|
|
|
China's Super-Rich
Buy a Better Life Abroad
|
Người Trung Quốc siêu giàu mua cuộc sống tốt hơn ở Mỹ
|
By Dexter Roberts and Jasmine Zhao
November 22, 2011
|
Dexter Roberts and Jasmine Zhao
November 22/11/2011
|
Self-made millionaire Li Weijie runs his own ski and golf
resort outside Beijing and considers himself a patriot: A lifesize statue of
Mao Zedong on a four-meter base towers over the entrance to his resort. What
would Chairman Mao say if he knew Li was the proud holder of a Canadian
residency card? “I wanted access to the education system and health care of a
developed country,” says Li, 43, whose other businesses include one of
Beijing’s largest private taxi companies, two car dealerships, and a real
estate company. Li now has a $6 million house on Vancouver’s Westside, known
for its rich Chinese. His wife tools around Vancouver in a black Maybach
while his 20-year-old son drives a dark gray Maserati to classes at the
University of British Columbia. His wife and son live in Canada full-time.
|
Triệu phú tự lập Li Weijie điều hành khu nghỉ dưỡng trượt
tuyết và sân golf của mình bên ngoài Bắc Kinh và tự coi mình là một người yêu
nước: Một bức tượng đúng như kích cỡ thật của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên bệ
tháp cao bốn mét dựng ngay ở lối vào khu nghỉ dưỡng. Chủ tịch Mao sẽ nói gì nếu
ông ta biết Li là người rất tự hào vì có một thẻ cư trú Canada? “Tôi muốn
tiếp cận hệ thống giáo dục và y tế ở một quốc gia phát triển”, ông Li, 43
tuổi, người còn sở hữu các doanh nghiệp khác bao gồm công ty taxi tư nhân lớn
nhất ở Bắc Kinh, hai đại lý xe hơi, và một công ty bất động sản cho biết. Ông
Li bây giờ đã có một căn nhà 6 triệu đô-la ở Westside, Vancouver, được biết chỉ
dành cho người giàu Trung Quốc. Vợ ông đi công chuyện quanh Vancouver trong xe
Maybach đen trong khi đứa con trai 20 tuổi lái chiếc Maserati màu xám tối đến
lớp học tại Đại học British Columbia. Vợ và con trai của ông sống ở Canada toàn
thời gian.
|
What began as a trickle a decade ago when Li moved his
family to Canada has become a flood as China’s new rich seek foreign
passports or residency permits (commonly known as green cards in the U.S.)
largely from the U.S., Canada, Australia, Singapore, and New Zealand. More
than 500,000 Chinese have investable assets of over 10 million yuan ($1.57
million), according to a joint survey released in April by China Merchants
Bank and Bain & Co. The study says almost 60 percent are considering
emigrating, have begun the process, or have emigrated.
|
Cái bắt đầu như nước giọt cách đây một thập niên khi ông
Lí chuyển gia đình tới Canada thì giờ đây đã trở thành dòng thác lớn khi tầng
lớp giàu có Trung Quốc tìm kiếm hộ chiếu hay thẻ cư trú nước ngoài (ở Mỹ gọi
là thẻ xanh), chủ yếu từ Mỹ, Canada, Australia, Singapore và New Zealand. Trên
500.000 người Trung Quốc có tài sản đầu tư được trị giá hơn 10 triệu nhân dân
tệ (1,57 triệu USD), theo kết quả thăm dò chung của China Merchants Bank và
Bain & Co. Nghiên cứu cho thấy 60% trong số này đang xem xét việc di cư, đã
bắt đầu thủ tục hoặc đã di cư rồi.
|
In the U.S. so far this year almost 3,000 Chinese citizens
have applied for investor visas, up from 270 in 2007. That’s 78 percent of
the total applicant pool for this type of visa, according to U.S. Citizenship
and Immigration Services (USCIS). The U.S. investor visa, also known as the
EB-5, requires a minimum investment of $500,000 by the applicant in a
commercial project in the U.S. that employs at least 10 Americans within two
years. If the Chinese applicants can’t generate those jobs, they and their family
may have to leave the U.S.
|
Ở Mỹ tính tới thời điểm này trong năm, gần 3.000 công dân
Trung Quốc đã xin cấp thị thực đầu tư tăng so với mức 270 năm 2007. Đó là 78%
tổng số người nộp đơn xin visa loại này, theo cơ quan di trú và công dân Mỹ
(USCIS) cho biết. Thị thực nhà đầu tư ở Mỹ, còn gọi là EB-5, yêu cầu mức đầu
tư tối thiểu của đương đơn là 500.000 USD với một dự án thương mại có thể tạo
việc làm cho ít nhất 10 người Mỹ trong vòng hai năm. Nếu đương đơn xin visa
đầu tư người Trung Quốc không tạo ra được số việc làm đó, họ và gia đình có
thể phải rời Mỹ.
|
The drive to emigrate makes for brisk business for people
like Jason Zhang, a broker at Realty Direct Boston, a branch of a nationwide
chain. Zhang’s office specializes in settling Chinese in the Boston area. He
says this year he has already helped dozens of Chinese families purchase
homes and cars (the émigrés often pay in cash, he says) and find the right
schools for their children, up from just two or three families in total a few
years ago. Wealthy suburbs like Weston and Lexington are top choices.
|
Làn sóng di cư đã tạo điều kiện cho kinh doanh phát triển
với những người như Jason Zhang, một nhà môi giới tại Boston. Ông nói, trong
năm nay, ông đã giúp hàng chục gia đình Trung Quốc mua tậu nhà cửa, xe hơi (người
di trú thường trả tiền mặt, ông cho biết) và tìm trường tốt cho con cái họ so
với chỉ hai hoặc ba gia đình cách đây vài năm. Những vùng ngoại ô giàu có như
Weston và Lexington là chọn lựa hàng đầu.
