|
|
|
|
Top 10 Autocrats in
Trouble
|
Top 10 nhà độc tài
đang gặp rắc rối
|
|
The massive protests in Egypt aimed at ousting President
Hosni Mubarak mark an unprecedented moment in Egyptian history and a very
uncomfortable one in Mubarak's three-decade tenure. The spirit of revolt
seems to be catching. TIME takes a look at strongmen whose grips on power are
far weaker than they once were
|
Những cuộc biểu tình khổng lồ ở Ai cập nhằm trục xuất Tổng
thống Hosni Mubarak đánh dấu một thời điểm chưa từng có trong lịch sử Ai cập
và hết sức khó chịu đối với Mubarak trong ba thập kỷ chiếm giữ quyền lực của
ông ta. Tinh thần của cuộc nổi dậy này dường như đang lây nhiễm. TIME cho
chúng ta một cái nhìn lướt qua những kẻ bạo quyền mà sự níu giữ quyền lực lúc
này đã yếu hơn bao giờ hết.
|
|
1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011
|
1. Hosni Mubarak
Josh Sanburn, TIME,. 01/02/ 2011
|
|
|
|
|
For years, Egypt has not been on the Middle East radar of
most Americans — despite the fact that Washington has been a longtime
benefactor of the regime in Cairo. But Egypt, once the dominant force in the
region, is at the heart of the news once again as President Hosni Mubarak
struggles to cling to power in the face of unprecedented protests. The
authoritarian leader has led Egypt since the assassination of Anwar Sadat in
1981. Even though Mubarak's government implemented elections in 2005, true
political opposition has long been stifled under his rule. The Muslim
Brotherhood, a popular Islamic political group, has largely been suppressed,
and the police force is notoriously brutal on antigovernment opponents.
Parliamentary elections last year were widely considered to be fraudulent,
and many Egyptians saw in the sham the first signs of Mubarak paving the way
for his son to take over — laying the foundations of a family dynasty backed
by a coterie of corrupt elites. Mubarak is now facing the most serious challenge
to his decades-long rule from a populace brimming with years of pent-up rage
and frustration.
|
Trong nhiều năm Ai cập không nằm trong tầm nhìn Trung Đông
của hầu hết người Mỹ - cho dù trong thời gian dài Washington là nhà hảo tâm
đối với chế độ Cairo. Nhưng Ai cập, có thời từng là lực lượng áp đảo trong
khu vực, nay đang ở trung tâm tin tức khi tổng thống Mubarak đang vật vã bám
chặt lấy quyền lực trước những cuộc biểu tình chưa từng thấy. Lãnh tụ chuyên
quyền này đã lãnh đạo Ai cập từ sau cuộc ám sát Anwar Sadat năm 1981. Mặc dầu
chính phủ Mubarak đã cải thiện các cuộc bầu cử năm 2005, đối lập chính trị thật
sự từ lâu đã bị đàn áp dưới sự thống trị của ông ta. Muslim Brotherhood, một
nhóm chính trị Hồi giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng đã bị đàn áp,
và lực lượng cảnh sát Ai cập khét tiếng là tàn bạo đối với những người chống
chính phủ. Các cuộc bầu cử quốc hội năm ngoái bị nhiều người cho là gian lận,
và nhiều người Ai cập thấy xấu hổ trước những dấu hiệu đầu tiên Mubarak mở
đường cho con trai ông ta lên nối ngôi - đặt cơ sở cho một triều đại gia đình
trị được hậu thuẫn bởi một phái đặc quyền đặc lợi thối nát. Mubarak hiện đang
đứng trước một thách thức nghiêm trọng đối với sự thống trị dài nhiều thập kỷ
của ông ta bởi một khối dân chúng tràn đầy phẫn nộ và thất vọng dồn nén từ
nhiều năm nay.
|
|
2. Ali Abdullah
Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
2. Ali Abdullah
Saleh
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
A week of protests across Yemen has instilled fear in the
heart of President Ali Abdullah Saleh, who rushed to release several
human-rights activists and journalists just days after they were detained.
Saleh, who has ruled Yemen for 32 years, has long been criticized for his
corrupt government and is seen as a pawn in the U.S.'s counterterrorism
efforts. Saleh also has a history of cutting deals with Islamic militants and
insurgents of many stripes in order to keep power — a fact that the international
community has been paying closer attention to since al-Qaeda in the Arabian
Peninsula, which operates mainly out of Yemen, claimed responsibility for the
2009 attempted bombing of a Northwest Airlines plane en route to Detroit.
Earlier this year, Yemen's parliament gave preliminary approval to a measure
that would allow Saleh, who has ruled for more than three decades, to stay in
power past his constitutional mandate. The news prompted protests in the
country that have intensified since the Tunisian revolt.
|
Một tuần lễ với các cuộc biểu tình chống đối trên khắp
Yemen đã làm thấm nỗi sợ vào tim tổng thống Ali Abdullah Saleh, khiến ông ta
vội vã thả nhiều nhà hoạt động nhân quyền và nhà báo chỉ ít ngày sau khi họ
bị bắt giữ. Saleh, người đã trị vì Yemen trong 32 năm, từ lâu đã bị phê phán
về chính phủ tham nhũng của ông ta, và được coi như con tốt đen trong những
cố gắng chống khủng bố của Mỹ. Saleh cũng có một lịch sử những cuộc thỏa
thuận cay đắng với các chiến binh Hồi giáo và những cuộc nổi dậy của nhiều bộ
tộc để giữ được chính quyền - một sự kiện mà cộng đồng quốc tế đã và đang
quan tâm chặt chẽ kể từ khi al Qaeda ở bán đảo A rập, hoạt dộng chủ yếu bên
ngoài Yemen, nhận trách nhiệm về âm mưu năm 2009 đánh bom một máy bay của
Northwest Airlines trên đường đến Detroit. Đầu năm nay, quốc hội Yemen đã sơ
bộ chuẩn y một biện pháp cho phép Saleh, kẻ đã cai trị hơn ba thập kỷ, được ở
lại chính quyền vượt quá sự ủy trị hiến định của ông ta. Tin tức nhắc đến
những cuộc biểu tình đã mạnh lên trong nước này kể từ khi có cuộc nổi dậy của
Tunisia.
|
|
3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011
|
3. Kim Jong Il
Kayla Webley, TIME, 01/02/ 2011
|
|
|
|
|
As supreme leader of one of the world's most isolated
states, not much is known of North Korea's Kim Jong Il apart from the
exalted, often absurd declarations made by the communist regime's official
mouthpieces. Things like he once wrote six operas in two years,
"coached" his country's World Cup team using invisible cell-phone
technology (which he also invented) and scored a 38 under par in a game of
golf (making him the greatest golfer of all time). While these feats of skill
are dubious, the extreme poverty in North Korea is clear. As Kim has built
one of the world's largest standing armies, aid agencies estimate some 2
million people have died since the mid-1990s as a result of food shortages
due in large part to economic mismanagement. Kim's totalitarian regime has
been accused of torture, public executions, slave labor, forced abortions and
infanticides, and an estimated 200,000 people are held as political
prisoners.
