MENU

BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE

--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------

TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN

Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)

- HOME - VỀ TRANG ĐẦU

CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT

150 ECG - 150 ĐTĐ - HAMPTON - 4th ED.

VISUAL DIAGNOSIS IN THE NEWBORN

Sunday, July 1, 2012

Top 10 Autocrats in Trouble Top 10 nhà độc tài đang gặp rắc rối




Top 10 Autocrats in Trouble

Top 10 nhà độc tài đang gặp rắc rối

The massive protests in Egypt aimed at ousting President Hosni Mubarak mark an unprecedented moment in Egyptian history and a very uncomfortable one in Mubarak's three-decade tenure. The spirit of revolt seems to be catching. TIME takes a look at strongmen whose grips on power are far weaker than they once were
Những cuộc biểu tình khổng lồ ở Ai cập nhằm trục xuất Tổng thống Hosni Mubarak đánh dấu một thời điểm chưa từng có trong lịch sử Ai cập và hết sức khó chịu đối với Mubarak trong ba thập kỷ chiếm giữ quyền lực của ông ta. Tinh thần của cuộc nổi dậy này dường như đang lây nhiễm. TIME cho chúng ta một cái nhìn lướt qua những kẻ bạo quyền mà sự níu giữ quyền lực lúc này đã yếu hơn bao giờ hết.


1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011
1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011

For years, Egypt has not been on the Middle East radar of most Americans — despite the fact that Washington has been a longtime benefactor of the regime in Cairo. But Egypt, once the dominant force in the region, is at the heart of the news once again as President Hosni Mubarak struggles to cling to power in the face of unprecedented protests. The authoritarian leader has led Egypt since the assassination of Anwar Sadat in 1981. Even though Mubarak's government implemented elections in 2005, true political opposition has long been stifled under his rule. The Muslim Brotherhood, a popular Islamic political group, has largely been suppressed, and the police force is notoriously brutal on antigovernment opponents. Parliamentary elections last year were widely considered to be fraudulent, and many Egyptians saw in the sham the first signs of Mubarak paving the way for his son to take over — laying the foundations of a family dynasty backed by a coterie of corrupt elites. Mubarak is now facing the most serious challenge to his decades-long rule from a populace brimming with years of pent-up rage and frustration.


Trong nhiều năm Ai cập không nằm trong tầm nhìn Trung Đông của hầu hết người Mỹ - cho dù trong thời gian dài Washington là nhà hảo tâm đối với chế độ Cairo. Nhưng Ai cập, có thời từng là lực lượng áp đảo trong khu vực, nay đang ở trung tâm tin tức khi tổng thống Mubarak đang vật vã bám chặt lấy quyền lực trước những cuộc biểu tình chưa từng thấy. Lãnh tụ chuyên quyền này đã lãnh đạo Ai cập từ sau cuộc ám sát Anwar Sadat năm 1981. Mặc dầu chính phủ Mubarak đã cải thiện các cuộc bầu cử năm 2005, đối lập chính trị thật sự từ lâu đã bị đàn áp dưới sự thống trị của ông ta. Muslim Brotherhood, một nhóm chính trị Hồi giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng đã bị đàn áp, và lực lượng cảnh sát Ai cập khét tiếng là tàn bạo đối với những người chống chính phủ. Các cuộc bầu cử quốc hội năm ngoái bị nhiều người cho là gian lận, và nhiều người Ai cập thấy xấu hổ trước những dấu hiệu đầu tiên Mubarak mở đường cho con trai ông ta lên nối ngôi - đặt cơ sở cho một triều đại gia đình trị được hậu thuẫn bởi một phái đặc quyền đặc lợi thối nát. Mubarak hiện đang đứng trước một thách thức nghiêm trọng đối với sự thống trị dài nhiều thập kỷ của ông ta bởi một khối dân chúng tràn đầy phẫn nộ và thất vọng dồn nén từ nhiều năm nay.


2. Ali Abdullah Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011

2. Ali Abdullah Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011



A week of protests across Yemen has instilled fear in the heart of President Ali Abdullah Saleh, who rushed to release several human-rights activists and journalists just days after they were detained. Saleh, who has ruled Yemen for 32 years, has long been criticized for his corrupt government and is seen as a pawn in the U.S.'s counterterrorism efforts. Saleh also has a history of cutting deals with Islamic militants and insurgents of many stripes in order to keep power — a fact that the international community has been paying closer attention to since al-Qaeda in the Arabian Peninsula, which operates mainly out of Yemen, claimed responsibility for the 2009 attempted bombing of a Northwest Airlines plane en route to Detroit. Earlier this year, Yemen's parliament gave preliminary approval to a measure that would allow Saleh, who has ruled for more than three decades, to stay in power past his constitutional mandate. The news prompted protests in the country that have intensified since the Tunisian revolt.


Một tuần lễ với các cuộc biểu tình chống đối trên khắp Yemen đã làm thấm nỗi sợ vào tim tổng thống Ali Abdullah Saleh, khiến ông ta vội vã thả nhiều nhà hoạt động nhân quyền và nhà báo chỉ ít ngày sau khi họ bị bắt giữ. Saleh, người đã trị vì Yemen trong 32 năm, từ lâu đã bị phê phán về chính phủ tham nhũng của ông ta, và được coi như con tốt đen trong những cố gắng chống khủng bố của Mỹ. Saleh cũng có một lịch sử những cuộc thỏa thuận cay đắng với các chiến binh Hồi giáo và những cuộc nổi dậy của nhiều bộ tộc để giữ được chính quyền - một sự kiện mà cộng đồng quốc tế đã và đang quan tâm chặt chẽ kể từ khi al Qaeda ở bán đảo A rập, hoạt dộng chủ yếu bên ngoài Yemen, nhận trách nhiệm về âm mưu năm 2009 đánh bom một máy bay của Northwest Airlines trên đường đến Detroit. Đầu năm nay, quốc hội Yemen đã sơ bộ chuẩn y một biện pháp cho phép Saleh, kẻ đã cai trị hơn ba thập kỷ, được ở lại chính quyền vượt quá sự ủy trị hiến định của ông ta. Tin tức nhắc đến những cuộc biểu tình đã mạnh lên trong nước này kể từ khi có cuộc nổi dậy của Tunisia.


3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011

3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011


As supreme leader of one of the world's most isolated states, not much is known of North Korea's Kim Jong Il apart from the exalted, often absurd declarations made by the communist regime's official mouthpieces. Things like he once wrote six operas in two years, "coached" his country's World Cup team using invisible cell-phone technology (which he also invented) and scored a 38 under par in a game of golf (making him the greatest golfer of all time). While these feats of skill are dubious, the extreme poverty in North Korea is clear. As Kim has built one of the world's largest standing armies, aid agencies estimate some 2 million people have died since the mid-1990s as a result of food shortages due in large part to economic mismanagement. Kim's totalitarian regime has been accused of torture, public executions, slave labor, forced abortions and infanticides, and an estimated 200,000 people are held as political prisoners.