|
For the most part, China’s richest aren’t permanently fleeing
their country, as some Russian oligarchs have. About 80 percent of the
wealthy Chinese emigrating don’t plan on giving up their passports, according
to an October survey by the Bank of China and Shanghai-based Hurun Report,
which publishes an annual ranking of China’s richest people. Instead, the
most common model is that of Li Weijie: Wife and child get foreign passports
and live abroad, husband gets a residency permit but spends most of his time
in China. “If you think of emigrating like Russians, it is because they are
afraid and so are leaving their country,” says Hurun’s founder, Rupert
Hoogewerf. “This is not true of the wealthy Chinese at all. They still have their
businesses in China and most of their assets are in yuan.”
|
Phần lớn những người giàu nhất Trung Quốc không đi hẳn
khỏi đất nước, như một số tài phiệt Nga. Khoảng 80% người giàu có Trung Quốc
đi di cư không có ý định từ bỏ hộ chiếu, theo kết quả cuộc thăm dò hồi tháng Mười
của Ngân hàng Trung Quốc và tạp chí Hồ Nhuận có trụ sở tại Thượng Hải –
chuyên xếp hạng những người giàu nhất Trung Quốc hàng năm. Thay vào đó, mô
hình phổ biến nhất là như Lí Duy Tiết: Vợ và con có hộ chiếu nước ngoài, sống
ở nước ngoài, chồng có thẻ cư trú nhưng dành phần lớn thời gian ở Trung Quốc.
“Nếu bạn định di trú theo kiểu người Nga, đó là vì họ sợ hãi và phải bỏ nước
mà đi, người sáng lập tạp chí Hồ Nhuận, Rupert Hoogewerf cho biết. Điều đó
không đúng với giới giàu có Trung Hoa tí nào. Những người giàu có vẫn có công
việc kinh doanh trong nước và hầu hết tài sản của họ tính trong đồng nhân dân
tệ”.
|
So why are they looking at residency abroad? The top
motive cited is to pursue better educational opportunities for their
children, according to the Bank of China-Hurun and China Merchants-Bain
surveys, as well as comments from émigrés. The feeling among rich Chinese is
that U.S. universities beat out their Chinese equivalents, and their children
need to understand the world. Émigrés note that top Chinese leaders such as
Xi Jinping, likely China’s next president, send their children abroad to
study. Escaping dire air quality and food safety problems are also factors.
|
Vậy tại sao họ tìm kiếm việc cư trú ở nước ngoài? Động cơ
đầu tiên là tìm kiếm những cơ hội giáo dục tốt hơn cho con cái, đó là theo các
điều tra của Ngân hàng Trung Quốc – tạp chí Hồ Nhuận và Thương Nhân Trung Hoa
cũng như ý kiến của người di cư. Những người giàu Trung Quốc cảm nhận rằng,
các trường đại học Mỹ ăn đứt các trường Trung Quốc và con cái họ cần hiểu
biết thế giới. Họ nhấn mạnh rằng, những vị lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc như
Tập Cận Bình, có thể là Chủ tịch tiếp theo của Trung Quốc, cũng đã gửi con
cái họ ra nước ngoài học tập. Thoát khỏi không khí bị ô nhiễm và vấn đề an
toàn thực phẩm cũng là các nhân tố quan trọng khác để di cư.
|
Moving a family abroad and obtaining foreign residency
cards could also prove useful in case of sudden legal or policy shifts that
hurt entrepreneurs, or if social unrest reaches a boiling point. So-called
mass incidents—riots, strikes, and protests—doubled in five years, to 180,000
in 2010, Sun Liping, a professor at Beijing’s Tsinghua University, wrote in a
Feb. 25 article in the Economic Observer. “Some people in China are talking
about class conflicts against rich people,” says Wang Xiaolu, deputy director
of the National Economic Research Institute in Beijing. “Maybe some of those
emigrating or getting residency are worrying about possible policy changes
turning China ‘left’ that will put them in danger.”
|
Chuyển gia đình ra nước ngoài sinh sống và sở hữu thẻ cư
trú nước ngoài cũng tỏ ra hữu ích trong trường hợp đột nhiên có những biến
động về luật pháp hay chính sách mà gây tổn thương cho giới doanh nhân hay trong
trường hợp xảy ra bất ổn xã hội. Cái gọi là hàng loạt vụ việc như bạo động,
đình công, biểu tình đã tăng gấp đôi trong năm năm qua, lên 180.000 vụ năm
2010, Sun Liping, một giáo sư tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, đã viết như
thế trong một bài báo đăng trên nhà
Quan sát kinh tế số ra ngày 25 tháng 2. “Một số người ở Trung Quốc giờ
đây đang nói tới các cuộc xung đột giai cấp chống lại người giàu“, Vương Hiểu
Lộ, phó giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế ở Bắc Kinh nói. “Có thể một số người
di cư đang lo lắng về khả năng chính sách thay đổi sẽ khiến họ bị đặt vào
tình trạng nguy hiểm”.
|
One émigré in Boston (who asked only that his last name,
Yang, be used since he still owns a factory in China) points out that the
Chinese government spent more money on internal security (549 billion yuan)
than on defense (534 billion yuan) in 2010. He says that if things got ugly,
the rich would be targets not just for being rich but for their close
connections with the government. Most of China’s wealthy have an “original sin,”
or some illegality relating to earning their “first bucket of gold,” says
Yang.
|
Một người đi cư giàu có ở Boston họ Dương (ông đề nghị chỉ
ghi họ mà thôi vì ông còn có một nhà máy ở Trung Quốc) chỉ ra rằng, năm ngoái
chính phủ Trung Quốc đã chi tiền cho an ninh nội địa (549 tỉ nhân dân tệ)
nhiều hơn cả quốc phòng (534 tỉ nhân dân tệ). Ông nói, nếu tình hình trở nên
xấu đi, người giàu có sẽ là mục tiêu không chỉ vì họ giàu mà còn vì quan hệ
gần gụi của họ với chính quyền. Phần lớn giới giàu có Trung Quốc đều có “tội
gốc” hoặc hoạt động phạm pháp để kiếm “đấu vàng đầu tiên,” ông Dương nói.
|
“China develops so fast, and the society is unstable,”
says Shengxi “Tina” Tian, an attorney at MT Law, a firm based in Burlington,
Mass., that helps wealthy Chinese emigrate to the U.S. Tian points out that
the émigrés appreciate the rule of law in the U.S., Canada, and elsewhere.