|
Là lãnh tụ tối cao của một trong những nước cô lập nhất
thế giới, Kim Jong Il của Bắc Triều Tiên không được biết đến gì nhiều ngoài
những những tuyên bố huênh hoang, thường là ngu xuẩn, của những cái mồm chính
thức của chế độ. Những sự việc như ông ta đã có lần viết sáu vở opera trong
hai năm, “huấn luyện” cho đội tuyển World Cup của nước ông ta bằng công nghệ
điện thoại di động tàng hình (mà ông ta sáng chế ra) và ghi được tỉ số thắng
38 điểm trong một trận đấu golf (biến ông ta thành tay golf thủ vĩ đại nhất
mọi thời đại). Trong khi những kỳ công về tài nghệ của ông ta là tù mù, thì
sự đói khổ cùng cực ở Bắc Triều tiên là rõ ràng. Khi Kim đã xây dựng một
trong những quân đội thường trực lớn nhất thế giới, thì các tổ chức viện trợ
ước tính khoảng 2 triệu người đã chết từ giữa những năm 1990 do kết quả của
thiếu lương thực phần lớn vì quản lý kinh tế tồi tệ. Chế độ toàn trị của Kim
đã bị lên án về tra tấn, những vụ hành hình công khai, lao động nô lệ, cưỡng
bức phá thai và giết hại trẻ sơ sinh; và khoảng 200.000 người bị giam là
những tù nhân chính trị.
|
|
North Korea's only glimpse of a hope may lie in the ailing
Kim's death. In choosing to name his son Kim Jong Un, an inexperienced
20-something, as his successor, Kim created a less certain future as other powerful
members of his family jockey for the top spot. That uncertainty, some say,
could bring about a change of the guard or even a putsch led by dissatisfied
military officers.
|
Tia hy vọng mỏng manh duy nhất của Bắc Triều Tiên là cái
chết của Kim - hiện đang ốm yếu. Trong việc chọn để bổ nhiệm con trai của ông
ta là Kim Jong Un, một kẻ trong độ tuổi 20 không có kinh nghiệm gì, làm người
kế vị, Kim đã tạo ra một tương lai thiếu chắc chắn khi những thành viên mạnh
khác trong gia đình ông ta đua tranh vào chức vụ chóp bu này. Một số người
nói rằng sự không chắc chắn này có thể đưa đến việc đổi gác [chế độ] hay thậm
chí một cuộc nổi loạn lãnh đạo bởi các sĩ quan quân đội bất mãn.
|
|
4. Alexander
Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011
|
4. Alexander
Lukashenko
Josh Sanburn, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Often described as the "last dictator in
Europe," Belarusian President Alexander Lukashenko has ruled this East
European country for 16 years. To prop up his rule, opposition voices are
routinely stifled and there is little to no independent media. Political
opponents are often monitored by Belarus' secret police, still known in this
former Soviet republic as the KGB. Lukashenko's control over the country
began in 1996 when the parliament considered impeaching him. He promptly
disbanded it. Lukashenko then handpicked the succeeding parliament and took
control over the country's judiciary branch. Last December, the dictator was
re-elected with 80% of the vote, but many independent observers reported
widespread fraud. Since then, Lukashenko has led a brutal crackdown on
political opponents, including some who ran against him in the presidential
election. The international community has imposed sanctions against Belarus
for his actions.
|
Thường được mô tả như “nhà độc tài cuối cùng ở châu Âu”,
Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã cai trị nước Đông Âu này trong 16
năm. Để chống đỡ cho nền cai trị của mình, những tiếng nói đối lập thường
xuyên bị chặn, còn phương tiện truyền thông độc lập thì từ có ít đến không
có. Các đối thủ chính trị thường xuyên bị theo dõi bởi công an mật Belarus,
trong nước cộng hòa thuộc Liên xô cũ này nó vẫn còn được gọi là KGB.
Lukashenko bắt đầu kiểm soát đất nước từ năm 1996 khi quốc hội xem xét kết
tội ông ta, ông ta liền lập tức giải tán nó. Lukashenko sau đó tự tay chọn ra
một quốc hội kế tục, và nắm lấy quyền kiểm soát ngành tư pháp của đất nước.
Tháng 12 vừa qua, nhà độc tài này đã được bầu lại với 80% số phiếu, nhưng
nhiều nhà quan sát độc lập cho biết có sự gian lận phổ biến. Từ đó,
Lukashenko đã lãnh đạo một cuộc đàn áp tàn bạo các đối thủ chính trị, trong
đó có một vài người ra tranh cử với ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống. Cộng
đồng quốc tế đã áp đặt trừng phạt Belarus vì những hành động này của ông ta.
|
|
5. Omar Hassan
al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011
|
5. Omar Hassan
al-Bashir
Alexandra Silver Time, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Omar Hassan al-Bashir, who came to power in Sudan after
leading a coup in 1989 (he has been President since 1993), has the ignoble
distinction of being the first sitting head of state for whom the
International Criminal Court has issued an arrest warrant. He is wanted for
crimes against humanity, war crimes and, as of a second arrest warrant in
2010, genocide in Darfur. The indictments are not the only challenges
al-Bashir faces. In January 2011, the same month southern Sudanese voted in a
referendum to secede, students in the north took to the streets to protest
al-Bashir's regime.
|
Omar Hassan al-Bashir, người lên cầm quyền ở Sudan sau khi
lãnh đạo một cuộc đảo chính năm 1989 (ông ta là tổng thống từ năm 1993), có
một danh hiệu nhục nhã là nguyên thủ quốc gia đương chức đầu tiên mà Tòa án
Hình sự Quốc tế phát lệnh bắt. Ông ta bị truy nã về tội ác chống nhân loại,
tội ác chiến tranh và theo một lệnh bắt thứ hai năm 2010, tội diệt chủng ở
Darfur. Những bản cáo trạng này không phải là thách thức duy nhất mà
al-Bashir phải đối mặt. Trong tháng Giêng 2011, cùng tháng người miền nam
Sudan đi bỏ phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý để ly khai, các sinh viên
miền Bắc đã chiếm các đường phố để phản đối chế độ của al-Bashir.
|
|
6. Mahmoud
Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
6. Mahmoud
Ahmadinejad
Frances Romero, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
His 2009 landslide re-election to a second term — with
more than 60% of the vote — caused an uprising in Iran. Mahmoud Ahmadinejad's
main opponent, Mir-Hossein Mousavi, and his supporters cried foul, demanding
a recount and later calling for the results to be thrown out. Dozens of
people were killed in demonstrations that were quelled by paramilitary
forces. After a week of intense protests, Iran's Supreme Leader Ayatullah Ali
Khamenei declared the results to be valid and affirmed Ahmadinejad's victory.
Just a few days later, the country's Council of Guardians confirmed that 50
constituencies had returned more votes than there were registered voters.
Ahmadinejad and Khamenei clashed on several political fronts, including who
would be part of the President's Cabinet. That tension, coupled with a
lingering, broad-based opposition to Ahmadinejad's administration — including
among some of the country's clerical elite — has kept Ahmadinejad, who wields
his power with the backing of the mullahs, on shaky ground.
|
Cuộc bầu cử lại vào nhiệm kỳ thứ hai năm 2009 mà ông ta
thắng lớn - với hơn 60% số phiếu - đã gây ra một cuộc nổi dậy ở Iran. Đối thủ
chính của Mahmoud Ahmadinejad, là Mir-Hossein Mousavi và những người ủng hộ
ông kêu là lừa đảo, yêu cầu kiểm lại phiếu và sau đó kêu gọi hủy bỏ kết quả
bầu cử. Hàng chục người bị giết trong các cuộc biểu tình bị đàn áp bởi các
lực lượng bán quân sự. Sau một tuần chống đối mãnh liệt, Lãnh tụ Tối cao của
Iran Ayatullah Ali Khamenei tuyên bố các kết quả bầu cử là hợp lệ và khẳng
định thắng lợi của Ahmadinejad. Chỉ ít ngày sau đó, Hội đồng Vệ quốc xác nhận
rằng 50 khu vực bầu cử có số phiếu thu được nhiều hơn số cử tri đã đăng ký.
