lớn cho Bắc Kinh trên lục địa ấy, cũng như hiệp định mà TQ ký kết
với ASEAN và bắt đầu có hiệu lực vào năm 2010. Có một yếu tố chiến lược đối
với các quan hệ mậu dịch của TQ, những quan hệ không những mang lại cho Bắc
Kinh những thị trường quan trọng về kinh tế, mà cả những thành quả chính trị
nữa.
|
|
Politically oriented multilateral efforts form the third
category of China’s foreign relations.
Because these are by nature diffuse, and less amenable to the type of
direct influence China can exert in bilateral or even multilateral trade relations,
they are the “farthest” from Beijing’s competition with Washington, but they
are increasingly significant. Beijing
is playing a long game in forums it does not control, such as the East Asian
Summit or ASEAN Regional Forum. While
it encountered significant pushback in 2010 from its more assertive stances,
it still is invested in trying to play a leading role that can shape the
development of these groupings and limit them from highlighting liberal
issues. On the other hand, China
continues to commit to alternate mechanisms of more like-minded states, such
as the largely symbolic Shanghai Cooperation Organization, in order to
provide the fiction of a counterbalance to America’s informal liberal bloc in
Asia.
|
Những nỗ lực đa phương có định hướng chính trị tạo nên
phạm trù thứ ba của các quan hệ đối ngoại của TQ. Vì tự bản chất những quan
hệ này thiếu tập trung và ít chịu loại ảnh hưởng trực tiếp mà TQ có thể áp
đặt trong những quan hệ mậu dịch song phương hay thậm chí đa phương, chúng
nằm ở vị trí “xa nhất” trong cuộc cạnh tranh của Bắc Kinh với Washington,
nhưng những quan hệ này ngày càng có ý nghĩa. Bắc Kinh đang chơi một trò chơi
dài hơi trên những diễn đàn mà nó không kiểm soát được, như Thượng đỉnh Đông
Á hay Diễn đàn khu vực ASEAN. Mặc dù Bắc Kinh gặp phải sự chống đối đáng kể
năm 2010 vì những lập trường quyết đoán của mình, chính phủ TQ vẫn tiếp tục
nỗ lực đóng một vai trò lãnh đạo có thể ảnh hưởng lên sự phát triển của những
nhóm quốc gia này và ngăn cản chúng nêu lên những vấn đề tự do, cởi mở. Mặt
khác, TQ tiếp tục cam kết tôn trọng các cơ cấu thay thế của những quốc gia
gần gũi về ý thức hệ (alternate mechanisms of more like-minded states), chẳng
hạn Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, một tổ chức gần như chỉ có ý nghĩa tượng
trưng, nhằm tạo ra cái ảo tưởng về một lực đối trọng với khối tự do không chính
thức của Mỹ tại châu Á.
|
|
Yet in none of these three categories is China forging
working relationships based on trust or a sense of truly shared values. That is because each of them (with caveats
for the economic ties) is approached from a utilitarian perspective of their
role in buttressing China’s position relative to the United States. The prism of America plays a dominant role
in shaping China’s external strategy and policymaking. Smaller nations are to be played as pawns
in a larger game, but otherwise dismissed as irrelevant. No concept of equal relations or genuinely
shared interests (other than trade) seems to come into play.
|
Dù vậy, trong cả ba loại quan hệ nói trên, không một nơi
nào TQ tạo được những quan hệ hợp tác hữu hiệu đặt cơ sở trên sự tin cậy lẫn
nhau hay trên ý thức cùng thực tâm chia sẻ những giá trị chung. Sự thể chỉ vì
mỗi một nước (với sự dè dặt về các quan hệ kinh tế) được TQ tiếp cận từ một
góc nhìn thực dụng về vai trò của nước đó trong việc củng cố thế đứng của TQ
đối với Mỹ. Cái lăng kính được dùng để nhìn nước Mỹ đóng một vai trò nổi bật
trong việc hình thành chiến lược đối ngoại và hoạch định chính sách của TQ.
Các nước nhỏ phải được sử dụng như những con tốt trong một ván cờ to lớn hơn,
nếu không chúng sẽ bị coi như vô dụng, như không quan yếu (irrelevant). Không
có một ý thức nào về quan hệ bình đẳng hay thực tình chia sẻ lợi ích chung
(ngoài lợi ích thương mại) có vẻ diễn ra trong chính sách đối ngoại TQ.
|
|
None of this is to argue that China does not have
legitimate national interests or domestic influences on its foreign
policy. Nor does it downplay the
country’s need for growth and trade relationships that will help develop the
economy. But the expression of these
interests and influences gets twisted up with the monofocus on America.
Certainly that is how Chinese express themselves in private and public
meetings.
|
Điều này không có nghĩa là TQ không có những lợi ích quốc
gia chính đáng hay chịu những ảnh hưởng nội bộ lên chính sách đối ngoại của
mình. Nó cũng không đánh giá thấp nhu cầu tăng trưởng kinh tế và các quan hệ
mậu dịch giúp phát triển kinh tế TQ. Nhưng sự biểu hiện những lợi ích và
những ảnh hưởng này đã trở nên méo mó chỉ vì TQ tập trung duy nhất vào một
mình Hoa Kỳ. Chắc chắn đó là cách người TQ trình bày quan điểm của mình ở
những cuộc họp riêng tư hay công cộng.
|
|
This complicates U.S.-China relations in unexpected
ways. First, it means that Beijing
will interpret any U.S. policies in the region as aimed at China, in a
mirror-reflection of its own perspective.
No U.S. protestations about broader regional aims, humanitarian or
development goals, or interests in general security are likely to convince
Chinese counterparts. Second,
Beijing’s willingness to use pawns in its game with Washington means that it
will constantly throw up obstacles to regional or global stability. An obstreperous junta makes a perfect foil
to American efforts to promote democracy or focus on economic
development. Finally, China’s focus on
America will continue to be the main reason it concentrates on military
modernization, in order to achieve the ultimate goal of acting unhindered by
U.S. pressure.
|
Điều này hiện làm phức tạp quan hệ Mỹ-Hoa trong những cách
thế không ai ngờ tới. Một là, nó ngụ ý rằng Bắc Kinh sẽ giải thích bất cứ
chính sách nào của Mỹ ở trong khu vực là có mục đích nhắm vào TQ, trong ánh
sáng của một tấm gương phản chiếu quan điểm của Bắc Kinh. Không một tuyên bố
long trọng nào của Mỹ về những mục tiêu rộng lớn trong khu vực, về những mục
đích nhân đạo hay phát triển, hay về những lợi ích an ninh chung có khả năng
thuyết phục được các người đồng nhiệm TQ. Hai là, quyết tâm của Bắc Kinh
trong việc sử dụng những con tốt trong ván cờ với Washington ngụ ý rằng TQ sẽ
thường xuyên ném những vật cản vào an ninh khu vực hay toàn cầu. Chẳng hạn,
một ban lãnh đạo ngang ngược [của một nước nhỏ thân TQ] có thể toàn toàn chặn
đứng những nỗ lực của Mỹ trong việc cổ vũ dân chủ hay tập trung vào phát
triển kinh tế. Sau hết, việc tập trung quan tâm của TQ vào Hoa Kỳ sẽ tiếp tục
là lý do để Bắc Kinh dồn mọi nỗ lực vào việc hiện đại hoá quân đội, nhằm đạt
được mục tiêu nhiên hậu là tự do hành động, không chịu một sức ép nào từ phía
Hoa Kỳ.