|
“Trung Quốc phát triển rất nhanh, và xã hội trở nên bất
ổn”, Shengxi “Tina” Tian, một luật sư tại MT Law, hãng luật ở Burlington,
Massachusetts., đã giúp đỡ những người giàu có Trung Quốc di cư tới Mỹ cho
biết. Tian chỉ ra rằng, những người giàu có Trung Quốc đánh giá cao nền pháp
trị ở Mỹ, Canada và một số nơi khác.
|
Some wealthy émigrés are nervous talking openly about why
they have sought foreign residencies. “For us businessmen, we go wherever is
safe,” says another recent émigré in Boston. “China’s political system and
legal system make us feel insecure,” says the businessman, who still runs a
furniture business in Shanghai and would not allow his or his company’s name
to be used. He later refused to talk further and instead declared his
devotion to the Party.
|
Một doanh nhân gần đây di cư đến Boston trong khi vẫn điều
hành doanh nghiệp nội thất ở Thượng Hải nói: “Đối với doanh nhân chúng tôi,
chúng tôi đến bất kỳ nơi đâu an toàn.” Một doanh nhân khác cho biết, “Hệ
thống chính trị và luật pháp của Trung Quốc khiến chúng tôi thấy bất an”. Người
này còn điều hành một doanh nghiệp đồ gỗ tại Thượng Hải nên giấu cả tên mình
lẫn tên công ty. Sau đó ông từ chối nói chuyện tiếp và thay vào đó ông tuyên
bố trung thành với Đảng.
|
In China, more than 800 licensed emigration service
companies (and possibly hundreds more without proper government approvals)
coach applicants for visa interviews, help them fill out forms, and identify
possible overseas investments. Beijing-based Well Trend United, one of
China’s oldest and largest emigration service companies, charges up to
$30,000 per client. Well Trend, which has offices in 10 of China’s largest
cities and more than 400 visa consultants and agents, says it has helped more
than 10,000 Chinese get overseas visas since it opened in 1995. Business will
remain strong for at least another decade, says founder Larry Wang. “It helps
the U.S. get certain capital while Chinese can realize their dream of seeing
the world. It’s supply and demand.”
|
Ở Trung Quốc, hơn 8.000 công ty được cấp phép làm dịch vụ
di trú (và có thể có hàng trăm công ty khác không được chính phủ cấp phép) đã
đào tạo các ứng viên về phỏng vấn visa, giúp họ điền mẫu đơn, xem xét hạng
mục đầu tư nước ngoài có thể thực hiện. Well Trend United ở Bắc Kinh, một
trong những công ty làm dịch vụ di trú lâu đời nhất, lớn nhất đặt ra mức phí
30.000 USD/khách hàng. Well Trend có văn phòng ở 10 thành phố lớn nhất Trung
Quốc cho biết, đã giúp hơn 10.000 người có thị thực nước ngoài từ khi hoạt
động năm 1995. Kinh doanh ngành này vẫn mạnh mẽ trong ít nhất một thập niên
nữa, người sáng lập Larry Wang khẳng định. “Nó giúp Mỹ có được nguồn vốn nhất
định trong khi người Trung Quốc cần thực hiện ước mơ nhìn thấy thế giới. Đó
là quy luật cung và cầu”.
|
A serious issue for both the Chinese applicants and their
prospective host countries is the origin of their wealth. To ensure that
those with criminal backgrounds aren’t let in, and to make sure they’re truly
affluent, officials of the U.S., Canada, and other countries want thorough
documentation of their assets. That can be difficult.
|
Một vấn đề nghiêm trọng với cả bên đương đơn và nước chủ
nhà là nguồn gốc tài sản. Để đảm bảo các nguồn tài sản không dính dáng tới
phạm tội, quan chức ở Mỹ, Canada và một số nước khác muốn xem kỹ các tài liệu
liên quan tới tài sản của người giàu có Trung Quốc muốn di cư. Đó thực sự khó
khăn.
|
“Wealthy Chinese almost all have a history of evading
taxes,” says Gao Tong, who emigrated to Boston six years ago and is now
setting up his own immigration services company called Harmonia Capital USA,
with his brother, a wealthy Shanghai businessman. “They fear getting caught
if they have to report their income globally.”
|
Tầng lớp giàu có Trung Quốc gần như tất cả đều có một lịch
sử trốn thuế, "ông Cao Tông, người di cư đến Boston sáu năm trước đây và
bây giờ đang thiết lập công ty riêng của ông về dịch vụ nhập cư có tên là Harmonia Capital Mỹ, cùng với anh trai
của ông, một doanh nhân giàu có ở Thượng Hải. "Họ sợ bị bắt nếu họ phải
báo cáo thu nhập của họ trên toàn cầu."
|
Some middlemen collude with clients to forge documents,
say Well Trend executives, since many émigrés don’t have papers to prove the
origin of their finances, or they may have gotten rich through illicit means.
“There are more than a few bad apples,” says Victor Lum, a vice-president at
Well Trend and a former Canadian visa official. “USCIS takes allegations
regarding EB-5 program malfeasance very seriously,” USCIS spokesman
Christopher Bentley wrote in an e-mail.
|
Một số trung gian thông đồng với khách hàng để giả mạo tài
liệu, giám đốc điều hành Well Trend nói, bởi vì nhiều người di trú không có
giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài chính của họ, hoặc họ có thể đã làm giàu
thông qua các phương tiện bất hợp pháp. "Cũng có khá nhiều quả táo
xấu," ông Victor Lum, một phó chủ tịch tại Well Trend và là cựu quan
chức cấp thị thực Canada cho biết. "USCIS truy tố các hành động phi pháp
liên quan đến chương trình EB-5 rất nghiêm túc," phát ngôn viên
Christopher Bentley của USCIS đã viết trong một e-mail.
|
Longer term, if China’s economy continues to grow, the
emigration surge could abate. Ski resort entrepreneur Li says some of his
friends are reconsidering plans to get foreign residency. In part that’s
because of stricter rules in Canada and elsewhere. And while rich Chinese
still crave Canadian or U.S. degrees for their children, they may see less
reason to emigrate. “When I first went to Canada, I thought China was very
backward and it would take 50 years for us to catch up,” says Li. “After 10
years, we can all see that China will absolutely surpass the rest of the
world.”