Ahmadinejad và Khamenei va chạm trên nhiều mặt trận chính trị, bao gồm cả vấn
đề những ai sẽ tham gia vào nội các của Tổng thống. Sự căng thẳng này, đi đôi
với sự chống đối rộng rãi và lâu dài đối với chính quyền Ahmadinejad - bao
gồm trong số tăng lữ cao cấp của nước này - đang đặt Ahmadinejad, người cầm
quyền với sự hậu thuẫn của tầng lớp giáo sĩ Hồi giáo, trên một mặt đất đang
rung chuyển.
|
|
7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011
|
7. Robert Mugabe
Alexandra Silver, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Robert Mugabe has ruled Zimbabwe since the nation achieved
independence in 1980. Over the course of more than 30 years as Prime Minister
and then President, he and his Zimbabwe African National Union–Patriotic
Front have violently repressed opposition and been more concerned about
maintaining power than improving the well-being of the country's citizens.
Despite strongman tactics, the people's discontent was made clear in 2008
when Morgan Tsvangirai of the Movement for Democratic Change received more
votes than Mugabe did for President. Violence preceded the runoff, however,
and Tsvangirai did not participate. Mugabe subsequently entered into a
power-sharing deal with the opposition; he remained President, while
Tsvangirai was made Prime Minister.
|
Robert Mugabe đã cai trị Zimbabwe từ khi đất nước giành
được độc lập năm 1980. Trong quá trình hơn 30 năm làm Thủ tướng và Tổng
thống, ông ta và Mặt trận Yêu nước - Liên hiệp Dân tộc Phi châu Zimbabwe của
ông ta đã đàn áp khốc liệt những người đối lập và quan tâm đến việc duy trì
quyền lực hơn là cải thiện đời sống của công dân trong nước. bất chấp những
thủ đoạn bạo ngược, sự bất mãn của nhân dân bộc lộ rõ năm 2009 khi Morgan
Tsvangirai của Phong trào vì Chuyển đổi Dân chủ nhận được nhiều phiếu hơn
Mugabe trong cuộc bầu Tổng thống. Tuy nhiên, bạo lực đi trước trận đấu lại,
và Tsvangirai không tham gia. Sau đó Mugabe đi vào một cuộc thương lượng chia
sẻ quyền lực với phe đối lập, ông ta vẫn là tổng thống, trong khi Tsvangirai
làm Thủ tướng.
|
|
8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
8. Emomali Rahmon
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
Since 1992, just a year after its independence, the small
Central Asian state of Tajikistan has been governed by Emomali Rahmon. The
former Soviet apparatchik came to power at the onset of a bloody civil war in
the country, pitting a faction led by Islamists against a ruling bloc of more
secular, Russian-backed forces, among them Rahmon. Tens of thousands died,
but Rahmon came out victorious, and, as with leaders of other regimes in
Central Asia, he has justified his authoritarianism in part as a hedge
against the threat of extremist radicals. But experts describe Rahmon's
Tajikistan as poor and lawless and a key conduit for opium from neighboring
Afghanistan. After the financial recession hit the wealthier nations of
Russia and Kazakhstan, tens of thousands of Tajik workers — whose remittances
form the lifeblood of the Tajik economy — went home to poverty-racked villages.
In this climate, observers report the revitalizing of a long-dormant Islamist
insurgency, backed in part with the arrival of fighters who once dwelled in
Pakistan's tribal areas. All the while, Rahmon continues to govern Tajikistan
as his personal fief, his family the beneficiaries of years of graft. His
government may still stand, but dark clouds hover over the future of Rahmon's
Tajikistan.
|
Từ 1992, chỉ một năm sau khi độc lập, nhà nước Trung Á
Tajikistan nhỏ bé đã bị thống trị bởi Emomali Rahmon. Cựu thành viên của ban
lãnh đạo đảng cộng sản Liên xô lên nắm quyền vào lúc trong nước bắt đầu cuộc
nội chiến đẫm máu, đấu với một phe cánh dẫn đầu bởi những người Islamist
chống lại khối thống trị thế tục của những lực lượng được Nga ủng hộ, trong
đó có Rahmon. Mười ngàn người chết, nhưng Rahmon thoát ra thắng lợi, và,
giống như các lãnh tụ của các chế độ khác ở Trung Á, ông ta bào chữa cho sự
chuyên quyền của mình phần nào bằng cách coi mình như một hàng rào ngăn chặn
mối đe dọa của những kẻ cực đoan quá khích. Nhưng các chuyên gia mô tả nước
Tajikistan của Rahmon là một nước nghèo khổ và vô luật pháp, và là nơi chủ
yếu tuồn thuốc phiện từ nước láng giềng Afghanistan. Sau cuộc suy thoái tài
chính đánh vào những nước giầu hơn là Nga và Kazakhstan, hàng chục ngàn công
nhân Tajik - mà tiền họ gửi về là dòng máu nuôi sống nền kinh tế Tajikistan -
trở về nhà ở những làng quê xác xơ tiêu điều vì nghèo đói. Trong không khí
ấy, các nhà quan sát nói về cuộc nổi dậy của những người Islamist từ lâu nằm
im đang trỗi dậy mãnh liệt, một phần được hậu thuẫn bởi những chiến binh mới
đến, (trước đây họ trú ngụ trong những vùng thuộc các bộ lạc Pakistan). Trong
khi đó, Rahmon tiếp tục cai trị Tajikistan như thái ấp riêng của ông ta, gia
đinh ông ta nhiều năm được hưởng lợi lộc từ hối lộ. Chính phủ của ông ta có
thể vẫn còn đứng vững, nhưng những đám mây đen đã lơ lửng treo trên tương lai
của nước Tajikistan của Rahmon.
|
|
9. House of Saud
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011
|
9. Triều đình A rập
Saudi
Kayla Webley, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
With 25% of the world's oil reserves, accumulating wealth
and powerful friends — principally the U.S. — has not been hard for King
Abdullah of Saudi Arabia. But while he and his estimated 7,000 royal family
members thrive, enjoying his around $20 billion in wealth, 1 in 7 adults in
his country cannot read. Unemployment has topped 10% for years. Censorship is
pervasive. Criticizing the government, royal family and the police, who enjoy
absolute power, is not allowed. Women have precious few rights and are
largely excluded from the workforce. The ruling family has enjoyed absolute
power for the better part of 100 years, despite never having been elected.