Là lãnh tụ tối cao của một trong những nước cô lập nhất thế giới, Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên không được biết đến gì nhiều ngoài những những tuyên bố huênh hoang, thường là ngu xuẩn, của những cái mồm chính thức của chế độ. Những sự việc như ông ta đã có lần viết sáu vở opera trong hai năm, “huấn luyện” cho đội tuyển World Cup của nước ông ta bằng công nghệ điện thoại di động tàng hình (mà ông ta sáng chế ra) và ghi được tỉ số thắng 38 điểm trong một trận đấu golf (biến ông ta thành tay golf thủ vĩ đại nhất mọi thời đại). Trong khi những kỳ công về tài nghệ của ông ta là tù mù, thì sự đói khổ cùng cực ở Bắc Triều tiên là rõ ràng. Khi Kim đã xây dựng một trong những quân đội thường trực lớn nhất thế giới, thì các tổ chức viện trợ ước tính khoảng 2 triệu người đã chết từ giữa những năm 1990 do kết quả của thiếu lương thực phần lớn vì quản lý kinh tế tồi tệ. Chế độ toàn trị của Kim đã bị lên án về tra tấn, những vụ hành hình công khai, lao động nô lệ, cưỡng bức phá thai và giết hại trẻ sơ sinh; và khoảng 200.000 người bị giam là những tù nhân chính trị.

North Korea's only glimpse of a hope may lie in the ailing Kim's death. In choosing to name his son Kim Jong Un, an inexperienced 20-something, as his successor, Kim created a less certain future as other powerful members of his family jockey for the top spot. That uncertainty, some say, could bring about a change of the guard or even a putsch led by dissatisfied military officers.
Tia hy vọng mỏng manh duy nhất của Bắc Triều Tiên là cái chết của Kim - hiện đang ốm yếu. Trong việc chọn để bổ nhiệm con trai của ông ta là Kim Jong Un, một kẻ trong độ tuổi 20 không có kinh nghiệm gì, làm người kế vị, Kim đã tạo ra một tương lai thiếu chắc chắn khi những thành viên mạnh khác trong gia đình ông ta đua tranh vào chức vụ chóp bu này. Một số người nói rằng sự không chắc chắn này có thể đưa đến việc đổi gác [chế độ] hay thậm chí một cuộc nổi loạn lãnh đạo bởi các sĩ quan quân đội bất mãn.


4. Alexander Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011

4. Alexander Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011


Often described as the "last dictator in Europe," Belarusian President Alexander Lukashenko has ruled this East European country for 16 years. To prop up his rule, opposition voices are routinely stifled and there is little to no independent media. Political opponents are often monitored by Belarus' secret police, still known in this former Soviet republic as the KGB. Lukashenko's control over the country began in 1996 when the parliament considered impeaching him. He promptly disbanded it. Lukashenko then handpicked the succeeding parliament and took control over the country's judiciary branch. Last December, the dictator was re-elected with 80% of the vote, but many independent observers reported widespread fraud. Since then, Lukashenko has led a brutal crackdown on political opponents, including some who ran against him in the presidential election. The international community has imposed sanctions against Belarus for his actions.
Thường được mô tả như “nhà độc tài cuối cùng ở châu Âu”, Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã cai trị nước Đông Âu này trong 16 năm. Để chống đỡ cho nền cai trị của mình, những tiếng nói đối lập thường xuyên bị chặn, còn phương tiện truyền thông độc lập thì từ có ít đến không có. Các đối thủ chính trị thường xuyên bị theo dõi bởi công an mật Belarus, trong nước cộng hòa thuộc Liên xô cũ này nó vẫn còn được gọi là KGB. Lukashenko bắt đầu kiểm soát đất nước từ năm 1996 khi quốc hội xem xét kết tội ông ta, ông ta liền lập tức giải tán nó. Lukashenko sau đó tự tay chọn ra một quốc hội kế tục, và nắm lấy quyền kiểm soát ngành tư pháp của đất nước. Tháng 12 vừa qua, nhà độc tài này đã được bầu lại với 80% số phiếu, nhưng nhiều nhà quan sát độc lập cho biết có sự gian lận phổ biến. Từ đó, Lukashenko đã lãnh đạo một cuộc đàn áp tàn bạo các đối thủ chính trị, trong đó có một vài người ra tranh cử với ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống. Cộng đồng quốc tế đã áp đặt trừng phạt Belarus vì những hành động này của ông ta.


5. Omar Hassan al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011

5. Omar Hassan al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011



Omar Hassan al-Bashir, who came to power in Sudan after leading a coup in 1989 (he has been President since 1993), has the ignoble distinction of being the first sitting head of state for whom the International Criminal Court has issued an arrest warrant. He is wanted for crimes against humanity, war crimes and, as of a second arrest warrant in 2010, genocide in Darfur. The indictments are not the only challenges al-Bashir faces. In January 2011, the same month southern Sudanese voted in a referendum to secede, students in the north took to the streets to protest al-Bashir's regime.
Omar Hassan al-Bashir, người lên cầm quyền ở Sudan sau khi lãnh đạo một cuộc đảo chính năm 1989 (ông ta là tổng thống từ năm 1993), có một danh hiệu nhục nhã là nguyên thủ quốc gia đương chức đầu tiên mà Tòa án Hình sự Quốc tế phát lệnh bắt. Ông ta bị truy nã về tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và theo một lệnh bắt thứ hai năm 2010, tội diệt chủng ở Darfur. Những bản cáo trạng này không phải là thách thức duy nhất mà al-Bashir phải đối mặt. Trong tháng Giêng 2011, cùng tháng người miền nam Sudan đi bỏ phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý để ly khai, các sinh viên miền Bắc đã chiếm các đường phố để phản đối chế độ của al-Bashir.