|
|
All this leads to the conclusion that those who seek the
development of a mature working relationship between China and America that
is built on trust are likely to be disappointed. China will continue to bide its time and
would be wise not to antagonize its neighbors. It may work with the United States on lower
order priorities, such as piracy, climate change, and the like. However, until it no longer views the world
through an American prism, it is unlikely to adopt a truly cooperative
attitude that would herald the birth of a new era in Sino-U.S. ties.
|
Tất cả những điều này dẫn đến kết luận là, những người tìm
cách phát triển một quan hệ hợp tác hữu hiệu và chín chắn giữa TQ và Mỹ, một
quan hệ xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau, có thể sẽ thất vọng. TQ sẽ tiếp
tục chờ đợi thời cơ và có đủ khôn ngoan để tránh gây thù hận với các nước
láng giềng. TQ có thể chỉ hợp tác với Hoa Kỳ trên những ưu tiên thấp hơn như
vấn đề cướp biển, thay đổi khí hậu, và các vấn đề tương tự. Tuy nhiên, mãi
cho đến lúc TQ không còn nhìn thế giới qua nỗi ám ảnh về nước Mỹ, TQ không có
khả năng chấp nhận một thái độ thực sự hợp tác, một thái độ báo hiệu sự ra
đời của một kỷ nguyên mới trong quan hệ Mỹ-Hoa.
|
|
Dr. Michael Auslin is a scholar in Asian and security
studies at the American Enterprise Institute in Washington.
|
Tiến sĩ Michael Auslin là một nhà nghiên cứu các vấn đề
châu Á và an ninh tại Viện nghiên cứu chính sách American Enterprise Institute
tại Washington.
|
|
|
Translated by Trần Ngọc Cư
|
|
|
|
|
http://thediplomat.com/china-power/for-china-its-all-about-america/
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Wednesday, July 11, 2012
For China, It’s All About America Đối với Trung Quốc, Mỹ là nỗi ám ảnh duy nhất
Tuesday, July 10, 2012
Is China Scared of a Coup? Trung Quốc sợ một vụ đảo chính?
|
|
|
Is China Scared of a
Coup?
|
Trung Quốc sợ một vụ
đảo chính?
|
By Peter Mattis
|
Peter Mattis
|
The Diplomat, July 4, 2012
|
The Diplomat, 4/7/2012
|
Since the controversy surrounding the ouster of Chongqing
Party Secretary Bo Xilai in March, China has appeared to be teetering on the
edge of reform—or of chaos. While Premier Wen Jiabao’s calls for urgent
reform turned into official press notices to “assault the castle of reform,”
the Chinese Communist Party (CCP) set firm limits on what such reform could
accomplish, especially as foreign hostile forces might try to take advantage
of any political instability. The latest issue of the Central Party School
journal, Red Flag, mentioned “structural political reform” for the CCP to
adapt to the changing nature of Chinese society, at least acknowledging
high-level dissatisfaction with the political status quo. Such reform,
however modest it appears to outsiders, could be divisive and China’s leaders
may be trying to shore up the military’s loyalty lest leadership splits lead
to social disorder.
|
Từ khi các vụ bê bối xung quanh vụ lật đổ Bạc Hy Lai, Bí
thư Thành ủy Trùng Khánh hồi tháng 3, Trung Quốc có vẻ như đang trên bờ vực
cải cách – hay là hỗn loạn. Trong khi lời kêu gọi tiến hành cải cách khẩn
trương của Thủ tướng Ôn Gia Bảo lên báo chí chính thức, trở thành thông báo
“tấn công vào thành trì cải cách”, thì “Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCS TQ) đặt
ra những giới hạn vững chắc cho các thành tựu mà một cuộc cải cách như thế có
thể đạt được, nhất là khi các thế lực thù địch có thể sẽ lợi dụng mọi bất ổn
chính trị. Số ra gần đây nhất của tạp chí Hồng Kỳ (Cờ Đỏ), cơ quan ngôn luận
của trường Đảng Trung ương, đã đề cập đến “cải cách thể chế chính trị” để ĐCS
TQ có thể thích ứng với bản chất luôn biến động của xã hội Trung Quốc, ít
nhất cũng thừa nhận sự bất mãn ở cấp cao với trạng thái chính trị hiện hành.
Một cuộc cải cách như thế, cho dù có tỏ ra khiêm tốn tới mức nào đi nữa trước
mắt người ngoài cuộc, thì cũng có thể gây chia rẽ, và giới lãnh đạo Trung
Quốc có lẽ đang cố gắng giữ lấy sự trung thành của quân đội, đề phòng khi
chia rẽ trong nội bộ lãnh đạo dẫn tới bất ổn xã hội.
|
The Chinese official and military press has sounded a
relentless drumbeat since the beginning of the year about the dangers of the
People’s Liberation Army (PLA) succumbing to “depoliticizing the military,
separating the [Chinese Communist Party] from the military, and nationalizing
the military.” This drumbeat has lasted far longer than might be expected if
it were only about the ideological conditioning of new conscripts who joined
their units early this year—or even if it was related to the ousted Bo
Xilai’s links to the PLA.
|
Từ hồi đầu năm, báo chí của quân đội và của chính phủ
Trung Quốc đã nổi một hồi trống gay gắt khi nói về nguy cơ lực lượng Quân đội
Giải phóng Nhân dân (QĐTQ) phải chấp nhận “phi chính trị hóa quân đội, tách
(Đảng Cộng sản Trung Quốc) khỏi quân đội, và quốc hữu hóa quân đội”. Hồi
trống này đã kéo dài hơn nhiều so với nhiều người tưởng lúc đầu, khi họ nghĩ
đó chỉ là những điều kiện có tính ý thức hệ đặt ra cho các thanh niên mới gia
nhập quân đội đầu năm nay – hay thậm chí nghĩ là nó có liên quan đến những
mối quan hệ giữa QĐTQ và ông bí thư bị lật đổ Bạc Hy Lai.
|
The selections below highlight just a few of the official
Chinese press articles drawing attention to the dangers of a disloyal PLA and
the need for military officers to close ranks around the CCP:
|
Những sự kiện được chọn ra dưới đây làm nổi bật một điều
là, chỉ có một số rất ít báo chí chính thống của Trung Quốc chú ý đến những
nguy cơ về một lực lượng QĐTQ không trung thành, cũng như đến các yêu cầu đặt
ra cho giới quan chức quân đội là phải có quan hệ thân thiết với đảng:
|
- On June 25, the People’s Daily ran an article by a Jinan
Military Region political commissar exhorting military cadres to more
aggressively challenge mistaken ideas about the PLA’s political role in the
face of growing pluralism in Chinese society.
|
- Ngày 25-6, tờ Nhân Dân Nhật Báo có bài viết của một
chính ủy Khu vực Quân sự Tế Nam, hô hào các cán bộ trong quân đội hãy mạnh mẽ
hơn nữa, chống lại những quan điểm sai lầm về vai trò chính trị của QĐTQ
trong bối cảnh một xã hội Trung Quốc ngày càng đa nguyên hơn.
|
- On June 17, the
PLA Daily called for military officers to maintain their loyalty to the CCP,
suggesting many officers were insufficiently committed to the party’s
continued rule.