Opposing political parties are simply not allowed. While Abdullah is aligned
with the region's other autocrats — he welcomed Tunisia's exiled leader Zine
el Abidine Ben Ali and has thrown his support behind Egypt's Hosni Mubarak —
a popular uprising in this restrictive but relatively affluent state seems
less likely than elsewhere in the Middle East. Still, the House of Saud's grip
has two weaknesses: the family's refusal to create a democratic system, even
while Saudi society itches to be more liberalized, and the continued presence
of networks of Islamist fundamentalists that threaten to destroy Abdullah's
credibility as a figure of stability abroad.
|
Với 25% trữ lượng dầu mỏ của thế giới, của cải tích lũy và
những người bạn mạnh - chủ yếu là Mỹ - cuộc sống của Vua Abdullah của A rập
Saudi quả là quá dễ dàng. Nhưng trong khi ông ta và khoảng 7000 thành viên
hoàng tộc của ông ta giàu có, hưởng tài sản khoảng 20 tỉ $, thì trong đất
nước ông ta cứ bẩy người lớn thì có một người không biết chữ. Thất nghiệp đã
lên đến 10% trong nhiều năm. Kiểm duyệt tràn lan. Việc phê phán chính phủ,
gia đình hoàng tộc và cảnh sát, những người có quyền lực tuyệt đối, là không
được phép. Phụ nữ có rất ít quyền và nói chung ở ngoài lực lượng lao động.
Gia đình thống trị này có quyền lực tuyệt đối trong gần một trăm năm nay, mặc
dầu chưa bao giờ được bầu ra. Các đảng chính trị đối lập đơn giản là không
được phép. Trong khi Abdullah được xếp cùng hàng với những nhà độc tài khác
trong khu vực - ông ta đã chào mừng lãnh tụ Tunisia lưu vong Zine el Abidine Ben
Ali và đã viện trợ cho Hosni Mubarak của Ai cập - một cuộc nổi dậy của dân
chúng trong cái quốc gia bị hạn chế nhưng tương đối giàu có này, có vẻ ít có
khả năng xảy ra hơn so với các nơi khác ở Trung Đông. Tuy nhiên, sự nắm quyền
của nhà nước Saudi có hai điểm yếu: gia đình trị từ chối tạo ra một hệ thống
dân chủ, ngay cả khi xã hội Saudi đang khao khát được tự do hơn, và sự tiếp
tục hiện diện của mạng lưới những kẻ Islamist chính thống chủ nghĩa đe dọa
phá hủy uy tín của Abdullah như một gương mặt của ổn định ở nước ngoài.
|
|
10. Abdelaziz
Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
10. Abdelaziz
Bouteflika
Ishaan Tharoor, TIME, 01/02/2011
|
|
|
|
|
The 73-year-old Abdelaziz Bouteflika has been Algeria's
President since 1999, a long-term operator within the ruling National
Liberation Front — the party of socialist revolutionaries whose bloody
independence struggle won Algeria its independence from France in 1962 but
then rapidly transformed into a hegemonic one-party, army-backed regime. In
the 1990s, the ruling regime fought a vicious war with Islamists, who had
been denied their rightful place in the government after the army scrapped
elections. During his tenure, Bouteflika has attempted to nurse relations
with other parties and improve the country's poor record of democracy, but
political freedoms remain checked while observers point to rampant corruption
among the Algerian ruling class. Despite the country's natural-gas wealth,
unemployment is high and a strikingly young population itches for greater
opportunities. After a citizens' uprising ousted Tunisian President Zine el
Abidine Ben Ali in January, Bouteflika, whose country is considerably poorer
than neighboring Tunisia, looks set to face a budding popular revolt as well.
Tunisia's rebellion was sparked when one marginalized youth set himself
aflame. Seven such copycat self-immolations have taken place in Algeria since.
|
Abdelaziz Bouteflika 73 tuổi là tổng thống Algeria từ năm
1999, một nhà hoạt động lâu dài trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc - đảng của
những người cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh đẫm máu của họ đã
giành được độc lập cho Algeria từ tay Pháp năm 1962, nhưng sau đó nhanh chóng
chuyển thành chế độ độc đảng lãnh đạo, dựa trên quân đội. Từ những năm 1990
chế độ thống trị này tiến hành một cuộc chiến tranh dữ dội với những người
Islamist, những người đã bị từ chối chỗ đứng chính đáng trong chính phủ sau
khi quân đội loại bỏ các cuộc bầu cử. Trong nhiệm kỳ của mình, Bouteflika đã
thử nuôi dưỡng những mối quan hệ với các đảng khác cải thiện hồ sơ tệ hại của
đất nước về dân chủ, nhưng các quyền tự do chính trị vẫn còn bị kiểm soát
trong khi các nhà quan sát chỉ ra nạn tham nhũng đang tăng tiến trong giai
cấp thống trị của Algeria. Mặc dầu đất nước này giầu có nguồn khí đốt tự
nhiên, tỉ lệ thất nghiệp cao và dân cư đặc biệt trẻ đang khao khát những cơ
hội tốt hơn. Sau cuộc nổi dậy của công dân đuổi tổng thống Tunisia Zine el
Abidine Ben Ali vào tháng Giêng, Boutelflika - nước ông nghèo hơn nhiều so
với nước láng giềng Tunisia - trông có vẻ cũng phải bắt đầu đối mặt với một
cuộc nổi dậy của dân chúng đang nảy nở. Cuộc nổi dậy của Tunisia bùng cháy
khi một thanh niên bị hất ra lề đường châm lửa tự thiêu. Từ đó đến nay ở
Algeria đã có bảy trường hợp bắt chước tự hy sinh như vậy.
|
|
|
Translated by Hiếu Tân
|
|
|
|
|
http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,2045407_2045416_2045422,00.html
|
|
MENU
BILINGUAL BLOG – BLOG SONG NGỮ ANH VIỆT – SHARE KNOWLEGE AND IMPROVE LANGUAGE
--------------------------- TÌM KIẾM TRÊN BLOG NÀY BẰNG GOOGLE SEARCH ----------------------------
TXT-TO-SPEECH – PHẦN MỀM ĐỌC VĂN BẢN
Click phải, chọn open link in New tab, chọn ngôn ngữ trên giao diện mới, dán văn bản vào và Click SAY – văn bản sẽ được đọc với các thứ tiếng theo hai giọng nam và nữ (chọn male/female)
CONN'S CURENT THERAPY 2016 - ANH-VIỆT
Sunday, July 1, 2012
Top 10 Autocrats in Trouble Top 10 nhà độc tài đang gặp rắc rối
Egypt and its lessons for the world Thế giới có thể học được gì từ Ai Cập?
|
|
|
|
Egypt and its
lessons for the world
|
Thế giới có thể
học được gì từ Ai Cập?
|
|
James Pich
Washington Times
|
James Pich
Washington Times
|
|
NATCHITOCHES, La., January 31, 2011 – The collapse of
Tunisia’s government and the rebellions in Egypt and Yemen have incited giddy
comparisons with the collapse of the Soviet empire. If we impose on the
Middle East a story of people hungry for democracy and human rights, we draw
the wrong conclusions. The crisis in Egypt isn’t about parliaments.
|
Sự sụp đổ của chính phủ Tunisia và cuộc bạo loạn
ở Ai Cập làm người ta có những so sánh kì quặc với sự sụp đổ
của đế chế Liên Xô. Nhưng sẽ là sai nếu coi Trung Đông là câu chuyện
về sự khao khát nền dân chủ và quyền con người. Cuộc khủng hoảng
ở Ai Cập không có liên quan gì đến chế độ đại nghị.
|
|
It’s about food. Inflation in food prices has hit poor
food importing nations like Egypt with the force of a sledge-hammer. Bad
weather in Russia and high energy costs have caused a spike in the price of
wheat, and Egypt is one of the world’s largest wheat importers. Most of the
population makes less than $4 per day, and those people have been slammed by
the rising price of food.