6. Mahmoud Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011

6. Mahmoud Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011


His 2009 landslide re-election to a second term — with more than 60% of the vote — caused an uprising in Iran. Mahmoud Ahmadinejad's main opponent, Mir-Hossein Mousavi, and his supporters cried foul, demanding a recount and later calling for the results to be thrown out. Dozens of people were killed in demonstrations that were quelled by paramilitary forces. After a week of intense protests, Iran's Supreme Leader Ayatullah Ali Khamenei declared the results to be valid and affirmed Ahmadinejad's victory. Just a few days later, the country's Council of Guardians confirmed that 50 constituencies had returned more votes than there were registered voters. Ahmadinejad and Khamenei clashed on several political fronts, including who would be part of the President's Cabinet. That tension, coupled with a lingering, broad-based opposition to Ahmadinejad's administration — including among some of the country's clerical elite — has kept Ahmadinejad, who wields his power with the backing of the mullahs, on shaky ground.
Cuộc bầu cử lại vào nhiệm kỳ thứ hai năm 2009 mà ông ta thắng lớn - với hơn 60% số phiếu - đã gây ra một cuộc nổi dậy ở Iran. Đối thủ chính của Mahmoud Ahmadinejad, là Mir-Hossein Mousavi và những người ủng hộ ông kêu là lừa đảo, yêu cầu kiểm lại phiếu và sau đó kêu gọi hủy bỏ kết quả bầu cử. Hàng chục người bị giết trong các cuộc biểu tình bị đàn áp bởi các lực lượng bán quân sự. Sau một tuần chống đối mãnh liệt, Lãnh tụ Tối cao của Iran Ayatullah Ali Khamenei tuyên bố các kết quả bầu cử là hợp lệ và khẳng định thắng lợi của Ahmadinejad. Chỉ ít ngày sau đó, Hội đồng Vệ quốc xác nhận rằng 50 khu vực bầu cử có số phiếu thu được nhiều hơn số cử tri đã đăng ký. Ahmadinejad và Khamenei va chạm trên nhiều mặt trận chính trị, bao gồm cả vấn đề những ai sẽ tham gia vào nội các của Tổng thống. Sự căng thẳng này, đi đôi với sự chống đối rộng rãi và lâu dài đối với chính quyền Ahmadinejad - bao gồm trong số tăng lữ cao cấp của nước này - đang đặt Ahmadinejad, người cầm quyền với sự hậu thuẫn của tầng lớp giáo sĩ Hồi giáo, trên một mặt đất đang rung chuyển.


7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011

7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011



Robert Mugabe has ruled Zimbabwe since the nation achieved independence in 1980. Over the course of more than 30 years as Prime Minister and then President, he and his Zimbabwe African National Union–Patriotic Front have violently repressed opposition and been more concerned about maintaining power than improving the well-being of the country's citizens. Despite strongman tactics, the people's discontent was made clear in 2008 when Morgan Tsvangirai of the Movement for Democratic Change received more votes than Mugabe did for President. Violence preceded the runoff, however, and Tsvangirai did not participate. Mugabe subsequently entered into a power-sharing deal with the opposition; he remained President, while Tsvangirai was made Prime Minister.


Robert Mugabe đã cai trị Zimbabwe từ khi đất nước giành được độc lập năm 1980. Trong quá trình hơn 30 năm làm Thủ tướng và Tổng thống, ông ta và Mặt trận Yêu nước - Liên hiệp Dân tộc Phi châu Zimbabwe của ông ta đã đàn áp khốc liệt những người đối lập và quan tâm đến việc duy trì quyền lực hơn là cải thiện đời sống của công dân trong nước. bất chấp những thủ đoạn bạo ngược, sự bất mãn của nhân dân bộc lộ rõ năm 2009 khi Morgan Tsvangirai của Phong trào vì Chuyển đổi Dân chủ nhận được nhiều phiếu hơn Mugabe trong cuộc bầu Tổng thống. Tuy nhiên, bạo lực đi trước trận đấu lại, và Tsvangirai không tham gia. Sau đó Mugabe đi vào một cuộc thương lượng chia sẻ quyền lực với phe đối lập, ông ta vẫn là tổng thống, trong khi Tsvangirai làm Thủ tướng.


8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011

8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011


Since 1992, just a year after its independence, the small Central Asian state of Tajikistan has been governed by Emomali Rahmon. The former Soviet apparatchik came to power at the onset of a bloody civil war in the country, pitting a faction led by Islamists against a ruling bloc of more secular, Russian-backed forces, among them Rahmon. Tens of thousands died, but Rahmon came out victorious, and, as with leaders of other regimes in Central Asia, he has justified his authoritarianism in part as a hedge against the threat of extremist radicals. But experts describe Rahmon's Tajikistan as poor and lawless and a key conduit for opium from neighboring Afghanistan. After the financial recession hit the wealthier nations of Russia and Kazakhstan, tens of thousands of Tajik workers — whose remittances form the lifeblood of the Tajik economy — went home to poverty-racked villages. In this climate, observers report the revitalizing of a long-dormant Islamist insurgency, backed in part with the arrival of fighters who once dwelled in Pakistan's tribal areas. All the while, Rahmon continues to govern Tajikistan as his personal fief, his family the beneficiaries of years of graft. His government may still stand, but dark clouds hover over the future of Rahmon's Tajikistan.
Từ 1992, chỉ một năm sau khi độc lập, nhà nước Trung Á Tajikistan nhỏ bé đã bị thống trị bởi Emomali Rahmon. Cựu thành viên của ban lãnh đạo đảng cộng sản Liên xô lên nắm quyền vào lúc trong nước bắt đầu cuộc nội chiến đẫm máu, đấu với một phe cánh dẫn đầu bởi những người Islamist chống lại khối thống trị thế tục của những lực lượng được Nga ủng hộ, trong đó có Rahmon. Mười ngàn người chết, nhưng Rahmon thoát ra thắng lợi, và, giống như các lãnh tụ của các chế độ khác ở Trung Á, ông ta bào chữa cho sự chuyên quyền của mình phần nào bằng cách coi mình như một hàng rào ngăn chặn mối đe dọa của những kẻ cực đoan quá khích. Nhưng các chuyên gia mô tả nước Tajikistan của Rahmon là một nước nghèo khổ và vô luật pháp, và là nơi chủ yếu tuồn thuốc phiện từ nước láng giềng Afghanistan. Sau cuộc suy thoái tài chính đánh vào những nước giầu hơn là Nga và Kazakhstan, hàng chục ngàn công nhân Tajik - mà tiền họ gửi về là dòng máu nuôi sống nền kinh tế Tajikistan - trở về nhà ở những làng quê xác xơ tiêu điều vì nghèo đói. Trong không khí ấy, các nhà quan sát nói về cuộc nổi dậy của những người Islamist từ lâu nằm im đang trỗi dậy mãnh liệt, một phần được hậu thuẫn bởi những chiến binh mới đến, (trước đây họ trú ngụ trong những vùng thuộc các bộ lạc Pakistan). Trong khi đó, Rahmon tiếp tục cai trị Tajikistan như thái ấp riêng của ông ta, gia đinh ông ta nhiều năm được hưởng lợi lộc từ hối lộ. Chính phủ của ông ta có thể vẫn còn đứng vững, nhưng những đám mây đen đã lơ lửng treo trên tương lai của nước Tajikistan của Rahmon.