|
- Ngày 17-6, tờ Nhật báo QĐTQ kêu gọi các quan chức quân
sự trung thành với ĐCS TQ, hàm ý nói rằng nhiều quan chức không đủ tận tụy
với việc tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo của đảng.
|
- On May 15, a PLA Daily op-ed encouraged soldiers to
recognize the conspiracy behind efforts to separate the army from the party,
and the need to adhere to the fundamental political system that places the
CCP above the army.
|
- Ngày 15-5, Nhật báo QĐTQ có bài xã luận khuyên quân đội
nhìn nhận cho rõ âm mưu đằng sau những nỗ lực nhằm chia rẽ quân đội với đảng,
và yêu cầu phải trung thành với hệ thống chính trị căn bản, theo đó ĐCS TQ
được đặt cao hơn quân đội.
|
- On April 6, the PLA Daily editorialized that the PLA
needed to be firmly aligned with the party to ensure political stability,
because historical experience has demonstrated ideological competition
intensified whenever the CCP faced a crucial moment of reform.
|
- Ngày 6-4, Nhật báo QĐTQ có bài xã luận rằng QĐTQ cần hợp
tác vững chắc với đảng để bảo đảm ổn định chính trị, vì lẽ kinh nghiệm lịch
sử cho thấy cạnh tranh ý thức hệ sẽ căng thẳng hơn khi ĐCS TQ đối diện với
những khoảnh khắc cải cách mang tính quyết định.
|
- On March 19, the PLA Daily ran an article stating the
PLA needed to resist the “three mistaken ideas” listed above about the
Chinese military development, stating “always put ideological and political
construction first” because it is an essential requirement for strengthening
the PLA.
|
- Ngày 19-3, Nhật báo QĐTQ xuất bản một bài báo nêu rõ,
QĐTQ cần chống lại “ba quan niệm sai lầm” nói trên về sự phát triển của quân
đội Trung Quốc, và họ tuyên bố “luôn luôn đặt việc xây dựng ý thức hệ và
chính trị lên hàng đầu”, bởi lẽ, đó là một công cụ thiết yếu để củng cố QĐTQ.
|
- On March 13, Xinhua carried an article on President Hu
Jintao opining that “every soldier in the military must be aware that
development while maintaining stability is the priority. Hu stressed that the
PLA and the armed police must focus on national defense and army building, and
adhere to the fundamental requirement of making progress while maintaining
stability.”
|
- Ngày 13-3, Tân Hoa Xã có bài viết về ý kiến của Chủ tịch
Hồ Cẩm Đào, nói rằng “mọi quân nhân trong quân đội đều phải ý thức rằng, phát
triển, trong khi vẫn duy trì ổn định, là mối ưu tiên lớn”. Ông ta nhấn mạnh
rằng QĐTQ và cảnh sát, công an có vũ trang, phải tập trung vào nhiệm vụ quốc
phòng và xây dựng quân đội, và tuân thủ các đòi hỏi căn bản của việc đạt được
tiến bộ trong khi vẫn duy trì ổn định.
|
As PLA expert Dennis Blasko wrote earlier this spring, “It
is unclear who, if anybody within the PLA, proposes to separate, depoliticize
or nationalize the military” As far as anyone can tell, the only person to
make a statement about the party’s control of the military was a civilian
newspaper editor, who was promptly sacked. And the PLA Daily has refrained
from naming names or even suggesting who in the PLA may be losing faith in
the CCP. The absence of a real reason indicates the need to start looking
elsewhere.
|
Như ông Dennis Blasko, chuyên gia QĐTQ đã viết hồi đầu
năm: “Không rõ ai – nếu có ai đó đứng đằng sau QĐTQ – đã đề xuất việc chia
rẽ, phi chính trị hóa hay là quốc hữu hóa quân đội”. Tất cả những gì người ta
có thể biết là, người duy nhất đưa ra tuyên bố về việc đảng kiểm soát quân
đội, là một nhà báo, biên tập viên của một tờ báo dân sự, người này đã nhanh
chóng bị đuổi việc. Và Nhật báo QĐTQ đã tránh nêu tên, thậm chí không nhắc
tới những người thuộc QĐTQ và đang mất lòng tin vào ĐCS TQ. Không có lý do
thật sự nào được đưa ra cả, điều đó cho thấy cần phải tìm đến những nguyên
nhân khác.
|
An anonymous faculty member of China’s National Defense
University told the Global Times in May that the real reason for the concern
over military loyalty probably related to intensifying foreign efforts to
disrupt the leadership transition ahead of the 18th Party Congress. This
explanation however does not explain the repetitive nature of these calls—or
why such calls would be sufficient to counter a hostile power intent upon
ideologically neutering the PLA—but it does highlight the important of the
domestic political context for all things in China this year.
|
Hồi tháng 5, một thành viên giấu tên ở Đại học Quốc phòng
Trung Quốc nói với tờ Hoàn Cầu Thời báo rằng, lý do thực sự để người ta lo
ngại về sự trung thành của quân đội có lẽ liên quan đến các âm mưu của nước
ngoài, ngày càng dữ dội, nhằm phá hoại quá trình chuyển giao quyền lực trước
Đại hội 18 của Đảng. Tuy nhiên, giải thích này không lý giải gì về tính chất
lặp đi lặp lại của những lời kêu gọi nói trên – hoặc tại sao những lời kêu
gọi như thế là đủ để chống lại mưu đồ của thế lực thù địch nhằm trung lập hóa
QĐTQ về ý thức hệ. Nhưng cách giải thích đó cũng đã làm nổi bật tầm quan
trọng của bối cảnh chính trị trong nước ở Trung Quốc năm nay, trong mọi vấn
đề.
|
The leadership transition at the 18th Party Congress
almost certainly will see more than half of the Politburo turn over and only
two of nine members of the Politburo Standing Committee remain. Moreover,
there is a generational transition underway that will carry the Chinese
leadership out of the shadow of Deng Xiaoping, who named every CCP General Secretary
from Hu Yaobang to Hu Jintao.
|
Công cuộc chuyển giao quyền lực lãnh đạo tại Đại hội Đảng
lần thứ 18 gần như chắc chắn sẽ ghi nhận việc hơn nửa Bộ Chính trị luân
chuyển công tác và chỉ có 2 trong tổng số 9 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Đảng ở lại. Hơn thế nữa, có một sự chuyển giao thế hệ đang diễn ra, và sẽ đưa
các vị lãnh đạo Trung Quốc ra khỏi cái bóng của Đặng Tiểu Bình, người có ảnh
hưởng tới tất cả các tổng bí thư ĐCS TQ, từ Hồ Diệu Bang tới Hồ Cẩm Đào.
|
Although attention often focuses on Premier Wen Jiabao’s
well-publicized calls for democracy,
the real reform battle within the CCP is over performance and how to
get more out of a political system that seems increasingly unable to meet
internal challenges.
|
Mặc dù sự chú ý thường dồn về những lời kêu gọi dân chủ
của Thủ tướng Ôn Gia Bảo, được đăng tải rất kỹ, nhưng cuộc đấu tranh thực sự
để cải cách trong ĐCS TQ là về vấn đề thực hiện, và làm thế nào để nhận được
nhiều hơn từ một hệ thống chính trị dường như ngày càng không thể chống chọi
lại với các khó khăn từ bên trong.
|
In March and April, a series of People’s Daily, Global
Times, China Daily, and Xinhua editorials seemed to launch a coordinated
campaign in favor of reform, even if the language made clear Western-style
political reform was untenable. Assuming the CCP retained its leadership
position, the official press attacked corrupt cadres and advocated
administrative reforms to improve performance.