|
Trong viễn cảnh lâu dài, nếu kinh tế Trung Quốc tiếp tục
phát triển, làn sóng di cư có thể dịu lại. Doanh nhân họ Lí có khu trượt
tuyết nói, một số bạn bè của ông đang xem xét lại kế hoạch ra nước ngoài. Một
phần vì bởi quy định chặt chẽ hơn ở Canada và những nơi khác, phần vì trong
khi người giàu Trung Quốc vẫn khao khát bằng cấp Canada hay Mỹ cho con cái
họ, thì họ nhìn thấy ít lý do hơn để di cư. “Khi lần đầu tiên tới Canada, tôi
nghĩ Trung Quốc quá tụt hậu và phải mất 50 năm nữa mới bắt kịp”, ông Lí nói.
“10 năm sau, chúng tôi thấy Trung Quốc hoàn toàn có thể đuổi kịp và vượt qua
phần còn lại của thế giới”.
|
The bottom line:
More than half a million Chinese are worth at least 10 million yuan. Many are
seeking the insurance of a second home abroad.
|
Dòng kết: Hơn một
nửa triệu người Trung Quốc có tài sản ít nhất 10 triệu nhân dân tệ. Nhiều
người đang tìm kiếm sự bảo đảm của một quê hương thứ hai ở nước ngoài.
|
|
|
|
http://www.businessweek.com/magazine/chinas-superrich-buy-a-better-life-abroad-11222011.html
|
|
China's economic development has produced a small group of
the super-rich. But many of China's most wealthy people do not see their
future in their own country. Rather, they're planning to move with their
families and their wealth overseas.
They made their fortunes from China's economic boom, but
many of China's wealthy are hoping to leave the country, taking their money
with them. It's a growing trend among China's millionaires and billionaires.
According to the Associated Press, moving overseas is the top wish of China's
wealthy. It's apparently driven by the desire to enjoy what wealth alone
can't buy in their homeland.
For observers, it's not too difficult to see why. While
the Chinese regime has fostered an environment for economic growth, for some,
its iron-fist rule, prevalent corruption and lack of personal freedoms are
pushing the country's well-to-do overseas.
[Jin Chu, Online Author]:
"This isn't an issue of patriotism. [China's]
political system is too dark and corrupt and has no future. When the future
is bleak, someone would seek to further develop in a relatively brighter and
more just society after they've made their riches. This is a basic human
desire for goodness, it's nothing strange."
Among the top destinations for China's rich are the United
States, Canada and Australia. For them, these countries offer a better
education system for their children, a higher standard of living, and, most
of all, freedom and security for their assets.
[Sun Wenguang, Retired Professor]:
"Currently, the Communist Party rules the country by
dictatorship. There is no democracy. Consequently people do not feel their
personal freedoms and rights are protected. The state's power is not limited,
and therefore, people do not have a sense of security."
China's Merchants Bank and US consultant Bain & Co
published a report in April stating that 27% of the 20-thousand Chinese with
more than $15-million dollars have already emigrated abroad. Another 47% are
considering it. Together, these wealthy people have invested more than
$560-billion dollars overseas.
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Tuesday, July 3, 2012
China's Super-Rich Buy a Better Life Abroad Người Trung Quốc siêu giàu mua cuộc sống tốt hơn ở Mỹ
Monday, July 2, 2012
The Gettysburg address Diễn văn Gettysburg
The Gettysburg
address
|
Diễn văn Gettysburg
|
Abraham Lincoln
|
Abraham Lincoln
|
Four score and seven years ago our fathers brought forth
on this continent, a new nation, conceived in Liberty, and dedicated to the
proposition that all men are created equal.
|
Tám mươi bảy năm trước ông cha chúng ta đã khai sinh ra
trên lục địa này một quốc gia mới, được thai nghén trong Tự do, và sống hiến
dâng cho lý tưởng được đề ra, rằng tất cả mọi người được tạo hóa sinh ra bình
đẳng.
|
Now we are engaged in a great civil war, testing whether
that nation, or any nation so conceived and so dedicated, can long endure. We
are met on a great battle-field of that war. We have come to dedicate a
portion of that field, as a final resting place for those who here gave their
lives that that nation might live. It is altogether fitting and proper that
we should do this.
|
Giờ đây chúng ta bị lâm vào một cuộc nội chiến lớn, thử
thách xem quốc gia này, hay bất cứ quốc gia nào được thai nghén và sống hiến
dâng như thế, có thể tồn tại được lâu dài hay không. Chúng ta gặp nhau trên
một chiến trường lớn của cuộc chiến này. Chúng ta đến để hiến dâng một phần
đất nhỏ của chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người đã để
lại mạng sống mình tại đây, để cho quốc gia này có thể tồn tại. Tất cả đều
phù hợp và chính đáng để chúng ta làm việc này.
|
But, in a larger sense, we can not dedicate -- we can not
consecrate -- we can not hallow -- this ground. The brave men, living and
dead, who struggled here, have consecrated it, far above our poor power to
add or detract. The world will little note, nor long remember what we say
here, but it can never forget what they did here. It is for us the living,
rather, to be dedicated here to the unfinished work which they who fought
here have thus far so nobly advanced. It is rather for us to be here
dedicated to the great task remaining before us -- that from these honored
dead we take increased devotion to that cause for which they gave the last
full measure of devotion -- that we here highly resolve that these dead shall
not have died in vain -- that this nation, under God, shall have a new birth
of freedom -- and that government of the people, by the people, for the
people, shall not perish from the earth.