9. House of Saud
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011

9. Triều đình A rập Saudi
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011


With 25% of the world's oil reserves, accumulating wealth and powerful friends — principally the U.S. — has not been hard for King Abdullah of Saudi Arabia. But while he and his estimated 7,000 royal family members thrive, enjoying his around $20 billion in wealth, 1 in 7 adults in his country cannot read. Unemployment has topped 10% for years. Censorship is pervasive. Criticizing the government, royal family and the police, who enjoy absolute power, is not allowed. Women have precious few rights and are largely excluded from the workforce. The ruling family has enjoyed absolute power for the better part of 100 years, despite never having been elected. Opposing political parties are simply not allowed. While Abdullah is aligned with the region's other autocrats — he welcomed Tunisia's exiled leader Zine el Abidine Ben Ali and has thrown his support behind Egypt's Hosni Mubarak — a popular uprising in this restrictive but relatively affluent state seems less likely than elsewhere in the Middle East. Still, the House of Saud's grip has two weaknesses: the family's refusal to create a democratic system, even while Saudi society itches to be more liberalized, and the continued presence of networks of Islamist fundamentalists that threaten to destroy Abdullah's credibility as a figure of stability abroad.
Với 25% trữ lượng dầu mỏ của thế giới, của cải tích lũy và những người bạn mạnh - chủ yếu là Mỹ - cuộc sống của Vua Abdullah của A rập Saudi quả là quá dễ dàng. Nhưng trong khi ông ta và khoảng 7000 thành viên hoàng tộc của ông ta giàu có, hưởng tài sản khoảng 20 tỉ $, thì trong đất nước ông ta cứ bẩy người lớn thì có một người không biết chữ. Thất nghiệp đã lên đến 10% trong nhiều năm. Kiểm duyệt tràn lan. Việc phê phán chính phủ, gia đình hoàng tộc và cảnh sát, những người có quyền lực tuyệt đối, là không được phép. Phụ nữ có rất ít quyền và nói chung ở ngoài lực lượng lao động. Gia đình thống trị này có quyền lực tuyệt đối trong gần một trăm năm nay, mặc dầu chưa bao giờ được bầu ra. Các đảng chính trị đối lập đơn giản là không được phép. Trong khi Abdullah được xếp cùng hàng với những nhà độc tài khác trong khu vực - ông ta đã chào mừng lãnh tụ Tunisia lưu vong Zine el Abidine Ben Ali và đã viện trợ cho Hosni Mubarak của Ai cập - một cuộc nổi dậy của dân chúng trong cái quốc gia bị hạn chế nhưng tương đối giàu có này, có vẻ ít có khả năng xảy ra hơn so với các nơi khác ở Trung Đông. Tuy nhiên, sự nắm quyền của nhà nước Saudi có hai điểm yếu: gia đình trị từ chối tạo ra một hệ thống dân chủ, ngay cả khi xã hội Saudi đang khao khát được tự do hơn, và sự tiếp tục hiện diện của mạng lưới những kẻ Islamist chính thống chủ nghĩa đe dọa phá hủy uy tín của Abdullah như một gương mặt của ổn định ở nước ngoài.



10. Abdelaziz Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011

10. Abdelaziz Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011


The 73-year-old Abdelaziz Bouteflika has been Algeria's President since 1999, a long-term operator within the ruling National Liberation Front — the party of socialist revolutionaries whose bloody independence struggle won Algeria its independence from France in 1962 but then rapidly transformed into a hegemonic one-party, army-backed regime. In the 1990s, the ruling regime fought a vicious war with Islamists, who had been denied their rightful place in the government after the army scrapped elections. During his tenure, Bouteflika has attempted to nurse relations with other parties and improve the country's poor record of democracy, but political freedoms remain checked while observers point to rampant corruption among the Algerian ruling class. Despite the country's natural-gas wealth, unemployment is high and a strikingly young population itches for greater opportunities. After a citizens' uprising ousted Tunisian President Zine el Abidine Ben Ali in January, Bouteflika, whose country is considerably poorer than neighboring Tunisia, looks set to face a budding popular revolt as well. Tunisia's rebellion was sparked when one marginalized youth set himself aflame. Seven such copycat self-immolations have taken place in Algeria since.
Abdelaziz Bouteflika 73 tuổi là tổng thống Algeria từ năm 1999, một nhà hoạt động lâu dài trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc - đảng của những người cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh đẫm máu của họ đã giành được độc lập cho Algeria từ tay Pháp năm 1962, nhưng sau đó nhanh chóng chuyển thành chế độ độc đảng lãnh đạo, dựa trên quân đội. Từ những năm 1990 chế độ thống trị này tiến hành một cuộc chiến tranh dữ dội với những người Islamist, những người đã bị từ chối chỗ đứng chính đáng trong chính phủ sau khi quân đội loại bỏ các cuộc bầu cử. Trong nhiệm kỳ của mình, Bouteflika đã thử nuôi dưỡng những mối quan hệ với các đảng khác cải thiện hồ sơ tệ hại của đất nước về dân chủ, nhưng các quyền tự do chính trị vẫn còn bị kiểm soát trong khi các nhà quan sát chỉ ra nạn tham nhũng đang tăng tiến trong giai cấp thống trị của Algeria. Mặc dầu đất nước này giầu có nguồn khí đốt tự nhiên, tỉ lệ thất nghiệp cao và dân cư đặc biệt trẻ đang khao khát những cơ hội tốt hơn. Sau cuộc nổi dậy của công dân đuổi tổng thống Tunisia Zine el Abidine Ben Ali vào tháng Giêng, Boutelflika - nước ông nghèo hơn nhiều so với nước láng giềng Tunisia - trông có vẻ cũng phải bắt đầu đối mặt với một cuộc nổi dậy của dân chúng đang nảy nở. Cuộc nổi dậy của Tunisia bùng cháy khi một thanh niên bị hất ra lề đường châm lửa tự thiêu. Từ đó đến nay ở Algeria đã có bảy trường hợp bắt chước tự hy sinh như vậy.



Translated by Hiếu Tân


http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,2045407_2045416_2045422,00.html

Egypt and its lessons for the world Thế giới có thể học được gì từ Ai Cập?




Egypt and its lessons for the world

Thế giới có thể học được gì từ Ai Cập?

James Pich
Washington Times
James Pich
Washington Times

NATCHITOCHES, La., January 31, 2011 – The collapse of Tunisia’s government and the rebellions in Egypt and Yemen have incited giddy comparisons with the collapse of the Soviet empire. If we impose on the Middle East a story of people hungry for democracy and human rights, we draw the wrong conclusions. The crisis in Egypt isn’t about parliaments.


Sự sụp đổ của chính phủ Tunisia và cuộc bạo loạn ở Ai Cập làm người ta có những so sánh kì quặc với sự sụp đổ của đế chế Liên Xô. Nhưng sẽ là sai nếu coi Trung Đông là câu chuyện về sự khao khát nền dân chủ và quyền con người. Cuộc khủng hoảng ở Ai Cập không có liên quan gì đến chế độ đại nghị.


It’s about food. Inflation in food prices has hit poor food importing nations like Egypt with the force of a sledge-hammer. Bad weather in Russia and high energy costs have caused a spike in the price of wheat, and Egypt is one of the world’s largest wheat importers. Most of the population makes less than $4 per day, and those people have been slammed by the rising price of food.

Đó là do thực phẩm. Lạm phát giá lương thực đã tác động các quốc gia nghèo phải nhập khẩu thực phẩm như Ai Cập với một lực mạnh như búa tạ​​ giáng xuống. Tình trạng thời tiết ở Nga và các chi phí năng lượng cao đã gây ra tăng giá lúa mì, và Ai Cập là một trong những nhà nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới. Hầu hết dân số làm ra ít hơn $4 mỗi ngày, và những người đã tuyệt đường sống bởi giá lương thực tăng cao.