|
Vào tháng ba và tháng tư, một loạt xã luận đăng trên Nhân
Dân Nhật Báo, Hoàn Cầu Thời Báo, Trung Hoa Nhật Báo, và Tân Hoa xã, có vẻ như
đã khởi động một chiến dịch có phối hợp, nhằm ủng hộ cải cách, ngay cả khi
ngôn từ trong các bài đã chỉ rõ ra rằng cải cách chính trị kiểu phương Tây là
không thể được. Báo chí chính thống, với mặc định rằng ĐCS TQ duy trì được vị
trí lãnh đạo của mình, đã công kích các quan chức, cán bộ tham nhũng, và cổ
súy cho cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả vận hành.
|
Focus on improving performance has generated a number of
different ideas. For example, Beijing appears to be engaged in a serious
review of government-owned institutions that may involve transforming
business-like organizations, like publishing houses, into genuine
enterprises. For those that doubt such possibilities, it is worth noting the
subscription fee for viewing electronic back-issues of the People’s Daily or
the $1.00 cost of the China Daily on U.S. streets. Whether such modest,
performance-based reform has real potential to change Chinese politics is
another matter, however, more substantial ideas appear to be percolating.
|
Việc tập trung vào cải thiện hiệu quả vận hành đã tạo ra
một loạt quan điểm khác nhau. Ví dụ, Bắc Kinh có vẻ như tham gia vào một cuộc
duyệt xét lại nghiêm túc các định chế quốc doanh – những cơ quan có liên quan
đến việc chuyển đổi các tổ chức có hoạt động gần với kinh doanh, như các nhà
xuất bản, thành doanh nghiệp thực sự. Đối với những người không tin vào khả
năng đó, hãy lưu ý đến phí đăng ký đọc các số phát hành trên mạng của tờ Nhân
Dân Nhật Báo, hay là giá bán 1 đô la cho một tờ Trung Hoa Nhật Báo trên đường
phố Mỹ. Những cuộc cải cách khiêm tốn, dựa vào hiệu quả hoạt động như thế, có
ảnh hưởng thực sự để thay đổi chính trị Trung Quốc hay không thì lại là
chuyện khác; tuy nhiên, thêm nhiều quan điểm mạnh mẽ khác dường như đang lan
dần ra.
|
The party journal Red Flag earlier this month posed the
question of whether Deng Xiaoping, father to the Reform and Opening Policy,
would have approved of structural political reform. While the journal unsurprisingly
stated Deng would have dismissed Western democratization, it did open the
door to structural changes that retained the CCP, because of need for the CCP
to adapt to China’s social evolution and to break down a stagnant
bureaucracy. This ideological justification—coming out of the Central Party
School headed by Vice President Xi Jinping—could herald a greater degree of
comity across the factional divide that separated Xi and Hu Jintao—as well as
Hu’s torchbearer of reform, Guangdong Party Secretary Wang Yang.
|
Tạp chí của Đảng, tờ Hồng Kỳ, hồi đầu tháng này có đưa ra
câu hỏi, liệu Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của chính sách Cải cách và Mở cửa, có
phê chuẩn cải cách thể chế chính trị hay không (nếu ông còn sống – ND). Trong
khi tờ tạp chí tuyên bố, một cách không gây ngạc nhiên, rằng ông Đặng sẽ bác
bỏ dân chủ hóa kiểu phương Tây, thì nó lại mở ngỏ khả năng đón nhận những
thay đổi về cấu trúc để giữ lại ĐCS TQ, bởi vì cần có ĐCS TQ để thích ứng với
cải cách xã hội và lật đổ nền hành chính quan liêu, trì trệ ở Trung Quốc. Lời
biện hộ về ý thức hệ này – vượt ra khỏi trường Đảng Trung ương mà đứng đầu là
Phó Chủ tịch Tập Cận Bình – có thể báo trước một mức độ lịch thiệp và nhã
nhặn hơn trong cuộc đấu đá đảng phái, làm chia rẽ Tập và Hồ Cẩm Đào, cũng như
người cầm ngọn đèn cải cách của Hồ – bí thư tỉnh Quảng Đông, Uông Dương.
|
But hermetically sealed doctrinal justification for reform
is not enough.
|
Nhưng các lời biện hộ giáo điều, được đóng dấu kín mít, là
không đủ.
|
Mao Zedong’s famous dictum that “political power grows out
of the barrel of a gun” and that “the Party commands the gun” highlights the
role of the PLA and the People’s Armed Police as guarantors of CCP rule. At
times of political uncertainty, the loyalty of the military (and now
paramilitary) forces is the foundation that allows the party to take
political risks. Breaking down entrenched interests in a system that has
promoted cadres based on perpetuating the CCP is bound to create divisions
within the party, because it changes the rules on rising officials who have a
stake in the status quo and others who may fall if exposed.
|
Câu răn dạy nổi tiếng của Mao Trạch Đông, rằng “quyền lực
chính trị hình thành từ họng súng” và “Đảng ra lệnh cho súng”, càng làm nổi
rõ vai trò của QĐTQ và Công an Vũ trang Nhân dân, như là những người bảo vệ
quyền lãnh đạo của ĐCS TQ. Vào thời điểm có những bất ổn về chính trị, sự
trung thành của quân đội (mà giờ đây là của lực lượng bán quân sự) là nền
tảng cho phép đảng mạo hiểm chính trị. Đạp đổ những lợi ích cố thủ trong một
hệ thống vốn dĩ thăng quan tiến chức chỉ nhờ vào việc duy trì mãi mãi ĐCS TQ
sẽ tạo ra chia rẽ trong nội bộ đảng, vì nó thay đổi luật chơi đối với các
quan chức đang lên – những người có quyền lợi liên quan đến trạng thái chính
trị hiện hành, và những người có thể thất bại nếu bị vạch trần bộ mặt.
|
Observers probably should see PLA loyalty as a
prerequisite for political reform, when the challenge of reform involves
breaking down an ossified party bureaucracy that seems to encourage
corruption-based interest groups. And the constant refrain that CCP should
control the PLA may be a sign that reform discussions are real, if uncertain
in implementation.
|
Các nhà quan sát hẳn sẽ thấy sự trung thành của quân đội
Trung Quốc như là một điều kiện tiên quyết cho cải cách chính trị, khi mà thách
thức của cải cách kéo theo việc phá vỡ tính quan liêu xơ cứng của đảng mà dường
như khuyến khích các nhóm lợi ích dựa trên tham nhũng. Và cái điệp khúc liên
tục nói rằng ĐCSTQ nên kiểm soát quân đội Trung Quốc có thể là một dấu hiệu cho
thấy rằng các cuộc thảo luận cải cách là có thực, cho dù không chắc chắn sẽ
được thực hiện.
|
Although some rumors about military nationalization may be
true, this alternative explanation is plausible. If the PLA’s loyalty to the
party, especially to Hu Jintao and Xi Jinping, cannot be assured, then there
is little reason to expect Chinese leaders to risk a bruising debate capable
of publicly splitting the leadership. The key lesson of the tumultuous events
of 1989 was that leadership should not show public disunity. The PLA loyalty
drumbeat suggests this is a real concern. Continuation probably should be
taken as sign of growing instability within the leadership and an end to the
current possibilities of internal CCP reforms.