|
Tuy nhiên, theo một nghĩa rộng hơn, chúng ta không thể
hiến dâng – không thể tôn phong – không thể thánh hóa – miếng đất này. Chính
những con người dũng cảm đã chiến đấu tại đây, dù còn sống hay đã chết, đã
làm thiêng liêng nó, vượt xa khả năng kém cỏi của chúng ta để thêm hay bớt đi
điều gì cho nó. Thế giới sẽ ít chú ý, hay nhớ lâu những gì chúng ta nói ở
đây, nhưng sẽ không bao giờ quên điều gì họ đã làm ở đây. Chính chúng ta,
những người còn sống, mới phải hiến dâng mình cho công việc dở dang mà những
người chiến đấu ở đây đã tiến hành một cách cao quý. Chính chúng ta mới là
những người phải hiến dâng mình cho nhiệm vụ lớn còn ở trước mặt – rằng từ
những người chết được vinh danh này chúng ta sẽ nhận lấy sự tận tụy nhiều hơn
cho sự nghiệp mà họ đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng – rằng chúng ta ở đây
sẽ có quyết tâm cao để cho những người đã ngã xuống sẽ không hy sinh một cách
phí hoài – rằng quốc gia này, dưới ơn trên của Chúa, sẽ chứng kiến một cuộc
sinh nở mới của tự do – và rằng chính quyền của dân, do dân và vì dân, sẽ
không biến mất khỏi trái đất này.
|
19.11.1863
Source: Collected Works of Abraham Lincoln, edited by Roy
P. Basler.
|
Translated by Nguyễn Xuân Xanh
|
Vietnam needs an economic rethink Việt Nam cần xem lại nền kinh tế
|
|
|
|
Vietnam needs an
economic rethink
|
Việt Nam cần xem lại
nền kinh tế
|
|
Bruce Gale
The Straits Times (Singapore)
November 17, 2010
|
Bruce Gale
The Straits Times (Singapore)
17/11/2010
|
|
|
|
|
How long is Vietnam
going to remain Asia's odd man out?
|
Việt Nam sẽ còn là
kẻ lạc lõng ở châu Á trong bao lâu?
|
|
While the US dollar has been losing its value against
almost all other currencies in Asia, it is appreciating against the
Vietnamese dong. And while the nation's gross domestic product is expanding
rapidly, Vietnam is virtually the only country in the region struggling to
contain a rising trade deficit.
|
Trong khi đồng Mỹ kim đang bị mất giá so với hầu hết các
mệnh giá tiền tại châu Á, nó lại tăng giá so với tiền đồng Việt Nam. Và trong
khi tổng sản lượng nội địa quốc gia tăng một cách nhanh chóng, Việt Nam hầu
như là quốc gia duy nhất trong vùng vẫn đang vật lộn để kềm chế nạn thâm
thủng mậu dịch.
|
|
Many of the country's problems can be traced to an overemphasis
on growth. That strategy has produced fiscal deficits, inflation and an
unstable exchange rate regime. Inflation is currently running at 10 per cent.
Low interest rates and easy money have also led to a surge in imports, thus
widening the trade deficit. Official statistics show that the deficit reached
US $9.5 billion (S $12.4 billion) in the first 10 months of this year, up
from US $8.4 billion in the same period last year. And the monetary
authorities have devalued the currency thrice in the past year.
|
Đa phần những nan giải của quốc gia này có thể qui về việc
quá chú trọng vào tăng trưởng. Chiến lược này đã làm nảy sinh ra nạn thâm
thủng ngân sách, lạm phát và một chế độ tỉ giá hối đoái thiếu ổn định. Các dữ
kiện của chính phủ cho thấy tỉ lệ thâm thủng đã đạt đến 9,5 tỉ Mỹ kim trong
mười tháng đầu của năm nay so với 8,4 tỉ trong cùng kỳ năm ngoái. Và giới hữu
trách về tiền tệ đã hạ giá tiền đồng ba lần trong năm qua.
|
|
Despite this, foreign investors still seem to have
confidence in the country. Direct foreign investment this year is expected to
reach US $8 billion, far ahead of that projected for the Philippines.
|
Mặc dù thế, giới đầu tư nước ngoài có vẻ vẫn tin tưởng vào
quốc gia này. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong năm nay được dự đoán sẽ
đạt đến 8 tỉ Mỹ kim, vượt xa so với con số dự đoán tại Philippines.
|
|
Unfortunately, the new investment is almost entirely
confined to infrastructure, with the construction of deep-water seaports,
highways, hydroelectric power plants and fibre optic cable systems. Such
investment is important to ensure future growth. But the more immediate
problem is to find ways of boosting exports by encouraging investment in
non-traditional manufactured goods.
|
Điều không may là nguồn đầu tư mới này hầu hết chỉ gói gọn
trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, với việc xây dựng các cảng biển, đường cao tốc,
các đập thuỷ điện và những hệ thống mạng cáp quang. Những đầu tư dạng này thì
rất quan trọng trong việc bảo đảm sự tăng trưởng tương lai. Nhưng khó khăn
khẩn cấp hơn trước mắt là tìm cách tăng cường xuất khẩu bằng việc khuyến
khích đầu tư vào những mặt hàng sản xuất không không truyền thống.
|
|
Vietnam's medium- and long-term prospects look good,
particularly for manufacturing companies seeking an alternative to China.
Wages are about a third lower than in China's coastal industrial areas.
English is widely spoken, and Vietnamese workers are generally regarded as
hard-working.
|
Những viễn cảnh trong thời hạn trung và lâu dài của Việt
Nam thì khả quan, đặc biệt là đối với những công ty sản xuất đang tìm giải
pháp khác ngoài Trung Quốc. Lương lao động thấp hơn khoản một phần ba so với
khu vực công nghiệp duyên hải của Trung Quốc. Tiếng Anh được sử dụng rộng
rãi, và lao động Việt Nam nói chung thường được cho là chăm chỉ.
|
|
Vietnam's economic management, however, leaves much to be
desired. It is a situation that may soon be weighing heavily on the minds of
potential investors.
|
Tuy nhiên việc quản lý kinh tế của Việt Nam lại chẳng có
gì là hấp dẫn. Tình trạng này sẽ sớm đè nặng trong suy tính của những nhà đầu
tư tiềm năng.
|
|
The recent revelation that a government-owned shipping
company racked up debts of more than $5.2 billion, for example, has
highlighted the need to reform the nation's ailing state enterprises. Another
issue is the low quality and uneven quantity of the economic data the
government releases. But the most serious problem is muddle-headed policy
formulation. This has made it difficult for foreigners to have confidence in
the country's future direction.