|
Đó là do thực phẩm. Lạm phát giá lương thực đã tác động các
quốc gia nghèo phải nhập khẩu thực phẩm như Ai Cập với một lực mạnh như búa
tạ giáng xuống. Tình trạng thời tiết ở Nga và
các chi phí năng lượng cao đã gây ra tăng giá lúa mì, và Ai Cập là một trong
những nhà nhập khẩu lúa mì lớn nhất thế giới. Hầu hết dân số làm ra ít hơn $4
mỗi ngày, và những người đã tuyệt đường sống bởi giá lương thực tăng cao.
|
|
Hunger and privation are much more likely to bring down
nations than are human rights abuses and the desire to vote. Egyptians aren't
starving, but joblessness and food inflation have focused their minds clearly
on the failure of President Mubarak to make life better, and they see clearly
how much worse it can become.
|
Thiếu thốn và đói kém thường làm chính phủ sụp
đổ hơn là những vụ vi phạm quyền con người hay là ước muốn được đi
bỏ phiếu. Người Ai Cập chưa bị chết đói, nhưng nạn thất nghiệp và
giá lương thực gia tăng làm cho họ tập trung chú ý vào sự bất lực
của Tổng thống Mubarak trong việc cải thiện đời sống và họ nhận
thức rõ rằng mọi việc có thể còn tồi tệ hơn đến mức nào.
|
|
Authoritarian regimes can last for a very long time when
they offer rising living standards in return for submission. The USSR itself
didn’t collapse because the Russian people felt a sudden urge to be free. The
Russians willingly endured the brutality of the Stalin years because it came
with a better life for most Russians. The privations of the WWII years came
with a sense of national purpose and pride, and they were followed by new
growth and self confidence after the war. It was the stagnation of the
Brezhnev era that helped rot away the foundations of the state, then a
growing awareness of how far the USSR was falling behind the west.
|
Các chế độ độc tài có thể tồn tại rất lâu, đấy
là nói khi họ còn có thể nâng cao được mức sống để đánh đổi lấy
sự phục tùng. Liên Xô không sụp đổ vì người Nga bỗng nhiên khao khát
tự do. Nga sẵn sàng
chịu đựng sự tàn bạo của Stalin bởi vì nó đến với một cuộc sống tốt hơn cho
hầu hết dân Nga. Thiếu thốn của những năm Thế chiến II xảy ra với một ý thức
về mục đích và niềm tự hào quốc gia, và tiếp theo đó là tăng trưởng mới và sự
tự tin sau chiến tranh. Đó là sự trì trệ của thời kỳ Brezhnev đã giúp làm mục
ruỗng nền tảng của nhà nước, sau đó một nhận thức ngày càng tăng về việc Liên
Xô đã tụt hậu như thế nào đằng sau phương Tây.
|
|
Unhappy families are all unhappy in their own way, but
statistically it’s financial stress that’s most likely to push them into
divorce. When times are good, couples can overlook all sorts of things, but
when they go bad, leaving the cap off the toothpaste tube can trigger
bloodshed. That doesn’t mean that kids, in-laws and adultery don’t push
people into divorce, but the in-laws don’t usually seem so bad when finances
are good.
|
Tất cả các gia đình bất hạnh đều bất hạnh theo
cách của mình, nhưng các số liệu thống kê cho thấy khó khăn về tài
chính thường dễ dẫn người ta đến li dị hơn. Trong những giai đoạn
thuận lợi, vợ chồng thường bỏ qua cho nhau nhiều chuyện, nhưng khi
gặp khó khăn thì chỉ cần một hộp hộp thuốc đánh răng không đậy
nắp cũng có thể gây ra một vụ đanh nhau sứt đầu mẻ trán rồi. Điều
đó không có nghĩa là con cái, họ mạc hay ngoại tình không làm cho
người ta li hôn, nhưng khi tiền của rủng rỉnh thì họ hàng cũng
thường không phải là vấn đề quan trọng lắm.
|
|
When living standards are rising, people will put up with
almost anything. That doesn’t mean that democracy and human rights don’t
matter, but the usual human condition has never been one of democracy and
rights of self-expression. It’s unlikely that after millennia of despotism
the peoples of the Middle East suddenly want to be Switzerland. They want
jobs and food, and it’s galling to have neither when your leaders live like
kings.
|
Khi đời sống được cải thiện thì người ta có thể
chịu đựng được hầu như là mọi thứ. Điều đó không có nghĩa là dân
chủ và quyền con người không phải là không quan trọng, nhưng dân chủ
và quyền tự do thể hiện không phải là điều kiện thường thấy trong
đời sống của con người. Chẳng có gì chứng tỏ rằng sau hàng ngàn
năm sống dưới chế độ độc tài, nhân dân Trung Đông bỗng nhiên lại
thích có cuộc sống như là ở Thụy Sĩ. Họ muốn có việc làm và
lương thực, nhưng khi cơm ăn việc làm đều không có mà giới lãnh đạo
sống như vua chúa thì họ phải bực.
|
|
There are lessons for almost everyone in what’s happening
in Egypt. China is one bad harvest away from a crisis. We’re so besotted with
the dazzling spectacles of the Olympics and the Shanghai sky-line that we
don’t notice that half the country is desperately poor. Worse, Chinese policy
prevents rural people from migrating to the cities, ensuring that the rewards
of Chinese economic growth create separate worlds of wealth and poverty. Food
inflation could bring those worlds crashing down. Glaring unfairness and no
hope for a better future destroy the contract between rulers and ruled.
|
Hầu như mọi người đều có thể rút ra những bài
học từ những gì đang diễn ra ở Ai Cập. Chỉ cần một vụ mất mùa
là Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng rồi. Chúng ta bị choáng ngợp
bởi các màn trình diễn rực rỡ của Thế vận hội và các đường chân trời Thượng
Hải mà chúng ta không nhận thấy rằng một nửa đất nước này nghèo tuyệt vọng.
Tệ hơn nữa, chính sách của Trung Quốc nhằm ngăn chặn người dân nông thôn di
cư đến các thành phố, đảm bảo rằng những phần thưởng của tăng trưởng kinh tế
Trung Quốc tạo ra những thế giới cách biệt: giàu có và nghèo đói. Lạm phát thực
phẩm có thể mang khiến những thế giới đó sụp đổ. Những bất công sừng sững và sự
vô vọng về một tương lai tốt đẹp hơn sẽ phá hủy khế ước giữa nhà cầm quyền và
cai trị.
|
|
Saudi Arabia has less to fear from disenfranchised
citizens than it does from people without jobs. Superfluous men make trouble.
They did it in Russia, they did it in Tunisia, they’ll do it in Saudi Arabia.