|
Mặc dù một số lời đồn đại về khả năng quốc hữu hóa quân
đội có thể là sự thật, nhưng lời giải thích sau đây mới khả dĩ. Nếu sự trung
thành của QĐTQ với đảng, đặc biệt với Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, không được
bảo đảm duy trì, thì sẽ hầu như chẳng còn lý do để lãnh đạo Trung Quốc mạo
hiểm bằng một cuộc thảo luận đau đớn, có khả năng công khai chia rẽ đội ngũ
lãnh đạo. Bài học quan trọng nhất của những biến cố hỗn loạn năm 1989 là,
lãnh đạo không nên thể hiện sự mất đoàn kết ra trước công chúng. Hồi trống kêu
gọi trung thành của QĐTQ có ý cho rằng đây là một nguy cơ thật sự. Có lẽ một
sự tiếp tục tình hình hiện nay nên được xem như dấu hiệu của bất ổn gia tăng
trong ban lãnh đạo và là dấu chấm hết đối với các khả năng cải cách trong nội
bộ đảng.
|
Peter Mattis is editor
of the Jamestown Foundation's "China Brief."
|
Peter Mattis là chủ
bút tờ “China Brief”(Tin vắn Trung Hoa) của Quỹ Jamestown.
|
Translated by Đan Thanh
|
|
http://thediplomat.com/china-power/is-china-scare-of-a-coup/
|
|
Remarks With Foreign Minister Pham Binh Minh After Their Meeting Phát biểu với Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sau buổi họp
xxx
Remarks With Foreign
Minister Pham Binh Minh After Their Meeting
|
Phát biểu với Bộ
trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sau buổi họp
|
US Department of State
|
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
|
Remarks
Hillary Rodham Clinton
Secretary of State
Government Guest House
Hanoi, Vietnam
July 10, 2012
|
Phát biểu của
Ngoại Trưởng
Hillary Rodham Clinton
Nhà khách chính phủ
Hà Nội – Việt Nam
10-07-2012
|
FOREIGN MINISTER MINH: (In Vietnamese.)
SECRETARY CLINTON: Thank you very much, Foreign Minister
Minh, for your warm welcome today. It's wonderful being back in Vietnam, and
I appreciate this opportunity to reaffirm the growing and mutually beneficial
partnership between our two nations.
|
Bộ trưởng Ngoại giao Minh: (Nói tiếng Việt).
Ngoại trưởng Clinton: Cảm ơn ông rất nhiều, Bộ trưởng
Ngoại giao Minh, về sự đón tiếp nồng nhiệt của ông hôm nay. Thật là tuyệt vời
khi trở lại Việt Nam, và tôi đánh giá cao cơ hội này để tái khẳng định quan
hệ đối tác đang phát triển và đôi bên cùng có lợi, giữa hai nước chúng ta.
|
I fondly remember my first visit here in the year 2000,
and it's remarkable now on my third visit as Secretary of State to see all
the changes and the progress that we've made together. We're working on
everything from maritime security and nonproliferation to public health and
disaster relief to promoting trade and economic growth. And of course, as the
Minister and I discussed, we continued to address legacy issues such as Agent
Orange, unexploded ordnance, and accounting for those missing in action as
well.
|
Tôi thích thú khi nhớ lại chuyến thăm đầu tiên của tôi đến
đây hồi năm 2000, và đặc biệt đây là chuyến thăm lần thứ ba của tôi trên
cương vị ngoại trưởng, để thấy tất cả các thay đổi và tiến bộ mà chúng ta cùng
thực hiện với nhau. Chúng ta đang làm tất cả mọi thứ, từ an ninh hàng hải và
chống phổ biến [hạt nhân], cho đến vấn đề y tế công cộng và cứu trợ thảm họa,
thúc đẩy thương mại và tăng trưởng kinh tế. Và dĩ nhiên, như Bộ trưởng và tôi
đã thảo luận, chúng tôi tiếp tục giải quyết các vấn đề quá khứ để lại, chẳng
hạn như chất độc da cam, bom mìn, cũng như tìm kiếm những người mất tích khi
làm nhiệm vụ.
|
Vietnam has emerged as a leader in the lower Mekong region
and in Southeast Asia, and the United States and Vietnam share important
strategic interests. When the Foreign Minister and I travel to the ASEAN
Regional Forum in Phnom Penh, we will have a chance to engage with our
colleagues such as regional integration, the South China Sea, cyber security,
North Korea, and the future of Burma.
|
Việt Nam đã nổi lên như một lãnh đạo ở khu vực hạ lưu sông
Mêkông và Đông Nam Á, Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ lợi ích chiến lược quan
trọng. Khi Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đi đến Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Phnom
Penh, chúng tôi sẽ có cơ hội tham gia với những người đồng nhiệm, [về các vấn
đề] như hội nhập khu vực, vấn đề biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam), an
ninh mạng, Bắc Triều Tiên, và tương lai của Miến Điện.
|
The United States greatly appreciates Vietnam's
contributions to a collaborative, diplomatic resolution of disputes and a
reduction of tensions in the South China Sea. And we look to ASEAN to make
rapid progress with China toward an effective code of conduct in order to
ensure that as challenges arise, they are managed and resolved peacefully
through a consensual process in accordance with established principles of
international law.
|
Hoa Kỳ đánh giá rất cao sự đóng góp của Việt Nam trong
việc giải quyết các tranh chấp bằng con đường hợp tác, ngoại giao, và giảm
căng thẳng ở biển Đông và chúng tôi mong ASEAN đẩy nhanh tiến độ với Trung
Quốc về một quy tắc ứng xử hữu hiệu để bảo đảm rằng, khi có những thách thức
phát sinh, thì chúng bị chế ngự và giải quyết một cách hòa bình, thông qua
quá trình đồng thuận, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế đã
được thiết lập.
|
The Foreign Minister and I discussed these and many other
issues, including our interest in deepening cultural, educational, and
economic ties. We have a business delegation with us on this trip, and I will
be meeting with them later.
|
Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đã thảo luận những vấn đề này
và nhiều vấn đề khác, bao gồm sự quan tâm của chúng tôi trong việc gia tăng
các mối quan hệ văn hóa, giáo dục, và kinh tế. Chúng tôi có một đoàn doanh
nghiệp đi cùng chúng tôi trong chuyến đi này, và tôi sẽ họp mặt với họ sau đó.
|
I will also help celebrate the 20th anniversary of the return
of the Fulbright Program in Vietnam. Nearly 15,000 Vietnamese students study
in the United States each year. They come home and contribute to Vietnam's
continued development, and we are very much hoping to deepen our ties even
further by sending Peace Corps volunteers to Vietnam in the near future.
|
Tôi cũng sẽ giúp chào mừng kỷ niệm 20 sự trở lại của
Chương trình Fulbright ở Việt Nam. Gần 15.000 sinh viên Việt Nam du học ở Hoa
Kỳ hàng năm. Các sinh viên này đã trở về nước và góp phần phát triển đất nước
Việt Nam, và chúng tôi hy vọng rất nhiều trong việc tăng cường các mối quan
hệ hơn nữa bằng cách gửi các tình nguyện viên của Tổ chức Hoà bình (Peace
Corps) đến Việt Nam trong tương lai không xa.
|
When I visit with the American Chamber of Commerce and a
number of both Vietnamese and American business leaders, we will look for
ways to expand trade and investment. As the Minister and I were discussing,
it has increased from practically nothing in 1995 to more than $22 billion
today. In fact, in just the two years that – between now and 2010, it's grown
more than 40 percent.
|
Khi tôi viếng thăm cùng với Phòng Thương mại Hoa Kỳ và một
số lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ, chúng tôi sẽ tìm cách mở rộng thương
mại và đầu tư. Khi Bộ trưởng và tôi thảo luận, thương mại đã tăng từ thực tế
là con số 0 hồi năm 1995 lên tới con số hiện tại là hơn 22 tỉ đô la. Thật
vậy, chỉ trong hai năm, từ năm 2010 đến nay, thương mại đã gia tăng hơn 40%.
|
So we're working on expanding it through a far-reaching,
new regional trade agreement called the Trans-Pacific Partnership, which
would lower trade barriers while raising standards on everything from labor
conditions to environmental protection to intellectual property. Both of our
countries will benefit. And in fact, economists expect that Vietnam would be
among the countries under the Trans-Pacific Partnership to benefit the most.