Hunger and privation are much more likely to bring down nations than are human rights abuses and the desire to vote. Egyptians aren't starving, but joblessness and food inflation have focused their minds clearly on the failure of President Mubarak to make life better, and they see clearly how much worse it can become.

Thiếu thốn và đói kém thường làm chính phủ sụp đổ hơn là những vụ vi phạm quyền con người hay là ước muốn được đi bỏ phiếu. Người Ai Cập chưa bị chết đói, nhưng nạn thất nghiệp và giá lương thực gia tăng làm cho họ tập trung chú ý vào sự bất lực của Tổng thống Mubarak trong việc cải thiện đời sống và họ nhận thức rõ rằng mọi việc có thể còn tồi tệ hơn đến mức nào.

Authoritarian regimes can last for a very long time when they offer rising living standards in return for submission. The USSR itself didn’t collapse because the Russian people felt a sudden urge to be free. The Russians willingly endured the brutality of the Stalin years because it came with a better life for most Russians. The privations of the WWII years came with a sense of national purpose and pride, and they were followed by new growth and self confidence after the war. It was the stagnation of the Brezhnev era that helped rot away the foundations of the state, then a growing awareness of how far the USSR was falling behind the west.

Các chế độ độc tài có thể tồn tại rất lâu, đấy là nói khi họ còn có thể nâng cao được mức sống để đánh đổi lấy sự phục tùng. Liên Xô không sụp đổ vì người Nga bỗng nhiên khao khát tự do. Nga sẵn sàng chịu đựng sự tàn bạo của Stalin bởi vì nó đến với một cuộc sống tốt hơn cho hầu hết dân Nga. Thiếu thốn của những năm Thế chiến II xảy ra với một ý thức về mục đích và niềm tự hào quốc gia, và tiếp theo đó là tăng trưởng mới và sự tự tin sau chiến tranh. Đó là sự trì trệ của thời kỳ Brezhnev đã giúp làm mục ruỗng nền tảng của nhà nước, sau đó một nhận thức ngày càng tăng về việc Liên Xô đã tụt hậu như thế nào đằng sau phương Tây.

Unhappy families are all unhappy in their own way, but statistically it’s financial stress that’s most likely to push them into divorce. When times are good, couples can overlook all sorts of things, but when they go bad, leaving the cap off the toothpaste tube can trigger bloodshed. That doesn’t mean that kids, in-laws and adultery don’t push people into divorce, but the in-laws don’t usually seem so bad when finances are good.

Tất cả các gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo cách của mình, nhưng các số liệu thống kê cho thấy khó khăn về tài chính thường dễ dẫn người ta đến li dị hơn. Trong những giai đoạn thuận lợi, vợ chồng thường bỏ qua cho nhau nhiều chuyện, nhưng khi gặp khó khăn thì chỉ cần một hộp hộp thuốc đánh răng không đậy nắp cũng có thể gây ra một vụ đanh nhau sứt đầu mẻ trán rồi. Điều đó không có nghĩa là con cái, họ mạc hay ngoại tình không làm cho người ta li hôn, nhưng khi tiền của rủng rỉnh thì họ hàng cũng thường không phải là vấn đề quan trọng lắm.

When living standards are rising, people will put up with almost anything. That doesn’t mean that democracy and human rights don’t matter, but the usual human condition has never been one of democracy and rights of self-expression. It’s unlikely that after millennia of despotism the peoples of the Middle East suddenly want to be Switzerland. They want jobs and food, and it’s galling to have neither when your leaders live like kings.

Khi đời sống được cải thiện thì người ta có thể chịu đựng được hầu như là mọi thứ. Điều đó không có nghĩa là dân chủ và quyền con người không phải là không quan trọng, nhưng dân chủ và quyền tự do thể hiện không phải là điều kiện thường thấy trong đời sống của con người. Chẳng có gì chứng tỏ rằng sau hàng ngàn năm sống dưới chế độ độc tài, nhân dân Trung Đông bỗng nhiên lại thích có cuộc sống như là ở Thụy Sĩ. Họ muốn có việc làm và lương thực, nhưng khi cơm ăn việc làm đều không có mà giới lãnh đạo sống như vua chúa thì họ phải bực.

There are lessons for almost everyone in what’s happening in Egypt. China is one bad harvest away from a crisis. We’re so besotted with the dazzling spectacles of the Olympics and the Shanghai sky-line that we don’t notice that half the country is desperately poor. Worse, Chinese policy prevents rural people from migrating to the cities, ensuring that the rewards of Chinese economic growth create separate worlds of wealth and poverty. Food inflation could bring those worlds crashing down. Glaring unfairness and no hope for a better future destroy the contract between rulers and ruled.


Hầu như mọi người đều có thể rút ra những bài học từ những gì đang diễn ra ở Ai Cập. Chỉ cần một vụ mất mùa là Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng rồi. Chúng ta bị choáng ngợp bởi các màn trình diễn rực rỡ của Thế vận hội và các đường chân trời Thượng Hải mà chúng ta không nhận thấy rằng một nửa đất nước này nghèo tuyệt vọng. Tệ hơn nữa, chính sách của Trung Quốc nhằm ngăn chặn người dân nông thôn di cư đến các thành phố, đảm bảo rằng những phần thưởng của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tạo ra những thế giới cách biệt: giàu có và nghèo đói. Lạm phát thực phẩm có thể mang khiến những thế giới đó sụp đổ. Những bất công sừng sững và sự vô vọng về một tương lai tốt đẹp hơn sẽ phá hủy khế ước giữa nhà cầm quyền và cai trị.

Saudi Arabia has less to fear from disenfranchised citizens than it does from people without jobs. Superfluous men make trouble. They did it in Russia, they did it in Tunisia, they’ll do it in Saudi Arabia. A stable social contract requires that the kingdom instill a sense of purpose and pride in young people there, not a sham parliament or other superficial reforms.

Saudi Arabia không sợ những người bị tước quyền công dân bằng những người thất nghiệp. Những người vô công rồi nghề thường tạo ra lắm vấn đề. Họ đã từng tạo ra vấn đề cho nước Nga, họ từng tạo ra vấn đề ở Tunisia, họ sẽ tạo ra vấn đề ở Saudi Arabia. Muốn cho khế ước xã hội đứng vững thì vương quốc phải gieo cấy vào lòng thanh niên lẽ sống và niềm tự hào chứ không phải là một quốc hội chỉ biết vâng lời hay những cuộc cải cách giả tạo khác.

Even the U.S. has something to learn. Regional stability doesn’t come from the provision of arms, but from the creation of stakeholders across local societies. Our billions of aid to Egypt gave it one of the most powerful military forces in the Arab world, but the poor stayed poor. We pushed, sometimes successfully, for greater democratization, but we didn’t move Egypt toward reforms that would actually make life better for most people. That point was only emphasized by all the million-dollar homes on the outskirts of Cairo.