A stable social contract requires that the kingdom instill a sense of purpose
and pride in young people there, not a sham parliament or other superficial
reforms.
|
Saudi Arabia không sợ những người bị tước quyền công
dân bằng những người thất nghiệp. Những người vô công rồi nghề
thường tạo ra lắm vấn đề. Họ đã từng tạo ra vấn đề cho nước Nga,
họ từng tạo ra vấn đề ở Tunisia, họ sẽ tạo ra vấn đề ở Saudi
Arabia. Muốn cho khế ước xã hội đứng vững thì vương quốc phải gieo
cấy vào lòng thanh niên lẽ sống và niềm tự hào chứ không phải là
một quốc hội chỉ biết vâng lời hay những cuộc cải cách giả tạo
khác.
|
|
Even the U.S. has something to learn. Regional stability
doesn’t come from the provision of arms, but from the creation of
stakeholders across local societies. Our billions of aid to Egypt gave it one
of the most powerful military forces in the Arab world, but the poor stayed
poor. We pushed, sometimes successfully, for greater democratization, but we
didn’t move Egypt toward reforms that would actually make life better for
most people. That point was only emphasized by all the million-dollar homes
on the outskirts of Cairo.
|
Ngay cả Mĩ cũng có cái để học. Cung cấp vũ khí
không làm cho khu vực ổn định được, muốn ổn định thì phải tạo ra
những cổ đông trong tất cả các cộng đồng địa phương. Hàng tỉ mĩ
kim viện trợ của chúng ta đã làm cho Ai Cập trở thành một trong
những lực lượng quân sự mạnh nhất trong thế giới Arab, nhưng người
nghèo vẫn là người nghèo. Chúng ta đòi họ phải dân chủ hóa nhiều
hơn – đôi khi cũng thu được thành công – nhưng chúng ta đã không buộc
được Ai Cập tiến hành những cuộc cải cách làm cho đời sống của đa
số dân chúng trở thành tốt đẹp hơn.
Những ngôi nhà trị giá nhiều triệu dollar ở ngoại vi Cairo chi
càng chứng minh cho điều vừa nói.
|
|
We can learn something closer to home, as well. The U.S.
isn’t a country suffering from mass poverty and starvation, but living
standards have stagnated for many of us, and opportunities to cross from
poverty to wealth have declined. Higher education has ceased to be the bridge
to a better life and has instead begun to institutionalize the chasm between
classes. We’re in no danger of violent revolution, but movements like the Tea
Party will grow stronger and louder in opposition to entrenched power if
living standards don’t rise.
|
Chúng ta còn có thể học được một vài điều thiết
thực nữa. Mĩ không phải là đất nước có nhiều người nghèo đói,
nhưng nhiều người đã không thể cải thiện đời sống được nữa và cơ
hội chuyển từ nghèo sang giàu đã giảm đi. Trình độ đại học đã
không còn là cây cầu dẫn đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, thay vào
đó nó lại củng cố thêm hố sâu ngăn cách giữa các giai cấp. Chúng
ta không bị cách mạng bạo lực đe dọa, nhưng nếu mức sống của người
dân không được nâng lên thì những phong trào tương tự như Trà đàm sẽ
phát triển mạnh mẽ hơn và sẽ lớn giọng hơn trong việc phản đối
chính phủ.
|
|
|
|
|
When the people of Russia were starving, Nicholas the
Second gave them a parliament. France’s Ancien Regime didn’t see how
dangerous the peasants would be when denied bread. Elites often don’t see
what’s right under their noses. Rousseauvian ideals are as likely to create
abominations like the French Terror and Leninism as they are to bring
democracy. When we look to create a better world, we ought to start with
basic economic growth that will lift the poor, not with parliaments and
mutterings about human rights.
|
Khi người dân Nga chết đói, Sa hoàng Nicholas II ban
cho họ quốc hội. Ở Pháp chế độ quân chủ phân chia theo đẳng cấp (Ancien
Regime) không hiểu được mối nguy khi người nông dân bị tước mất mẩu
bánh mì. Giới tinh hoa nhiều khi không nhận ra những chuyện xảy ra
ngay trước mũi của họ. Lí tưởng của Rousseau đã từng sản sinh ra
những hiện tượng kinh hoàng như vụ khủng bố sau Cách mạng Pháp hay
chủ nghĩa Lenin cũng như đã từng tạo ra nền dân chủ vậy. Khi tìm
cách làm cho thế giới tốt đẹp hơn, ta nên bắt đầu bằng sự phát
triển kinh tế nhằm tiêu diệt nạn nghèo đói chứ không nên bắt đầu
bằng quốc hội và ba hoa chích chòe về quyền con người.
|
|
Human rights there must be, but first we have to cultivate
our garden. Voltaire has much more to teach us than Rousseau.
|
Quyền con người tất nhiên là phải có, nhưng trước
hết ta phải chăm sóc khu vườn của mình đã. Voltaire có thể dạy
chúng ta nhiều điều hơn là Rousseau.
|
|
James Picht teaches
economics at the Louisiana Scholars' College in Natchitoches, La., where he
went to take a break from working in Moscow and Washington. But he fell in
love and there he stayed. Now he teaches, takes pictures, and with wife Lisa
raises two children. He loves Voltaire and hates Rousseau and once danced on
Sartre's grave.
|
James Picht dạy
kinh tế tại the Louisiana Scholars' College ở Natchitoches, La., trước
đó ông từng làm việc ở Moscow và Washington. Nhưng ông đã có người
yêu và quyết định ở lại nơi này. Hiện nay ông vừa giảng dạy vừa
vẽ và cùng với bà Lisa, vợ ông, nuôi dạy hai con. Ông thích Voltaire,
ghét Rousseau và đã có lần nhảy múa bên mộ Sartre.
|
|
|
|
|
|
Translated by Phạm Nguyên Trường
|
|
|
|
|
http://communities.washingtontimes.com/neighborhood/stimulus/2011/jan/31/egypt-and-its-lessons-world/
|
|
A reporter's disturbing expulsion from Russia Cậu chuyện một nhà báo bị trục xuất khỏi Nga
|
|
|
|
A reporter's
disturbing expulsion from Russia
|
Cậu chuyện một nhà
báo bị trục xuất khỏi Nga
|
|
BY JULIA IOFFE
|
Julia Ioffe
|
|
FEBRUARY 7, 2011, Foreignpolicy
|
7/2/2011, Foreign Policy
|
|
MOSCOW — Luke Harding touched down at Moscow's recently
bombed Domodedovo airport this past Saturday, Feb. 5, at 4:10 p.m. The
Guardian's Russia correspondent had been in London for the last two months,
working on the paper's coverage of WikiLeaks and writing a quickie book about
the subject (it came out at the end of January). When he got to passport
control, the young woman in the booth did a double take when she scanned his
passport; Harding knew something was wrong. In fact, things were about to
spin very badly out of control.
|
MOSCOW — Luke Harding đáp xuống sân bay Domodedovo mới bị
đánh bom của Moscow vào lúc 4 giờ 10 phút chiều, ngày thứ Bảy vừa qua, 5
tháng 2. Tay phóng viên Guardian thường trú tại Nga này đã ở London hai tháng
qua, làm việc trong bộ phận đưa tin về WikiLeaks của tờ báo và viết vội một
quyển sách về chủ đề này (ra mắt cuối tháng 1). Khi anh đến quầy kiểm tra hộ
chiếu, một người phụ nữ ngồi sau quầy scan hộ chiếu của anh hai lần; Harding
biết có chuyện chẳng lành. Quả thật, sự việc đã đi ra ngoài tầm kiểm soát.
|
|
The young customs officer called over her supervisor, who
looked at the screen and also did a double take. "The Russian Federation
is closed to you," Harding recalls the man saying as he punched a blue
"annulled" stamp on his perfectly valid Russian visa. "Just
because you have a Russian visa doesn't mean you can enter the country,"
the supervisor said.
|
Người sĩ quan hải quan trẻ gọi cho cấp trên của chị ta,
người này nhìn vào màn hình và cũng quét hai lần. “Liên bang Nga đóng cửa đối
với ông,” Harding nhớ lại người đàn ông nói như thế khi ông ta đóng dấu “hủy
bỏ” màu xanh lên trang visa hoàn toàn hợp lệ của anh. “Đơn giản bởi vì ông có
visa Nga hợp lệ không có nghĩa là ông có thể vào nước này,” người sĩ quan đó
nói.
|
|
Within minutes, Harding's passport was confiscated and he
was locked in a deportation cell. Being a journalist, he counted everyone in
there. "There were four Tajiks, a Kyrgyz guy, and a woman from the
Congo," Harding told me on the phone from London. "She had been
there for seven days and was half-asleep on a metal bench." In another
half-hour, Harding was on a plane, bound for London on the first flight home,
his passport returned to him with a slip of paper marking him as a deportee.