|
Ví dụ như khám phá gần đây về việc một công ty tàu thuyền
của nhà nước ôm món nợ lên đến hơn 5,2 tỉ Mỹ kim đã nêu bật sự cần thiết phải
cải cách những công ty nhà nước đang suy yếu. Một vấn đề khác nữa là chất
lượng thấp hoặc không đồng đều của dữ liệu thông tin về kinh tế mà nhà nước
đưa ra. Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất là công thức thiết lập chính sách đầy
ngu xuẩn. Điều này đã khiến cho người nước ngoài khó mà tin tưởng vào hướng
đi tương lai của đất nước.
|
|
On Nov 5, the central bank raised its benchmark rate on
dong-denominated loans by 1 percentage point in an attempt to support the
local currency and dampen inflationary pressures. The move came as a
surprise, particularly since the monetary authorities had repeatedly called
on local banks to reduce their lending rates. The central bank had even
stated the previous week that it intended to hold rates steady for the month.
|
Ngày 5 tháng Mười một, ngân hàng trung ương đã tăng tỉ giá
lãi xuất cơ bản của các món nợ bằng tiền đồng lên 1 phần trăm nhằm tìm cách
hỗ trợ đồng tiền trong nước và giảm thiểu những áp lực về lạm phát. Hành động
này xảy ra thật bất ngờ, đặc biệt là khi cơ quan hữu trách về đã không ngừng
kêu gọi các ngân hàng địa phương giảm tỉ lệ lãi cho vay. Ngay cả một tuần
trước đó ngân hàng trung ương vẫn tuyên bố rằng sẽ cố gắng giữ nguyên tỉ giá
trong tháng.
|
|
The about-face prompted memories of a Finance Ministry
circular late last year that raised the possibility of using price controls
to hold down inflation. It was rescinded by the ministry in April this year
without comment after foreign governments and businesses expressed concern.
|
Thái độ mang tính sĩ diện này nhắc lại bản thông tư của Bộ
Tài chính vào cuối năm ngoái đề cập đến khả năng kiểm soát giá cả nhằm kềm
chế lạm phát. Việc này đã được Bộ Tài chính huỷ bỏ vào tháng Tư năm nay mà
không có lời giải thích sau khi các chính phủ và doanh nghiệp nước ngoài bày
tỏ quan ngại.
|
|
The upcoming congress of the ruling Communist Party of
Vietnam (CPV) in January is further complicating matters by encouraging
policymakers to continue high-growth strategies in an effort to head off
domestic unrest. Some senior party members have also been showing signs of
nervousness, with hardliners calling for a crackdown on dissent in ways that
could strain relations with major Western countries.
|
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng Giêng sắp tới sẽ
làm cho vấn đề thêm phức tạp bằng cách khuyến khích chính quyền tiếp tục đi
theo chiến lược tăng trưởng nhanh để tìm cách đánh lạc hướng những bất ổn
trong nước. Một số lãnh đạo cao cấp trong đảng cũng có những dấu hiệu lo
lắng, cùng việc giới cứng rắn kêu gọi đàn áp các nhà bất đồng chính kiến có
thể làm căng thẳng những quan hệ với các quốc gia lớn ở phương Tây.
|
|
But the CPV congress could also see some positive change.
Such congresses, which take place once every five years to elect a new
central committee and politburo, often provide Vietnamese leaders with
opportunities to announce important policy initiatives.
|
Nhưng đại hội Đảng cũng có thể tạo ra được những thay đổi
tích cực. Những đại hội như thế này xảy ra mỗi năm năm để bầu ra uỷ ban trung
ương và bộ chính trị mới, thường tạo cơ hội cho các lãnh đạo Việt Nam công bố
những dự thảo cương lĩnh quan trọng.
|
|
Vietnam's opaque political system makes it difficult to
say exactly what the new party leadership will look like after January's
elections. However, age ceilings mean that slightly more than a third of the
political bureau's current 15 members will have to retire. This is certainly
good news for those who believe that older Vietnamese leaders have been
responsible for slowing down reforms.
|
Với hệ thống chính trị của Việt Nam, thật khó có thể tuyên
bố chính xác rằng giới lãnh đạo đảng mới sẽ như thế nào sau cuộc bầu cử tháng
Giêng. Nhưng giới hạn tuổi tác có nghĩa là gần một phần ba thành phần 15
người trong bộ chính trị hiện nay phải về hưu. Đây chắc chắn là một tin mừng
cho những ai tin vào việc thế hệ lãnh đạo lớn tuổi của Việt Nam đã phải chịu
trách nhiệm về việc làm chậm trễ tiến trình đổi mới.
|
|
After the congress, concern that slower growth could
undermine support for key party leaders should also ease. The CPV may
therefore be more willing to allow tighter fiscal and monetary policies.
|
Sau đại hội, quan ngại về sự tăng trưởng chậm chạp có thể
làm mất đi sự ủng hộ của những lãnh đạo chủ chốt trong đảng cũng sẽ giảm bớt.
Từ đấy Đảng Cộng sản có thể sẽ sẵn sàng cho phép xiết chặt hơn chính sách về
ngân sách và tiền tệ.
|
|
If macroeconomic stability continues to remain in doubt,
Vietnam risks losing the goodwill of the foreign investors it so obviously
needs. In 2006, when Intel announced its intention to build a US $1 billion
semiconductor factory near Ho Chi Minh City, the move sent a strong message
about the company's comfort level with the country that other electronics
companies found hard to ignore. Taiwan's Hon Hai, the maker of Apple's iPod,
for example, subsequently invested almost US $5 billion in the country.
|
Nếu sự ổn định về kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục là một nghi
vấn, Việt Nam sẽ có nguy cơ bị mất đi thiện chí của các nhà đầu tư nước ngoài
mà rõ ràng là họ đang rất cần. Năm 2006, khi Intel thông báo ý định xây dựng
một nhà máy sản xuất vi mạch trị giá 1 tỉ Mỹ kim gần Thành phố Hồ Chí Minh,
họ đã gửi một thông điệp về mức độ tin tưởng của mình đối với quốc gia này,
khiến những công ty điện tử khác khó để bỏ qua. Ví dụ như tập đoàn Hồng Hải
của Đài Loan chuyên sản xuất sản phẩm Ipod của Apple sau đó đã đầu tư gần 5
tỉ Mỹ kim vào đất nước này.
|
|
Such iconic investors, however, are hard to attract.