And we hope to finalize this agreement by the end of the year.
|
Cho nên chúng tôi đang làm việc để mở rộng thương mại,
thông qua thỏa thuận thương mại mới trong khu vực, có ảnh hưởng sâu rộng,
được gọi là Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, trong đó sẽ hạ thấp các
rào cản thương mại, trong khi nâng cao tất cả các tiêu chuẩn, từ điều kiện
lao động cho đến bảo vệ môi trường, đến quyền sở hữu trí tuệ. Cả hai nước
chúng ta sẽ được hưởng lợi. Thật vậy, các kinh tế gia hy vọng rằng Việt Nam
sẽ là một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất khi tham gia Quan hệ
Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Và chúng tôi hy vọng sẽ hoàn tất thỏa thuận
này vào cuối năm nay.
|
Higher standards are important, because if Vietnam is
going to continue developing and transition to an innovative entrepreneurial
economy for the 21st century, there will have to be more space created for
the free exchange of ideas, to strengthen the rule of law, and respect the
universal rights of all workers, including the right to unionize.
|
Nâng cao các tiêu chuẩn thì rất quan trọng, bởi vì nếu
Việt Nam tiếp tục phát triển và chuyển sang một nền kinh tế kinh doanh sáng
tạo cho thế kỷ 21, sẽ có nhiều không gian được tạo ra cho tự do trao đổi ý
tưởng, tăng cường pháp trị và tôn trọng các quyền phổ quát của tất cả các
công nhân, gồm cả quyền thành lập và tham gia công đoàn.
|
I want to underscore something I said in Mongolia
yesterday. I know there are some who argue that developing economies need to
put economic growth first and worry about political reform and democracy
later, but that is a short-sided bargain. Democracy and prosperity go hand in
hand, political reform and economic growth are linked, and the United States
wants to support progress in both areas.
|
Tôi muốn nhấn mạnh điều mà hôm qua tôi đã nói ở Mông Cổ.
Tôi biết có một số người lập luận rằng, phát triển kinh tế cần phải đặt tăng
trưởng kinh tế lên hàng đầu, còn lo nghĩ về cải cách chính trị và dân chủ thì
hãy để sau, nhưng đó là một kiểu mặc cả thiển cận. Dân chủ và thịnh vượng đi
đôi với nhau, cải cách chính trị và tăng trưởng kinh tế liên quan với nhau,
và Hoa Kỳ mong muốn hỗ trợ sự phát triển trong cả hai lĩnh vực này.
|
So I also raised concerns about human rights, including
the continued detention of activists, lawyers, and bloggers, for the peaceful
expression of opinions and ideas. In particular, we are concerned about
restrictions on free expression online and the upcoming trial of the founders
of the so-called Free Journalists Club. The Foreign Minister and I agreed to
keep talking candidly and to keep expanding our partnership.
|
Cho nên tôi cũng lo ngại về vấn đề nhân quyền, bao gồm
việc tiếp tục giam giữ các nhà hoạt động, các luật sư và các blogger phát
biểu ý kiến ôn hòa. Đặc biệt, chúng tôi quan tâm về các hạn chế tự do ngôn
luận trên mạng, và phiên tòa sắp diễn ra để xử những người sáng lập [nhóm]
được gọi là Câu Lạc bộ Nhà Tự do. Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đã đồng ý tiếp
tục nói chuyện thẳng thắn và tiếp tục mở rộng quan hệ đối tác.
|
So again, Minister Minh, let me thank you for your
hospitality and thank you for coming back from Cambodia to meet with me. I
greatly appreciate that effort that you made, and we look forward to
continuing both our bilateral and regional cooperation.
|
Cho nên, một lần nữa, Bộ trưởng Minh, cho tôi cảm ơn sự
hiếu khách của ông và cảm ơn ông đã từ Cambodia trở về để gặp tôi. Tôi đánh
giá rất cao nỗ lực đó của ông, và chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác song
phương và hợp tác trong khu vực [với Việt Nam].
|
MODERATOR: (In Vietnamese.)
QUESTION: (In Vietnamese.)
FOREIGN MINISTER MINH: (In Vietnamese.)
MODERATOR: (In Vietnamese.)
|
Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).
Hỏi: (Bằng tiếng Việt).
Bộ trưởng Minh: (Nói tiếng Việt).
Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).
|
QUESTION: Thanks very much. Madam Secretary, Egypt's
highest court and its top generals rejected President Morsi's call to
reconvene parliament, and that's setting them on a direct collision course.
What do you think this does to the political stability in Egypt? And do you
view that as a matter of a power grab or a defense of democracy?
|
Câu hỏi: Cám ơn bà rất nhiều. Bà Ngoại trưởng, tòa án tối
cao Ai Cập và các tướng lĩnh cao cấp ở đó đã bác bỏ lời kêu gọi tái triệu tập
quốc hội của Tổng thống Morsi, và điều đó sẽ đặt họ vào một cuộc xung đột trực
tiếp. Bà nghĩ, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với sự ổn định chính trị
ở Ai Cập? Bà có xem đó như là một vấn đề thu tóm quyền lực hay là sự bảo vệ
nền dân chủ?
|
SECRETARY CLINTON: Well, first, I think it is important
what is happening into context. There was a largely peaceful revolution,
competitive elections, and now there is an elected president, the first ever
in Egypt's very long history, and the United States remains committed to
working with Egypt, both the government and civil society to assist it in
completing a democratic transition, in particular, dealing with a lot of the
difficult economic and security issues that the new government will have to
face. But I think it's important to underscore that democracy is not just
about elections. It is about creating a vibrant, inclusive political
dialogue, listening to civil societies, having good relations between civilian
officials and military officials where each is working to serve the interests
of the citizens, and democracy really is about empowering citizens to determine
the direction of their own country.
|
Ngoại trưởng Clinton: Vâng, trước tiên, tôi nghĩ những gì
đang xảy ra trong bối cảnh hiện nay thì rất quan trọng. Có một cuộc cách mạng
khá yên bình, một cuộc bầu cử cạnh tranh, và bây giờ có một cuộc bầu cử tổng
thống, rất lâu mới có cuộc bầu cử đầu tiên trong lịch sử ở Ai Cập, và Hoa Kỳ
vẫn cam kết làm việc với Ai Cập, với chính quyền và xã hội dân sự để hỗ trợ
nước này trong việc hoàn thành quá trình chuyển đổi qua dân chủ, đặc biệt,
đối phó với rất nhiều vấn đề khó khăn về an ninh và kinh tế mà chính phủ mới
sẽ phải đối mặt. Nhưng tôi nghĩ, điều quan trọng là nhấn mạnh rằng, dân chủ không
phải chỉ là các cuộc bầu cử, mà là việc tạo ra một cuộc đối thoại chính trị
toàn diện, đầy hứng thú, lắng nghe các xã hội dân sự, có quan hệ tốt đẹp giữa
các quan chức dân sự và các quan chức quân sự, nơi mà mỗi nhóm người làm việc
để phục vụ cho lợi ích của công dân, và dân chủ thực sự là việc trao quyền
cho công dân của mình để xác định hướng đi của đất nước.