Ngay cả Mĩ cũng có cái để học. Cung cấp vũ khí không làm cho khu vực ổn định được, muốn ổn định thì phải tạo ra những cổ đông trong tất cả các cộng đồng địa phương. Hàng tỉ mĩ kim viện trợ của chúng ta đã làm cho Ai Cập trở thành một trong những lực lượng quân sự mạnh nhất trong thế giới Arab, nhưng người nghèo vẫn là người nghèo. Chúng ta đòi họ phải dân chủ hóa nhiều hơn – đôi khi cũng thu được thành công – nhưng chúng ta đã không buộc được Ai Cập tiến hành những cuộc cải cách làm cho đời sống của đa số dân chúng trở thành tốt đẹp hơn.  Những ngôi nhà trị giá nhiều triệu dollar ở ngoại vi Cairo chi càng chứng minh cho điều vừa nói.

We can learn something closer to home, as well. The U.S. isn’t a country suffering from mass poverty and starvation, but living standards have stagnated for many of us, and opportunities to cross from poverty to wealth have declined. Higher education has ceased to be the bridge to a better life and has instead begun to institutionalize the chasm between classes. We’re in no danger of violent revolution, but movements like the Tea Party will grow stronger and louder in opposition to entrenched power if living standards don’t rise.

Chúng ta còn có thể học được một vài điều thiết thực nữa. Mĩ không phải là đất nước có nhiều người nghèo đói, nhưng nhiều người đã không thể cải thiện đời sống được nữa và cơ hội chuyển từ nghèo sang giàu đã giảm đi. Trình độ đại học đã không còn là cây cầu dẫn đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, thay vào đó nó lại củng cố thêm hố sâu ngăn cách giữa các giai cấp. Chúng ta không bị cách mạng bạo lực đe dọa, nhưng nếu mức sống của người dân không được nâng lên thì những phong trào tương tự như Trà đàm sẽ phát triển mạnh mẽ hơn và sẽ lớn giọng hơn trong việc phản đối chính phủ.



When the people of Russia were starving, Nicholas the Second gave them a parliament. France’s Ancien Regime didn’t see how dangerous the peasants would be when denied bread. Elites often don’t see what’s right under their noses. Rousseauvian ideals are as likely to create abominations like the French Terror and Leninism as they are to bring democracy. When we look to create a better world, we ought to start with basic economic growth that will lift the poor, not with parliaments and mutterings about human rights.

Khi người dân Nga chết đói, Sa hoàng Nicholas II ban cho họ quốc hội. Ở Pháp chế độ quân chủ phân chia theo đẳng cấp (Ancien Regime) không hiểu được mối nguy khi người nông dân bị tước mất mẩu bánh mì. Giới tinh hoa nhiều khi không nhận ra những chuyện xảy ra ngay trước mũi của họ. Lí tưởng của Rousseau đã từng sản sinh ra những hiện tượng kinh hoàng như vụ khủng bố sau Cách mạng Pháp hay chủ nghĩa Lenin cũng như đã từng tạo ra nền dân chủ vậy. Khi tìm cách làm cho thế giới tốt đẹp hơn, ta nên bắt đầu bằng sự phát triển kinh tế nhằm tiêu diệt nạn nghèo đói chứ không nên bắt đầu bằng quốc hội và ba hoa chích chòe về quyền con người.

Human rights there must be, but first we have to cultivate our garden. Voltaire has much more to teach us than Rousseau.

Quyền con người tất nhiên là phải có, nhưng trước hết ta phải chăm sóc khu vườn của mình đã. Voltaire có thể dạy chúng ta nhiều điều hơn là Rousseau.

James Picht teaches economics at the Louisiana Scholars' College in Natchitoches, La., where he went to take a break from working in Moscow and Washington. But he fell in love and there he stayed. Now he teaches, takes pictures, and with wife Lisa raises two children. He loves Voltaire and hates Rousseau and once danced on Sartre's grave.

James Picht dạy kinh tế tại the Louisiana Scholars' College ở Natchitoches, La., trước đó ông từng làm việc ở Moscow và Washington. Nhưng ông đã có người yêu và quyết định ở lại nơi này. Hiện nay ông vừa giảng dạy vừa vẽ và cùng với bà Lisa, vợ ông, nuôi dạy hai con. Ông thích Voltaire, ghét Rousseau và đã có lần nhảy múa bên mộ Sartre.




Translated by Phạm Nguyên Trường


http://communities.washingtontimes.com/neighborhood/stimulus/2011/jan/31/egypt-and-its-lessons-world/

A reporter's disturbing expulsion from Russia Cậu chuyện một nhà báo bị trục xuất khỏi Nga




A reporter's disturbing expulsion from Russia
Cậu chuyện một nhà báo bị trục xuất khỏi Nga

BY JULIA IOFFE
Julia Ioffe

FEBRUARY 7, 2011, Foreignpolicy
7/2/2011, Foreign Policy

MOSCOW — Luke Harding touched down at Moscow's recently bombed Domodedovo airport this past Saturday, Feb. 5, at 4:10 p.m. The Guardian's Russia correspondent had been in London for the last two months, working on the paper's coverage of WikiLeaks and writing a quickie book about the subject (it came out at the end of January). When he got to passport control, the young woman in the booth did a double take when she scanned his passport; Harding knew something was wrong. In fact, things were about to spin very badly out of control.

MOSCOW — Luke Harding đáp xuống sân bay Domodedovo mới bị đánh bom của Moscow vào lúc 4 giờ 10 phút chiều, ngày thứ Bảy vừa qua, 5 tháng 2. Tay phóng viên Guardian thường trú tại Nga này đã ở London hai tháng qua, làm việc trong bộ phận đưa tin về WikiLeaks của tờ báo và viết vội một quyển sách về chủ đề này (ra mắt cuối tháng 1). Khi anh đến quầy kiểm tra hộ chiếu, một người phụ nữ ngồi sau quầy scan hộ chiếu của anh hai lần; Harding biết có chuyện chẳng lành. Quả thật, sự việc đã đi ra ngoài tầm kiểm soát.

The young customs officer called over her supervisor, who looked at the screen and also did a double take. "The Russian Federation is closed to you," Harding recalls the man saying as he punched a blue "annulled" stamp on his perfectly valid Russian visa. "Just because you have a Russian visa doesn't mean you can enter the country," the supervisor said.


Người sĩ quan hải quan trẻ gọi cho cấp trên của chị ta, người này nhìn vào màn hình và cũng quét hai lần. “Liên bang Nga đóng cửa đối với ông,” Harding nhớ lại người đàn ông nói như thế khi ông ta đóng dấu “hủy bỏ” màu xanh lên trang visa hoàn toàn hợp lệ của anh. “Đơn giản bởi vì ông có visa Nga hợp lệ không có nghĩa là ông có thể vào nước này,” người sĩ quan đó nói.