His wife and two teenage kids remained stuck in Moscow.
|
Hộ chiếu của Harding bị tịch thu ngay lậo tức và anh bị
nhốt trong buồng trục xuất. Là một nhà báo, anh đã đếm tất cả những người có
mặt ở đó. “Có bốn người Tajiks, một người Kyrgyz, và một phụ nữ từ Congo”,
Harding nói với tôi qua điện thoại từ London. “Chị ta đã ở đây bẩy ngày rồi,
và đang gà gật trên một chiếc ghế sắt dài.” Nửa giờ sau, Harding đã ở trên
máy bay trong một chuyến bay thẳng về London, hộ chiếu của anh được trả lại
với một mẩu giấy ghi Trục xuất”. Vợ anh và hai đứa con tuổi thiếu niên còn bị
kẹt lại ở Moscow.
|
|
I don't know Harding very well, but we are friends with
the same people and spin in the same brotherly circle of Moscow foreign
correspondents. It was well known that, of all of us, Harding had the tensest
relationship with the Kremlin and the Ministry of Foreign Affairs (the people
who control our passage into the country).
|
Tôi không quen Harding lắm, nhưng hai chúng tôi có chung
một người bạn và chơi với nhau trong cùng giới thân thiết các phóng viên nước
ngoài ở Moscow. Mọi người đều biết rằng trong tất cả chúng tôi, Harding là
người có quan hệ căng thẳng nhất với Kremlin và Bộ Ngoại giao, (là cơ quan
kiểm soát quyền ra vào nước này của chúng tôi).
|
|
"I'd say they had a tense relationship with me!"
he is quick to counter. Since his arrival in Russia four years ago, he and
his family have been harassed by what everyone assumed was the Federal
Security Service (FSB). The Hardings would come home to find the windows of
the children's bedrooms open, their toys rearranged. Alarm clocks went off at
strange hours. But nothing is ever quite clear in Moscow. The harassment, an
open secret among us hacks, was itself a slippery thing, nearly impossible to
prove. It was the kind of subtle thing that could have been Harding's
imagination -- which tends to run amok here for everyone -- or a very real
threat from the security services. (Whatever it was, the British ambassador
eventually had to get involved, and the pestering stopped as mysteriously as
it had started.)
|
“Tôi đã nói rằng họ có quan hệ căng thẳng với tôi!”, anh
nói. Ngay từ khi đến Nga cách đây bốn năm, anh và gia đình anh đã bị quấy rầy
bởi cái mà mọi người cho là Cục An ninh Liên bang (FSB). Gia đình Harding về
nhà thấy cửa sổ phòng ngủ của trẻ con mở toang, đồ chơi bị sắp xếp lại. Đồng hồ
báo thức reo vào những giờ kỳ lạ. Nhưng ở Moscow không có cái gì là hoàn toàn
rõ ràng. Sự quấy rầy này, một bí mật mở trong số dân làm báo chúng tôi, bản
thân nó là vấn đề khó nắm bắt, gần như không thể nào làm sáng tỏ. Đấy là
những việc mơ hồ, cũng có thể là do Harding tưởng tượng ra – mà cũng có thể
là mối đe dọa thật sự từ cục an ninh. (dù sao mặc lòng, cuối cùng đại sứ Anh
đã phải can thiệp, và sự quấy nhiễu ấy dừng lại một cách cũng bí ẩn như khi
nó bắt đầu).
|
|
And then there was the fact that Harding had a reputation
for playing with fire -- perhaps foolishly -- by going after the strictly
taboo stories, like talking to the relatives of Dagestani terrorists or
investigating Prime Minister Vladimir Putin's personal fortune. Even Harding
will admit that that last one, which put the figure at $40 billion, was a
gauntlet of sorts. "That was maybe the bravest -- and the stupidest --
story I did," he said. He quickly surfaced on the official radar as a
renegade, a species not much liked in the Kremlin.
|
Và sau đó Harding được tiếng là tay chơi với lửa - có lẽ
là dại dột - bằng cách theo dõi những chuyện cấm kỵ, thí dụ như về những quan
hệ của những tên khủng bố Dagestani hoặc điều tra tài sản riêng [1] của Thủ
tướng Vladimir Putin. Ngay cả Harding cũng phải thừa nhận rằng hành động này,
đưa ra con số 40 tỉ đô la, là một loại thách đấu. “Đó có thể là câu chuyện
can đảm nhất - và ngu xuẩn nhất - mà tôi đã làm,” anh nói. Anh nhanh chóng
rơi vào tầm ngắm của chính quyền như một kẻ nổi loạn, những người không được
Kremlin ưa thích cho lắm.
|
|
And this was all before he was all over the WikiLeaks
Russia documents, in a way that most foreign correspondents in Moscow weren't.
(Harding, in one instance, described the Russia portrayed in the documents as
a "corrupt, autocratic kleptocracy.")
|
Và đấy là những chuyện trước khi anh làm về những tài liệu
WikiLeaks Nga - theo cách mà hầu hết phóng viên nước ngoài ở Moscow không
làm. (Thí dụ như Harding đã mô tả Nga là một nước “tham nhũng, độc tài, do
bọn lưu manh cai trị” [2])
|
|
Harding's choice of tactics has been the subject of
significant debate. Some have even cringed at his decision to make a public
fuss about his expulsion. "It's not the right thing to do," said
one veteran Moscow correspondent. "Once it's official, once it's public,
they start playing tough guy and the decision becomes much harder to
reverse."
|
Những chiến thuật mà Harding chọn đã trở thành đề tài
tranh luận lớn. Một số người thậm chí còn xun xoe trước quyết định của anh để
gây ra một vụ ồn ào về việc anh bị trục xuất. “Đó không phải là một việc nên
làm.” Một phóng viên cao tuổi của Moscow nói. “Một khi động đến quan chức, một
khi động đến chính quyền, người ta sẽ cho anh biết tay (họ sẽ chơi rắn) và
quyết định càng trở nên khó đảo ngược hơn.”
|
|
It's a hard line to walk, this talk of rules and
journalistic provocation. Ostensibly, there should be no such thing, but in
Russia, unfortunately there is. And, even more unfortunately, any journalist
-- especially our Russian colleagues -- working in today's Russia has to ask
themselves whether this one story or the next will make you a martyr, and
whether it's worth it. When I first arrived in Moscow, a year and a half ago,
I balked at suggestions of what one could and couldn't write. I found it to
be bizarre, galling even. It upbraided my grandiose journalistic values and
my American sense of invincibility. Only Russian reporters, I figured, have
to filter and fear; we serve only truth, and we do so fearlessly. And then I
got my first (very veiled) threat from a Russian businessman I was doing a story
on, and things suddenly snapped into perspective.