|
And I’m well aware that change is difficult. It's not going
to happen quickly. We've seen over the last few days that there's a lot of
work ahead of Egypt to keep this transition on course, and we urge that there
be intensive dialogue among all of the stakeholders in order to ensure that
there is a clear path for them to be following and that the Egyptian people
get what they protested for and what they voted for, which is a fully elected
government making the decisions for the country going forward. And the United
States has been a partner with Egypt for a long time. We want to continue to
work with them to promote regional stability, to prevent conflict, to try to
protect our mutual interests in the region. The relationship is important to
us. It's also important to Egypt's neighbors.
|
Và tôi cũng nhận thấy rằng thay đổi thì khó khăn. Thay đổi
sẽ không xảy ra cách nhanh. Chúng tôi thấy, trong vài ngày qua có rất nhiều
việc ở Ai Cập đang đi về phía trước để giữ cho quá trình chuyển tiếp này đi
đúng hướng, và chúng tôi mong rằng có sự đối thoại chuyên sâu giữa tất cả các
bên có liên quan để bảo đảm rằng, có một con đường rõ ràng để họ đi theo và
những người dân Ai Cập được hưởng những gì mà họ mong đợi khi xuống đường và
những gì họ đã bầu chọn, là một chính phủ hoàn toàn được bầu, ra quyết định
cho đất nước để đi về phía trước. Và Hoa Kỳ là một đối tác với Ai Cập trong
một thời gian dài. Chúng tôi muốn tiếp tục làm việc với họ để thúc đẩy sự ổn
định trong khu vực, ngăn ngừa xung đột, cố gắng bảo vệ lợi ích chung trong
khu vực. Mối quan hệ với Ai Cập thì quan trọng đối với chúng tôi. Nó cũng
quan trọng đối với các nước láng giềng của Ai Cập.
|
So I look forward to meeting with and talking to President
Morsi and other leading Egyptian officials along with representatives from a
broad cross section of Egyptian society when I'm in Egypt this weekend to
hear their views. But we strongly urge dialogue and a concerted effort on the
part of all to try to deal with the problems that are understandable but have
to be resolved in order to avoid any kind of difficulties that could derail
the transition that is going on.
|
Cho nên tôi mong được gặp và nói chuyện với Tổng thống
Morsi và các quan chức hàng đầu khác của Ai Cập, cùng với những người đại
diện từ một bộ phận rộng lớn của xã hội Ai Cập khi tôi tới Ai Cập cuối tuần
này, để lắng nghe các quan điểm của họ. Tuy nhiên, chúng tôi yêu cầu đối
thoại và một nỗ lực phối hợp tất cả các nhóm để cố gắng đối phó với những vấn
đề có thể hiểu được, nhưng phải được giải quyết để tránh bất kỳ trở ngại nào
có thể làm hỏng quá trình chuyển đổi đang diễn ra.
|
MODERATOR: (In Vietnamese.)
QUESTION: (In Vietnamese.)
MODERATOR: That's a question for you.
|
Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).
Hỏi: (Bằng tiếng Việt).
Người điều khiển: Câu hỏi đó dành cho bà.
|
SECRETARY CLINTON: Is it for me? Ah. (Laughter.) I'm
sorry. I didn't realize that. As we discussed, I have worked very hard to
make sure that the United States is addressing the Agent Orange issue. It is
a legacy issue that we are – we remain concerned about, and we have increased
our financial commitment to dealing with it. The Minister and I discussed
consulting on having a long-term plan so that we can look not just from year
to year, but into the future to try to determine the steps that we can both
take. The Minister also mentioned the idea of getting the private sector
involved in remediation efforts, and we will certainly explore that as part
of this ongoing discussion.
|
Ngoại trưởng Clinton: Dành cho tôi à? (Cười). Xin lỗi, tôi
đã không nhận ra. Như chúng tôi thảo luận, tôi đã làm việc rất nhiều để bảo
đảm rằng Hoa Kỳ đang giải quyết vấn đề chất độc da cam. Đó là một vấn đề quá
khứ để lại mà chúng tôi vẫn quan tâm, và chúng tôi đã gia tăng cam kết tài
chính của chúng tôi để giải quyết vấn đề đó. Bộ trưởng [Minh] và tôi đã thảo
luận ý kiến về một kế hoạch dài hạn để chúng tôi không chỉ xem xét mỗi năm,
mà nhìn vào tương lai để cố gắng xác định các bước mà cả hai nước có thể thực
hiện. Bộ trưởng cũng đã đề cập đến ý kiến đưa thành phần tư nhân tham gia vào
nỗ lực khắc phục hậu quả, và chúng tôi chắc chắn sẽ khảo sát ý kiến đó khi
phần thảo luận này diễn ra.
|
And then with respect to missing in action accounting, the
United States greatly appreciates Vietnam's cooperation over more than two
decades in our efforts to account for missing U.S. personnel. In fact, we
began that effort even before we established formal diplomatic relations back
in 1995. When I visited with my husband when he came as President in 2000, we
went out and saw the work of the joint American-Vietnamese teams, and I was
deeply moved by that. And we want to continue that work. It's work that we
believe very strongly in. Through these efforts, we've repatriated and
identified nearly 700 Americans. But nearly 1,300 personnel remain missing,
and when Secretary Panetta was here, Vietnam announced that it would open
areas that had previously been restricted, and we're very appreciative of
that. And we want to do more to help Vietnam recover their missing as well.
So there's a lot for us to be doing, and we want to be as focused in the
follow-up as possible.
|
Liên quan đến vấn đề những người mất tích khi làm nhiệm
vụ, Hoa Kỳ rất cảm kích sự hợp tác của Việt Nam hơn hai thập kỷ qua, trong nỗ
lực giải quyết các quân nhân Hoa Kỳ mất tích. Thật ra, chúng tôi bắt đầu nỗ
lực đó trước khi chúng tôi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao hồi năm 1995.
Khi tôi cùng với chồng tôi đến thăm [Việt Nam] năm 2000, khi ông ấy còn làm
tổng thống, chúng tôi đã thấy công việc mà các đội Mỹ-Việt cùng thực hiện
chung, và tôi vô cùng xúc động về điều đó. Và chúng tôi muốn tiếp tục công
việc đó. Đó là công việc mà chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ. Thông qua những nỗ
lực này, chúng tôi đã xác định được và đưa về nước gần 700 người Mỹ. Nhưng
vẫn còn gần 1.300 quân nhân mất tích, và khi Bộ trưởng [Quốc phòng] Panetta
đến đây, Việt Nam đã thông báo sẽ mở các khu vực mà trước đây bị hạn chế, và
chúng tôi rất cảm kích về điều này. Chúng tôi cũng muốn làm nhiều hơn nữa để
giúp Việt Nam lấy lại những gì đã mất,
có rất nhiều điều để chúng tôi làm, và chúng tôi muốn tập trung làm tiếp những
điều đang làm khi có thể được.
|
MODERATOR: (In Vietnamese.)