Within minutes, Harding's passport was confiscated and he was locked in a deportation cell. Being a journalist, he counted everyone in there. "There were four Tajiks, a Kyrgyz guy, and a woman from the Congo," Harding told me on the phone from London. "She had been there for seven days and was half-asleep on a metal bench." In another half-hour, Harding was on a plane, bound for London on the first flight home, his passport returned to him with a slip of paper marking him as a deportee. His wife and two teenage kids remained stuck in Moscow.


Hộ chiếu của Harding bị tịch thu ngay lậo tức và anh bị nhốt trong buồng trục xuất. Là một nhà báo, anh đã đếm tất cả những người có mặt ở đó. “Có bốn người Tajiks, một người Kyrgyz, và một phụ nữ từ Congo”, Harding nói với tôi qua điện thoại từ London. “Chị ta đã ở đây bẩy ngày rồi, và đang gà gật trên một chiếc ghế sắt dài.” Nửa giờ sau, Harding đã ở trên máy bay trong một chuyến bay thẳng về London, hộ chiếu của anh được trả lại với một mẩu giấy ghi Trục xuất”. Vợ anh và hai đứa con tuổi thiếu niên còn bị kẹt lại ở Moscow.


I don't know Harding very well, but we are friends with the same people and spin in the same brotherly circle of Moscow foreign correspondents. It was well known that, of all of us, Harding had the tensest relationship with the Kremlin and the Ministry of Foreign Affairs (the people who control our passage into the country).


Tôi không quen Harding lắm, nhưng hai chúng tôi có chung một người bạn và chơi với nhau trong cùng giới thân thiết các phóng viên nước ngoài ở Moscow. Mọi người đều biết rằng trong tất cả chúng tôi, Harding là người có quan hệ căng thẳng nhất với Kremlin và Bộ Ngoại giao, (là cơ quan kiểm soát quyền ra vào nước này của chúng tôi).


"I'd say they had a tense relationship with me!" he is quick to counter. Since his arrival in Russia four years ago, he and his family have been harassed by what everyone assumed was the Federal Security Service (FSB). The Hardings would come home to find the windows of the children's bedrooms open, their toys rearranged. Alarm clocks went off at strange hours. But nothing is ever quite clear in Moscow. The harassment, an open secret among us hacks, was itself a slippery thing, nearly impossible to prove. It was the kind of subtle thing that could have been Harding's imagination -- which tends to run amok here for everyone -- or a very real threat from the security services. (Whatever it was, the British ambassador eventually had to get involved, and the pestering stopped as mysteriously as it had started.)


“Tôi đã nói rằng họ có quan hệ căng thẳng với tôi!”, anh nói. Ngay từ khi đến Nga cách đây bốn năm, anh và gia đình anh đã bị quấy rầy bởi cái mà mọi người cho là Cục An ninh Liên bang (FSB). Gia đình Harding về nhà thấy cửa sổ phòng ngủ của trẻ con mở toang, đồ chơi bị sắp xếp lại. Đồng hồ báo thức reo vào những giờ kỳ lạ. Nhưng ở Moscow không có cái gì là hoàn toàn rõ ràng. Sự quấy rầy này, một bí mật mở trong số dân làm báo chúng tôi, bản thân nó là vấn đề khó nắm bắt, gần như không thể nào làm sáng tỏ. Đấy là những việc mơ hồ, cũng có thể là do Harding tưởng tượng ra – mà cũng có thể là mối đe dọa thật sự từ cục an ninh. (dù sao mặc lòng, cuối cùng đại sứ Anh đã phải can thiệp, và sự quấy nhiễu ấy dừng lại một cách cũng bí ẩn như khi nó bắt đầu).


And then there was the fact that Harding had a reputation for playing with fire -- perhaps foolishly -- by going after the strictly taboo stories, like talking to the relatives of Dagestani terrorists or investigating Prime Minister Vladimir Putin's personal fortune. Even Harding will admit that that last one, which put the figure at $40 billion, was a gauntlet of sorts. "That was maybe the bravest -- and the stupidest -- story I did," he said. He quickly surfaced on the official radar as a renegade, a species not much liked in the Kremlin.


Và sau đó Harding được tiếng là tay chơi với lửa - có lẽ là dại dột - bằng cách theo dõi những chuyện cấm kỵ, thí dụ như về những quan hệ của những tên khủng bố Dagestani hoặc điều tra tài sản riêng [1] của Thủ tướng Vladimir Putin. Ngay cả Harding cũng phải thừa nhận rằng hành động này, đưa ra con số 40 tỉ đô la, là một loại thách đấu. “Đó có thể là câu chuyện can đảm nhất - và ngu xuẩn nhất - mà tôi đã làm,” anh nói. Anh nhanh chóng rơi vào tầm ngắm của chính quyền như một kẻ nổi loạn, những người không được Kremlin ưa thích cho lắm.


And this was all before he was all over the WikiLeaks Russia documents, in a way that most foreign correspondents in Moscow weren't. (Harding, in one instance, described the Russia portrayed in the documents as a "corrupt, autocratic kleptocracy.")


Và đấy là những chuyện trước khi anh làm về những tài liệu WikiLeaks Nga - theo cách mà hầu hết phóng viên nước ngoài ở Moscow không làm. (Thí dụ như Harding đã mô tả Nga là một nước “tham nhũng, độc tài, do bọn lưu manh cai trị” [2])


Harding's choice of tactics has been the subject of significant debate. Some have even cringed at his decision to make a public fuss about his expulsion. "It's not the right thing to do," said one veteran Moscow correspondent. "Once it's official, once it's public, they start playing tough guy and the decision becomes much harder to reverse."

Những chiến thuật mà Harding chọn đã trở thành đề tài tranh luận lớn. Một số người thậm chí còn xun xoe trước quyết định của anh để gây ra một vụ ồn ào về việc anh bị trục xuất. “Đó không phải là một việc nên làm.” Một phóng viên cao tuổi của Moscow nói. “Một khi động đến quan chức, một khi động đến chính quyền, người ta sẽ cho anh biết tay (họ sẽ chơi rắn) và quyết định càng trở nên khó đảo ngược hơn.”


It's a hard line to walk, this talk of rules and journalistic provocation. Ostensibly, there should be no such thing, but in Russia, unfortunately there is. And, even more unfortunately, any journalist -- especially our Russian colleagues -- working in today's Russia has to ask themselves whether this one story or the next will make you a martyr, and whether it's worth it. When I first arrived in Moscow, a year and a half ago, I balked at suggestions of what one could and couldn't write. I found it to be bizarre, galling even. It upbraided my grandiose journalistic values and my American sense of invincibility. Only Russian reporters, I figured, have to filter and fear; we serve only truth, and we do so fearlessly. And then I got my first (very veiled) threat from a Russian businessman I was doing a story on, and things suddenly snapped into perspective.