Producing yet another wave of export-oriented investment may well depend upon
the new party leadership formulating a more consistent economic strategy.
|
Nhưng cũng khó để hấp dẫn được những nhà đầu tư nổi tiếng
như thế. Việc tạo ra một làn sóng mới về đầu tư trong lĩnh vực xuất khấu có
thể tuỳ thuộc lớn vào việc giới lãnh đạo mới của đảng đưa ra được một chiến
lược kinh tế nhất quán hơn.
|
|
|
|
|
|
Translated by Diên Vỹ
|
|
|
|
|
http://tuoitrenews.vn/cmlink/tuoitrenews/business/vietnam-needs-an-economic-rethink-1.15184
|
|
Vietnam: Balancing growth and stability in a more market-oriented economy Việt Nam: Cân bằng tăng trưởng và ổn định trong một nền kinh tế định hướng thị trường hơn
|
|
|
|
Vietnam: Balancing
growth and stability in a more market-oriented economy
|
Việt Nam: Cân bằng
tăng trưởng và ổn định trong một nền kinh tế định hướng thị trường hơn
|
|
Suiwah Leung, ANU
|
Suiwah Leung, ANU
|
|
December 28th, 2010
|
28/12/2010
|
|
A new generation of leadership is expected to emerge from
the 11th national congress of the Vietnamese Communist Party in January 2011.
Both the President and the Secretary-General of the Vietnamese Communist
Party are expected to be stepping down, and a question mark hovers over the
re-appointment of the current Prime Minister, Mr Nguyen Tan Dung.
|
Một thế hệ lãnh đạo mới đang được trông đợi xuất hiện từ
đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 vào ngày 11 tháng Giêng
2011. Cả Chủ tịch nước lẫn Tổng Bí thư Đảng Cộng sản hiện tại đều được cho là
sẽ rút lui, và một dấu hỏi đang lượn lờ trên việc tái đề bạt vị Thủ tướng
hiện tại, ông Nguyễn Tấn Dũng.
|
|
After leading the country into the WTO, amongst other
market-oriented reforms, Mr Dung’s personal standing within the Party has
been tarnished in recent months by the near-collapse of the large state-owned
shipbuilding conglomerate, Vinashin. Whether the new leadership is reformist
or conservative, it will be confronted with the issue of balancing short-term
growth with macroeconomic stability.
|
Sau khi đưa đất nước tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế
giới cũng như những cải cách định hướng thị trường, vị trí cá nhân của ông
Dũng bên trong nội bộ Đảng đang bị suy giảm trong những tháng qua vì vụ việc tập đoàn đóng tàu nhà nước Vinashin. Cho dù giới lãnh đạo mới là
người cách tân hay thủ cựu, họ đều phải đối diện với vấn đề cân bằng sự tăng
trưởng ngắn hạn với sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.
|
|
Vietnam survived the GFC in better shape than most other
countries of its size in the region, with a growth rate of 5.3 per cent in
2009. Throughout much of 2010, pro-growth policies resulted in estimated
growth rates of around 6.7 per cent. However, with credit growth exceeding
the (already high) official target of 25 per cent for the year, and Vietnam’s
headline inflation rate looking to be in double-digits year-on-year, the
State Bank of Vietnam had to reverse gear and raised official interest rates
from 8 to 9 percent in November 2010.
|
Việt Nam đã sống qua cơn khủng hoảng tài chính thế
giới tốt hơn so với hầu hết những quốc gia cùng tầm cỡ khác trong khu vực với
tỉ lệ tăng trưởng là 5,3% trong năm 2009. Trong suốt năm 2010, chính sách chú
trọng tăng trưởng đã đưa đến kết quả tỉ lệ tăng trưởng được dự đoán là ở mức
6,7%. Tuy nhiên, với tỉ lệ tín dụng tăng quá chỉ tiêu nhà nước (vốn đã cao) ở
mức 25% trong năm, và tỉ lệ lạm phát hàng đầu ở Việt Nam đang nằm ở mức hàng
chục tính theo từng năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải đảo ngược vị trí
và tăng tỉ giá lãi từ 8 lên 9% vào tháng Mười một 2010.
|
|
More needs to be done, however, in order to ease the
pressure on the dong, which has been devalued three times since November
2009. The official exchange rate is again about 10 per cent above the current
‘black market’ rate.
|
Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần làm để giảm bớt áp lực
lên tờ đồng, vốn đang bị giảm giá ba lần kể từ tháng Mười một 2009. Tỉ giá
hối đoái chính thức ở vào khoảng 10% cao hơn so với tỉ giá "chợ
đen" hiện tại.
|
|
The 2010 current account deficit (excluding gold) is
projected to be just under 7 per cent of GDP which is relatively high for an
emerging Asian economy. International reserves, although stabilised, are at
an uncomfortably low level, covering about 1.8 months of imports.
|
Tỉ lệ thâm thủng tài khoảng hiện tại của năm 2010 (không
kể vàng) được dự đoán chỉ dưới 7% Tổng Sản lượng Nội địa, là tương đối cao
đối với một nền kinh tế đang lên ở châu Á. Quỹ dự trữ ngoại tệ, mặc dù đã
được ổn định, vẫn đang nằm ở mức thấp đầy bất ổn, chỉ bảo đảm được khoảng 1,8
tháng nhập khẩu.
|
|
A more comprehensive package of macroeconomic policies,
including fiscal consolidation, is needed to convince the market that the
government is aware of the risks to macroeconomic stability and is managing those
risks appropriately. In the medium-term, greater flexibility in the exchange
rate regime is also needed to enable the private sector to manage exchange
rate risks more effectively. Once confidence is re-established, households
and enterprises are likely to cease hoarding US dollars and gold as a hedge
against inflation and devaluations of the dong, and the so-called ‘dollar
shortage’ (in reality, unwillingness to hold dong assets) should disappear.