QUESTION: Thank you, Madam Secretary. Brad Klapper from
AP. You'll be going as well to Israel next week and – in another effort to
promote peace efforts. At the same time, the Palestinian Prime Minister has –
Palestinian President has approved the exhumation of former leader Yasser
Arafat amid claims that he may have been poisoned by Israel. In this kind --
is this kind of atmosphere conducive to any progress on peace? And if there
were any evidence uncovered to suggest or even create more suspicion
regarding Arafat's death, what would that mean for peace efforts? Thank you.
|
Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).
Câu hỏi: Cảm ơn bà, thưa bà, tôi là Brad Klapper từ AP. Bà
cũng sẽ đi Israel tuần tới và trong một nỗ lực để thúc đẩy hòa bình. Cùng
lúc, Thủ tướng Palestine – Tổng thống Palestine đã chấp thuận khai quật cựu
lãnh đạo Yasser Arafat, trong lúc có các tuyên bố rằng ông ấy có thể đã bị
Israel đầu độc. Trong bầu không khí này, liệu có lợi cho bất kỳ tiến bộ hòa
bình nào không? Và nếu có tìm ra bất kỳ bằng chứng nào, hoặc thậm chí tạo
thêm nghi ngờ về cái chết của Arafat, sẽ có ý nghĩa gì cho những nỗ lực hòa
bình? Cảm ơn bà.
|
SECRETARY CLINTON: Well, Bradley, I'm not going to answer
a string of hypotheticals. Nobody can predict what may or may not come of
such action. I'll be going to Israel to discuss a broad range of issues that
are of deep concern to Israel, to the United States, and to the region and
certainly the ongoing efforts to create a conducive environment for the peace
processes among them. But it's not the only important matter on our agenda.
But I think that we are not going to be responding to the rumors or the
suppositions that others are making. I will await whatever investigation is
carried out. But I also look forward to continuing my dialogue with the
Palestinians. As you know, I met with President Abbas in Paris a few days
ago. I look forward to seeing other Palestinian leaders as well. So I think
there is a broad discussion that is important for us to have without in any
way prejudging the outcome of any individual issue.
|
Ngoại trưởng Clinton: Vâng, Bradley, tôi sẽ không trả lời
câu hỏi nào liên quan đến các giả thuyết. Không ai có thể tiên đoán điều gì
có thể hoặc không thể xảy ra về hành động như thế. Tôi sẽ đi đến Israel để
thảo luận về một loạt các vấn đề mà Israel, Hoa Kỳ, và các nước trong khu vực
quan tâm sắc, và chắc chắn các nỗ lực liên tục để tạo ra một môi trường thuận
lợi cho quá trình hòa bình đó. Nhưng đó không phải là vấn đề quan trọng duy
nhất trong chương trình nghị sự của chúng tôi. Tôi nghĩ rằng, chúng tôi sẽ
không trả lời các tin đồn hoặc các giả thuyết mà những người khác đang thực
hiện. Tôi sẽ chờ bất cứ cuộc điều tra nào được thực hiện. Nhưng tôi cũng mong
muốn tiếp tục đối thoại với người Palestine. Như ông biết, tôi đã gặp Tổng
thống Abbas ở Paris vài ngày trước. Tôi cũng mong gặp các nhà lãnh đạo
Palestine khác. Nên tôi nghĩ rằng, có một cuộc thảo luận rộng rãi, quan trọng
đối với chúng tôi, mà không có cách nào để đoán trước kết quả của bất kỳ vấn đề
cá nhân nào.
|
MODERATOR: (In Vietnamese.)
FOREIGN MINISTER MINH: Thank you.
SECRETARY CLINTON: Thank you.
|
Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).
Bộ trưởng Minh: Cám ơn bà.
Ngoại trưởng Clinton: Cảm ơn ông.
|
Translated by Dương Lệ Chi
|
|
http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194766.htm
|
|
U.S. Secretary of State Hillary Clinton and Vietnam’s
Foreign Minister Pham Binh Minh at a press conference
|
Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Ngoại
giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại buổi họp báo
|
U.S. Secretary of State Hillary Clinton stated at a press
conference
|
Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton phát biểu tại buổi
họp báo
|
US Secretary of State Hillary Clinton and Foreign Minister
Pham Binh Minh.
|
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Ngoại giao
Phạm Bình Minh.
|
US Secretary of State Hillary Clinton in talks with
Foreign Minister Pham Binh Minh
|
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại buổi hội đàm với Bộ
trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh
|
Foreign Minister Pham Binh Minh
welcomed Secretary of State Hillary Clinton
|
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình
Minh đón Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
|
After the talks, U.S. Secretary of State Hillary Clinton
visited the Foreign Trade University and met with alumni groups of
Educational Exchange Program on the occasion of the 20th anniversary of the
Fulbright Scholarship Program by Government of the United States in Vietnam.
|
Sau khi kết thúc buổi hội đàm, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
Hillary Clinton đã thăm Trường Đại học Ngoại thương và gặp gỡ nhóm cựu sinh
viên Chương trình Trao đổi Giáo dục nhân kỷ niệm 20 năm Chương trình Học bổng
Fulbright của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
|
U.S. Secretary of State Hillary Clinton at the
celebrations for the 20th anniversary of the Fulbright Program by United
States Government at the University of Foreign Trade, Hanoi
|
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton dự Lễ kỷ niệm
20 năm Chương trình học bổng Fulbright của Chính phủ Hoa Kỳ tại Trường Đại
học Ngoại thương Hà Nội
|
Bộ
trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton nói chuyện với cựu sinh viên
chương trình Fulbright và sinh viên Đại học Ngoại thương.
Hillary Clinton and Vietnam's Deputy Minister of Foreign
Affairs Nguyen Phuong Nga witnessed the signing ceremony between GE (General
Electric) and Corporations national electricity transmission
|
Bộ trưởng Hillary Clinton và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt
Nam Nguyễn Phương Nga đã chứng kiến lễ ký kết giữa GE (General Electric) và
Tổng công ty truyền tải điện quốc gia
|
Prime Minister Nguyen Tan Dung and Secretary of State
Hillary Clinton.
|
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tiếp Ngoại trưởng Hoa
Kỳ Hillary Clinton.
|
Prime Minister Nguyen Tan Dung and Secretary of State
Hillary Clinton.
|
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tiếp Ngoại trưởng Hoa
Kỳ Hillary Clinton.
|
Prime Minister Nguyen Tan Dung and Secretary of State
Hillary Clinton.
|
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tiếp Ngoại trưởng Hoa
Kỳ Hillary Clinton.
|
Secretary of State Hillary Clinton introduced US members
|
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton giới thiệu các thành
viên trong đoàn
|
Prime
Minister Nguyen Tan Dung and Secretary of State Hillary Clinton.
|
Thủ
tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
tiếp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton.
|
General Secretary Nguyen Phu Trong welcomed Secretary of
State Hillary Clinton
|
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón Bộ trưởng Ngoại giao
Hillary Clinton
|
General Secretary Nguyen Phu Trong welcomed Secretary of
State Hillary Clinton
|
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón Bộ trưởng Ngoại giao
Hillary Clinton
|
Subscribe to:
Posts (Atom)