|
Câu chuyện về giới thống trị và sự chọc tức của báo chí là
con đường đầy chông gai. Lẽ ra không nên có những chuyện như thế, nhưng bất
hạnh là ở nước Nga lại có những chuyện ấy. Và, bất hạnh hơn nữa, bất kỳ nhà
báo nào - đặc biệt là các đồng nghiệp Nga của chúng tôi - làm việc trong nước
Nga của ngày hôm nay phải tự hỏi liệu câu chuyện này hay câu chuyện tiếp theo
sẽ biến anh thành kẻ tử vì đạo, và như thế có đáng không. Khi tôi đến Moscow
lần đầu, cách đây một năm rưỡi, tôi bỏ qua những lời gợi ý về chuyện gì có
thể viết và chuyện gì không thể. Tôi thấy nó kỳ quặc, thậm chí khó chịu. Nó
sỉ nhục những giá trị vĩ đại của nghề báo và cảm giác vô địch của người Mỹ
chúng tôi. Chỉ có những nhà báo Nga, tôi nghĩ, mới phải tự kiểm duyệt và sợ,
còn chúng tôi chỉ phục vụ chân lý, và chúng tôi làm thế không hề sợ hãi. Thế
rồi tôi gặp đe dọa đầu tiên (hết sức mập mờ) từ một doanh nhân Nga, khi tôi đang
làm một phóng sự về ông ta...
|
|
There are very different rules for Russian journalists. We
foreigners are much more likely, as Harding's case shows, to get kicked out
(highly unpleasant and stressful to anyone who has built a life here) rather
than beaten or killed, but there are rules -- simultaneously strict and
unpredictable -- for us, too. We too have learned, for better or worse, to
tread carefully.
|
Có nhiều luật lệ khác đối với các nhà báo Nga. Những người
ngoại quốc chúng tôi rất dễ bị tống cổ ra - như trường hợp Harding - (cực kỳ
khó chịu và căng thẳng đối với những ai xây dựng cuộc sống ở đây) hơn là bị
đánh hoặc bị giết, nhưng đối với chúng tôi cũng có những quy tắc vừa khắc
nghiệt vừa khó lường. Chúng tôi cũng đã học cách đi đứng cho dè dặt, thận
trọng, dù hậu quả có như thế nào.
|
|
In 2005, after ABC aired an interview with Chechen rebel
leader Shamil Basaev (Russia's Osama bin Laden at the time), the bureau chief
had his visa revoked, and the bureau was effectively shuttered for two years.
(He is still not allowed back in the country.) A similar thing happened to
Thomas de Waal, a British journalist denied a visa in 2006, probably because
of his coverage of violence in the Caucasus. And to Moldovan national Natalia
Morar, denied a visa for her coverage despite her marriage to a Russian. And
so on and so on.
|
Năm 2005 đài ABC phát một cuộc phỏng vấn với lãnh tụ phiến
quân Chechnya Shamin Basaev (Osama bin Laden của Nga vào thời gian ấy),
trưởng văn phòng bị hủy visa, và văn phòng thực tế bị đóng cửa trong hai năm.
(Bây giờ ông vẫn chưa được phép trở lại nước này). Một việc tương tự cũng xảy
ra với Thomas de Waal, một nhà báo Anh không được cấp chiếu khác vào năm
2006, có lẽ vì ông đã đưa tin về bạo lực ở Caucasus. Và Natalia Morar, quốc
tịch Mondovia, cũng không được cấp chiếu khác vì những tin tức mà chị đã đưa,
mặc dầu chị kết hôn với một người Nga. Vân vân và vân vân.
|
|
Although we can never be exactly sure whom we offend with
which article (it's not just Putin who calls the shots on this), the ultimate
message is always the same: You are guests, you play by our rules, and you
play at our pleasure.
|
Mặc dầu chúng tôi chưa bao giờ có thể biết chính xác ai là
người bị tổn thương vì những bài báo cụ thể nào (không phải chỉ có Putin điều
khiển chuyện này), thông điệp cuối cùng luôn luôn là thế này: các anh là
khách, các anh phải chơi theo luật chơi của chúng tôi, và các anh phải chơi
sao cho chúng tôi hài lòng.
|
|
Harding chose to fight the system and now sits in London,
fielding phone calls two or three at a time from his Moscow colleagues who,
awkwardly, are now reporting on his predicament, peppering their questions
with words of empathy.
|
Harding chọn con đường đấu tranh với chế độ này và bây giờ
anh ngồi ở London, anh đã trả lời hai hay ba cuộc điện thoại từ các đồng
nghiệp của anh ở Moscow - những người đang lúng túng tường thuật về tình
huống khó chịu của anh.
|
|
That said, Harding admits the expulsion was not exactly a
surprise. In November, he was called into the Foreign Ministry and told his
visa and accreditation were not being renewed. "They made it quite clear
they didn't like me," he recalled. Then, a day before the visa expired,
after his house had been packed and his children had said their goodbyes at school,
the Foreign Ministry granted the Hardings a six-month visa to finish the
school year. It was that visa with which Harding tried to re-enter the
country.
|
Điều đó nói lên rằng, Harding thừa nhận việc trục xuất này
không làm anh ngạc nhiên. Vào tháng 11, anh đã bị gọi đến Bộ Ngoại giao và
anh được người ta bảo cho biết visa của anh không được tiếp tục gia hạn nữa.
“Họ nói cách rõ ràng họ không thích mình”, anh nhớ lại. Rồi, một ngày trước
khi visa hết hạn - sau khi anh đã đóng gói hành lý và các con anh đã từ biệt
bạn bè của chúng ở trường - Bộ Ngoại giao cấp cho Harding visa thêm sáu tháng
nữa để bọn trẻ có thể kết thúc năm học. Đó chính là visa Harding dùng để vào
lại nước Nga.
|
|
The scariest thing about Harding's story is that it
validates the fear we all have upon returning to Moscow after a trip out of
the country. It's a fear, a cardiac boom-boom, that doesn't abate until
you're through passport control and watching the baggage carousel do its
soothing laps. Harding, it turns out, had this same fear, too. "I always
had a habit of looking at the name tag of the passport control officer,
thinking, is this going to be the time?" he told me. "And it was
Lilia who did it. Lilia. It was a very nice name."
|
Điều đáng sợ nhất trong câu chuyện về Harding là nó xác
nhận nỗi sợ mà tất cả chúng tôi đều có mỗi khi trở lại nước Nga. Đó là nỗi
sợ, trống ngực đập thình thình, không hề dịu đi cho đến khi anh qua được vòng
kiểm tra hộ chiếu và nhìn thấy băng chuyền hành lý chạy êm ái trước mắt. Hóa
ra Harding cũng có sợ như thế. “Tôi luôn luôn có thói quen là nhìn bảng tên
của sĩ quan kiểm tra hộ chiếu, bụng nghĩ, có phải bây giờ đã đến lúc rồi
không?”, anh kể với tôi. “Và người làm việc đó là Lilia. Đó là cái tên rất dễ
thương.”
|
|
|
|
|
|
Translated by Hiếu Tân
|
|
|
[1]. Putin, the
Kremlin power struggle and the $40bn fortune (Putin, cuộc đấu tranh giành
quyền lực ở Kremlin và gia sản 40 tỉ đôla)
[2] Kleptocracy (một
từ gốc Hy Lạp) có nghĩa là chính quyền tham nhũng, trộm cắp, làm lợi cho một
thiểu số và thiệt hại cho đa số người dân
|
|
http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/02/07/out_of_country
|
|
Subscribe to:
Posts (Atom)