|
Cần có một tập hợp chính sách kinh tế vĩ mô thấu suốt hơn,
bao gồm việc củng cố quỹ tài chính, để thuyết phục thị trường rằng chính phủ
đã nhận thức được những rủi ro của sự ổn định kinh tế vĩ mô và đang đối phó
đúng mức với những rủi ro ấy. Trong thời hạn trung bình, sự linh hoạt hơn
trong chính sách tỉ giá hối đoái cũng cần có để cho phép lĩnh vực tư nhân đối
phó với rủi ro từ tỉ giá hối đoái một cách hiệu quả hơn. Một khi niềm tin đã
được tái lập, người dân và doanh nghiệp chắc chắn sẽ giảm bớt việc tích trữ
đồng đô la và vàng như là nguồn bảo hiểm chống lại nạn lạm phát và sự tụt giá
của tiền đồng, và cái gọi là "thiếu hụt đô la" (trên thực tế là vị
sự miễn cưỡng không chịu giữ tiền đồng) sẽ biết mất.
|
|
The likelihood, however, of such a comprehensive package
being adopted in 2011 is slim. Even with most stimulus measures having
expired by end-2009, a reduction in the budget deficit to substantially below
the level in 2009 of 9 per cent of GDP is unlikely, due to (often
inefficient) spending on infrastructure and social welfare programs.
|
Tuy nhiên khả năng về một loạt chính sách thấu suốt được
thông qua vào năm 2001 thì rất mỏng manh. Ngay cả khi các biện pháp kích cầu
cao nhất đã hết hạn vào cuối năm 2009, việc cắt giảm sự thâm thụt ngân sách
để tụt nhiều dưới mức 9% Tổng Sản lượng địa của năm 2009 chắc sẽ không xảy ra
vì chi phí (thường không có hiệu quả) cho cơ sở hạ tầng và các chương trình
phúc lợi xã hội.
|
|
Without significant fiscal consolidation, Vietnam’s public
debt to GDP ratio could well exceed 50 per cent, making it more costly for
the government to borrow internationally, and further limiting the fiscal space.
Furthermore, perhaps not surprisingly, the transition from direct to indirect
monetary policy instruments is not unproblematic, and recently announced
price controls to fight inflation, if implemented, could further undermine
confidence amongst domestic and foreign investors.
|
Nếu không có biện pháp củng cố tài chính mạnh mẽ, tỉ lệ nợ
công của Việt Nam so với Tổng Sản lượng Nội địa có thể vượt quá 50%, khiến
cho chính quyền sẽ tốn kém hơn khi vay mượn từ nước ngoài, và càng giới hạn
hơn nữa khả năng tài chính. Hơn nữa, có lẽ là không có gì ngạc nhiên, sự
chuyển giao các biện pháp về chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp
thì không phải là không có vấn đề, và việc kiểm soát giá cả để chống lạm phát
vừa được thông báo gần đây, nếu được thực thi, có thể làm giảm thêm sự tin
tưởng của giới đầu tư trong và ngoài nước.
|
|
It is in this context that the forthcoming Party Congress
in January is important. Two decades of economic reforms and globalisation
have made Vietnam a middle-income country with a rapidly growing domestic
private sector. A return to a more dirigiste style of economic management on
the part of the conservative elements in the Party is likely to dampen the
domestic private sector, with negative consequences for economic growth in
the medium term. Whilst there is perhaps no serious chance of a return to
central planning, a ‘stop-go’ approach to economic policy-making could
prevail.
|
Trong bối cảnh này, Đại hội Đảng vào tháng Giêng sắp đến
là rất quan trọng. Hai thập niên cải cách kinh tế và toàn cầu hoá đã biến
Việt Nam thành một quốc gia có thu nhập trung bình với một lĩnh vực tư nhân
trong nước đang tăng trưởng nhanh. Sự quay lại của phong cách quản lý kinh tế
bao cấp hơn trong bộ phận những thành phần bảo thủ trong Đảng chắc chắn sẽ làm
yếu lĩnh vực tư nhân trong nước với những hệ quả tiêu cực đối với sự tăng
trưởng kinh tế trong thời hạn trung bình. Trong khi có dù không có thay đổi
quan trọng để quay lại phương pháp kế hoạch trung ương ngày xưa, một phong
cách "giật cục" trong việc thiết lập chính sách kinh tế có thể sẽ
quay lại.
|
|
If the reformist elements of the Party continue their
ascendancy, fairly rapid reforms in key macroeconomic institutions could take
place in the next 2 to 3 years. This could improve Vietnam’s macroeconomic
policy-making and the government’s ability to communicate its policy stance
to the market. In time, reforms could spread to other public institutions,
assisting in the development of a dynamic and innovative private sector, and
enabling Vietnam to achieve its long-term growth potential.
|
Nếu thành phần cấp tiến trong Đảng tiếp tục có thế lực,
những cải cách tương đối nhanh trong các cơ quan kinh tế vĩ mô chủ chốt có
thể xảy ra trong 2 đến 3 năm tới. Điều này có thể giúp phát triển tốt hơn việc
soạn thảo chính sách kinh tế vĩ mô cũng như khả năng của chính phủ trong việc
truyền tải quan điểm chính sách của mình đến thị trường. Với thời gian, đổi
mới có thể lan toả đến những cơ quan nhà nước, giúp phát triển lĩnh vực tư
nhân đầy năng động và sáng tạo, và cho phép Việt Nam gặt hái được những tiềm
tăng tăng trưởng dài hạn của mình.
|
|
Suiwah Leung is an
Adjunct Associate Professor of Economics at the Crawford School, ANU.
|
Suiwah Leung là Phó Giáo
sư Kinh tế tại Trường Crawford, ANU.
|
|
|
Translated by Diên Vỹ
|
|
|
|
|
http://www.eastasiaforum.org/2010/12/28/vietnam-balancing-growth-and-stability-in-a-more-market-oriented-economy/
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)