Câu chuyện về giới thống trị và sự chọc tức của báo chí là con đường đầy chông gai. Lẽ ra không nên có những chuyện như thế, nhưng bất hạnh là ở nước Nga lại có những chuyện ấy. Và, bất hạnh hơn nữa, bất kỳ nhà báo nào - đặc biệt là các đồng nghiệp Nga của chúng tôi - làm việc trong nước Nga của ngày hôm nay phải tự hỏi liệu câu chuyện này hay câu chuyện tiếp theo sẽ biến anh thành kẻ tử vì đạo, và như thế có đáng không. Khi tôi đến Moscow lần đầu, cách đây một năm rưỡi, tôi bỏ qua những lời gợi ý về chuyện gì có thể viết và chuyện gì không thể. Tôi thấy nó kỳ quặc, thậm chí khó chịu. Nó sỉ nhục những giá trị vĩ đại của nghề báo và cảm giác vô địch của người Mỹ chúng tôi. Chỉ có những nhà báo Nga, tôi nghĩ, mới phải tự kiểm duyệt và sợ, còn chúng tôi chỉ phục vụ chân lý, và chúng tôi làm thế không hề sợ hãi. Thế rồi tôi gặp đe dọa đầu tiên (hết sức mập mờ) từ một doanh nhân Nga, khi tôi đang làm một phóng sự về ông ta...


There are very different rules for Russian journalists. We foreigners are much more likely, as Harding's case shows, to get kicked out (highly unpleasant and stressful to anyone who has built a life here) rather than beaten or killed, but there are rules -- simultaneously strict and unpredictable -- for us, too. We too have learned, for better or worse, to tread carefully.

Có nhiều luật lệ khác đối với các nhà báo Nga. Những người ngoại quốc chúng tôi rất dễ bị tống cổ ra - như trường hợp Harding - (cực kỳ khó chịu và căng thẳng đối với những ai xây dựng cuộc sống ở đây) hơn là bị đánh hoặc bị giết, nhưng đối với chúng tôi cũng có những quy tắc vừa khắc nghiệt vừa khó lường. Chúng tôi cũng đã học cách đi đứng cho dè dặt, thận trọng, dù hậu quả có như thế nào.

In 2005, after ABC aired an interview with Chechen rebel leader Shamil Basaev (Russia's Osama bin Laden at the time), the bureau chief had his visa revoked, and the bureau was effectively shuttered for two years. (He is still not allowed back in the country.) A similar thing happened to Thomas de Waal, a British journalist denied a visa in 2006, probably because of his coverage of violence in the Caucasus. And to Moldovan national Natalia Morar, denied a visa for her coverage despite her marriage to a Russian. And so on and so on.


Năm 2005 đài ABC phát một cuộc phỏng vấn với lãnh tụ phiến quân Chechnya Shamin Basaev (Osama bin Laden của Nga vào thời gian ấy), trưởng văn phòng bị hủy visa, và văn phòng thực tế bị đóng cửa trong hai năm. (Bây giờ ông vẫn chưa được phép trở lại nước này). Một việc tương tự cũng xảy ra với Thomas de Waal, một nhà báo Anh không được cấp chiếu khác vào năm 2006, có lẽ vì ông đã đưa tin về bạo lực ở Caucasus. Và Natalia Morar, quốc tịch Mondovia, cũng không được cấp chiếu khác vì những tin tức mà chị đã đưa, mặc dầu chị kết hôn với một người Nga. Vân vân và vân vân.


Although we can never be exactly sure whom we offend with which article (it's not just Putin who calls the shots on this), the ultimate message is always the same: You are guests, you play by our rules, and you play at our pleasure.


Mặc dầu chúng tôi chưa bao giờ có thể biết chính xác ai là người bị tổn thương vì những bài báo cụ thể nào (không phải chỉ có Putin điều khiển chuyện này), thông điệp cuối cùng luôn luôn là thế này: các anh là khách, các anh phải chơi theo luật chơi của chúng tôi, và các anh phải chơi sao cho chúng tôi hài lòng.


Harding chose to fight the system and now sits in London, fielding phone calls two or three at a time from his Moscow colleagues who, awkwardly, are now reporting on his predicament, peppering their questions with words of empathy.


Harding chọn con đường đấu tranh với chế độ này và bây giờ anh ngồi ở London, anh đã trả lời hai hay ba cuộc điện thoại từ các đồng nghiệp của anh ở Moscow - những người đang lúng túng tường thuật về tình huống khó chịu của anh.


That said, Harding admits the expulsion was not exactly a surprise. In November, he was called into the Foreign Ministry and told his visa and accreditation were not being renewed. "They made it quite clear they didn't like me," he recalled. Then, a day before the visa expired, after his house had been packed and his children had said their goodbyes at school, the Foreign Ministry granted the Hardings a six-month visa to finish the school year. It was that visa with which Harding tried to re-enter the country.

Điều đó nói lên rằng, Harding thừa nhận việc trục xuất này không làm anh ngạc nhiên. Vào tháng 11, anh đã bị gọi đến Bộ Ngoại giao và anh được người ta bảo cho biết visa của anh không được tiếp tục gia hạn nữa. “Họ nói cách rõ ràng họ không thích mình”, anh nhớ lại. Rồi, một ngày trước khi visa hết hạn - sau khi anh đã đóng gói hành lý và các con anh đã từ biệt bạn bè của chúng ở trường - Bộ Ngoại giao cấp cho Harding visa thêm sáu tháng nữa để bọn trẻ có thể kết thúc năm học. Đó chính là visa Harding dùng để vào lại nước Nga.


The scariest thing about Harding's story is that it validates the fear we all have upon returning to Moscow after a trip out of the country. It's a fear, a cardiac boom-boom, that doesn't abate until you're through passport control and watching the baggage carousel do its soothing laps. Harding, it turns out, had this same fear, too. "I always had a habit of looking at the name tag of the passport control officer, thinking, is this going to be the time?" he told me. "And it was Lilia who did it. Lilia. It was a very nice name."
Điều đáng sợ nhất trong câu chuyện về Harding là nó xác nhận nỗi sợ mà tất cả chúng tôi đều có mỗi khi trở lại nước Nga. Đó là nỗi sợ, trống ngực đập thình thình, không hề dịu đi cho đến khi anh qua được vòng kiểm tra hộ chiếu và nhìn thấy băng chuyền hành lý chạy êm ái trước mắt. Hóa ra Harding cũng có sợ như thế. “Tôi luôn luôn có thói quen là nhìn bảng tên của sĩ quan kiểm tra hộ chiếu, bụng nghĩ, có phải bây giờ đã đến lúc rồi không?”, anh kể với tôi. “Và người làm việc đó là Lilia. Đó là cái tên rất dễ thương.”




Translated by Hiếu Tân





[1]. Putin, the Kremlin power struggle and the $40bn fortune (Putin, cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Kremlin và gia sản 40 tỉ đôla)
[2] Kleptocracy (một từ gốc Hy Lạp) có nghĩa là chính quyền tham nhũng, trộm cắp, làm lợi cho một thiểu số và thiệt hại cho đa số người dân


http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/02/07/out_of_country